20 1.3.1.4 Sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế với các đạo luật chuyên ngành, nhất là với Luật Thương mại trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng 25 1.3.2 Hậu quả tiê
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN HẢI HƯNG
ĐỔI MỚI SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
VỀ HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DƯƠNG ĐĂNG HUỆ
HÀ NỘI – 2006
Trang 2Chương,
mục
Chương 1 Thực trạng pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam trước
năm 2005 và sự cần thiết phải hoàn thiện chế định pháp luật về hợp đồng
6
1.2.1 Pháp luật hợp đồng trong nhà nước phong kiến Việt Nam
và thời kỳ là thuộc địa của thực dân Pháp 8
1.2.2 Pháp luật hợp đồng thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám
1.3.1.2 Thừa nhận sự tồn tại độc lập của hợp đồng kinh tế và hợp
đồng dân sự và hệ quả là thừa nhận 2 hệ thống pháp luật
về hợp đồng (pháp luật hợp đồng kinh tế và pháp luật hợp đồng dân sự)
18
1.3.1.3 Pháp luật về hợp đồng kinh tế, một bộ phận rất quan trọng
của pháp luật hợp đồng phục vụ kinh tế thị trường định hướng XHCN đã trở nên quá bất cập, không đáp ứng
Trang 320 1.3.1.4 Sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Pháp lệnh Hợp đồng kinh
tế với các đạo luật chuyên ngành, nhất là với Luật Thương mại trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng
25 1.3.2 Hậu quả tiêu cực của tình trạng pháp luật hiện hành về
1.3.2.1 Gây tốn kém thời gian, tiền bạc để xây dựng pháp luật
1.3.2.2 Gây khó khăn cho các bên trong quá trình ký kết hợp
đồng, gây khó khăn cho toà án khi giải quyết tranh chấp (không biết áp dụng văn bản pháp luật nào cho phù hợp)
31 1.3.2.3 Làm mất tính ổn định của quan hệ kinh tế, gây thiệt hại
Chương 2 Những vấn đề mới cơ bản về hợp đồng trong Bộ luật
Trang 4Chương 3 Những giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định
về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và một vài kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở nước ta
54 3.1 Những giải phỏp nhằm thực thi cú hiệu quả cỏc quy định
về hợp đồng trong Bộ luật Dõn sự 2005 54
3.1.1 Khẩn trương ban hành cỏc văn bản hướng dẫn kịp thời
một số vấn đề trong chế định hợp đồng của Bộ luật dõn sự 54
3.1.2 Đảm bảo tớnh thống nhất trong việc giải thớch và hướng
3.1.3 Tuyờn truyền rộng rói trong nhõn dõn chế định hợp đồng
3.1.4 Đẩy mạnh việc xõy dựng cỏc đạo luật chuyờn ngành quy
định về cỏc hợp đồng cụ thể trong từng lĩnh vực phự hợp với quy định của Bộ luật dõn sự
57 3.2 Một vài kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện chế định hợp
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt Viết đầy đủ
BLDS Bộ luật dân sự CHXHCNVN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ĐCSVN Đảng cộng sản Việt Nam
Nxb Nhà xuất bản PLHĐKT Pháp lệnh hợp đồng kinh tế XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Chế định hợp đồng dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995 (dưới đây viết tắt là BLDS) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1996 Qua gần 10 năm thi hành, chế định hợp đồng trong BLDS năm 1995 đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo lập hành lang pháp lý điều chỉnh các giao dịch, hợp đồng dân
sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, các quy định của BLDS năm 1995 về hợp đồng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: pháp luật hợp đồng ở nước ta vừa có sự trùng lặp, vừa thiếu nhất quán và không đồng bộ Do chúng ta phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự nên đã xẩy ra tình trạng hai hệ thống pháp luật hợp đồng tách biệt nhau, không có tính liên thông, hỗ trợ lẫn nhau Trong BLDS năm 1995 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 (sau đây gọi tắt là PLHĐKT) đều có những quy định chung về hợp đồng đã phát sinh sự trùng lặp trong sự điều chỉnh quan hệ hợp đồng, sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật; pháp luật hợp đồng của nước ta chưa tương thích với pháp luật
và tập quán thương mại quốc tế; BLDS và các văn bản pháp luật về hợp đồng chưa giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật hợp đồng với điều lệ, quy chế của doanh nghiệp cũng như các điều kiện giao dịch mà các doanh nghiệp tự ban hành; một số khái niệm pháp lý, một số định nghĩa được sử dụng trong BLDS không thật chính xác…
Vì vậy, việc xây dựng BLDS mới nói chung, chế định hợp đồng dân sự nói riêng là cần thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước
ta hiện nay và trong tương lai
Trên cơ sở tổng kết thi hành pháp luật về hợp đồng trong thực tiễn gần 10 năm qua, các yêu cầu về hoàn thiện pháp luật hợp đồng trong điều kiện giao lưu dân sự, kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (sau đây gọi tắt là XHCN), hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, Nghị quyết số 48-NQ/TW
Trang 7ngày 24.5.2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 chỉ rõ: "Hoàn
thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thoả thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế" Nghị quyết số 49-NQ/TW
ngày 02.6.2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
cũng chỉ rõ: "Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh; hoàn thiện chế định hợp đồng, bồi thường, bồi hoàn "
Thực hiện chủ trương của Đảng, tại kỳ họp thứ 7, ngày 14.6.2005 Quốc hội khoá XI đã thông qua BLDS năm 2005 thay thế cho BLDS năm 1995 Bộ luật đã
có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về chế định hợp đồng, theo đó BLDS năm
2005 được coi là gốc của ngành luật tư, do đó khái niệm “hợp đồng dân sự”
theo BLDS năm 2005 là khái niệm dân sự theo nghĩa rộng bao gồm các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động Đồng thời, Nghị quyết số 45/2005/QH11 của Quốc hội về việc thi hành BLDS đã quy định PLHĐKT năm
1989 hết hiệu lực kể từ ngày BLDS sửa đổi năm 2005 có hiệu lực (01.01.2006) Theo văn bản này, các quan hệ trước đây thuộc phạm vi điều chỉnh của PLHĐKT nay sẽ được điều chỉnh bởi BLDS và các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật thương mại, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm
Với những thay đổi cơ bản như vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện chế định hợp đồng trong BLDS năm 2005, đặc biệt là những sửa đổi, bổ sung của chế định này so với các quy định của BLDS năm 1995 có một ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần nhận thức đúng tinh thần của pháp luật hợp đồng Việt Nam, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành về pháp luật hợp đồng, phổ biến giáo dục pháp luật về hợp đồng và tổ chức thực thi hành
pháp luật trên thực tế Do vậy, học viên chọn đề tài "Đổi mới sự điều chỉnh
pháp luật về hợp đồng trong BLDS năm 2005" làm luận văn tốt nghiệp của
mình
1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trang 8Chế định hợp đồng dân sự đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước như: luận văn thạc sĩ luật học năm 2004 của học
viên Đinh Thị Mai Phương "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thống nhất pháp
luật về hợp đồng của Việt Nam"; Đề tài khoa học cấp cơ sở của Viện khoa học
pháp lý năm 2005: "Pháp luật về hợp đồng dân sự, kinh tế, thương mại - những
điểm tương đồng, khác biệt và giải pháp hoàn thiện"; số chuyên đề thông tin
khoa học pháp lý tháng 4 năm 1999 của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp:
"Pháp luật về hợp đồng kinh tế - thực trạng và phương hướng hoàn thiện"; số
chuyên đề thông tin khoa học pháp lý tháng 11 năm 2001 của Viện khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp: "Một số vấn đề về sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự Việt
Nam"; sách chuyên khảo "Luật dân sự" của tác giả Christian Atias, Nxb Thế
giới, Hà Nội năm 1993; "Đại cương về pháp luật hợp đồng" của tác giả Corinne
Renault - Brahinsky, Nhà pháp luật Việt - Pháp (2002) và nhiều bài viết, nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu trên lại khai thác chế định hợp đồng dân sự ở từng giác độ nhất định Mặt khác, các công trình trên đều được nghiên cứu và công bố trong thời điểm trước khi có BLDS năm 2005 Vì vậy, việc nghiên cứu chế định hợp đồng dưới giác độ đổi mới sự điều chỉnh về hợp đồng trong BLDS năm 2005 sẽ mang đến cách tiếp cận mới về chế định hợp đồng, góp phần quan trọng vào công tác hướng dẫn thi hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tế
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của Luận văn:
2.1 Mục đích:
Mục đích của Luận văn là phân tích và làm rõ những quy định mới nhất về hợp đồng trong BLDS năm 2005, góp phần quan trọng trong việc nhận thức đúng về chế định hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật
về hợp đồng trên thực tế Qua đó nâng cao nhận thức và ứng xử của mọi tầng lớp nhân dân khi tham gia vào các quan hệ hợp đồng, thúc đẩy sự phát triển các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 9Chế định hợp đồng là chế định pháp luật rộng lớn, bao gồm nhiều nội dung, nhiều vấn đề pháp lý liên quan như: nội dung của hợp đồng, hình thức của hợp đồng, các nguyên tắc ký kết và thực hiện hợp đồng, các loại hợp đồng thông dụng, các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, vấn đề hợp đồng vô hiệu và trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng Do vậy, trong phạm vi của một Luận văn thạc sỹ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu là:
- Lịch sử và thực trạng điều chỉnh pháp luật về hợp đồng của Việt Nam trong thời gian qua;
- Những điểm mới cơ bản liên quan đến việc điều chỉnh về hợp đồng nói chung trong BLDS năm 2005
- Những điểm mới liên quan đến việc điều chỉnh pháp luật đối với từng loại hợp đồng cụ thể của BLDS năm 2005;
- Kiến nghị các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định về hợp đồng trong BLDS năm 2005 và một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện chế định
hợp đồng trong tương lai
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
3.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả đã sử dụng và kết hợp một cách đồng bộ các phương pháp nghiên cứu của khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống… để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong Luận văn
4 Ý nghĩa của Luận văn:
Trên cơ sở phân tích những điểm mới về hợp đồng được quy định trong BLDS năm 2005, Luận văn góp phần quan trọng trong việc nhận thức đúng đắn
Trang 10về chế định hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật về hợp đồng trên thực tế Đồng thời, Luận văn cũng là tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy, xét xử và ký kết hợp đồng của các nhà kinh doanh
5 Những đóng góp mới của Luận văn:
Luận văn có những đóng góp mới như sau:
Thứ nhất, làm rõ được những điểm mới trong việc điều chỉnh pháp luật
đối với quan hệ hợp đồng trong BLDS năm 2005 (xoá bỏ khái niệm hợp đồng kinh tế; tất cả các hợp đồng trong lưu thông kinh tế, dân sự đều được gọi chung
là hợp đồng dân sự; giảm một cách đáng kể sự can thiệp của nhà nước vào quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng thông qua việc ghi nhận và nhấn mạnh nguyên tắc tự do hợp đồng; bãi bỏ việc ấn định nội dung cơ bản của hợp đồng một cách cứng nhắc như trước đây )
Thứ hai, làm rõ được những quy định mới trong các loại hợp đồng cụ thể,
thông qua đó giúp cho việc ký kết và thực hiện các hợp đồng này một cách thuận lợi
Thứ ba, tìm ra các giải pháp để đẩy mạnh việc thực thi có hiệu quả các
quy định mới về hợp đồng trong BLDS năm 2005
6 Cơ cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu thành 03 chương:
- Chương 1: Thực trạng pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam trước năm
2005 và sự cần thiết phải hoàn thiện chế định pháp luật về hợp đồng
- Chương 2: Những vấn đề mới cơ bản về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005
- Chương 3: Những giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và một vài kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở nước ta
Trang 11CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG Ở VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 2005 VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP
LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
1.1 Bản chất của hợp đồng
Hợp đồng được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau
Thứ nhất, hợp đồng là các giấy tờ thể hiện sự thoả thuận giữa các bên về
một vấn đề nào đó mà họ quan tâm (như hợp đồng mua bán nhà ở)
Thứ hai, hợp đồng được dùng để chỉ một văn kiện quy phạm pháp luật hay
một chế định pháp luật nhất định (như chế định hợp đồng dân sự, chế định hợp đồng bảo hiểm )
Thứ ba, hợp đồng còn được hiểu theo nghĩa là một quan hệ pháp luật, là sự
thoả thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau Do vậy, tuỳ vào hoàn cảnh, trường hợp cụ thể mà hiểu khái niệm hợp đồng như thế nào cho đúng Trong xã hội hiện nay, quan hệ về hợp đồng thuộc lĩnh vực điều chỉnh của nhiều đạo luật khác nhau như: Bộ luật Dân
sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm
Tuy nhiên, phân tích nội dung khái niệm hợp đồng trong lịch sử pháp luật, cũng như pháp luật đương đại của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới (như Cộng hoà Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, La Mã cổ đại ) thì cách hiểu chung nhất về hợp đồng đó là sự thoả thuận (thống nhất ý chí) giữa các bên nhằm đạt được những lợi ích nhất định (có thể là lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần)
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm hợp đồng dân sự được quy định trong BLDS Việt Nam năm 1995 và 2005, theo đó hợp đồng dân sự trước hết là một loại giao dịch dân sự, là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự [28, đ 394; 29, đ 121] Điều 1 PLHĐKT năm
1989 quy định: “Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao
dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác
Trang 12có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình” (hiện nay Pháp lệnh này đã hết
hiệu lực theo Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14.6.2005 của Quốc hội về việc thi hành BLDS) Như vậy, khái niệm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam được hiểu là sự thoả thuận của các bên nhằm hướng tới một lợi ích nhất định
Nghiên cứu Luật La Mã cổ đại, hợp đồng được coi là hình thức thể hiện của các giao dịch song phương mà việc xác lập chúng có thể trực tiếp làm xác
lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ: “với tư cách như một cơ sở làm
phát sinh nghĩa vụ, hợp đồng chỉ có thể có nếu các bên ký hợp đồng có chủ ý xác lập mối quan hệ trách nhiệm”.[21]
Theo Điều 1101 BLDS Cộng hoà Pháp thì hợp đồng là sự thoả thuận theo
đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó
Pháp luật dân sự Nhật Bản định nghĩa hợp đồng là “một loại giao dịch
dân sự thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên Mục đích của hợp đồng thông thường làm phát sinh nghĩa vụ”.[42]
Trung Quốc là một trong những nước có luật riêng quy định về hợp đồng
và độc lập với BLDS Khái niệm về hợp đồng được quy định tại Điều 2 của luật
này, theo đó: “Hợp đồng là sự thoả thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, pháp nhân và các tổ chức khác”[41]
Pháp luật Hoa Kỳ quan niệm hợp đồng là thoả thuận giữa hai hay nhiều bên có mục đích hợp pháp, theo đó mỗi bên hành động theo cách xử sự nhất định hoặc cam kết làm hay không làm một việc theo xử sự đó.[43]
Như vậy, dù có những khác biệt nhất định trong quan niệm về hợp đồng, nhưng dù là trong pháp luật Việt Nam hay pháp luật của các nước trên thế giới,
dù là pháp luật đương đại hay pháp luật cổ đại thì hợp đồng về bản chất vẫn được hiểu là sự thoả thuận thể hiện sự tự do và thống nhất ý chí giữa các bên liên quan nhằm hướng tới những lợi ích nhất định mà các bên cùng quan tâm
1.2 Lịch sử pháp luật hợp đồng Việt Nam
Trang 13Hợp đồng là một trong những chế định pháp luật cổ xưa nhất, do vậy cùng với sự tồn tại và phát triển của lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, có thể nhận định chế định hợp đồng đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử pháp luật nước ta Tuy nhiên, các nghiên cứu dưới đây chỉ là những nét phác thảo cơ bản nhất về chế định hợp đồng trong lịch sử pháp luật nước ta (đặc biệt là trong thời kỳ Nhà nước phong kiến) thông qua các tư liệu và di cảo lịch sử còn tồn tại đến ngày nay
1.2.1 Pháp luật hợp đồng trong Nhà nước phong kiến Việt Nam và thời
kỳ là thuộc địa của thực dân Pháp
Trong thời kỳ này, pháp luật hợp đồng nước ta thể hiện tập trung nhất trong hai Bộ luật quan trọng của nhà Lê sơ và nhà Nguyễn: Bộ Quốc triều hình luật và Bộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật
Do đặc điểm của chế độ phong kiến trung ương tập quyền, luật pháp thời
kỳ này là luật pháp cai trị, các chế định luật, Bộ luật thường mang tính trừng trị với các hình phạt hà khắc Tuy vậy, Bộ Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) được ban hành lần đầu tiên trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và sau đó bộ luật này đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần lại chứa đựng nhiều quy phạm điều chỉnh các quan hệ dân sự, đặc biệt là quan hệ như mua, bán, cho, cầm cố ruộng đất thông qua hình thức giao kết là văn khế Tư tưởng tự do hợp đồng ít nhiều đã được thể hiện trong pháp luật thời kỳ này,
chẳng hạn quy định: “Người nào ức hiếp để mua ruộng của người khác thì bị
biếm hai tư 1 và cho lấy lại tiền mua” (Điều 355); “người tá điền đã cấy nhờ ruộng của người khác thì không thể coi đó là ruộng của mình mà phải trả lại cho người chủ ruộng” (Điều 356) Đặt trong hoàn cảnh cụ thể của chế độ phong kiến
trung ương tập quyền cao độ, bảo vệ triệt để quyền lợi của giai cấp phong kiến chúng ta mới thấy được khả năng tư duy lập pháp và tư tưởng tiến bộ của các ông vua thời Lê Sơ trong các quan niệm về bản chất của việc mua bán dân sự, về
sự tôn trọng tính tự nguyện trong các quan hệ dân sự
Tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ cũng được thể hiện rõ trong Bộ luật Hồng Đức khi có sự phân biệt nam, nữ, trong việc tham gia giao kết hợp
Trang 14đồng Ngoài ra, không phải ai cũng có thể giao kết khế ước mà chỉ những người
có quyền thế, có tài sản và ở vào một lứa tuổi nhất định mới được giao kết khế ước Trong các khế ước nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của gia đình thì cha mẹ giữ một vai trò quan trọng, đặc biệt là người cha, ví dụ: đối với tài sản của cha
mẹ thì chỉ cha mẹ được bán, con cái bán tài sản của cha mẹ thì bị xử phạt rất nặng (Điều 378 Bộ luật Hồng Đức) Ngoài ra, người trưởng họ cũng có quyền quyết định trong một số khế ước liên quan đến điền sản, ví dụ: người trưởng họ
có quyền bán điền sản của con cháu trong trường hợp ông bà, cha mẹ đều chết và
có lý do chính đáng (Điều 379 Bộ luật Hồng Đức)[41] Pháp luật thời Lê còn quy định các chế tài (phạt trượng, roi, biếm ) do vi phạm khế ước theo mức độ nặng nhẹ khác nhau Trong một số trường hợp nếu vi phạm pháp luật các bên còn phải chịu trách nhiệm tài sản như bồi thường thiệt hại, hoàn trả tài sản hoặc
bị phạt tiền, ví dụ: Điều 378 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Cha mẹ còn sống mà
bán trộm điền sản, con trai thì bị xử phạt 60 trượng, biếm hai tư, con gái thì bị
xử phạt 50 roi, biếm một tư, phải trả nguyên tiền cho người mua, điền sản trả cha mẹ”
Về hình thức của khế ước, Bộ luật Hồng Đức quy định các bên không cần lập văn bản đối với những khế ước đơn giản, có giá trị pháp lý thấp hoặc ít quan trọng, ví dụ: mua bán lương thực, thực phẩm với một số ít hoặc vay một khoản tiền nhỏ trong một thời gian ngắn Đối với các tài sản có giá trị lớn (như ruộng đất, nhà cửa, trâu bò ) thì việc mua bán phải lập văn tự Văn tự là bằng chứng
để chứng minh khi xảy ra tranh chấp (Điều 366 Bộ luật Hồng Đức) Nhưng có một điểm hạn chế là các bên chỉ lập một bản và do một bên giữ Điều này có thể dẫn đến tình trạng nếu một bên cố ý huỷ văn tự để có lợi cho mình hoặc văn tự bị mất, bị hư hỏng do sự kiện tự nhiên thì bên kia sẽ khó khăn trong việc chứng minh quyền lợi khi có tranh chấp Bộ luật Hồng Đức còn quy định trong trường hợp người giao kết không biết chữ thì có thể nhờ người khác viết thay và phải có người chứng kiến để đảm bảo tính khách quan Sau đó người viết thay và người chứng kiến đều phải ký vào văn tự (Điều 366 Bộ luật Hồng Đức) Bộ luật Hồng Đức đã chú trọng bảo đảm tính khách quan, công minh trong quan hệ khế ước
1
Biếm: giáng cấp
Trang 15nên đã khẳng định vai trò của người viết thay và người chứng kiến, quy định
trách nhiệm của người chứng kiến khi vi phạm nghĩa vụ của mình: “Nếu lập văn
tự giả mạo có kèm theo sự tranh giành tài sản thì người chủ và người viết thay phải bồi thường gấp đôi số tài sản tranh chấp, còn người làm chứng phải bồi thường một phần ba” (Điều 534 Bộ luật Hồng Đức) Việc mua bán cũng phải
tuân theo một trình tự nhất định, thể hiện sự quản lý của bộ máy quan lại thời bấy giờ, ví dụ: việc mua nô tỳ phải lập thành văn tự, sau đó phải trình quan để xét hỏi lại (Điều 363 Bộ luật Hồng Đức) [41]
Bên cạnh tư tưởng gia trưởng, bảo vệ giai cấp thống trị, pháp luật thời Lê cũng thể hiện tư tưởng nhân đạo trong các quy định bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế về kinh tế và xã hội trong một số trường hợp nhất định, bảo vệ các giá trị đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và lợi ích công trong nội dung của một số khế ước nhất định Chẳng hạn, để ngăn chặn tình trạng đầu cơ tích trữ,
Bộ luật Hồng Đức quy định việc bán hàng với giá quá cao hoặc đóng cửa không
bán hàng đều bị cấm: “Những người từ chối không tiêu tiền đồng bị sứt mẻ, cùng
là đòi giá hàng quá cao mới bán hay là đóng cửa hàng không bán để bán dấu trong nhà thì đều phải tội hạ bậc và bắt diễu đi trước công chúng 3 ngày Những hàng hoá nói trên bị tịch thu sung công Những người cậy quyền thế mua hàng,
ức hiếp thì cũng bị tội như thế” (Điều 198 Bộ luật Hồng Đức)
Mặc dù có những hạn chế về mặt lịch sử, thời đại, tư tưởng trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến nhưng những quy định trên phần nào đã phản ánh được các quy luật khách quan của cuộc sống trong các giao lưu dân sự, xử lý các vi phạm Điều này có tác động to lớn đến quá trình phát triển kinh tế -xã hội trong thời kỳ nhà nước phong kiến thời Lê Sơ thế kỷ
XV - XVIII
Bộ luật Gia Long được ban hành năm 1812 dưới triều Nguyễn là Bộ luật
về cơ bản mô phỏng và sao chép các quy định của bộ Đại Thanh luật lệ của triều Thanh (Trung Hoa) Cũng như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long không sử dụng khái niệm khế ước mà dùng các khái niệm cụ thể như mua, bán, vay nợ, thuê tài sản… trong giao lưu dân sự Bộ luật Gia Long quy định chủ thể giao kết khế ước phụ thuộc vào lứa tuổi, quan hệ tài sản và quan hệ trong gia đình, trong
Trang 16xã hội Con cháu, kể cả người đã thành niên hoặc chưa thành niên dưới quyền của người gia trưởng không được phép có tài sản riêng, do không có khả năng thanh toán nên họ không được giao kết các khế ước có liên quan đến tài sản của gia đình nếu không được người gia trưởng cho phép Trong gia đình phong kiến, người vợ không được bình đẳng với chồng Bộ luật Gia Long quy định chỉ người chồng mới được đứng tên giao kết những khế ước liên quan đến tài sản của gia đình hoặc nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần của gia đình Tuy nhiên, điểm tiến bộ hơn so với Bộ luật Hồng Đức là Bộ luật Gia Long quy định trong một số khế ước quan trọng như mua bán, vay mượn tài sản thì người vợ cũng được cùng chồng giao kết các khế ước đó Những người không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình như người điên, thác loạn tinh thần thì không được giao kết khế ước, kể cả lúc họ còn tỉnh táo hoặc trong nhiều năm sau khi không còn dấu hiệu tâm thần vẫn không được giao kết khế ước (Điều 261 Bộ luật Gia Long) Về hình thức của khế ước, trong thực tế khi giao kết các khế ước
có đối tượng là tài sản có giá trị lớn như ruộng đất, nhà ở, trâu bò… hoặc là một
số tiền lớn thì các bên thường lập thành văn bản để làm bằng chứng, giao cho người trái chủ giữ hoặc điểm chỉ trong trường hợp không biết chữ Nhưng trong
Bộ luật Gia Long không có quy định về hình thức của khế ước Đây là điểm khác biệt trong quy định về khế ước của Bộ luật Gia Long so với Bộ luật Hồng Đức Quy định về khế ước trong Bộ luật Gia Long đã thừa nhận quyền tự do giao kết khế ước, tôn trọng thuần phong mỹ tục và trật tự công cộng; các bên phải thực hiện khế ước đúng như đã cam kết và không được trái pháp luật; người
vi phạm phải chịu trách nhiệm Người có nghĩa vụ trong khế ước chỉ được miễn thực hiện nghĩa vụ của mình trong trường hợp bất khả kháng (Điều 135 Bộ luật Gia Long) Bộ luật Gia Long cũng quy định trong một số trường hợp cụ thể đối với các khế ước quan trọng như mua bán, trao đổi, vay nợ…bị vô hiệu do có hành vi phi pháp hoặc lừa dối (Điều 137) hoặc khế ước vô hiệu do cưỡng bức (Điều 317) Đây là những quy định có thể nói là tiến bộ và còn nguyên giá trị đến ngày nay Tuy nhiên, cũng như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long cũng không thể tránh khỏi những hạn chế mang tính lịch sử của nó, đó là tư tưởng giai
Trang 17cấp, gia trưởng, trọng nam, khinh nữ trong gia đình, trong xã hội và trong việc giao kết khế ước
Trong thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945), nước ta bị chia cắt thành ba miền Thực dân Pháp áp dụng chính sách chia để trị và áp đặt các chính sách cai trị khác nhau trên mỗi vùng miền Về pháp luật, chúng ban hành ba Bộ dân luật
để thi hành tại mỗi miền của đất nước: Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 và Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ ban hành năm 1883 Trong các bộ luật nêu trên đều có các quy định điều chỉnh quan hệ hợp đồng Tuy nhiên, BLDS Trung kỳ có các quy định để điều chỉnh quan hệ dân sự trọn vẹn hơn cả Bộ luật này gồm 1709 điều, trong đó riêng phần nghĩa vụ và khế ước gồm 940 điều Trong đó đã có những khái niệm pháp lý khá cơ bản về khế ước,
như Điều 680 quy định: “Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều
người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì” Bộ luật Dân sự này có các quy định tôn trọng quyền tự do ý chí,
định đoạt của các bên trong giao kết khế ước, nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự Bộ luật Dân sự Trung kỳ có nhiều quy định chi tiết, bố cục rành mạch, thuận lợi cho việc vận dụng, tra cứu Cách thức và nội dung quy đinh của Bộ luật này có ảnh hưởng nhiều của pháp luật dân sự Pháp Tuy nhiên, cũng do hạn chế lịch sử và tư tưởng của chủ nghĩa thực dân mà các quyền lợi của người phụ nữ, của người bản địa không được bảo đảm và thiếu sự bình đẳng trong giao dịch dân sự
Nhìn chung, nội dung của các quy định trong ba Bộ dân luật đều cho thấy pháp luật về hợp đồng được áp dụng chung, thống nhất cho tất cả các hợp đồng thuộc đối tượng điều chỉnh mà không có sự phân biệt trên cơ sở chủ thể hay mục đích Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những tư tưởng tự do hoá thương mại và đặc biệt dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Luật thương mại Pháp, năm 1942 theo chiếu
dụ số 46 ngày 12/6/1942, chính quyền Nam triều Bảo Đại đã ban hành Bộ luật thương mại áp dụng tại Trung phần Bộ luật này điều chỉnh các hành vi thương mại của các thương nhân Song, sự xuất hiện của Bộ luật thương mại thời kỳ này cũng không nhằm phân tách các quan hệ thương mại một cách độc lập với quan
Trang 18hệ dân sự và các quy định pháp luật về hợp đồng nhìn chung vẫn nằm trong một thể thống nhất [41]
1.2.2 Pháp luật hợp đồng thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Ngày 22.5.1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 97/SL cho phép tiếp tục áp dụng các luật lệ của chế độ cũ nhưng với điều kiện không được trái với các nguyên tắc của Sắc lệnh này Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt
cơ sở cho sự hình thành và phát triển của pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân nói chung, pháp luật về dân sự, trong đó có những quy định liên quan đến
hợp đồng nói riêng Sắc lệnh quy định “Những quyền dân sự đều được pháp luật
bảo vệ khi người ta hành xử nó đúng với quyền lợi của nhân dân” hay “Người ta chỉ được hưởng dụng và sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân” (Điều 1, Điều 12
Sắc lệnh 97/SL) Đây đều là những nguyên tắc hết sức cơ bản và tiến bộ của nhà nước dân chủ nhân dân
Từ năm 1954 đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền Ở miền Nam dưới chế độ ngụy quyền miền Nam, quan hệ hợp đồng tiếp tục được điều chỉnh chủ yếu bằng quy định của BLDS Trung kỳ và Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ Sau này, quan
hệ hợp đồng được điều chỉnh chủ yếu bởi 2 đạo luật: BLDS Sài Gòn 1972 và Bộ luật Thương mại Ở miền Bắc, bên cạnh Bộ dân luật Bắc kỳ còn có Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh số 735/TTg ngày 10/4/1956 của Thủ tướng Chính phủ Đến năm 1959, Toà án nhân dân tối cao đã ra chỉ thị số 772-CT/TATC về việc đình chỉ áp dụng luật lệ của đế quốc và phong kiến Với chỉ thị này, toàn bộ các luật lệ phong kiến trước đây đều bị đình chỉ áp dụng ở miền Bắc
Năm 1960 Nhà nước ta ban hành "Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng
kinh tế", lần đầu tiên khái niệm "hợp đồng kinh tế" được xuất hiện trong các giao
lưu dân sự, kinh tế Ngày 10.3.1975, Hội đồng chính phủ đã ban hành Nghị định
số 54/CP ban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế Tiếp theo sau đó là một
số Thông tư, Thông tư liên bộ của các Bộ, ban, ngành để hướng dẫn thực hiện các quy định của Nghị định này trong từng lĩnh vực cụ thể Đây là giai đoạn chúng ta bắt đầu thực hiện quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá và do vậy các hợp đồng kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá được hình thành, việc giải
Trang 19quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ loại này cũng được hình thành Các tranh chấp về dân sự vẫn được giải quyết tại Toà án và tranh chấp, vi phạm về hợp đồng kinh tế được giải quyết theo thủ tục tố tụng riêng về trọng tài tại cơ quan Trọng tài kinh tế nhà nước Đây là thời điểm đánh dấu sự phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự
Ngày 25.9.1989, PLHĐKT được ban hành Pháp lệnh là công cụ pháp lý quan trọng trong ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế giữa các cơ quan, đơn
vị sản xuất kinh doanh quốc doanh giai đoạn này Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, sự phát triển mạnh mẽ của giao lưu dân sự Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã không còn phù hợp với thực tiễn Do vậy, năm
1991, Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh hợp đồng dân sự Văn bản này
đã thực sự là cơ sở pháp lý quan trọng trong giao lưu dân sự ở nước ta cho đến khi có BLDS năm 1995 Các tư tưởng, nội dung cơ bản của Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 đã được kế thừa và phát triển trong các quy định về hợp đồng của BLDS năm 1995 và 2005
Thực chất sự khác nhau cơ bản giữa nội dung của PLHĐKT 1989 và Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 chính là mục đích ký kết hợp đồng Trong hợp đồng kinh tế, mục đích ký kết là nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, còn mục đích của hợp đồng dân sự chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng Điều này dẫn tới sự phân biệt một cách máy móc về mặt chủ thể tham gia ký kết hợp đồng kinh tế và dân sự, cơ chế giải quyết tranh chấp đối với hai loại hợp đồng này và trên thực tế, đã dẫn đến những vấn đề thực tế nẩy sinh rất phức tạp trong việc áp dụng pháp luật để ký kết hợp đồng, giải quyết tranh chấp Năm
1995, BLDS ra đời, khái niệm hợp đồng dân sự do Bộ luật này điều chỉnh thực chất đã bao trùm lên cả khái niệm về hợp đồng kinh tế trong PLHĐKT nhưng về mặt pháp lý, nó không thay thế PLHĐKT Các quy định về hợp đồng trong BLDS nhìn chung là khá tiến bộ và phù hợp với thực tế, đảm bảo các nguyên tắc
cơ bản về hợp đồng Đó là tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực và ngay thẳng Hầu hết các quy định đều đơn giản, dễ hiểu, thuận tiện cho việc áp dụng
Trang 20Tuy nhiên, sau 10 năm thi hành, một số quy định về hợp đồng trong BLDS
1995 không còn phù hợp với thực tế, lạc hậu so với sự phát triển kinh tế, xã hội hiện nay Về mặt kỹ thuật lập pháp, có nhiều quy định còn chung chung có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, nhất là trong công tác xét xử Bên cạnh đó, một số quy định mang tính nguyên tắc nhưng không được hoặc chậm được cụ thể hoá nên không được áp dụng trong thực tế Trong khi sự tồn tại song song và đồng thời của hai loại hợp đồng kinh tế – dân sự còn đang gây nhiều tranh cãi thì năm 1997, Quốc hội lại ban hành Luật thương mại, trong đó điều chỉnh các hành vi thương mại của thương nhân và quy định một số hợp đồng đặc thù trong lĩnh vực thương mại Về mặt pháp lý, ba loại hợp đồng dân sự, kinh tế và thương mại song song cùng tồn tại nhưng chúng lại không có sự phân biệt và nhất quán trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng và vì vậy, trên thực tế, sự ra đời của Luật Thương mại vô tình
đã làm sâu sắc thêm những vấn đề vướng mắc về mặt lý luận và thực tiễn trong
hệ thống các quy định về hợp đồng của chúng ta
Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI nước ta đã thông qua BLDS 2005 và Luật thương mại 2005, trong đó các quy định về hợp đồng trong BLDS 2005 được coi là các quy định của luật chung và có sự thống nhất với các quy định của Luật thương mại Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 chính thức bị bãi bỏ theo Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14.6.2005 của Quốc hội về việc thi hành BLDS
Qua việc nghiên cứu lịch sử phát triển pháp luật hợp đồng nước ta qua các thời kỳ có thể thấy pháp luật về hợp đồng đã xuất hiện từ rất sớn trong lịch sử nước ta Sự phát triển của chế định pháp luật này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố lịch sử, đặc biệt là những ảnh hưởng của pháp luật phong kiến Trung Hoa, pháp luật dân sự của thực dân Pháp, pháp luật của các nước XHCN thời kỳ bao cấp Điều này được phản ánh qua thực trạng phong phú về quan niệm hợp đồng, nguyên tắc ký kết, thực hiện hợp đồng và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lịch sử nước ta Hiện nay, pháp luật hợp đồng của nước ta ngày càng có sự thống nhất hoá và chi tiết hoá phù hợp với tính chất của từng loại quan hệ hợp đồng nhất định Tuy nhiên, bản chất pháp lý của hợp đồng luôn
Trang 21luôn được nhất quán, đó là sự thoả thuận, tự do ý chí trong giao kết và thực hiện hợp đồng, trong việc lựa chọn các phương thức, biện pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng Điều này phản ánh một xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế, phù hợp với thông lệ quốc tế
1.3 Thực trạng pháp luật về hợp đồng trước khi ban hành Bộ luật Dân sự
2005
1.3.1 Thực trạng pháp luật về hợp đồng
Hợp đồng là hình thức pháp lý của quan hệ trao đổi hàng hoá Ở đâu có sự trao đổi hàng hoá dựa trên sự đền bù ngang giá, sự tự do ý chí và sự bình đẳng giữa các chủ thể trao đổi thì ở đó xuất hiện hợp đồng Vì vậy, ở Việt Nam ta cũng như ở tất cả các nước trên thế giới đều có khái niệm hợp đồng và pháp luật
về hợp đồng
Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế - xã hội, do chế độ chính trị và tính chất của nền kinh tế ở các nước là không thể hoàn toàn giống nhau, do đó, trong pháp luật về hợp đồng không thể không có sự khác biệt Có khi, sự khác nhau đó lớn đến mức chúng tạo thành những đặc điểm của pháp luật của một số quốc gia nhất định, trong đó có Việt Nam ta
Nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển cũng như thực trạng hiện hành
có thể rút ra một số đặc điểm của pháp luật về hợp đồng ở nước ta như sau:
1.3.1.1 Tính phân tán (được quy định rải rác ở các văn bản khác nhau)
Một đặc thù của pháp luật hợp đồng ở Việt Nam là tính phân tán Trong pháp luật về hợp đồng Viêt Nam không có một văn bản pháp luật nào được coi là gốc, mang tính bao trùm về hợp đồng Hiện nay, pháp luật về hợp đồng của Việt Nam được quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm các văn bản chủ yếu sau đây:
- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 quy định chi tiết thi hành PLHĐKT và các văn bản hướng dẫn thi
hành Theo quy định tại Điều 1 của PLHĐKT thì “Hợp đồng kinh tế là sự thoả
thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng
Trang 22quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được coi là một văn bản pháp luật chung quy định về tất cả các hợp đồng kinh tế được xác lập và thực hiện trong mọi lĩnh vực, từ đầu
tư, sản xuất, mua bán, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, cung ứng dịch vụ trên thương trường Với tính chất là một văn bản pháp luật chung, PLHĐKT điều chỉnh mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng kinh tế như: khái niệm, chủ thể, hình thức, mục đích của hợp đồng kinh tế; nguyên tắc và thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế, người ký hợp đồng kinh tế; nguyên tắc và các yêu cầu cơ bản trong việc thực hiện hợp đồng kinh tế; các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế; thay đổi, huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng kinh tế; hợp đồng kinh tế vô hiệu và xử lý hậu quả hợp đồng kinh tế vô hiệu; trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng kinh tế và các trường hợp miễn giảm trách nhiệm tài sản
- Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về hợp đồng dân sự Theo Điều 394
BLDS thì “Hợp đồng dân sự là thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay
đổi, hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Bộ luật này có đưa ra các quy định
chung về giao kết hợp đồng dân sự, thực hiện hợp đồng dân sự, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự Trong Bộ luật này có quy định về 13 loại hợp đồng dân sự thông dụng: hợp đồng mua bán tài sản; hợp đồng trao đổi tài sản; hợp đồng tặng cho tài sản; hợp đồng vay tài sản; hợp đồng thuê tài sản; hợp đồng mượn tài sản; hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển; hợp đồng gia công; hợp đồng gửi giữ tài sản; hợp đồng bảo hiểm; hợp đồng uỷ quyền; hứa thưởng và thi có giải
- Luật Thương mại năm 1998 quy định về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Luật Thương mại không phải là văn bản pháp luật quy định chung về hợp đồng như PLHĐKT và BLDS như vừa nêu trên mà chỉ là một văn bản pháp luật chuyên ngành, quy định về các nội dung đặc thù của một số hợp đồng được thương nhân xác lập phục vụ cho hoạt động thương mại của họ mà thôi Trong Luật này không có một khái niệm về hợp đồng thương mại cũng như các quy định chung về hợp đồng thương mại như: nguyên tắc ký kết hợp đồng, điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng, các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng Luật này
có liệt kê 14 loại hành vi thương mại (mua bán hàng hoá; đại diện cho thương
Trang 23nhân; môi giới thương mại; uỷ thác mua bán hàng hoá; đại lý mua bán hàng hoá; gia công trong thương mại; đấu giá hàng hoá; đấu thầu hàng hoá; dịch vụ giao nhận hàng hoá; dịch vụ giám định hàng hoá; khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bày giới thiệu hàng hoá; hội chợ, triển lãm thương mại) và quy định cụ thể
về mỗi loại hợp đồng trong các hoạt động này Trong mỗi loại hợp đồng, Luật Thương mại có thể có những quy định liên quan đến: điều kiện chủ thể của hợp đồng; hình thức của hợp đồng; các nội dung chủ yếu cần phải có trong hợp đồng; những quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên tham gia quan hệ hợp đồng; các yêu cầu cơ bản đối với việc thực hiện hợp đồng; các chế tài được áp dụng khi hợp đồng bị vi phạm; các hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, thủ tục khiếu nại đối với vi phạm hợp đồng và thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng
Ngoài ra, trong các lĩnh vực cụ thể thì các văn bản chuyên ngành lại có những quy định về hợp đồng trong từng lĩnh vực như Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Hàng không, Bộ luật Hàng hải, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng
…
1.3.1.2 Thừa nhận sự tồn tại độc lập của hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự và hệ quả là thừa nhận 2 hệ thống pháp luật về hợp đồng (pháp luật hợp đồng kinh tế và pháp luật hợp đồng dân sự)
Trên thế giới, ở những nước theo hệ thống luật Châu âu lục địa, thông thường người ta cũng có sự phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại, theo đó, hợp đồng dân sự là hợp đồng gốc, còn hợp đồng thương mại là hợp đồng chuyên biệt Trên quan điểm như vậy, trong mối quan hệ với pháp luật về hợp đồng thương mại thì pháp luật dân sự là pháp luật có tính chất cơ bản, chung nhất, là nền tảng còn pháp luật về hợp đồng thương mại là bộ phận pháp luật có tính chất chuyên ngành, là sự quy định một cách cụ thể các nguyên tắc của việc
ký kết và thực hiện hợp đồng trong một lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các thương nhân
Trong khi đó thì ở Việt Nam, gần 50 năm nay đã tồn tại một quan niệm chính thống về mối quan hệ giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế, theo đó, đây là hai chủng loại hợp đồng hoàn toàn độc lập với nhau, khác nhau về tính
Trang 24chất và vì vậy, tương ứng với chúng là hai hệ thống pháp luật độc lập về hợp đồng là pháp luật về hợp đồng dân sự và pháp luật về hợp đồng kinh tế
Đặc điểm này không chỉ thể hiện trên lý thuyết mà còn được khẳng định bằng một hệ thống các văn bản pháp luật được ban hành trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, cụ thể là:
- Năm 1942: Việt Nam có Bộ luật Thương mại song song tồn tại với BLDS Trong tất cả các Bộ luật này đều có sự phân biệt hành vi dân sự và hành
vi thương mại
- Năm 1956 có khái niệm hợp đồng kinh doanh được thể hiện trong Điều
lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh 1956
- Từ 1960 có khái niệm hợp đồng kinh tế tồn tại song song với khái niệm hợp đồng dân sự Khái niệm hợp đồng kinh tế được bắt đầu sử dụng trong Điều
lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành năm 1960, sau đó được ghi nhận trong Điều lệ về chế độ Hợp đồng kinh tế năm 1975 và PLHĐKT năm
1989 Đồng thời với khái niệm hợp đồng kinh tế tồn tại khái niệm hợp đồng dân
sự được thể hiện trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 và BLDS năm
1995
Có được truyền thống lập quy này ở Việt Nam là vì những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, có ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của các nước mà Việt
Nam một thời gian dài đã có quan hệ kinh tế, chính trị chặt chẽ
- Thời thuộc Pháp: Pháp là nước thuộc trường phái Luật Châu Âu lục địa,
ở đó có sự phân biệt hành vi dân sự và hành vi thương mại, có BLDS bên cạnh
Bộ luật Thương mại Đặc điểm này đã ghi dấu ấn vào hoạt động lập pháp ở Việt Nam: bên cạnh BLDS luôn luôn tồn tại Bộ luật Thương mại với nội dung giống hệt Bộ luật thương mại Pháp
- Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám: trong suốt gần 50 năm sau Cách mạng Tháng Tám, khoa học pháp lý cũng như thực tiễn lập pháp Liên Xô ảnh hưởng rất lớn đến quan điểm khoa học cũng như hoạt động xây dựng pháp luật của Việt Nam Liên Xô có ngành luật dân sự và Luật Kinh tế, có khái niệm hợp
Trang 25đồng kinh tế và khái niệm hợp đồng dân sự Việt Nam cũng có những quan niệm
Thứ hai, người Việt Nam vẫn quan niệm rằng, có hai lĩnh vực hoạt động
độc lập của con người Đó là hoạt động dân sự nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân
và hoạt động kinh doanh nhằm mục đích kiếm lợi Chính vì có hai lĩnh vực hoạt động khác nhau như vậy nên cần phải có hai lĩnh vực pháp luật khác nhau để điều chỉnh cho phù hợp: pháp luật về hợp đồng dân sự và pháp luật về hợp đồng thương mại (kinh tế)
Thứ ba, ngoài lý do có tính chất quan niệm dân gian truyền thống như vừa
nêu trên còn có một lý do nữa khiến cho ở Việt Nam tồn tại hai hệ thống pháp luật về hợp đồng, đó là lý do về mặt khoa học Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, các quan hệ hợp đồng kinh tế khác hẳn các quan hệ hợp đồng dân sự ở tính kế hoạch của nó Các quan hệ dân sự và kinh tế giống nhau ở tính hàng - tiền, song lại khác nhau ở tính kế hoạch và đó chính là lý do, là cơ sở cho việc hình thành một quan điểm mới về hợp đồng kinh tế với tư cách là một loại hợp đồng đặc biệt trong tổng thể các hợp đồng tồn tại ở Việt Nam
1.3.1.3 Pháp luật về hợp đồng kinh tế, một bộ phận rất quan trọng của pháp luật hợp đồng phục vụ kinh tế thị trường định hướng XHCN đã trở nên quá bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 ra đời đã đánh dấu một bước đổi mới quan trọng trong quan niệm của chúng ta về hợp đồng kinh tế quá độ từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế đã đóng vai trò là công cụ pháp lý quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo đảm các quan hệ kinh tế được thiết lập và thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, đẩy
Trang 26mạnh sản xuất và lưu thông hàng hoá, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, đề cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ kinh tế Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế thị trường, các quy định của PLHĐKT đã không còn phù hợp với những yêu cầu của tình hình thực tế, gây ra nhiều khó khăn, lúng túng cho các nhà kinh doanh cũng như cho Toà án trong quá trình vận dụng và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế Sau đây là một số biểu hiện về tính bất cập của pháp luật hợp đồng kinh tế hiện hành:
a Quy định về hình thức hợp đồng kinh tế là cứng nhắc, không phù hợp
Theo quy định tại Điều 1 PLHĐKT thì hợp đồng kinh tế được ký kết bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch như công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Thông tư số 108/TT-PC của Trọng tài kinh tế Nhà nước ngày 19.5.1990 hướng dẫn ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế đã quy định: hợp đồng ký kết bằng văn bản tức là hai bên cùng ký hoặc một bên ký trước, bên khác ký sau nhưng cùng ký trên một văn bản Hợp đồng ký kết bằng tài liệu giao dịch chỉ bao gồm những loại tài liệu như công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng (Các hình thức giao dịch khác như thư từ, điện thoại, giấy giới thiệu, giấy biên nhận, biên lai, hoá đơn, vé tàu xe, sổ tiết kiệm v.v không được xem là tài liệu giao dịch để ký kết hợp đồng kinh tế, mà chỉ có ý nghĩa làm chứng cứ trong quan hệ hợp đồng kinh tế, đã được ký kết bằng văn bản hoặc bằng tài kiệu giao dịch, công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng) Ngoài ra, Điều 6 PLHĐKT và Điều 4 Nghị định 17/HĐBT quy định các bên có quyền thoả thuận việc làm chứng thư hợp đồng kinh tế Khi cả hai bên thấy cần làm chứng thư hợp đồng kinh tế hoặc khi một bên yêu cầu, bên kia chấp thuận thì các bên đưa hợp đồng kinh tế đến làm chứng thư tại một cơ quan công chứng nhà nước hoặc tại cơ quan có thẩm quyền đăng
ký kinh doanh (trường hợp không có cơ quan công chứng)
Trong điều kiện kinh tế thị trường, với sự đa dạng và phức tạp về chủ thể,
về sở hữu, về đối tượng hợp đồng thì việc quy định về hình thức hợp đồng như trên là quá hẹp, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện nay Trên thực tế, có rất nhiều hợp đồng được ký kết giữa các pháp nhân dù là với mục đích kinh doanh
mà không tuân thủ các yêu cầu về hình thức thì cũng không được coi là hợp
Trang 27đồng kinh tế, các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng này sẽ được giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Công văn số 11 - KHXX ngày 23.01.1996 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã quy định: sự cam kết bằng miệng giữa pháp nhân với pháp nhân trong giao dịch quan hệ kinh tế không được coi là hợp đồng kinh tế, vì không đúng hình thức hợp đồng do pháp luật quy định Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng thì Toà án nhân dân sẽ giải quyết theo quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Việc hướng dẫn của Toà án như vậy tỏ ra không phù hợp Theo chúng tôi, một hợp đồng có bản chất hợp đồng kinh tế thì dù có vi phạm về mặt hình thức thì những hợp đồng này vẫn phải thuộc thẩm quyền của Toà kinh tế chứ không thể chuyển sang Toà Dân sự được, bởi vì một hợp đồng kinh tế không thể và không bao giờ trở thành hợp đồng dân sự chỉ vì vi phạm các quy định về hình thức của hợp đồng
b Điều kiện tuyên bố hợp đồng vô hiệu quá rộng rãi, dễ dàng làm cho hợp
đồng bị vô hiệu dẫn đến hậu quả là làm mất đi tính ổn định cần thiết của quan
hệ thị trường
Chế định hợp đồng kinh tế vô hiệu là chế định mới được đưa vào pháp luật hợp đồng kinh tế nhằm bảo đảm trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế Theo Điều 8 PLHĐKT thì:
- Hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Nội dung hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật;
+ Một trong các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng;
+ Người ký hợp đồng kinh tế không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa đảo
- Hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm điều cấm của pháp luật, nhưng không ảnh hưởng tới phần còn lại của hợp đồng
Trang 28Thực tế áp dụng quy định về hợp đồng vô hiệu cho thấy các quy định này
đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế chưa quy định được các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh tế, một cơ sở quan trọng để xác định và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu Pháp lệnh cũng chưa phân biệt được hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối để có những cách thức xử lý phù hợp
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế quy định hợp đồng kinh tế bị vô hiệu toàn bộ khi vi phạm điều cấm là quá chung chung và cứng nhắc Trong nhiều trường hợp, hợp đồng kinh tế đã được thực hiện, các bên đã thanh lý nhưng chỉ vì vi phạm điều cấm của pháp luật, mặc dù hành vi vi phạm ấy là không mấy nghiêm trọng nhưng vẫn bị coi là vô hiệu và các bên phải thực hiện xử lý hợp đồng vô hiệu, dẫn đến những tổn thất không nhỏ cho các bên Chẳng hạn, trong hợp đồng kinh tế, các bên có thoả thuận hình thức thanh toán bằng ngoại tệ nên bị toà tuyên bố vô hiệu ngay Theo chúng tôi, trong trường hợp này, hợp lý nhất là chỉ nên phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý ngoại hối mà không nên tuyên hợp đồng vô hiệu Vì vậy, sẽ là phù hợp hơn nếu chỉ tuyên bố vô hiệu hợp đồng kinh tế khi những điều khoản chủ yếu của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật
c Pháp luật quy định quá cụ thể nội dung của hợp đồng, nhất là điều khoản chủ yếu, do đó, đã hạn chế quyền tự định đoạt của các bên khi giao kết hợp đồng
Theo quy định tại Điều 12 PLHĐKT thì hợp đồng kinh tế có các điều khoản sau đây:
- Ngày, tháng, năm ký hợp đồng kinh tế; tên, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giao dịch của các bên, họ, tên người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh doanh;
- Đối tượng của hợp đồng kinh tế tính bằng số lượng, khối lượng hoặc giá trị quy ước đã thoả thuận;
- Chất lượng, chủng loại, quy cách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc;
- Giá cả;
Trang 29- Bảo hành;
- Điều kiện nghiệm thu, giao nhận;
- Phương thức thanh toán;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế;
- Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng kinh tế;
- Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế;
- Các thoả thuận khác không trái với quy định của pháp luật
Trong số các điều khoản nêu trên thì 4 điều khoản đầu tiên là điều khoản chủ yếu, phải có của các hợp đồng kinh tế và do đó, khi thiếu một trong số các điều khoản chủ yếu đó thì coi như hợp đồng chưa hình thành, tức là không có giá trị thi hành Quy định như trong Pháp lệnh vừa không chính xác (điều khoản thứ nhất không thể coi là điều khoản chủ yếu được), vừa không hợp lý, cản trở việc thực hiện quyền tự do quyết định nội dung hợp đồng của các bên Theo chúng tôi, việc quy định về các điều khoản chủ yếu của từng loại hợp đồng nên để cho các văn bản chuyên ngành quy định để bảo đảm tính mềm dẻo, tính cụ thể, tính chính xác trong việc giải quyết vấn đề này
d Phạt vi phạm hợp đồng được quy định là một chế tài bắt buộc là không hợp lý
Theo quy định của PLHĐKT thì phạt vi phạm là một chế tài bắt buộc, được áp dụng mà không căn cứ vào việc các bên có thoả thuận hay không Nói cách khác, trong bất cứ trường hợp nào, khi có vi phạm xảy ra là bên bị vi phạm
có quyền yêu cầu bên vi phạm nộp phạt không phụ thuộc vào việc hành vi vi phạm hợp đồng có gây ra thiệt hại cho bên bị vi phạm hay không
Các bên có quyền thoả thuận về tiền phạt do vi phạm hợp đồng nhưng phải trong khung phạt đối với từng loại hợp đồng (từ 2% đến 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm) theo quy định của pháp luật (Điều 19, Điều 29 PLHĐKT) Khung phạt được quy định cụ thể tại Điều 13 Nghị định số 17/HĐBT, ví dụ: Vi phạm chất lượng: phạt từ 3% đến 12% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm
về chất lượng; Vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng: phạt 2% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm thời hạn thực hiện cho 10 ngày lịch đầu tiên; phạt thêm
từ 0,5% đến 1% cho mỗi đợt 10 ngày tiếp theo cho đến mức tổng số các lần phạt
Trang 30không quá 8% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm ở thời điểm 10 ngày lịch đầu tiên; nếu hoàn toàn không thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký thì bị phạt đến mức 12% giá trị hợp đồng
Việc quy định phạt vi phạm hợp đồng là một chế tài bắt buộc không phụ thuộc vào việc các bên có thoả thuận hay không, theo chúng tôi, là không phù hợp vì can thiệp quá sâu vào quyền tự do định đoạt nội dung hợp đồng của các bên
1.3.1.4 Sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế với các đạo luật chuyên ngành, nhất là với Luật Thương mại trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng
Luật Thương mại và PLHĐKT đều đưa ra những quy định điều chỉnh quan hệ hợp đồng Luật Thương mại điều chỉnh quan hệ hợp đồng phát sinh trong lĩnh vực thương mại (14 hành vi thương mại) còn PLHĐKT điều chỉnh quan hệ hợp đồng phát sinh trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh Vì vậy, trên thực tế, một hợp đồng được ký kết có thể vừa là hợp đồng kinh tế nhưng cũng là hợp đồng thương mại Điều đó có nghĩa là hợp đồng này phải chịu sự điều chỉnh của hai văn bản pháp luật khác nhau là PLHĐKT và Luật Thương mại Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là mặc dù cùng điều chỉnh một quan hệ hợp đồng nhưng giữa PLHĐKT và Luật Thương mại lại tồn tại những quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng các quy định của hai văn bản này trong việc ký kết cũng như trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng Chúng tôi xin nêu một số quy định còn có sự khác nhau giữa PLHĐKT và Luật Thương mại về hợp đồng để làm ví dụ minh hoạ:
a Về hình thức của hợp đồng
Nếu như PLHĐKT chỉ thừa nhận hình thức của hợp đồng kinh tế phải được ký kết bằng văn bản thì Luật Thương mại đã mở rộng hình thức của hợp đồng thương mại Luật Thương mại thừa nhận hợp đồng thương mại có thể được
ký kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Yêu cầu hợp đồng phải được lập thành văn bản chỉ được áp dụng khi pháp luật có quy định Thực
tế, theo quy định của Luật Thương mại thì hầu hết hợp đồng trong hoạt động thương mại đều phải ký bằng văn bản, đó là hợp đồng mua bán hàng hoá với
Trang 31thương nhân nước ngoài (Điều 81), hợp đồng đại diện cho thương nhân (Điều 85), hợp đồng môi giới thương mại (Điều 94), hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá (Điều 104), hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá (Điều 119) Riêng đối với hợp đồng mua bán những loại hàng hoá thông thường (không phải là những tài sản cần đăng ký quyền sở hữu) giữa thương nhân trong nước với nhau hoặc với các bên có liên quan thì pháp luật không bắt buộc phải ký dưới hình thức văn
bản Điều 49 Luật Thương mại quy định “Hợp đồng mua bán hàng hoá được
thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó; điện báo, telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được coi là hình thức văn bản” Như vậy, khác
với PLHĐKT, Luật thương mại đã có tiến bộ hơn khi quy định thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được coi là văn bản hợp đồng
ký từ xa được coi là hình thành và có giá trị pháp lý? Trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng sửa đổi, bổ sung nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng
sẽ dẫn tới hậu quả gì? Trách nhiệm của bên đề nghị giao kết hợp đồng trước đề nghị giao kết hợp đồng mình đưa ra như thế nào? Thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng ra sao? Ngược lại, Luật Thương mại quy định khá chi tiết
và hợp lý về các vấn đề liên quan đến thủ tục giao kết hợp đồng trong mục 2 - Mua bán hàng hoá, từ Điều51 đến Điều 56 Các quy định này được xây dựng trên cơ sở các quy định về giao kết hợp đồng dân sự của BLDS với một số điểm đặc thù của quan hệ mua bán hàng hoá trong thương mại Điều 53 Luật Thương
mại quy định “1- Thời hạn trách nhiệm của bên chào hàng bắt đầu từ thời điểm
chào hàng được chuyển đi cho bên được chào hàng đến hết thời hạn chấp nhận
Trang 32chào hàng Trong trường hợp không xác định thời hạn chấp nhận chào hàng thì thời hạn trách nhiệm của bên chào hàng là ba mươi ngày, kể từ ngày chào hàng được chuyển đi cho bên được chào hàng 2- Thời hạn trách nhiệm của bên chấp nhận chào hàng bắt đầu từ thời điểm chấp nhận chào hàng được chuyển đi cho bên chào hàng” Về thời điểm ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, Điều 55 Luật
Thương mại quy định “Hợp đồng mua bán hàng hoá được coi là đã ký kết kể từ
thời điểm các bên có mặt ký vào hợp đồng Trong trường hợp các bên không cùng có mặt để ký hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hoá được coi là đã ký kết
kể từ thời điểm bên chào hàng nhận được thông báo chấp nhận toàn bộ các điều kiện đã ghi trong chào hàng trong thời hạn trách nhiệm của người chào hàng”
Tuy nhiên, rất tiếc, do các quy định này được cơ cấu trong một mục riêng (Mục 2) về mua bán hàng hoá nên không rõ chúng có được áp dụng cho việc giao kết các loại hợp đồng trong hoạt động thương mại khác như hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá hay không?
c Về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Đây là một vấn đề còn có nhiều sự khác biệt giữa hai văn bản, cụ thể:
- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế quy định hai hình thức trách nhiệm tài sản là phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại còn Luật Thương mại lại quy định 4 hình thức trách nhiệm hợp đồng (chế tài) là buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và huỷ hợp đồng (Điều 222) Riêng quy định về phạt
vi phạm hợp đồng cũng có sự khác biệt, trong khi PLHĐKT quy định khung phạt
là từ 2 đến 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm (Điều 29) thì Luật Thương mại quy định mức phạt đối với một vi phạm hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm (Điều 228)
- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế không quy định cụ thể các căn cứ phát sinh trách nhiệm tài sản còn Luật Thương mại quy định cụ thể căn cứ để áp dụng từng chế tài Ví dụ:
Điều 227 Luật Thương mại quy định căn cứ phát sinh quyền đòi tiền phạt gồm:
1- Không thực hiện hợp đồng;
Trang 334- Có lỗi của bên vi phạm hợp đồng
- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế không quy định cụ thể về quan hệ giữa phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại còn Luật Thương mại có quy định chi tiết về vấn đề này Cụ thể, theo Điều 225 Luật Thương mại thì trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên có quyền lợi bị vi phạm không được áp dụng các chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc huỷ hợp đồng Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn ấn định, bên có quyền lợi bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình Còn theo Điều 234 thì trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì bên bị vi phạm được lựa chọn một trong hai chế tài là phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại đối với cùng một vi phạm Theo Điều 237 thì trong trường hợp huỷ hợp đồng, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên kia bồi thường
- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế chỉ quy định nghĩa vụ của bên yêu cầu bồi thường thiệt hại chứng minh việc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế thiệt hại (Điều 38) mà không quy định quyền của bên vi phạm được yêu cầu giảm bớt tiền bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được, nếu bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất như Luật Thương mại (Điều 232 Luật Thương mại) Ngoài ra, Luật Thương mại còn quy định số tiền bồi thường thiệt hại không thể cao hơn giá trị tổn thất và khoản lợi đáng lẽ được hưởng (Điều 229)
- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế chỉ liệt kê các trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn hoặc giảm trách nhiệm tại Điều 40, trong đó có trường hợp thứ
Trang 34ba: do bên thứ ba vi phạm hợp đồng kinh tế với bên vi phạm nhưng bên thứ ba này không phải chịu trách nhiệm tài sản do gặp thiên tai, địch hoạ và các trở lực khách quan khác hoặc bên thứ ba phải thi hành lệnh khẩn cấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quy định này là không phù hợp với thực tiễn và trái với nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản đã được quy định tại Điều 3 PLHĐKT Khác với PLHĐKT, Luật Thương mại không có khái niệm giảm mà chỉ có khái niệm miễn trách nhiệm tài sản Luật Thương mại không có điều khoản quy định chung về miễn trách nhiệm hợp đồng mà chỉ có các quy định riêng về miễn trách nhiệm trong từng loại hoạt động thương mại cụ thể (ví dụ, các điều 77, 78, 79 đối với hợp đồng mua bán hàng hoá; Điều 169 đối với hợp đồng giao nhận hàng hoá )
Nhìn chung, các quy định của Luật Thương mại về trách nhiệm áp dụng cho bên vi phạm hợp đồng là hợp lý hơn so với các quy định của PLHĐKT
d Về hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế quy định khá cụ thể về các trường hợp hợp đồng kinh tế vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng kinh tế vô hiệu Luật Thương mại không có những quy định chung và chi tiết về vấn đề này Trong từng hoạt động thương mại cụ thể, Luật Thương mại có một số quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Ví dụ, Điều 81 quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài; các điều 100, 101 quy định về điều kiện chủ thể để các bên tham gia hợp đồng uỷ thác mua bán
hàng hoá
đ Về thời hiệu khởi kiện và cách tính thời hiệu khởi kiện
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế không quy định thời hiệu khởi kiện áp dụng cho các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế Và bởi vậy, nếu các văn bản pháp luật nội dung khác không quy định thời hiệu khởi kiện khác và cách tính thời hiệu khởi kiện khác thì thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp hợp đồng kinh tế là 6 tháng, kể từ ngày phát sinh tranh chấp (Điều 31 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế) Trong khi đó, Luật Thương mại quy định thời hiệu khởi kiện (Luật Thương mại sử dụng thuật ngữ là thời hiệu tố tụng) áp dụng cho các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trong hoạt động thương mại là 2 năm, kể từ
Trang 35ngày phát sinh quyền khiếu nại (Điều 242) Ngày phát sinh quyền khiếu nại được xác định theo Điều 241 Luật Thương mại
1.3.2 Hậu quả tiêu cực của tình trạng pháp luật hiện hành về hợp đồng:
1.3.2.1 Gây tốn kém thời gian, tiền bạc để xây dựng pháp luật một cách không cần thiết
Hậu quả trước hết mà quan niệm về tính độc lập tuyệt đối của hợp đồng kinh tế mang lại là sự hiện diện một cách bất hợp lý của hai hệ thống pháp luật
về hợp đồng ở nước ta là pháp luật về hợp đồng kinh tế và pháp luật về hợp đồng dân sự Nói cách khác, hậu quả thứ nhất mà chúng ta phải gánh chịu trong suốt thời gian qua là sự trùng lặp rất lớn và rất không cần thiết trong các quy định về hợp đồng Do quan niệm rằng, hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự là hai loại hợp đồng khau nhau về chất tồn tại độc lập với nhau, do đó, chúng phải có đầy
đủ các bộ phận cấu thành, các quy định như nhau
Ví dụ, trong pháp luật về hợp đồng kinh tế phải có quy định về khái niệm hợp đồng kinh tế, chủ thể, nội dung, hình thức, nguyên tắc ký kết, nguyên tắc thực hiện hợp đồng, các biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng, hợp đồng kinh
tế vô hiệu và việc xử lý hậu quả của hợp đồng kinh tế vô hiệu v.v Trong pháp luật về hợp đồng dân sự cũng vậy, nhà lập pháp và lập quy cũng phải đưa ra ngần ấy các quy định để giải quyết ngần ấy các vấn đề phát sinh liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự Hậu quả là, chúng ta đã phải mất nhiều thì giờ và công sức để tạo ra hai hệ thống quy định pháp luật về cùng hai hiện tượng xã hội mà về cơ bản là giống nhau, đó là hợp đồng trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá Xét về mặt kỹ thuật lập pháp thì đây là một hệ quả mà chúng ta
từ nay cần phải tránh vì nó đã làm cho hệ thống pháp luật về hợp đồng của chúng
ta không chỉ trở nên cồng kềnh một cách bất hợp lý mà còn làm mất đi tính thống nhất, tính liên thông, tính hỗ trợ lẫn nhau và cuối cùng là đã làm suy yếu
đi hiệu quả và hiệu lực của việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ hợp đồng tồn tại trong xã hội ta
Một hậu quả khác về mặt thể chế bên cạnh sự tồn tại một cách bất hợp lý của hệ thống pháp luật về hợp đồng kinh tế là sự tồn tại tương ứng của hệ thống
Trang 36pháp luật về tố tụng kinh tế, mà trụ cột của nó là Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được ban hành năm 1993 Sự tồn tại của Pháp lệnh này cũng là một đặc trưng của pháp luật về tố tụng toà án Việt Nam vì ở hầu hết các nước trên thế giới, do không có quan niệm về hợp đồng kinh tế với tư cách là một loại hợp đồng độc lập nên ở các nước đó không có một hệ thống pháp luật tố tụng riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này Ở họ, các tranh chấp hợp đồng, bất luận là phát sinh ở đâu, nhằm mục đích gì nếu mang tính chất hàng tiền thì đều do một toà án giải quyết theo một tố tụng thống nhất là Bộ luật
tố tụng dân sự
1.3.2.2 Gây khó khăn cho các bên trong quá trình ký kết hợp đồng, gây khó khăn cho toà án khi giải quyết tranh chấp (không biết áp dụng văn bản pháp luật nào cho phù hợp)
Vướng mắc lớn nhất trong thực tiễn là việc xác định tính chất hợp đồng và pháp luật điều chỉnh hợp đồng Cụ thể:
a Khó khăn trong việc phân biệt và áp dụng quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế
Hậu quả lớn nhất do sự phân biệt một cách quá cứng nhắc giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự trong thời gian qua là sự lúng túng và đôi khi dẫn đến sai lầm trong việc áp dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng phát sinh trong nền kinh tế - xã hội nước ta Với sự ra đời của BLDS năm 1995 thì các quy định của hợp đồng dân sự đã trở nên hoàn thiện hơn nhiều so với các quy định của pháp luật hợp đồng kinh tế mà PLHĐKT năm 1989 là xương sống
Ví dụ, các nguyên tắc, thủ tục ký kết hợp đồng dân sự, căn cứ xác định hợp đồng dân sự vô hiệu cũng như cách thức xử lý hậu quả cả hợp đồng dân sự vô hiệu được quy định đầy đủ, khoa học và rõ ràng hơn nhiều so với các quy định tương ứng trong pháp luật hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, do về mặt lý luận cũng như về mặt lập pháp chúng ta đã coi hợp đồng kinh tế là một chủng loại hợp đồng có vị trí độc lập, tồn tại song song và không lệ thuộc vào hợp đồng dân sự, do đó, khi
ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế thì các bên không thể vận dụng các quy định của pháp luật hợp đồng dân sự để điều chỉnh các quan hệ cụ thể mà họ đang thiết lập
Trang 37Hiện nay, trong hệ thống Toà án nhân dân tồn tại 2 Toà chuyên trách là Toà Dân sự và Toà Kinh tế Theo đó, Toà Dân sự chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp dân sự theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự năm 1989 quy định và Toà Kinh tế chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp kinh tế theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế năm 1994 quy định Tuy nhiên, vấn đề vướng mắc lớn nhất nảy sinh trong thực tiễn công tác xét xử chính là việc xác định khi nào tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà kinh tế và khi nào tranh chấp thuộc thẩm quyền của Toà dân sự Nguyên nhân dẫn đến vướng mắc này cũng lại chính là sự khác nhau trong nhận thức và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành Trên thực tế, chúng ta chưa thể làm rạch ròi được thế nào là tranh chấp dân sự, thế nào
là tranh chấp kinh tế để xác định đúng ngay từ đầu Toà nào (Toà dân sự hay Toà Kinh tế) có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đó Hậu quả là một tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có thể được đưa ra giải quyết theo nhiều thủ tục tố tụng khác nhau, tức là, một vụ án có thể có nhiều vòng đời khác nhau Vòng thứ nhất,
có thể là vòng kinh tế (tức là vụ án do Toà Kinh tế xét xử) nhưng sau đó lại được nhận định là vụ tranh chấp dân sự nên vụ án lại được chuyển sang cho Toà Dân
sự giải quyết, tức là vụ án đã bước bước sang vòng đời thứ hai - vòng đời dân sự vụ án cũng sẽ có vòng đời thứ 3 nếu sau đó người ta lại xác định vụ án này không phải là tranh chấp dân sự mà là tranh chấp kinh tế Cứ thế, cứ thế vụ án có thể được xét xử đi, xét xử lại rất nhiều lần
b Khó khăn trong việc áp dụng quy định của pháp luật về hợp đồng kinh
tế và hợp đồng thương mại
Như chúng ta đã biết, hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại, hợp đồng kinh tế lại chịu sự điều chỉnh của PLHĐKT Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế được áp dụng cho quan hệ giữa pháp nhân với pháp nhân và giữa pháp nhân với cá nhân (thương nhân) có đăng ký kinh doanh (Điều 2 PLHĐKT); còn theo quy định của Luật Thương mại, hợp đồng thương mại là hợp đồng được ký kết giữa các thương nhân hoặc một bên là thương nhân nhằm thực hiện một trong 14 hành vi thương mại đã được quy định Như vậy, hợp đồng thương mại đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 1, Điều 2 PLHĐKT