NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ và tên học viên: NGUYỄN ĐĂNG PHONG Giới tính : Nam Ngày, tháng, năm sinh : 04/12/1984 Nơi sinh : Thừa Thiên - Huế Chuyên ngành : Xây dựng công trình dân d
Trang 1NGUYỄN ĐĂNG PHONG
PHÂN TÍCH DẦM ĐƠN GIẢN CHỊU TẢI TRỌNG ĐIỀU HÒA DI ĐỘNG XÉT ĐẾN KHỐI LƯỢNG VẬT DI ĐỘNG THEO LÝ THUYẾT BIẾN DẠNG TRƯỢT BẬC CAO
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 07 NĂM 2009
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS TS ĐỖ KIẾN QUỐC
Trang 3
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: NGUYỄN ĐĂNG PHONG Giới tính : Nam
Ngày, tháng, năm sinh : 04/12/1984 Nơi sinh : Thừa Thiên - Huế
Chuyên ngành : Xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp
Khoá (Năm trúng tuyển) : 2007
1- TÊN ĐỀ TÀI :
PHÂN TÍCH DẦM ĐƠN GIẢN CHỊU TẢI TRỌNG ĐIỀU HÒA ĐI ĐỘNG XÉT ĐẾN KHỐI LƯỢNG VẬT DI ĐỘNG THEO LÝ THUYẾT BIẾN DẠNG TRƯỢT BẬC CAO
- Tổng quan các lý thuyết tính toán dầm, các mô hình vật liệu
- Nghiên cứu lý thuyết Biến dạng trượt bậc cao, mô hình Kelvin-Voigt
- Thiết lập các bài toán phân tích phản ứng dầm chịu tải trọng điều hòa đi động không xét và có xét ảnh hưởng của khối lượng vật đi động và với các điều kiện ban đầu thay đổi
- Lập trình bằng ngôn ngữ Matlab cho bài toán phân tích phản ứng dầm chịu tải trọng điều hòa đi động có xét và không xét ảnh hưởng của khối lượng vật đi động và với các điều kiện ban đầu thay đổi
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
(Họ tên và chữ ký)
PGS TS ĐỖ KIẾN QUỐC
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Quá trình hoàn thành luận văn này là một chặng đường dài, cùng với sự nỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ đẫn của rất nhiều người Mở
đầu luận văn của mình tôi mong muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến
PGS.TS Đỗ Kiến Quốc, người thầy đã tận tình chỉ bảo giảng giải cho chúng tôi rất
nhiều điều từ lúc còn là một sinh viên đại học và bây giờ là người trực tiếp hướng
dẫn tôi hình thành ý tưởng, tìm tòi, khám phá và hoàn thành luận văn cao học này
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến toàn thể quý thầy cô, các học viên cao học
chuyên ngành Xây dựng công trình đân dụng và công nghiệp Khóa 2007 Họ là
những người thầy, người bạn người anh, là những đồng nghiệp đã cùng tôi trải qua
một quãng thời gian đáng nhớ Chúng tôi đã cùng làm việc cởi mở, thảo luận
nghiêm túc, nghiên cứu sâu sắc về tất cả các vấn đề trong ngành học Tôi xin gởi
lời cảm ơn chân thành của mình đến tất cả
Lời cảm ơn cuối cùng, tôi xin dành cho gia đình, bạn bè của mình Đó là
những người luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ và cùng tôi vượt qua những khó khăn
trong cuộc sống Chính họ là nguồn động lực mạnh mẽ giúp tôi trong suốt quá trình
học tập và hoàn thành luận văn
TP Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2009
Nguyễn Đăng Phong
Trang 5ACKNOLEDGMENTS
The progress of this final thesis to its accomplishment is a long way with
difficulties and challenges Besides the personal efforts, I would like to deeply
express my grateful and thankful to many people To open up the thesis, my first
appreciation is for all that Prof Do Kien Quoc has done for me He is the very first
teacher who guided me to the civil engineering field while I was an undergraduate
student and now he is my trustful supervisor in this graduation dissertation form the
beginning to its very end point
I also would like to thank all of my teachers, and my classmates of the
academic year 2007 Master program They are all my trustful supervisors, advisors
and seniors that accompanied me over an unforgettable period We were working
with open-minded, discussing with disciplines and deeply looking into every detail
issue within the curriculum Thank you for all you have done for me
My last words are for my family and my beloved friends They are always
beside me and help me overcome the difficulties that I am facing in real life They
are my encouragements, and they are all with me in my every steps of motivation
Ho Chi Minh City, June 2009
Nguyen Dang Phong
Trang 6TÓM TẮT NỘI DUNG
Tên đề tài luận văn: “Phân tích dầm đơn giản chịu tải trọng điều hòa di động
xét đến khối lượng vật di động theo lý thuyết biến dạng trượt bậc cao”
Nội dụng của luận văn sẽ nghiên cứu phản ứng động của dầm đơn giản khi chịu một tải trọng điều hòa di động có xét đến khối lượng của vật di động, cũng là tác nhân gây ra dao động điều hòa Lý thuyết sử dụng để phân tích dầm là lý thuyết
biến dạng trượt bậc cao (Higher Order Shear Deformation Theory – HOSDT) Vật liệu làm dầm được sử dụng theo mô hình vật liệu Kelvin-Voigt Các điều kiện liên
kết của các gối tựa được đưa vào quá trình tính toán bằng cách sử dụng các hệ số
nhân Lagrange Bằng cách sử dụng các phương trình Lagrange, bài toán sẽ được
suy giảm thành các phương trình vi phân và được giải bằng cách sử dụng phương
pháp tích phân trực tiếp của Newmark Sau đó chuyển vị, vận tốc và gia tốc của dầm
tại một điểm xác định sẽ được xác định
Tiến hành xây dựng thuật toán tính toán trong Matlab và áp dụng, kiểm tra
bằng các số liệu cụ thể về dầm và với các giá trị tải trọng khác nhau
Trang 7Matlab programming language is used to setup the solving algorithm of the problem Real parameters are then applied in various cases to varify
Trang 8MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Các lý thuyết tính toán dầm 3
1.3 Tổng quan về tính cản của hệ động học 3
1.4 Các mô hình vật liệu 4
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH VÀ CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 8
2.1 Thiết lập mô hình 8
2.2 Lý thuyết biến dạng trượt bậc cao 8
2.3 Mô hình Kelvin – Voigt 12
2.4 Phân tích năng lượng 13
CHƯƠNG 3: THIẾT LẬP CÔNG THỨC PHẦN TỬ HỮU HẠN 19
3.1 Phương trình cân bằng động học 19
3.2 Ma trận độ cứng và ma trận cản 20
3.3 Ma trận khối lượng 22
3.4 Vector tải trọng suy rộng 23
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 25
4.1 Giải phương trình chuyển động bằng phương pháp tích phân trực tiếp 25
4.2 Kỹ thuật lập trình sử dụng ngôn ngữ Matlab 30
CHƯƠNG 5: VÍ DỤ MINH HỌA 39
5.1 Bài toán 1 39
5.2 Bài toán 2 51
5.3 Bài toán 3 61
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
6.1 Kết luận về các kết quả đã nghiên cứu 64
6.2 Kết luận và kiến nghị chung 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 69
Trang 9CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong thực tế các công trình xây dựng, đặc biệt là xây dựng công nghiệp, có rất nhiều các kết cấu dầm đơn giản chịu tải trọng động hoặc tải trọng di động ví dụ như các dầm cầu trục nhà công nghiệp chịu tải trọng xe cẩu hay các dầm cầu chịu tải trọng của các phương tiện giao thông di chuyển trên nó
Vấn đề nghiên cứu phản ứng động của dầm chịu nhiều tác nhân chuyển động bên ngoài đã được đề cập nhiều trong khoảng 20 năm trở lại đây Theo trình tự thời gian có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như đề cập ở phần dưới đây
Năm 1990, Lin và Tretheway [34] lần đầu tiên đưa ra phương pháp phân tích
động cho dầm đàn hồi chịu tải trọng di động bất kỳ bằng phương pháp phần tử hữu hạn sử dụng hệ thống các phương trình vi phân bậc hai với các hệ số thay đổi theo thời gian
Năm 1994, Lee [8] tiến hành nghiên cứu phản ứng của dầm với gối tựa tức thời chịu tải trọng di động sử dụng lý thuyết dầm Euler và phương pháp phân tích
mode
Năm 1997, Henchi, Fafard, Dhatt và Talbot [11] nghiên cứu ứng xử động
của dầm nhiều nhịp chịu một đoàn tải trọng di động sử dụng mô hình động và phát
triển thuật toán biến đổi nhanh Fourier (FFT algorithm) Các tần số và mode dao động được tính toán chính xác bằng thuật toán của Wittrick và Williams Cùng lúc
đó, Wang [22] thuộc Đại học quốc gia Cheng Kung, Đài Loan lại phân tích ứng xử của dầm Timoshenko nhiều nhịp chịu một tải trọng di động để so sánh kết quả với một dầm Euler-Bernoulli nhiều nhịp
Năm 1998, Zheng, Cheung, Au và Cheng [4] thuộc Đại học Hong Kong đã dựa trên nguyên lý Hamilton, tiến hành phân tích dao động của của dầm nhiều nhịp
tiến diện thay đổi chịu tải trọng đi động bằng cách sử đụng các hàm dao động dầm cải tiến thỏa mãn các điều kiện độ võng bằng 0 tại các gối tức thời cũng như điều kiện biên tại hai đầu dầm
Năm 2000, Abu-Hilal và Mohsen [15] đã nghiên cứu đao động của dầm đơn
với các điều kiện biên như các gối tựa đơn, ngàm, một gối tựa đơn gối kia là ngàm
Trang 10hay dạng dầm console chịu một tải trọng điều hòa đi động Lời giải kín (closed
form) được dùng để tính toán phản ứng của dầm trong các điều kiện chuyển động có
gia tốc hay chuyển động bất thường của tải trọng Cùng trong thời gian này Chan,
Law và Yung đã thực hiện điều ngược lại của hầu hết tất cả các nghiên cứu là đưa ra
một lý thuyết tính toán để xác định tải trọng động trên một dầm cầu dự ứng lực dựa trên các thông số về phản ứng của dầm [26] đồng thời kiểm chứng bằng cách tiến hành đo đạc hiện trường trên một công trình dầm cầu dự ứng lực để ước tính và
định vị được tải trọng động ở trên dầm [27] Zhu và Law [31] đồng thời đã phát
triển lý thuyết xác định tải trọng di động nhưng cho loại dầm cầu liên tục nhiều nhịp
Năm 2001, Chen, Huang và Shih [33] nghiên cứu phản ứng của một dầm
Timoshenko dài vô hạn đặt trên một nền đàn hồi chịu tải trọng điều hòa di động Công trình này có ý nghĩa liên hệ thực tiễn rất lớn khi mô phỏng gần dúng mô hình đường ray xe lửa chịu tải trọng động Một nghiên cứu khác được đưa ra trong cùng
thời gian này của Michaltsos [7] để cập đến ảnh hưởng của tải trọng di động với vận
tốc thay đổi đến ứng xử của dầm đơn giản một nhịp
Năm 2002, Dungush và Eisenberger phát triển kết quả của Wang [22] khi
phân tích dầm liên tục tiết diện thay đổi chịu tải trọng di động nhưng lại dùng lý
thuyết dầm Euler-Bernoulli
Năm 2004, Hamed và Frostig [6] đề cập đến một vấn đề thực tiễn khi tìm
hiểu về dao động tự do của dầm dự ứng lực đã bị nứt Từ đó đưa đến kết luận, vết nứt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tần số dao động riêng của dầm
Năm 2008, Bakhshandeh và Saranjam [12] lại quan tâm đến ảnh hưởng của điều kiện biên đến ứng xử động của dầm thẳng composite đẳng hướng chịu tải trọng
di động Trong nghiên cứu này cũng đề cập đến ảnh hưởng của các thông số như
hình dáng và loại vật liệu dầm đến hệ số phóng đại động học (dynamic
magnifiaction factor) Và kết quả là hệ số phóng đại động học chịu ảnh hưởng lớn nhất từ các điều kiện biên
Như vậy, trong một khoảng thời gian dài đã có rất nhiều vấn đề liên quan đến phân tích dầm đặc biệt là ứng xử của dầm đối với tải trọng động Thành phần
“động” của tải trọng thường bao gồm một trong hai trường hợp: tải trọng di động hoặc là tải trọng điều hòa hoặc cả hai Tuy nhiên, tất cả các nghiêng cứu trước đây đều chỉ quan tâm đến tác dụng của lực lên dầm và chỉ phân tích ảnh hưởng của bản thân lực đó lên dầm mà thôi Nhưng trong thực tế tất cả các ngoại lực tác động lên dầm dù dưới bất cứ hình thức nào cũng phải có tác nhân gây ra nó Tác nhân gây ra
Trang 11lực di chuyển trên dầm luôn có khối lượng bản thân, nếu kể đến thành phần khối lượng này thì ma trận tổng khối lượng khi phân tích dầm theo Phần tử hữu hạn là thay đổi theo thời gian và đây cũng là vấn đề mà luận án đề cập đến
1.2 Các lý thuyết tính toán dầm
Các nghiên cứu về phản ứng dầm khị chịu các loại tải trọng thường thường
dựa trên các lý thuyết dầm khác nhau từ lý thuyết dầm đơn giản nhất của
Euler-Bernoulli đến đến lý thuyết biến dạng trượt bậc nhất của Timoshenko và cuối cùng
là lý thuyết biến dạng trượt bậc ba của Reddy và Brickford [3] Trong đó hai lý
thuyết sau cùng đề cập đến ảnh hưởng của biến dạng trượt ngang của dầm mà trong
lý thuyết của Euler-Bernoulli xem như không có
Hiện nay, lý thuyết dầm Timoshenko vẫn được sử dụng rộng rãi nhất do hệ
thống phương trình đơn giản và tính chính xác của kết quả tính toán là chấp nhận được Tuy nhiên, nếu quá trình mô phỏng đòi hỏi tính chính xác cao người ta sẽ sử
dụng lý thuyết biến dạng trượt bậc cao (HOSDT) Lý thuyết này chính là lý thuyết
mở rộng của lý thuyết dầm Reddy và Brickford
Lý thuyết biến dạng trượt bậc cao hiện nay chủ yếu dùng để phân tích ứng
xử của các phần tấm, vỏ hay tấm composite, đối với các mô phỏng cho dầm đây vẫn
còn là một lý thuyết tương đối mới Một số ứng dụng cho tấm vỏ có thể kể đến như,
năm 2004, lần đầu tiên Latheswary [24] đã đưa lý thuyết này vào phân tích ứng xử
của các tấm Laminate composite chịu tải trọng tĩnh khi thay đổi các lớp vật liệu và
tỷ số bề dày tấm so với chiều dài cạnh Sau đó một năm, Ferreira [1] giới thiệu lý thuyết HOSDT để phân tích tấm giật bậc tựa đơn chịu tải trọng tĩnh theo phương pháp không chia lưới Gần đây nhất, năm 2007, Nguyen Dang Quy [20] cũng có một nghiên cứu về phần tử vỏ đặc trong các kết cấu laminate để tăng cường khả
năng chịu cắt sử dụng lý thuyết biến dạng trượt bâc cao
Chi tiết các lý thuyết phân tích dầm và phát triển công thức sẽ được đề cập
trong mục 2.2 của tài liệu này
1.3 Tổng quan về tính cản của hệ động học
Trong lý thuyết đàn hồi cổ điển, không có khoảng thời gian trễ giữa một lực tác dụng biến dạng do nó gây ra Tuy nhiên, trong thực tế của rất nhiều vật liệu, người ta phát hiện còn có thêm một biến dạng phụ thuộc thời gian và được gọi là
biến dạng đàn nhớt (viscoelastic deformation)
Trang 12Khi một tải trọng bên ngoài tác dụng vào vật liệu làm cho vật liệu đó phản ứng đàn hồi tức thời nhưng biến dạng đó vẫn tiếp tục phát triển theo thời gian Tính đàn nhớt đóng vai trò như hệ thống giảm chấn cho vật liệu hay còn gọi là tính cản (damping) của vật liệu
Tính cản của vật liệu, theo [21] được phát triển từ khái niệm lưu biến
(rheology) của chất lỏng Theo đó, lưu biến nghiên cứu đến dòng chảy của vật liệu
chủ yếu trong chất lỏng và một số chất rắn với điều kiện tính chảy của nó co xu hướng lớn hơn biến dạng đàn hồi
Một lò xo (Hình 1.1) mô phỏng chính xác một chất rắn đàn hồi lý tưởng, ứng
xử này được thể hiện như sau:
e e
Một bộ giảm chấn (dashpot) (Hình 1.1) sẽ mô phỏng chính xác một vật liệu
nhớt lý tưởng, ứng xử này được thể hiện như sau :
Trang 13Hình 1.1 Các phần tử lưu biến
Khi kết hợp các phần tử lưu biến lại theo các cách khác nhau chúng ta sẽ có
được các mô hình vật liệu Mô hình Maxwell [30] bao gồm một lò xo và một bộ
giảm chấn mắc nối tiếp (Hình 1.2) và có phương trình ứng xử như sau:
Trong đó, các đại lượng e và F (không có chỉ số) lần lượt là tổng biến dạng
dài và ngoại lực tác dụng Khi đó, biến dạng tương ứng với lực tác dụng được mô tả như đồ thị (Hình 1.2), tức là khi có lực tức thời tác động, lò xo sẽ chịu toàn bộ lực
đó và bị kéo giãn đàn hồi tức thời Sau đó lực sẽ truyền dần sang bộ giảm chấn làm cho tổng chiều dài của toàn hệ thay đổi tuyến tính
Hình 1.2 Mô hình nối tiếp Maxwell
Trang 14Mô hình vật liệu Kelvin-Voigt hay còn gọi là mô hình Voigt [30] bao gồm
một lò xo và một bộ giảm chấn mắc song song (Hình 1.3) Đối với mô hình này ta có:
e v
e v
Khi có lực tức thời tác động, cả hai phần tử sẽ chịu đồng thời lực đó Lúc này
đường biến dạng của hệ có dạng hàm mũ và tiệm cận với giá trị elà biến dạng dài
lớn nhất khi t = (Hình 1.3)
Hình 1.3 Mô hình song song Voigt
Vì cả hai mô hình Voigt và Maxwell đều không thể hiện đầy đủ cả hai quá
trình chùng biến dạng và chùng ứng suất nên một mô hình vật liệu thứ ba tốt hơn là
mô hình hỗn hợp hay còn gọi là mô hình Voigt-Maxwell [30] được đề xuất Mô hình này bao gồm một hệ Voigt mắc nối tiếp với một lò xo (Hình 1.4)
Trang 15Hình 1.4 Mô hình hỗn hợp Voigt-Maxwell
Ngoài ra còn có một số mô hình vật liệu phức tạp khác nữa như sử dụng nhiều phần tử lò xo và nhiều bộ giảm chấn hay là dùng các phần tử trên với ứng xử phi tuyến
Trang 16CHƯƠNG 2
MÔ HÌNH VÀ CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết lập mô hình
Bài toán nghiên cứu là một dầm đơn giản, gối tựa đơn hai đầu, chiều dài nhịp
L, tiết diện ngang b h Một vật có khối lượng tĩnh Q, di động trên dầm với vận tốc
, đồng thời gây ra dao động điều hòa P0sint lên dầm trong quá trình di chuyển
Mô hình phân tích phẳng (Hình 2.1) được đặt trong hệ tọa độ Descartes
vuông góc (xOz) với gốc tọa độ O ở chính giữa dầm như sau:
Hình 2.1 Mô hình phẳng của bài toán nghiên cứu
Hàm tải trọng điều hòa được mô tả theo quy luật sau:
2.2 Lý thuyết biến dạng trượt bậc cao
Lịch sử phát triển của lý thuyết tính toán dầm như các phần trên đã trình bày
đi qua ba lý thuyết tính toán dầm chính và được phát triển theo hướng độ chính xác
Trang 17của lý thuyết sau cao hơn lý thuyết trước Có thể liệt kê ba lý thuyết đó theo độ
chính xác của kết quả tính như sau: lý thuyết dầm Euler – Bernoulli; lý thuyết dầm
Timoshenko ; lý thuyết biến dạng trược bậc cao hay còn gọi là lý thuyết dầm Reddy
Hiện nay, cả ba lý thuyết tính này vẫn đang được sử dụng rộng rãi tùy theo yêu cầu
về độ chính xác của bài toán hay mức độ quan trọng của công trình nghiên cứu
Để tìm hiểu về các lý thuyết dầm, chọn hệ trục tọa độ với trục x dọc theo chiều dài dầm, trục z hướng xuống theo chiều cao dầm và trục y hướng theo chiều
rộng dầm Trong một lý thuyết dầm tổng quát, mọi tải trọng ngoài đều gây ra ba
thành phần chuyển vị (u,v,w) theo ba phương (x,y,z) Khi giới hạn nghiên cứu trong bài toán phẳng, chuyển vị theo phương y được lược bỏ Như vậy, các hàm chuyển vị chỉ còn phụ thuộc vào hai biến x và z
Lý thuyết dầm đơn giản nhất là lý thuyết dầm Euler-Bernoulli [3] dựa trên
trường chuyển vị được mô tả như sau (Hình 2.2):
Trong đó, w 0 là độ võng của dầm tại một điểm có tọa độ (x,0) trên trục trung hòa
Trường chuyển vị trên cho thấy rằng đường thẳng vuông góc với trục trung hòa trước và sau khi dầm bị uốn vẫn tiếp tục thẳng và vuông góc với trục trung hòa
Hình 2.2 Mô hình dầm Euler – Bernoulli
Trang 18Lý thuyết tiếp theo là lý thuyết dầm Timoshenko [3], dựa trên trường chuyển
Hình 2.3 Mô hình dầm Timoshenko
Trong các lý thuyết bậc cao, giả định về các mặt cắt ngang phẳng của các lý
thuyết trước đều bị loại bỏ Theo J.N Reddy [3] một lý thuyết bậc hai với dầm
không bị biến dạng theo phương ngang được cho theo trường chuyển vị sau:
Trang 19Hình 2.4 Mô hình dầm Reddy theo lý thuyết HOSDT
Trường chuyển vị bậc ba sau đây đã được sử dụng trong các công trình
nghiên cứu của J.N Reddy [3] và M Levinson [16] và còn được gọi là lý thuyết dầm Reddy:
Ứng dụng lý thuyết biến dạng trượt bậc cao vào bài toán:
Lý thuyết dầm Reddy khi áp dụng vào bài toán đã nêu, sẽ được bổ sung thêm biến thời gian t và được viết lại như sau:
Trang 20Từ đó, theo quan hệ ứng suất biến dạng của cơ học môi trường liên tục ta tính được biến dạng dọc và biến dạng góc (góc trượt) như sau:
2.3 Mô hình Kelvin – Voigt
Mô hình Kelvin-Voigt chính tắc [18], trong trường hợp đặc biệt của bài toán này được cho dưới dạng như sau:
Trang 212.4 Phân tích năng lƣợng
Quá tình phân tích năng lượng trong dầm là quá trình đi tìm công biến dạng
U của dầm, hàm phân tán năng lượng R và động năng tức thời K e và thế năng tức
thời V của hệ
Công biến dạng U của dầm trong hệ tọa độ vuông góc Descartes bao gồm hai
thành phần: công biến dạng do ứng suất pháp xx và công biến dạng do ứng suất tiếp
xz với chú ý chỉ số e (elastic) – chỉ xét đến biến dạng đàn hồi:
Trang 22được gọi là các hệ số độ cứng mặt cắt ngang (cross-sectional stiffness coefficients)
[17]
Do tính cản nội tại trong dầm (damping), một phần năng lượng sẽ được
chuyển hóa thành nhiệt năng và được thể hiện bằng bằng hàm phân tán năng lượng
hay còn được gọi là hàm phân tán Rayleigh, ký hiệu là R:
Tương tự, trong công thức (2.29) ta cũng có thành phần phân tán của ứng
suất pháp và thành phần phân tán của ứng suất tiếp Hàm phân tán Rayleigh là một
dạng hàm phân tán được dùng trong các dạng vật chất có tính nhớt (bao gồm cả chất lỏng), ngoài ra còn có một dạng hàm phân tán khác là hàm phân tán do ma sát Hàm
phân tán sẽ được sử dụng trong phương trình Lagrange
Từ (2.20) và (2.22), biểu thức (2.29) được viết lại như sau:
Trang 230 /2
w w z
0 /2
Trang 24 0sin
P t Q P t như (2.1)
c được gọi là hàm bậc thang đơn vị, t 1 là thời điểm tải trọng bắt đầu đi vào dầm và t 2
là thời điểm tải trọng đi ra khỏi dầm, x p (t) theo (2.2) là hàm vị trí của vật di động và
x t b t x
Trong đó, a n (t) và b n (t) là các tọa độ suy rộng theo thời gian
Thay (2.40) và (2.41) vào (2.26), công biến dạng U của dầm được viết lại theo các tọa độ suy rộng theo thời gian a n và b n như sau:
Trang 25(2.42)
Tương tự, thay (2.40) và (2.41) vào (2.35), động năng tức thời K e được viết
lại theo các tọa độ suy rộng theo thời gian a n và b n như sau:
Trang 28Trong đó, là tần số dao động riêng (hay còn gọi là tần số dao động tự nhiên) của
dầm Thay (3.3) và (3.4) vào (3.2) đồng thời các ma trận cản [C] và vector tải trọng ngoài {f} đều lấy bằng 0, làm cho (3.2) trở thành một hệ phương trình tuyến tính đồng nhất hay còn gọi là phương trình tần số (frequency equation) và được thể hiện
như sau:
Phương trình tần số sẽ thỏa mãn khi định thức của ma trận hệ phương trình (3.5) tiêu biến
Việc giải phương trình tần số chẳng qua là giải bài toán tìm giá trị riêng và
vector riêng và sẽ được trình bày bằng thuật toán và cụ thể hóa trong các phần 4.2.4
và 4.2.5 của luận văn này
/2
" " 9 6' ' , 1,2, ,
Trang 29Ma trận cản, theo [5] trong trường hợp đơn giản được tính [ ]C [ ]K với
là hệ số cản nội tại, như vậy ma trận cản [C] sẽ được viết như sau:
/2
" " 9 6' ' , 1,2, ,
Trang 30Ma trận khối lượng [M] của dầm khi chưa kể đến khối lượng vật di động đặt
lên nó, được cho như sau [17]:
Tiếp theo, tiến hành thiết lập ma trận khối lượng động khi chỉ xét đến khối
lượng Q di động trên dầm theo quy luật x P (t)
Giả sử tại thời điểm t, lực P(t) di động trên dầm đến vị trí nút i Như vậy khối lượng Q sẽ được phân bố lên hai đầu nút i và i+1 theo quy tắc của ma trận khối
lượng thu gọn (Hình 3.1) tức là:
Trang 31Hình 3.1 Quy tắc phân bố khối lượng di động lên các nút
i i i
L
Trong quá trình phân tích bằng phương pháp số, để xác định được chính xác
vị trí của khối lượng Q trên dầm ta tiến hành lập một hàm tính thời gian tổng cộng
(cộng dồn) theo các giá trị t của phương pháp bước thời gian Newmark
Ta xem ở các nút còn lại không có khối lượng Q, tức là M k (k,k)=0 với
, 1
ki i Như vậy, khối lượng ma trận khối lượng tổng thể sẽ là ma trận khối
lượng động thay đổi theo thời gian Tại một thời điểm t, ma trận khối lượng tổng thể
Newmark trong phần [Phụ Lục]
3.4 Vector tải trọng suy rộng
Vector tải trọng suy rộng được cho như sau :
n 1 1,2, ,
P n
Trang 32N n 0 1,2, ,
Trang 33CHƯƠNG 4
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 4.1 Giải phương trình chuyển động bằng phương pháp tích phân trực tiếp
Để giải phương trình (3.1) có nhiều phương pháp, nhưng hai phương pháp chính hiện nay đang được sử dụng phổ biến là :
+ Phương pháp chồng chất các mode dao động (the modal superposition
method)
+ Phương pháp tích phân trực tiếp (Direct integration)
Các phương pháp trên đều là các phương pháp số, việc lựa chọn phương pháp nào để giải phương trình chuyển động lại phụ thuộc vào bao nhiêu dạng dao động cần thiết đại diện cho bài toán đang xét Trong luận văn ta chỉ xét một vài một vài dạng dao động có ý nghĩa đồng thời quá trình tác động của tải trọng cũng không kéo dài như trong bài toán dao động động đất Vì vậy, sau đây chúng ta sẽ chọn phương pháp tích phân trực tiếp để giải bài toán dao động, cụ thể là phương trình cân bằng động học (3.2)
Ý tưởng của phương pháp tích phân trực tiếp [35] là miền thời gian phản ứng của hệ được chia thành các khoảng rất nhỏ t và xét phản ứng của hệ trong từng
khoảng thời gian đó với các điều kiện liên kết của các bước tính liên tiếp nhau (step
by step) Trong mỗi khoảng thời gian đang xét, các đại lượng gia tốc, vận tốc hay chuyển vị được xem là thay đổi tuyến tính, hoặc hằng số và hệ làm việc trong miền đàn hổi Do đó, giữa hai bước tính liên tiếp nhau, các điều kiện ban đầu được thay đổi để phù hợp với điều kiện thực ở bước tính hiện tại
4.1.1 Một số phương pháp tích phân trực tiếp
Các phương pháp tích phân trực tiếp được đề cập tới là các phương pháp
phương pháp tích phân số được giải bằng các quy trình từng bước (step by step) phù
hợp cho các bài toán dao động Các phương pháp này được sử dụng để xác định nghiệm của phương trình vi phân tuyến tính hay phi tuyến bất kỳ Với sự trợ giúp của máy tính các phương pháp số này hiện nay đang được áp dụng rất rộng rãi
Một vài phương pháp số thường được đề cập trong các tài liệu về động lực
học kết cấu như phương pháp sai phân trung tâm, phương pháp Runge-Kuttu, phương pháp Houbolt, phương pháp Wilson, phương pháp Newmark Trong các
Trang 34phương pháp khoảng thời gian được tăng thêm một khoảng t, giá trị chuyển vị và đạo hàm của nó tại một thời điểm đã đủ để xác định các đại lượng này, các thời điểm sau được xác định dựa vào các công thức truy hồi Các phương pháp này có sự khác nhau cơ bản là việc chọn độ dài thời gian và giả sử về việc thay đổi của độ lệch vận tốc hay gia tốc trong khoảng thời gian đó
Sự lựa chọn hai yêu cầu trên đây cho phù hợp với bài toán dao động phi tuyến bất kỳ nào đó có thể làm tăng khối lượng tính toán lên rất nhiều do bước thời gian phải lấy ngắn đến mức hợp lý hay ngược lại làm giảm độ chính xác của kết quả hay đôi khi xuất hiện những sai số rất lớn
Sau đây là sơ lượt một số phương pháp tích phân trực tiếp tiêu biểu :
Phương pháp sai phân hữu hạn : là phương pháp ổn định có điều kiện, đòi hỏi phải chọn bước thời gian t th T n /q i với T n là chu kỳ dao động riêng của hệ một bậc tự do hay là chu kỳ dao động tự nhiên của hệ nhỏ nhất của hệ nhiều bậc tự
do, đồng thời để có độ chính xác mong muốn, phải tính toán so lượng rất lớn bước thời gian
Phương pháp Runge-Kutta : đây là phương pháp có độ chính xác cao, lập phương trình tương đối đơn giản, tuy nhiên khối lượng tính toán cho mỗi bước thời gian là khá lớn
Phương pháp Houlbolt : là phương pháp ổn định vô điều kiện, không phụ thuộc vào độ lớn của t, khi đó việc chọn độ dài của bước thời gian t chỉ phụ thuộc vào độ chính xác yêu cầu Tuy nhiên các phép tính thời gian cho một bước thì khá lớn
Phương pháp Newmark và phương pháp Wilson : về thực chất hai phương pháp này cũng tương tự các phương pháp trên, đều lấy sự giả thiết về thay đổi gia tốc trong một bước thời gian làm cơ sở cho các công thức tính toán, đều dùng các thông số , , để đưa phương pháp về ổn định nghiệm Cả hai phương pháp này
đều đảm bảo tính ổn định nghiệm vô điều kiện nhưng phương pháp Newmark là
phương pháp được sử dụng phổ biến nhất vì có độ chính xác cao nhất [35]
4.1.2 Phương pháp Newmark
Phương pháp Newmark, hay còn được gọi là phương pháp Newmark-, được
dựa trên hai phương trình vi phân cơ bản cho vận tốc và chuyển vị cuối sau đây [23] :
Trang 35Thông qua quá trình thiết lập các phương trình (4.1) và (4.2), người ta nhận thấy rằng hệ số sẽ điều khiển mức độ cản nhân tạo trong quá trình phân tích từng bước Với việc lấy giá trị = 1/2 quá trình cản nhân tạo sẽ được loại bỏ Vì vậy Newmark đề nghị lấy = 1/2 cho các hệ nhiều bậc tự do chuẩn mực
Giữ giá trị = 1/2, lấy = 1/4 , các phương trình Newmark (4.1) và (4.2)
được rút gọn trở thành các biểu thức xác định vận tốc và chuyển vị cuối Vì vậy
phương pháp Newmark = 1/4 còn được gọi là phương pháp gia tốc trung bình không đổi
Trong trường hợp giữ giá trị = 1/2 và lấy = 1/6, biểu thức xác định vận tốc và chuyển vị cuối trở thành :
Trang 36Hình 4.1 Chuyển động theo sự thay đổi tuyến tính của gia tốc
Cũng giống như phương pháp gia tốc trung bình không đổi, phương pháp gia tốc tuyến tính được sử dụng rộng rãi trong tính toán thực tế Không giống như
phương pháp Newmark = 1/4, phương pháp gia tốc tuyến tính là phương pháp ổn định có điều kiện Sự mất ổn định sẽ diễn ra khi điều kiện : t T/ n 3 / 0.55
không được thỏa mãn Tuy nhiên, ràng buộc này không ảnh hưởng lớn đến quá trình phân tích các hệ nhiều bậc tự do bởi vì các bước thời gian thường được lấy rất nhỏ để thỏa mãn các yêu cầu về thông số động ban đầu và phải đủ nhỏ để thu được các kết quả hợp lý về ứng xử của kết cấu
Thay (4.1) và (4.2) vào phương trình cân bằng động học (3.2) ta được :
Trang 37Giải phương trình (4.10) để tìm được q1với các điều kiện ban đầu q q q0, , 0 0
tại thời điểm ban đầu t=0 coi như đã biết Tính tiếp các bước tiếp theo sử dụng kết
quả vừa tìm được trong bước tính trước đó làm điều kiện ban đầu Quá trình trên sẽ dừng lại khi số bước tính đạt số thời gian yêu cầu của bài toán cụ thể
Điều kiện khống chế độ lớn của bước thời gian phải đủ nhỏ thì bài toán mới đạt độ chính xác yêu cầu mà trong các chương trình, bước thời gian được đưa vào theo yêu cầu của người sử dụng Như vậy, nếu ta thực hiện bước phân tích phản ứng
có tổng số thời gian thực hiện phân tích lớn hơn thời gian tác động của tải trọng thì
sẽ có được kết quả ứng xử của kết cấu trong hai pha: dao động cưỡng bức và dao động tự do Kết quả tính toán thu được và chuyển vị, vận tốc và gia tốc
4.1.3 Các bước tính toán theo phương pháp Newmark [35]
Bước 1: Tính các giá trị ban đầu
Trang 385 Đưa ma trận Mˆ về các ma trận tam giác trên và dưới:
ˆ . T
M L D L (4.13)
6 Khởi tạo các vector chuyển vị, vận tốc và gia tốc ban đầu: q q q0, , 0 0
Bước 2: Tính toán cho mỗi bước thời gian t
1 Tính giá trị tại từng thời điểm t+t:
4.2 Kỹ thuật lập trình sử dụng ngôn ngữ MATLAB
4.2.1 Giới thiệu ngôn ngữ lập trình MATLAB
MATLAB [36] là một môi trường tính toán số và lập trình, được thiết kế bởi
công ty MathWorks MATLAB cho phép tính toán số với ma trận, vẽ đồ thị hàm số
hay biểu đồ thông tin, thực hiện thuật toán, tạo các giao diện người dùng và liên kết với những chương trình máy tính viết trên nhiều ngôn ngữ lập trình khác MATLAB được dùng rộng rãi trong giáo dục, phổ biến nhất là giải các bài toán số trị (cả đại số tuyến tính lẫn giải tích) trong nhiều lĩnh vực kĩ thuật
MATLAB là viết tắt từ "MATrix LABoratory", được Cleve Moler phát minh
vào cuối thập niên 1970, và sau đó ông trở thành là chủ nhiệm khoa máy tính tại
Đại học New Mexico MATLAB, nguyên sơ được viết bởi ngôn ngữ Fortran, cho đến 1980 nó vẫn chỉ là một bộ phận được dùng nội bộ của Đại học Stanford
Năm 1983, Jack Little, một người đã học ở MIT và Stanford, đã viết lại
MATLAB bằng ngôn ngữ C và nó được xây dựng thêm các thư viện phục vụ cho thiết kế hệ thống điều khiển, hệ thống hộp công cụ (tool box), mô phỏng Jack xây
Trang 39dựng MATLAB trở thành mô hình ngôn ngữ lập trình trên cơ sở ma trận
(matrix-based programming language)
Steve Bangert là người đã viết trình thông dịch cho MATLAB Công việc này kéo dài gần 1½ năm Sau này, Jack Little kết hợp với Moler và Steve Bangert quyết định đưa MATLAB thành dự án thương mại - công ty The MathWorks ra đời thời
gian này – năm 1984
Phiên bản đầu tiên MATLAB 1.0 ra dời năm 1984 viết bằng C cho MS-DOS
PC được phát hành đầu tiên tại IEEE Conference on Design and Control (Hội nghị
IEEE về thiết kế và điều khiển) tại Las Vegas, Nevada
Sau gần 40 năm phát triển và cải tiến liên tục, MATLAB trở thành một công
cụ lập trình rất mạnh và được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực giáo dục,
khoa học và kỹ thuật hiện đại Phiên bản mới nhất của MATLAB [36] cho đến thời điểm này, phiên bản 7.8 hay còn gọi là R2009a, được phát hành vào tháng 03 năm
2009 với cập nhật và sửa lỗi cho hơn 91 ứng dụng con, cải thiện Simulink, giảm dung lượng RAM và tăng tốc độ hệ thống
Trong luận văn này, tác giả sẽ sử dụng ngôn ngữ lập trình MATLAB phiên bản R2009a để phục vụ cho phương pháp phân tích số
4.2.2 Tính toán các hệ số
Đối với ngôn ngữ MATLAB để đơn giản trong quá trình lập trình cho chương trình chính, ta cần phải tạo ra các module hay còn gọi là các chương trình con (function – m files) để chương trình chính truy cập lúc cần thiết Như vậy, việc lập
trình sẽ giảm được số lượng câu lệnh trong chương trình chính và làm cho việc quản lý, chỉnh sửa dễ dàng hơn
Trước khi bắt đầu thiết lập các chương trình con, ta cần phải tính một số các
hệ số xuất hiện trong các công thức để quá trình lập liệu được đơn giản Một số hệ
số cần tính là : các hệ số độ cứng mặt cắt ngang (2.27) và (2.28) và các hệ số quán tính mặt cắt ngang (2.36)
Các thông số hình học của dầm dùng để tính các hệ số được cho trong hình sau (Hình 4.2.) :
Trang 40Hình 4.2 Mô hình tính toán và mặt cắt ngang dầm
Theo Hình 4.2, các hệ số độ cứng mặt cắt ngang được tính như sau: