Phạm Lợi và các tác giả khác cho rằng: "tử hình là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt được Bộ luật Hình sự quy định, do Toà án nhân danh nhà nước áp dụng đối
Trang 2T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C L U Ậ T Đ Ạ I H Ọ C T Ổ N G H Ợ P L Ư N D , TH Ư Ỵ Đ IỀ N
NGUYỄN QUÝ KHUYỂN
HÌNH S ự VIỆT NAM VỚI LUẬT HÌNH s ự SINGAPORE
C h uyên ngành: L u ật quốc tế và luật so sánh
Trang 3Lời cảm ơn
Lời đầu tiên, tôi xin cảm ơn tất cả các thành viên trong gia đình tôi, nhờ có
họ tôi mới được thành người như ngày hỏm nay Tôi xin cảm ơn Trường Đại học Luật Hà N ội, K hoa Luật, Đại học Lund, Thuỵ Điển, Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thuỵ Đ iển đã tạo cơ hội cho tôi tham dự khoá học này Tôi vô cùng cảm ơn các giáo sư của Trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật, Đại học Lund, Thuỵ Điển đã nhiệt tình giảng dạy chúng tôi trong toàn khoá học Tôi đặc biệt cảm om GS.TS Nguyễn N gọc H oà và GS.TS Traskman, những người
đã rất kiên nhẫn, nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản Luận văn này
Trang 42.3 Các xu hướng quy định hình phạt từ hình trong Luật hình sự 27
của các nước trên thế giới
3 So sánh các quy định của Luật hình sự Việt Nam với các 34
quy định của Luật hình sự Singapore về hình phạt tỉr hình
3.2 So sánh các quy định phần các tội phạm cụ thể về hình phạt tử hình 44
4 Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam, 57
Singapore và một số kiến nghị đối với Việt Nam
phạt tử hình
Trang 5Thứ nhất, tác giả trình bày những vấn đề chung về hình phạt tử hình Trong phần này, Luận văn trình bày những vấn đề lý luận chung về hình phạt tử hình như: khái niệm, đặc điểm và một số luận điểm ủng hộ hoặc phản đối duy trì hình phạt tử hình Tiếp đó, tác giả phân tích một số xu hướng chính trong quy định của luật quốc tế về hình phạt tử hình Quy định của Luật quốc tế về hình phạt tử hình rất phức tạp, có nhiều xu hướng khác nhau Thông qua đó chúng ta sẽ giải đáp vấn đề hiện nay luật quốc tế có cấm sử dụng hình phạt tử hình hay không?
Cũng trong phần này, tác giả trình bày m ột số xu hướng chính trong quy định của Luật hình sự các nước ưên thế giới Qua đó, tác giả đã chứng minh rằng xu hướng xoá bỏ hình phạt tử hình trên thế giới chưa trở thành tập quán quốc tế
Thứ hai, tác giả so sánh các quy định của Luật hình sự Việt Nam với các quy định của Luật hình sự Singapore về hình phạt tử hình Tác giả so sánh chi tiết các quy định chung về hình phạt tử hình của hai nước như phạm vi quy định hình phạt tử hình, điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình, điều kiện không thi hành hình phạt tó hình Luận văn cũng so sánh các quy định phần các tội phạm cụ thể về hình phạt tử hình để thấy được điểm giống và khác nhau giữa luật hình sự của hai nước
Thứ ba, tác giả phân tích m ột số nội dung về thực tiễn áp dụng hình phạt
tử hình ở Việt Nam và Singapore Cuối cùng, tác giả đưa ra m ột số kiến nghị hoàn thiện Luật hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình theo hướng hạn chế sử dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam
Trang 61 Lời nói đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Tử hình là loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, được
sử dụng phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, từ thế kỷ XVIII đã bắt đầu xuất hiện những tư tưởng nhằm phản đối duy trì hình phạt tử hình Từ đó đến nay luôn diễn ra các cuộc tranh luận giữa hai trào lưu tư tưởng ủng hộ và phản đối duy trì hình phạt tử hình Xu hướng xoá bỏ hình phạt tử hình đã ảnh hưởng trực tiếp đến Luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới Ngay từ thế kỷ XVIII đã có nhiều quốc gia loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi Luật hình sự (Tuscany- 1789, Austria- 1787) Xu hướng hạn chế, xoá bỏ hình phạt tử hình phát triển mạnh trong thế kỷ XX Tính đến năm 2007 trên thế giới có 141 nước bãi bỏ hình phạt
tử hình trong Luật hình sự hoặc trong thi hành
Ở Việt Nam do tình hình tội phạm phức tạp, việc duy trì hình phạt tử hình trong Luật hình sự vẫn cần thiết Quan điểm chung trong nghiên cứu và thực tiễn là ủng hộ việc duy trì hình phạt tử hình, nhưng cần hạn chế phạm vi sử dụng hình phạt tử hình Đen nay đã có một số công trình nghiên cứu, bài tạp chí
đề cập đến vấn đề này Trong lĩnh vực lập pháp, thông qua việc ban hành Bộ luật hình sự 1999 thay thế Bộ luật hình sự 1985, số điều luật quy định áp dụng hình phạt tử hình đã giảm 1/3 (tò 44 điều xuống còn 29 điều); đối tượng, phạm
vi áp dụng hình phạt tử hình nhìn chung đã được thu hẹp
1 Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam và tác động của quá trình hội nhập quốc tế, đã đặt ra vấn đề cần hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình theo hướng hạn chế, tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình trong tương lai
So sánh Luật hình sự Việt N am với Luật hình sự của các nước trên thế giới
về hình phạt tử hình là m ột trong những cách tiếp cận góp phần giải quyết vấn
đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này Thông qua việc so sánh, chúng ta hiểu rõ hơn về Luật hình sự Việt Nam, tham khảo phương án giải quyết vấn đề của nước khác, nghiên cứu, lựa chọn phương án giải quyết phù hợp với Việt Nam và trong chừng mực nào đó làm cho các quy định của Luật hình sự Việt Nam hài hoà hơn với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước khác trong khu vực và trên thế giới
Trang 7Theo nhận định chung, các nước khu vực Đông Nam Á trong nhiều năm nay đã sử dụng hình phạt tử hình rất nhiều, nhưng đến nay có nhiều nước bãi bỏ hình phạt tử hình trong luật hình sự hoặc trong thực tế như: Philipine, Lào, Brunây, Cambodia Việc tìm hiểu hình phạt tử hình trong các quy định của Luật hình sự Việt Nam và Luật hình sự của một nước còn duy trì khá phổ biến hình phạt tử hình trong khu vực như Singapore là rất cần thiết Với những điểm tương đồng về văn hoá, xã hội giữa Việt Nam và Singapore, việc so sánh các quy định của Luật hình sự Việt Nam với các quy định của Luật hình sự Singapore về hình phạt tử hình sẽ cho chúng ta thấy một số điểm có thể suy nghĩ áp dụng ở Việt Nam.
Với ỉý do trên tác giả lựa chọn đề tài “ Hình p h ạ t tử hình - So sánh Luật
hình sự Việt Nam với Luật hình sự Singapore ” làm Luận văn thạc sĩ luật học,
chuyên ngành luật quốc tế và luật so sánh
1.2 Mục đích, đối tương và phạm vỉ nghiên cứu
M ục đích nghiên cứ u: nghiên cứu về hình phạt tử hình và đề xuất hướng
hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình
Các nhiệm vụ nghiên cứ u: (1) Nghiên cứu những vấn đề chung về hình
phạt tử hình; (2) So sánh các quy định của Luật hình sự Việt Nam với các quy định Luật hỉnh sự Singapore về hìiửi phạt tử hình (3) Nghiên cứu tiễn áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam và Singapore, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện Luật hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình
Đối tượng nghiên cứu: (1) Một số quan điểm, lý thuyết về hình phạt tử
hình (2) Pháp luật quốc tế, các quy định của Luật hình sự Việt Nam và Luật hình sự Singapore về hình phạt tử hình (3) Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình
ở Việt Nam và Singapore
Phạm vi nghiên cứ u: đối với pháp luật quốc tế là một số văn kiện quốc tế
liên quan đến hình phạt tử hình; đối với các quy định của Luật hình sự Việt Nam là Bộ Luật hình sự Việt Nam (1999); đối với Luật hình sự Singapore là
Bộ luật hình sự (Penal Code), Bộ luật tố tụng hình sự (Criminal Proceedure Code), Luật về lạm dụng ma tuý (Misuse o f Drug Act), Luật về tội phạm liên quan đến sử dụng vũ khí quân dụng (Arms Oíĩences Act), Luật an ninh quốc gia (Intemal Security Act) và Luật về các tội bất cóc tống tiền (Kidnapping Act)
Trang 8v ề thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam và Singapore, luận văn chủ yếu nghiên cứu trong thời gian 5 năm gần đây.
1.3 Trình bày vấn đề
Hình phạt tử hình đã được sử dụng khá phổ biến trên thế giới nhưng đến này vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Từ thế kỷ XVIII trên thế giới đã có hai quan điếm chính về hình phạt tử hình: phản đối duy trì hình phạt tử hình và ủng
hộ duy trì hình phạt tử hình Cuộc đấu tranh của hai xu hướng trên ngày càng gay Rắt và ảnh hưởng lớn đến Luật hình sự của nhiều quốc gia v ấ n đề cơ bản trong các tranh luận là chúng ta có nên duy trì hình phạt tử hình hay không? Nếu có thì vấn đề là chúng ta quy định hình phạt tử hình như thế nào?
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện Luật hình sự Những vấn đề trên càng được quan tâm v ấ n đề thường được đặt ra là việc sử dụng hình phạt tử hình có vi phạm luật quốc tế không? các quy định của Luật hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình giống và khác với Luật hình sự của các nước khác trong khu vực như thế nào? Những vấn đề đó sẽ được nghiên cứu trong Luận văn này
Giải quyết các vấn đề trên là công việc khó khăn Điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhận thức về hình phạt tử hình, giá trị văn hoá và điều kiện cụ thể của từng quốc gia Để giải quyết các vấn đề trên, Luận văn nghiên cứu các nội dung sau: thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về hình phạt tử hình; thứ hai, phân tích các quy định của luật quốc tế về hình phạt tử hình; thứ ba, tìm hiểu các xu hướng quy định hình phạt tử hình trên thể giói; thứ bốn, so sánh quy định của Luật hình sự Việt Nam với các quy định của Luật hình sự Singapore về hình phạt tử hình; thứ năm, sau khi nghiên cứu thực tiễn áp dụng và thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam và Singapore, tác giả nêu m ột số kiến nghị hoàn thiện các quy định của Luật hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong Luận văn này là phương pháp phân tích và phương pháp so sánh luật Phương pháp phân tích được sử dụng trong việc trình bày các khái niệm, đặc điểm của hình phạt tử hình, các luận điểm ủng hộ hoặc phản đối hình phạt tử hình Phương pháp phân tích cũng được sử dụng để phân tích các quy định của luật quốc tế Đe nghiên
Trang 9cứu luật quôc tê phương pháp giải thích luật cũng được áp dụng đê tìm hiêu mục đích thực sự của các văn kiện quốc tế.
Luận văn này sử dụng rất nhiều phương pháp so sánh luật để so sánh Luật hình sự Việt Nam và Luật hình sự Singapore về hình phạt tử hình Tiêu chí so sánh tập trung chủ yếu vào các quy định chung về hình phạt tử hình như phạm
vi quy định hình phạt tử hình, các trường hợp không áp dụng hoặc không thi hành hình phạt tử hình và các quy định trong phần các tội phạm cụ thể Thông qua việc so sánh Luận văn chỉ ra sự giống và khác nhau trong quy định của hai nước và ở mức độ nào đó giải thích tại sao lại có điều đó Trên cơ sở đó lựa chọn các giải pháp phù hợp với V iệt Nam để kiến nghị hoàn thiện Luật hình sự Việt Nam
Trang 10Trong thời kỳ cận đại (bắt đầu từ cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789), Luật hình sự ở Châu Âu đã có sự thay đổi lớn về hình phạt trong đó có hình phạt tử hình Phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đã giảm đáng kể Chỉ những tội phạm nghiêm trọng nhất mới bị áp dụng hình phạt tử hình và cũng chỉ cá nhân người phạm tội phải chịu hình phạt.
Hiện nay, các xu hướng sử dụng hoặc hạn chế, loại bỏ hình phạt tử hình trên thế giới rất phức tạp Tương quan giữa các xu hướng này không chênh lệch quá nhiều, chưa có xu hướng nào là chiếm ưu thế Trên thế giới có 91 nước đã xoá hình phạt tử hình, 11 nước xoá hình phạt tử hình đối với các tội phạm thường, 33 nước không áp dụng hình phạt tử hình trong thực tế Tuy nhiên, vẫn còn 62 nước duy trì hình phạt tử hình.1
Mặc dù hình phạt tử hình được sử dụng từ lâu và rất phổ biến, nhưng cách hiểu về hình phạt này lại có nhiều điểm khác nhau Theo cách hiểu của Toà án
Tối cao Mỹ, “tử hình là hình p h ạ t khi được áp dụng sẽ tước đi mạng sống của
người p hạm tộ i" 2 Cách hiểu này chủ yếu nhấn mạnh vào nội dung của hình
phạt tử hình là tước đi mạng sống của con người Quan điểm khác lại cho rằng
1 Tổ chức ân xá quốc tế: http://wwrw.deathpenaltvinfo.org/article.php?scid=30&did=140#de%20facto (truy cập ngày 14/7/2008)
2 Answers.com: http://www.answers.com/topic/capital-punishmenl
Trang 11‘'hình p h ạ t tử hình là hình p h ạ t được áp dụng cho những người phạm những tội nguy hiểm nhất như giết người.”3, Quan niệm này nhấn mạnh phạm vi áp dụng
của hình phạt tử hình
Ở Việt Nam, Luật hình sự chưa có khái niệm chính thức về hình phạt tử hình nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau Quan niệm phổ biến hiện này cho
rằng, " tử hình là hình p h ạ t đặc biệt, có nội dung cưỡng chế nghiêm khắc nhất
tước bỏ quyền sổng của người bị kết án, chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng."4 Dưới góc độ nghiên cứu, TS Phạm Lợi và các tác giả khác
cho rằng:
"tử hình là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt được Bộ luật Hình sự quy định, do Toà án nhân danh nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và được thể hiện ở việc tước đoạt quyền sống của người phạm tội"5
Khái niệm này tương đối rộng, đã bao quát được các đặc điểm chung và đặc điểm riêng của hình phạt tử hình so với các hình phạt khác Các đặc điểm chung như được quy định trong Bộ luật hình sự, do Toà án áp dụng đối với người phạm tội và người này phải có lỗi Các đặc điểm riêng của hình phạt tử hình so với các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt gồm: đây là hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện ở việc tước đi mạng sống của người bị thi hành án tử hình; chỉ được áp dụng tối với những tội đặc biệt nghiêm trọng
Cũng bàn về khái niệm hình phạt tử hình, TS Phạm Văn Beo trong Luận
án tiến sĩ của mình viết:
“Hình phạt tử hình cần được hiểu là hình phạt đặc biệt, nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi mạng sống của người phạm tội và chỉ được
áp dụng đối với những người phạm tội có tính nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội”6
Khái niệm này đề cập đặc điểm khác biệt của hình phạt tử hình với các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, coi đây ià chế tài đặc biệt, v ề nội dung, hình phạt tó hình tước đi mạng sống của người bị thi hành án tử hình, v ề
3 Answers.com: http://www.answers.com/topic/capital-punishment
4 G iáo trình luật hình sự (2003), ừang 189
5 Hình p h ạ t tử hình và thi hành hình p h ạ t tử hình theo ph á p luật Việt Nam (2 0 0 2 ), trang 20
6 Phạm Văn B eo (2007), trang 29
Trang 12phạm vi áp dụng, hình phạt từ hình chỉ được áp dụng đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Như vậy, đa số các quan niệm hiện nay định nghĩa khái niệm hình phạt tử hình theo nghĩa hẹp, tập trung vào các đặc điểm đặc trưng của hình phạt tử hình
so với các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt Đây là quan điểm hợp lý, nó phản ánh được nội dung và tính chất của hình phạt tử hình với tư cách là một hình phạt đặc biệt
2.1.2 Đặc điểm của hình phạt tử hình
Trong hệ thống hình phạt, từ hình được coi là "hình phạt đặc biệt"7 Tính đặc biệt của hình phạt tử hình trước hết thể hiện trong sự so sánh giữa tử hình với các hình phạt khác như phạt tiền, tù có thời hạn, tù chung thân Chúng ta
có thể thấy bốn đặc điểm cơ bản của từ hình sau đây:
Thứ nhất, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt
Khi bị áp dụng hình phạt tử hình, người phạm tội bị tước đi quyền sống - một quyền quan trọng nhất của con người Đó là loại trách nhiệm hình sự nghiêm khắc nhất mà người phạm tội phải gánh chịu Hơn nữa, các hình phạt khác đều hàm chứa cả nội dung trừng trị và cải tạo, giáo dục, do đó mục đích của chúng được thể hiện ở việc lập lại công lý, công bằng xã hội, phòng ngừa tội phạm, giáo dục cải tạo người phạm tội, nhưng hình phạt tử hình đã loại bỏ mọi khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội Điều đó nghĩa là hình phạt tử hình chi có tác dụng trừng trị, phòng ngừa mà không có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với người phạm tội
về tính nghiêm khắc của hình phạt tử hình, Cesare Becaria lại có quan điểm khác khi cho rằng hình phạt tử hình không nghiêm khắc bằng hình phạt tù chung thân Do đó tính phòng ngừa chung của hình phạt tử hình không cao hơn hình phạt tù chung thân, ô n g cho ràng:
“Hình phạt tử hình không ảnh hưởng sâu sắc đến cảm giác con người bằng các hình phạt khác như tù giam, bắt buộc lao động khổ sai Sự tác động của mỗi hình phạt nằm ở thời gian tồn tại của nó chứ không phải ở cường độ của nó Bời vì, cảm xúc
7 Đ iều 35 B ộ luật hình sự Việt Nam 1999
Trang 13của chúng ta luôn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự trừng phạt mang tính lặp đi lặp lại của hình phạt chứ không phải sự trừng phạt diễn ra nhanh chóng”.8
Quan niệm này chưa phản ánh thực tế tâm lý người phạm tội Quyền sống luôn là quyền đầu tiên và quan trọng nhất của con người Bị tước đi quyền sống
là nỗi ám ảnh khủng khiếp nhất đối với mỗi con người Nhiều tên tội phạm đã dừng tay không tiếp tục gây tội ác khi nghĩ đến hậu quả nghiêm khắc mà họ sẽ phải gánh chịu nếu bị áp dụng hình phạt tử hình
Thứ hai, hình phạt tử hình chỉ quy định đối với những tội phạm nghiêm
trọng nhất Chỉ những người phạm các tội ác cực kỳ nghiêm trọng, thể hiện không còn khả năng để cải tạo người đó thành người lương thiện thì mới bị áp
dụng hình phạt từ hình Tuy nhiên, trên thế giới cách hiểu thế nào là “tội phạm
nghiêm trọng n h ấ t” rất khác nhau Ưỷ ban nhân quyền Liên họp quốc cho rằng
chỉ có tội giết người mới là "tộiphạm nghiêm trọng n h ấ t”.9 Có quốc gia lại hiểu rằng "tội phạm nghiêm trọng nhất" không chi là tội giết người mà còn nhiều tội
khác cũng gây ra hậu quả lớn cho xã hội như các tội an ninh quốc gia, tội phạm kinh tế như Việt Nam, Trung Quốc
Thứ ba, hình phạt tử hình có tác dụng cao trong phòng ngừa tội phạm Đối
với người tội phạm, hình phạt tử hình loại bỏ tuyệt đối khả năng tái phạm của người phạm tội Đây là đặc điểm mà các hình phạt khác không có Các hình phạt (trừ tử hình) có vai trò rất ỈỚ11 trong giáo dục, cải tạo người phạm tội, nhưng hiệu quả không cao, số người tái phạm còn nhiều Một trong những nguyên nhân được TS Nguyễn Khánh Vinh và TS Nguyễn Mạnh Kháng nêu ra là:
"trong số những người phạm tội vẫn còn những kẻ ngoan cố, sẵn sàng phạm tội khi có điều kiện, họ phạm tội không chỉ trong môi trường xã hội bình thường, mà ngay cả trong những hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo như đang trong thời gian chấp hành hình phạt, thậm chí đang trong thời gian tù họ cũng có thể phạm tội.”10
8 Cesare Becaria: http://www.iep.utm.edU/b/beccaria.htm#Against%20CapitaI%20Punishmcnt (cập nhật ngày 02/10/2008)
9 Xem Joseph, s , Schultz, J., Castan, L., (2000), trang 120
10 Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng (2006), trang 205
Trang 14Đối với những người mất hết nhân tính, không còn khả năng giáo dục, nếu để
họ sống trong xã hội họ sẽ lại gây thiệt hại lớn cho xã hội, do vậy cần áp dụng hình phạt tử hình để vĩnh viễn ngăn ngừa người đó tái phạm
Đối với xã hội, hình phạt tò hình có tính phòng ngừa chung cao hơn hẳn so với các loại hình phạt khác Do tính nghiêm khắc của hình phạt tử hình nên nó
có tác dụng răn đe, kiềm chế những người khác trong xã hội phạm tội, đặc biệt
là những tội nguy hiểm cao cho xã hội Tuy nhiên, những người phản đối hình phạt tử hình không đồng ý như vậy Họ chứng minh rằng hình phạt tử hình không có tác dụng phòng ngừa chung hoặc nếu có thì cũng không đáng kể
Thứ tư, khi đã thi hành án tử hình sẽ không có cơ hội để sửa sai nếu có sai
lầm trong quá trình tố tụng Người bị thi hành án tử hình đã chết không có cách nào thay đổi được Đây là điểm hạn chế lớn của hình phạt tử hình và thường bị những người phản đối nêu ra để yêu cầu xoá bỏ hình phạt này Tuy nhiên, sự sai sót có thể xảy ra ở bất kỳ loại hình phạt nào chứ không riêng hình phạt tử hình; hơn nữa đó là vấn đề thủ tục chứ không phải do bản thân hình phạt tử hình
N hư vậy, hình phạt tử hình cũng như các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, vừa có điểm mạnh vừa có hạn chế Khi đưa ra quan điểm ủng hộ hình phạt tử hình người ta thường chỉ nhấn m ạnh các ưu điểm và ngược lại những người phản đối hình phạt tử hình lại tập trung chỉ ra các hạn chế của nó Nếu điều đó là đúng thì cả hai xu hướng trên đều cực đoan, không phản ánh được đầy đủ tính chất, khả năng của hình phạt tử hình Do vậy, cần có cái nhìn toàn diện hơn về hình phạt tử hình, trước khi quyết định ủng hộ hay phản đối duy trì hình phạt tử hình
2.1.3 M ột số luận điểm ủng hộ, phản đối duy trì hình phạt tử hình
Lịch sử phát triển của hình phạt tử hình từ thế kỷ 18 đến nay là lịch sử các cuộc đấu tranh giữa hai xu hướng duy trì và xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình Mỗi bên đều đưa ra các luận điểm chứng minh cho quan điểm của m ình là đúng Các cuộc tranh luận này giường như là cuộc đấu tranh giữa quyền cá nhân và lợi ích cộng đồng (đại diện là nhà nước) Những người phản đối hình phạt tử hình xuất phát từ sự đề cao các quyền của cá nhân trong xã hội; ngược lại những người ủng hộ hình phạt tử hình lại đề cao lợi ích của cộng đồng xã hội Trong các cuộc ưanh luận đó, các luận điểm dưới góc độ triết học (quyền sống của con
Trang 15người, quyền trừng phạt của nhà nước), và góc độ thực tiễn (tác dụng phòng ngừa tội phạm, tác dụng khuyến khích bạo lực) thường xuyên được sử dụng.Dưới góc độ triết học, các quan niệm khác nhau về quyền con người (đặc biệt là quyền sống của con người) dẫn đến quan điểm ủng hộ hoặc phản đối duy trì hình phạt tử hình Những người muốn xoá bỏ hình phạt tử hình đã tuyệt đối hoá quyền sống của con người; ngược lại những người ủng hộ duy trì hình phạt
tử hình lại đề cao quyền trừng phạt của nhà nước và cho rằng quyền sống củacon người cũng có giới hạn nhất định, không phải là tuyệt đối
- Quyền sổng của con người:
Quyền sống của con người là một quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người Quyền sống của con người được mọi cá nhân, quốc gia thừa nhận, nhưng nội hàm của nó còn m ơ hồ, có nhiều cách giải thích khác nhau Cho đến này, cơbản có hai cách hiểu khác nhau về quyền sống của con người:
Thứ nhất, những người phản đối hình phạt từ hình cho rằng, quyền sống
của con người là quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm Không ai có quyền tước
bỏ mạng sống của người khác cho dù đó đó là mạng sống của người phạm tội Theo Hugo Adam Bedau, cho dù giá trị cuộc sống của m ột tên giết người và người bình thường không thể như nhau, nhưng người phạm tội vẫn còn một chút giá trị nào đó, họ không đáng bị phủ nhận hoàn toàn giá trị cuộc sống (như khi áp dụng hình phạt tử hình đối YỚi họ).11 Quyền sống của con người được coi
là một quyền bất khả xâm phạm và có giá trị tối cao trong hệ thống nhân quyền thế giới, đã được thống nhất bảo đảm trong các tiêu chuẩn mang tính pháp lý của thế giới và các khu vực.12
Quyền sống của con người được hiểu theo nghĩa phủ định và trở thành quyền không bị tước đi mạng sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào Những người phản đối hình phạt tử hình tin rằng:
“cuộc sống là món quà mà thượng đế ban tặng cho chúng ta, do vậy chúng ta phải bảo vệ nó cho đến ngày thượng đế lấy nó đi (bằng cái chết tự nhiên)
11 Bedau, Hugo Adam: Bãi bỏ hình p h ạ t từ hình đ ối với cà nhũng tên g iết người tồi tệ nhất, ừong Nhà
nước g iế t chóc, Austin Sarat, Nxb Oxíòrd, 1999, trang 41, 42
12 Giải thích N ghị định thư 13 của Công ước Châu Âu về quyền con người và các quyền tự do cơ bản
Trang 16Thượng đế cho chúng ta mạng sống thì chỉ có thượng đế mới có quyền lấy nó
đi tử hình không phải là cái chết tự nhiên.”13
Việc sử dụng hình phạt tử hình là vi phạm quyền sống của con người Quan niệm trên được hầu hết các nước Châu Âu và một số nước khác trên thế giới đã xoá hình phạt tử hình thừa nhận
Thử hai, những người ủng hộ hình phạt tử hình cho rằng quyền sống của
con người không phải là quyền tuyệt đối và có thể bị nhà nước tước bỏ bằng hình phạt tử hình Quyền sống của mỗi cá nhân được nhà nước bảo vệ bằng bằng nhiều cách như đảm bảo để quyền sống của con người không bị người khác (kể cả nhà nước) xâm hại trái pháp luật và vô nguyên tắc; đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm hại tính mạng của người khác; xử phạt thật nghiêm những người xâm hại trái pháp luật tính mạng của người khác (kể cả việc áp dụng hình tử hình đối với người phạm tội) Người ta sẽ cảm nhận được sự trân trọng của nhà nước đối với mạng sống của công dân thông qua việc nhà nước
đó nghiêm khắc như thế nào trong việc trừng trị những hành vi xâm hại tính mạng người khác
Quyền sống của con người mặc dù được pháp luật bảo vệ, nhưng không phải là quyền tuyệt đối mà có sự hạn chế nhất định Quyền sống của m ột người
bị hạn chế khi bị nhà nước tước bằng việc áp dụng hình phạt từ hình do người
đỏ đă phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Bằng hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng của mình, người đó đã tự tước đi quyền sống của mình Johne Locke cho rằng:
“Nếu giả định quyền sống là quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm thì bằng tội ác của mình, kẻ phạm tội đã tự tước bỏ quyền sống của mình D o đó hắn không còn quyền sống nữa Điều này là hoàn toàn hợp logic, bất kể quyền nào cũng có thể bị tước đoạt đi nếu chủ thế vi phạm những điều kiện nhất định.”14
Dưới góc độ phòng ngừa tội phạm xâm phạm tính mạng con người, việc sử dụng hình phạt tử hình không những không vi phạm quyền sống của con người
mà còn là cách thức hiệu quả để bảo vệ mạng sống của con người trước các
13 Phát biểu của Cadinal Renato Marino - Chủ tịch Hội đồng giám mục vì hoà bình và công lý: htlp://www alvosha.com/dp/dp5.html.
14 Bedau, Hugo Adam: Bãi bò hình p h ạ t từ hình đ ố i với cả những tên g iế t người tồi tệ nhắt, trong Nhà
nước g iế t chóc, Austin Sarat, Nxb Oxford, 1999, trang 43
Trang 17hành vi vi phạm pháp luật.15 Trong các loại hình phạt, tử hình thường được coi
là hình phạt có tác dụng phòng ngừa tội phạm cao nhất, vì vậy nó sẽ làm giảm tối đa các tội xâm hại tính mạng con người, do đó quyền sống của con người được bảo vệ Việc tước bỏ quyền sống của một người phạm tội nhưng giữ được
m ạng sống của nhiều người vô tội khác thì cũng đáng làm Trong trường hợp này, lợi ích công cộng, lợi ích của số đông được đặt lên hàng đầu
Chúng ta có thể thấy tuỳ theo quan niệm về quyền sống của con người dẫn đến việc có chấp nhận hình phạt tử hình hay không Nếu coi quyền sống của con người là quyền tuyệt đối và trở thành quyền không bị tước tính mạng, thì sẽ cho rằng hình phạt tà hình vi phạm quyền sống của con người và phản đối hình phạt tử hình Ngược lại, nếu coi quyền sống của con người là quyền có hạn chế thì sẽ chấp nhận hình phạt tử hình; coi hình phạt tử hình như là một công cụ để bảo vệ mạng sống của con người, chứ không vi phạm quyền sống của con người Các quan niệm khác nhau này là do sự khác nhau về văn hóa, truyền thống và các giá trị, lợi ích khác
- Quyền trừng p h ạ t của nhà nước:
Một luận điểm gần như đối lập với quyền sống của con người là quyền trừng phạt của Nhà nước đối với người phạm tội N hà nước có quyền trừng trị người phạm tội để thiết lập lại công bằng xã hội và để phòng ngừa tội phạm Trong trường hợp thật cần thiết, nhà nước có thể áp dụng hình phạt tử hình, tước đi quyền sống của người phạm tội khi người này phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng
Tại sao nhà nước lại có quyền trừng phạt người phạm tội? Theo lý thuyết khế ước xã hội, quyền trừng phạt người phạm tội của nhà nước phát sinh từ chủ quyền tối cao của nhà nước Chủ quyền tối cao của nhà nước có nguồn gốc từ khế nước xã hội Khế ước này được thiết lập giữa các thành viên trong xã hội và trao cho nhà nước chủ quyền tối cao Jean Jacques Rousseau viết trong tác phẩm “ Bàn về khế ước xã hội” như sau:
“ Ai muốn dựa vào người khác để bảo vệ sinh mạng của mình thì cũng phải đưa sinh mạng của mình ra khi người khác cần đến Tử hình đối với phạm nhân có lẽ
15 Anderson David (2002), trang 13
Trang 18cũng theo một quan điểm tương tự Không muốn làm nạn nhân của bon sát nhân, người ta đành phải chịu tội chết nếu tự mình lại phạm tội giết người.'’16
v ề luận điểm trên, những người phản đối hình phạt tử hình cho rằng, trong các nội dung của khế ước xã hội không có điều khoản nào thỏa thuận nhà nước có quyền tử hình người phạm tội Trả lời câu hỏi đó Rousseau cho rằng,
“chằng ai đi thỏa thuận để treo cỏ mình Tuy nhiên, theo lẽ công bằng họ ph ải thỏa thuận nhít vậy (chấp nhận điều khoản này) nếu họ muốn tính mạng của họ được bảo vệ.” 17
Cùng luận giải về cơ sở quyền trừng phạt của nhà nước, quan điểm Mác - Lênin về pháp luật cho rằng, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhàm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.18 v ề bản chất, hình phạt tử hình là công cụ
để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị của mình; việc quy định hình phạt tử hình xuất phát từ ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện ừong luật hình sự
Trong tác phẩm “Lý luận về đạo đức”, Kant (1724 - 1804) cũng đã t ìn h bày về quyền trừng phạt của nhà nước Theo ông, N hà nước cần xử phạt người phạm tội để duy trì công lý và lợi ích chung, bởi vì nếu công lý và công bàng bị diệt vong thì cuộc sống của con người không còn có giá trị Nhà nước có chủ quyền tối cao thay mặt xã hội, duy trì sự tồn tại và phát triển xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong xã hội N hà nước có quyền trừng phạt những hành vi xâm hại đến xã hội và các thành viên để bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng
Mức độ trừng phạt của nhà nước đối với người phạm tội phải tương xứng với hậu quả mà anh ta gây ra (theo luật ăn miếng trả miếng - jus talionis) Đe thiết lập lại công bằng, khôi phục công lý người phạm tội phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiếm của hành vi phạm tội mà người
đó gây ra Việc áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng là biện pháp nhằm trả lại sự công bằng và trật tự trong xã hội Chính bản thân người phạm tội, chứ không phải ai khác đã tự đẩy mình vào hoàn cảnh bị nhà nước tước đi mạng sống Kant viết:
16 Rousseau, Jean Jacques (2 0 0 4 ), trang 92
17 Rousseau, J J., (2004) trang 92
18 Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật (2001), trang 61, 62
Trang 19“nếu anh vu khống người khác tức là anh tự vu khống mình; nếu anh ăn trộm của người khác tức là anh ta tự ăn trộm của mình; nếu anh giết người khác tức là anh tự giết mình.”
Căn cứ xác định mức độ trừng phạt của nhà nước chính là tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm Người phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu hình thức chế tài cao nhất là tử hình Đây chính là m ột trong những cơ sở
mà những người ủng hộ hình phạt tử hình thường đưa ra để bảo vệ hình phạt tử hình
Tất nhiên, nguyên tắc này không thể áp dụng cứng nhắc, hiểu theo nghĩa: người phạm tội gây ra hậu quả như thế nào thì phải chịu hậu quả như vậy (like with like) N hà nước không thể hành động giống như người phạm tội, không thể gây thương tích cho người phạm tội khi anh ta gây thương tích cho người khác hoặc chặt tay anh ta nếu anh ta ăn trộm Nhưng tại sao giết người phải đền mạng? Kant cho rằng, mặc dù không có sự cân bằng giữa tội giết người và hình phạt tử hình nhưng việc thi hành hình phạt tử hình sẽ làm cho công lý được thực thi Người phạm tội phải bị trừng trị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi của họ gây ra
Sự trừng phạt của nhà nước không phải ngang bằng và cũng không phải là biện pháp trả thù của nhà nước đối với người phạm tội Sự khác nhau giữa trừng phạt (thông qua áp dụng hình phạt) và sự trả thù đã được Robert Nozick phân biệt trong tác phẩm “ Sự giải thích mang tính triết học” : (1) sự trừng phạt được
áp dụng đối với tội phạm, còn sự trả thù áp dụng cho những thiệt hại, tổn thất, nỗi đau không cần có sự vi phạm pháp luật; (2) sự trừng phạt luôn có giới hạn (tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm ), còn trả thù thì không có giới hạn nào; (3) trả thù mang tính cá nhân, quan hệ giữa người trả thù
và nạn nhân là quan hệ cá nhân thân thuộc, còn cơ quan nhà nước khi trừng phạt người phạm tội không cần có quan hệ gì với nạn nhân; (4) trả thù thường mang tình cảm căm tức đối với người phạm tội, vì vậy họ thương m ong nhìn thây sự đau đớn của người bị trả thù, điều này không có trong trừng phạt; (5) trừng phạt chỉ có thể áp dụng với người có tội, còn trả thù có thể áp dụng đối với người vô
19 Ten, C.L., (1987), trang 45
Trang 20Theo các quan điểm trên, lợi ích của cộng đồng, xã hội được đặt lên trên lợi ích cá nhân, chủ quyền tối cao của nhà nước được coi trọng hơn quyền cá nhân Việt Nam và Singapore là những nước có truyền thống coi trọng lợi ích tập thể hơn lợi ích cá nhân.20 Hai nước đều thừa nhận quyền trừng phạt của nhà nước đối với người phạm tội ngay cả khi trừng phạt bằng cách tước đi mạng sống của người phạm tội Điều này khác với quan niệm của các nước Phương Tây, họ đề cao các quyền cá nhân và cho rằng chủ quyền của nhà nước không thể xâm phạm quyền sống của con người - m ột quyền cơ bản và quan trọng nhất của cá nhân Sự khác nhau về quan niệm các giá trị cần bảo vệ dẫn đến những quan điểm khác nhau về vấn đề sử dụng hình phạt tử hình hay không.
D ưới góc độ thực tiễn áp dụng p h á p luật, nhận thức về mục đích, tác dụng
của hình phạt tử hình trong đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng ảnh hưởng lớn đến quan điểm duy trì hay xoá bỏ hình phạt tử hình Những người ủng hộ duy trì hình phạt tử hình tin tưởng vào tác dụng phòng ngừa tội phạm của hình phạt tử hình; còn những người muốn xoá hình phạt tử hình không tin vào tác dụng phòng ngừa tội phạm của hình phạt tử hình, hơn nữa họ cho ràng hình phạt
tử hình khuyến khích bạo lực trong xã hội
- Tác dụng ngăn ngừa tội p h ạ m :
Theo lý thuyết thực dụng về hình phạt, hình phạt có mục đích ngăn chặn tội phạm, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa tội phạm Đối với hình phạt tử hình, mục đích cải tạo người phạm tội không đặt ra, nhưng đây là một loại hình phạt (theo những người ủng hộ hình phạt tử hình) có tác dụng phòng ngừa tội phạm cao nhất Tác dụng phòng ngừa tôi phạm của hình phạt được thể hiện ở góc độ phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung
Dưới góc độ phòng ngừa riêng, hình phạt tử hình có tác dụng loại trừ vĩnh viễn khả năng người phạm tội tiếp tục gây ra tội ác Điều này trái với quan niệm cho rằng hình phạt tù chung thân không giảm án cũng có tác dụng ngăn ngừa tội phạm như hình phạt tử hình Đối với người chấp hành hình phạt tù chung thân, không có gì bảo đảm họ sẽ không phạm tội với cán bộ quản lý trại giam hoặc các phạm nhân khác Chỉ có hình phạt tử hình mới đảm bảo m ột cách
20 Li-ann, Thio, Chù nghĩa thực dụng và chủ nghĩa hiện thực không có nghĩa là m ộtsự thoái ữào: sự
điều tra m ang tính p h ê p h án và kinh nghiệm đ ố i với những cam kết cùa S ingapore đoi với p h á p luật quốc
tế về quyền con người, Sách Singapore về pháp luật quốc tế, 2004, trang 14
Trang 21chắc chắn ràng người phạm tội không bao giờ có cơ hội tiếp tục phạm tội Do vậy, hình phạt tử hình có tác dụng phòng ngừa riêng hơn hẳn hình phạt chung thân, kể cả tù chung thân không giảm án.
Hình phạt tử hình không những loại trừ 100% cơ hội người phạm tội tiếp tục phạm tội, mà còn có hiệu quả nhất trong việc phòng ngừa chung Đây là lý
do quan trọng nhất mà những người ủng hộ hình phạt tử hình lấy làm căn cứ biện hộ cho quan điểm của mình
Tác dụng phòng ngừa chung của hình phạt tử hình xuất phát từ quan niệm rằng, thi hành từ hình người phạm tội sẽ răn đe, ngăn ngừa người khác vi phạm pháp luật tương tự Jeremy Bentham là người đứng đầu đề xướng ra quan điểm này Theo ông, mọi hình phạt đều đem lại sự bất lợi cho người phạm tội nên mọi người thường tránh không để bị phạt Nếu lợi ích từ việc phạm tội lớn hơn
sự bất lợi do hình phạt đem lại họ sẽ có nhiều khả năng lựa chọn phương án phạm tội Ngược lại nếu họ phải trả giá nhiều hơn (do hình phạt đem lại) lợi ích
mà họ có được do phạm tội thì họ sẽ không lựa chọn phương án phạm tội.21Quan điểm trên được các nhà kinh tế hiện đại như Isaac Ehrlich, Rechard Posner, Ronald Clarke phát triển thành lý thuyết tội phạm Lý thuyết này cho rằng, tội phạm là m ột quá trình lựa chọn có chủ định giữa việc phạm tội và không phạm tội của con người Lựa chọn đó phụ thuộc vào việc nhà nước xử lý người phạm tội ra sao Nếu việc xử lý đủ nghiêm khắc để răn đe họ thi người đó
sẽ không phạm tội; ngược lại nếu việc xử phạt không nghiêm, không có khả năng răn đe người khác thì họ sẽ phạm tội để đạt được lợi ích lớn hơn.22 Theo lý thuyết này, hình phạt tử hỉnh được xem như rủi ro cao nhất m à người phạm tội phải cân nhắc trước khi quyết định phạm tội Họ có thể phải trả giá bằng cả mạng sống của m ình vì hành vi phạm tội của họ Đó là lý do kiềm chế ý định phạm tội của người phạm tội Chính vì vậy, Issac Ehrlich đã đưa ra một tuyên
bố gây nhiều tranh cãi là: “một người bị tử hình sẽ giữa lại được mạng sống của
tám người vô tộ i”.23
21 Andrew Ashworth (2005), trang 75
22 Trung tâm thông tin về hình phạt từ hình: www.deathpenaltvinfo.org/FaganDeterrence.pdf ừang 255
23 Trung tâm thông tin về hình phạt tử hình: www.deathpcnaltvinfo.org/FaaanDetcrrence.ndf trang 256
Trang 22Cũng về tác dụng phòng ngừa chung của hình phạt tử hình, Eamest Van Den Haag cho ràng, đó là sự khẳng định từ sự phủ định Phủ định là kẻ phạm tội
ác sẽ phải chết, còn khẳng định là người vô tội sẽ sống Đó là điều mà những người có ý định phạm tội sợ hãi khi nghĩ đến hình phạt tử hình Họ sẽ tránh điều
đó bằng cách không phạm tội
Nhiều người phản đối hình phạt tử hình cho rằng, hình phạt tử hình không có tác dụng phòng ngừa tội phạm hoặc nếu có thì cũng rất ít Theo Roger Hood, hình phạt tử hình không có tác dụng phòng ngừa tội phạm Sự cảnh báo hoặc răn đe chỉ có tác dụng đối với những kẻ phạm tội có chủ ý, có kế hoạch Nhưng khi đã có kế hoạch phạm tội thì họ đã tính phương án lẩn trốn Quan điểm này chưa hoàn toàn đúng Đối với một người có âm m ưu phạm tội, khi lên
kế hoạch phạm tội và cả phương án lẩn trốn, anh ta vẫn phải tính đến nguy cơ bị bắt và xử tử Đó là rủi ro mà anh ta nhận thức được khi quyết định thực hiện ý định phạm tội Do vậy anh ta sẽ phải cân nhắc trước khi hành động Lúc này hình phạt tử hình tác dụng răn đe, kiềm chế anh ta thực hiện ý đồ phạm tội
Ớ Việt Nam đa số các luật gia đều đồng ý rằng, việc duy trì hình phạt tử hình ở Việt Nam là cần thiết để răn đe, phòng ngừa tội phạm nguy hiểm đang diễn ra rất phức tạp.24Trong Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 tại Điều 27 cũng
khẳng định hình phạt (bao gồm cả hình phạt tử hình) "còn nhằm giáo dục người
khác tôn trụng p h á p luật, đấu tranh p hỏng ngừa và chống tội p h ạ m ” Theo
GS.TS Nguyễn N gọc Hoà, hình phạt (trong đó có hình phạt tử hình) có tác dụng ngăn ngừa chung đối với hai đối tượng khác nhau Thứ nhất, đối với người đang có ý định phạm tội, hình phạt có tác dụng răn đe, kiềm chế người đó thực hiện ý định phạm tội; đồng thời hình phạt còn giáo dục thức tỉnh họ thấy được
sự cần thiết phải tuân theo các quy tắc của đời sống xã hội m à từ bỏ ý định phạm tội hoặc thận trọng hơn trong xử sự để tránh xử sự của mình trở thành xử
sự phạm tội Thứ hai, đối với những người khác trong xã hội, hình phạt có mục đích giáo dục họ nâng cao ý thức pháp luật, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm 25
Tại Singapore người ta cũng tin rằng, hình phạt tử hình có tác dụng cảnh báo, răn đe những ai có ý định phạm tội, ngăn ngừa tội phạm từ trong tư tưởng
24 Hình phạt từ hình và thi hành hình phạt tử hình theo pháp luật V iệt Nam (2 0 0 2 ), trang 74
25 GS.TS Nguyễn N gọc Hoà: Mục đích của hình phạt, Tạp chí luật học, số 2 /1 9 9 9 , trang 11
Trang 23Do đó để phòng ngừa tội phạm vận chuyển ma tuý, chính phủ Singapore đã cho
in trên vé máy bay, vé tầu đến Singapore lời cảnh báo: “Theo p háp luật của
Singapore những người vận chuyển ma tuỷ sẽ bị tử hình ”26 Điều đó cho thấy
cảnh báo, răn đe đối với mọi người không vi phạm pháp luật là một trong những phương pháp được chính phủ Singapore sử dụng để giảm tội phạm về ma tuý
- Giả thuyết về tác dụng khuyến khích bạo lực:
Ngược lại với quan niệm về tác dụng phòng ngừa tội phạm của hình phạt
tử hình, những người phản đối hình phạt tử hình cho rằng, hình phạt tử hình không những không ngăn ngừa tội phạm m à còn khuyến khích tội ác trong xã hội gia tăng Tác dụng khuyến khích bạo lực của hình phạt tử hình là kết quả của việc chứng kiến sự đối sử tàn khốc khi thi hành hình phạt tử hình Đối với người phạm tội, khi suy nghĩ về hình phạt tử hình càng làm cho họ trở nên hung
dữ trong suy nghĩ hoặc trong hành vi Họ làm điều đó để trả thù cho những gì
mà họ phài gánh chịu sau này
Tác dụng khuyến khích bạo lực của hình phạt tử hình được nghiên cứu từ lâu Năm 1764 Caesar Beccaria đã cho rằng hình phạt tử hình không có lợi bởi
sự dã man của nó đối với con người Thật là ngớ ngẩn khi pháp luật biểu hiện ý chí của công cộng chống lại các hành vi giết người lại vi phạm điều đó và để ngăn ngừa các hành vi giết người người ta đã sắp đặt m ột sự giết người công khai Cho đến ngay những phát biểu trên vẫn còn nguyên giá trị.27 Những người khác như Hans Von Hentig - nhà tội phạm học lỗi lạc người Đức nói, hình phạt
tử hình không có m ột tác dụng phòng ngừa nào đối với thủ phạm Chỉ có một thứ đó là tác dụng khuyến khích bạo lực của hình phạt đối người thi hành, năng lực của cơ quan nhà nước và đặc biệt đối với dân chúng.28
Theo giả thuyết về tác dụng khuyến khích bạo lực của hình phạt tử hình, việc thi hành án tử hình đã xâm hại quyền sống của con người và hợp pháp hoá hành vi tội ác chống lại con người Thi hành án tử hình đã đương nhiên hợp pháp hoá hành vi giết người trong suy nghĩ của người phạm tội.29 Họ được
26 http://en.wikipedia.org/wiki/Capital punishment in Singapore
27 Forer, Loisg (1994), trang 118
28 Forer, Loisg (1994), trang 118
29 A llen Ctherine (2006), trang 6.
Trang 24thanh thản về tâm lý khi nghĩ ràng công bằng được lặp lại khi mình đã chịu hình phạt Điều đó được cho là làm tăng tỷ lệ phạm tội trong xã hội.
2.2 Pháp luật quốc tế về hình phạt tử hình
Trong các sách báo pháp lý hiện nay viết về hình phạt từ hình, những người chống lại hình phạt tử hình thường cho rằng việc sử dụng hình phạt tử hình là vi phạm pháp luật quốc tế Ngược lại, những người ủng hộ hình phạt tử hình cho rằng pháp luật quốc tế không cấm hình phạt tử hình Sự thật là pháp luật quốc tế có cấm sử dụng hình phạt tử hình không? Pháp luật quốc tế quy định hạn chế sử dụng hình phạt tử hình như thế nào? Đây là những vấn đề có ý nghĩa rất lớn đến vấn đề bãi bỏ hay duy trì hình phạt tử hình trong Luật hình sự của các quốc gia Cho đến nay, các quy định của pháp luật quốc tế vẫn chưa có
sự thống nhất về hình phạt tử hình Luật quốc tế ít nhất có bốn xu hướng quy định về hình phạt tử hình:
Thứ nhất, pháp luật quốc tế không cấm sử dụng hình phạt tử hình Đa số
các quan điểm hiện nay đều thừa nhận rằng, trên phạm vi toàn cầu chưa có một văn bản nào cấm sử dụng hình phạt tử hình Tuy nhiên cũng có những người cho rằng, việc sử dụng hình phạt tử hình là trái với pháp luật quốc tế Sự không thống nhất đó bắt đầu từ cách hiểu khác nhau về nội dung Điều 3 của Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (1948)
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (Tuyên ngôn) là văn kiện quốc tế đầu
tiên đề cập đến việc bảo vệ quyền sống của con người Đ iều 3 của Tuyên ngôn
quy định: “M ọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá n h â n ”
Thực tế, Tuyên ngôn chứa đựng các quy tắc mang tính đạo đức hơn là một văn kiện pháp lý Hơn nữa, Tuyên ngôn cũng không phải là một công ước quốc tế và không có quốc gia tham gia ký kết Tuy vậy, Tuyên ngôn (hoặc ít nhất m ột phần của Tuyên ngôn) đã trở thành tập quán quốc tế.30 Hầu hết các quốc gia trên thế
giới đang thực hiện theo Tuyên ngôn này Tuyên ngôn đã trở thành “các tiêu
chuẩn xử sự chung cho m ọi người, mọi quốc g iá ”.31
30 Short, Christy A.: “X oá bỏ hình phạt tử hình: nghĩa của từ “xoá bỏ” có giống như bạn nghĩ?”, Tạp
chí nghiên cứu p h á p lý toàn cầu (1999) Tập 6 , ữang 725
31 Short, Christy A : Sđd, trang 725
Trang 25Quyền sống được quy định trong Điều 3 của Tuyên ngôn có nội dung rất khái quát và không rõ ràng Đó là nguyên nhân nảy sinh ra nhiều tranh luận khác nhau về nội hàm của khái niệm quyền sống được quy định trong Điều 3 của Tuyên ngôn.
Những người chống lại hình phạt tử hình cho rằng quyền sống được quy định trong Điều 3 của Tuyên ngôn là quyền tuyệt đối Đó là quyền tự nhiên của con người và có giá trị tối cao trong hệ thống thế giới về nhân quyền.32 Việc sử dụng hình phạt tử hình là vi phạm Điều 3 của Tuyên ngôn, vi phạm pháp luật quốc tế
Những người ủng hộ hình phạt tử hình cho rằng, quyền sống của con người được quy định trong Điều 3 của Tuyên ngôn không phải là quyền tuyệt đối, m à có giới hạn nhất định Quyền sống được nhà nước bảo vệ khỏi sự xâm hại ừái pháp luật của người khác hoặc của Nhà nước, nhưng nó có thể bị tước đi nếu người đó phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Do đó việc sử dụng hình phạt tử hình không hề vi phạm Điều 3 của Tuyên ngôn
Như vậy có thế thấy, nhận thức về Điều 3 của Tuyên ngôn rất khác nhau Điều đó phụ thuộc vào cách nhìn nhận và các chuẩn mực giá trị khác nhau của mỗi người Tuy nhiên có một điều chắc chắn rằng, Tuyên ngôn không thể hiện
rõ ràng mục đích cấm sử dụng hình phạt tử hình và vì vậy các nước hiện đang
sử dụng hình phạt tử hình không vi phạm Điều 3 của Tuyên ngôn
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) cũng không cấm
sử dụng hình phạt tử hình Theo quy định tại Điều 6 (2), (6) của Công ước này, các quốc gia được khuyến khích xoá bỏ hình phạt tử hình, nhưng xuất phát từ tình hình thực tế của nước mình quốc gia vẫn được quyền sử dụng hình phạt tử hình đối với những người phạm tội nguy hiểm nhất
Thứ hai, tuy không cấm sử dụng hình p h ạ t tử hình nhưng pháp luật quốc
tế quy định hạn chế áp dụng hình p h ạ t tử hình Việc hạn chế áp dụng hình phạt
tử hình được quy định theo hướng hạn chế đối tượng bị áp dụng và hạn chế
32 Giải thích báo cáo về Nghị định thư số 13 của Công ước Châu Âu về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản của con người, về xoá bò hoàn toàn hình phạt tử hình, (mục 1)
h ttp://cQ nven tio n s.co e in t/tre a ty /e n /re p o rts /H tm l/1 8 7 h tm
Trang 26phạm vi quy định hình phạt tử hình, đồng thời quy định những đảm bảo tối thiểu của nhà nước đối với người bị áp dụng hình phạt tử hình:
Hướng thứ nhất, hạn chế đối tượng áp dụng hình phạt tử hình: Điều 6 (5)
của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) quy định: “hình
p h ạ t tử hình không được áp dụng đối với người dưới 18 tuỗi khi phạm tội và không được thi hành đối với p h ụ nữ đang mang thai ” Công ước này không
quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người tâm thần, người già trên 70 tuổi và phụ nữ đang nuôi con nhỏ
Với việc khẳng định quyền sống của trẻ em không bị tước đoạt trong bất
kể trường hợp nào, Công ước về quyền trẻ em 33 cũng nghiêm cấm việc áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi tại thời điểm họ phạm tội Điều 37 (a) của Công ước về quyền trẻ em quy định:
“Không có trẻ em nào phải chịu sự tra tấn, đối xử, trừng phạt độc ác, vô nhàn đạo hay làm mất phẩm giá Sẽ không xử án từ hình hoặc tù chung thân mà không có khà năng phóng thích vì những hành động phạm pháp do những người dưới 18 tuổi gây ra”
Ngoài các đối tượng không bị áp dụng hình phạt tử hình như quy định của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước về quyền trẻ
em, Nghị quyết số 1984/50 ngày 25/5/1984 của Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc về bảo vệ sự bảo đảm bảo vệ các quyền của con người trước hình phạt tử hình còn quy định thêm các đối tượng không áp dụng hình phạt
tò hình như phụ nữ đang nuôi con nhỏ, người tâm thần
33 Cồng ước về quyền ừ è em được Đại hội đồng Liên hợp quốc th ô n g qua theo N ghị quyết số 44/25 ngày 20/11/1989 và để ngỏ cho các nước ký kết, phê chuẩn và gia nhập Công ước về quyền trẻ em có hiệu lực ngày 2/9/1990 căn cứ Đ iều 49 của Công ước Đến nay, gần như toàn bộ các quốc gia ừên thế giới đã gia nhập Công ước về quyền trẻ em (trừ Mỹ và Somalia) Việt Nam là nước thứ hai phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em vào ngày 20/2/1990 Singapore rất ít tham gia phê chuẩn các công ước quốc tế về quyền con người, nhưng cũng đã gia nhập công ước này.
Trang 27Hướng thứ hai, luật quốc tế hạn chế phạm vi quy định hình phạt tử hình
Theo quy định tại Điều 6 (2) của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị (1966), hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với “những tội phạm
nguy hiểm n h ấ t” theo pháp luật tại thời điểm diễn ra tội phạm, v ấ n đề nảy sinh
là hiểu thế nào là “tộ ip h ạ m nguy hiểm n h ấ n Pháp luật của mỗi nước quy định rất khác nhau về vấn đề này Có những nước xác định phạm vi “tộ ip h ạ m nguy
hiểm nhất ” rất rộng, bao gồm các tội giết người, các tội phạm kinh tế, tội phạm
về sở hữu (Ví dụ: Việt Nam, Trung Q uốc ) Có nước chỉ coi tội giết người hoặc các tội khác cố ý gây ra hậu quả chết người mới áp dụng hình phạt tử hình (Nga)
Giải quyết vấn đề trên Uỷ ban nhân quyền Liên hợp quốc cho rằng, “tội
phạm nguy hiếm n h ấ t” nên được hiểu một cách hạn chế với nghĩa hình phạt tử
hình chi được áp dụng như m ột biện pháp rất ngoại lệ Theo đó, chỉ có tội giết người hoặc các hành vi cố ý khác dẫn đến hậu quả chết người mới bị áp dụng hình phạt tử hình.34Ưỷ ban nhân quyền Liên hợp quốc cũng khẳng định, các tội
sau đây không được coi là “những tội nguy hiểm nhất■” và không thể áp dụng hình phạt tử hình:
"cướp, vận chuyển chất độc hoặc chất phế thải nguy hiểm, xúi giục người khác
tự sát, các tội phạm về ma tuý, các tội phạm về sở hữu, các tội trốn tránh phục
vụ quân đội, tôi về tò bỏ tôn giáo hoặc chính trị, tội về tình dục đồng tính, tội tham ô, trộm có vũ khí, các tội phạm về kinh tế, tội ngoại tình, tội hối lộ và các tội khác mà không dẫn đến hậu quả chết người, các tội phạm chính trị, tội phạm kinh tế.35
Tuy nhiên, cách giải thích trên không có giá trị bắt buộc m à chỉ để tham khảo, các quốc gia vẫn có quyền tự do xác định phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với nước mình
Nghị quyết số 1984/50 ngày 25/5/1984 của Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc về bảo vệ sự bảo đảm các quyền của con người trước hình phạt
tử hình cũng có quy định về phạm vi hình phạt tử hình Theo điểm 1 của Nghị quyết này, hình phạt tử hình chỉ quy định YỚi những tội phạm nguy hiểm nhất Điều đó được hiểu rằng phạm vi hình phạt tử hình là các tội cố ý tước đoạt tính
34 Joseph, s , Schultz, J., Castan, L., (2000), trang 120
35 Joseph, s , Schultz, J., Castan, L., (2000), trang 120
Trang 28mạng của người khác và những tội khác gây hậu quả đặc biệt lớn Cách giải thích này làm cho phạm vi hình phạt tử hình rộng hơn so với cách giải thích trên.
Hướng thứ ba, luật quốc tế quy định những bảo đảm tối thiểu của nhà nước
cho người bị áp dụng hình phạt tử hình Điều này được quy định trong Điều 6 (4) của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Nghị quyết số 1984/50 ngày 25/5/1984 của Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc về bảo
vệ sự bảo đảm bảo vệ các quyền của con người trước hình phạt tử hình Theo
đó, các quốc gia phải đảm bảo rằng người phạm tội được xét xử công khai, có quyền xin ân giảm hoặc chuyển hình phạt, giảm thiểu sự đau đớn thể xác và chỉ
bị thi hành án khi có bản án có hiệu lực của một toà án có thẩm quyền
Thứ ba, luật quốc tế cũng có những quy định cấm sử dụng hình phạt tử
hình Quy định này được thể hiện trong Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1989) Đây là văn bản không bắt buộc các nước tham gia Hiện nay có đã có 72 quốc gia phê chuẩn Nghị định thư này Trong số các nước trên, Châu Á chỉ có hai quốc gia phê
chuẩn là Philipines và Nepal Các quốc gia tham gia ký kết tin tưởng ràng, “xoá
bỏ hình p h ạ t tử hình góp phần đề cao nhân phẩm của con người và là một bước
p h á t triển của quyền con n g ư ờ i” và “ mọi biện phá p xoá bỏ hình p h ạ t tử hình đưực xem như những tiến bộ trung việc bảo vệ quyển sống của con n g ư ờ i”36
Theo Điều 1 của Nghị định thư, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải xoá hình phạt tử hình khỏi hệ thống pháp luật của mình Các bản án tử hình đã được tuyên xử trước đây sẽ không được thi hành kể từ ngày quốc gia phê chuẩn nghị định thư
Tuy nhiên, Theo Điều 2 của Nghị định thư, các nước thành viên không bị cấm hoàn toàn sử dụng hình phạt tử hình Trong thời gian chiến tranh, các quốc gia thành viên có thể áp dụng hình phạt tử hình đối với những tội phạm nguy hiểm nhất liên quan đến quân sự Trong trường hợp đó, quốc gia phải thông báo cho Tổng thư ký Liên hợp quốc về tính chính đáng của những quy định về sử
36 Lời nói đầu của N ghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, nhằm xoá bỏ hình phạt tử hình.
Trang 29dụng hình phạt tử hình trong thời gian chiến tranh, khi quốc gia bắt đầu áp dụng.37
2.3 Các xu hướng quy định về hình phạt tử hình trong luật hình sự các nước
trên thế giói
Xu hướng xoá bỏ hình phạt tử hình là m ột trong những xu hướng lớn ữong luật hình sự của các nước trên thế giới Hiện nay đã có khoảng 141 quốc gia tham gia vào xu hướng này Khái niệm xoá bỏ hình phạt tử hình được sử dụng trong phần này bao gồm ba (03) cấp độ: xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình, xoá bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm thường và xoá bỏ hình phạt tử hình trong thực tế (áp dụng) Theo nghiên cứu của tác giả Roger Hood, tỷ lệ trung bình các quốc gia xoá bỏ hình phạt tử hình tăng mỗi năm từ 1.5 đến 4 nước.38 Tuy nhiên, xu hướng duy trì hình phạt tử hình vẫn còn được nhiều nước (61 nước) trên thế giới áp dụng N hư vậy, hiện nay thế giới có 5 xu hướng chính quy định về hình phạt tử hình:
Xu hướng thứ nhất, xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình đối với tất cả các
loại tội phạm Xu hướng này đang ngày một phát triển trên thế giới Theo con
số thống kê, năm 1988 chỉ có 35 nước xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình, đến năm 1995 đã có 58 nước và đến nay (2007) đã có 91 nước xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình.39 Xu hướng này có nguồn gốc và tồn tại chủ yếu ở Tây Âu Sau này m ột số quốc gia ở các khu vực khác như Châu Mỹ cũng tham gia Một
số văn bản khu vực có vai trò quan trọng trong việc xoá bỏ hình phạt tử hình như Nghị định thư số 6, Nghị định thư số 13 của Công ước Châu Âu về quyền con người và các quyền cơ bản, Nghị định thư (tăng thêm) của Công ước châu
Mỹ về quyền con người
N ghị định thư sổ 13 (2002) là m ột buớc tiến dẫn đến xu thế xoá hoàn toàn
hình phạt tử hình ở Châu Ảu Lần đầu tiên trên thế giới có m ột văn kiện pháp lý khu vực xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình và cũng là lần đầu tiên quyền sống của con người được công nhận chính thức là một quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm và được bảo vệ tuyệt đối Các quốc gia thừa nhận rằng, công nhận quyền
37 Điều 2 N ghị định thư không bắt buộc thử hai của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
38 Hood, R„ ( 1 9 9 6 ) , trang 8
39 Hood, R., (1996), trang 8
Trang 30sống của con người là một giá trị cơ bản của xã hội dân chủ và xoá bỏ hình hình phạt tử hình là cần thiết cho việc bảo vệ quyền sống của con người, cho việc thừa nhận hoàn toàn phẩm giá vốn có của con người.
Theo quy định tại Điều 1 của Nghị định thư số 13, quyền sống được được đảm bảo như một quyền chủ quan của con người.40Quyền sống của con người trở thành quyền không thể bị tước đoạt mạng sống bởi bất cứ ai, cho dù đó là nhà nước Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ xoá bỏ hình phạt tử hình đối với mọi tội phạm, cho dù trong thời điểm chiến tranh hoặc đe doạ có chiến tranh
X u hướng thứ hai, xoá hình phạt tử hình đối với các tội phạm thông
thường Các quốc xoá hình phạt tử hình đối với tội phạm thường, chỉ quy định hình phạt tử hình đối với những tội nghiêm trọng nhất trong thời điểm có chiến tranh hoặc đe doạ ngay tức khắc có chiến tranh Các nước theo xu hướng này không nhiều Trước năm 1965 chỉ có 11 nước theo xu hướng này đến năm 1995 mới tăng lên 14 nước Theo nghiên cứu của Roger Hood, có sự dịch chuyển về
số lượng giữa các nước xoá hình phạt tử hình đối với tội phạm thường sang số nước xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình Nếu năm 1988 có 18 nước (chiếm 10%) xoá hình phạt tử hình đối với tội phạm thường và 35 nước (chiếm 19%) xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình, thì năm 1995 có 14 nước (chiếm 7%) xoá hình phạt tử hình đối với tội phạm thông thường và 58 nước (chiếm 30%) xoá
bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình.41 Điều đó cho thấy xoá hình phạt tử hình đối với tội phạm thường là bước chuẩn bị chuyển tiếp để xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình Có hai văn kiện khu vực quan trọng liên quan đến xu hướng này:
N ghị định thư số 6 (1983) của Công ước Châu Ầu về quyền con người và các quyền tự do cơ bản được hầu hết các nước là thành viên của Công ước châu
Âu tham gia Đây là công ước khu vực đầu tiên trên thế giới quy định các quốc gia phê chuẩn có nghĩa vụ xoá bỏ hình phạt tử hĩnh đối với tội phạm thường Nghị định thư số 6 được coi là công ước khu vực thành công nhất ữên thế giới
về xoá bỏ hình phạt tử hình Nó tạo ra m ột tập quán khu vực về xoá bỏ hình phạt tử hình Việc xoá bỏ hình phạt tử hình được coi là điều kiện để gia nhập vào cộng đồng châu Âu Theo Điều 1 của Nghị định thư này, các quốc gia phê
40 Đ iều 1 của Nghị định thư số 13: " Không ai bị kết tội bằng một bàn án tử hình và cũng không ai bị
thi hùrĩh bằn g bán án từ hình ”
41 Hood, R., (1996), trang 9
Trang 31chuân phải xoá bỏ hình phạt tử hình khỏi luật hình sự của nước mình Ke từ khi phê chuẩn văn kiện này, các quốc gia không được quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm thường; đối với những người đã bị tuyên án bởi bản án tử hình thì bản án đó không được thi hành.42 Điều 2 của Nghị định thư số 6 quy định trường họp ngoại lệ về xoá hình phạt tử hình, theo đó quốc gia thành viên có thể quy định hình phạt tử hình đối với các tội phạm về quân sự trong thời gian chiến tranh.
N g h ị định thư bổ sung của Công ước châu M ỹ \ ề quyền con người (1993)
cũng quy định giống như Nghị định thư số 6 của Châu Âu Theo Điều 2 của Nghị định thư, các quốc gia có nghĩa vụ xoá bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm thường Trong thời gian có chiến tranh, các quốc gia có thế áp dụng hình phạt tử hình đối với những tội phạm nguy hiểm nhất liên quan đến quân sự Hiện nay có 08 nước châu Mỹ La tinh tham gia phê chuẩn gồm: Brazil, Costa Rica, Ecuador, Nicaragua, Panama, Paraguay, Uruguay và Venezuela.43
X u hướng thứ ba, không áp dụng hình phạt tử hình trên thực tế Xu hướng
này hiện có 33 nước tham gia Tại các nước này, mặc dù luật hình sự vẫn quy định hình phạt tử hình, nhưng trên thực tế các nước này đã không áp dụng, thi hành hình phạt tử hình từ ít nhất 10 năm nay Việc xoá bỏ hình phạt tử hình của các nước này được thể hiện không rõ ràng Các nước này vẫn có thể quyết định quay trở lại sử dụng hình phật tử hình bất cứ lúc nào họ thấy cần thiết
X u hướng thứ bốn, duy trì hình phạt tử hình Mặc dù xu hướng bãi bỏ hình
phạt tử hình đang ngày m ột phát triển nhưng đó không phải là xu hướng duy nhất trong luật hình sự H iện nay vẫn còn có 62 nước duy trì hình phạt tử hình trong Luật hình sự Các nước còn sử dụng hình phạt từ hình đa số thuộc Châu
Á, Châu Phi, Trung Đông Điều đó được thể hiện qua việc các nước thuộc các khu vực trên chưa có văn bản pháp lý khu vực nào với mục đích xoá bỏ hình phạt tó hình
Có 3 văn kiện khu vực về quyền sống của con người, nhưng đều cho phép các nước sử dụng hình phạt tử hình ở mức độ nhất định:
42 Đ iều 1 của N ghị định thư số 6: “ Không ai bị kết tội bởi bản án từ hình hoặc bị thi hành bởi bàn án
tử hình ”,
43 Tính đến năm 2001
Trang 32Thứ nhất, Công ước Châu Mỹ về quyền con người (1969).44 Theo Điều 4 của Công ước này phạm vi hình phạt tử hình là các tội phạm nguy hiểm nhất, không quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm chính trị, các tội phạm chung; đồng thời hình phạt từ hình cũng không được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi, người già trên 70 tuổi tại thời điểm phạm tội, phụ nữ có thai Như vậy, Công ước này chỉ giới hạn phạm vi và đối tượng áp dụng hình phạt tử hình
mà không cấm sử dụng hình phạt tử hình
Thứ hai, Tuyên ngôn của các nước hồi giáo về nhân quyền 1981 Mục I
(a) của Tuyên ngôn này quy định: “Cuộc sống của con người là thiêng liêng và
bất xâm phạm ; mọi người sẽ n ỗ lực để bảo vệ cuộc sổng của con người Trong trường hợp đặc biệt không ai bị xâm hại hoặc bị tước bỏ m ạng sống, trừ khi theo qnv định pháp luật của nhà nước ” Tuyên ngôn này đã thể hiện rất rõ mục
đích cho phép áp dụng hình phạt tử hình đối với những người phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng theo luật hiện hành của các nước thành viên
Thứ ba, Hiến chương các nước Ả rập về nhân quyền (được thông qua ngày 15/9/1994) Nội dung của Hiến chương về hình phạt tử hình cũng tương tự như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) Điều 5 của Hiến
chương khẳng định: “Mọ ỉ' người đều có quyền sống, tự do và an ninh cá nhân
Các quyền này được p h á p luật bảo vệ.” Với quan niệm quyền sống của con
người có giới hạn nhất định khi cá nhân phạm những tội phạm cực kỳ nghiêm
trọng người đó phải đối mặt với án tử hình, Tuy nhiên, tử hình “chi được áp
dụng đổi với những tội phạm nghiêm trọng nhất và những ai bị áp dụng hình
p h ạ t tử hình đều có quyền nộp đơn xin ân giảm hoặc chuyển hình p h ạ t”\ ầ
“hình p h ạ t tử hình không áp dụng đối với các tội phạm chính trị ” 45 Không chỉ
hạn chế về phạm vi quy định hình phạt tử hình, Hiến chương còn quy định một
44 Công ước được Tổ chức các nước Châu M ỹ (O A S) thông qua năm 1969 và có hiệu lực ngày 18/7/1978 Đến năm 1996 có 25 nước Nam M ỹ tham gia.
45 Điều 10, 11 của Hiến chương các nước Ả rập về quyền con người,
h ttp://www1 umn.edu/humanrts/instree/arabhrcharter.html
Trang 33số đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình như người dưới 18 tuối khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới hai tuổi.46
Tại các nước đang duy trì hình phạt tử hình, dư luận xã hội vẫn đang ủng
hộ rất cao Tại Mỹ, theo điều tra của Báo Bưu điện Washington và Báo thời sự ABC năm 2006 có 65% người trưởng thành được hỏi đã trả lời ủng hộ sử dụng hình phạt tử hình Con số này tương đối ổn định qua các năm, năm 2005 là 66%, năm 2003 là 64 %.47 ở Đông Ảu cũng có tới 70 % số người được hỏi đã ủng hộ hình phạt tử hình Như vậy, việc sử dụng hình phạt tử hình ở các nước này được đa số người dân ủng hộ
Xu hướng thứ năm, xu hướng khôi phục lại hình phạt tử hình M ột số nước
trước đây đã xoá bỏ hình phạt tử hình, nhưng do tình hình tội phạm trong nước phức tạp đã khôi phục hình phạt tử hình trở lại Từ năm 1985 đến nay đã có 4 nước và m ột số bang của Mỹ khôi phục lại hình phạt tử hình như: Nepal, Gambia, Papua New Guinea Đây chỉ là xu hướng nhỏ trên thế giới
Hiện nay, nhiều người cho rằng xu hướng bãi bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình đã trở thành một tập quán quốc tế Nếu nhận định này là đúng thì các nước hiện đang sừ dụng hình phạt tử hình đã vi phạm luật quốc tế Với các dẫn chứng
về các xu thế duy trì và bãi bỏ hình phạt từ hình hiện nay cho thấy, xu thế bãi bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình chưa trở thành m ột tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế được định nghĩa là tình trạng chung, thống nhất trong hoạt động mà nhà nước phải tuân theo do ý thức về nghĩa vụ pháp lý.48 Các quốc gia phải tuân theo tập quán quốc tế như một nguồn của luật quốc tế Tuy nhiên làm thế nào để xác định chính xác xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình có phải là tập quán quốc tế hay không là một vấn đề rất quan trọng Theo tác giả Christy A Short, có ba yếu tố tạo nên tập quán quốc tế về xoá bỏ hình phạt tử hình: (1) việc thực hiện xoá bỏ hình phạt tử hình phải thống nhất, (2) việc xoá
bỏ hình phạt tử hình phải được áp dụng rộng rãi, (3) các quốc gia cảm thấy có
46 Điều 12 của Hiến chương các nước Ả rập về quyền con người
47 Arakawa, Darren (2007), ưang 28
48 Short, Christy A (1999), trang 742
Trang 34nghĩa vụ phải xoá bỏ hình phạt tử hình.49Cả ba yếu tố trên đều không đủ để khẳng định xoá bỏ hình phạt tử hình là một tập quán quốc tế.
Thứ nhất, việc xoá bỏ hình phạt tử hình đòi hỏi phải nhất quán trong thực
hiện, nhưng thực tế trên thế giới việc xoá bỏ hình phạt tử hình được thực hiện theo nhiều mức độ khác nhau Như trên đã trình bày, có ba mức độ xoá hình phạt tử hình gồm: xoá hoàn toàn hình phạt tử hình, xoá hình phạt tử hình đối với tội phạm thông thường và xoá hình phạt tử hình trong thực tế Xu hướng xoá hoàn toàn hình phạt tử hình cũng không phải là xu hướng chiếm tuyệt đối Chính vì vậy yêu cầu nhất quán trong xoá bỏ hình phạt tử hình chưa đạt được
Thứ hai, yêu cầu việc xoá bỏ hình phạt tử hình trên thế giới phải phổ biến
và được đa số các nước trên thế giới áp dụng Tuy nhiên, theo thống kê của Tổ chức ân xá quốc tế năm 2007, có 91 nước đã xoá hoàn toàn hình phạt tử hình,
11 nước xoá hình phạt tử hình đối với tội phạm thường, 33 nước bỏ không áp dụng hình phạt tử hình trên thực tế và 63 nước vẫn đang duy trì hình phạt từ hình.50 Như vậy số nước còn đang duy trì hình phạt tử hình vẫn còn rất lớn, chiếm tỷ lệ đáng kể trên thế giới Điều đó cho thấy xu hướng xoá bỏ hình phạt
tử hình không phải là xu hướng độc tôn trên thế giới
Thứ ba, để xoá bỏ hình phạt tử hình trở thành tập quán quốc tế, việc xoá bỏ
hình phạt tử hình phải trở thành nghĩa vụ bắt buộc của các quốc gia Tuy nhiên, hiện nay việc tham gia vào các công ước quốc tế và khu vực (trừ Châu Ảu) là quyền tự do của mỗi quốc gia Trên cơ sở các điều kiện thực tế trong đất nước của mình, các quốc gia có quyền tham gia phê chuẩn các điều ước quốc tế về xoá bỏ hình phạt tử hình hoặc không tham gia Quốc gia không phải chịu ữách nhiệm pháp lý nào nếu không xóa hình phạt tử hình Theo các nhà nghiên cứu hiện nay, chỉ có châu Âu là ngoại lệ Đối với các nước châu Âu việc xoá hình phạt tử hình trở thành điều kiện để cho nước đó gia nhập Cộng đồng Châu Âu Nếu không xoá hình phạt tử hình nước đó sẽ bị từ chối gia nhập hoặc bị khai trừ khỏi cộng đồng châu  u.51 Nước Ukraine là m ột ví dụ, nước này đã không xoá
bỏ hình phạt tử hình tò ngày 09/11/1998, do đó Hội đồng châu Âu muốn khai
49 Short, Christy A (1999), trang 742
50 Tổ chức ân xá quốc tế: h ttp ://w w w deathpenaltvinfo.org/article.php?scid= 30& did= 140 # de% 20facto
(truỵ cập ngày 14/7/2008)
5 Short, Christy A (1999), trang 749
Trang 35trừ Ukraine ra khỏi Hội đồng châu Âu vào tháng 1/1999.52CÓ thể nói xoá hình phạt tử hình đã trở thành một nghĩa vụ của các nước chảu Âu, nhưng đó chỉ là nghĩa vụ mang tính khu vực, chỉ áp dụng đối với các nước thuộc khu vực này Trên phạm vi quốc tế chưa từng tồn tại một nghĩa vụ nào tương tự như vậy đối với các nước Xoá bỏ hình phạt tử hình vẫn là quyền tự do lựa chọn của các quốc gia.
Như vậy, xu hướng xoá hoàn toàn hình phạt tử hình mới chỉ trở thành tập quán khu vực Tây Âu Trên phạm vi toàn cầu, xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình chưa trở thành tập quán quốc tế Do đó, ý kiến cho rằng các nước còn đang duy trì hình phạt tó hình vi phạm tập quán quốc tế là không có cơ sở
52 Short, Christy A (1999), trang 749