M ột quan điểm khác lại cho rằng hiệu quả pháp luật chỉ là khả năng của pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội theo những hướng đã được xác định, hiệu quả pháp luật, theo quan điểm nà
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VẢ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP
♦ ♦ ♦
Q tíịU ỊỊỈn J tlltih ^iữtì a t t
NHỮNG V Ấ N Đ Ể LÝ LU Ậ N c ơ B Ả N , THỰC TR ẠN G V À G IẢ I
P H Á P N Â N G CAO HIÊU Q U Ả PH ÁP L U Â T Ỏ NƯÓC TA
LUẬN ÁN CAO HỌC LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Phó g iáo sư Phó Tiên sĩ khoa học Luật
M ê M i n h 'cTiri m
HÀ NỘI 1996
Trang 3LỜI NÓI ĐẦUĐại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam với tinh thần “ nhìn thẳng vào
sự thật, đánh gía đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã để ra đường lối đối mới toàn diện từ tư duy đến hành động trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội m ở ra bước ngoặt lịch sử trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã được tiếp tục khẳng định ở các Đ ại hội V II và VIII của Đảng “Đại hội VIII của Đảng là Đại hội tiếp tục đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa” (1) Những phương hướng
và nhiệm vụ m à Đại hội đề ra là “ sự cụ thể hóa và phát triển hơn nữa đường lối đổi mới được xác định qua các Đại hội VI và Đại hội VII của Đ ảng” <2) Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng chúng ta đã và đang xây dựng một
N hà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ ch ế thị trường có sự quản lý của nhà nước,theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giầu, nước m anh, xã hội công bằng văn minh, từng bước tiến iên chủ nghĩa xã hội
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất cũng như trong hoạt động quản lý nhất là quản lý nhà nước N hà nước ta đã và đang thực hiện “quản lý xã hội bằng pháp luật” - một phương thức có tầm quan trọng đặc biệt để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tổ chức đời sống xã hội, bảo đảm cho xã hội ổn định, phát triển nhanh, phù hợp với những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
Có thể nói trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội không m ột công cụ điều chỉnh nào có thể so sánh đựơc với pháp luật bởi tính hiệu quả của nó Chính vì vậy, m ột trong những nhiệm vụ then chốt của khoa học pháp lý nước
ta hiện nay là làm th ế nào để nâng cao hơn nữa hiệu quả pháp luật để pháp luật nước ta thực sự phát huy được vai trò và những gía trị to lớn của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đem lại ấm no
và hạnh phúc cho nhân dân
Q uản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp ch ế xã hội chủ nghĩa suy cho cùng là báo đảm cho xã hội có trật tự, ổn định tạo điều
V ãn k iện Đ ại h ội VIII củ a Đ ả n g cộ n g sán V iệt N am N X B chính Irị q u ố c gia 19% , Irani* 152
'3' V ãn k iện Đ ại h ội VIII củ a Đ ả n g C ộng sản V iệt nam N X B chính trị q u ố c ự iu 1990, trang 152
Trang 4N g u yễ n M inh Đ oan ★ ★ ★ Ji'Ucị<il ,4<it C Ỉ Ó C Ĩ 'iu j? c z ĩỵ i> f j , K ) ,7'C Ọ (J Trang2
kiện cho xã hội phát triển với tốc độ nhanh nhất vì hạnh phúc COI1 người và tạo ra môi trường cho mỗi con người phát huy hết khá năng của mình Vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp quản lý Nhà nước bằng pháp luật sẽ chỉ có ý nghĩa khi nó làm tăng kết quả, hiệu quả nói trên Do đó làm rõ cơ sở lý luận
và thực tế của vấn đề hiệu quả pháp luật có ý nghĩa rất to lớn về lý luận cũng như vé thực tiễn M ột mặt, việc nghiên cứu sẽ làm rõ hơn, đầy đủ hơn khái niệm về hiệu quả pháp luật, có được cái nhìn tổng quát hơn ở các khía cạnh hiệu quả pháp luật, tìm ra những yếu tố, những điều kiện cơ bản có ảnh hưởng tới hiệu quả pháp luật Mặt khác, từ những kết quả tìm tòi, nghiên cứu trên ta
có thể ứng dụng lý luận đó vào việc đánh giá hiệu quả pháp luật ở nước ta, đưa ra những giải pháp đúng đắn, phù hợp nhất để nâng cao hiệu quả pháp luật ớ nước ta trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể hiện nay góp phần thực hiện những mục tiêu mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra
Từ những vấn đề đã nêu cho thấy việc nghiên cứu về hiệu quả pháp luật
là rất cần thiết và có ý nghĩa thiết thực Nhưng đó cũng là một công việc rất khó khăn bởi bản thân vấn đề rất phức tạp và có phạm vi rộng, trong khi đó tài liệu lý luận cũng như tư liệu thực tế phục vụ cho việc nghiên cứu rất ít và hạn chế Chính vì vậy mà tác giả của bản luận án này không có tham vọng nghiên cứu hết những gì có liên quan tới hiệu quả pháp luật mà chỉ dừng lại xem xét “ những vấn đề cơ bản về hiệu quả pháp luật ở nước ta”
2 T ình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, vấn đề hiộu quả pháp luật đã thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhiều giới và đã có một số nhà Luật học và Luật gia tham gia hoạt động thực tiễn trong và ngoài nước tiếp cận nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, nhất là các nhà Luật học ở Liên xô cũ Chẳng hạn V Lazarino nghiên cứu về “ Hiệu quả các văn bản áp dụng pháp luật” ; I N ikitinxki khảo cứu về
“ Hiệu quả các quy phạm pháp luật lao động” Ph.Kudriasép, I Xamaxenko; Glazirkin nghiên cứu những vấn đề lý thuyết về :”Hiệu quả các quy phạm pháp luật” ;
Ớ Việt nam mấy năm gần đây vấn đề hiệu quả pháp luật cũng đã được đặt ra để nghiên cứu và giảng dạy Luật học Một sô sách báo pháp lý đã đề cập vấn để này Ví dụ “ Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật” (Nhà xuất bán Khoa học Xã hội năm 1993) do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đ ào Trí ú c biên
Trang 5N g u yễ n M in h Đ o a n ★ ★ ★ MtMcẬtM 'M W W / p to 4 0 7f,ụp ★ ★ ★ Trang 3
soạn; Giáo trình “ Lý luận Nhà nước và pháp luật “ của trường Đại học Luật
Hà nội ( Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1996) do Phó Giaó sư, Phó Tiến sĩ Lê Minh Tâm chú biên; Nguyễn Minh Đoan “ Pháp luật từ góc độ hiệu quả “ ( Tạp ch í Luật học số 5 năm 1995 )
Trong những công trình nghiên cứu đó, mỗi tác giả đều có những cách tiếp cận và giải quyết vấn đề với những nét riêng của mình về hiệu quả pháp luật Tuy nhiên, có thể nói cho đến nay trên nhiều phương diện, vấn đề, khía cạnh thuộc hiệu quả pháp luật vẫn chưa có được sự nhất trí về quan điểm và chưa được giải quyết thoả đáng vẫn đòi hỏi phải nghiên cứu để làm sáng tỏ, sâu sắc và có hệ thống
Công tác nghiên cứu đánh giá hiệu quả pháp luật ở nước ta còn rất hạn chế Hoạt động đánh giá hiệu quả pháp luật thường diễn ra dưới các hình thức như : Báo cáo tổng kết thông qua các Hội nghị tổng kết của các Ngành, các cấp, các cơ quan về tình hình xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong một khoảng thời gian nào đó (6 tháng, 1 năm, 5 năm .) về m ột văn bản pháp luật nào đó (Luật hôn nhân và gia đình, Luật đầu tư .) hoặc về một lĩnh vực nào đó (báo cáo của Chính phủ về tình hình thi hành pháp luật đất đai tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa IX; Báo cáo về tình hình tranh chấp đất đai của Tổng cục quản lý ruộng đất nay là Tổng cục địa chính; Tờ trình của ủy ban thường vụ Quốc hội về chương trình xây dựng pháp luật; Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tình hình chấp hành pháp luật ) Trong những văn bản trên đã có sự tổng kết, đánh giá về những gì đã đạt được, những gì chưa làm được, những khó khăn, thuận lợi trong việc xây dựng, thực hiện các quy định pháp luật (văn bản pháp luật) trong thực tế Từ đó đề xuất những biện pháp khắc phục, những phương hướng cần giải quyết trong hiện tại và tương lai Tuy nhiên, thông thường thì trong những báo cáo đó chỉ nêu một số nét lớn rất chung, không toàn diện và mang tính tổng kết thực tiễn, ít mang tính học thuật, lý luận
3 M ục đích và nhiệm vụ cua luận án.
M ục đích chính của Luận án là nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề lý luận cơ bán về hiệu quả của Pháp luật, tìm ra những yếu tố, những điều kiện có ảnh hưởng tới hiệu quả Pháp luật, đặc biệt là hiệu quả của
hệ thống Pháp luật Việt nam trong điều kiện hiện nay Từ đó đưa ra những
Trang 6N guyễn M inh Đ ũ3n ★ ★ ★ MíUt ị'H < 4<H rJO<7'M(jJC3/ỵ/> 10 !« ) (' ★ ★ ★ Trung 4
giải pháp thích hợp nhằm hoàn chỉnh cơ ch ế điều chỉnh pháp luật, nâng cao hơn nữa hiệu quả pháp luật ở nước ta góp phần thực hiện những mục tiêukinh
tế - xã hội mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra
Từ mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu sâu một cách tương đối, toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm hiệu quả pháp luật, những chỉ số cần xác định đ ể đánh giá hiệu quả của pháp luật;
- Phàn tích những yếu tố và điều kiện có ảnh hưởng tới hiệu quả phápluật
- Đánh giá khái quát về tính hiệu quả và những hạn ch ế của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
- Đưa ra những kiến nghị và giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật, nâng cao hiệu quả pháp luật ở nước ta hiện nay
4 Những điểm mới của đề tài:
Luận án có một số điểm mới là:
- Đưa ra được một khái niệm mới, một cách tiếp cận tương đối toàn diện và phù hợp về hiệu quả pháp luật
- Trình bày một cách có hệ thống tương đối chi tiết, đầy đủ về các chỉ
số cần xác định khi đánh giá hiệu quả pháp luật
- Các kiến nghị và giải pháp nêu ra trong luận án hầu hết là những luận
cứ khoa học, thiết thực và tương đối mạnh bạo của tác giả
5 C ơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài:
Luận án được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu những tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa M ác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề Nhà nước và pháp luật; nghiên cứu các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
đề cập tới việc xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và hiệu quả pháp luật được trình bày trong các vãn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam VI, VII, VIII, các Nghị qnvết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, các bài viết, diễn vãn của các đổng chí lãnh đao Đảng và Nhà nước ta; nghiên cứu các văn bản pháp luật mà
Trang 7MfUt ị'M cA'it <i(íílCOựp v ,m 7CỌ& ★ ★ ★ Trang 5
Nhà nước ta đã ban hành những năm gần đây, những báo cáo, tờ trình, tổng kết của một số các cơ quan ở trung ương và địa phương về các hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật nghiên cứu các công trình, các bài viết của các tác giả trong và ngòai nước có liên quan tới vấn đề hiệu quả pháp luật
Các phương pháp chú yếu được sử dụng để nghiên cứu đề tài là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp
so sánh, phương pháp xã hội học và một số phương pháp khác Trong đó phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp được sử dụng nhiều hơn cả
6 Cơ cấu của luận án:
Với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài như đã trìnhbày, luận án được cơ cấu như sau:k *
- L ò i nói đầu
- Chương m ột: Một số vấn đề lý luận về hiệu quả pháp luật.
Trong chương này trên cơ sở trình bày một cách khái quát các quan
điểm , các cách tiếp cận khác nhau của các học giả trong và ngoài nước về hiệu quá pháp luật T ừ đó dưa ra sự phân tích, so sánh, lập luận và đưa ra một định nghĩa về hiệu quả pháp luật; tập trung phân tích làm rõ những chỉ số cơ bản cần xác định để đánh giá hiệu quả pháp luật Cũng trong chương một, luận án còn đi sâu phân tích, lập luân để làm rõ những yếu tố, điều kiện bảo đảm hiệu quả pháp luật
- Chương hai: Vấn đề nâng cao hiệu quả pháp luật ở nước ta hiện nay.
Chương này trước hết tác giả luận án đề cập một cách khái quát thực trạng hiệu quả của hệ thống pháp luật Việt Nam những năm gần đây Trên cơ
sớ phân tích, đánh giá tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và pháp lý của đất nước tác g iả nêu lên những biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả pháp luật nước ta
- Phần kết luận gồm những ý kiến đề xuất mạnh dạn, thiết thực của tác
giả vể vấn đề hiệu quả pháp luật ở nước ta
- Danh mục tài liệu tham khảo.
Trang 8N g u yễ n M inh Đ oan ★ ★ ★ M<H,Ì'Ỉ( , i<)( í7Ớ z< iU i?m jỵp ('< i() 1.c ụ t' ★ ★ ★ Trang 6
Như trên đã trình bày đây là một vấn đề khó, có nội dung rộng, khá
phức tạp và còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam, nhiều vấn đề vẫn đang tranh
luận, chưa đi đến thống nhất Vì lẽ đó, luận án chỉ là những phác thảo, tìm tòi bước đầu của tác giả về đề tài hiệu quả pháp luật, do đó những khiếm khuyết, hạn ch ế là không thổ tránh khỏi Vấn đề hiệu quả pháp luật cần được tiếp tục nghiên cứu cúng cố, hoàn thiên đầy đủ hơn trong tương lai
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự động viên giúp đỡ nhiệt tình của các đồng nghiệp trong và ngoài trường (luận án có sử dụng khá nhiều tư tưởng, quan điểm của các chuyên gia pháp lý trong và ngoài trường) đặc hiệt là sự giúp đỡ hướng dẫn nhiệt tình của Phó Giáo sư, Phó tiến sĩ Luật học Lê Minh Tâm đã giúp tôi nghiên cứu và hoàn thành bản luận án này Tôi
Trang 9N guyén M inh Đ o a n ★ ★ ★ JSM.c f i t,4<J( T ĩ ố v f j 1 0 7 M (' ★ ★ ★ Trang 1
CHƯƠNG MỐT
NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỀ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT
1.1 KHẢI NĨÊM HIÊU QUẢ PHÁP LUẢT
Pháp luật là một hiện tượng xã hội quan trọng và vô cùng phức tạp, do vậy có thể xem xét nó dưới nhiều góc độ và phương diện với những biếu hiện
cụ thể khác nhau M ột trong những vấn đề thời sự bao trùm có ý nghĩa rất lớn
về lý luận và về thực tiễn là vấn đề nâng cao hiệu quả pháp luật Có lẽ mọi người đều nhất trí và mong muốn rằng, pháp luật được đưa ra dù ở phạm vi và cấp độ nào cũng cần phải có hiệu quả và hiệu quả phải ở mức cao nhất Nhưng vấn đề được đặt ra là hiệu quả pháp luật, cần được nhận thức như thế nào? Hiệu quả pháp luật được xác định theo những chỉ số nào? khi nào pháp luật đạt hiệu quả cao nhất? và làm th ế nào để nâng cao hiệu quả pháp luật trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể hiện nay? Điều đó tưởng như đơn giản, nhưng trong khoa học và thực tiễn pháp lý lại là những vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp cần được làm sáng tỏ
Cũng như bản thân pháp luật nói chung, hiệu quả pháp luật là vấn đề đã được nhiều nhà lý luận và thực tiễn đề cập trong nhiều công trình lớn nhỏ khác nhau (đặc biệt là các tác giả nước ngoài), một số vấn để cơ bản đã được giải quyết, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề giải quyết chưa triệt để, thoả đáng và chưa có một quan niệm thống nhất về hiệu quả pháp luật trong lý luận cũng như trong công tác thực tiễn Cho đến nay vẫn còn những quan niệm khác nhau về hiệu quả pháp luật
M ột sô tác giả cho rằng hiệu quả pháp luật thể hiện ở sự đúng đắn, sự phù hợp của pháp luật(l> Theo các tác giả này thì pháp luật càng phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, các định hướng chính trị và các yếu tô khác bao nhiêu thì càng có hiệu quả cao bấy nhiêu
D A K erim on Tự d o , pháp luịil và pháp c h ế trong xã hội X H C N
N X B Nhà nước M a x co v a I 9 6 0 ti 143.
M R L êbcđ ép vể h iệu q u á tác d ộ n g cú a pháp luật X H C N lén c á c hiệu quá xã hội chú ngliĩii T ạp c h í N hà nước và pháp luật 1963 s ỏ I trang 26
Trang 10N g u yễ n M inh Đoan ★ ★ ★ mnẬ'H<Â'M C ĩ t k r (' 40 7ÔỌ(' ★ Trang X
Q uả là sự đúng dắn, phù hợp của pháp luật với các điều kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội là những điều kiện, tiền để rất quan trọng và cần thiết
để pháp luật có hiệu quả Một hệ thống pháp luật không phù hợp, được xây dựng một cách duy ý chí, trai với các quy luật khách quan thì khó có thể có hiệu quả được Nhưng đó mới chỉ là tiền đề, là điều kiện chứ chưa thể hoàn toàn ỉà hiệu quả pháp luật được Bởi lẽ có nhiều quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật) được ban hành rất chính xác, phù hợp nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau chúng đã không được thực hiện trên thực tế Trong những trường hợp như vậy nếu chỉ dựa vào sự phù hợp, sự đúng đắn của bản thân quy phạm pháp luật (văn bản pháp lu ậ t) thì chưa thể đánh giá được hiệu quả pháp lu ậ t
Hơn nữa nếu đánh giá hiệu quả pháp luật chỉ dừng lại ở bản thân pháp
luật thì những thiếu sót, những yếu kém trong hoạt động thực hiện, áp dụng pháp luật sẽ có thể được giải thích là do sự chưa hiệu quả của pháp luật (do pháp luật chưa đầy đủ, chưa phù hợp ) Và nếu như vậy thì dường như tất cả chỉ phụ thuộc vào luật (pháp luật ), do vậy, chỉ cần thay đôỉ luật (pháp luật) thì tất cả sẽ trở nên tốt đẹp Phải thừa nhận rằng sự yếu kém trong hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật một phần có nguyên nhân từ pháp luật, nhưng không phải là tất cả Cho CỈÙ có luật (pháp luật) tốt nhưng nếu hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật không tốt thì pháp luật cũng không thể có hiệu quả tốt được
Tuy nhiên cách tiếp cận hiệu quả pháp luật thể hiện ở việc xem xét bản thân pháp luật cũng có ý nghĩa rất lớn đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Nó cho phép khắc phục tình trạng không toàn diện, thiếu đồng bộ, mâu thuẫn, không phù hợp của hệ thống pháp luật khi xây dựng pháp luật, tạo ra những điều kiện thuận lợi để pháp luật phát huy vai trò của
m ình trong đời sống xã hội
Trên cơ sợ quan điểm trên một số tác giả còn chi tiết, cụ thể hơn, họ cho rằng hiệu quả pháp luật xuất phát từ hiệu quả của từng bộ phận cấu thành nên quy phạm pháp luật (giả định, quy định và chê tài)(l’ Trong thực tế hiệu quả pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều vào chất lượng, sự dầy đủ, sự thích hợp cúa những bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật như: bộ phận giả định đã
h L D T rulinkin và N Pliukulin giá trị xã hội và hiệu C|uã của quy phạm pháp luật N X B Kazan 1 9 7 7 Ir 27
Trang 11N g u yế n M inh Đoan ★ ★ ★ m tc Ị 'ít í4'H CĩỚ7'iUjVC3/ỵ/> ('< 10 1 (<W ★ ★ ★ Trang 9
d ự liệu được tới mức cao nhất những hoàn cảnh, điều kiện có Ihể xảy ra trong cuộc sống mà ở đó cần điều chỉnh hành vi của con người bằng pháp luật; bộ phận quy định đề ru những cách xử sự phù hợp và được trình bày rõ ràng, chính xác, dễ hiểu và có tính khả thi cao; bộ phận chế tài ncu ra được các biện pháp tác động phù hợp đảm bảo cho mệnh lệnh của N hà nước ớ phần quy định dược thực hiện chính xác và triệt để.v.v Tuy nhiên từng bộ phận của quy phạm pháp luật lại không thể tồn tại và tự tác động riêng rẽ Chúng chỉ
có thể phát huy được tác dụng của mình khi liên kết với các bộ phận khác tạo lập nên quy phạm pháp luật Do vậy chỉ có thể nói tới hiệu quả của quy phạm pháp luật nói chung chứ không thể nói tới hiệu quả tìmg bộ phận của quy phạm pháp luật được
M ột số tác giả khác lại tiếp cận hiệu quả pháp luật từ lĩnh vực áp dụng pháp luật Theo họ hiệu quả pháp luật là mức độ thực tế đạt được những mục đích xã hội có ích mà vì chúng, pháp luật đã được ban hành (l) Cũng theo họ thì có nhiều quy phạm pháp luật tốt, nhưng khi áp dụng lại không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp, ngược lại có những quy phạm pháp luật ”chưa tốt lắm ” nhưng do có sự áp dụng pháp luật tốt nên vẫn đạt hiệu quả cao Với việc xem xét hiệu quả pháp luật thông qua hoạt động áp dụng pháp luật cũng có những hạn ch ế nhất định, bởi cách tiếp cận này chỉ có thể sử dụng đối với những luật đang có hiệu lực thực tế (đang tác động vào các quan hệ xã hội) Cách xác định hiệu quả pháp luật như vậy cũng sẽ không bao quát hết được tính hiệu quả của bản thân pháp luật Đạc biệt là khi luật có những khiếm khuyết, sai sót nhất định, nếu những khiếm khuyết và thiếu sót ấy không được khắc phục thì chúng sẽ làm giảm đi tính hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật
Có quan điểm lại tiếp cận hiệu quả pháp luật từ góc độ kinh t ế 2) Theo
họ hiệu quả pháp luật là sự đạt được mục đích đề ra khi ban hành quy phạm pháp luật với những chi phí ít nhất (bao gồm những chi phí về vật chất, về thời gian, về chính trị, đạo đức ) Những người theo quan điểm này còn đưa
ra công thức để đánh giá hiệu quả pháp luật như sau:
1,1 A M Larin Luật lô lụng hình sự x ỏ viết và vẩn d ề hiệu quá củ a I1Ó.NXB khoa h ọ c I 9 7 y li' 213.
À E P a x co v và L.x Iavich H iệu quả tác đ ộ n g củ a quy phạm pháp luật
N X B N hà nước và pháp luật 1970 lr 41.
Trang 12N guyễn M inh Đ oan ★ ★ ★ MfUci'H < 4>i( C I(h 'M íilC ìl'/) ('< 40 7f,ỌfJ ★ ★ ★ Trang 10
A - B
—-K
A là kết quả tác động của quy phạm pháp luật
B là trạng thái ban đầu khi chưa có sự tác động của pháp luật
K là những chi phí cho sự tiến hành tác động pháp luật
Công thức trên chưa nêu lên được mục đích cần đạt được do vậy công thức được xem như chưa đầy đủ Hơn nữa công thức cũng chưa d ự liệu tới trường họp B> A khi đó c sẽ bằng 0 hoặc c < 0 dẫn đến sự phản tác dụng của quy phạm pháp luật
Hiệu quả hoạt động trong bất kỳ một lĩnh vực nào cũng phải tính đến yếu tố tiết kiệm, nghĩa là, sự tương quan giữa lợi ích thu được với những chi phí thực tế m à xã hội đã bỏ ra để đạt được những lợi ích đó Do vậy tính tiết kiệm, tính kinh tế trong điều chỉnh pháp luật rất cần thiết Tuy nhiên vấn đề trên chỉ thể hiện tính hữu ích, tính kinh tế trong điều chỉnh pháp luật chứ chưa thể hiện đầy đủ hiệu quả pháp luật Chưa kể đến là nếu quan niệm như vậy thì
sẽ khó có thể đánh giá được hiệu quả pháp luật trong những trường hợp không hạch toán được chính xác, cụ thể những chi phí cho hoạt động điều chỉnh pháp luật
M ột quan điểm khác lại cho rằng hiệu quả pháp luật chỉ là khả năng của pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội theo những hướng đã được xác định, hiệu quả pháp luật, theo quan điểm này là “ khả năng của pháp luật có thê tác động được vào các quan hộ xã hội và ý thức xã hội để điều chỉnh các quan hệ đó với những tổn thất vật chất và tinh thần ít nhất và mang lại kết quả theo hướng cần điều chỉnh và cần được xác định của pháp luật” (l)
Theo chúng tôi thì hiệu quả pháp luật không chỉ là những khả năng tác động của pháp luật là một thuộc tính của quá trình điều chỉnh pháp luật
Đ à o Trí ứ c N hững vấn d ề lý luận cơ bán v ề pháp luật N X lì - K H XH Hà nội l l>93 II 258
Trang 13JỉfH ị'i( 4 'it m fcj 'H (j 7tOỘ~f) (J, io 7Í.OO ★ ★ ★ Trưng I I
không những định tính được mà còn có thể định lượng được (đo đếm được về
s ố lượng, chất lượng), mặc dù không phái trường hợp nào cũng xác định được (đo đếm được)
Vậy hiệu quả pháp luật là gì?
Theo chúng tôi để quan niệm đầy đủ về hiệu quả pháp luật cần phải có cách tiếp cận trên quan điểm toàn diện, nghĩa là, cần xem xét không chỉ bản thân pháp luật, mà cả đối tượng tác động của nó trong những phạm vi không gian, thời gian với những số lượng và chất lượng nhất định
Trước hết phải thấy rằng, hiệu quả là một thuộc tính cúa pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật Vì vậy, tìm hiểu hiệu quả pháp luật “ phải tìm hiểu ngay trong bản thân pháp luật”<2) Angghen đã khẳng định: con người “ không làm cái gì m à không có ý định trước, không có mục đích mong muốn trước”(3) Pháp luật ỉà một hiện tượng xã hội, một giá trị xã hội, một phương tiện quản ]ý đời sống xã hội với những thuộc tính và những đòi hỏi nhất định Pháp luật ra đời và tồn tại nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ các mục đích đa dạng mà giai cấp thống trị và xã hội đặt ra Chính vì vậy khi ban hành bất kỳ một văn bản pháp luật ( quy phạm pháp luật) nào, Nhà nước cũng xác định rõ là ban hành chúng nhằm mục đích gì? Kết quả cần đạt được sẽ
n hư th ế nào? bao nhiêu? ví dụ: Bộ luật Dân sự nước ta ban hành năm 1996
có mục đích cơ bản là: “bảo vộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” góp phần bảo đảm cuộc sống cộng đồng ổn định, lành mạnh, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hoá dân tộc hình thành trong lịch sử lâu dài xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt N am , góp phần xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ
c h ế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
'' Đ à o T ri Ú c Sách dã dẫn tr 25 5
M ác A n g g h e n toàn tập lập 2 ] N X B liến hộ M ock ha 1980 tr 3 0 6
Trang 14MỊU,ị'M c ứ u Ĩ T Ổ & ( \ Â O 2CỌ(' ★ ★ ★ Trưng 12
Hoặc điều 1 17 Bộ luật hình sự nước ta quy định về tội vu khống thì có mục đích là bảo vệ nhân phẩm, danh d ự và quyền lợi của công dân
Như vậy, đánh giá hiệu quả pháp luật phải bắt đầu từ việc xem xét tìm hiểu các mục đích trực tiếp của pháp luật nói chung và từng quy phạm pháp luật nói riêng, cái kết quả m ong m uốn đạt được khi phải nhờ cậy vào pháp luật Tuy nhiên chỉ tìm hiểu mục đích m ong m uốn đạt được khi ban hành pháp luật thì chưa thể đánh giá được hiệu quả thật sự của pháp luật, bởi lẽ pháp luật chỉ có tác dụng, có giá trị thiết thực khi nó tác động (điều chỉnh) lên các quan hệ xã hội (các quan hệ xã hội là đối tượng tác động của pháp luật)
Do vậy, để đánh giá hiệu quả pháp luật cần phải xem xét tới đối tượng điều chỉnh pháp luật (môi trường tác động của pháp luật), nghĩa là, xem xét trạng thái, những kết quả, những thay đổi, thiệt hại của các quan h ệ xã hội do sự tác động của pháp luật
Nếu kết quả thu được trong thực tế do sự tác động của quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật) phù hợp với những m ục đích xã hội được đặt ra cho
nó thì quy phạm pháp luật (vãn bản pháp luật) được xem là có hiệu quả Mức
độ hiệu quả của pháp luật có thể cao, có thể thấp, có thể bằng không (khi mà kết quả khẳng định và kết quả phủ định bằng nhau), hoặc cũng có thể là
“phản hiệu quả “ (hiệu quả âm) khi m à kết quả thu được trái với m ục đích đặt ra) Nói m ột cách khái quát thì kết quả thu được (kết quả khẳng định) trong thực tế càng lớn thì quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật) càng có hiệu quả cao và ngược lại, kết quả đó càng nhỏ thì hiệu quả pháp luật càng thấp Ngoài những yếu tố đ ã nêu trcn trong khái niệm hiệu quả pháp luật còn bao hàm cả những chỉ số khác nữa như tính hữu ích, tính kinh tế củ a quá trình điều chỉnh pháp luật, không thể nói là pháp luật có hiệu quả cao khi những chi phí về vật chất, tinh thần, thời gian cho việc đạt được mục đích đề ra quá lớn so với những gì đat đươc trong quá trình điều chỉnh pháp luât Ví du: sẽ là không hiệu quả nếu chúng ta phải huy động m ột lực lượngìcanh sát chỉ để tìm ra một người đã vượt đèn đỏ ở ngã tư đường phố đ ể xứ phạt hành chính đối với anh
Pháp luật sẽ được coi là có hiệu quả cao khi những chi phí cho quá trình điều clìỉnli pháp luật thấp nhất, nhưng kết quả đạt dược trong thực tế lại
Trang 15N guyễn M inh Đ oan ★ ★ ★ JXM Ậ'i( < 4w ~JÓ7Ị /èuịvcniỵi) ( \ io 7f’ỢV ★ ★ ★ Trang 13
cao nhất Xu hướng phát triển là giảm chi phí (chi phí ớ mức thấp nhất) tăng kết quá thực tế (đạt được kết quả thực tế ở mức cao nhất)
Việc xem xét hiệu quả pháp luật cần được giới hạn trong những phạm
vi không gian, thời gian với những sô lượng và chất lượng nhất định
- v ể không gian, phải giới hạn sự xem xét đánh giá ở từng phạm vi lãnh thố nhất định (ở mỗi địa phương, mỗi đơn vị lãnh thổ hay ở trên phạm vi
cả nước ) Khi này chúng ta sẽ có khái niệm hiệu quả pháp iuật ở tỉnh A, ở vùng B, ở cơ quan X hay ở phạm vi cả nước nói chung
- Về thời gian, phải giới hạn sự xem xét đánh giá hiệu quả pháp luật ở
mỗi khoảng thời gian nhất định Việc xác định khoảng thời gian dài hay ngắn
là phụ thuộc vào chủ thể đánh giá Tuy nhiên khoảng thời gian xác định để đánh giá hiệu quả pháp luật đòi hỏi hệ thống pháp luật phải tương đối ổn định T hông thường thời gian đánh giá được giới hạn bằng những thời điểm phát triển có tính chất bước ngoặt của đời sống chính trị xã hội hoặc pháp luật V í dụ việc đánh giá hiệu quả pháp luật ở nước ta nói chung thường được chia ra các thời kỳ (thời kỳ 1960 đến 1975 hay 1976 đến 1980, 1980 đến 1986 )
V iệc đánh giá hiệu quả pháp luật có thể được thực hiện đối với m ột quy phạm pháp luật, một nhóm quy phạm pháp luật, một chế định pháp luật, một ngành luật, nhiều ngành luật hoặc cả hệ thống pháp luật Với cách xác định
về số lượng như vậy chúng ta có thể có khái niệm hiệu quả của quy phạm pháp luật, hiệu quả của ngành luật, hiệu quả của văn bản pháp luật, hiệu quả của pháp luật (hệ thống pháp luật) Đánh giá hiệu quả pháp luật phải gắn với các kết quả về kinh tế, chính trị, xã hội m à pháp luật mang lại Nói cách khác pháp luật có hiệu quả phải là pháp luật phục vụ cho những mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
N hư vậy tronẹ khái niệm hiệu quả pháp luật bao hàm tất cả những gì phản ánh sự tác động cao nhất, tốt nhất của pháp luật vào các quan hệ xã hội, phản ánh sự hiện thực hoá những giá trị của pháp luật mà nhà làm luật dự tính
Trang 16N g u yễ n M inh Đ o a n ★ ★ * J ỉ f f / , ị 'i i < ‘i<n r j ( b P c m -7VỌ0 ★ ★ ★ Trung 14
Từ tất cả những phân tích trên có thể đưa ra một định nghĩa về hiệu quả pháp luật như sau:
H iệu quả p h á p luật đó là kết quả cụ thế đạt được trong quá trình
p h á p luật tác động vào các quan hệ x ã hội nhằm đạt được những m ục đích
và yêu cầu đặt ra.
Với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội mỗi quy phạm pháp luật đều có tác dụng đối với những hành vi nhất định của các chủ thể xác định Nhưng đồng thời nó cũng có tác động về mặt tâm lý đối với những chủ thể không liên quan trực tiếp (những tổ chức và cá nhân không được nêu tên ở bộ phận giả định của quy phạm pháp luật) Như vậy quá trình điều chỉnh pháp luật còn đạt được cả những mục đích xã hội rộng lớn m à Nhà làm luật không trực tiếp đặt ra cho quy phạm pháp luật Chính vì lẽ đó mà trong khoa học pháp lý còn có sự phân biệt khái niệm hiệu quả pháp luật và khái niệm hiệu quả xã hội của pháp luật
Hiệu quả pháp luật chỉ giới hạn phạm vi xem xét sự tác động của pháp luật lên hành vi củ a các chủ thể mà quy phạm pháp luật đã nói tới ở bộ phận giả định cùng những đòi hỏi nhất định đối với họ được nêu ra trong quy phạm pháp l u ậ t
H iệu quả xã hội của pháp luật được xem xét ở phạm vi rộng hơn Phạm
vi đánh giá xem xét của nó không chỉ ở sự tác động của pháp luât lên hành vi của các chủ thể m à quy phạm pháp luật đã trực tiếp nói tới ở bộ phận giả định của quy phạm pháp luật m à còn xem xét tới cả những hành vi của các chủ thể
mà quy phạm pháp luật không trực tiếp điều chỉnh, nghĩa là, toàn bộ tất cả những tác động, những ảnh hưởng của pháp luật trong đời sống xã hội Như vậy khái niệm hiệu quả xã hội của pháp luật là một khái niệm rộng hơn, bao trùm hơn khái niệm hiệu quả pháp luật
Tóm lại, hiệu quả pháp luật là một vấn đề cực kỳ phức tạp có nhiều cách xem xét ở những góc độ cấp độ và phạm vi khác nhau Việc xem xét ỏ' góc độ nào, cấp độ và phạm vi nào là phụ thuộc vào mục đích của nhà nghiên cứu Ớ mỗi cách tiếp cận như vậy ta có thể đưa ra một cách đánh giá, một khái niệm nhất định về hiệu quả pháp luật và tổng hợp tất cả các cách đánh
Trang 17N g u yề n M inh Đ oan ★ ★ ★ M < U cẬ 'H c4<i( V ( k ĩ ' ì u ì k q ợ p V e t o i r ọ v ★ ★ ★ Trang 15
giá, xem xét đó chúng ta sẽ có một bức tranh toàn cảnh về hiệu quả pháp luật Và nhiệm vụ của chúng ta là làm sao pháp luật phát huy được tới mức cao nhất những giá trị, vai trò to lớn của nó trong đời sống xã hội để phục vụ tốt nhất hạnh phúc của con người
1.2 C ÁC CHỈ SỔ ĐỂ ĐẢNH GIẢ HĨẺU QUẢ PHÁP LUẢT
Để đánh giá được hiệu quả pháp luật cần có những chỉ số nhất định Những chỉ số này được xem là thước đo đánh giá hiệu quả cao, thấp của pháp luật Chúng chỉ rõ những kết quả thực tế của quá trình điều chỉnh pháp luật
1.2.1 Những m uc đích của pháp luảt
Từ cách tiếp cận về hiệu quả pháp luật như trên cho thấy để đánh giá được hiệu quả pháp luật trước hết phải xác đinh đươc muc đích cần đạt được khi ban hành pháp luật Trong thực tế thuật ngữ mục đích và thuật ngữ nhiệm
vụ được dùng với cùng m ột nghĩa V í dụ: Nhiệm vụ (mục đích) đặt ra cho Bộ luật hình sự là: “ bảo vệ c h ế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ” Còn nhiệm vụ của Luật bảo
vệ môi trường lại là “nâng cao hiệu lực quản iý Nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mỗi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần bảo vệ m ôi trường khu vực và toàn cầu” Tuy nhiên giữa mục đích và nhiệm vụ đôi khi cũng có nội dung khác nhau: Nhiệm vụ thể hiện nội dung hoạt động cơ bản của công việc còn mục đích là kết quả mong đợi, là cái ta
m ong m uốn đạt được Nhiệm vụ là những gì đối với nó ta cần phải làm Từ mục đích m à đặt ra nhiệm vụ, còn việc thực hiện nhiệm vụ dẫn tới mục đích Mặc dù có thể xảy ra là nhiệm vụ công việc đã thực hiện nhưng mục đích vẫn không đạt được Đó là trường hợp hiệu quả âm của hoạt động Tuy nhiên mục đích cần đạt được đặt ra cho pháp luật ỏ' mỗi cấp độ và phạm vi nhận định cũng khác nhau.Có mục đích (nhiệm vụ) chung được đật ra cho cả hệ thống
Trang 18N guyễn M inh Đ oan ★ ★ ★ J X U ii'M < 4 'H e j r k i ( >, no 7C>ọe ★ ★ ★ Trang 16
pháp luật- bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị, duy trì sự tồn tại và phát triển của cá xã hội, thực hiện sự công bằng xã hội và đưa lại hạnh phúc cho con người, đồng thời cũng có mục đích được đặt ra cho mỗi ngành luật, mỗi chê định pháp luật, mỗi nhóm quy phạm pháp luật và thậm chí cho mỗi quy phạm pháp luật Ớ đây cũng cần phải thấy rằng mục đích được đặt ra cho mỗi ngành luật, mỏi ch ế định pháp luật, mỗi quy phạm pháp luật chỉ là sự chi tiết hoá cụ thể hoá mục đích chung của cả hệ thống pháp luật Do vậy chúng không được mâu thuẫn, không được loại trừ nhau, nếu tập hợp tất cả các mục đích ở các cấp độ và phạm vi khác nhau chúng ta sẽ có được một “cây mục đích”
Như trên đã nêu mỗi quy phạm pháp luật, mỗi chế định pháp luật, mỗi ngành luật đều có mục đích, chức nãng riêng, được diễn đạt theo những cách thức nhất định Nhưng chúng đều là những yếu tố, những bộ phận cấu thành tạo nên các hệ thống lớn nhỏ khác nhau (mỗi ch ế định pháp luật, mỗi ngành luật được coi là một hệ thống không hoàn chỉnh, cả pháp luật là m ột hệ thống) Do vậy bất kỳ một quy phạm pháp luật, một ch ế định pháp luật nào cũng chỉ có thể được đánh giá đúng khi xem xét nó trong các mối quan hệ với các yếu tố khác Đ ó có thể là những mối quan hệ đối với những yếu tố khác ngang hàng trong hệ thống đó (giữa các quy phạm pháp luật trong cùng m ột chế định pháp luật, giữa các ch ế định pháp luật trong cùng một ngành luật )
và cũng có thể là những mối quan hệ theo chiều dọc: đối với những yếu tố lớn hơn như đối với các nguyên tắc của ngành luật đó hoặc những nguyên tắc của
cả hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa
Cần chú ý là ở mỗi giai đoạn của sự phát triển xã hội mục đích đ ặt ra cho mỗi quy phạm pháp ỉuật có thể có sự thay đổi ít nhiều Những phương tiện để đạt tới mục đích cũng rất đa dạng, nhiều khi những mục đích ở mức
độ thấp, ở phạm vi hẹp lại là phương tiện để đạt được mục đích ở mức đ ộ cao hơn, ở phạm vi rộng hơn Do vậy, muốn đạt được mục đích (nhiệm vụ) chung của cả hệ thống pháp luật thì phải thực hiện được mục đích (nhiệm vụ) của từng ngành luật, từng chế định pháp luật, từng nhóm quy phạm pháp luật và từng quy phạm pháp luật cụ thổ
Khi xác định mục đích của quy phạm pháp luật có thể gặp những quy phạm pháp luật có nhiều mục đích khác nhau; những quy phạm pháp luật có
Trang 19Nguyễn Minh Đoan ★ ★ ★ M!UcẢ'H cÂ<H r j ( h 't u ị i c i ị / p V cM 7CỌV ★ ★ ★ T n n iỊi 17
m ục đích lương đối riêng hiệt nhưng cũng có những quy phạm pháp luật không có mục đích riêng biệt mà mục đích của chúng chỉ có thể được xác định bằng mục đích chung của cả nhóm quy phạm pháp luật hoặc của cả ch ế định pháp luật Trường hợp nêu trên thường gặp ớ các quy phạm pháp luật tố tụng Do vậy, nhiều khi không thể đánh giá được hiệu quả của một quy phạm pháp luật cụ thê nào đó mà chỉ có thể đánh giá được hiệu quả của cả nhóm quy phạm pháp luật hoặc của cả ch ế định pháp luật
Do tồn tại nhiều mục đích khác nhau ở những phạm vi và cấp độ khác nhau nên việc nghiên cứu hiệu quả pháp luật cần được đặt ra ở những cấp độ
và phạm vi khác nhau: hiệu quả của từng quy phạm pháp luật, hiệu quả của từng văn bản pháp luật, hiệu quả của từng chế định pháp luạt, hiệu quả của từng ngành luật, nhiều ngành luật hoặc hiệu quả của cả hệ thống pháp luật Cũng cần chú ý là hiệu quả của mỗi ché định pháp luật, mỗi ngành luật hay
cả hệ thống pháp luật không chỉ là tổng số giản đơn hiệu quả của các yếu tố cấu thành riêng rẽ mà là một hiện tượng pháp lý đặc biệt, chúng phụ thuộc bởi những mối quan hệ bên trong mỗi hệ thống và cả những mối liên hộ bên ngoài với những bộ phận (hệ thống) ngang hàng hoặc những bộ phận (hệ thống) lớn hơn Điều đó cho thấy hiệu quả pháp luật phụ thuộc vào sự tác động đồng bộ, có hiệu quả của tất cả các ngành luật, các ch ế định pháp luật, các quy phạm pháp luật ví dụ: luật hình sự không thể đạt được hiộu quả cao nếu nằm ngoài quan hệ với các quy phạm của luật tố tụng hình sự, L uật tổ chức toà án, Luật tổ chức Viện kiếm sát, nếu thiếu sự tổ chức cẩn thiết của cơ quan toà án, các cơ quan điều tra, thiếu sự thực thi công việc có hiệu quả của các nhà điều tra, các giám định viên Như vậy,một quy phạm pháp luật nào
đó, m ột c h ế định pháp luật nào đó nếu không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp sẽ có thể làm giảm tính hiệu quả của các quy phạm pháp luật khác chế định pháp luật khác , nhưng cũng có thể không làm mất đi tính hiệu quả của
cả ngành luật hoặc của cả hệ thống pháp luật tuỳ theo vị trí, vai trò tính chất
và các mối liên hệ của nó với các yếu tố, các bộ phận khác của hệ thống Cũng có thể xảy ra một quy phạm pháp luật nào đó, mộl ch ế định pháp luật nào đó nếu tồn tại độc lập, tác động riêng rẽ thì có thể có hiệu quả cao nhưng trong tổng thể cùng với các quy phạm pháp luật khác thì hiệu quả lại có thể bị giảm đi V í dụ: Điểu 5 Luật đất đui năm 1988 qui định “ Nghiêm cấm việc
m ua, bún, lấn chiếm đất đai, ” Điều này rất phù hợp bởi theo Hiến pháp
/ A /i ' I í
Trang 20Nguyển Minh Đoan MỈU, 4> h 4 'ii C7Ó-7 W í j m / ỵ p V c i o 7CỌ& ★ ★ ★ T r t / n g IS
1980 thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản ]ý, Nhà nước chỉ giao đất cho các tổ chức và cá nhân đ ể sử dụng
Còn Điều 3 cũng của luật đất đai trên thì quy định “ N hà nước bảo đảm cho người sử dụng đất được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên dất được giao, k ể cả quyền chuyển, nhượng bán thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao khi không còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác
sử dụng ” Điều này cũng rất phù hợp vì nó bảo vệ được lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
N hư trên đã trình bày từng điều luật thì phù hợp, nhưng xét trong tổng thể tác dụng của cả hai điều thì hiệu quả của Điều 5 sẽ thấp bởi lẽ nhu cầu sử dụng, chuyển, nhượng đất đai là tất yếu và có thật trong cuộc sống và những tài sản (như cây lâu năm, nhà ở ) chỉ có giá trị cao khi chúng gắn liền với đất do vậy việc mua, bán đất trên thực tế được diễn ra dưới hình thức hợp pháp là m ua, bán, chuyển nhượng, những tài sản trên đất N hư vậy, N hà nước không những không ngăn cấm được việc m ua, bán đất m à còn không thu được th u ế do việc mua, bán đất dưới những hình thức như đã nêu trên Chưa
kể là nếu việc mua bán đất bị phát hiện thì người m ua, bán đất chỉ bị xử phạt hành chính bằng những hình thức như: cảnh cáo hoặc tịch thu toàn bộ số tiền
m ua bán đất
1.2.2 Những kết quá thưc tẽ thu đươc do sư tác đỏng của pháp luât
Chỉ số thứ hai cần xác định khi đánh giá hiệu quả pháp luật là kết quả thực tế đạt được do tác động của pháp luật Đ ây là chỉ số phức tạp nhất khó xác định nhất bởi kết quả thực tế thu được CỈO tác động của pháp luật rất đa dạng và rất khó đánh giá
V iệc xác định kết quả thực tế đạt được do tác động của pháp luật căn
cứ vào trạng thái của các quan hệ xã hội m à pháp luật điều chỉnh ( trạng thái ban đầu của các quan hệ xã hội trứơc khi pháp luật (qui phạm pháp luật) đang xem xét điều chỉnh và trạng thái các quan hệ xã hội sau khi pháp luật (quy phạm pháp luật) điều chỉnh hoặc trạng thái các quan hệ xã hội trước khi sửa đổi, huỷ bỏ pháp luật (quy phạm pháp luật ) đó: Iihững gì đạt được, những gì chưa đạt được, những gì khiếm khuyết, những gì phái sinh do việc điều chỉnh
Trang 21Nguyẻn Minh Đoan j&Ucị<H < 4< h < H íjicoợ/> Vt l a 1N W ★ ★ ★ T r a n g 19
pháp luật ) Những thay đổi về trạng thái của các quan hệ xã hội được thể hiện ở hành vi và ý thức pháp luật của các chủ thể pháp luật; ở sô lượng của cải vật chất và tinh thần được tạo ra nhờ sự tác động của pháp luật; tình trạng những giá trị và lợi ích mà pháp luật bảo vệ được; mức độ pháp chế trong đời sống xã hội; những hiện lượng và quá trình khác chịu ảnh hưởng của pháp luật
Cần chú ý là tác động lên các quan hệ xã hội không chỉ có pháp luật
m à còn có cả những yếu tố khác như kinh tế, chính trị, đạo đức, tôn giáo Những yếu tố đó tác động lên các quan hệ xã hội có thể theo hướng tích cực
và cũng có thể theo hướng tiêu cực Do vậy kết quả thu được trong thực tế là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau (kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo ) cùng tác động Đôi khi có những kết quả thu được hoàn toàn không có sự tác động của pháp luật (giữa kết quả thực tế thu được và sự tác dộng của pháp luật không có quan hệ nhân quả hoặc do quy phạm pháp luật
đã không được thực hiện trong thực tế) Những trường hợp như vậy không thể nói tới hiệu quả pháp luật được
Nếu mục đích đạt được do tác động của pháp luật thì pháp luật có hiệu quả (kết quả thực tế thu được phù hợp với mục đích đặt ra khi ban hành quy phạm pháp luật) Hiệu quả cao hay thấp là phụ thuộc vào số lượng, chấtlượng
và phạm vi những mục đích đã đạt được trong thực tế
Khi xem xét kết quả thực tế đạt được do tác động của pháp luật cần tính tới cả những kết quả tốt (khẳng định) và cả những kết quả không tốt (phủ định) nếu có Thông thường thì các quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật) đều có những tác dụng tốt và cũng có những hạn ch ế nhất định Ví dụ: Điều
44 Bộ luật hình sự nước ta quy định “ khi xử phạt tù không quá năm năm , căn
cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ nếu xét không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thơi gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm ” Án treo là biện pháp m iễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, thể hiện tính nhân đạo của luật hình sự Việt nam , có tác dụng khuyến khích người bị kết áíi với sự giúp đỡ của xã hội tự lao động cải tạo để trở thành người lương thiện Tuy nhiên trong thực tế thì
“án treo” là biện pháp mà các hội đồng xét xử thường dùng dể “giúp” các phạm nhân trốn tránh hình phạt tù, gây ra nhiều bấl bình trong nhân dân
Trang 22N g u yễ n M inh Đ o a n ★ ★ ★ m uẬ tu< 4'i< vốn't<(}7C0Ậ'i> ( A M '>(:()(> ★ ★ ★ Trang 2 0
T hông thường thì nhà làm luật d ự liệu được trước những kết quả sẽ thu được trong thực tế, nhưng cũng có những trường hợp không dự kiến trước được dẫn tới những kết quả không ngờ Kết quá không ngờ có thể tốt hơn, nhiều hơn so với inục đích đặt ra ban đầu, nhưng cũng có thể xấu hơn, ít hơn
so với d ự kiến ban đầu Thậm trí có trường hợp kết quả thực tế còn trái ngược
so với d ự tính của Iilià làm luật
Kết quả đạt được trong thực tế do tác động của pháp luật luôn thay đổi theo không gian và thời gian, nghĩa là, kết quả thực tế thu được ở mỗi vùng lãnh thổ khác nhau có thể khác nhau (quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật)
có thể tác động tốt ở khu vực này nhưng lại tác động không tốt ở khu vực khác, điều này phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện và đặc điểm của từng vùng lãnh thổ); kết quả thực tế thu được ở mỗi thời gian khác nhau có thể cũng khác nhau (quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật) có thể tác động tốt ở thời gian này nhưng lại không tốt ở thời gian khác Thông thường thì tác dụng của quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật) sẽ giảm dần theo thời gian Khi tác dụng của văn bản giảm đi đến một mức nào đó nó cần phải được sửa đổi hoặc huỷ bỏ cho phù hợp với sự thay đổi của các quan hệ xã hội)
Hiệu quả củ a các quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật) khác nhau có thể sẽ khác nhau, hiệu quả của các c h ế định pháp luật khác nhau trong m ột ngành luật có thể cũng khác nhau, tương tự như vậy, hiệu quả của các ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luật cũng có thể khác nhau V ấn đề m à chúng ta quan tâm là cả hệ thống pháp luật phải có hiệu quả và hiệu q u ả đó
có được phụ thuộc vào hiệu quả của mỗi yếu tố, mỗi bộ phận tạo nên hệ thống pháp luật
1.2.3 Tính kinh té và tính hữu ích của điều chỉnh pháp luât
N goài việc xác định m ục đích ban hành pháp luật và kết quả tác động trong thực tế của pháp luật để đánh giá chính xác, đầy đủ hiệu quả pháp luật còn phải xác định theo chỉ sô về tính kinh tế, tính hữu ích trong việc điều chính pháp luật Có thể nói hiệu quả pháp luật bao hàm không chỉ việc giải quyết những mục đích, nhiệm vụ đặt ra trong thực tế mà còn là giải quyết chúng vói những chi phí tối thiểu vế vật chất, vé số lượng người tham gia, về (hời gian tiến hành và những chi phí khác có liên quan lới những hoạt động
Trang 23N guyễn M inh Đoan ★ ★ ★ M 'H ,ị'»,4>n oốW'HtjK>r)ị.q> 0 ,1 0 7M (' ★ ★ ★ Tran, ự 2 1
pháp lý ở tất cả các giai đoạn của quá trình điều chỉnh pháp luật Tất cả những chi phí, phí tổn cho việc điều chỉnh pháp luật đều cần phải ở mức thấp nhất nhưng phải bảo đảm cho pháp luật phát huy tác dụng ở mức cao nhất
Khi ban hành bất kỳ một văn bản (quy phạm) pháp luật nào Nhà nước cũng cần phải tính toán đến những chi phí về vật chất, những ảnh hưởng về chính trị, về đạo đức đối với việc ban hành văn bản (quy phạm) đó (từ việc khảo sát, soạn thảo, thảo luận, thông qua, công bố ) những chi phí bảo đảm cho việc thực hiện văn bản (quy phạm) pháp luật đó (phổ biến, tuyên truyền, tập huấn, hoạt động tổ chức, số ỉượng người tham gia, các phương tiện kỹ thuật, vật chất, thời gian thực hiện ) và những chi phí khác bảo đảm cho văn bản (quy phạm) được thực hiện đầy đủ, chính xác Đó là những chi phí của Nhà nước, các cơ quan Nhà nước và cũng có thể là những chi phí của những
tổ chức xã hội, các tập thể và của các cá nhân công dân, các chủ thể pháp luật khác Đó cũng có thể là những hao phí, những tổn hại do chính sự tác động của các quy phạm pháp luật gây ra (tính hai mặt trong tác động của quy phạm pháp luât)
N hư vậy là cần phải hạch toán trong quá trình điều chỉnh pháp luật, trong mọi trưòng hợp khi ban hành, sửa đổi, huỷ bỏ hay thực hiện bất kỳ một quy định pháp luật nào đó (một văn bản pháp luật) đều cần phải tính toán được trước những lợi ích mà nó mang lại, những chi phí cho hoạt động đó và
cả những tác hại, những ảnh hưởng không tốt có thể có do việc ban hành, sửa đổi hay huỷ bỏ quy định đó để kịp thời có những biện pháp ngăn ngừa và khắc phục Trong trường hợp không thể ngăn ngừa khắc phục được thì phải quán triệt nguyên tắc là việc ban hành sửa đổi, huỷ bỏ quy định pháp luật đó phải có lợi nhiều hơn là có hại thì mới lên làm
Tính tiết kiệm trong điều chỉnh pháp luật còn đòi hỏi phải lựa chọn những phương án ít tốn kém nhất Ví dụ: nếu để xoá bỏ một loại hiện tượng
hành chính cũng được thì nên sử dụng luật hành chính, vì sử dụng luật hành chính sẽ ÍI tốn kém hơn và không gây nên hậu quả nặng nề cho người bị xử lý
Trang 24N g u yễ n M inh Đ oan ★ ★ ★ JXH<Ậ'H < 4<u c j(k j 'iU jy c tfi/p Vc 10 1 M V ★ ★ ★ Ti ang 22
Việc hạch toán trong điều chỉnh pháp luật còn cho phép dự báo được tính khả thi củ a văn bản (quy phạm) pháp luật trong thực tế Nó cho phép Nhà nước có nên hay không nên ban hành văn bán (quy phạm) pháp luật nào đó hoặc lựa chọn thời điểm ban hành khi nào thì phù hợp nhất, thuận lợi nhất và đạt hiệu quả cao nhất
Tính kinh tế trong điều chỉnh pháp luật có liên quan chặt chẽ tới tính hữu ích của quá trình điều chỉnh pháp luật Bởi lẽ các quy phạm pháp luật được ban hành dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội có thể có ích (mang lại những lợi ích nhất định vể vật chất, tinh thần cho xã hội, Nhà nước hoặc cá nhân công dân) và cũng có thể có những quy phạm pháp luật không có ích, thậm ch í còn có hại nếu như nó được thực hiện trên thực tế ví dụ: những quy định cúa pháp luật về trình tự, thủ tục, đặc biệt là thủ tục hành chính không phải khi nào cũng có ích m à nhiều khi chúng còn cản trở việc thực hiện có hiệu quả các luật nội dung, gây ra sự phiền hà, ách tắc, tốn kém không cần thiết Trong những trường hợp đó thì các quy định như vậy được xem như không có hiệu quả Bởi lẽ điều chỉnh pháp luật là một hoạt động có định hướng, có m ục đích và mục đích cao nhất là duy trì ổn định xã hội, đưa lại lợi ích, hạnh phúc cho con người, tạo điều kiện cho xã hội phát triển
Như vậy, nói tới tính hữu ích của điều chỉnh pháp luật là nới tới những giá trị thật sự m à pháp luật mang lại cho xã hội, cho N hà nước và công dân Chính vì vậy đối với những quy phạm pháp luật (văn bản pháp l u ậ t ) đã được ban hành phù hợp nhưng trong thực tế chúng không được thực hiện hoặc được thực hiện không nghiêm thì chúng có thể không có ích và thậm chí có thể có hại cho xã hội V í dụ: Khi các cơ quan xét xử không nghiêm chỉnh trong việc
áp dụng pháp luật có thể dẫn tới việc ban hành ra những quyết định, những bản án không đúng làm cho uy tín của các cơ quan Nhà nước bị giảm sút, sức mạnh của pháp luật bị xem thường, lợi ích của nhân dân bị xàm hại Đặc biệt
là khi những quyết định, những bản án của Toà án cũng bị coi thường, không được thực hiện nghiêm m inh thì tính hữu ích của điều chỉnh pháp luật trong những trường hợp đó càng thấp Đối với những trường hợp như vậy có thể nói Nhà nước, xã hội rốn kém nhiều công sức tiền của, thời gian mà không
Trang 25N g u yễ n M inh Đ oan ★ ★ ★ Mílt, 4'i< c 4<i< r7C)~ĩ W (j ic,lặl> /to 1CỌV ★ ★ ★ TrtniỊỊ 23
luật tăng lên Do vậy việc xem xét tới tính kinh tế và tính hữu ích trong điều chính pháp luật là rất cần thiết khi đánh giá về hiệu qua pháp luật
N hư vậy đê đánh giá hiệu quả pháp luật cần xác định các chỉ số cơ bảnlà:
- M ục đích của pháp luật
- Kết quả thực tế do tác động của pháp luật
- Những chi phí cho việc điếu chỉnh pháp luật (tính kinh tế của việc điều chỉnh pháp luật)
- Tính hữu ích của điều chỉnh pháp luật
Tất cả những chỉ số cơ bản trên cần được xác định trong một phạm vi thời gian, không gian với những số lượng và chất lượng nhất định Dựa vào những chỉ số của sự đánh giá cho phép chúng ta cải tiến, hoàn thiện các hoạt động pháp luật trong tương lai để pháp luật có thể phát huy được hiệu quả, và những giá trị cao nhất của m ình trong việc phục vụ lợi ích của con người
1.3 NHŨNG ĐIỂU KIẺN BẢO ĐẢM HIÊU QUẢ PHÁP LUÂT
1.3.1 Những điểu kiên kỉnh tế chính tri, xã hôi
Hiệu quả pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện và yếu tố khác nhau: chủ quan có, khách quan có, liên quan tới bản thân pháp luật cũng như môi trường thực hiện nó Để pháp luật trở thành công cụ điểu chỉnh các quan
hệ xã hội thực sự có hiệu quả thì sự tồn tại đầy đủ của chúng là rất cần thiết
Có thể nói bất kỳ m ột quy phạm pháp luật nào (văn bản pháp luật nào) cũng được tạo ra và tác động không phải trong sự độc lập, mà trong một tổng thể những mối liên hệ và sự ràng buộc nhất định Tất cả những sự ràng buộc đó, những mối liên hệ của pháp luật với những yếu tố và hiện tượng khác nhau trong đời sống xã hội xét đến cùng đều có ảnh hưởng tới hiệu quả của pháp luật
Trang 26N g u yễ n M inh Đ o a n ★ ★ ★ < l ĩ k j (' <40 7vọ t' ★ ★ ★ Trung 2 4
Trước hết phải nói tới các điều kiện chung bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của cả hệ thống pháp luật Đó là các điều kiện về kinh tế, chính trị,
xã hội
- Về kinh tế: Đ ó là nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần với các hình
thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên c h ế độ sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng đã phát triển tương đối toàn diện, cân đối với năng suất lao động ngày càng cao đáp ứng ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân
- Về chính trị: Trong xã hội những người lao động bình đẳng với nhau
về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội và gia đình N hà nước xã hội chủ nghĩa
là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân T ất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân m à nền tảng là liên m inh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức
- Về tư tưởng: Chủ nghĩa M ác - Lê nin và tư tưởng H ồ C hí M inh là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đ ảng, N hà nước và các tổ chức khác trong xã hội
- Về xã hội: Các tổ chức chính trị - xã hội, các tập thể, các nhóm cộng đồng xã hội và gia đình ngày càng tham gia tích cực, có chất lượng hơn vào các hoạt động xã hội đặc biệt ỉà hoạt động quản lý N hà nước trong đ ó có hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật, hoạt động đấu tranh chống vi phạm pháp luật vì m ột xã hội công bằng, văn m inh, giầu mạnh
Trình độ chính trị, trình độ văn hoá và ý thức pháp luật củ a cán bộ, nhân dân ngày càng được nâng cao Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được m ở rộng, điều kiện phát triển nhân cách con người ngày m ột thuận lợi hơn
Các hiện tượng phi pháp luật như đạo đức, phong tục tập quán và những quy phạm xã hội khác đã và đang không ngừng phát huy vai trò tích cực của m ình trong việc quản lý đời sống xã hội, giáo dục con người m ới, tác động lích cực lên liànli vi và nhân cách mỗi người trong xã hội tạo ra m ột trật
tự xã hội lành mạnh
Trang 27N guyễn M inh Đ o a n ★ ★ ★ M'Hc'i'M ci'M r n k j 'iUi7C>3/ỵp ('< 40 W ' ★ Trưng 25
- Cũng trong các điều kiện chung phái kể tới vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với Nhà nước và xã hội trong đó có việc lãnh đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, việc thực hiện pháp luật bảo đảm pháp
ch ế xã hội chủ nghĩa, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
Những yếu tố và điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả pháp luật là những yếu tố có liên quan tới cơ ch ế điều chỉnh pháp luật và các giai đoạn của quá trình điều chỉnh pháp luật
- Liên quan tới bản thân pháp luật là sự hoàn thiện của hệ thống phápluật
- Sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật
- Ý thức pháp luật và hành vi pháp luật của công dân
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật và hoàn thiện thực tế áp dụng pháp luật gắn bó m ật thiết với nhau, bởi pháp luật là phương tiện cần thiết để thực hiện những nhiệm vụ, những mục đích đặt ra trước các cơ quan áp dụng pháp luật Nói cách khác, hệ thống các cơ quan áp dụng pháp luật sử dụng pháp luật vào quá trình hoạt động của mình (họ hoạt động trên cơ sở pháp luật, giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội bằng pháp luật) Đ ồng thời cũng có thể coi hệ thống các cơ quan áp dụng pháp luật là phương tiện để thông qua đó đạt được những mục đích mà pháp luật (quy phạm pháp luật) đề
ra Bên cạnhd dó một trình độ cao của ý thức pháp luật lại có liên quan chặt chẽ tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và hoạt động thực tế áp dụng pháp luật
Bởi lẽ nếu không hoàn thiện hệ thống pháp luật thì không thể tạo lập được ý thức pháp luật cao trong nhân dân và cũng không thể có hoạt động thực hiện, áp dụng pháp luật tốt được Ngược lại, nếu ý thức pháp luật thấp thì cũng khó có thể xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống pháp luật khoa học, đương nhiên với một trình độ ý thức pháp luật thấp thì các chủ thể cũng khó có thê nhận thức, thực hiện và áp dụng pháp luật chính xác, c ó hiệu quả cao được Do vậy cần phải có đầy đủ cả ba điểu kiện trên thì mới có thể bảo đảm cho pháp luật có hiệu quả cao
Trang 281.3.2 Hê thống pháp luât hoàn thiên ở mức đỏ cao.
N g u yễ n M inh Đ o a n ★ ★ ★ '4'H V Ó Q 'H iịic a ỳ p f ' i o 7CỌ(' ★ ★ ★ Trail}’ 2 6
M ột hệ thống pháp luật hoàn thiện đòi hỏi mỗi quy phạm pháp luật, mỗi c h ế định pháp luật mỗi ngành luật và cả pháp luật nói chung phải bảo đảm được những thuộc tính, những yêu cầu nhất định như tính phù hợp, tính toàn diện, tính đồng bộ và phải được xây dựng ở m ột trình đ ộ kỹ thuật pháp
lý caom
Sự phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện sự tương quan giữa trình
độ củ a hệ thống pháp luật vơí trình độ phát triển kinh tế xã hội Có thể nói pháp luật là đời sống kinh tế - xã hội được khái q u át và nâng lên thành luật thông qua hoạt động lý trí và ý chí của giai cấp thống trị Do vậy, sự phù hợp cua pháp luật (các văn bản pháp luật, đặc biệt là các đạo luật) với các quy luật khách quan củ a sự phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện vô cùng quan trọng bảo đảm cho hiệu quả pháp luật
Tuy nhiên trong thực tế không phải khi nào N hà nước cũng ban hành được những quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật) phù hợp cao với các quy luật khách quan đặc biệt là các quy luật phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bởi lẽ, việc soạn thảo, ban hành pháp luật được tiến hành thông qua hoạt động lý trí và ý chí của con người, m à con người (nhà làm luật) do nhiều nguyên nhân khác nhau có thể nhận thức không đúng, không đẩy đủ các quy luật khách quan nên có thể dẫn đến việc đưa ra những quy định của pháp luật không phù hợp với quy luật khách quan điều đ ó làm giảm giá trị hoặc m ất giá trị của những quy đinhj đó Do vậy khi xây dựng pháp luật phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc đời sống xã hội, phân tích đánh giá chính xác những điều kiện kinh tế - xã hội và những điều kiện khác có liên quan để nắm vững các quy luật kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện tại càng chi tiết,
cụ thể bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu từ đó sáng tạo pháp luật cho phù hợp
Trong những quy luật khách quan thì các quy luật kinh tế là quan trọng nhất, chúng tồn tại và phát triển không phụ thuộc lý trí và ý ch í C O IÌ người nhưng chúng lại được thực hiện thông qua hoạt động của con người Ớ mỗi phương thức sản xuất có những quy luật kinh tế đặc thù nhưng toàn bộ quá trình sản xuất vật chất thì có quy luật kinh tế chung (ví dụ: các quy luật về
Lê M inh Tâm N liữ n g tiêu chuẩn c ư hàn đ ế x á c (lịnh m ứ c đ ộ hoàn ihiộn củ a m ột h ệ th ố n g pháp luẠl G iá o trình lý luộn N hà nước - Pháp luật D ại h ọ c Lu;Ịl IM 96.T.380.
Trang 29N g u yễ n M inh Đ oan ★ ★ ★ Jỉftt, ị'J/ , i<t( CJOCJ(ỈU ịK rtỢ p < ‘\ 10 7CỌÍ' ★ ★ ★ TraIIỊ! 27
hàng hoá, tiền tệ ) Do vậy pháp luật phải vừa phản ánh được những quy luật kinh tế chung vừa phản ánh được những quy luật kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất
Phù hợp với các quy luật kinh tế pháp luật sẽ góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển trường hợp ngược lại, pháp luật sẽ cản trở và
có thê gây ra những thiệt hại nhất định cho sự phát triển kinh tế
Trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế nước ta đang chuyển dịch sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, việc xác định đúng tính chất, đặc điểm , trình độ phát triển của nền kinh tế, dự báo đúng hướng phát triển tiếp theo để xây dựng một
hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng”' 1'
M ột yếu tô quan trọng nữa của đời sống xã hội có ảnh hưởng tới pháp luật là chính trị Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế mà pháp luật lại là
sự thể hiện tập trung của chính trị do vậy pháp luật (các đạo luật quan trọng) không những đòi hỏi phải phù hợp với các quy luật kinh tế mà còn phải thể hiện m ột cách sâu sắc, đầy đủ định hướng chính trị xã hội Pháp luật không thể phi chính trị, nó là hình thức để hiện thực hoá đường lối chính sách của lực lượng cầm quyền Ở các nước xã hội chủ nghĩa nội dung pháp luật và phương hướng xây dựng pháp luật chịu sự chỉ đạo của đường lối chính sách của Đảng cộng sản Nó là sự thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng thành những quy định chung thống nhất trên quy mô toàn quốc và là hình thức hiện thực hoá đường lối chính sách của Đảng Chính vì vậy Nghị quyết của Q uốc hội nước ta đã khẳng định “ nhiệm vụ công tác xây đựngpháp luật của Quốc hội là thể chế hoá cương lĩnh chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội của Đảng, rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành, định kế hoạch xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung các vãn bản đã ban hành, làm cho hệ thống pháp luật phù hợp với Hiến pháp mới, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế -
xã hội và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân (Nghị quyết về công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội 12.1992)
Phù hợp với đường lối chính sách của Đảng pháp luật của chúng ta cũng phù hợp với ý chí và lợi ích của nhân dân Lợi ích ]à một phạm Irù biểu
Lê M inh T âm Sách đã dẫn trang 25.
Trang 30N guyễn M inh Đ o a n ★ ★ ★ M ill, Ị< h J 'H < 7 t k ĩ t ' cA O 7 M )f' ★ ★ ★ Trang 2 8
hiện hoạt động có lý trí, có mục đích của con người Hiệu quá tác dộng của
pháp luật phụ thuộc rất nhiều ở sự nhận thức, sự thể hiện và đáp ứng các loại
lợi ích: lợi ích của toàn xã hội, lợi ích của giai cấp, của N hà nước, lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau, lợi ích của mỗi cá nhân
Do sự không thống nhất của xã hội cho nên lợi ích của m ỗi cá nhân mỗi tố chức, mỗi cộng đồng cũng có sự khác nhau V ấn đé đặt ra là khi xây dựng pháp luật phải cân nhắc, tính toán sao cho tương quan giữa các loại lợi ích có sự kết hợp hài hoà và có thể chấp nhận được
Thể hiện ý chí của giai cấp thống trị pháp luật phải phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị, song pháp luật cũng không thể không tính đến lợi ích của các giai cấp khác, các lực lượng khác trong xã hội Lợi ích của giai cấp thống trị nằm trong lợi ích của cả xã hội nói chung và là một bộ phận của lơị ích xã hội
Trong các loại lợi ích m à pháp luật đề cập tới và mang lại cho nhân dân
thì lợi ích vật chất là quan trọng hơn cả V L ê nin đ ã từng căn dặn là ở giai
đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, nền kinh tế cần phải xây dựng không phải trực tiếp trên lòng nhiệt tình, sự say m ê của m ọi người, m à phải xây dựng trực tiếp từ lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, từ sự quan tâm về vật chất của mỗi cá nhân, tập thể vào kết quả lao động và cống hiến của họ D o vậy ngoài việc ghi nhận và bảo vệ nguyên tắc “ làm theo năng lực, hưởng theo lao động” , từng bước đưa lại sự ngang bằng về m ặt của cải vật chất giữa các thành viên trong
xã hội pháp luật xã hội chủ nghĩa phải duy trì sự quan tâm về vật chất vào kết quả lao động, cốnghiến của người lao động
Khi xem xét về mặt lợi ích trong pháp luật cần chú ý không chỉ tới sự
đa dạng của chúng, đổng thời phải chú ý tới cả yếu tố cụ thể đối với những nhóm người cụ thể V í dụ khi quy định các c h ế độ, chính sách đối với cán bộ lao động, công tác ở các vùng sâu, vùng xa cần phải tính đến những điều kiện chung như xa xôi, giá cả sinh hoạt cao, khí hậu khấc nghiệt và cả những điểu kiện cụ thể như sự thiếu thốn về các loại dịch vụ phúc lợi (trường học, bệnh viện, khu vui chơi văn hoá thể thao ít hoặc không có giao thông, thông tin liên lạc khó khăn và cả sự buồn tẻ của vùng đất ) có như vậy mới có chính sách phù hợp, mới động viên được mọi người tới công tác ỏ' những nơi như thế
Trang 31N guyẻn M in h Đ o a n ★ ★ ★ MtHcA'H«4>it Í7Ở<7'MíỉTCaỹrp tic/to 3KỢ€> ★ ★ ★ TraiiỊỉ 2 9
Ngoài kinh tế, chính trị trong đời sống xã hội còn tồn tại rất nhiều yếu tố có ảnh hưởng tới pháp luật như đạo đức, văn hoá, phong tục tập quán
và cùng với pháp luật chúng cũng có tác động rất lớn lên các quan hệ xã hội
Sự tác động của các quy phạm xã hội khác nhau lên các quan hệ xã hội luôn
có tính hệ thống, chúng có liên quan, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Các công
cụ điều chỉnh đó chỉ có thổ phát huy được vai trò của m ình khi nó tác động cùng chiều, phù hợp với những công cụ điều chỉnh khác D o vậy pháp luật còn đòi hỏi phải phù hợp với phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của dân tộc,phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hoá cao đẹp của nhân dân các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Sự phù hợp củ a pháp luật với đạo đức, ván hóa dân tộc với thuần phong mỹ tục của đất nước sẽ góp phần tăng thêm sức mạnh của pháp luật, tạo điều kiện cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm m inh và là điều kiện để pháp luật có hiệu quả cao
Hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật còn đòi hỏi phải đúng lúc, kịp thời, đáp ứng những nhu cầu m à cuộc sống đặt ra Điều này thể hiện ở việc tính toán để ra m ột văn bản, m ột quy định pháp luật nào đó đúng lúc theo nhu cầu m à cuộc sống đặt ra chứ không phải do ý chí chủ quan của các cơ quan xây dựng pháp luật Ban hành pháp luật đúng lúc còn có nghĩa là các quy định của pháp luật phải phù hợp với các điều kiện kinh tế, văn hoá xã
hội của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển Pháp luật luôn phản ánh trình độ
phát triển của kinh tế, nó không thể cao hơn so với c h ế độ kinh tế và trình độ văn hoá do ch ế độ kinh tế đó sinh ra Do vậy, khi ban hành pháp luật phải xein xét tới điều kiện kinh tế của N hà nước có cho phép thực hiện văn bản đó hay không ? Điều kiện kinh tế củ a nhân dân và các chủ thể pháp luật khác ?
Dư luận xã hội trong việc tiếp nhận văn bản pháp luật đó (ủng hộ hay không ủng hộ) trình độ văn hoá pháp lý của nhân dân Tính toán được những điều kiện trên khi ban hành pháp luật thì tính khả thi của các văn bản pháp luật sẽ cao hơn
Phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của đời sống xã hội hệ thống pháp luật phải đảm bảo được tính toàn diện và đồng bộ đáp ứng nhu cầu điều chỉnhphápluật trên các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội Đ iều này đòi hỏi hệ thống pháp luật phải có đầy đủ các ngành luật phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội như hình sự, dân sự, kinh íế, hành chính K hong chỉ chú trọng tới luật về tổ chức bộ m áy Nhà nước, củng cố chính quyền nhân
Trang 32N guyễn M inh Đ oan ★ ★ ★ M 'lU fil«i'H V ( 'h 'iU ịw Ị/p (J, 40 *<ọv ★ ★ ★ Trang 3 0
dân mà còn phải chú ý tới luật về các lĩnh vực đời sống dân sinh, khổng chỉ chú trọng tới luật nội dung m à còn phải chú ý tới luật hình thức (luật tố tụng) Bởi chính các luật hình thức (luật tô tụng) mới là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các luật về nội dung, mới tạo ra một trật tự pháp luật phù hợp, cần thiết bảo đảm cho việc thực hiện pháp iuật nghiêm minh và có hiệu quả cao Đối với mỗi ngành luật phải có đầy đu các chê định pháp luật và các quy phạm pháp luật trong mỗi ch ế định pháp luật
Trong hệ thống pháp iuật phải luôn đảm bảo tính thống nhất giữa các ngành luật, tính thống nhất giữa các chế định pháp luật trong cùng m ột ngành luật, sự thống nhất giữa các quy phạm pháp luật trong cùng một c h ế định pháp luật đồng thời phải tránh các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo lẫn nhau giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật, giữa các quy phạm pháp luật
Sự đồng bộ của pháp luật còn thể hiện ở việc ban hành các văn bản chi tiết, hướng dẫn thi hành cùng đồng thời với các văn bản luật để khi văn bản luật có hiệu lực thì đồng thời nó cũng có thể được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế Tránh tình trạng một số luật đã có hiệu lực pháp luật nhưng trên thực
tế lại không thể thực hiện được vì thiếu những quy định (văn bản) chi tiết, cụ thể, hướng dẫn thi hành
M ột vấn đ ề quan trọng nữa có ảnh hưởng tới hiệu quả pháp luật là việc lựa chọn phương pháp điều chỉnh pháp luật - cách thức m à pháp luật tác động lên các quan hệ xã hội
Sau khi đã xác định được những quy luật kinh tế - xã hội khách quan, tính toán được về sự tương quan giữa các loại lợi ích và những yếu tố khác có liên quan thì nhà làm luật cần xác định, lựa chọn phương pháp điều chỉnh pháp luật phù hợp để thông qua chúng có thể đạt được mục đích mong m uốn
Việc lựa chọn phương pháp điều chỉnh pháp luật phụ thuộc vào nội dung, tính chất của các quan hệ xã hội mà pháp luật diều chỉnh và ý muốn chủ quan của nhà làm luật thông qua sự nhận thức, ý thức của họ trong mỗi giai đoạn lịch sử của sự phát triển xã hội
Sự lựa chọn phương pháp điều chỉnh pháp luật không đúng, không phù hợp sẽ làm mất đi hoặc giảm đi hiệu quả của pháp luật bởi khi đó sẽ không đạl được mục đích m ong muốn hoặc đạt được ở mức độ thấp V í dụ, đ ể giải quyết những tranh chấp, xử lý những vi phạm về đất đai có thể bằng thủ tục
Trang 33N g u yễ n M inh Đ o a n ★ ★ ★ M'tt Ị 'i ( , 4<J( CJOTJ'i K ị i r u ỵ p e>, IO irụ & ★ ★ ★ Trưng 3 1
hành chính và cũng có thể bằng thủ tục tư pháp (Toà án) Vấn đề là giao cho
cơ quan nào giải quyết thì phù hợp hơn, có hiệu quả cao hơn thì nhà làm luật phải lựa chọn sao cho thích hợp Pháp luật còn đòi hỏi phải được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của điều ước và thông lệ quốc tế, hoà nhập với cộng đồng quốc tế, sử dụng có hiệu quả lý luận và kinh nghiệm điều
Hiệu quả pháp luật còn phụ thuộc ở trình độ kỹ thuật pháp lý khi xây dựng hệ thống pháp luật Đ ó là m ột hệ thống pháp luật được xây dựng có kết cấu, có b ố cục pháp lý lô gíc, chặt chẽ Các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, một nghĩa, câu văn trong sáng, cô đọng mạch lạc dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức quảng đại quần chúng nhân dân Q uá trình xây dựng pháp luật sử dụng đựơc các phương tiện, các cách tiếp cận kỹ thuật pháp lý, các quy tắc pháp lý tiên tiến
“ Mức độ hệ thống hóa cao và sự tồn tại của nhiều bộ luật cũng được coi là biểu hiện của một hệ thống pháp luật hoàn thiện Tính hệ thống hóa cao
là đảm bảo rất quan trọng cho việc thực hiện pháp luật dễ dàng, thuận lợi và chính xác”(l)
N hư vậy, điều kiên đầu tiên và đặc b iệt quan trọng bảo đảm hiệu quả pháp luật là chính bản thân pháp luật, nghĩa là, phải thường xuyên xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật để luôn có được m ột hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ, phù hợp với cuộc sống không mâu thuẫn, không chổng chéo
Hệ thống pháp luật đó có kết cấu và nội dung khoa học được trình bày chính xác dễ hiểu, dễ thực hiện và áp dụng trong đời sống
1.3.3 Cơ ch ế áp dung pháp luât hoàn thiên
Đ ể góp phần nâng cao hiệu quả tác động của pháp luật trong đời sống
xã hội thì vấn đề quan trọng là thực hiện đúng đắn, nghiêm m inh các quy định của pháp luật Thực hiện pháp luật là m ột quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định củ a pháp luật đi vào cuộc sống tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật Hoạt động thực hiện pháp luật được tiến hành dưới những hình thức cơ bản là:
'1 ’ Lẽ H ồ n g Hạnh, l í ệ dicing pháp luậl x ã h ội ch ú n g h ĩa G iá o trình lý luận v ề N hà nước và pháp luật Đ ạ i học luẠi H à N ộ i 1992 trang 2 6 4
Trang 34N g u yẻ n M inh Đ o a n ★ ★ ★ M'H, ị<u ,/i'H v ó o 'ìuì?cnĩỵi> V.-4Ơ 7CCW ★ ★ ★ Trung 32
+ Tuân theo (tuân thủ) pháp luật - các chủ thể pháp luật kiềm c h ế không tiến hành những hoạt động m à pháp luật ngăn cấm
+ Thi hành (chấp hành) pháp luật - Các chủ thể pháp luật thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của m ình bằng hành động tích cực
+ Sử dụng pháp luật - các chủ thể pháp luật thực hiện các quyền chủ thể tự do pháp lý của m ình (thực hiện những hành vi m à pháp luật cho phép)
+ Á p dụng pháp luật - Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật
Trong những hình thức trên của thực hiện pháp luật thì áp dụng pháp luật là hình thức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng N ó không những là m ột hình thức thực hiện pháp luật mà còn là m ột giai đoạn đặc thù của quá trình thực hiện pháp luật - các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật có sự can thiệpt của Nhà nước Áp dụng pháp luật là hoạt động của các cơ quan N hà nước có thẩm quyền hoặc các tổ chức, cá nhân được N hà nước uỷ quyền trong việc tổ chức, tạo điểu kiện cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện các quy định của pháp luật, thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ
M ục đích trực tiếp của áp dụng pháp luật là đảm bảo cho các quy phạm pháp luật được thực hiện đầy đủ, chính xác nghiêm m inh trong cuộc sống Nếu thiếu sự bảo đảm này thì trong nhiều trường hợp các quy phạm pháp luật
sẽ không được thực hiện hoặc được thực hiện không chính xác, không đúng
và như vậy chúng không phát huy được hiệu lực của m ình trong đời sống thực tế
H oạt động áp dụng pháp luật có liên quan rất chặl chẽ tới hoạt động xây dựng pháp luật Để thực hiện và áp dụng pháp luật có hiệu quả trước hết phái có pháp luật tốt Nói cụ thể hơn là phải có m ột hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, sát thực tế, phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị, vãn hoá,
xã hội, tư tưởng, tâm lý, tổ chức mà trong đó pháp luật sẽ tác động, đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển (l)
X em N g u y ễ n M ình Đ o a n N hững yêu cáu đòi vớ i v iệ c x â y d ự n g VÌ1 hoàn ihiộn pháp luật T ạp c h í luật h ọ c N" 1 /1 9 9 6 ĩ rang 6 - I I
Trang 35Nguyẻn Minh Đoan ★ ★ ★ m icị'U ,4 't(C JÓ < 7 7 'M tp ù ĩiị/p P < Ẩ () 7CCX' ★ ★ ★ T r u n g 33
Sau khi đã ban hành pháp luật một vấn đề quan trọng có anil hưởng tới việc thực hiện áp dụng pháp luật là vấn đề tuyên truyền, phổ biến pháp luậttới cán bộ và nhân dân đểmọi người dân nắm được các quy định của phápluật, biết được những gì nên làm, những gì phải làm, những gì có thể làm được, những gì không được làm từ đó họ tự giác tuân theo pháp luật
Sự hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật đòi hỏi một trình độ văn hoá pháp lý cao của cán bộ và nhân dân trong xã hội Điều này đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tạo lòng tin của nhân dân vào pháp luật để từ đó họ có những hành
vi pháp luật tích cực, biết sử dụng pháp luật vào việc bảo vệ quyển, lợi ích của mình cũng như của người khác và đấu tranh không khoan nhượng với các
Các cơ quan áp dụng pháp luật (cơ quan hành chính, Toà án, ViệnKiểm sát, Công an ) được tổ chức một cách khoahọc, có sự phân công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi cơ quan, mỗi bộ phận để tránh hiện tượng chồng chéo, mâu thuẫn, cản trở lẫn nhau trong công việc của các cơ quan này Sự không thống nhất, không phân định rõ ràng phạm vi, lĩnh vực hoạt động hoặc thẩm quyền của các cơ quan này thường dẫn đến có những vụ việc thì nhiều cơ quan tranh nhau giải quyết nhưng lại có những vụ việc thì đùn đẩy không cơ quan nào chịu nhận trách nhiệm giải quyết Trong
tổ chức và hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp luật phải bảo đảm tính năng động, chủ động, sáng tạo, sự độc lập của mỗi cơ quan hoặc mỗi bộ phận đổng thời bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các cơ quan, giữa các bộ phận cùng tham gia áp dụng pháp luật cũng như sự phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan áp dụng pháp luật với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc với các tổ chức xã hội
Hoạt động hiệu quả của các cơ quan áp dụng pháp luật còn thể hiện ở
sự thông thạo các công việc mà họ đảm nhận và thực hiện chúng với tình thần trách nhiộm cao, tránh hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, trì trệ, giấy tờ hình thức hoặc thờ ơ lãnh đạm đối với số phận, tính mạng con người, với tài sản của Nhà nước và của nhân dân Thực tế cho thấy sự quan liêu, chậm trễ, thiếu tinh thần (rách nhiệm của các cơ quan Nhànước có thẩm quyền hoặc của một số cán hộ có chức có quyển trong việc giải quyết những khiếu nại, tỏ cáo của nhàn dân đã dẫn đến nhiều vụ việc đơn gián lại trở nên
Trang 36N g u yễ n M inh Đ o a n ★ ★ ★ A.<n,ị'i( >4<i< <1Ổ® <MffX3ệfP PtắO 7ÔỌÍ' ★ ★ ★ Trang 3 4
phức tạp nhiều sự oan ức, bất bình trong nhân dân không được giải quyết gây nhiều hậu quả không thể lường trước được
.Sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật thể hiện ở người trực tiếp áp dụng pháp luật có bản lĩnh chính trị vững vàng, hiểu biết về pháp luật,
ý thức pháp luật cao, có kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm áp dụng pháp luật kinh nghiệm sống đồng thời có uy tín, sống có văn hoá và nhân cách đạo đức tốt Có được những đặc tính trên thì người áp dụng pháp luật mới có thể độc lập áp dụng pháp luật, áp dụng có hiệu quả, phù hợp vớimục đích xã hội
đề ra Điều này đòi hỏi phải không ngừng bồi dưỡng, giáo dục m ột đội ngũ cán bộ pháp lý có năng lực có phẩm chất để giới thiệu, bổ sung cho các cơ quan áp dụng pháp luật, từng bước tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác áp dụng pháp luật đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán, kiểm sát viên, Ihanh tra viên
Sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật còn thể hiện ở những điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết bảo đảm cho hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành bình thường Rất nhiều văn bản pháp luật, nhiều quy định của pháp luật đ ể được thực hiện trong thực tế đòi hỏi một sự chi phí rất lớn về sức người và những trang bị vật chất - kỹ thuật Vì th ế kinh phí cho hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật là một trong những điều kiện cần thiết, quan trọng để việc áp dụng pháp luật có hiệu quả Tuy nhiên phải luôn quán triệt tinh thần là hoạt động áp dụng pháp luật phải đạt được mục đích xã hội với sự chi phí xã hội thấp nhất (về vật chất và về tinh thần) Ngoài ra còn phải quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần của người trực tiếp áp dụng pháp luật cũng như gia đình họ giúp họ giảm bớt những khó khăn về vật chất, tận tâm, dồn hếtthời gian sức lực, trí tuệ cho công việc, không bị mua chuộc về vật chất, giữ được thái độ vô tư khách quan trong công việc
Hoạt động áp dụng pháp luật phải luôn tuân theo nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa trong tất cả các mắt xích, các công đoạn, thực hiện nghiêm minh những đòi hỏi về tuân theo pháp luật đối với tất cả, đấu tranh không klioan nhượng với những biểu hiện vi phạm pháp luật, những hành vi áp dụng pháp luật không đúng, không phù hợp
T rong hoạt động áp dụng pháp luật ngoài việc tuân theo pháp luật, trên
cơ sớ những sự kiện khách quan thì yếu tố chủ quan là niềm tin nội tâm của
Trang 37N g u yễ n M inh Đ o a n ★ ★ ★ <À'H rĨỐ í7'iU ịX ,l/ỵ/> 0 ,1 0 ,7v ọ t' ★ ★ ★ Trang 35
những người trực tiếp áp dụng pháp luật cũng có ý nghĩa rấl lớn đối với mục đích và kết quả áp dụng pháp luật Xuất phát từ ý thức pháp luật của m ình những người trực tiếp áp dụng pháp luật tiến hành cụ thể hoá m ục đích của pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng, thu thập, chuẩn bị những điều kiện
để áp dụng và họ sẽ đưa ra những quyết định giải quyết từng bước hoặc cuối cùng cho sự việc Thực tiên áp dụng pháp luật cho thấy không ít trường hợp
do m ục đích động cơ cá nhân hoặc những nguyên nhân khác m à người có thẩm quyền áp dụng pháp luật đã “ cụ thể hoá” m ục đích áp dụng trái hẳn hoặc không phù hợp với m ục đích xã hội mà nhà làm luật đề ra khi ban hành pháp luật Do vậy cần có những hoạt động kiểm tra, giám sát thật chặt chẽ quá trình áp dụng pháp luật, đồng thời phải có những biện pháp xử lý nghiêm
m inh nhữngngười có hành vi c ố ý áp dụng pháp luật không đúng, không phùhợp với m ục đích xã hội đề ra cho việc áp dụng pháp luật
Trong hoạt động áp dụng pháp luật thì hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý chiếm m ột vị trí quan trọng và có ảnh hưởng rất lón tới hiệu quả pháp luật Truy cứu trách nhiệm pháp lý là áp dụng các biện pháp cưỡng c h ế N hà nước được quy định ớ ch ế tài pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Trách nhiệm pháp lý là phương tiện để xoá bỏ hiện tượng vi phạm pháp luật xẩy ra trong quá trình điều chỉnh pháp luật đ ể đảm bảo cho cơ ch ế điều chỉnh pháp luật vận hành m ột cách bình thường nhằm đạt được những mục đích đã đề ra và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong tương lai
Trong truy cứu trách nhiệm pháp lý điều quan trọng là mọi hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt là phạm tội đều bị khám phá, mội tổ chức và cá nhân
vi phạm pháp luật đểu bị xử lý nghiêm minh Đối với mỗi trường hợp cụ thể thì phải lựa chọn biện pháp cưỡng c h ế cho phù hợp (nên phạt cảnh cáo, phạt
tù hay phạt tiền ) mức độ cưỡng c h ế bao nhiêu thì phù hợp (bao nhiêu năm
tù ? Bao nhiêu tiền ? ) Ngoài ra còn phải tính đến khá năng thực hiện trên thực tế biện pháp cưỡrm c h ế đã lựa chọn, ảnh hưởng của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý cụ thể đó đối với chính bản thân chủ thể vi phạm , đối với những người có liên quan và đối với công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật trong xã hội như th ế nào ?
Hiệu quả của hoạt động Iruy cứu trách nhiệm pháp lý còn phải kể đến mức độ, tốc độ và phạm vi xoá bỏ các hiện tượng vi phạm pháp luật trên quy
Trang 38N guyền M in h Đ o a n ★ ★ ★ « ỳM i& M < 7 0 (7 (tUiMQ/yp (AM) 7f,ọV ★ ★ ★ Trung 3 6
mô toàn xã hội, những chi phí về sức người, vật chất, thời gian và những chi phí khác cho hoạt động này Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý có cải tạo giáo dục được người vi phạm phápl uật hay không ? Có phân tích, tìm ra được những nguyên nhân, những điều kiện dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật trong xã hội hay không ? Có đưa ra được những giải pháp gì cho việc phòng ngừa và đấu tranh chống hiện tưựng vi phạm pháp luật trong tương lai hay không
Nói tới hoạt động áp dụng pháp luật không thể khôngnói tới các văn bản áp dụng pháp luật Bởi tính hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, sự tác động của các văn bản áp dụng pháp luật Q uá trình áp dụng pháp luật phải thông qua hàng loạt các giai đoạn nhất định (đặc biệt là khi truy cứu trách nhiệm pháp lý hình sự), chúng được thực hiện nhờ sự trợ giúp của các văn bản áp dụng pháp luật V ăn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt m ang tính quyền lực N hà nước do các cơ quan N hà nước có thẩm quyền (nhà chức trách, hoặc các tổ chức xã hội được
N hà nước uỷ quyền) ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các tổ chức, các cá nhân hoặc xác định những biện pháp cưỡng c h ế N hà nước đối với chủ thể vi phạm pháp luật Chúng bao gồm : bản án, quyết định, sự xác nhận của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, những văn bản liên quan tới việc khởi tố, tạm giam , kháng nghị Trong tất cả mọi trường hợp khi cần có sự tham gia củ a các văn bản áp dụng pháp luật thì đều phaỉ ban hành đúng lúc để đảm bảo tính rõ ràng của vụ việc, bảo đảm tính liên tục của cơ c h ế điều chỉnh pháp luật, nhằm đạt được những mục đích của điều chỉnh pháp luật
Hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật nói riêng, hiệu quả pháp luật nói chung phụ thuộc rất nhiều vào văn bản áp dụng pháp luật Do vậy, các văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành phù hợp với những yêu cầu cơ bảnlà:
+ Văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp, nghĩa là, nó được ban
hành đúng thẩm quyển (mỗi cơ quan hoặc nhà chức trách chỉ được ban hành
mội số văn bản áp dụng pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật) Ban hành bất kỳ một văn bản áp dụng pháp luật nào các CO' quan hoặc cá nhân cũng đòi hỏiphải kiểm tra xem việc đó có thuộc thẩm quyền áp dụng của
m ình không Việc ký văn bản cũngphái đúng thẩm quyền (nếu văn bản thuộc
Trang 39N g u yễ n M inh Đ o a n ★ ★ ★ JSUcẬm < 4'H ■yỏrĩ 'M(}7f, lỷ f> VcAO 7ỐCM ★ ★ ★ Trang 3 7
thẩm quyền ban hành của tập thể cơ quan thì người ký phải là người đại diện dương nhiên của cơ quan (thủ trưởng) thay m ặt cơ quan để ký, những trường hợp ký thay, ký thừa lệnh, ký thừa uỷ quyền đều phải có giấy uỷ quyền
+ Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành có cơ sở pháp lý, nghĩa là, trong văn bản phải chỉ rõ là căn cứ vào quy định nào của pháp luật (ván bản pháp luật nào) cho thấy cơ quan (hay nhà chức trách) có thẩm quyền
áp dụng pháp luật trong trườnghợp này V à cơ quan hay nhà chức trách giải quyết (áp dụng) trườnghợp này là trên cơ sở quy định (điều khoản) củ a văn bán pháp luật nào Cơ sờ pháp lý này phải chỉ rõ chi tiết cụ thể tới khoản, điều của văn bản pháp luật Nếu văn bản áp dụng pháp luật được ban hành trong Irường họp áp dụng pháp luật tương tự thì phải có sự lý giải kỹ càng về tính hợp pháp, hợp lý của việc áp dụng tương tự đó, đồng thời cũng phải ghi rõ đã
áp dụng tương tự quy phạm pháp luật nào hoặc nguyên tắc pháp luật nào
+ Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành có cơ sở thực tế Nghĩa là, nó được ban hành căn cứ vào những sự kiện, những đòi hỏi thực tế đầy đủ, chính xác và có thật (đáng tin cậy)
Nếu ra văn bản áp dụng pháp luật mà không dựa vào cơ sở thực tế đáng tin cậy hoặc không có thật thì sẽ có thể áp dụng pháp luật nhầm , sai, hoặc không có tính thuyết phục
+ Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành phù hợp với nhu cầu thực tế của cuộc sống, nghĩa là, văn bản áp dụng pháp luật phải có khả năng thực hiện được trong tương lai Sự phù hợp với các điều kiện thực tế bảo đảm cho văn bản áp dụng pháp luật có “tính hiện thực (phù hợp với các điều kiện
cụ thể về vật chất, kỹ thuật, tổ chức đảm bảo thi hành được) và tính tối ưu,
có lợi nhất về tất cả các mặt kinh tế, chính trị và xã hội tổng hợp lại” (l) Nếu vãn bản áp dụng pháp luật không phù hợp với thực tế thì nó sẽ khó được thi hành nghiêm chỉnh trong thực tế hoặc được thi hành nhưng kém hiệu quả
+ Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng tên gọi, đúng trình tự và thủ tục do pháp luật quy định Việc tuân theo đầy đủ các trình tự, thủ tục trong việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật sẽ đảm bảo cho văn bán được ban hành chính xác, có chất lượng cao
11 N iỉu yẻn Cửu V iệt T ạp c h í N hà nước và p háp luậl th án g 3 /19X 8 trang 2 2
Trang 40N guyễn M inh Đ o a n ★ ★ ★ ẨiMtẬ'H <Â'H crócĩ'H íị-xoĩỵt) VcAO T ffW ★ ★ ★ Trang 3 8
+ Nội dung của văn bản áp dụng pháp luật phải đầy đủ (chứa đựng tất
cá những thông tin cần thiết như tên cơ quan ban hành, số và ký hiệu văn ban, địa điểm , thời gian ban hành, chữ ký, con dấu hay quốc hiệu, quốc huy, nội dung sự việc, căn cứ pháp lý ) những thông tin trên đòi hỏi phải chính xác Trong văn bản phải d ự kiến được tất cả những hậu quả có thể có khi ban hành vãn bản đó Nội dung văn bản phải phù hợp với mục đích m à nó được ban hành, có tính thuyết phục cao và được trình bày khoa học, có cấu trúc chặt chẽ, lôgíc và dễ hiểu
Có thể nói hoạt động áp dụng pháp luật là m ột vấn đề cực kỳ khó khăn,
m ột cơ ch ế phức tạp bao gồm hoạt động của rất nhiều cơ quan, bộ phận, nhiều mắt xích khác nhau, thông qua nhiều công đoạn, thủ tục khác nhau, với những mối quan hệ chằng chịt về vật chất, về pháp luật, về tố tụng, tổ chức,
kỹ thuật, tâm lý và những mối liên hệ khác Do vậy sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật là rất cần thiết nhưng cũng rất khó khăn “N ếu thực tiễn áp dụng pháp luật có đủ khả năng “đưa vào cuộc sống” những gì quy phạm định đạt được thì khi đó quy phạm có hiệu quả cao, và ngược lại, nếu thực tiễn “chưa sẵn sàng” cho việc áp dụng quy phạm thì mức độ khiếm khuyết và inức độ sẵn sàng đó sẽ ảnh hưởng đến mức đ ộ hiệu quả của pháp
l u ạ r (l)
Hoạt động áp dụng pháp luật m ột m ặt nhằm đạt được những mục đích
xã hội m à vì chúng người ta ban hành pháp luật, mặc khác, còn cho phép làm
rõ một số nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả của m ột số quy phạm pháp luật (văn bản pháp luật) đ ể từ đ ó có thể đưa ra dược những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và cơ ch ế đưa pháp luật vào cuộc sống Sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật sẽ được hình thành và phát triển từng bước cùng vơí sự hoàn thiện, phát triển của h ệ thống pháp luật, của sự nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân cùng các điều kiện khác của đất nước
1.3.4 Ý thức pháp luảt và hành vi pháp luât của công dàn
Một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu quả pháp luật là một trình độ văn hoá pháp luật cao của mỗi cá nhân, của các tập thể và của cá
xã hội nói chung
D ào Trí Ú c sách dã đẫn trang 264.