1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế trên cơ sở các quy định của bộ luật dân sự

53 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 5,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lấy những quy định của Bộ luật dân sự làm tiêu chí, chúng tôi chỉ ra những bất cập, m âu thuẫn nằm ngay trong những quy định của văn bản pháp luật điều chỉnh về hợp đồng kinh tế và những

Trang 2

GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC”

NĂM 2002

Tên eồng trình: HOÀN THIỀN PÌ-IÁP LUẬT HdP DồMG KINH Tế TRẼN

c a sở CÁC QUY EíỊNH CỦA sộ LUẬT DÂM sự.' * * 4

Thuộe nhóm ngành: KHOA HỌC XẦ HỘI VÀ NHÂN VĂN

2b

I ỆNT4

Trang 3

MỤC LỤC% %

Trang

pháp luật Hợp đồng dân sự

so với pháp luật Hợp đồng dân sự

luật Hợp đồng dân sự

và pháp luật Hợp đồng dân sự

Trang 4

1 Phạt vi phạm Hợp đồng 41

Trang 5

TÓM TẮT NỘI DUNG%

N ghiên cứu này được các tác giả chia làm ba chương:

C h ư ơ n g I: C húng tôi đề cập tới mối quan hệ giữa pháp luật hợp đồng kinh

tế và pháp luật hợp đồng dân sự Từ việc nghiên cứu những đặc điểm chung

và những đặc điểm riêng giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự, chúng tôi đi đến khẳng định pháp luật hợp đồng kinh tế và pháp luật hợp đồng dân

sự có mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó pháp luật họp đồng kinh tế là cái riêng còn pháp luật hợp đồng dân sự là cái chung

C h ư ơ n g II: C húng tôi đề cập tới thực trạng pháp luật hợp đồng kinh tế hiện nay Lấy những quy định của Bộ luật dân sự làm tiêu chí, chúng tôi chỉ

ra những bất cập, m âu thuẫn nằm ngay trong những quy định của văn bản pháp luật điều chỉnh về hợp đồng kinh tế và những m âu thuẫn giữa pháp luật hợp đồng kinh tế với pháp luật hợp đổng dân sự, từ đó làm cơ sở để đưa

ra nhũng kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế

C h ư ơ n g I I I : Các tác giả m ạnh dạn đưa ra m ột số quan điểm riêng góp phần hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế Trước m ắt cần sửa đổi m ột số quy định của pháp lệnh hợp đồng kinh tế cho phù hợp với yêu cầu của các quan hệ kinh tế v ề lâu dài nên bỏ pháp lệnh hợp đồng kinh tế, đưa những quy định chung về hợp đồng vào bộ luật dân sự, còn với những hợp đồng cụ thể thì nên ban hành các văn bản pháp luật cụ thể để điều chỉnh

Với khả năng còn hạn c h ế của các tác giả, lại là lần đầu tiên làm nghiên cứu khoa học nên chắc chắn trong nghiên cứu này còn nhiều điểm thiếu sót Các tác giả rất m ong được sự chỉ bảo, góp ý thẳng thắn của các thầy cô và các bạn để chúng tôi hoàn thiện tốt hơn nữa nghiên cứu này

Trang 6

LỞI NÓI DẤU

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã quyết định đổi mới toàn diện đất nước Đại hội Đảng lần thứ VIII tháng 7 năm 1996 khẳng định: “Tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa” Đại hội Đảng lần thứ IX tháng 4 năm 2001 khẳng định nền kinh

tế của nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và điều này

đã được thể chế hoá trong lần sửa đổi Hiến pháp 1992 Trong nền kinh tế của nước ta hiện nay có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại bình đẳng, cạnh tranh

lành mạnh, vừa đấu tranh vừa hợp tác Các Mác viết: “Tự chúng - các hàng hoá không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được” Điều này thực hiện được

thông qua các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế Pháp luật với tư cách là một

bộ phận của thượng tầng kiến trúc tham gia điều chỉnh các quan hệ trong xã hội

đã điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh dơanh hình thành nên chế định về hợp đồng kinh tế Ở nước ta có sự tồn tại song song của ngành luật dân sự và ngành luật kinh tế cùng với đó là sự tồn tại của hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế

♦ Hiện nay để điều chỉnh quan hệ hợp đồng kinh tế chúng ta có Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 25/9/1989 Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng kinh tế có rất nhiều bất cập

♦ Nền kinh tế nước ta đang có sự phát triển mạnh mẽ, nhiều chủ thể kinh doanh mới đã xuất hiện, nhiều điều kiện đã thay đổi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã trở nên lac hâu so với thưc tiễn

Trang 7

♦ Bản thân Pháp lệnh hợp đồng kinh tế có nhiều quy định mâu thuẫn không thống nhất.

♦ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời trước Pháp lệnh hợp đồng dân sự (1991)

và Bộ luật dân sự 1995 nên có quá nhiều các quy định không thống nhất giữa các văn bản pháp luật này

Trong điều kiện đất nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng thì việc sửa đổi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 25/9/1989 là điều cần thiết để phát triển hơn nữa và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong nước Chính

vì vậy các tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện Pháp luật hợp đồng kinh t ế trên

cơ sở những quy định của Bộ luật dân s ự ”.

2 (Dối tường, oà p íiạ m ú ì n ụ h ìên cứu:

♦ Đề tài tập trung nghiên cứu những quy phạm pháp luật về hợp đồng kinh tế hiện hành Đồng thời có so sánh với những quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng dân sự để từ đó chứng minh sự không phù hợp giữa các quy định của pháp luật hợp đồng kinh tế với những quy định trong Bộ luật dân sự

♦ Đề tài cũng nêu một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế

3 rf)httOH(Ị p h á p n ạ h iê n eứ u :

Để hoàn thiện được đề tài này, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử (nhìn nhận các quy phạm pháp luật trong quá trình lịch sử hình thành và tồn tại, nhìn nhận chúng trong một chỉnh thể, có sự phân tích từng quy phạm nhưng trong mối quan hệ khăng khít với các quy phạm khác, nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện); phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lôgic

Trang 8

CHƯONG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG KINH TỂ VẢ PHẤP LUẬT HỢP DỒNG DẢN ổự

L VỊ TRÍ ĐỘC LẬP TƯƠNG Đ ố i CỦA PHÁP LUẬT HỢP ĐỔNG KINH TÊ

SO VỚI PHÁP LUẬT HỢP ĐỔNG DÂN sự.

Do Việt Nam xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bỏ qua kinh

tế thị trường nên pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật hợp đồng kinh tế nói riêng phát triển sớm hơn so với pháp luật dân sự và pháp luật hợp đồng dân sự Ớ các nước tư bản chủ nghĩa thì pháp luật hợp đồng kinh tế (thương mại) xuất hiện khi mà những quan hệ hợp đồng dân sự đã phát triển đến một mức độ nhất định

Ở Việt Nam cho tới ngày 01/07/1990 với sự ra đời của pháp lệnh hợp đồng dân

sự và đến 01/07/1996 khi bộ luật dân sự có hiệu lực thì pháp luật hợp đồng dân

sự mới thực sự được qui định rõ ràng, trong một văn bản có hiệu lực cao Việc Nhà nước cho tồn tại song hành hai pháp lệnh hợp đồng điều chỉnh hai loại hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự kể cả khi đã có bộ luật dân sự chứng tỏ Nhà nước thừa nhận sự tồn tại độc lập của hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự Mặt khác phạm vi điều chỉnh và nội dung điều chỉnh của pháp luật hợp đồng kinh tế

và pháp luật hợp đồng dân sự có những nét khác biệt, trình tự thủ tục và thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự cũng được nhà nước qui định khác nhau

PHÁP LUẬT HỢP ĐỔNG DÂN s ự

Mặc dù pháp luật hợp đồng kinh tế và pháp luật hợp đồng dân sự tồn tại độc lập với nhau nhưng có sự thống nhất về nhiều mặt, phản ánh bản chất vốn có của các quan hệ kinh tế theo chiều ngang trong kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung khó có thể tìm thấy những điểm đồng

nhất giữa hợp đồng kinh tế và hợp động dân sự bởi hợp đồng kinh tế ra đời để

phục vụ kế hoạch của nhà nước, là công cụ để Nhà nước xây dựng và thực hiện

kế hoạch Hợp đồng dân sự hình thành do nhu cầu khách quan của đời sống xã

hội, là hình thức phản ánh quan hệ trao đổi sản phẩm giữa những người lao động

Việc chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã trả lại bản chất

vốn có của hợp đồng kinh tế là sự phản ánh quan hệ xã hội có mục đích kinh

doanh giữa các tổ chức kinh tế Chính quan hệ kinh tế theo chiều ngang này giúp

chúng ta thấy những điểm chung của hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự

Sự phát triển pháp luật hợp đồng kinh tế của đa số các nước trên thế giới có

điểm chung căn bản là nó mới xuất hiện trong thời kỳ tư bản tự do cạnh tranh

muộn hơn rất nhiều so với pháp luật hợp đồng dân sự Tuy nhiên để điều chỉnh

các hoạt động kinh tế nói chung và các hoạt động trong lĩnh vực hợp đồng kinh tế

nói riêng không phải ngay lập tức có một loại quy phạm riêng biệt mà vẫn thuộc

phạm vi điều chỉnh của các quy phạm luật dân sự Xét về khía cạnh nào đó có thể

nói pháp luật hợp đồng kinh tê là con đẻ của pháp luật hợp đồng dân sự, là sự

phát triển chuyên sâu hoá, đáp ứng đòi hỏi của các quan hệ xã hội đã phát triển

Do vậy có thể khẳng định mối quan hệ giữa pháp luật hợp đồng kinh tế và pháp

luật hợp đồng dân sự là mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung

1 Những đặc điểm chung của pháp luật hợp đồng kinh tế và pháp luật hợp đồng dân sự.

Pháp luật là sự phản ánh các quan hệ xã hội, vậy những quan hệ xã hội có

đặc điểm giống nhau thì pháp luật điều chỉnh cũng mang những đặc điểm giống

nhau Vì thế để chứng minh sự giao thoa giữa pháp luật hợp đồng kinh tế và pháp

luật hợp đồng dân sự thì phải chứng minh được những đặc điểm chung giữa hợp

đồng kinh tế và hợp đồng dân sự

Trang 10

Điều 394 Bộ luật dân sự đưa ra khái niệm hợp đồng dân sự: “Là sự thoả thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự”.Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: “Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học

kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự qui định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình"

Dù khái niệm có khác nhau nhưng về bản chất, hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự đều là sự thoả thuận ý chí giữa các bên cùng nhằm phát sinh quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đều là sự thể hiện quan hệ tài sản và được ký kết căn cứ trên những nguyên tắc cơ bản

7.7 Hợp đồng kinh t ế và hợp đồng dân sự đều là sự thỏa thuận của các bên tham gia quan hệ:

Khi nói tới khái niệm hợp đồng, điều cơ bản đầu tiên phải đề cập đến đó là sự thỏa thuận ý chí của các bên Hựp đồng được hình thành khi các bên đã đạt được một sự nhất trí trên cơ sở sự thoả thuận của hai hay nhiều bên Sự thoả thuận ấy phải được biểu hiện ra ngoài dưới những hình thức nhất định Hợp đồng có thể ký kết bằng hành vi, bằng miệng, bằng văn bản, bằng điện thoại, bằng Internet Các bên trong hợp đồng có quyền biểu lộ ý chí của họ, nhưng hợp đồng chỉ được thiết lập khi có sự thoả thuận của các bên, tức là khi ký kết hợp đổng các đương

sự phải có chung một ý chí Chính sự gặp gỡ giữa hai hay nhiều ý chí đã tạo nên hợp đồng Sự thoả thuận này trước hết liên quan đến bản chất của hợp đồng, nếu một người muốn bán tài sản mà bên kia lại tưởng rằng đó là sự tặng cho thì sẽ không có hợp đồng Đồng thời, sự thỏa thuận này phải liên quan đến đối tượng của hợp đồng bởi một hợp đồng không thể được thiết lập nếu hai bên không hướng tới chung một đối tượng Mặt khác vì hợp đồng là sự thỏa thuận của các V

chí nên nó chỉ được thiết lập khi hai đương sự cùng chấp nhận hay là ưng thuận

Trang 11

Một hợp đồng không thể được thiết lập nếu một trong hai bên để tuỳ cho bên kia

ấn định các điều kiện của hợp đồng vì trong trường hợp này sẽ không có sự thỏa thuận ý chí Tuy sự gặp gỡ của hai ý chí không nhất thiết phải xảy ra cùng lúc nhưng chỉ khi nào có cả sự ưng thuận của tất cả các bên tham gia thì khi đó hợp đổng mới được thiết lập Tuy nhiên trong thực tế phát sinh một số ngoại lệ, đó là loại hợp đồng theo mẫu và loại điều khoản chung của hợp đồng “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong thời gian hợp lý, nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra” (Điều

106 Bộ Luật Dân Sự) Trong hợp đồng theo mẫu thì một bên ký kết luôn ở vị trí chủ động đơn phương đưa ra trước bản hợp đồng với những điều khoản được ấn định từ trước theo ý chí của họ còn bên kia không được thoả thuận gì về các điều kiện trong hợp đồng, họ buộc phải ký kết mà không có sự thỏa thuận nào về nội dung của hợp đồng hoặc là hợp đồng sẽ không được ký kết Loại hợp đồng này thường được áp dụng cho những lĩnh vực độc quyền của Nhà nước và nhằm thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực đó và đối với tất cả những bên tham gia hợp đồng Loại điều khoản chung của hợp đồng là những điều khoản đi kèm với nội dung chính của hợp đồng, có nghĩa những điều khoản này không liên quan trực tiếp tới những thỏa thuận nhằm đạt được những mục đích đã định trước của mỗi bên khi tham gia hợp đồng mà nó là những điều khoản mặc định Khi các bên thỏa thuận xong về những điều khoản chính của hợp đồng thì đương nhiên thừa nhận hiệu lực của những điều khoản chung này Ví dụ như quy định khi vào rạp xem phim khách không được mang đồ ăn từ ngoài vào Trong trường hợp này người xem phim đã xác lập một hợp đồng với rạp chiếu phim với nội dung chính là việc phục vụ chiếu phim và điều khoản không được mang đồ ăn từ bên ngoài vào rạp được coi là điều khoản mặc định Đây chính là điều khoản chung của hợp đồng

Trang 12

1.2 Mục đích của các bên khỉ tham gia hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế.

Hợp đồng có bản chất là sự thỏa thuận, tuy nhiên không phải mọi sự thỏa thuận đều có thể trở thành hợp đồng bởi sự thỏa thuận của hai ý chí vể cùng một đối tượng chưa đủ để tạo lập hợp đồng Mục đích căn bản để các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng là đạt được những ý định, những mong muốn của mình mà

có được nó thì buộc phải xây dựng những quan hệ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Do đó hiệu lực của hợp đồng nói chung chính là việc tạo lập, biến đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ Những thỏa thuận không đem lại cho các bên quyền và nghĩa vụ thì không thể coi là hợp đồng Ví dụ hôn nhân là sự thỏa thuận

ý chí giữa hai người về những vấn đề có liên quan đến hôn nhân và gia đình hoặc

sự thỏa thuận giữa cha mẹ và con cái sống trong gia đình về việc giúp đỡ lẫn nhau thì đều không phải là hợp đồng Khi hai người kết hôn, thỏa thuận giữa họ không tạo lập hay chấm dứt một nghĩa vụ pháp lý nào cả mà họ chỉ đặt mình dưới

sự chi phối của một quy chế pháp lý nhất định và chính quy chế pháp lý đó mới đem lại cho họ quyền và nghĩa vụ với nhau Trong gia đình con cái có trách nhiệm giúp đỡ bố mẹ, đó là trách nhiệm do pháp luật quy định và không thể coi

sự thỏa thuận đó là hợp đồng được

1.3 Hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh t ế đều là sự th ể hiện quan hệ tài sản.

Quan hệ tài sản là quan hệ xã hội được hình thành giữa các chủ thể nhất định với nhau thông qua một tài sản Quan hộ tài sản có đặc điểm là những quan hệ kinh tế cụ thể phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm cũng như cung ứng dịch vụ mang tính chất hàng hóa tiền tệ và tính chất đền bù tương đương

Khẳng định rằng hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế đều là sự thể hiện quan

hệ tài sản bởi lẽ khi tham gia vào các quan hệ hợp đồng nói chung, các chủ thể tham gia luôn đặt mục đích nhất định và mục đích đó chủ yếu hướng tới giá trị của các loại tài sản Để đạt được mục đích đó các bên đã cùng nhau thiết lập hợp

Trang 13

đồng và cũng có nghĩa đã xác lập một quan hệ tài sản Đồng thời quan hệ hợp đồng được xác lập trong nền kinh tế thị trường, chịu sự tác động của các quy luật cưng cầu giữa những chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý và độc lập về tài sản Vì vậy, quan hệ hợp đồng cũng mang tính hàng hóa tiền tệ và tính chất đền bù tương đương Mặt khác cũng từ đặc điểm về chủ thể của quan hệ hợp đồng và quan hệ dân sự ta thấy họ đều bằng ý chí của mình quyết định sự xuất hiện và tồn tại của các quan hệ, nên họ phải tự gánh trách nhiệm về những hành vi của bản thân, tức

là tự gánh chịu quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ quan hệ Do vậy hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự đều là sự thể hiện quan hệ tài sản

1.4 Nguyên tắc kỷ kết của hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự.

Chung bản chất là hợp đồng, hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế đều được

ký kết trên các nguyên tắc tự do tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi

Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nhằm xác lập một nghĩa vụ nhất định, các chủ thể của hợp đồng hoàn toàn độc lập về tài sản và bình đẳng về địa vị pháp lý Vì vậy các chủ thể có quyền tự do giao kết hợp đồng, không bị ai áp đặt, bắt buộc phải giao kết hợp đồng ngoài ý muốn của mình Nếu bị bắt buộc thì hợp đồng đó không đuợc pháp luật thừa nhận (hợp đồng vô hiệu) Mỗi chủ thể tự quyết định việc tham gia hay không tham gia vào những hợp đồng nhất định Tuy nhiên tự do giao kết hợp đồng không phải là không có giới hạn Để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác cũng như lợi ích chung của toàn xã hội thì quyền tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể phải phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội

Hợp đồng là sự gặp gỡ giữa ý chí của các chủ thể Vì vậy các bên giao kết phải tự nguyện, bình đẳng với nhau Khi giao kết hợp đồng không bên nào có quyền ép buộc, áp đặt ý chí của mình cho bên kia Mỗi bên đều có quyền tự do thể hiện ý chí và khi nào các bên thống nhất ý chí với nhau thì mới hình thành hợp đồng Nếu thiếu đi sự tự nguyện, bình đẳng giữa các bên tham gia thì không

Trang 14

thể hình thành hợp đồng, và dĩ nhiên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên Những trường hợp hợp đồng được ký kết do bị lừa dối, bị đe dọa hay bị nhầm lẫn là ví dụ.

Các chủ thể khi xác lập quan hệ hợp đồng nhằm thỏa mãn những mục đích nhất định Vì vậy sự thỏa thuận trong hợp đồng phải là sự thỏa thuận cùng có lợi cho các bên Không thể có một hợp đồng mà trong đó quy định cho một bên chỉ

có quyền và bên kia chỉ có nghĩa vụ mà hợp đồng phải được thỏa thuận sao cho khi thực hiện nó các bên đều có thể thu được những lợi ích cho bản thân Tuy nhiên lợi ích đạt được không nhất thiết phải là một giá trị vật chất mà có thể là một giá trị tinh thần (ví dụ như trong hợp đồng chiếu phim người xem bỏ tiền thỏa mãn nhu cầu được giải trí, được hiểu biết chứ không phải để thu được một giá trị vật chất cụ thể)

Theo những phân tích ở các mục trên thì có thể khẳng định về mặt lý luận hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế có chung bản chất không thể phủ nhận

2, Phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế.

Dù mang bản chất chung nhưng hợp đồng kinh tế vẫn có những đặc điểm riêng giúp nó tồn tại một cách độc lập tương đối so với hợp đồng dân sự

2.1 Hành vi dân sự và hành vi kinh tế.

Pháp luật được sinh ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội và các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh gọi là quan hệ pháp luật Nội dung của các quan hệ pháp luật là các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật

đó Do đó việc phân biệt và xác định mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi kinh tế cũng chính là việc phân biệt và xác định mối quan hệ giữa hợp đồng kinh

tế và hợp đồng dân sự cũng như pháp luật kinh tế và pháp luật dân sự

* Hành vi dân sự : Trong văn bản pháp luật thực định không qui định nhưng

xuất pháp từ tinh thần của luật ta có thể hiểu là: “hành vi pháp lý đơn phương

Trang 15

hoặc đa phương của các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự

* Hành vi kinh doanh : Theo khoản 2 điều 3 Luật doanh nghiệp thì “kinh

doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu

tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Từ hai khái niệm trên, ta có thể hiểu hành vi kinh doanh là hành vi dân sự đặc thù Mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi kinh doanh là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó cái chung là hành vi dân sự còn cái riêng là hành vi kinh tế

Điểm chung nhất giữa hai hành vi là chúng đều là những hành vi của con người, phát sinh và tồn tại trong quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu thụ sản phẩm, đều là nội dung của các quan hộ mang tính chất hàng hoá tiền tệ

Ta có thể phân biệt hành vi dân sự và hành vi kinh tế xét trên một số tiêu chí sau:

a Thòi điểm xuất hiện.

Xét trên khía cạnh lịch sử, hành vi dân sự có trước hành vi kinh tế Khi con người đã biết vận dụng trí tuệ để nâng cao sức sản xuất, tạo ra sản phẩm dư thừa

và xuất hiện nhu cầu trao đổi sản phẩm với nhau với mục đích đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày thì hành vi dân sự đã xuất hiện Khi trải qua cuộc

phân công lao động lần thứ ba, trong xã hội “lần đầu tiên xuất hiện một giai cấp tuy không tham gia sản xuất một tỷ nào, nhiúĩg lại chiếm toàn bộ quyền lãnh đạo sản xuất và bắt những người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế và bóc lột cả h a i”, “một giai cấp mà lịch sử loài người trước đó chưa hê biết đ ến ”, xã

hội xuất hiện một tầng lớp trung gian không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm mà chuyên thực hiện việc mua đi bán lại các hàng hoá không phải phục vụ cho nhu

Trang 16

cầu bản thân mà vì mục đích lợi nhuận Lúc này hành vi kinh tế mới ra đời như là kết quả của sự phát triển tất yếu của các hành vi dân sự.

b Tính ổn định.

Hành vi dân sự có tính ổn định hơn so với hành vi kinh tế bởi vì hành vi dân

sự ít chịu sự tác động, chi phối của các biến động về chính trị, xã hội hơn so với hành vi kinh tế Điều này có thể giải thích tại sao Nhà nước tác động lên các hành vi trên là khác nhau Với hành vi dân sự thì pháp luật chỉ quy định những nguyên tắc cơ bản để các bên tự do thực hiện hành vi, còn đối với hành vi kinh doanh thì được pháp luật điều chỉnh chặt chẽ hơn, cụ thể hơn Do đó tính ổn định của hành vi dân sự cao hơn so với hành vi kinh doanh

c Hành vi kinh doanh là hành vi được diễn ra trên thị trường và nhằm mục đích sinh lòi.

Hành vi kinh doanh là hành vi sản xuất, cung ứng hành hoá, dịch vụ trên thị trường Thị trường là nơi có nhiều người bán và nhiều người mua tự do gặp gỡ trao đổi mua bán hành hóa, cung ứng dịch vụ Trong các hành vi kinh doanh thì hành vi mua bán là quan trọng nhất Hành vi kinh doanh luôn phải gắn với thị

trường, còn với hành vi dân sự có thể diễn ra ở bất cứ đâu, dưới nhiều hình thức

khác nhau, không nhất thiết phải ở trên thị trường và hành vi dân sự không nhất thiết bao gồm hành vi mua bán

Là hoạt động diễn ra trên thị trường nên hành vi kinh doanh phải tuân theo những quy định của thị trường Điều này đã làm cho hành vi kinh doanh có những nét đặc trưng so với hành vi dân sự Từ quy luật cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh phải luôn cố gắng giành giật thị phần bằng nhiều phương pháp khác nhau như cải tiến đổi mới dây chuyền công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm giảm giá thành hoặc dùng các thủ thuật kinh doanh để chiến thắng, đôi lúc đè bẹp đối thủ cạnh tranh Hoặc là từ quy luật của người mua thì các chủ thể kinh

Trang 17

doanh phải tìm cách cung cấp những gì thị trường cần chứ không phải những gì mình có Đồng thời, khi hành vi kinh doanh kết thúc thì không có nghĩa trách nhiệm của nhà kinh doanh đã kết thúc mà lúc đó, trách nhiệm của họ đối với khách hàng mới phát sinh Để đáp ứng được tất cả những yêu cầu trên thì đòi hỏi người thực hiện hành vi kinh doanh phải có chiến lược kinh doanh cụ thể, rõ rành, đồng bộ Đối với hành vi dân sự thì những điều kiện trên dường như không được đặt ra.

d Hành vi kinh doanh được các chủ thê kinh doanh thực hiện và là hoạt động mang tính chất nghề nghiệp.

Một chủ thể chỉ cần có năng lực chủ thể pháp luật dân sự theo quy định của

Bộ luật dân sự thì có thể thực hiện hành vi dân sự Đối với các chủ thể thực hiện hành vi kinh doanh thì như vậy là chưa đủ Do những đặc thù riêng mà hành vi kinh doanh đòi hỏi chủ thể thực hiện phải thoả mãn những điều kiện khắt khe hơn (ví dụ như điều kiện về đăng ký kinh doanh, về vốn, tài sản, sức lao động .)• Chính những điều kiện này phân biệt giao dịch dân sự và giao dịch kinh tế, một bên có mục đích tiêu dùng còn bên kia có mục đích kinh doanh

Hành vi kinh doanh do các chủ thể kinh doanh thực hiện mang tính chất nghề nghiệp Các hành vi này được tiến hành thường xuyên, liên tục, thể hiện tính chuyên nghiệp cao và mang lại thu nhập chính cho chủ thể kinh doanh Vì vậy có nhiều hoạt động có mục đích tìm kiếm lợi nhuận nhưng vẫn được coi là hành vi dân sự do nó không được tiến hành thường xuyên liên tục mang tính nghề nghiệp, không đem lại thu nhập chính cho các chủ thể thực hiện hành vi

2.2 Chủ thể hợp đồng kinh t ế và hợp đồng dân s ự

Mọi cá nhân tổ chức đều có nhu cầu tiêu dùng Vì vậy mọi cá nhân tổ chức có

đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự đều có thể ký kết các hợp đồng dân sự để đáp ứng nhu cầu của mình

Trang 18

Ngay cả các cá nhân là vị thành niên cũng được tham gia ký kết hợp đồng dân sự

và trở thành chủ thể của hợp đồng dân sự nếu trước pháp luật họ có thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó Đối với hoạt động kinh doanh thì không đơn giản như vậy Không phải tổ chức cá nhân nào cũng có thể thực hiện hoạt động kinh doanh Họ phải thoả mãn những điều kiện nhất định xuất phát từ đòi hỏi khắt khe hơn của hoạt động kinh doanh so với hoạt động dân sự Muốn trở thành chủ thể kinh doanh thì tổ chức, cá nhân trước hết phải là chủ thể của hợp đông dân sự, có năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự đầy đủ Ngoài ra, muốn trở thành chủ thể kinh doanh còn phải thỏa mãn một số điều kiện sau:

• Chủ thể đó phải thực hiện hành vi kinh doanh Đây là tiêu chí cơ bản không thể thiếu để xác định chủ thể kinh doanh Hành vi kinh doanh là điều kiện cần cho việc xác định tư cách chủ thể kinh doanh và là căn cứ để phân biệt chủ thể kinh doanh với các chủ thể quan hệ dân sự

• Chủ thể kinh doanh phải hoạt động kinh doanh một cách độc lập Đây là dấu hiệu cần thiết để xác định chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng có phải là chủ thể kinh doanh hay không Khi chủ thể kinh doanh thực hiện các hành vi kinh doanh thì làm xuất hiện nhiều mối quan hệ với các bên đối tác Điểm phân biệt chủ thể kinh doanh với những đối tượng khác là ở chỗ chủ thể kinh doanh phải thực hiện hành vi kinh doanh một cách tự thân, nhân danh chính mình, vì lợi ích của mình

và tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh Hoạt động của chủ thể không bị ràng buộc, bị chi phối bởi ý chí của các chủ thể khác mà phải do chính chủ thể đó quyết định

• Chủ thể kinh doanh phải thực hiện hành vi kinh doanh một cách thường xuyên Đây là một dấu hiệu pháp lý không thể thiếu để xác định tư cách của một chủ thể kinh doanh Một chủ thể dù có thực hiện hành vi kinh doanh nhất định và thực hiện một cách độc lập thì cũng chưa thể được coi là chủ thể kinh doanh nếu

Trang 19

như hành vi kinh doanh đó không được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục Trong pháp luật thực định không có quy định như thế nào được gọi là hoạt động thường xuyên, liê lại, kế tiếp liên tục n tục nhưng có thể hiểu là hành vi kinh doanh được lặp đi lặp mang tính chất nghề nghiệp, đem lại nguồn thu nhập chính cho các chủ thể kinh doanh.

• Chủ thể kinh doanh phải có đăng ký kinh doanh Đây là điều kiện tiên quyết

để một chủ thể có thể trở thành chủ thể kinh doanh và tư cách chủ thể kinh doanh được xác lập khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chủ thể Chính giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là cơ sở pháp lý xác nhận quyền và nghĩa vụ kinh doanh của chủ thể kinh doanh Ví dụ trong những ngành nghề không cần giấp phép hoạt động thì chủ thể kinh doanh

có quyền thực hiện hành vi kinh doanh từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tuy nhiên nếu trong 12 tháng kể từ ngày nhận được chứng nhận đăng ký kinh doanh mà doanh nghiệp không hoạt động kinh doanh thì sẽ bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Khoản 3 điều 121 Luật doanh nghiệp)

2.3 Mục đích của hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự

Quan hệ dân sự rất đa dạng và các chủ thể tham gia vào quan hẹ dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng cũng đa dạng với nhiều mục đích khác nhau, nhưng chủ yếu là vì nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hàng ngày cho chính các chủ thể đó Còn đối với hợp đồng kinh tế khi tham gia vào quan hệ thì đòi hỏi ít nhất

có một bên có mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, bên kia cũng có thể là chủ thể kinh doanh vì lợi nhuận hoặc pháp nhân không có đăng ký kinh doanh tham gia quan hệ hợp đồng nhưng không vì mục đích tiêu dùng mà nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của pháp nhân đó

2.4 Hình thức của hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự

Theo điều 400 Bộ luật dân sự thì hình thức của hợp đồng dân sự có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi, nhưng đối với hợp đồng kinh tế thì điều

11 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định chỉ được ký kết dưới hình thức văn bản hoặc tài liệu giao dịch

Trang 20

và các văn bản có liên quan đã tỏ ra rất lỗi thời và lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu khách quan của các quan hệ kinh tế đang vận động liên tục Sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định trong chính Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và với các văn bản có liên quan đã và đang trở thành rào cản cho việc áp dụng pháp luật hợp đồng kinh tế vào các quan hệ xã hội, làm giảm đi tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, hiệu lực thực thi của pháp luật nói chung và pháp luật hợp đồng kinh tế nói riêng kém dẫn đến pháp chế không được đảm bảo.

Pháp luật hợp đồng kinh tế mới chỉ dừng lại ở các văn bản dưới luật, hiệu lực pháp lý thấp Trong khi các lĩnh vực pháp luật kinh tế khác đã được pháp điển hoá bằng các văn bản luật như Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài, Luật doanh nghiệp Nhà nước Đến nay do sự thiếu hụt các quy định trong Pháp lệnh nên khi áp dụng cần đến các nghị định, thông tư và cả công văn hướng dẫn xét xử của toà án nhân dân tối cao Vì giá trị pháp lý của chúng không cao, quy định tản mạn mâu thuẫn đôi khi trái với quy định mà nó hướng dẫn nên rất khó khăn trong việc áp dụng vào thực tiễn

Pháp luật hợp đồng kinh tế có quy định nhiều loại khác nhau như : Hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng xây dựng Tuy nhiên trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế là văn bản pháp lý có tính chất nền tảng của pháp luật

Trang 21

Hợp đồng kinh tế nhìn chung chỉ quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa mà

bỏ qua các loại hợp đồng khác Mỗi loại hợp đồng có những đặc điểm khác nhau nên đòi hỏi có những quy định đặc thù cho loại hợp đồng đó Vì vậy với cách cấu tạo như trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế là không hợp lý, tạo nên lỗ hổng của pháp luật

Về khái niệm hợp đồng kinh tế, điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định như vậy vừa dài dòng rườm rà mang tính chất liệt kê, lại vừa không chuẩn xác Khái niệm này tương tự như khái niệm hợp đồng dân sự được quy định ở pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 Bộ luật dân sự đã có một khái niệm hợp đồng dân sự hoàn chỉnh hơn, khái quát hơn và thể hiện rõ được những đặc trưng của hợp đồng Vì vậy khái niệm hợp đồng kinh tế trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế

đã tỏ ra lỗi thời lạc hậu

1.1 Nguyên tắc tự nguyện:

Hợp đồng kinh tế được hình thành do sự thống nhất ý chí giữa các bên với nhau một cách tự nguyện Không một cơ quan, tổ chức cá nhân nào được áp đặt ý chí của mình cho chủ thể kinh doanh khi ký kết hợp dồng và việc ký kết hay không ký kết một hợp đồng cụ thể là do chủ thể kinh doanh quyết định vì đó là quyền chứ không phải là nghĩa vụ

/

I

Trang 22

Nội dung của nguyên tắc:

• Các bên tự do lựa chọn bạn hàng;

•Tự do thoả thuận các điều khoản trong đồng (Về đối tượng, số lượng, chất lượng, thời gian giao nhận hàng hóa, giá cả, các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, các biện pháp giải quyết tranh chấp );

•Tự do lựa chọn thời điểm giao kết cũng như chấm dứt hợp đồng

Giới hạn của quyền tự do :

+ Việc ký hợp đồng phải phục vụ cho hoạt động kinh doanh đã đăng ký

+ Không được lợi dụng quyền tự do hợp đồng để hoạt động trái pháp luật

+ Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền không được lợi dụng

sự độc quyền đó để đưa ra những đòi hỏi bất bình đẳng, từ chối hay ép buộc các chủ thể khác khi ký kết hợp đồng

1.2 Nguyên tắc bình đẳng quyền và nghĩa vụ.

Quan hệ hợp đồng kinh tế là quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong ký kết và thực hiện hợp đồng

Hợp đồng kinh tế cũng như hợp đồng nói chung đều hướng tới xác lập quyền

và nghĩa vụ cho mỗi bên và mang tính đối ứng, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Ví dụ như người bán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hay quản lý hàng hoá cho người mua và có quyền đòi tiền bán hàng bằng giá trị hàng hóa mà các bên đã thống nhất với nhau Còn bên mua hàng có quyền yêu cầu bên bán giao hàng đúng số lượng chất lượng như đã thoả thuận và có nghĩa vụ trả tiền

Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình đàm phán và

ký kết hợp đồng thể hiện ở chỗ các bên có quyền đưa ra yêu cầu và có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của bên kia, không bên nào được ép

Trang 23

buộc bên nào ký kết hợp đồng Khi quan hệ hợp đồng đã hình thành các bên đều

có nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết, nếu như vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm trước bên kia

Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ có quan hệ mật thiết với nguyên tắc tự nguyện Vi phạm nguyên tắc tự nguyện là vi phạm nguyên tắc bình đẳng

về quyền và nghĩa vụ Sự vi phạm này sẽ ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng (Hợp đồng vô hiệu )

l 3 Nguyên tắc không trái pháp luật.

Khi đàm phán ký kết hợp đồng, các bên có quyền tự do thoả thuận và pháp luật tôn trọng sự tự nguyên ý chí của họ Tuy nhiên điều đó không có nghĩa các bên muốn thỏa thuận như thế nào cũng được mà sự thoả thuận đó chỉ được công nhận nếu như nó phù hợp với pháp luật Tức là mọi thoả thuận đều không được trái pháp luật, không được lợi dụng quyền tự do để hoạt động trái pháp luật, gây thiệt hại cho xã hội và cho các chủ thể pháp luật khác, nếu không hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu

1.4 Nguyên tắc cùng có lợi

Trong kinh tế thị trường, mỗi người kinh doanh là một đơn vị độc lập tham gia quan hệ hợp đồng vì những mục đích khác nhau và vì những lợi ích riêng Vì vậy khi ký kết hợp đồng kinh tế các bên phải dung hoà ý chí của mình, nhân nhượng lẫn nhau để đạt được quan hệ hợp tác Nếu như không đảm bảo lợi ích của các bên thì hợp đồng khó có thể hình thành hoặc nếu có hình thành thì cũng dễ bị phá vỡ.Tuy nhiên đã gọi là nguyên tắc thì các bên tham gia ký kết phải tuyệt đối tuân thủ nếu không hợp đồng sẽ vô hiệu toàn bộ Trong thực tế vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hai bên đã thỏa thuận một cách tự nguyện không có sự cưỡng ép lừa dối nhưng lại chỉ có lợi cho một bên thì khó có thể xác định được

là hợp đồng vô hiệu Ví dụ như vì thiếu thông tin mà một người đã chấp nhận

Trang 24

mua hàng với giá cao hơn giá trị thị trường thì toà án không thể dựa vào đó để tuyên hợp đồng vô hiệu được mặc dù trong trường hợp này chỉ có người mua là thiệt hại Nếu như những hợp đồng kiểu như thế này được toà án chấp nhận là vôhiệu thì sẽ làm rối loạn các quan hệ hợp đồng kinh tế bởi nếu như vậy sau khi kýxong hợp đồng, nếu thấy mình không có lợi thì bên không có lợi sẽ lập tức yêu cầu toà án huỷ hợp đồng, đến ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của phía bên kia, làm mất ổn định các quan hệ xã hội Do đó pháp lệnh hợp đồng kinh tế coi đây là một nguyên tắc ký kết hợp đồng là không hợp lý.

7.5 Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sán.

Nguyên tắc này được hiểu là các bên tham gia hợp đồng phải tự gánh vác trách nhiệm về tài sản bao gồm phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm xảy ra Ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ trong các quan hệ kinh tế thường xảy ra các vi phạm mang tính chất dây chuyền, tức là sự vi phạm này là nguyên nhân dẫn đến sự vi phạm khác Vì vậy để bảo vệ cho quyền lợi của người

bi vi phạm thì người vi phạm trưc tiếp phải có trách nhiệm về tài sản đối với người bị vi phạm mà không cần xét đến quan hệ khác Tuy nhiên, theo chúng tôi không nên coi đây là nguyên tắc của quá trình giao kết hợp đồng kinh tế Sau khi

đã thiết lập hợp đồng các bên phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và nếu như không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ thì sẽ phải chịu trách nhiệm tài sản Vì vậy chỉ có sự vi phạm khi đã hình thành hợp đồng và nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản không phải là nguyên tắc giao kết hợp đồng mà là hậu quả pháp lý của việc vi phạm hợp đồng đã ký

Qui định về nguyên tắc giao kết hợp đồng điều 395, Bộ Luật dân sự nêu ra 2 nguyên tắc :

+ Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái với pháp luật đạo đức xã hội;+ Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng

Trang 25

So với quy định của Bộ luật dân sự, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định vừa thừa (như đã phân tích ở trên) lại vừa thiếu Một hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật nhưng trái đạo đức xã hội thì không thể coi là hợp pháp Các yêu cầu về thiện chí, hợp tác, trung thực, và ngay thẳng là những yêu cầu rất cần thiết trong việc ký kết hợp đồng kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt Nếu không có sự hợp tác thiện chí, các bên khó có thể đạt được sự thoả thuận thoả mãn đòi hỏi của cả hai Nếu không có sự trung thực, ngay thẳng thì hợp đồng kinh tế có thể dễ dàng trở thành công cụ để kiếm tiền trái pháp luật.

Mặt khác có thể nói những quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng kinh tế trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế là những quy định không khả thi bởi nó không được đảm bảo bằng những chế tài nhất định Việc vi phạm nguyên tắc ký kết là vi phạm những tư tưởng có tính chất chỉ đạo, vậy mà tại điều 8 Pháp lệnh khi quy định về các trường hợp hợp đồng vô hiệu hoàn toàn không đề cập tới việc vô hiệu của hợp đồng vi phạm nguyên tắc giao kết Đây cũng là một điểm cần bổ xung đối với pháp luật hợp đồng dân sự vì trong quy định của Bộ Luật dân sự cũng không có quy định trường hợp hợp đồng vô hiệu do vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng

2 Chủ thê hợp dồng kinh tế và thẩm quyền ký kết.

2.1 Chủ th ể của hợp đồng kinh tế.

Theo điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các bên sau đây:

- Pháp nhân với pháp nhân;

- Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh

Trong đó điều 1 nghị định 17/HĐBT (16/1/1990) (Gọi tắt là NĐ17) hướng dẫn thêm pháp nhân là một tổ chức có đủ các điều kiện:

Trang 26

+ Được thành lập hợp pháp;

+ Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng các tài sản đó;+ Có quyền quyết định một cách độc lập về các hoạt động sản xuất kinh doanh;

+ Có quyền tự mình tham gia vào các hoạt động pháp luật

Trước đây theo thông tư liên ngành số 04/TTLN (26/08/1996) của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân tối cao thì hợp đồng được ký kết giữa các cá nhân có giấy phép kinh doanh, có vốn thấp hơn vốn pháp định của Doanh nghiệp

tư nhân hoạt động cùng ngành nghề với các pháp nhân, nếu không nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, thuê lao động thì được coi là hợp đồng kinh tế (Cá nhân

có đăng ký kinh doanh được xác định theo Nghị định 66/HĐBT 2/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ) Như vậy khái niệm cá nhân có đăng ký kinh doanh được hiểu bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân và cá nhân có giấy phép kinh doanh Năm 1999 Luật doanh nghiệp ra đời bỏ quy định bắt buộc về vốn pháp định, Nghị định 66/HĐBT được thay thế bởi NĐ03 (3/2/200) Khái niệm cá nhân có đăng ký kinh doanh phải được hiểu là tất cả các chủ thể kinh doanh hoặc

có tư cách kinh doanh được quy định trong Luật Doanh nghiệp, đó là Doanh

nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh và Hộ kinh doanh cá thể (Nhận xét: việc coi Công tỵ hợp danh là cá nhân cố đăng kỷ kinh doanh là sự gượng ép lớn bởi xét về vốn công ty hợp danh hình thành từ vốn góp của nhiều thành viên hợp danh Xét

về mặt tổ chức công ty hợp danh cũng có một cơ cấu tổ chức chặt chẽ Đây là một điểm lạc hậu của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, bởi nó đã không dự liệu được

sự phát sinh của các chủ thể mới trong quan hệ hợp đồng kinh tế.)

Ngoài ra tại điều 42 và 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế cũng quy định một số chủ thể là người làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình,

Ngày đăng: 16/02/2021, 19:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w