Cũng như nhiều quốc gia khác, pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam thừa nhận lừa dổi, nhầm lẫn, đe doạ, giả tạo trong giao kết hợp đồng cũng như việc chủ thế xác lập hợp đồng tại thời điếm k
Trang 2] B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI THỊ THU HUYỂN
HỢP ĐỐNG DÂN s ự vô HIỆU DO VI PHẠM ■ ■ ■ ■
ĐIÊU KIỆN VÊ Ý CHÍ CHỦ THỂ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN s ụ
HÀ NỘI 2010
Trang 3J l ờ i c ta u t i ẽ n , b ô i x i n ctư ợ c Cjứi í ờ i c a m ơ n cPiăn t h à n h t ớ i t ậ ị 2 t f i è c á c
1'Hiến ±ỹ, < P íó Cịiáo ±ư ctã tíia m Cịia cjiancj d ạ y <jà ỹ iá ịi ctỡ tô i txa u dôi
b i ế t ơ n cPiãn t h à n h u a 1â u 1ắ c npLất t ớ i [~Uiển í ỹ H 3 u i J Ỉò ã n c j LÊU -
^ N ỹ ư ờ i ctă H ư ớ n g ắ ẫ n ư à cịìúỊi ctỡ t ô i l ấ t n í ĩ i ề u t x o n g ư iệ c c n ọ n ctề t à i
cĩuiỹ nPiư h o à n tpLầníĩ [uận ưãn D ô i cũng xin cíỉãn tíiànPi cám ơn Cjía ctinPi, cơ Cịuan, (jạn Ễrè ctã QLÚịi ctõ’ tô i txoncị ÍUÕỈ Cịiiá txin.fl Pioàn th iện Luận ưãn n à y /
Trang 4Bô luât dân sư:• • •
Tòa án nhân dân:
DANH MỤC CÁC CH Ừ VIẾT TẤT
BLDS TAND
Trang 5CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ H ỌP ĐỎNG DÂN s ự VÔ HIỆU
DO VI PHẠM Đ IỀU KIỆN VÈ Ý CHÍ CHỦ THẺ
1.1 Khái quát chung về họp đồng dân sự vô hiệu và phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu
1.1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu
1.1.2 Phân loại hợp đồng dân s ự vô hiệu
1.2 Ý chí và các trưòng họp vi phạm ý chí chủ thể trong họp đòng dân sự
1.2.1 Yêu cầu về ý ch í chủ thể trong hợp đồng dân sự
1.2.2 Các trường hợp vi phạm điều kiện về ý c h ỉ chủ thể
CHƯƠNG 2 CÁC TRƯ Ờ NG HỌP HỢP ĐÒNG DÂN s ự VÔ HIỆU DO
VI PHẠM ĐÍÈU KIỆN VẺ Ý CHÍ CHỦ THỂ
2.1 Các trường họp họp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự
Hợp đông dân sụ vô hiệu (to người xác lập tại thời đỉênt không nhận thức và làm chủ được hành vi của m ình
2.2 Họp đồng dân sự vô hiệu do mâu ỉhuẫn giữa ý chí chung
và sụ thể hiện ý chí
2.2.1 Khái niệm giả tạo trong giao kết hợp đồng
2.2.2 Hợp đồng dân sự vỗ hiệu do giả tạo theo quy định của pháp luật
2.2.3 Thục tiễn áp dụnq pháp luật về hợp đồng dãn sự vô hiệu do giả tạo
nguyẹn
2.1.1 Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn
2.1.2 Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối
2.1.3 Hợp đồng dãn sự vô hiệu do bị đe dọa
Trang 6CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PIIÁP LÝ
CỦA HỢP ĐÒNG DÂN s ự VÔ HIỆU DO VI PIIẠM ĐIÈU KIỆN VÊ Ý 51 CHÍ CHỦ THẾ
0 ) Ph ương thức vô hiệu của họp đồng dân sự vô hiệu do vi
phạm ý chí chủ thê
3.1.1 Mặc nhiên bị coi là vô hiệu• • • 51
3.1.2 Vỗ hiêu có điều kiên• • 53
3.2 Hậu quả pháp lý và cách thức xử lý hậu quả pháp lý của ^ Rợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể
3.2.1 Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu do vi ^ phạm ỷ chí chủ thế
3.2.2 Cách thức và thực tiễn áp dụng pháp luật trong x ử lý
hậu quả pháp ỉỷ của hợp đồng (lân sự vô hiệu do vi phạm ỷ chí 58
chủ thể
3.2.3 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi hợp
đồng (lân sụ’ vô hiệu do vi phạm ỷ ch ỉ chủ thể
CHƯƠNG 4 MỘT SÓ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP IIOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VÈ HỢP ĐÒNG DÂN s ự VÔ HIỆU DO VI PHẠM 65 ĐIÊU KIỆN VÈ Ý CHÍ CHỦ THẺ
4.1 Một số phương hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện
các quy định của pháp luật về họp đồng dân sự vô hiệu do vi 65 phạm điều kiện về ý chí chủ thể
4.1.1 Các quy định chung về hợp đồng dãn sự vô hiệu do vi
phạm ỷ chí chủ thể
4.1.2 Quy định cụ thế về các trường hợp hợp đồng dãn sự vồ
hiệu do vi phạm ỷ chí chủ thể
4.2 Một số phưoìig hưóng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật về họp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm 70 điều kiện về ý chí chủ thể
Trang 7Họp đồng dân sự là một loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong đời sống hàng ngày Đe tồn tại và phát triển, mồi chủ thể trong xã hội đều phải thiết lập với nhau những quan hệ, qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng Điều đó đóng một vai trò quan trọng và là một tất yếu đối với mọi đời sống xã hội Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên hình thành bởi tài sản mà chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể Trong hợp đồng, ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí của các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng Chính vì vậy, họp đồng dân sự là sự thoả thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Nhưng không phải bất kỳ họp đồng nào được các bên chủ thể giao kết đều được pháp luật thừa nhận có hiệu lực pháp lý Các biếu hiện của sự không thống nhất ý chí (sự thể hiện ý chí khác nhau) hoặc sự trái ngược giữa biếu hiện với ý chí đích thực của các bên giao kết sẽ không hình thảnh nên một hợp đồng
có hiệu lực pháp lý Nói cách khác một hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, nhầm lẫn, đe doạ, giả tạo hay được giao kết tại thời điểm chủ thế giao kết không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, có thể không có £Ìá trị vì trong các hoàn cảnh như vậy, các cam kết được đưa ra không xuất phát từ ý chí đích thực của người giao kết Cũng như nhiều quốc gia khác, pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam thừa nhận lừa dổi, nhầm lẫn, đe doạ, giả tạo trong giao kết hợp đồng cũng như việc chủ thế xác lập hợp đồng tại thời điếm không nhận thức
và làm chủ được hành vi cua mình, là một trong số các yếu tố có thế đưa đến sự
vô hiệu của hợp đồng Tuy nhiên, hiểu nó như thế nào; xác định được các điều kiện đế một lừa dối, nhầm lẫn, đe doạ, giả tạo trở thành một trong các căn cứ dẫn tới sự vô hiệu của hợp đồng cũng như xác định thời điếm không nhận thức và
Trang 82 Tình hình nghicn cứu đề tài
Chế định họp đồng dân sự đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học như:
* Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Trần Hải Hưng: “Đổi mới sự điều chỉnh pháp luật về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005” đã phân tích các điểm mới của BLDS 2005 trong việc viện dẫn áp dụng các quyđịnh về giao dịch dân
sự vô hiệu đối với hợp đồng dân sự vô hiệu; quy định mối quan hệ giữa họp đồng chính và hợp đồng phụ khi họp đồng chính vô hiệu; sự bổ sung thêm trường hợp họp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được trong BLDS 2005
* Luận văn tiến sĩ luật học của tác giả Lê Thị Bích Thọ: “Hợp đồng kinh
tế vô hiệu” phân biệt giữa họp đồng dân sự vô hiệu và hợp đồng kinh tế vô hiệu; nêu lên các trường hợp hợp đồng kinh tế vô hiệu theo quy định của pháp luật nước ngoài cũng như pháp luật Việt Nam; phân tích hậu quả pháp lý và cách thức xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu
* Luận văn tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Văn Cường: “Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” phân tích khái niệm, đặc điếm, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu và các căn cứ luật định về giao dịch dân sự vô hiệu; sơ lược quá trình phát triển của các quy định
về giao dịch dân sự vô hiệu trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ cũng như phân tích các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu trong pháp luật một số nước trên thế giớ i
Trang 9Tuy nhiên các luận án chỉ đưa ra những khái quát chung về họp đồng dân
sự vô hiệu
Bên cạnh đó cũng có nhiều bài viết, nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “Nhầm lẫn - yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng” của tác giả Lê Thị Bích Thọ, tạp chí TAND số 8/2001, “Giao kết hợp đồng dân sự một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh, tạp chí Kiêm sát số 11/2001, “Hợp đồng vô hiệu và việc giải quyết hậu quả” của tác giả
Vũ Thị Én, tạp chí Dân chủ và pháp luật số 8/1998, “Mấy ý kiến về hợp đồng lao động vô hiệu” của tác giả Đào Thị Hằng, tạp chí Luật học 1999 nhưng cũng chỉ dừng lại ở những khía cạnh nhỏ của vấn đề hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể
Vì vậy, việc nghiên cứu căn cứ làm phát sinh hợp đồng dân sự vô hiệu do
vi phạm ý chí chủ thể và hậu quả pháp lý của nó sẽ là một cách tiếp cận khác về vấn đề này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc quy định của pháp luật vê hợp đông dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thê
và hậu quả pháp lý của nó
Phạm vi nghiên cứu
Chế định hợp đồng là chế định pháp luật rộng lớn, bao gồm nhiều nội dung như: Nội dung của họp đồng dân sự, hình thức của họp đồng, các nguyên tắc ký kết và thực hiện hợp đồng, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, các hợp đồng dân sự thông dụng, Trong phạm vi của một luận văn cao học luật, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu liên quan đến hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thê như:
Trang 10- Khái quát chung hợp đồng dân sự vô hiệu và họp đồng dân sự vô hiệu do
vi phạm ý chí chủ thê
- Phân tích các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ
- Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể
và thực tiễn của việc áp dụng pháp luật dân sự trong việc xử lý hậu quả pháp lý của họp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể
- Một số kiến nghị góp phần nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thế
và xử lý hậu quả của hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thế
4 Cơ sỏ’ lý luận và phưoìig pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lỷ luận
Cơ sở lý luận của luận văn là các chủ trương, chính sách về phát triển kinh
tế xã hội của Nhà nước, các nguyên ỉý cơ bản của khoa học lý luận chung về Nhà nước và pháp luật Việt Nam, các quan điểm của Dảng Cộng sản Việt Nam về hoàn thiện pháp luật được thể hiện trong các văn kiện, chương trình hội nhập kinh tế quốc tế
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên CO' sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nehĩa duy vật lịch sử, tác giả đã sử dụng và kết hợp một cách đồng bộ các phương pháp nghiên cứu của khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống đế giải quyết nhiệm vụ đặt ra trong luận văn
5 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn• • • •
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thế qua đó góp phần vào việc
Trang 11nhận thức đúng đẳn hơn các quy định của pháp luật về vấn đề này cũng như thực trạng áp dụng pháp luật.
Đe đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Phân tích những vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể
- Phân tích các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do phạm ý chí chủ thể
và hậu quả pháp lý của Hợp đồng dân sự do vi phạm ý chí chủ thể
- Phân tích thực tiễn của việc xử lý hậu quả pháp lý của Họp đồng dân sự
vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể và một số giải pháp góp phần nhằm nâng cao hiệu quả trong việc xử lý hậu quả pháp lý của Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể
6 Những kết quả nghiên cứu mói của luận văn:
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên quan đến hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể Trong luận văn có những điểm mới sau đây:
- Phân tích có hệ thống các trường họp họp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ the theo quy định của pháp luật
- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự
vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thế
- Đe xuất được những giải pháp cụ thể nhàm hoàn thiện và thực hiện những quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể
7 Co' cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được cơ cấu thành 4 chương:
Trang 12- Chương 3: Phương thức vô hiệu và hậu quả pháp lý khi hợp đồng dân sự
vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí chủ thể
- Chương 4: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về họp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí chủ thể
Trang 13CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐÒNG DÂN s ụ VÔ HIỆU
DO VI PHẠM ĐIÊU KIỆN VÈ Ý CHÍ CHỦ THẾ 1.1 Khái quát chung về họp đồng dân sự vô hiệu và phân loại họp đồng dân
sự vô hiệu.
ỉ 1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu.
Vô hiệu được hiêu theo nghĩa thông thường là không có hiệu lực, không mang lại kết quả [9, tr 1122] Theo đó, họp đồng dân sự vô hiệu sẽ được hiếu là hợp đồng dân sự không có hiệu lực, không mang lại kết quả Việc hiểu họp đồng dân sự vô hiệu theo nghĩa này cũng bộc lộ khiếm khuyết, bởi lẽ, có những trường họp họp đồng vô hiệu do vi phạm quy định nào đó của pháp luật nhưng nếu cả hai bên tham gia giao kết đều thừa nhận hợp đồng đó và hợp đồng đó có mục đích, nội dung không xâm phạm tới lợi ích chung của cộng đồng, của Nhà nước thì vẫn được coi là có hiệu lực và ràng buộc các bên giao kết
Trong ngôn ngữ pháp lý, hợp đồng dân sự vô hiệu là họp đồng không có hiệu lực pháp luật, không làm phát sinh (hoặc không được pháp luật thừa nhận) quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên do vi phạm pháp luật [ 10J
Hiện nay, Pháp luật dân sự Việt Nam chưa xây dựng được khái niệm khái quát về họp đồng dân sự vô hiệu, khoa học pháp lý cũng như pháp luật thực định của Việt Nam mới chỉ đi sâu làm rõ các tiêu chí xác định sự vô hiệu của hợp đồng và từ đó đưa ra cách thức xử lý đối với các trưòng họp vô hiệu Do đó, đê
có thể hiểu được khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu, ta phải đặt chúng trong mối quan hệ với khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu
Theo các quy dịnh từ điều 122 và 134 - BLDS 2005, thì một giao dịch bị coi là vô hiệu khi không dáp ứng được một trong các điều kiện sau:
- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự
- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Trang 14- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
- Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định
Bên cạnh đó, tại điều 410 - BLDS 2005 lại quy định: “Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ điều 127 đến điều 138 của Bộ luật này cũng đưọ'c áp dụng đối với hợp đông vô hiệu
Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành thì họp đồng dân
sự với tư cách là một loại của giao dịch dân sự cũng sẽ vô hiệu khi vi phạm một trong các diều kiện có hiệu lực được quy định tại điều 122 - BLDS 2005 Đây không được coi là một khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu theo đúng nghĩa của
nó vì trong khái niệm này ta vẫn chưa thấy nêu lên được bản chất cũng như những đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu, nó cũng chỉ dừng lại ở sự liệt kê các trường hợp vô hiệu
Trên cơ sở những phân tích ở trên, ta có thể hiểu hợp đồng dân sự vô hiệu
là một họp đồng mà pháp luật không thừa nhận, không có giá trị ràng buộc các bên giao kết hợp đồng Hợp đồng vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ pháp lý mà các bên đã cam kết trong hợp đồng Thời điếm xác dịnh sự vô hiệu của hợp đồng đu'Ọ'c tính từ thời điểm hình thành hợp đồng
Việc hiểu và áp dụng đúng trong việc xác định hợp đồng dân sự vô hiệu
có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự, qua đó góp phần thiết lập kỷ xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tồ chức và Nhà nước
1.1.2 Phân loại hợp đồng dãn sự vô hiệu:
Phân loại họp đồng dân sự vô hiệu là việc chia hợp đồng vô hiệu thành từng nhóm theo những tiêu chí nhất định với mục đích nhất định, đê có sự diều chỉnh pháp lý thích hợp Bên cạnh đó, việc phân loại này cho ta cái nhìn toàn diện về họp đồng vô hiệu dưới những khía cạnh, phương diện khác nhau để từ dó
Trang 15đưa ra những cách thức xử lý thích hợp Ở đây, ta đề cập đến ba cách phân loại họp đồnR dân sự vô hiệu.
1.1.2.1 Căn cứ vào điêu kiện vi phạm:
Trên CO' sở các điều kiện có hiệu lực của họp đồng được quy định tại điều
122 - BLDS 2005, ta có thể phân chia họp đồng dân sự thành bốn loại khi chúng
vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực đó
Một là, hợp đồng dân sự vô hiệu do người tham gia giao kết không có năng lực hành vi dân sự Khi tham gia bất kỳ một giao dịch nào các chủ thế cũng đều phải đáp ứng điều kiện về mặt năng lực hành vi dân sự và đối với họp đồng dân sự cũng thế Chủ thể tham gia hợp đồng dân sự không đáp ứng những quy định của pháp luật về vấn đề này sẽ làm cho hợp đồng vô hiệu
Hai là, họp đồng dân sự vô hiệu do có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội
Pháp luật cùng với việc quy định cho các chủ thể những hành vi được phép làm, cũng đã quy định những hành vi nhất định bị cấm Bên cạnh đó, đạo đức xâ hội cũng đặt ra những chuẩn mực ứng xử đòi hởi các chủ thế phải tôn trọng và pháp luật cũng ghi nhận điêu đó Chính vì vậy mà khi các chủ thê không tuân thủ theo các quy định của pháp luật về điều cấm và các chuẩn mực đạo đức
xã hội thì hợp đồng trở nên vô hiệu
Ba là, họp đồng dân sự vô hiệu do chủ thể tham gia họp đồng không hoàn toàn tự nguyện
Bản chất của họp đồng dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí Chính vì thế, tự do ý chí và bày tỏ ý chí là các yếu tổ cấu thành của sự tự nguyện Nếu một trong hai yếu tố này không có hoặc không thống nhất thì không the có tự nguyện Và sự tự nguyện của các bên trong việc giao kết cũng như thực hiện hợp đồng đã được khái quát lên thành một nguyên tắc được quy định trong BLDS, tại điều 4 - BLDS 2005 quy định: “Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận” Do đó, vi phạm sự tự nguyện của chủ thế chính là vi phạm pháp
Trang 16luật Hợp đồng thiếu sự tự nguyện đều bị coi là vô hiệu Mọi sự thoả thuận không phan ánh đúng ý chí của các bên hoặc một bên ký kết sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý
Bốn là, hợp đồng dân sự vô hiệu do có hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật
Pháp luật cho phép các bên chủ thế có quyền tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được lập theo một hình thức nhất định và hình thức của hợp đồng trong trường hợp này được coi là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Khi đó, nếu hợp đồng không tuân thủ các quy định về hình thức sẽ vô hiệu
1.1.2.2 Căn cứ vào tỉnh chât trái pháp luật:
Đây là cách phân loại truyền thống và theo đó thì hợp đồng dân sự vô hiệu được chia thành hai nhóm là: Hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối Sự phân loại này dựa trên một số đặc điếm khác biệt thể hiện bản chất của hai khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối
Không giống như cách phân chia ở trên, các trường hợp hợp đồng vô hiệu đều được quy định trong BLDS 2005, trong cách phân chia này, ta có thế thấy rằng hai khái niệm hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đong vô hiệu tương đối không được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật Đó chỉ là những khái niệm của ngành khoa học luật dân sự và mang tính lý thuyết, thế nhưng hai khái niệm này lại là công cụ không thể thiếu được trong việc nghiên cứu bản chất của họp đồng dân sự và chúng có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoa học luật dân sự cũng như trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến thủ tục tuyên bố một hợp đồng dân sự vô hiệu
Đốn đây, để hiếu được rõ về khái niệm cũng như bản chất của hai loại hợp đồng dân sự vô hiệu này, chúng ta sẽ cùng đi vào phân tích những điểm khác biệt đặc trưng của chúng, đó là:
Trang 17khi hội tụ đủ những điều kiện nhất định là: Khi có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan và theo quyết định của Toà án.
Đây là sự khác biệt quan trọng nhất, được coi là tiêu chí hàng đầu để phân loại một hợp đồng vô hiệu thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối hay tương đối khi nghiên cứu nội dung các văn bản quy phạm pháp luật Cũng chính từ sự khác biệt này mà trong một số tài liệu còn sử dụng thêm các thuật ngữ khác để biểu thị sự phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu: hợp đồng dân sự đương nhiên vô hiệu
và hợp đồng dân sự vô hiệu có điều kiện [20, tr.37-44] Nhìn chung việc sử dụng hai cặp thuật ngữ này không có gì trái ngược nhau, tuy nhiên về phương diện phân tích lý thuyết của luật dân sự thì việc sử dụng cặp thuật ngũ' “vô hiệu tuyệt đối” và “vô hiệu tương đối” sẽ không chỉ giới hạn ở sự khác biệt đang phân tích (mặc nhiên vô hiệu hay không mặc nhiên vô hiệu), mà còn cho phép chúng ta nghiên cứu bản chất của chúng một cách toàn diện hơn
Thứ hai, sự khác biệt về chủ thể yêu cầu tuyên bổ vô hiệu:
về nguyên tắc, tất cả những người có quyền lợi liên quan đều có thế yêu cầu Toà án tuyên bố một hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối nhưng đổi với họp đồng dân sự vô hiệu tương đối thì không phải bất cứ ai cũng có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu Chỉ những người có quyều lợi liên quan được pháp luật bảo vệ mới có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Theo đó, bên cùng giao kết không thể dựa vào sự vô hiệu tương đối để xin huỷ bỏ họp đồng Như vậy, phạm vi của những người có quyền yêu cầu Toà án tuyên họp đồng vô hiệu tuyệt đối rộng hơn so với hợp đồng vô hiệu tương đối Quan điểm này xuất phát từ nguyên tắc ưu tiên bảo vệ lợi ích công, pháp luật không bảo vệ người có lỗi
Trang 18Thứ tư, sự khác biệt về hiệu lực pháp lý của hợp đồng.
Theo quy định tại khoản 1 - điều 137 - BLDS 2005, Hợp đồng dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đối, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên
kể từ thời điểm xác lập Tuy nhiên, theo quy định tại điều 136 - BLDS 2005, ta lại thấy rằng pháp luật dân sự cũng lại giới hạn thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên
bố vô hiệu đối với trường hợp hợp đồng vô hiệu tương đối Từ đó, ta có thế hiêu rằng, các trường hợp hợp đồng vô hiệu tương đối thì được coi là có hiệu lực pháp lý cho đến khi nào bị tuyên bổ vô hiệu Vì nếu không hiểu như thế thì nếu họp đông không được coi là có hiệu lực pháp luật trước khi bị tuyên bô thì sẽ dẫn tới tình trạng là trên thực tế không có bất kỳ một hợp đồng nào có thế có hiệu lực trong khoảng thời hiệu hai năm của quyền yêu cầu Điều này cũng có nghĩa là trong khoảng thời gian của thời hiệu yêu cầu thì hợp đồng dân sự thuộc trường hợp vô hiệu tương đối sẽ có hiệu lực đến khi bị Toà án tuyên vô hiệu Còn khi đã hết thời hiệu khởi kiện đó thì họp đồng dân sự thuộc trường họp vô hiệu tương đối sẽ không bị tranh chấp về hiệu lực nữa
Thứ năm, sự khác biệt về bản chất quyết định của Toà án
Như chúng ta đã biết thì trong cả hai trường họp họp đồng dân sự vô hiệu thì Toà án đều có thế ra quyết định tuyên bố hợp đồng vô hiệu Nhưng bản chất của hai loại quyết định này lại có sự khác biệt cơ bản
Trang 19tuyệt đối không mang tính phán xử mà đơn thuần là một trong những hình thức công nhận sự vô hiệu của họp đồng dựa trên cơ sở luật định Bên cạnh đó, đối với hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối, thì quyết định của Toà án là cơ sở duy nhất làm cho hợp đồng trở nên vô hiệu hay nói cách khác, quyết định của Toà án mang tính phán xử.
Thứ sáu, sự khác biệt về hậu quả pháp lý của họp đồng dân sự vô hiệu.Theo quy định tại Điều 137 - BLDS 2005 thì tuỳ từng trường hợp vi phạm
cụ thê mà Toà án có thê buộc các bên gánh chịu hậu quả theo một trong ba phương thức sau: 1) Hoàn trả song phương: các bên đều phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được từ bên kia; 2) Hoàn trả đơn phương: một bên được hoàn trả lại tài sản giao dịch, còn tài sản giao dịch thuộc bên kia (bên vi phạm) thì bị tịch thu sung công quỹ; 3) Tịch thu toàn bộ: Mọi tài sản giao dịch của cả hai bên
vi phạm đều bị tịch thu sung công quỹ
Các trường họp pháp luật quy định hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là nhằm mục đích bảo vệ các lợi ích công (lợi ích của nhà nước, của xã hội nói chung) do
đó mà tuỳ mức độ vi phạm mà Toà án có thế áp dụng một trong cả ba phương thức nêu trên Trong khi đó, các trường hợp pháp luật quy định vô hiệu tương đối là nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cho chính các chủ thế tham gia hợp đồng vì vậy mà Toà án chỉ áp dụng một trong hai phương thức: Hoặc hoàn trả song phương hoặc hoàn trả đơn phương chứ không áp dụng phương thức tịch thu sung công quỳ
1.1.2.3 Căn cứ vào mức độ vô hiệu:
Theo cách phân loại này thì họp đồng dân sự vô hiệu được chia thành hai loại: Họp đồng dân sự vô hiệu toàn bộ và họp đồng dân sự vô hiệu từng phần Đây là cách phân loại phố biến trong các chế định hợp đồng ở Việt Nam
Trang 20vô hiệu từng phần khi một phần cua hợp đồng vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của hợp đồng (Điều 135 - BLDS2005) Nói cách khác, khi họp đồng dân sự vô hiệu từng phần thì họp đồng vần tồn tại và các phần khác đáp ứng điều kiện của pháp luật vẫn có hiệu lực pháp lý.
Như vậy, ở cách phân loại này các nhà làm luật không quan tâm nhiều đến các nguyên nhân gây ra vô hiệu mà chủ yếu quan tâm đến hậu quả của nó như thế nào và mức độ vô hiệu đến đâu Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định rõ mức độ vô hiệu của họp đồng cũng như khả năng khắc phục các khiếm khuyết của hợp đồng và trách nhiệm của các bên chủ thể
1.2 Ý chí và các trưòng họp vi phạm ý chí chủ thể trong họp đồng dân sự.
1.2.1 Yêu cầu về ỷ ch í chủ thể trong hợp đồng dân sự:.
Cá nhân là chủ thể dàu tiên của các quan hệ xã hội, là “tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Cá nhân - con người là chủ thể nguyên sinh, đầu tiên tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự Và nội dung của quan hệ pháp luật dân sự chính là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các quan hệ
đó Họp đồng là một loại quan hệ dân sự phổ biến nhất xảy ra hàng ngày giữa các chủ thể trong xã hội vì thế nội dung của hợp đồng cũng là tông họp các quvền và nghĩa vụ của các bên chủ thể Trong hợp đồng, quyền của một bên thường tương ứng với nghĩa vụ của bên kia Do đó, để đạt được thóa thuận cuối cùng của các bên - nội dung của họp đồng thì các bên chủ the phải thê hiện ý chí của mình, hay nói cách khác nội dung của hợp đồng chính là hình thức bên ngoài của ý chí chung của các bên chủ thê
Trang 21Ý chí của chủ thể được hiểu là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của mỗi người Tuy nhiên, các chủ thế tham gia vào hợp đồng, khi cam kết, thế hiện ý chí của mình dưới bất kỳ một hình thức nào cũng phải phù họp với các quy định của pháp ỉuật, nó phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Phải có sự thống nhất ý chí chung giữa các bên chủ thể:
Các loại giao dịch nói chung (cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương) đều được xác lập dựa trên ý chí của chủ thê tham gia quan hệ Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản giữa hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương chính ở chồ giao dịch được xác lập dựa trên ý chí của ai (bên nào) trong giao dịch? Trong các hành vi pháp lý đơn phương (lập di chúc, hứa thưởng, .) có thê có sự xuất hiện của nhiều chủ thể khác nhau (trong di chúc thì có người lập di chúc và người thừa kế theo di chúc, trong hứa thưởng có thế có ngu'0'i hứa thưởng và người được thưởng, .), nhưng những hành vi pháp lý đơn phương này luôn được xác lập và có hiệu lực theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất (của người lập di chúc, người hứa thưởng, .) Thậm chí trong việc lập di chúc chung của
vợ chồng, mặc dù có sự bàn bạc thống nhất giữa hai vợ chồng trong việc định đoạt tài sản chung, tuy nhiên trong di chúc đó cả hai vợ chồng đều thuộc về một bên của giao dịch đơn phương Hơn thế nừa, sự ràng buộc pháp lý giữa hai vợ chồng sau khi di chúc chung được xác lập cũng không như trong họp đồng, mà chỉ được coi là sự “giống nhau của hai ý chí độc lập” Sau khi lập di chúc chung
mà vợ hoặc chồng muốn thay đối nguyện vọng của riêng mình mà bên kia đã chết thì người đó vẫn có quyền “sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài san của mình” (Khoản 2 Điều 664 Bộ luật dân sự 2005)
Khác với hành vi pháp lý đơn phương, cơ sở đề hình thành một hợp đồng dân sự phải là sự thống nhất ý chí tự nguyện của các bên Hay nói cách khác, chi khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì họp đồng mới được hình thành Cũng do được hình thành từ ý chí chung thống nhất của cả các bên nên hợp đồng tạo nên mối ràng buộc pháp lý chặt chẽ giữa các bên đối với nhau
Trang 22Theo nguyên tắc chung thì hợp đồng chỉ được sửa đổi, bổ sung theo ý chí chung thống nhất của các bên
- Ý chí chung phải xuất phát từ sự tự nguyện, bình đẳng:
Sự tự nguyện được thế hiện ở chỗ các bên chủ thế tham gia hợp đông là
theo đúng ý muốn của mình mà không phải chịu bất kỳ một sức ép nào từ phía chủ thế khác Và yếu tố tự nguyện tham gia giao kết hợp đồng của các bên chủ thề còn được nhà làm luật quy định thành một trong những điều kiện bắt buộc phái có đế họp đồng phát sinh được hiệu lực pháp lý Tại Điều 4 - BLDS 2005 quy định nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận như sau: “Trong quan
hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào” Như vậy, các chủ thể có quyền tự do cam kết, thỏa thuận phù họp với pháp luật trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Mọi cam kết và thỏa thuận hợp pháp đều được pháp luật bảo
hộ Khi cam kết, thỏa thuận các bên hoàn toàn tự nguyện, không được ai dùng bất cứ thủ đoạn nào nhằm buộc một người cam kết, thỏa thuận trái với ý chí của người đó Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên có thể bị tuyên bô là vô hiệu
Tuy nhiên, do ý chí là cái bên trong, nếu chưa được bộc lộ ra bên ngoài thì vẫn chỉ là ý tưởng chủ quan của chủ thể, không thể nắm bắt Vì vậy, để đảm bảo một cách tốt nhất cho chủ thể khi tham gia giao kết họp đồng được thật sự tự nguyện thì một điều kiện song song cũng phải được quy định đó là sự bình đắng giữa các bên chủ thể tham gia giao kết họp đồng Sự bình đẳng trong giao kết họp đồng chính là việc các bên chủ thể tham gia họp đồng phải có vị trí ngang nhau, không bị phân biệt về mặt địa vị xã hội hay tôn giáo, Điều đó có nghĩa
là dù cho trong xã hội, một người có địa vị cao, một người có địa vị thấp hơn nhưng khi cùng tham gia vào một quan hệ họp đồng thì họ có những quyền và nghĩa vụ ngang nhau Sự bình đẳng trong giao kết hợp đồng còn được thế hiện ỏ' chồ, các chủ thể có quyền ngang nhau khi thỏa thuận về bất kỳ nội dung điều
Trang 23khoản hợp đồng nào trong phạm vi pháp luật cho phép Họ có quyền đưa ra những điều kiện có lợi cho mình một cách họp pháp và phía bên kia cùng có quyền từ chối nếu điều kiện đó không đảm bảo được lợi ích hợp pháp của mình
Và trên cơ sở những đàm phán, thỏa thuận đã đạt được hai bên sẽ đi tới sự thống nhất chung, hình thành nên nội dung của hợp đồng
Như vậy, khi các bên chủ thể tham gia giao kết họp đồng hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng thì ý chí chung thống nhất của các bên chủ thể được thể hiện bằng nội dung của hợp đồng mới đảm bảo được lợi ích hợp pháp của các bên
- Ý chí chung phải được thể hiện đầy đủ, chính xác:
Đây cũng là một điều kiện hết sức quan trọng đối với hiệu lực của họp đồng Bỏ'i lẽ, không phải chủ thế nào khi tham gia vào các quan hệ pháp luật cũng có đầy đủ các kiến thức về pháp luật quy định trong lĩnh vực đó Và nó dẫn tới trường hợp mà các bên chủ thể mặc dù đã thống nhất được ý chí với nhau về các vấn đề liên quan tới đối tượng của hợp đồng nhưng khi thế hiện thành nội dung của hợp đồng lại không thể hiện đầy đủ Sự đầy đủ ở đây không phải là đầy
đủ theo ý chí của các chủ thể vì trong trường hợp này các chủ thể nghĩ rằng nội dung họp đồng đã đầy đủ rồi, mà sự đầy đủ ở đây là theo quy định của pháp luật Trong trường hợp nhẹ đó là thiếu những điều khoản không cơ bản thì có thể bố sung theo tập quán Trong trường hợp nặng đó là thiếu các điều khoản cơ bản thì hợp đồng sẽ chưa được coi là đã giao kết
Nội dung hợp đông không nhũng phải thê hiện đây đủ ý chí chung của các bên tham gia giao kết mà nó còn phải thể hiện chính xác được ý chí chung đó Điều này có nghĩa là nội dung hợp đồng phải được diễn đạt bằng những ngôn từ thông dụng, dề hiểu, nếu có các thông số kỹ thuật thì phải được giải thích rõ Bởi nếu vì một lý do nào đó mà một bên chủ thể bị nhầm lẫn nên mới giao kết họp đồng thì sẽ rất dễ dẫn tới xảy ra tranh chấp và thậm chí trong nhiều trường họp họp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ v;
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ :
Trang 24Chính vì lẽ đó mà khi ý chí của các chủ thể đã được thống nhất thì việc thế hiện nó ra bên ngoài thành nội dung hợp đồng cũng phải được các chủ thể thực hiện đầy đủ, chính xác qua đó lợi ích của họ mới được đảm bảo trên thực tế
1.2.2 Các trường hợp vi phạm điều kiện về ỷ chí chủ thể:
1.2.2.1 Ỷ chí chung chưa được tạo lập đầy đủ:
Đó là trường hợp mà theo quy định của pháp luật thì nội dung mà các chủ thể thỏa thuận trong hợp đồng không phản ánh được đầy đủ ý chí chung thống nhất của các bên chủ thể Trong trường hợp này bao gồm hai trường hợp nhỏ sau đây:
Thứ nhất, trường họp hợp đồng do các bên chủ thể xác lập thiếu điều khoản cơ bản
Điều khoản cơ bản là những điều khoản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng Điều khoản cơ bản có thể do tính chất của từng hợp đồng quyết định hoặc do pháp luật quy định Tùy theo từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản
có thể là đối tượng, giá cả, địa điểm thanh toán, Có những điều khoản đương nhiên là điều khoản cơ bản vì không thỏa thuận tới nó sẽ không thể hình thành hợp đồng Chẳng hạn như điều khoán về đối tượng luôn là điều khoan cơ ban trong hợp đồng mua bán tài sản Ngoài ra, có những điều khoản mà vốn dĩ không phải là điều khoản CO' bản nhưng các bên thấy cần phải thỏa thuận được điều khoản đó mới giao kết hợp đồng thì những điều khoản này cũng là điều khoản cơ bản của hợp đồng sẽ giao kết Và theo quy định tại Điều 401 - BLDS 1995 thì nếu họp đồng thiếu những điều khoản cơ bản thì hợp đồng đó sẽ không thể giao kết được Điều này có nghĩa rằng mặc dù các bên chủ thể đã thật sự thống nhất ý chí với nhau và cùng nhau xác lập hợp đồng nhưng hợp đồng do các bên xác lập lại thiếu những điều khoản cơ bản thì nó sẽ bị coi như không tồn tại về mặt pháp lý-
về vấn đề này thì BLDS 2005 đã không kế thừa BLDS 1995 mà chỉ quy định về nội dung của hợp đồng có thể bao gồm những điều khoản nhất định tùy
Trang 25theo từng loại hợp đồng Theo tôi, việc không quy định về nội dung chủ yêu của họp đồng là không thỏa đáng Bởi lẽ, khi tham gia giao kết họp đồng, không phải chủ thê nào cũng lường trước hêt được nhừng gì sẽ xảy ra đê có thê đưa vào thỏa thuận trong hợp đồng cho dù đó là những điều khoản liên quan trực tiếp tới lợi ích của họ Do đó, khi nhà làm luật đưa ra những yêu cầu về nội dung chủ yếu của hợp đồng đối với các bên chú thể chính là giúp cho các bên chủ thể dựa vào
đó mà xác định được lợi ích của mình và qua đó mới đảm bảo được lợi ích họp pháp của mình Điều 401 Bộ luật dân sự 1995 có quy định rằng “Nội dung chủ yếu của hợp đồng là những điều khoản mà thiếu những điều khoản đó, thì hợp đồng không thể giao kết đ ư ợ c Tuy nhiên, rất tiếc rằng quy định đó đã không được thể hiện trong Bộ luật dân sự mới 2005
Thứ hai, trường hợp hợp đồng do các bên chủ thể xác lập thiếu điều khoản không CO' bản
Đó là trường hợp mà khi các bên chủ thể xác lập họp đồng nhưng lại thiếu một số điều khoản thì pháp luật cho phép các bên chủ thể có quyền thoả thuận bổ sung Nếu các bên không thoả thuận đế bố sung được mà phát sinh tranh chấp thì Toà án sẽ giải thích hợp dồng dân sự theo hướng bổ sung theo tập quán đối với loại hợp đồng đó tại địa điểm giao kết hợp đồng Tuy nhiên, ở vấn đề này ta cũng thấy có sự khác biệt giữa quy định của BLDS 2005 và BLDS 1995 Nếu như ở BLDS 1995 có quy định rõ ràng tại khoản 5 - Điều 408 là khi hợp đồng thiếu một sổ điều khoản không thuộc nội dung chủ yếu thì các bên chủ thể lúc đó
hợp đồng Nếu là thiếu điều khoản cơ bản thì nó sẽ rơi vào trường họp mà chúng
ta đã phân tích ở trên Còn theo quy định tại Khoản 5 - Điều 409 - BLDS 2005 thì chỉ quy định là trường hợp hợp đồng thiếu một số điều khoản mà không nói
rõ điều khoản đó là điều khoản cơ bản hay điều khoản không cơ bản Và như vậy, nếu theo quy định của BLDS 2005 thì ta thấy sẽ dẫn tới sự tùy tiện trong
Trang 26giao kết của các bên chủ thế thậm chí dẫn tới việc lợi dụng quy định của pháp luật đê làm lợi cho mình của các bên chủ thê.
1.2.2.2 Vi phạm ỷ chỉ tự nguyện:
Pháp luật luôn đòi hỏi các chủ thể khi tham gia vào hợp đồng đều phải tự nguyện Song, trên thực tế, không phải tất cả mọi hợp đồng do các chủ thể xác lập đều đáp ứng được điều kiện này Có thế vì một mục đích nào đó mà một bên chủ thể đã đưa ra hoặc không đưa ra các tiêu chí nên đã làm cho đối tác tham gia lầm tưởng do đó họ đã xác lập họp đồng Hoặc do chính các chủ thế tham gia hợp đồng có hiểu biết hạn hẹp về lĩnh vực mà họ tham gia dẫn đến hậu quả là một bên tham gia giao kết bị thiệt hại Hay cũng có trường hợp vì mục đích nào
đó mà chủ thể tham gia vào họp đồng trái với ý muốn và nguyện vọng của họ,
Và tất cả những trường họp đó đều không đáp ứng được điều kiện của pháp luật
về sự tự nguyện hay nói cách khác, đó là những trường hợp họp đồng được xác lập có sự vi phạm ý chí tự nguyện Bao gồm những trường họp sau:
- Họp đồng được xác lập do có sự nhầm lẫn;
- Hợp đồng được xác lập do có sự lừa dối;
- Hợp đồng được xác lập do có sự đe dọa;
- Hợp đồng do chủ thể xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vicủa mình
Khi hợp đồng được xác lập thuộc trong các trường hợp trên thì hợp đồng
đó có thể bị tuyên bố vô hiệu
1.2.2.3 Mâu thuân giữa ỷ chí chung với sự thê hiện ỷ chí:
Khi các bên chủ thể thống nhất được với nhau thì một điều tất yếu đó là hợp đồng sẽ được các bên xây dựng trên cơ sở ý chí chung đó Tuy nhiên, vì một
lý do nào đó mà sự thể hiện ý chí - hợp đồng lại không thể hiện một cách đúng đắn ý chí chung của các bên chủ thể Neu các bcn chủ thể không cố ý trong việc
sử dụng các ngôn từ khiến cho ý chí chung của các bên không được hiểu một cách đúng đắn thì pháp luật sẽ cho phép các chủ thế có quyền giải thích hợp
Trang 27đồng Theo đó, khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chí dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích điều khoản đó (Khoản 1 - Điều 409 - BLDS 2005) Trong trường họp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì theo quy định tại Khoản 5 - Điều 409 - BLDS 2005 ý chí chung của các bên sè được sử dụng để giải thích hợp đồng Ngược lại, có những trường hợp mà trong
đó các bên chủ thể cố ý không thế hiện ý chí chung đích thực của các bên (hợp đồng giả tạo) hay nói cách khác họp đồng do các bên xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác mà giao dịch đó mới thể hiện đúng ý chí chung của các bên chủ thể Trong trường hợp này, họp đồng giả tạo đương nhiên bị coi là vô hiệu
1.2.2.4 Mâu thuân giữa ỷ chí chung với ỷ chí của Nhà nước:
Cùng với việc quy định nguyên tắc tự do cam kết, pháp luật cũng đặt ra điều kiện đối với các bên chủ thể đó là mục đích và nội dung của hợp đồng do các bên xác lập phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội Như chúng ta đã biết, Nhà nước đặt ra các quy phạm pháp luật
đề điều chinh các quan hệ pháp luật và đó chính là hành lang pháp lý mà ở đó các bên chủ thể đều phải tuân thủ Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì ngoài việc tạo điều kiện cho các họp đồng dân sự được xác lập để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể, pháp luật còn phải bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng, xã hội,
đó chính là ý chí của Nhà nước Chính vì thế mà một hợp đồng được xác lập nếu
có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật hay trái với đạo đức xã hội thì họp đồng đó bị coi là vô hiệu theo quy định tại Điều 127 - BLDS 2005
1.2.2.5 Sự thê hiện ỷ chí chung không rõ ràng:
Đây là trường hợp mà hợp đồng do các bên xác lập nhưng lại hàm chứa những ngôn từ không rõ ràng (khó hiểu, hiếu theo nhiều nghĩa) thì pháp luật cho phép các bên chủ thê được giải thích pháp luật như sau:
Trang 28- Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ dựa vào ngôn
từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên chủ the đế giải thích điều khoản đó (Khoản 1 - Đều 409 - BLDS 2005)
- Khi một điều khoản của hợp đồng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa thì phải chọn nghĩa nào làm cho điều khoản đó khi thực hiện có lợi nhất cho các bên (Khoản 2 - Điều 409 - BLDS 2005)
- Khi hợp đồng có ngôn từ có thể hiếu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với tính chất của hợp đồng (Khoản 3 - Điều
409 - BLDS 2005)
- Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết họp đồng (Khoản 4 - Điều 409 - BLDS 2005)
- Hợp đồng theo mẫu:
Trong thực tiễn xã hội hiện nay, có một số lĩnh vực hợp đồng ký kết giữa các bên chủ thể những lại không có sự bàn bạc Ví dụ: Họp đồng cung cấp điện, nước sạch, - Hợp đồng theo mẫu Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu đế bên kia trả lời trong một khoảng thời gian hợp lý, nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra Trong các loại hợp đồng này mặc dù có sự ký kết giữa các bên chủ thế tham gia hợp đồng
Trang 29các chủ thế nhận cung cấp điện, nước sạch đã bị hạn chế tự do bày tỏ ý chí của mình Ý chí của họ chỉ được thể hiện trong việc có ký kết hợp đồng với nhà cung cấp hay không.
Chính vì thế nếu bên đưa ra hợp đồng theo mẫu mà trong hợp đồng đó có điều khoản không rõ ràng thì họ sẽ phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó (Khoản 2 - Điều 407 - BLDS 2005) Còn trong trường hợp mà họp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm cho bên đưa ra họp đồng theo mầu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực trừ trường hợp có sự thỏa thuận của hai bên (Khoản 3 - Điều
407 - BLDS 2005)
Như vậy, từ những phân tích trên, ta có thể thấy có rất nhiều trường hợp vi phạm điều kiện về ý chí chủ thể Tuỳ từng trường hợp mà pháp luật có quy định những cách xử lý khác nhau như: hợp đồng chưa được coi là giao kết, hợp đồng
bị vô hiệu, hợp đồng được sửa đổi, bô sung, Tuy nhiên, trong phan tiếp theo của luận văn này, tôi chỉ dừng ở việc làm rõ các trường họp vi phạm điều kiện ý chí của chủ thể tham gia giao kết hợp đồng mà hậu quả của nó có thế dẫn tới sự
vô hiệu của họp đồng Bao gồm các trường hợp sau:
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị đe doạ
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập tại thời điểm không nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình
Trang 30CHƯƠNG 2 CÁC TRƯỜNG HỢP HỢP ĐỒNG DÂN s ụ VÔ HIỆU
DO VI PHẠM ĐIÈƯ KIỆN VÈ Ý CHÍ CHỦ THẺ
"f2.1 Các truò ng họp họp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện.
Đe đảm bảo nguyên tắc tự nguyện cam kết, thoả thuận trong hợp đồng dân
sự được quy định tại Điều 4 - BLDS 2005, pháp luật dân sự cũng đã quy định một trong các điều kiện đề hợp đồng có hiệu lực đó là các bên chủ thể tham gia giao kết phải hoàn toàn tự nguyện (Điều 122 - BLDS 2005) Theo đó, họp đồng dân sự nếu không đảm bảo được sự tự nguyện sẽ bị vô hiệu Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện bao gồm các trường hợp sau:
- Họp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn;
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do lừa dối;
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do đe doạ
- Họp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập tại thời điểm không nhận thức
và làm chủ hành vi của mình
2.1.1 Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn.
2.1.1.1 Khải niệm nhầm lẫn trong giao kết hợp dồng:
Trong cuộc sống hàng ngày, việc các bên chủ thể bị nhầm lẫn khi tham gia các quan hệ xã hội không phải là một việc hiếm hoi ví dụ như hiểu nhầm ý của người khác hay cầm nhầm đồ của người khác, Theo nghĩa thông thưÒTig, nhầm lần được hiểu là hành vi được thực hiện hoặc nhận thức không đúng với ý định của người thực hiện hành vi hay nhận thức Trong khoa học pháp lý, nhầm lẫn được hiếu là sự thể hiện không chính xác ý muốn đích thực của một bên hoặc các bên trong giao kết hợp đồng Hay nói theo cách khác, ở đó không có sự thống nhất giữa ý muốn thật và ý chí bày tỏ ra bên ngoài của các bên chủ thế Bên cạnh
đó, cũng có cách hiểu cho rằng nhầm lẫn là sự không phù hợp giũa niềm tin và thực tế, hay nghĩa là suy nghĩ trong đầu khác với cái xảy ra trong thực tế Song,
Trang 31dù cá ch thể hiện bằ n g n g ô n từ có khác nhau, n h ư n g về CO' bản, n h ầ m lẫn chính là
sự không phù họp giữa việc thế hiện ý chí của chủ thể với thực tế của sự việc
Như vậy, ta có thể hiểu rằng nhầm lẫn có thể xảy ra đối với một bên hoặc xảy ra đối với cả hai bên chủ thể tham gia giao kết hợp đồng Hơn nữa, nhầm lẫn
có thê do lỗi của một bên hoặc cá hai bên Ớ nhiều nước thuộc hệ thống luật Anh
- Mỹ và châu Ảu lục địa đã có sự phân biệt giữa nhầm lẫn do một phía (nhầm lẫn đơn phương) với nhầm lẫn do hai phía (nhầm lẫn chung, nhầm lẫn tương hồ) và nhầm lẫn về sự việc với nhầm lẫn về luật Và việc phân biệt các trường họp nhầm lần như trên sẽ đưa đến các hậu quả pháp lý khác nhau Nhầm lẫn do một bên giao kết có thể không dẫn tới hợp đồng vô hiệu Ngược lại, nhầm lẫn do cả hai phía có thể dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng
- Nhầm lẫn đơn phương là nhầm lẫn chỉ của một bên Do đó xảy ra trường họp là một bên sẽ hiếu đúng được nội dung họp đồng tại thời điểm ký kết hợp đồne còn bên kia lại không
- Nhầm lẫn chung (nhầm lẫn từ hai phía) là trường hợp các bên cùng nhầm lẫn về một hoặc một số điều khoản cụ thể của hợp đồng Trong trường hợp này,
ca hai bên đều hiểu sai về cùng một vấn dề Ví dụ: A mua một cái ti vi mới ở ngoài cửa hàng về chưa sử dụng B thấy thích nên đã đề nghị A bán lại cho B A đồng ý Khi B về sử dụng thì phát hiện là ti vi không phải là ti vi mới mà là ti vi
cũ được sơn sửa lại Trong trường hợp này, A cũng không biết là ti vi mình vừa mua không phải là ti vi mới Do đó mà cả A và B đều bị nhầm lẫn Pháp luật nhiều nước thường coi hợp đồng được giao kết do hai bên cùng bị nhầm lẫn là
vô hiệu
■Ị - Nhầm lẫn tương hỗ là nhầm lần của cả hai bên nhưng mỗi bên lại nhầm lẫn một vấn đề khác nhau Sự nhầm lẫn của cả hai bên đã dẫn đến việc giao kết hợp đồng của họ Sự nhầm lẫn của bên này là yếu tố dẫn đến sự nhầm lẫn của bên kia và ngược lại Mỗi bên trong trường họp này đã thiết lập họp đồng khác với ý định thực của mình
Trang 32- Nhầm lần về luật là sự hiểu sai luật đưa đến một cam kết không đúng với mong muốn của người giao kết Quan điểm pháp luật truyền thống không coi nhầm lẫn về luật là đối tượng cần sự bảo vệ mà coi nhầm lẫn về sự việc là đối tượng cần sự bảo vệ Tuy nhiên, sự phân biệt giữa nhầm lẫn về luật và nhầm lẫn
về sự việc khó có thể được xác định rõ ràng trong nhiều trường hợp
- Nhầm lẫn về sự việc là sự nhầm lẫn về nội dung của sự việc Các biểu hiện của nhầm lẫn như: Sự nhầm lẫn vô ý thức về sự việc mang tính chất quan trọng đối với hợp đồng hay tin vào sự tồn tại của một sự việc là quan trọng đối với hợp đồng nhưng thực tế đã không tồn tại
Pháp luật hợp đồng của các quốc gia như Pháp, Mỹ hầu như không thừa nhận nhầm lẫn đơn phương là yếu tố dẫn đến hợp đồng vô hiệu hoặc nếu có thừa nhận thì cũng đòi hỏi những điều kiện rất chặt chẽ Ngược lại, pháp luật Việt Nam chỉ đề cập sự nhầm lẫn của một bên tham gia hợp đồng là yếu tố vô hiệu hợp đồng mà chưa làm rõ nhầm lẫn do cả hai bên ký kết hợp đồng có được xem
là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của họp đồng hay không Tuy nhiên, xác định yếu tố nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng là một vấn đề không đơn giản Các bên hợp đồng thường bị nhiều nhãn tố, hoàn cánh dẫn đến sự nhầm lẫn Những nhân tố dẫn đến nhầm lẫn phổ biến nhất là do cách diễn đạt khi soạn thảo hợp đồng, do
sự khác biệt nhau về ngôn ngữ, sự khác nhau về các tiêu chuẩn kỹ thuật, Thực
tế, có nhiều trường hợp mà trong đó một hoặc cả hai bên bị nhầm lẫn ngay từ khi giao kết họp đồng nhưng không phải bất cứ nhầm lẫn nào cũng đều dẫn đến khả năng vô hiệu họp đồng
Pháp luật ở các quốc gia khác nhau có cách xác định khác nhau về yếu tố nhầm lẫn dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng Đa số các hệ thống pháp luật đều coi nhầm lẫn về sự việc, nhầm lẫn do cả hai phía là yếu tố làm cho họp đồng vô hiệu Ở các nước này, nhầm lẫn đơn phương hoặc nhầm lẫn về luật hầu như không ảnh hưởng đến hiệu lực họp đồng trừ những trường hợp ngoại lệ Ví dụ như trong giao dịch thương mại quốc tế nhầm lẫn về luật và nhầm lẫn về sự việc
Trang 33lại được xem như những yếu tố có thể đưa đến sự vô hiệu của hợp đồng Luật hợp đồng của Mỹ quy định nhầm lẫn do cả hai phía có thể làm cho hợp đồng vô hiệu khi có ba điều kiện: Một là, nhầm lẫn liên quan đến đối tưọng mà các bên định giao kết; Hai là, nhầm lẫn có tác động rất cơ bản đến sự cam kết của các bên; Ba là, rủi ro thiệt hại gây ra từ sự nhầm lần.
Theo quy định cua pháp luật dân sự Cộng hoà Pháp, điều kiện đế xác định
sự nhầm lẫn là nhân tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng rất khắt khe Đó phải là
sự nhầm lẫn về nội dung, phải không do người ký hợp đồng gây ra và nhầm lẫn phải có tính quyết định, tức là nếu các bên tham gia quan hệ họp đồng biết trước điều đó thì sẽ không bao giờ ký họp đồng Một bên tham gia hợp đồng, trước khi
ký phải tự tìm hiểu và phải thể hiện sự hiểu biết tối thiểu đối với những điều mình ký kết Nguyên đơn có trách nhiệm chứng minh rằng, tại thời điếm giao kết họp đồng mình đã nhầm lẫn, đã hrèu sai vấn đề do khả năng diễn đạt của đối tác Nhầm lẫn có thế được xác định bởi sự thiếu thông tin
Như vậy, cả hệ thống luật Anh - Mỹ lẫn Luật châu Âu lục địa đều coi những nhầm lần về sự việc, nhầm lẫn quan trọng và nhầm lẫn xảy ra trong giai đoạn hình thành hợp dồng là các yếu tố dẫn dến hợp đồng vô hiệu
Theo điều 131 - BLDS 2005, pháp luật dân sự Việt nam coi các nhầm lẫn
về nội dung chủ yếu của hợp đồng là yếu tố có thể đưa đến sự vô hiệu của hợp đồng Như vậy, các nhầm lẫn về nội dung không chủ yếu, cũng như những nhầm lẫn về chủ thể, nhầm lẫn về luật không được thừa nhận là yếu tố đưa đến sự vô hiệu của họp đồng Cách quy định này của BLDS có xu hướng đề cao trách nhiệm, tính ràng buộc của các thoả thuận, hạn chế việc chủ thể giao kết hợp đồng trốn tránh nghĩa vụ thực hiện hợp đồng bằng việc đưa ra lý do vô hiệu hợp đông dựa vào yếu tố nhầm lẫn
Đế một nhầm lẫn được coi là chính đáng người ta phải dựa vào các tiêu chuẩn khách quan và chủ quan sau: Thứ nhất, phải xem xét liệu một người bình thường trong cùng hoàn cảnh, cũng đổi mặt với nhầm lẫn tương tự như bên bị
Trang 34nhầm lẫn nếu biết được sự thật của sự việc vào thời điểm giao kết họp đồng có giao kết hợp đồng với những điều khoản như vậy hay không hay sẽ chỉ giao kết với những điều khoản khác Thứ hai, phải xem xét các điều kiện liên quan đến các bên họp đồng
Bên nhầm lẫn có thể huỷ bỏ họp đồng chỉ khi rơi vào một trong các trường hợp: Một là, cả hai bên đều cùng nhầm lẫn và sự nhầm lẫn này chỉ liên quan đến sự việc vào thời điểm giao kết hợp đồng; Hai là, sự nhầm lẫn của bên nhầm lẫn phải do bên kia gây ra do vô tình, bất cẩn, trình bày sai hoặc im lặng
Như vậy, nhầm lẫn chỉ có ý nghĩa với tư cách là yếu tố xác định hợp đồng
vô hiệu nếu nó xảy ra trong giai đoạn họp đồng được hình thành Và khi xác định được nhầm lẫn về sự việc thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu hợp đồng
vô hiệu Khi đó họp đồng đã giao kết sẽ không phát sinh hiệu lực từ thời điểm giao kết
2.1.1.2 Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định của pháp luật:
Điều 131 - BLDS 2005 quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dãn sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lãn cỏ quyền yêu cầu bèn kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu”.
Nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của họp đồng mà tham gia giao kết họp đồng gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng sự việc, sự nhầm lẫn phải được thế hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của họp đông phải xác định được Neu bên bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì hợp đồng do các bên đã giao kết có thể bị tuyên bố vô hiệu
Trong nhiều trường hợp sự nhầm lẫn có thế xảy đến do lỗi của bên đối tác Khi một bên có lỗi làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng mà giao kết họp đồng thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của
Trang 35hợp đồng đó Nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố họp đồng vô hiệu Ví dụ: A bán cho B một cái máy hút bụi hàng ngoại nhập, vì nghĩ là B biết cách sử dụng do không thấy B hoi gì nên A không hướng dẫn về cách sử dụng nguồn điện Khi B về nhà cắm nguồn điện 220V vào thì thấy máy hút bụi bị cháy khét mùi B đem đến trả lại cho A thì A bảo trong hướng dẫn có ghi rõ là dùng với nguồn điện 110V A không chấp nhận B khởi kiện ra Toà Trong trường hợp này ta thấy trên thực tế, B nghĩ là máy hút bụi cũng sử dụng được nguồn điện bình thường trong nhà và sách hướng dẫn bàng tiếng Nhật nên B không biết Nếu biết phải sử dụng nguồn điện 110V đế sử dụng máy thì B sẽ không mua Còn A thì nghĩ là B biết nên cũng không hướng dẫn B cách sử dụng Như vậy, A đã có lỗi vô ý trong việc không hướng dẫn cho B về cách sử dụng máy hút bụi khiến cho B về dùng thì bị cháy máy Hợp đồng được lập giữa B bị vô hiệu do sự nhầm lẫn của B.
Tuy nhiên, lỗi của bên gây ra sự nhầm lẫn phải là lỗi vô ý Nếu sự nhầm lẫn do lỗi cố ý của bên đối tác thì hợp đồng đã giao kết không phải vô hiệu do nhầm lẫn mà lại thuộc trường hợp vô hiệu do lừa dối
Xung quanh vẩn đề lồi của các bên trong trường hợp hợp đồng giao kết do nhầm lẫn, trong lý luận có tồn tại hai cách giải quyết ngược nhau Cách thứ nhất cho rằng họp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn bất kể do lỗi của bên nào gây ra (Điều 141 - BDS 1995) Nếu bên nào có lỗi sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia Cách thứ hai cho rằng họp đồng chỉ bị tuyên bổ vô hiệu nếu sự nhầm lần xảy ra do lỗi vô ý của bên đối tác (Điều 131 - BLDS 2005) Còn nếu như chính bên bị nhầm lẫn có lỗi thì hợp đồng lchông bị vô hiệu, các bên vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng Theo cách giải quyết thứ nhất là họp lý hơn, bởi lẽ chỉ cần có sự nhầm lẫn xảy ra là họp đồng đã không đáp ứng được yêu cầu về sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, do vậy họp đồng đã xác lập có thể bị tuyên
bố vô hiệu Còn việc xác định lỗi thuộc về ai là chỉ nhằm giải quyết vấn đề hậu quả phát sinh khi hợp đồng vô hiệu (bồi thường thiệt hại) mà thôi, v ấn đề này có
Trang 36thể áp dụng nguyên tắc chung về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đế giải
quyết (điểm c khoản 1 điều 122 BLDS 2005)
Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu do nhâm lân
là hai năm (Điều 136 - BLDS 2005) kế từ ngày xác lập hợp đồng Tuy nhiên, nếu
hết thời hiệu này mà bên bị nhầm lẫn không yêu cầu Toà án tuyên bố họp đồng
vô hiệu thì vấn đề tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng không còn tồn tại nữa và
họp đồng đã giao kết vẫn phát sinh hiệu lực từ thời điểm giao kết
2.1.1.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm
lân.
Bộ luật dân sự 2005 ra đời đã khắc phục được những nhược điểm của Bộ
luật 1995 trong việc tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn Tuy nhiên,
thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về vấn đề này thì mỗi Tòa lại có
những cách hiểu và áp dụng không giống nhau Phân tích quá trình giải quyết
của Tòa án các cấp về vụ tranh chấp vụ tranh chấp họp đồng đặt cọc giữa nguyên
đơn ông Tạ M, bị đơn anh Nguyễn Thế V và chị Nguyễn Thị p sau đây, sẽ cho
chúng ta có được cái nhìn rõ hơn về vấn đề này
Nội dung vụ án như sau:
Qua đọc báo, ông Tạ M đến văn phòng môi giới nhà đất tại phố B gặp anh
Nguyễn Văn H là người của văn phòng này Anh H cho biết có quen chủ căn nhà
số 18 ngách 25/77 phố M Họ đang cần bán với giá 6 tỷ đồng Sau đó, ông Tạ M
được dẫn đến xem toàn bộ khuôn viên ngôi nhà trên của anh Nguyễn Thế V và
chị Nguyễn Thị p Vợ chồng anh V sẽ bán ngôi nhà cho ông X với điều kiện là
ông phải đặt cọc trước 700 triệu đồng vào ngày 02/10/2008 để anh Vinh trả nợ
Ngân hàng lấy “sổ đỏ” về (do ngôi nhà đang bị thế chấp tại Ngân hàng), ông M
đồng ý Hai bên thống nhất giá chuyền nhượng nhà đất là 5,4 tỷ đồng, số tiền này
được giao làm ba đợt:
- Đợt 1: Ngày 02/10/2008, bên mua giao cho bên bán 700 triệu đồng Đây
là tiền bên bán đặt cọc và là biện pháp bảo đảm đế hai bên thực hiện hợp đông
Trang 37triệu đồng Đây là tiền các bên thực hiện tiếp hợp đồng.
- Đọt 3: Sau khi hoàn tất thủ tục chuyến nhượng nhà đất, trong thời hạn 5 ngày bên mua phải giao nốt 100 triệu đồng cho bên bán để bên bán trao giấy chứng nhận cho bên mua
Theo đó, ngày 02/10/2008, ông M đã đưa cho vợ chồng anh V 700 triệu đồng để giải chấp ngôi nhà Lúc đó, anh V đã đưa cho ông xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc nhưng ông chỉ chú ý tới tên chủ sở hữu chứ không để
ý tới diện tích nhà và ông được anh V đưa cho giũ’ bản photocopy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có công chứng Vào ngày 27/10/2008, qua sự thông báo của anh H, ông M mới biết được chiều rộng mặt tiền của ngôi nhà thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của vợ chồng anh V là l,69m nhỏ hơn so với chiều rộng mặt tiền của ngôi nhà trên thực tế là 2,73m Ông M nghĩ mình dã bị lừa nên đã không tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa v ề Phía anh V cho rằng đã thông báo với ông Minh về mặt tiền chỉ có l,69m và cung cấp cho ông M bán photo giấy chửng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 02/10/2008 nhưng không
có căn cứ pháp lý nào để chứng minh Như vậy, trước ngày 02/10/2008, ông M không thể nào biết được nên ông lầm tưởng toàn bộ nhà đất nguyên trạng thuộc quyền sở hữu sử dụng của anh V bởi lẽ một tài sản là nhà đất trị giá lớn mà có khoảng đất không thuộc quyền sử dụng của bên bán thì về nguyên tắc khi ký kết hợp đồng bên mua phải thông báo cho bên bán và bắt buộc phải được thế hiện trong hợp đồng về chiều rộng mặt tiền để sau này tránh sự phiền phức cho cả hai bên nhưng hợp đồng đặt cọc ngày 02/10/2008 lại không đề cập tới Cụ thể tại Điều 1 đối tượng của họp đồng chỉ ghi địa chỉ, tổng diện tích theo giấy chứng nhận, diện tích nhà 4 tầng và hướng cúa nhà đất Trong khi mặt tiền thực trạng hiện nay không khớp với chiều rộng mặt tiền nhà đất trong giấy chứng nhận
Trang 38Ồng M yêu cầu Tòa án buộc anh V phải trả lại cho ông 700 triệu đồng tiền đặt cọc và 240 triệu đồng tiền tiếp tục thực hiện hợp đồng Còn tiền phạt cọc 700 triệu đồng thì ông rút yêu cầu vì ông xác nhận có lỗi một phần là không xem kỹ giấy chứng nhận trong điều kiện có thể.
Anh V không chấp nhận yêu cầu của ông M đòi lại 700 triệu đồng tiền đặt cọc vì lỗi từ ông M, còn 240 triệu đồng anh đồng ý trả lại Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật Ông M không đề nghị tiền phạt cọc, anh không có ý kiên và yêu câu gì
Từ nhận định trên, khẳng định anh V không thông báo cho ông M biết về thực trạng nhà đất thuộc quyền quản lý và sử dụng của anh theo giấy chứng nhận quyền sự dụng đất khi hai bên ký kết hợp đồng ngày 02/10/2008 Đây được coi
là lỗi từ phía anh V Hơn nữa bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà anh V đưa cho ông M dù có tẩy xóa hay không thì cũng không có giá trị pháp lý
Tại ngân hàng, ngày 02/10/2008, tuy ông M có được xem bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhung chỉ được xem qua (anh H xác nhận tại Tòa) vì phải đưa cho anh H ngay để anh H làm thủ tục chuyến nhượng sang tên cho ông M, ông mới nộp 700 triệu đồng thì không được giữ giấy chứng nhận Đáng lẽ ông M phải xem và quan sát kỹ giấy chứng nhận nhưng vì lúc đó ông chưa được anh V thông báo chiều rộng mặt tiền, ông chỉ chú tâm vào giấy chứng nhận mang tên chủ sử dụng đất là anh V là ông yên tâm Tuy nhiên đây cũng là thiếu sót của ông M được coi là lỗi nên phải chịu trách nhiệm một phần
Như vậy, họp đồng đặt cọc về chuyển nhượng quyền sử dụng đất không thực hiện được do lỗi từ cả hai phía: Ông M không xem xét ký bản chính giấy chứng nhận ngay từ khi ký kết, còn anh V không thông báo cho ông M biết về đặc điểm thửa đất cần chuyển nhượng tại thời điểm ký hợp đồng Diện tích đó không thuộc quyền sở hữu và sử dụng của anh V mà mang đi chuyển nhượng và nhận tiền đặt cọc nên có lỗi Khi ông M được thông báo thì đã gần đến hạn giao tiền đọt 2 nên việc ông Minh chậm giao tiền là không có lỗi Vài ngày sau, anh
Trang 39V đến văn phòng nhà đất để lấy lại giấy chứng nhận về đồng nghĩa với việc anh
V từ chối việc chuyển nhượng nhà đất cho ông M
Tòa SO' thẩm căn cứ vào Điều 358, 142 BLDS 2005; Điều 25, 130, 131,
244, 245 BLTTDS xử:
- Xác định hợp đồng đặt cọc ngày 02/10/2008 không thực hiện được do lỗi hồn họp của các bên tham gia hợp đồng là ông Tạ M và anh Nguyễn Thế V, chị Nguyễn Thị p
- Các bên phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận Buộc anh V và chị
p (do anh V đại diện) phải trả cho ông M số tiền 940.000.000 đồng gồm700.000.000 đồng tiền đặt cọc theo hợp đồng đặt cọc ngày 02/10/2008 và240.000.000 đồng tiền tiếp tục thực hiện hợp đồng
Như vậy, ta thấy mặc dù tòa án xác định hợp đồng đặt cọc giữa ông Tạ M
và anh V, chị p là không thực hiện được nhưng lại xử lý hậu quả giống như khi hợp đồng dân sự vô hiệu Điều đó là không phù hợp
Dựa vào nội dung vụ án, tôi thấy trong vụ tranh chấp này hoàn toàn có đủ căn cứ đế có thể tuyên bố họp đồng đặt cọc do ông M và anh V, chị p ký bị vô hiệu do nhàm lẫn Bởi lẽ, ở đây, cả ông M và anh V, chị p đều bị nhầm lẫn nên
tượng của hợp đồng là diện tích mặt tiền (cống vào) của ngôi nhà, còn anh V, chị
p thì nhầm lẫn về việc đã thông báo cho ông M biết hiện trạng của ngôi nhà - đối tượng của hợp đồng Vì vậy, lẽ ra trong trường họp này, TAND quận B phải tuyên hợp đồng đặt cọc giữa ông M và anh V, chị p vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định tại điều 131 - BLDS 2005 Và như thế mới có đủ cơ sở pháp lý đế Tòa
án giải quyết hậu quả của hợp đồng dân sự vô hiệu trong trường hợp này
2.1.2 Hợp đồng dãn sự vô hiệu do bị lừa dối:
2.1.2.1 Khải niệm lừa dổi trong giao kết hợp đồng:
Cũng như nhầm lẫn, lừa dối là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày Theo cách nói thông thường, lừa dối là bằng thủ doạn nói
Trang 40dối gian lận để làm người khác lầm tưởng mà tin rằng đó là sự thật nên giao kết hợp đồng Hay nói cách khác, lừa dối là hành vi cố ý đưa thông tin sai để người khác tin đó là sự thật mà tham gia giao kết họp đồng với mình.
Theo ngôn ngữ pháp luật, lừa dối trong giao kết là một xảo thuật dùng để lừa gạt người khác Từ những lời lẽ gian dối đến mánh khoé xảo trá dùng đế khiến người khác giao kết họp đồng mà lẽ ra bình thường họ không làm như vậy đều là lừa dối Như vậy, dưới góc độ pháp lý, không phải bất cứ sự nói dối nào cũng đều là lừa dối Phần lớn các nước đều coi những lừa dối có tính chất quyết định đến sự giao kết hợp đồng mới là yếu tố có thể đưa đến vô hiệu hợp đồng Tính chất quyết định được thể hiện ở chồ nếu không dùng các xảo thuật thì sẽ không có giao kết hợp đồng “Sự lừa dối là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi các thủ đoạn do một bên đã thực hiện mà nêu không có các thủ đoạn đó thì bên kia đã không kỷ kết hợp đồng” [12, tr.308] Chẳng hạn, một người bán hàng nói giá quá cao (nói thách) so với giá trị thật của hàng hoá người ta bán với người mua thì không bị coi là lừa dối
Lừa dối chỉ được coi là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của họp đồng khi một bên cổ ý làm cho bên kia phải giao két họp đồng không theo ỷ muổn thực Lừa dối có điềm giống nhầm lẫn ở chỗ cả hai đều liên quan đến việc trình bày một cách trực tiếp hay gián tiếp về những sự việc không đúng sự thật hay không tiết
lộ một sự thật Lừa dối khác với nhầm lẫn ở chỗ, sự nhầm lẫn vốn do người ký kết họp đồng tự mình không tìm hiếu hoặc hiểu sai sự vật, còn sự lừa dối lại là
sự hiểu sai do đối tác gây ra Việc một bên tạo lập cho bên kia một sự nhầm lẫn hoặc lạm dụng sự nhầm lẫn đã tồn tại của bên kia đế đưa đến việc giao kết hợp đồng sẽ được coi là lừa dối Sự phân biệt giữa lừa dối và nhầm lẫn được xác định bởi tính chất, mục đích của việc trình bày gian lận của một bên Nhầm lẫn hay lừa dối đều dưa đến hệ quả là hợp đồng có thể bị vô hiệu do thoả thuận không thể hiện đúng ý chí thật của các bên về nguyên tắc, hành vi lừa dối phải do chính một bên giao kết hợp đồng thực hiện Tuy nhiên, dù một người ký kết hợp