Vì vậy, các quy định về các điều kiện kết hôn trong các Bộ luật Dân sự thời kỳ này thường mang tính áp đặt, hôn nhân được hiểu là “sự phối hợp giữa người đàn ông và người đàn bà, được ph
Trang 31.2.1 Hôn nhân trái pháp luật theo quy định trong hệ thống phápluật nước ta trước Cách inạng tháng Tám _ 181.2.2 Hôn nhân trái pháp luật theo quy dịnh trong Luật Hôn nhân
và gia dinh 1959 _ 221.2.3 Môn nhăn trái pháp luật Iheo quy định trong Luật Hôn nhím
và gia đình 1 9 8 6 _ _ 26
C hương II - Căn cứ xác định h ô n nhân trái pháp luật và biện p h á p x ứ ì ý 29
2.1 Về các căn cứ xác định hôn nhân trái pháp luật theo pháp luật hiện hành _ _ _ 29
2.1.1 Hôn nhân (rái pháp luật do vi phạm Điều 5 Luật Hôn nhân vàgia đình 1986 (vi phạm về độ luổi kết hôn). _ 292.1.2 Hôn nhân trái pháp luật do không có sự tự nguyện của cácbên nam, n ữ _ _ _ 332.1.3 Hôn nhân trái pháp luật do người đang có vợ (có chổng) kếthôn với người k h á c _ _ 392.1.4 Hôn nhân trái pháp luật do những người dang mắc 11101 sốbệnh mà luật cấm kết hôn lại vẫn kết h ô n 44 '2.1 5 IIôii nhân trái pháp luật do những ngiíòi kết hôn với nbí-Hi có
2.1.6 Hôn nhân trái pháp luật do không liến hành dăng ký kế! hôn tại cơ quan Nhà nước cỏ thẩm quyền 52
2.2 Hậu quả pháp lý của việc hủy hồn nhân (rái pháp l u ậ t 60
2.2.2 Quan hộ lài s ả n _ 612.2.3 Giải quyết quan hộ giữa cha mẹ và con 6'!
2.3 Tình trạm* kết hôn Irái pháp luật ử nước ta và thục tếgiíũ íỊí»3'fví ( 7
2.3.1 Tinh I.ùnb chung của việc kết hòn (rái pháp luệl và hủy hùnIiluìn Irái pháp l u ộ l _ _ _ _ 672.3.2 Thục tiễn giải quyếl cúc trườn ụ hợp kếí hỏn trái pháp luột 73
Trang 4PIIẦ N N lỏ DẦU
1 - Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hôi, là đơn vị xã hội đầu tiên, trong đó con người gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ chủ yếu là hôn nhân và huyết thống Gia đình là nền tảng của quốc gia Sự phát triển của mỗi quốc ệia gắn liền với sự tồn tại và phát triển bền vững của gia đình Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thòi kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả dời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lóp người”
Căn cứ vào thực tế về sự phát triển chung của các gia đình Việt Nam thì quan hệ hôn nhân vẫn là yếu tố nền tảng, là cơ sở để thiết lập gia đình Cùng với sự thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa trên cả nước, lối sống xã hội chủ nghĩa gia dinh kiểu mới cũng đang dược xây dựng và phát triển Để có những gia dinh mới xã hội chủ nghĩa tất yếu phải có những cuộc hôn nhan tiến bộ Quan
hệ hôn nhân bền vững là yếu tố cơ bản nhất để quyết định độ bền vững của gia đình và tạo nên hạnh phúc gia đình
Luật Hôn nhân và gia đình 1959 và tiếp đó là Luật Hôn nhân và gia đình 1986 iđã quy định những điều kiện pháp lý cán thiết để xác lập một quan
hệ hôn nhân mới xã hội chủ nghĩa, góp phần xóa bỏ những tập tục lạc hậu, tàn
dư của chế độ hôn nhân phong kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân tư sản và phần nào hạn chế được những tập quán lạc hậu trong quan hệ hôn nhân của đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, cùng với sự vận động, và phát triển của xã hội nhất là trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế hiện nay, những tập tục
lề thói cũ trong đời sống hôn nhân và gia dinh vẫn còn tồn tại hoặc tái xuất hiện tại một số địa phương, trong một số cá nhân nhất định, bên cạnh dó, những quan niệm và biểu hiện của lối sống phương Tây đã được du nhập vào nước ta, (.ác động tới tư iưởng và lối sống của một bộ phận nam, nữ lliauh niên làm cho quan hệ hôn nhân có sự biến dộng theo chiều hướng xấu Miện lượng
Trang 5kết hôn vi phạm các quy định của pháp luật về diều kiện kết hôn hoặc kết hôn
vi phạm điều cấm vẫn xảy ra ở hầu khắp các vùng, miền trong toàn quốc Theo báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 1986 thì hầu hết các diều kiện kết hôn đều bị vi phạm
Hiện tượng kếl hôn trái pháp luật dẫu đến dời sống hôn Iihan có những biểu hiện không lành mạnh làm xấu di những quan hệ trong đời sống gia đình
và nhân cách của chủ thể của quan hệ hôn nhân, và phần nào dó còn là nguyên nhân ngăn cản sự nghiệp xãy dựng nếp sống văn minh, gia dinh văn hóa mới ở nước ta, làm ảnh hưởng xấu đến kỷ cương và sự phát triển chung của xã hội
Với những điểm nêu trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Hôn nhân trái pháp luật - căn cứ xác định và biện pháp xử lý” làm đề tài luận án cao học luật của mình chính là nhằm làm sáng tỏ nhận thức chung của xã hội về hôn nluìn góp phần nâng cao hiểu biết của người dân nói chung về hôn nhân lành mạnh, tiến
bộ để tự họ có thể xác lập hôn nhân không vi phạm pháp luật
■ I
2 - Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Hôn nhân trái pháp luật không chỉ là một hiện trạng vi phạm pháp luật
mà còn là một vấn dề ảnh hưởng không nhỏ đến chính trị, xã hội của đất nước Việc nghiên cứu vấn đề: “Hôn nhân trái pháp luật - căn cứ xác định và biện pháp xử lý” nhằm mục đích làm sáng lỏ hơn sự đúng đắn của chế định hôn nhân trong pháp luật nước ta, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các cán cứ pháp lý xác định hôn nhân trái pháp luật và lliực trạng xử lý hôn nhân trái pháp luật trong pháp luật Việt Nam
- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là phân tích và đánh giá hiệu quả điều chỉnh pháp luật trong việe hạn chế hồn nhan trái pháp luật, từ đó dề xuất hướng hoài) thiện chế định hôn nhân
- Phạm vi nghiên cứu được xác định phụ thuộc vào tính phân lập của các quy phạm pháp luật về hôn nhân hợp pháp, hôn nhân trái với các điều kiệu kếl hôn và hôn nhân vi pliạni vào điều cấm, vì lliế trong luận án này luôn phải phân tích llieo hướng có liôn hệ các quy clịnl) của pliáp luâl vổ hôn nhân hợp
Trang 6pháp và hôn nhân không hợp pháp, thực tiễn áp dụng và những vướng mắc trong việc hiểu và áp dụng pháp luật.
3 - Cơ sở, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về hôn nhân và gia đình trên cơ sở các văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam và các Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng và vai trò, nhiệm vụ của gia đình đối với sự nghiệp đổi mới
và xây dựng đất nước
Trong quá trình nghiên cứu đề tài các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, tổng hợp, lôgíc pháp lý, lịch sử so sánh pháp luật đã sử dụng nhằm làm rõ những vấn đề và những nhận định được đưa ra trong nội dung của luận án
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước thực trạng trên việc ngăn chặn và dần xóa bỏ hiện tượng kết hòn trái pháp luật là một nhiệm vụ cấp bách trong thời kỳ đổi mới Để thực hiên tốt nhiệm vụ đó cần có sự đánh giá và xác định rõ giữa hôn nhãn hợp pháp và hôn nhân trái pháp luật, đồng thời cũng cẩn có những biện pháp xử lý phù hợp đối với các trường hợp kết hôn trái với pháp luật Ở Việt Nam những công trình nghiên cứu về hôn nhân trái pháp luật được đăng trên báo pháp luật còn
rất ít và chỉ giải quyết à những góc độ khác nhau theo các vụ án cụ thể Trong
giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội và giáo trình Luật Hôn nhân và gĩa đình của trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, vấn đề hôn nhân trí pháp luật được nghiên cứu như một bộ phận của khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Tác giả Nguyễn Thành trong
“Từ những cuộc hôn nhân bất hợp pháp”, chủ yếu mới chỉ đề cập đến thực trạng của việc kết hôn trái pháp luật và nêu ra những nguyên nhân sâu xa dẫn đến những cuộc hôn nhân bất hợp pháp đó1
Trang 75 - Điểm mới và ý nghĩa của luận án
Luận án này là một trong những công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên về hôn nhân trái pháp luật và các chế định pháp luật về hôn nhân trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Nội dung của luận án phân tích những cơ sở pháp lý nhằm xác định rõ quan hệ hôn nhân trái pháp luật, nêu và phân tích biện pháp xử lý dưới góc độ pháp luậl, đề xuất những kiến nghị nhằm làm sáng tỏ hơn các cơ sở pháp lý cẩn thiết để xác định hòn nhân trái pháp luật trong thực tế
Những kết luận và kiến nghị được đưa ra trong luận án có thể có V nghĩa trong việc góp phần hoàn thiện, về mặt lý luận các vấn đề vế hôn nliáu
và gia đình, nhằm xây đựng quan hệ hôn nhân mới xã hội chủ nghĩa mục tiêu của Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay v;i góp phần vào lĩnh vực khoa học pháp lý, một số vấn đề về lý luận có lliổ sử dụng trong các trường Đại học Luật, khoa luật của các trường Dại học li m giáo trình giảng dạy về chuyên đề này
6 - Cơ cấu của luận án
Xuất phát từ mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án đirợc thực hiện với nội dung và bố cục hợp lý theo các quy định chung của Nhà nước, bao gồm:
P h ầ n m ở đầu
C hư ơ ng I - K h á i quát chung về hôn n hân hợp p h á p và hôn nhâu trái
p h á p luật.
1.1 Khái niệm hôn nhân và hôn nhân hợp pháp
1.2 Hôn nhân trái pháp luật và biện pháp chế thi đối với hôn nhân trái pháp luật
C h ư ơ n g I I - Căn cứ xác định hôn nhân trái p h á p luật và biện pháp
x ử lý.
Trang 82.1 v ể các căn cứ xác định hôn nhan trái pháp luật theo pháp luậl hiệnhành.
2.2 Hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật
2.3 Tình trạng kết hôn trái pháp luật ở nước ta và thực tế giải quyết
Phần kết luận
Trang 9CHƯƠNG I - K1VÁI QUÁT CHUNG VỂ lUÔN NHẮN
IIỢ P P I I Á P V À I I Ô \ \ l l irv T R Á I P I I Ả P LUẬT
1.1 KHÁI NIỆM HÔN NHÂN VÀ HÔN NIIÂN IIỢP PIIÁP
1.1.1 Khái niệm chung về hôn nhân hợp pháp
Quy luật phát triển và sinh tổn của loài người là sự kết họp giữa người đàn ông và người đàn bà trong quan hệ lứa đôi Thoạt đầu, sự kết hợp này
I ĩ i a n g ý nghĩa của việc duy trì và phát triển nòi giống Đó là cơ sở căn bản đấu tiên hình thành nên quan hệ hôn nhân và cũng từ đó hình thành nên gia đình mang những nét văn minh tiêu biểu của xã hội loài người Dưới góc độ xã hội học, hôn nhân là mối quan hệ giữ vợ và chổng Trong quá trình phát triển của
xã hội loài người đã chứng minh rằng không có một tổ chức nào ngoài tổ chức đời sống chung của con người có sự thúc đẩy nội tại trong bản thân mỗi con người để trở thành khát vọng cháy bỏng trong mỗi người con trai và người con gái là tìm gặp nhau, tạo thành một cộng đồng nhỏ là hôn nhân nhằm để thỏa mãn nhu cầu tình cảm sâu kín của các bên, sinh đẻ nhằm duy trì và phát triển nòi giống và cùng nhau chia ngọt sẻ bùi nhằm xây dựng gia đình dầm ấm, hạnh phúc Nam, nữ kết đôi là chuyện tự nhiên trong đời sống nhan loại ngíiy
từ khi loài người xuất hiện Trải qua hàng triệu năm, việc trai gái tìm nhau và xác lộp quan hệ vợ chồng đã được thay đổi dưới bao hình thức khác nhau Từ thời hoang sơ, khi con người còn chìm ẩn trong bóng tối của sự lạc hậu thì sự kết hợp giữa dàn ông và đàn bà chỉ đơn thuần là quan hệ tính giao nhằm duy trì nòi giống Họ chung sống với nhau bừa bãi không có sự chọn lọc về ngổi thứ và cũng không có sự phân biệt về lứa tuổi, huyết tộc Đó là thời kỳ tôn tại
“chế độ tạp hôn bừa bãi”2 Cho đến khi con người ý thức rõ về bản thân va CÍÌC vấn đề về đạo đức thì vấn đế hôn nhân của nam, nữ cũng có sự chuyển biên đáng kể Chế độ tạp hôn đã chuyển sang chế độ ngẫu hôn- hôn nhan cặp đôi, từng cặp nam, nữ với tư cách là một đơn vị hôn phối được xác lập và tồn tại Việc kết hôn đã có sự phân biệt về lứa tuổi và huyết thống Tuy nhiên, hôn nhân cặp đôi tồn tại hết sức lỏng lẻo và không đủ vững chắc để có thể có những nhu cầu riêng về kinh tế Hình thức hôn nhân cặp đôi được phát Iriển
Trang 10hơn nữa nhờ có sự thay đổi đáng kể về các điểu kiện kinh tế và xã hội và nó (la trờ thành hôn nhân một vợ một chồng Dần dẩn, (rong sự phổt triển tiếp Ilieo của lịch sử, sự kết hợp lứa đôi không chỉ mang ý nghĩa duy trì nòi giong ni;'i
nó còn là sự kết hợp về mặt tình cảm giữa các bên nam, nữ, từ đó, mục tiêu thoả mãn nhu cầu tình cảm là yêu cầu khách quan, là mục tiêu hàng đáu của nam, nữ khi họ cùng nhau xác lập quan hệ hôn nhân Tinh yêu thương giữa vo
và chồng là sức mạnh thúc đảy khiến họ có mong muốn là sản sinh ra thế lu mới - ngưòi sẽ kế tục cho gia đình và dòng họ Từ xa xưa, con người đã quan niệm việc sinh đẻ con cái là nhằm thoả mãn nhu cầu riêng tư của vợ chổnịí Nhưng việc riêng tư đó cũng là nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của xã hói : nhu cầu duy trì tính liên tục về mặt sinh học của xã lìội là tái tạo ra con người, duy trì nòi giống Đó chính là quy luật tổn tại và phát triển của loài người theo quy luật phát triển sinh học của nó Khi xã hội loài người đã phát triển, hôn nluìn
là quan hệ chịu sự chi phối rất lớn bởi các quy tắc đạo đức và lối sống trong xa hội Do vậy, hôn nhân không chỉ là việc riêng tư giữa hai cá nhftn mà còn la vấn đề mang tính chất xã hội Khi đôi nam, I1Ữ yêu nhau, họ chưa có trách nhiệm gì, nhưng khi họ kết hôn, họ đã có trách nhiệm đối với nhau, đối với con cái và đối với xã hội V.I.Lênin nói : “Trong tình yêu có hai người, và xuất hiện cuộc đời mới, cuộc đời thứ ba Đây chính là điều quan tâm của xít hội và xuất hiện trách nhiệm đối với tập thể”3 Chính vì lẽ đó mà việc đỏi riain,
nữ kết hôn cần có sự phê chuẩn và công nhận của xã hội “Nếu như hôn nhân không phải là cơ sở của gia đình, thì nó cũng sẽ không phải là đối tượng của công việc lập pháp, ví dụ như tình bạn chẳng hạn”4 Như vậy, hôn nhân là co
sở của gia đình mà “gia đình là tế bào của xã hội”, do đó sự phát triển của xã hội phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của từng gia đình mà cơ sở chủ yếu của
nó là hôn nhân Dưới xã hội có phân chia giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp sAu sắc Trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị luồn dùng pháp luật và bằng pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân sao cho phù hợp vói
ý chí của giai cấp mình và phục vụ lợi ích của giai cấp mình Tính chất của hôn nhân sẽ thav đổi phụ thuộc vào cơ sở kinh lố đang thống trị xã hội Như vậy, hôn nhân rõ ràng không chỉ là một quan hệ xã hội dơn thuần mà nó còn được coi là một quan hệ xã hội cổ tính giai cấp Chính vì thế rnà khi có Nhà
Trang 11nước và pháp luật thì mỗi quốc gia dù quy định những điều kiện kết liỏti kliai nhau, song đều đặt ra hệ thống các quy phạm pháp luật dể điều chỉnh quan lụ hôn nhân cho phù hợp với lợi ích và sự phát triển của quốc gia mình Dù có những lợi ích riêng và hệ thống pháp luật khác nhau, nhưng nhìn chunị! tron;; thời đại ngày nay tất cả các quốc gia khi điều chỉnh quan hệ hôn nhân cínií' đều có, nét chung là quy định quyền và nghĩa vụ cho VỌ' chồng dối với nlutii đối với gia đình, đối với Nhà nước và đối với xã hội Ilôn nhân mà phò liọ-|; với quy định của pháp luật thì được coi là hợp pháp.
Xét dưới góc độ luật học, hôn nhân hợp pháp được hiểu là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà, phù hợp với pháp luật, được Nhà nưứi thừa nhộn và bảo hộ
1.1.2 Hôn nhnn hợp pháp theo quy địnli củ:I pháp luật Việt Nam
a/ H ôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật phong kiến
Ở nước ta, theo cổ luật thì hôn nhãn đã được coi là một trong nliù'1 lí! quan hệ xã hội cần được điều chỉnh Trong cổ luật Việt Nam, hôn nhan (giá thú) được coi như một việc cốt lõi là nền tảng của gia đình Gia đình chiếm một địa vị vô cùng quan trọng, vì theo Khổng giáo thì cán phải “tề gia” trước khi nghĩ đến vấn đề “trị quốc” và “bình thiên hạ” Giá thú không được c ấc nha làm luật định nghĩa rõ ràng trong cổ luật, nhưng nó đã được ghi rõ tron ụ sách
Lễ ký tại thiên Hôn nghĩa: “Lễ hôn tương hợp sự giao hiến giữa hai Ỉ1Ọ, irên đe thờ phụng tổ tiên trong tông miếu (tức nhà thờ họ), dưới để kế truyền dòng (lõi đời sau, vì vậy hôn lỗ được người quân lử trọng”5 Định nghĩa này (lã cho chúng ta thấy rõ quan niệm xưa về giá thú Giá thú được đặt trên nền tảng c-ủíi đại gia đình, trước hết là sự giao kết giữa hai họ bên nam và liên nữ iruì mục tiêu trên hết là để nối llieo truyền thống của tổ tiên, sau (tó là dể sinh con iiối dõi tông đường và cũng chính là tiếp tục lưu truyền việc thò' cúng Vtrĩ li ni 1
thần đó, các Bộ luẠt cổ đều có những quy định về điều kiện xác lạp ị? lá Ihú phù hợp với lợi ích của đại gia đình và do đó lợi ích riêng của những người kốí hôn hầu như bị quên lãng hoặc chỉ là thứ yến Một trong nhũìiíi; điều kũin xác lẠp giá thú quan trọng nhằm bảo vệ !ựi ích của đại gia dinh được cổ luật quy
Trang 12định là sự ưng thuận của cha mẹ và vai trò của người chủ hôn Điều 314 Bộ luật Iỉổng Đức (Quốc triều hình luật) (Ịiiy định: “Người kết hôn mà không đủ
sính lễ đến nhà cha mẹ [người con gái] (chú giải của tác giả) (nếu cha mẹ chốt
cá, thì đem đến nhà người trưởng họ, hay nhà người trưởng làng) dể xin, mà
thành hôn với nhau một cách cẩu thả thì phải biếm 1 tư và theo lệ sang hèn,
bắt phải nộp tiền tạ cho cha mẹ (nếu cha mẹ chết cả thì nộp cho trưởng họ hay người trưởng làng), người con gái phải phạt 50 roi”6 Mặc dù đây chí là điều kiện về lễ nghi, song về mặt nào đó xét theo khía cạnh xã hội thì nó cũng chi phối đến điều kiện kết hôn của thòi kỳ này Cùng với điều kiện trên, vì lợi ích của đại gia đình, cổ luật Việt Nam còn quy định: hai vợ chồng phải không cổ quan hệ thân thích với nhau Xét trên phương diện lu An thường đạo lý và cơ sở khoa học, vì trật tự gia phong và tương lai sức khoẻ của nòi giống, cổ luật Việl Nam đã quy định các sự cấm đoán rất nghiêm ngặt việc kết hôn giữa các người thân thích Trong cả hai bộ luật (Luật Hổng Đức và Luật Gia Long) đền cấm kết hôn giữa những người trong cùng một họ, nghĩa là cùng một ông tổ Diều 100 Luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) quy định: “phàm những ngưòi
đồng tính (cùng họ) (chú ẹiải của tác qiả) lấy nhau, thì bị tội 60 tnrợng và
phải ly dị”7 Rõ ràng đây là một trong những điều cấm trong hôn nhân mà cổ luật đã điều chỉnh một cách khắt khe nhất Trong xã hội phong kiến, con chán phải có hiếu với ông bà, cha mẹ, vợ chồng phải giữ lòng chung thuỷ với nhau,
vì vậy, cổ luật đã quy định trong lúc có tang mà làm giá thú là bất hiếu, Luệt Hồng Đức và Luật Gia Long đều cấm kết hôn trong thời kỳ có tang Điều 317 Luật Hổng Đức quy định: “Người nào đang có tang cha mẹ hoặc tang chổng
mà lại lấy chồng hay cưới vợ thì xử tội đồ, người khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử biếm ba tư và đôi vợ chổng mới cưới phải chia lìa”8 Ngoài ra cũng xuất
phát từ đạo hiếu nghĩa mà Luật Hổng Đức và Luật Gia Long còn cấm kết hôn khi cha mẹ bị giam tù Điều 99 Luật Gia Long quy định: “Các con cháu kết
hôn trong khi ông bà, cha mẹ bị giam cầm về tử tội thì phải phạt 80 trượng
Nếu lấy lẽ hay lấy vợ lẽ, thì tội giảm hai bộc”9 Luật Gia Long chỉ quy định trường hợp cha mẹ ông bà bị giam cám về “tử tội” mà con cháu kết hôn thì
mới bị phạt bằng trượng và không bắt vợ chồng phải ly dị Nhưng Điều 138
Luật Ilồng Đức quy định: “Trong khi ông bà, cha mẹ bị giam cầm tù tội, mà
Trang 13lấy vợ lấy chồng thì đều xử lội biếm ba tư và đôi vợ chổng plìiii ly ilị ”"
Đồng thời với việc câm kết hôn trong khi ông b à ,c h a mẹ bị giam cầm, l.uại Hồng Đức và Luật Gia Long đều có quy định ngoại lệ là thừa nhận cho cun cháu có quyền kết hôn nếu được ông bà, cha mẹ cho phép nhưng khôn}! diíiK
ăn uống linh đình mà chỉ được làm lễ thành hôn mà thôi Đoạn cuối Điều 3 I o Luật Hồng Đức có ghi: Nếu ông bà, cha mẹ có cho phép thì chỉ được làm
lễ thành hôn mà không được bày ra cỗ bàn ăn uống, trái luật thì xử biêhi rnội
tư”
Vì mục đích lưu truyền việc thờ phụng tổ tiên, cổ luật đã khuyên khích chế độ đa thê Một gia đình có nhiều con dược coi là gia dinh có phúc, vì vậy người đàn ông trong xã hội thời đó luôn mong muốn lấy nhiều vợ để sinh đó nhiều con để biểu hiện sự phúc đức cho gia dinh và dòng họ mình Tuy nhién
để giữ trật tự trong đại gia đình, cổ luật đã quy định khi xác lẠp giá thu phái tôn trọng trật tự giữa vợ cả (chính thất) với vợ lẽ (thứ thất) Trong Bộ luật Hồng Đức, Điều 309 đã quy định nếu lấy thiếp làm vợ cả thì phải chịu lội Trong Luật Gia Long, Điều 96 quy định: “Đem vợ cả làm thành vợ lẽ, sẽ phai
phạt 100 trượng Khi vợ cả còn sống, lấy vợ lẽ làm vợ cả, phải phạt 90 trượng,
và phải ly dị vợ sau” 11
Nhìn chung, cổ luật Việt Nam coi hôn nhân là một chế định nhằm bảo
vệ lợi ích của đại gia đình Vì vậy các điều kiện trên đây đều quan tâm đến việc lưu truyền dòng giống, báo vệ trật tự các mối quan hệ trong gia đình, lợi ích của đại gia đình được coi trọng Tuy nhiên bên cạnh đó, cổ luật cũng đã (lé cập đến quyền lợi của hai vợ chồng, tuy lằng các quyền lợi đó cũng chỉ là Ihứ yếu và rất hạn chế Sự ưng thuận của hai người kết hôn không được Luật I ĩổnp Đức quy định nhưng đã được dề cập đến trong Luật Gia Long Trong những trường hợp đặc biệt ngoại lệ do chỉ còn có bà con XÍ1 hoặc đo hai bên sống x;i nhà thì luật cho phép nam, nữ kết hôn dựa trên sự ưng thuận của họ tuy không
có sự đổng ý của cha mẹ hay tôn thuộc (Điều 94, Điều 109 Luậl Gia Long) Trường họp một trong hai bên nam, nữ bị tàn tật thì Luật Gia Long quy định rằng bên kia phải biết trước để quyết định một cách chí tình và sẽ được thỏa
Trang 14thuận bằng văn bản Nếu trường hợp có sự tráo hôn hay lẳn lộn về người thì vợ chổng sẽ phải ly dị, bên có lỗi phải chịu phạt tuỳ từng trường hợp nặng nlu:” i:.
Ngoài ra, cổ luật còn quy định một số diều kiện khác nhằm cấm kếl hỏn trong những trường hợp cần thiết để bảo vệ các quy tắc đạo đức và trật tự c.ông cộng Chẳng hạn như cấm quan lại lấy con gái nơi mình làm quan nhằm tránh
sự lạm dụng quyền thế để cưỡng bức việc kết hôn (Điều 316 Luật Hồng Dức, Điều 183 Luật Gia Long); cấm các quan và thuộc lại lấy đàn bà con hát xướng làm vợ (Điều 323 Luật Hồng Đức); cấm học trò không được lấy vợ của thấy học dã chết (Điều 324 Luật Hổng Đức)
Như vậy, xã hội phong kiến Việt Nam đã có quan niệm riêng về hôn nhân nên đã đặt ra những điều kiên cán thiết buộc các bên nam, nữ phải tuAn theo khi họ kết hôn Chỉ khi các bên nam, nữ tuân thủ các điều kiện kết hôn trên đây thì hôn nhân của họ mới được thừa nhận và quan hệ hôn nhím dó mói dược coi là hợp pháp
b H ôn nhân theo quy định của pháp luật trong thòi kỳ Pháp thuộc.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, do ảnh hưởng tư tưởng của Bộ dân luật Pháp nên quan niệm về hôn nhân đã có sự thay đổi Mục đích chủ yếu của việc kết hôn trong thời kỳ phong kiến là sinh con nối dõi tông đường được thể hiện trong cổ luật nay đã không còn được chấp nhận nữa Điều này được thổ hiện rất rõ trong các duyên cớ ly hôn như không coi việc không có con là lý do (lể
vợ chồng ly hôn nữa Ớ thời kỳ này, hon nhân được coi là một chế định pháp
lý có liên quan rất lớn đến nền tang của xã hội, nôn các điều khoản quy định
về tính hợp pháp của hôn nhfln không chỉ nhằm bảo vộ quyền lợi cho bản thân
vợ chồng mà còn bảo vệ quyền lợi cho gia đình và xã hội Vì vậy, các quy định về các điều kiện kết hôn trong các Bộ luật Dân sự thời kỳ này thường mang tính áp đặt, hôn nhân được hiểu là “sự phối hợp giữa người đàn ông và người đàn bà, được pháp luật công nhận và không thổ tự ý huỷ bỏ được” 13
Để bảo đảm cho hôn nhân phù hợp với khái niệm trên, nhà làm luật đa quy định các điều kiện kết hôn thể hiện sự giao kết các quyền lợi của các bên
Trang 15với nhau và lợi ích đó không thể tách rời khỏi lợi ích của gia đình và lợi ích của xã hội Quyền lợi của các bên vợ chồng đã được các nhà làm luật (lự liệu đến và quy định bằng các điều khoản cụ thể trong các chế định của lu ạt Do việc nước ta lúc bấy giờ chia làm 3 miền, mỗi miền có một Bộ dân luật riêng, miền Bắc có Dân luật Bắc kỳ (1931), miền Trung có Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (1936) Và miền Nam có Bộ Pháp quy Giản yếu (1883) Tuy về chi liết có những điểm khác nhau, nhưng nhìn chung thì cả ba bộ dân luật đều đề cập đến những chế định pháp lý như nhau, trong đó có chế định kết hôn.
Chẳng hạn điều kiện vể độ tuổi cho phép nam, nữ kết hôn trong các bộ luạ' này đều có những quy định để tránh kết hôn quá sớm có hại cho sức khoe của 1 am, nữ và tương lai của con cháu, đồng thời tránh việc nam, nữ muốn kếi hôn kh’ còn quá nhỏ tuổi, dẫn đến sự thỏa thuận của hai bên có thể không
được sái." suốt Bộ Pháp quy Giản yếu quy định con trai 16 tuổi, con íực\\ 1-1
tuổi được ohép kết hôn, Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ liuìl quy định độ tuổi kết hôn của nam, 11Ữ muộn hơn so với quy định của Bộ Pháp quy Giản yếu Cả hai Bộ luật này đều quy định: con trai 18 tuổi, con gái
15 tuổi mới được kết hôn Tuy nhiên, hai bộ luật này đã có dự liệu trường hợp được giảm độ tuổi kết hôn khi có lý do chính đáng, nhưng con trai không được dưới 15 tuổi và con gái không được dưới 12 tuổi14 (Điều 73 Bộ Dân luật Bắc
kỳ quy định: “Phàm con trai chưa đầy mười tám tuổi, con gái chưa đầy miíòi lăm tuổi, thì không được kết hôn”)
Sự tự nguyện của các hên nam, nữ trong việc xác lập hôn nhân cũng dã được các bộ dân luật thòi kỳ này ghi nhận Sự ưng thuận của hai bên nam, lìĩi sắp kếl hôn được coi như một điều kiện cần lliiếl bảo đảm cho hôn nhím của
họ là hợp pháp Điều 76 Bô dồn luật Bắc Kỳ quy định: “Kết hôn lất phải có hai bên nam, nữ bằng lòng nhau mới được”, quy định này thể hiện sự tiến bộ liơn hẳn của pháp luật thời Pháp thuộc so với pháp luật thời Lê, thòi Nguycn Nhưng bên cạnh sự ưng thuận của đôi nam, mì khi kết hỏn, pháp luật thời kỳ này vẫn quy định sự ưng thuận của cha mẹ, của người thân thích hay người dỡ dầu và cũng coi đó là yếu tố cần thiết bảo đảm cho hòn nhân được coi là hợp pháp, không kể người kết hôn đã thành niên hay cluia (hành niên Điều 77 Rộ
Trang 16Dân luật Bắc kỳ quy định: “Phàm con cái đã thành niên cũng như chưa thành
niên, không khi nào không có cha mẹ bằng lòng mà kết hôn được ”
Cùng với các quy định về các điều kiện kết hôn, trong cả ba bộ dân luật
thời kỳ này còn quy định một số trường hợp cấm kêì hôn Theo quy định tại
Điều 74 Bộ clân luật Bắc kỳ thì những người sau đây không được kết hôn với
nhau: những người thân thuộc hay thích thuộc về trực hệ vào bậc nào cũng
vậy, dù là con chính thức, con hoang hay con nuôi Nhũng người có quan hệ
về bàng hệ là anh em chị em cùng cha mẹ, cùng cha klutc mẹ hoặc cùng mẹ
khác cha, anh chị em nuôi; chị dâu, em dAu với anh em chồng; chú, bác, cậu
với cháu gái; cô, dì với cháu trai; bác gai hay thím với cháu chồng; anh chị em
con chú* con bác con cậu, con cô, con dì cả nội ngoại; anh chị en) cháu chù,
cháu bác, cháu cô về bên nội; anh em họ với chị em họ đổng tông Bên cạnh
.tổ, để bảo vệ trật tự thê thiếp, các bộ dân luật cũ còn cấm lấy vợ thứ nếu chua
lá ' vợ chính Điều 80 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: “chưa lấy vợ chính tì lì
cấn' không được lấy vợ thứ” Ngoài ra cũng để bảo vệ các quy tắc về đạo đức
mà CIÌC biệt là bảo đảm giữ trọn đạo nghĩa hiếu, các bộ dân luật trong thòi kỵ
này cò 1 cấm kết hôn trong thời kỳ có tang Điều 84 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ
Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy định cấm kết hôn trong thời kỳ để tang cha
mẹ, thời kỳ để tang là 27 tháng Ngưòi ọhổng góa bị cấm kết hôn trong thời kỳ
dể tang vợ là 1 nflm, người vợ góa bị cấm kết hôn trong thời kỳ để tang chồng
là 27 tháng
Như vậy, các bộ dân luật thời kỳ Pháp thuộc đã có những cách nhìn
nhân mang những tính chất khác hẳn so với pháp luật thời Lê, thời Nguyễn
Chỉ những cuộc hôn nhân tuân thủ các điều kiện kết hôn và không vi phạm
điều cấm kết hôn mới được coi là hôn nhân hợp phấp
m ạng th á n g T ám (1945) đến nay.
Cách mạng iháng Tárn thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra
đòi (ngày 2/9/1945) Ngay sau khi giành được chính quyền, Nhà nước ta đã để
ra một số chủ trương chính sách lớn nhằm xfty dựng đòi sống mới phù hợp vói
Trang 17thòi kỳ cách mạng mới Trước tình hình đó pháp luật cũng cẩn phải có nhírng quy định mới nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hồn nhân và gia đình nói riêng Luật Hôn nhân và gia clình 1959- Luật Hôn nhân
và gia đình đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội khóa I- kỳ họp thứ 11 chính thức thông qua ngày 29/12/1959 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 13/1/1960 theo sắc lệnh số 02/SL Luật Hôn nhân
và gia đình là công cụ pháp lý của Nhà nước được xây (lựng nhằm thục hiện hai nhiệm vụ cơ bản: xóa bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đinh phong kiến lạc hậu, xây dựng chế độ hôn nhân và gia dinh mới xã hôi chú nghĩa Các nguyên tắc cơ bản của luật đã thể hiện rõ quan điểm của Nhìi nưới:
ta về vấn đề hôn nhAn và gia đình Theo Luật Hôn nhân và gia đình 1959 lliì hôi nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà dua trên ngu) tắc tự đo và tiến bộ nhằm chung sống lâu dài và cùng nhau xây dựng gia đì ìh So với pháp luật thời kỳ trước đó thì khái niệm hôn nhân đã có sụ thay đói tiến bộ rõ rệt Luật Hôn nhãn và gia đình 1959 không thừa nhân chế
độ đa thê đo đó khái niệm về hôn nhân có sự thay đổi cơ bản, đó là hôn nhân không phải là sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà, mà chi' là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà Nhà nước ta chỉ thừa nhận hôn nlkAn trên nguyên tắc một vợ một chồng Ngoài ra, sự tự nguyện của nam, nữ khi kết hôn đã trở thành một nguyên tắc cơ bản, sự tự nguyện kết hôn phải trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ Mục đích của việc kết hôn là để các bên chung sống, chia ngọt sẻ bùi và xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận và hạnh phúc Có lẽ đây là điểm tiến bộ nổi bật về quan hệ hôn nhân mà các bộ dân luột trước đó chưa xác định rõ Các quy định về điều kiện kết hôn đã thể hiện rõ bản chất của hôn nhân trong chế độ mới, tuân thủ các điều kiện này chính là bảo đám cho việc xác lập hôn nhân tiến bộ rthẳm bảo vệ quyền lợi cho vợ chồng, cho gia đình và cho xã hội Chỉ những việc kết hôn phù hợp với các quy định của pháp luật về các điều kiện kết hôn và phù hợp với lợi ích của các bên nam, nữ, của gia đình, của xã hội, thì hôn nhãn đó mới dược coi là hợp pháp Khái niệm
về hôn nhân và hôn nhân hợp pháp trong giai đoạn này đã phù hợp với công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với công cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ Trong quá trình thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình 1959 đã cho
Trang 18thấy rõ tính tiến bộ của pháp luật trong thời kỳ mới Tuy nhiên, kể từ khi giai phóng miền Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, lình hình chính trị- xã hội đã có những đổi mới, đồng thời có những vấn dề mới phát sinh trong quan hệ hôn nhân và gia đình mà Luật Hôn nhân và gia đình
1959 chưa dự liệu tới, nên Luật Hôn nhân và gia đình 1986 - luật hiện hành của Nhà nước ta, được Quốc hội ktíóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986 và được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 03/1/1987 đã thay thế Luật Hôn nhân và gia đình 1959
Luật Hôn nhân và gia đình 1986 là sự kế thừa và phát triển Luật Hôn nhân và gia đình 1959 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 góp phẩn vào sụ 'ghiệp tiếp tục giải phóng phụ nữ, xây dựng gia đình xã hội chủ nghĩa, thúc
d ’v sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ỈĨÔII
nhu n theo L uật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết ỳữ a một nqười nam >à m ột người nữ trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tự nquyện theo quy đj nh của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây clựnạ (ỊĨa đình ấn' no, bình dẳng, hạnh phúc, bền vữnẹ.
Li ật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định các điều kiện kết hôn mà khi nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng cần phải tuân thủ các điều kiện đó thì hôn nhân của họ được coi là hợp pháp Các bên nam, nữ khi kết hôn phải đạt tuổi tối thiểu mà luật quy định Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định:
“Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn” Điều kiện kết hôn tiếp theo là phải có sự tự nguyện của các bên nam, nữ khi kết hôn Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định: “Việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở” Bôn cạnh những quy định về điều kiện để kết hỏn, Luật Hồn nhân và gia đình 1986 còn quy định một số trường hợp cấm kết hôn Điều 7 Luột Hôn nhân và gia đình quy định: “Cấm kết hôn trong những trường hợp sau dây:
a- Đang có vợ hoặc có chồng;
Trang 19b- Đang mắc bệnh lâm tliđn khôiUỉ, có khả nâng nhận thức hành vi cú;i mình, đang mắc bệnh hoa liễu;
c- Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa anh chị em CÌIIIỊỈ cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời;
d- Giữa cha mẹ nuôi với con nuôi ”
I
Về nguyên tắc,việc kết hôn phải luân thủ dầy đủ các điều kiện kếl hỏn
mà pháp luật đã quy định và không phạm vào các trường hợp mà luật cấm kết hôn, thì hôn nhãn đó mới được coi là hợp pháp Vì vậy, theo Luật Hôn nhan và gia đình 1986 thì hôn nhân hợp pháp là hôn nhãn tuân thủ đầy đủ các điểu kiện kết hôn được quy định tại Điều 5, Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình
1986, đổng thời không vi phạm vào các trường hợp cấm kết hôn mà Luậl quy định tại Điều 7
Tóm lại, hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa nam và nữ phù hợp với các quy định của pháp luật Pháp luật qua các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử
I
khác nhau có những quy định khác nhau về các điều kiện xác lộp quan hệ hỏn nhân Vì vậy, chuẩn mực đổ đánh giá hôn nhíln hợp pháp qua các giai đoạn
lịch sử cũng có sự khác nhau Có thể hôn nhân được coi là hợp pháp ở thoi kỳ
này thì lại không được coi là hợp pháp ở (hời kỳ khác Chẳng hạn, chế độ (ỉa
thê được thừa nhận ở thời kỳ nhà Lê, hay nhà Nguyễn nói riêng và cá thơi kỳ
phong kiến nói chung Còn vào thòi kỳ Pháp thuộc một người đàn ông (lã có
vợ nếu kết hôn với người phụ nữ khác với lư cách là lấy vợ lẽ thì hôn nhân sau vẫn được coi là hợp pháp Dưới chế độ của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và chế độ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì người dang
có vợ, có chồng mà lại kết hôn với người khác là trái pháp luật Từ đó cho
c h ú n g ta tháy rằng chỉ nliững cuộc hỏn nhân mà khi kết hôn nam, nữ đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn mà pháp luật quy định thì hôn nhân đó mới được coi là hợp pháp N^ưọc iại, nếu khi kết hôn nam, nữ không tuân thủ đẩy đủ các điều kiện kết hôn hoặtr
Trang 20rơi vào các trường hợp luật cấm kết hôn thì hỏn nhân dó bị coi là hôn nhân trái
pháp luật
1.2 HÔN NHÂN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PÍIÁP CHẾ TAI D ố i VÓI HÔN NHÂN TRẢI PIIÁP LUẬT
Như trên đã phân tích, khi kết hôn các bên nam, nữ phải tuân thủ các
điều kiện kết hôn được pháp luật quy định và không phạm vào các trường hợp
cấm kết hôn, thì hôn nhan đó mới được coi là hợp pháp Bởi vì, chí có tuAn thú
các điều kiện kết hôn tliì mới bảo đám cho hôn nhân lổn tại phù hợp với bán
chất của nó Và chỉ cổ những cuộc hôn nhân phù hợp với ban chất của nó mới
có giá Irị pháp lý, giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng llieo
đúng nghĩa của nó c Mác đã khẳng định: “Không ai bị buộc phải kết hôn,
nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theo luật hôn nhân một khi người dó kết hôn
Người kết hôn không sáng tạo ra hôn nhân, không phát minh ra hôn nliâii,
cũng như người bơi, lội không sáng tạo, không phát minh ra thiên nhiêu VỈ!
những quy luật về nước và trọng lực Vì thế, hôn nhân không thể phục tùng sư
tuỳ tiện của người kết hôn mà trái lại sự tuỳ tiện của người kết hôn phải phục
tùng bản chất của hôn nhân.” 15 Khi các bên nam, nữ đã quyết định kết hôn, thi
họ phải bắt buộc tuân thủ các quy định của Lu Ạt' Hôn nhân và gia đình Nếu
các bên không tuân thủ các quy định về điều kiện lcếl hôn, vi phạm (liều cấm
thì hôn nhàn sẽ là trái pháp luật hoặc không có giá trị pháp lý Vạy hôn nhâu
trái pháp luật là hôn nhân mà khi kết hôn các bên nam, 11Ữ đã không tuân ilúi
dầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, nói mộl cách cụ thổ
hơn thì hôn nhân trái pháp luật là hôn nhân mà t$>ng đó các bên nam, nữ đã vi
phạm dù chỉ là một trong các điều kiện kêì hôn hoặc phạm vào các trường hợp
cấm kết hôn đã được pháp luật quy định
Sự tồn tại quan hệ hôn nhân trái pháp luật không phù hợp với bản chất
của quan hệ hôn nhân, di trái với các lợi ích mà phấp luật quan tâm háo vè, Vỉ
vậy Nhà nước phải dùng biện pháp cưỡng chế dối với những người vi phạm là
buộc các bên phải chấm dứt việc chung sống trong quan hệ vợ chồng Điều đó
đã cho thấy rõ thái độ nghiêm khắc củí
Trang 21phạm trong việc kết hổn và cũng khẳng định rằng, trong việc kết hôn thì lợi
ích của những người kết hôn phải phù hợp với lợi ích gia đình và xã hội Qua
các thời kỳ khác nhau của lịch sử, những quy định của pháp luật về hôn nhân
và gia đình nói chung và về các diều kiện kết hôn nói riêng có khác nhau Vì
vậy, khái niệm hôn nhân trái pháp luật cũng có những điểm khác nhau nhâì
định trong những thời kỳ khác nhau '
1.2.1 Hôn nhân trái pháp luật theo quy định trong hộ thống pháp 'uật nưóc ta trước Cách mạng tháng Tám
a Trước thòi kỳ Pháp thuộc, Việt Nam lổn tại chế độ quân chủ, lất cá
quyv n hành tập trung trong tay Vua Các đạo luật đều đo Vua ban hành Tiêu
biểu th o pháp luật thời kỳ phong kiến là Bộ luẠt Hồng Đức được ban hànli
dưới t r a’1 Lê và Bộ luật Gia Long được ban hành dưới triền Nguyên Theo quy
định tại c 'c b ộ luật n ày thì về ng u y ên tắc, g iấ y c h ứ n g n h ậ n k ế t h ô n được CO) là
một văn b 'ng pháp lý đặc biệt quan trọng làm gắn bó vợ chổng trong các
quyền và n^hĩa vụ nliấl định Nếu việc kỷ kết vãn bằng đó đã phạm vào các
điều cấm của luật thì 11Ó sẽ bị coi là vô hiệu (không có giií tri pháp lý) và có
thể bị tiêu huỷ Vì vậy, khi xác lập quan hệ hôn nhân, nếu các bên vi phạm
vào các điều kiện về cấm kết hôn thì dù có giây chứng nhạn do cơ quan có
thẩm quyền cấp thì hôn nhân đó cũng bị coi là trái pháp luật và sẽ bị tiêu huỷ
Pháp luật thời kỳ này đã quy định các trường hợp cấm kết hôn, đó là:
4- Cấm kết hôn khi đang có tang cha mẹ hoặc tang chổng (Điều 3 17 Bộ
luật Mồng Đức)
+ Cấm kết hôn khi cha mẹ bị giam cầm tù tội (Điều 99 Luật Gia Long)
+ Cấm kết hôn giữa những người thân thích (Điều 319 Luật Hồng
Trang 22+ Cấm học trò lấy vợ của thầy học đã chết, anh, em lấy vợ của em, anh
điều kiện đơn thường thì các đương sự chỉ bị phạt trượng hay phạt roi mà hôn
nhân của họ không bị tiêu huỷ, có nghĩa là hôn nhân của họ vẫn tiếp tục được tổn tại và coi là hợp pháp, các bên không phải ly dị
Ví dụ: Điều 316 Luật Ilổng đức đã quy định: đối với những trường hợp khi các bên kết hôn đã vi phạm nghiêm trọng vào các điều cấm của luật tức là
dã vi phạm vào các điều kiện thiết yếu thì pháp luật không công nhân tính hợp pháp của hôn nhân đó và cần phải liêu hủy hôn nliân Tại Điều 317 Vci Điều
323 Luật Hồng Đức có quy định các bên sẽ phải chia lìa hoặc phải li dị khi vi phạm vào các điều kiện quan trọng của việc xác lập hôn nhân Sự tiêu hirỷ hôn nhân trái pháp luật trong cổ luẠt có sự khác biệt so vói việc tiêu huỷ hôn nliím trong pháp luật hiện hành Tiêu huỷ hôn nhân trong cổ luật không có hiệu lực trở về trước mà chỉ có hiệu lực trong tương lai Có nghĩa là, hôn nhân vẫn có hiện lực trong quá khứ Trước khi bị tiêu huỷ hôn nhan thì hôn nhân đổ vẫn được coi là có giá trị p h á p lý, các bên tham gia quan h ệ h ô n nhân dó vẫn là VỌ'
chồng, họ chỉ bị “chia lìa” hay “li dị” (kổ từ khi hôn nhfm của liọ bị luyên 1)0
Trang 23tiêu hủy mà thôi Như vậy, sự tiêu hủy hôn nhân trong cổ luật hoàn toàn giong
với trường hợp ly hôn theo pháp luật hiện hành)
Thông qua các quy định trong các Bộ luật Mồng Đức và Luật Gia Lonj»,
đã cho phép chúng ta kết luân rằng, trong cổ luật hôn nhân bị coi là vô hiệu
khi phạm vào một trong các điều câm kết hôn Tuy nhiên, không phải tất cá
các trường hợp hỏn nhân vỏ hiệu đều bị xử hủy mà pháp luật quy định chí
những trường hợp vi phạm nghiêm trọng các điều kiện vé cấm kếl hôn thì mói
tiêu hủy hôn nhân Hậu quả của việc tiêu hủy hôn nhân là buộc các bên plìái
ly dị và có thể phải chịu những hình phạt nhất định tuỳ từng trường hợp cụ Inể
b T rong thòi kỳ Pháp thuộc, pháp luật nước ta vừa chịu ảnh hương In
tưởng cỉia pháp luật phong kiến, vừa chịu ảnh hưởng tư tưởng của pháp luàt
phương Tây, nên hôn nhãn trái pháp luật được hiểu là các trường hợp khi kếi
hôn các bên đã vi phạm vào điều cấm kết hôn hoặc vi phạm một số các diều
kiện khác của hôn nhân hợp pháp Tuy ba bô Dân luật 1 hời kỳ này có những
quy định về điều kiện kết hôn khác nhau, song nhìn chung đều tập trung vào
một số các vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích của những người kết hỏn, lợi
ích của con cái, của gia đình và của xã hội Nếu việc kết hôn vi phạm các điều
kiện kết hôn thì hôn nhân đó bị coi là trái pháp luật và có thể sẽ tiêu húy
Những vi phạm điển hình có thể kể đến là:
+ Vi phạm về độ tuổi kết hôn;
+ Vi phạm sự tự nguyện của những người kết hôn;
+ Việc kết hôn thiếu sự đồng ý của cha mẹ;
+ Việc kết hôn vi phạm vào các điều cấm
Ngoài ra, hổn nhân còn bị coi là vổ hiệu khi phạm vào một trong ác
trường hợp kết hôn không khai với hộ lại (Điều 82 Dân luật Bắc kỳ)hoặc
trong trường hợp người đàn bà trước đã có giá thú làm chính thất hay thứ thất
mà chưa tiêu hôn (Điều 84 Bộ Dân luật Bắc kỳ)
Trang 24Ba hộ Dân luẠí thời kỳ Pháp thuộc dã chia hôn nhân vô hiệu ra làm loại: vô hiệu tương đối và vồ hiệu tuyệt dối Vô hiệu tưong đối chỉ do liiội sú người nhất định mà luật quy định cạ thể mới có quyền yêu cầu tiêu huý I'011
nhân đó và sự vô hiệu ấy có thể bị mất đi do một sự kiện nào đó xuất hicn Vó hiệu tuyệt đối thì có thể bất kỳ người nào cũng có quyền yêu cầu tiêu hủy VÍI
sụ vô hiệu ấy không bị mất đi do một thời hiệu hoặc một sự kiện nào Môn nhân vô hiệu sẽ bị Tòa án tiêu hủy Hậu quả của việc tiêu hủy có sự quy địnli khác nhau trong ba bộ Dần luật thòi kỳ này Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ I IoàiiỊ' Việt Trung kỳ hộ luật đã dựa Irên nguyên lắc giảm bới những hậu qua quá nạng nề đối với vợ chồng, đối với các con nên đã tìm ra những biện pháp nhằm giảm bới những quy định quá nghiêm ngặt, như quy clịnli khi hôn ni An
bị tiêu hủy thì việc tiêu hủy đó chỉ có hiệu lực trong tương lai, có nghĩa là trước khi bị tiêu hủy hôn nhân, giữa các bên vãn tồn tại quan hệ vợ chồng, tron sinh ra vẫn là con trong giá tliií (con chính thức), các bên chỉ phai chấm đứí quan hệ vợ chổng kể từ khi hôn nhAn bị tiêu hủy mà thôi Nói cách khác, ve hậu quả pháp lý, tnrờng hợp tiêu hủy hôn nhân cũng giống như trường họp ly hôn Giải pháp trên đây được thừa nhận trong Điều 89 của bộ Dân luật Bắc kỳ Điều 89 bộ Dfin luật Bắc kỳ quy định: “Phàm có giá thú mà sinh con, dau sau
có sự tiêu hôn, không cứ vì duyên cớ gì, những dứa con ấy vãn là con chính thức Thuộc về quyền lợi, nghĩa vụ của cha mẹ, r.hững đứa con ấy thì cũng theo cùng một lệ định như khi ly hôn
Việc thanh toán các tài sản của vợ chồng đã tiêu hôn thì cũng làn 1 theo như khi ly hôn”
Trái lại, trong Bộ Pháp quy Giản yếu lại có quy định rằng, khi hôn nhân
bị tiêu hủy thì nó không còn hiệu lực gì không những trong tương lai mà còn
cả trong quá khứ nữa Đối với hai vợ chồng thì kể từ ngày họ kết hôn cho đến khi hôn nhím bị tiêu hủy họ không phái là vợ chổng của nhau, có nghĩa là liai bên chưa hề xác lẠp quan hệ hôn nhân với nhau Vì vẠy, nếu họ có tài sản chung thì tài sản cìó được thanh toán như trong trưởng hợp hai người góp sức góp công làm ra Đối với các con thì bị coi như con ngoại hôn tức la con ngoài giá thú Như vậy, Bộ Pháp quy Giản yếu đã quy định nhữĩUT hậu quả hốt sức
Trang 25nặng nề đối với việc tiêu hủy hôn nhân So với ỈBộ DAn luẠt Bắc kỳ và Hộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật thì Bộ Pháp quy Giản yếu đã nghiêm ngặt lum rất nhiều.
1.2.2 Hôn nhân trái pháp luật theo quy định trong Luật Hôn nhân
và gia đình 1959
Luật Hôn nhân và gia đình 1959 ra đời đã khảng định bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa, là công cụ pháp lý của Nhà nước Việt Nam dâu chủ cộng hòa, phục vụ lợị ích của nhân dân lao động và phù hợp vói nguyện vọng của quần chúng nhân dân, nhằm xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của toàn dân Luật Hôn nhan và gia đình 1959 ra đời đã góp phần đáng kể trong việc xoá bỏ những quy định lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến dã tổn tại hàng ngàn năm
ở nước ta Luật Hôn nhân và gia đình 1959 quy định cụ thể những điều kiện
kết hôn và các trường họp cấm kết hôn để bảo đảm quan hệ hôn nhân thực sự
an toàn, lành mạnh và tiến bộ
Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình 1959 quy (lịnh: “Con gái lừ 18 tuổi trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn” vì phải đạt đến độ tuổi này mới có thể bảo đảm về mặt thể lực để làm vợ làm chồng, “bảo đảm cho nòi giống được lành mạnh, tương lai con cháu được tốt đẹp”16 Do vậy nếuchưa đạt đến độ tuổi này mà nam, nữ đã kết hôn thì hôn nhân đó là hôn lìhan
ltrái pháp luật do vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi
Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình 1959 quy định: “Con trai và con gái đến tuổi, được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc kết hôn của mình; không bên nào được ép buộc bên nào, không một ai được cưỡng ép hoặc cản trở” Quy định sự tự nguyện của nam, nữ khi kết hôn nhằm xóa bỏ chế độ hôn nhân cưỡng ép, phụ thuộc vào cha mẹ của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, bảo đảm cho nam, nữ tự quyết định hạnh pliiíc của mình, vì thế nếu việc kết hôn mà chỉ không có sự tự nguyện của một bên đều là hôn nhAn trái pháp luật
Trang 26Điều 5 Luật Hôn nhân và gia dinh năm 1959 quy định: “Cấm liguòi đang có vợ, có chổng kết hôn với người khác" Quy định này nhằm xoá bó clìó
độ đa thê đã tổn tại hàng ngàn năm ở nước ta Đồng thời quy định này còn nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và góp phần vào công cuộc dấu tranh giải phóng phụ nữ Trong mọi trường hợp tìgười đang có vợ, cổ chồng mà kếí hôn với người khác chính là vi phạm vào trường hợp luật cấm kết hôn và nhu' váy hôn nhân đó phải là hôn nhân trái pháp luật
Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi"
Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ lioăc cùng mẹ khác cha Đối với những người khác có họ trong phạm vi 5 đời hoai
có quan hệ thích thuộc vể trực hệ, thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán" được quy định tại Điều 9 Lú ạt Hôn nhân và gia đình Dựa trêi) “cơ
sở khoa học và kinh nghiệm sinh hoạt của nhân dân, có chiếu cố thích dáng đến phong tục tập quán”17 nên các nhà làm luật dã có những quy dịnh nhằm hạn chế những người có quan hệ huyết thống gần kết hôn với nhau Quy định này vừa bảo đảm cho con cái được lành mạnh cả về thể lực và trí tuệ, vừa bảo đảm truyền thống đạo đức của gia đình Việt nam từ ngàn đời Mặt khác, "để tránh những sự cưỡng ép có thể xảy ra trong việc kết hôn, nên cùng cẩn cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi và con nuôi”18
Ngoài ra, những người mắc một số bệnh như: bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi lliì không được kết hôn Đối với các trường hợp này, nếu các bên có kết hôn lhì cũng không được thừa nhộn Tuy nhiên, trong thực tiễn khi một số bệnh cổ khả năng chữa khỏi thì hôn nhân của họ không bị tiêu hủy
Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình 1959 quy định: “Việc kết hôn phải được Ưỷ ban hành chính cơ sỏ' nơi trú quán của bên người con trai hoặc bên người con gái công nhận và ghi vào sổ kết hôn Mọi nghi thức kết hôn khác: đều không có giá trị vồ mặt pháp luật" Đây là diều kiện vổ mặt hình thức của hôn nhân Việc đăng ký nhằm giúp cho Nhà nước có thể kiểm tra, giám sát
Trang 27việc luân thủ các điều kiện kết hôn của các bên nam, nữ khi họ kết hôn,
chặn kịp thời những trường hợp kết hôn vi phạm các quy định của Luội Hòn
nhân và gia đình Không đăng ký kết hôn sẽ (lẫn đến hậu quả là không đưực
Nhà nước và pháp luật bảo vệ theo đúng quan hệ vợ chồng, nghĩa là không
thừa nhận quyền và nghĩa vụ của các bên như quyển và nghĩa vụ cùa vợ chổng
mà Luật Hôn nhân và gia đình quy định
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã quy định cụ thế
nlũMg điều kiện trong đó cho phép nam, nữ kết hôn hoặc các trường họ'|> cấm
nam, nữ kết hôn, đặc biệt là có quy định cả những trường hợp không đu'o'c kèì
hôn Vì vậy, những trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn chính là vi phạm
chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chù nghĩa nên cẩn phải được xử lý
nghiêm khắc Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình 1959 không quy định
biện pháp chế tài đối với những trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kếl hôn
Biện pháp xử lý đối với việc kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn được ghi nhận
trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 1959 Tại
Công văn số 1264 ngày 1.11.1966, Tòa án nhân dân tối cao đã gửi các To à án
nhân dân đia phương Dư thảo Thông tư hướng dẫnviêc xử lý về dân sư những
hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn do Luật định Dự thảo này đã có tác (lụng
bước đầu hướng dẫn về đường lối và thủ tục xét xử Qua kinh nghiệm thực tiền
xér xử và đóng góp ý kiến của các Toà án nhân dân địa phương, Tòa án nhân
dân tối cao đã có hướng dẫn đầy đủ hơn về việc xử lý về dân sự những' hôn
nhân vi phạm điều kiện kết hôn tại Thông tư số 112-NCPL ngày 19.8.1972
Theo hướng dẫn tại Thông tư này thì về đường lối chung ]à khi xử lý về dàn sự
đối với những vi phạm điều kiện kết hôn xảy ,ra sau khi ban hành Luật Hỏn
nhân và gia đình 1959 cần căn cứ vào tình hình thực tế mà có sự phân biệt nlìir
sau:
- Cần xử tiêu hôn những vi phạm điều kiện kết hôn đang tiếp cliồn và tính chất nghiêm trọng như: tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, đang có vợ, có chồng
mà lấy vợ hoặc chổng khác, lấy người trong họ hàng mà Luật tuyệt đối câm
kết hôn; lấy người dang mắc một bệnh trong những bệnh tạt mà Luật cấm kết
hôn
Trang 28- Đối với những việc trước đây vi phạm điều kiện kết hôn, nhưng nay (l;i chấm dứt hoặc vi phạm không có tính tính chất nghiêm trọng và có lliể sửii
chữa một cách dễ dàng (như kết hôn không đăng ký) thì xử lý llieo đường lôi
về ly hôn nếu đương sự yêu cầu cắt đứt quan hệ vợ chồng Như vậy, về nguyên
tắc thì những trường hợp kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn do Luậi định
thì hôn nhân đó cần phải xử tiêu hôn “Xử tiêu hôn là quyết định chấm dứt
những hôn nhân bất hợp pháp" Điều đó có nghĩa là hôn nhân vi phạm điểu
kiện kết hôn là hôn nhân bất hợp pháp (hôn nhân trái pháp luật) cần phải xú
tiêu hôn nhằm đấu tranh chống những việc vi phạm nghiêm trong tronị* điêu
kiện kết hôn, đồng thời Nhà nước thông qua đó tỏ rõ thái độ nghiêm kliắc là
không thừa nhận quan hệ vợ chồng đối với những trường hợp nam, nữ kết hòn
nhưng không tuân thủ đẩu đủ điều kiện kết hôn Huỷ hôn nhân trái phá ị) Irại
sẽ dần đến hậu quả nghiêm trọng đối với hai ngiíời đã kết hôn về quan hệ
nhân thân và quan hệ tài sản v ề nguyên tắc khi hôn nhân bị Toà án tiêu huỷ
thì có hiệu lực cả trong quá khứ và tương lai Vì vậy, kể từ khi hai bên kết hôn
quan hệ của họ chỉ là việc chung sống trái pháp luật chứ không phải là quan
hệ vợ chồng Khi Toà án huỷ hôn nhân, họ phải chấm dứt việc chung sống bấl
hợp pháp, chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ về nhân thân vợ chồng, v ề tài săn,
phái thanh toán theo cách thanh toán tài sản của những người chung sức làm
ăn với nhau, tài sản riêng của ai người đó lấy vê, tài sản do hai người lao động
tạo ra sẽ chia theo công sức mà mỗi bên đã đóng góp, những khoản chi ticu
riêng của ai, người đó phải trả v ề cấp dưỡng giữa các bèn thì về nguyên lắc: <không được đặt ra Việc tiêu huỷ hôn nhfin dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nhu
vậy nên Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dãn cụ thể đối với một số trường
hợp, mặc dù có vi phạm điều kiện kết hôn nhưng không nghiêm trọng thì
không xử tiêu hôn mà chỉ xử theo thủ tục ly hôn nếu các đương sự yêu cáu
nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của các đương sự, nhất là quyền lợi của
phụ nữ và con cái
Thông qua các quy định trên đã cho thấy rõ ràng dối với nhũng trường
hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết liôn thì hôn nhAn đó là trái pháp luật và về
nguyên tắc là xử tiêu hôn trừ một số trường hợp dặc biệt nếu mức dộ vi phạm
Trang 29không quan trọng và dễ dàng sửa chữa như kết hôn không có (làng ký kếi
về các điều kiện kết hôn
Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định điều kiện kết hôn giống như Luật Hôn nhân và gia đình 1959 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 198() quy định: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trỏ lên mới được kết: hôn"
Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định: “Việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên nào, không ai dược cưỡng ép hoặc cản trở"
Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định cấm kết hôn trong những trường hợp: đang có vợ hoặc có chồng; đang mắc bệnh tâm thẩn không
có khả năng nhộn thức hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng mẹ khác cha, giữa những người khác có họ trong phạm vi 3 dời; giữa cha mẹ nuỏi với con nuôi"
Điểu 8 Lu ạt Hôn nhân và gia đình 1986 quy định: "Việc kết hôn do ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của mội trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định Việc kết hôn giữa công dân Việt nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan dại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam công nhận
Mọi nghi thức khác đều không có giá trị pháp lý”
Trang 30Diều 57 Bộ luật Dân sự cũng quy định về đăng ký kết hôn: “Viòc kct hôn phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo Iighi thức (lo pháp luật quy định, mọi nghi Ihức khác đều không có giá trị pháp lý”.
Về nguyên tắc, việc kết hôn phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận và cấp Giấy chứng nhận kết hôn thì hôn nhân đó mới có giá trị pháp lý, hai bên nam, nữ mới phát sinh quan hệ vợ chổng Điều kiện này quy định về mặt thủ tục của việc kết hôn và có ý nghĩa quan trọng Đãng ký kết hôn là biện pháp để Nhà nước kiểm tra việc tuân theo pháp lu Ạt trong việc kết hôn và ngăn chặn các hiện tượng vi phạm các điều kiện kết hôn Đồng thời, đăng ký kết hôn còn là biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi cho vơ chồng Nếu các bên nam, nữ mong muốn trở tliành vợ chồng nhưng không đàng ký kết hôn tại một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà chỉ tổ chức kết hôn theo phong tục thì về nguyên tắc hôn nhân đó không được pháp luật thừa nhận
Khi kết hôn, các bên nam, nữ tuân thủ đổy đủ các điều kiện dó thì liôn
nhân của họ là hợp pháp và giữa họ phát sinh quan hệ vợ chổng Trái lại nếu các bên vi phạm vào một trong các điều kiện kết hôn thì hôn nhân dó bị coi là trái pháp luật và sẽ bị xử huỷ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định: “Việc kết hôn vi phạm một trong các điều 5,6,7 của Luật này là trái pháp luật
Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp IuẠt, vợ chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân và Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hổ Chí Minh, Công đoàn Việt nam có quyền yêu cáu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật.”
Theo quy định tại Điều 9 thì chỉ những trường hợp kết hôn vi phạm một trong các điều 5,6,7 của Luật Hôn nhân và gia đình 1986 mới coi là trái pháp luật Điều đó có nghĩa là đối với trường hợp kết hôn vi phạm Điều 8 của Luật
về việc đăng ký kết hôn thì không coi là trái pháp luật mà vẫn thừa nhận hôn nhân đó là hợp pháp Như vậy, giữa Điều 8 và Điều 9 đã có sự mâu thuẫn nhau Điều 8 quy (lịnh việc kết hôn phải được một cơ quan Nhà nước có thẩm
Trang 31quyền công nhận và “mọi nghi thức kết hôn khác đồu không có giá trị |>li;ìp lý” có nghĩa là chỉ những cuộc hôn nhân có đăng ký tại cơ quan Nhà nưcíc có thẩm quyền mới có giá trị pháp lý và được công nhện là hôn nhân hợp pháp Nhưng Điều 9 lại quy định là hôn nhân vi phạm Điều 8 là không đăng ký kết hôn lại không phải là hôn nhân trái pháp luật Trong trường hợp này phải có sự lựa chọn nên áp dụng điều luật nào Để giải quyết sự bất dồng này giữa hai điều luật nên chăng cẩn đứng trên nguyên tắc hảo vệ quyền lợi của các (lươn lĩ
sự để xem xét Việc xác định hôn nhân trái pháp luật nên áp dụng theo Điều 9
và như vậy thì chỉ coi là hôn nhân trái pháp luạt khi việc kết hôn vi phạm mỏt trong các Điều 5,6,7 của Luật Hôn nhân và gia đình 1986 Trường hợp kết hóa
vi phạm Điều 8 là không đăng ký việc kêì hôn tại cơ quan Nhà nước có lliẩin quyền không bị coi là trái pháp luật, có nghĩa là Nhà nước vẫn thừa nhận línli hợp pháp của những cuộc hôn nhân mà khi các bên nam, nữ chung sống lai khỏng tuân thủ điều kiện về hình thức Cơ sở để công nhận hôn nhân hợp phấp trong trường hợp này là dựa trên thực tế các bên đã chung sống liong quan 1 lệ
vợ chồng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ vợ chổng vói nhau và đã cùng nhau vun đắp xây dựng gia đình Công nhận sự lổn tại hợp pháp của các quan hệ hòn nhân nay là “hôn nhân thực tế”
Trang 322.1.1 Hôn nhân trái pháp luật rlo vi phạm Điểu 5 Luật Hòn nhân và gia đình 1986 (vi phạm về độ tuổi kết hỏn).
Theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 thì nam từ 20 tuổi trỏ' lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kếl hôn Luật quy định độ tuổi tối thiểu cho phép nam, nữ kết hôn vì vậy nam, nữ ldìông dược kết hôn trước tuổi luật định
Khi quy định độ tuổi kết hôn, các nhà làm luật đã căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, căn cứ vào phong tục tập quán của nhân dãn
và liên hệ đến một số các chính sách lớn cúa Nhà nước như chính sách vé (lân
số và kế hoạch hóa gia đình Vì vạy, độ tuổi kết lúm dược quy định tại í >iéu
Trang 335 thể hiện lính khoa học và phù hợp với dời sống tình cám của nhân (lân piiỉi
hợp với sự phát triển của gia đình và xẩ hội Nam, nữ kết hô n vừa xác lập (ỊUiin
hệ hôn nhân nhưng đồng thời cũng thực hiện mục đích xây dựng gia đình Gia đình phải thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của I1Ó, một trong những chức năng đó là sinh đẻ - tái sản xuất ra con người nhằm duy trì và phát tri en nòi giống Ở nước ta, trên cơ sở tri thức của ngành y học thì nam từ khoảng 16-17 tuổi, nữ từ khoảng 13-14 tuổi đã có khả năng sinh sản, nhưng để bảo đảm sức khoẻ cho vợ chồng, đặc biệt cho người phụ nữ khi mang thai, sinh (lẻ
và hao đảm cho con cái sinh ra được khỏe manh cả về thể lực lẫn trí tu ộ, thì nam phải ở độ tuổi 19- 20, còn nữ cũng phải ở dộ tuổi 17-18 Trên cơ sở dó
các nhà làm luật đã quy định độ tuổi t;ối thiểu cho phép kết hôn ở nam là 20
tuổi, nữ là 18 tuổi Đến độ tuổi đó nam, nữ mới có thể suy xét chín chắn việc kết hôn của mình và thể hiện ý chí tự nguyện trong việc kết hôn, và cũng đến
độ tuổi đó, nam, nữ mới có thể tham gia lao động xản xuất để bảo đảm đời sống kinh tế cho bản thân và gia dinh, Như vậy, quy định độ tuổi kết hỏn là xuất phát từ việc báo vệ lợi ích của chính các bôn nam, nữ, của con cái họ, của gia đình và xã hội; bảo đảm cho hôn nhân hạnh phúc và gia đình tồn tại bền vững Nếu các bên nam, nữ kết hôn quá sòm sẽ ảnh hưởng tới các lợi ích nói trên, vì vậy nếu nam, nữ kết hôn dưới độ tuổi luật định bị coi là trái pháp luật Việc xác định độ tuổi kết hôn trong đại da số các trường hợp là rất thuận lợi
Có thể căn cứ vào giấy khai sinh, vào sổ hộ tịch gốc để từ đó xác định rõ rằng vào thời điểm kết hôn các bên đã đủ tuổi hay chưa Nhưng trong một số trường hợp do chiến tranh, thiên tai mà giấy khai sinh hoặc sổ hộ tịch gốc không còn thì có thổ dựa trên những giấy tờ cổ giá trị khác Vấn đẻ khó khăn
và hiện đang gây nhiều tranh luận là về cách lính tuổi kết hôn như thế nào ? Luật Hôn nhân và gia đình 1986 không quy định về cách tính tuổi nên trong thực tế khi có vấn đề nảy sinh, các địa phương có cách xác định khác nhau về cách tính tuổi kết hôn nên dẫn đến việc giải quyết cũng khác nhau
Một số các địa phương chỉ công nhận một cách tính tuổi duy nliiít là tính tuổi tròn Theo cách tính này thì phai căn cứ vào cả ngày, tháng và năm sinh của người kết hỏn Đủ 12 tháng mới được coi là tròn một tuổi Vì vậy theo cách lính này, nếu anh A sinh ngày 30.10.1976 I hì tiến đúng ngày
Trang 3430.10.1996 anh ta tròn 20 tuổi và mới được phép kết hôn Nếu anh la kẽi hòn trước ngày đó (dù chỉ vài ngày) thì hôn nhân của anh ta cũng bị coi là trái pháp luật và Tòa án có thể xử hủy hôn nhân đổ.
Một số địa phương khác lại tính tuổi theo ngày đầu của năm dương lịch Theo cách tính này thì chỉ cần đến ngày 1.1.1996 là anh A 20 tuổi và anh la dược phép kết hôn Vậy nếu anh A kết hôn vào ngày 30.1.1996 thì hôn nhân của anh A vãn được coi là hợp pháp và Toà án không thể căn cứ vào Điều 5 Luật Môn nhân và gia đình xử hủy hôn nhân đó Như vậy, từ cách hiểu lchiic nhau dẫn đến cách tính tuổi khác nhau sẽ dãn đến cách xử lý khác nhíiu và đương nhiên là cùng liên quan đến một diều kiện kết hôn, nhưng ở nơi này thì coi là trái pháp luật, ở nơi khác lại không coi là trái pháp luật Rõ ràng, cách xác định tuổi kết hôn không thống nhất dã dÃn đến việc đánh giá căn cứ đổ
xỉu: định hôn nhAn trái pháp luật cũng không thống nhất Theo chúng tôi, cán thống nhất trong việc áp dụng Điều 5 Luật Môn nhân và gia đình về cách tínlì tliổi kết hôn là căn cứ vào ngày đầu của năm dương lịch, bởi lẽ, quy định (lọ tuổi kết hôn của Luật Hổn nhân và gia dinh là căn cứ vào sự phái triển lAm sinh lý của con người, do vẠy việc xác định tuổi chỉ mang tính chất tươm’ dối chứ không có nghĩa là ở người nào thì cũng phái đủ ngày tháng năm mới phái triển hoàn thiện về tâm sinh lý để có đủ điều kiện kết hôn Đồng thời, khi quy định tuổi kết hôn nhà làm luật cũng đã dựa vào phong tục tập quán của nhăn dân mà theo phong tục tập quárt thì người dân Việt Nam thường có cách tính tuổi là dựa vào ngày đầu liên của tháng đáu tiên của năm âin lịch Vì vậy, theo chúng tôi nên công nhận cách tính tuổi thứ hai vừa phù họp với phong tục tập quán của nhân dân vừa có lợi cho các bên đương sự nhưng đồng thời vẫn bảo đảm tính khoa học/Trước đây, theo pháp luật thòi kỳ Pháp thuộc thì mặc (lừ
đã quy định tuổi kết hôn cho nam, nữ nhưng trong các Bộ Dân luẠI BÁC kỳ và
Bộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luât vẫn quy định những trường hợp có lý do chính đáng thì quan tỉnh có thể cho đặc cách miễn tuổi Pháp luật củít mỗi số nước cũng quy định độ tuổi tối thiểu cho phép nam, nữ kết hôn nhưng cũng vẫn cho phép được hạ độ tuổi kết hôn trong những írường họp đạc biệt Ví dụ:
Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Pháp lại Ihiỗn V quy định về hôn nhân, Điều 144 quy định: “Nam chưa đủ 18 tuổi tròn, nữ chưa đủ 15 tuổi tròn ldiông
Trang 35lliổ kốl h ô n ” N h ư n g h ê n c ạ n h d ó Đ i ề u 115 lại q u y đ ị n h : “ T u y n h i ê n , CÔI tị-' lo
ủy viên nơi tiến hành hôn lễ có thể cho miễn chấp hành luổi quy định nốu ru những lý do nghiêm trọng” Hoặc luật của Singapore quy định khi có sư cho phép của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, luật của Thụy điển quy định phải dược phép của Úy ban hành chính nơi người kết hôn cư trú thì nam, nữ được quyền kèì hòn dưới tuổi luật định Khi một người đã được phép kết hôn dưới tuổi luái định thì đương nhiên hôn nhân của họ được coi là hợp pháp
Từ sự so sánh trên đây, có thể khẳng định rằng việc thừa nhận cách tính tuổi thứ hai để giải quyết các trường hợp kết hôn trước tuổi luật định là hoàn loàn phù hợp Khi đã có đủ căn cứ để khẳng định rằng các bên nam, nữ kêì hỏn nước tuổi kết hôn theo luật định, thì hôn nhân đó trái pháp luật và vồ nguyên tắc cần phải hủy hôn nhân theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia (lình 1986 Tuy nhiên, hủy hôn nhân trái pháp luật sẽ dẫn đến nhữnj! hau quả nghiêm trọng mà các bên phải gánh chịu và đặc biệt là sẽ gây ánh lníơng xấu tới việc nuôi dạy con chung của hai người kết hôn trái pháp luật Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dãn các Tòa án địa phương trong quá Irìnli
xử lý cần phải thận trọng, xem xét về nguyên nhân, hoàn cảnh của việc vi phạm điều kiện này và đặc biệt xem xét đến tình cảm của các bên từ khi họ chung sống cho đến khi Tòa án xem xét cuộc hôn nhân của họ Theo Nghị quyết số 01/NQ -HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng mội số quy định của Luật I lôn nhân và gia đình” thì nếu kết hôn chưa đủ tuổi như quy định của Điều 5 mà có yêu cầu của những người quy định trong Điều 9 thì Tòa án xử hủy việc kết hôn Nhu vậy, trong các trường hợp thông thường nếu các bên kết hôn trước tuổi luạl định nên đã có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luẠt của các đương sự, các
cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội thì Tòa án cần hủy hôn nhân Hội đồng thẩm phán - Toà án nhân dàn tối cao cũng đã dự liệu đến các trường hợp mà sau khi các bên kết hôn, không ai có yêu cầu hủy việc kết hôn (tó, nhưng san một thòi gian chung sống các bên mới yêu cầu châm (lứt quan hệ hôn Iihíìn của họ thì Tòa án cần phải xem xét đốn thực chất mối quan hệ tình cam và trạng thái gia đình của họ kể từ ngày họ chung sống với nhau cho tiến khi họ yèu cẩu chấm dứt hôn nhân “ Nếu do kết hôn chưa đủ tuổi mà cuộc sốnj: của
Trang 36hai hcn không có hạnh phúc, đến khi họ dã (lủ tuổi kếl hôn mới có yêu cần
chấm dứt hôn nhân thì Tòa án cũng hủy việc kết hôn” 19 Trong trường hợp
này, rõ ràng việc các bên nam, nữ kết hôn trước tuổi, thường rơi vào tình trạng
chưa có những suy xét chín chắn, chưa có cách ứng xử phù hợp trong quan hệ
vợ chổng, nên đã ảnh hưởng xâu dến cuộc sống chung và không thể xây (lựng
được gia đình hạnh phúc Do đó, mặc dù đã qua một thời gian chung sống, các
bên đã vào độ tuổi trưởng thành, nhưng khi có yêu cáu hủy việc kết hôn thì
Tòa án hủy việc kết hôn đó là hoàn toàn chính đáng Nhưng đối với nliữn^
liưòng hợp dù kết hôn trước tuổi luật định nhưng nam, 11Ữ cũng đã hiểu rõ
quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, trách nhiệm dối với gia đình và xã hội nôn
dã yêu thương nhau, cùng nhau làm ăn chăm lo vun vén gia đình thì mặc (lù
có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của những người có quyền yêu cần
(Irừ hai người trong quan hệ hôn nhân) vào thời điểm các bên đã đủ tuổi kết
hôn, theo chúng tồi, Tòa án không nên máy móc xử hủy hôn nhân đó, mà nên
bác đơn yêu cầu hủy hôn nhân và khi đó thì hôn nhân của họ được coi là hợp
pháp Nếu sau đó các bên mới phát sinh mâu thuẫn và một trong các bên vợ,
chồng yêu cầu được chấm dứt hôn nhân (thường là họ làm đơn xin ly hôn) thì
Tòa án sẽ giải quyết theo hướng dẫn tại Nghị quyết số OI/NQ-HĐTP: “ Nêu
hai bên đã chung sống bình thường, đã có con và tài sản chung, sau đó mói
phát sinh mâu thuẫn thì không máy móc xử hủy việc kết hôn mà áp (lụng Điều
40 (ly hôn) để xét xử”
Như vậy, đối với các trường hợp nam, nữ kết hôn trước tuổi liiẠt địnli,
Tòa án cũng có thể xử hủy việc kết hôn và cũng có thể xử không hủy việc két
hôn khi có đơn yêu cẩu Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể xử lv
hỏn nếu chính các bôn đương sự yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân của họ
2.1.2 Hôn nhân trái pháp luật do không có sự tự nguyện của các bên nam, nữ
Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định: “Việc kết hôn do
nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên nào, không ai
được cưỡng ép hoặc cán trở”
Trang 37Sự tự nguyện trong việc kết hôn là hai bên nam, nữ thể hiện rõ moii!' muốn của họ là được chung sổng với nhau trong quan hệ vợ chổng nhằm thoa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai bên Nam, nữ tự mình quyết định việc kêI hỏn
mà không bị tác động bởi ý chí của bên kia hoặc của người thứ ba khiến liọ phái kết hôn trái với ý muốn Việc kết hôn của các bôn nam, nữ phải xuấi phái
từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích xây đựng gia đình hạnh phúc (lưới sự giúp đỡ của Nhà nước và của xã hội Nếu nam, nữ kết hôn nhưng lại thiếu sự tự nguyện của cả hai bên hoặc của một trong hai bên thì hổn nhân của
họ không được pháp luật thừa nhận (theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhãn
và nia đình 1986) Thiếu sự tự nguyện khi kết hôn là nam, nữ bị cưỡng ép hoác
bị lừa dối Nghị quyết số 01/NỌ-IĨĐTP ngày 20/1/1988 hướng (lẩn: “ Bị cưỡng
ép hoặc bị lừa dối khi kết hôn đều trái với nguyên tắc tự nguyện kết hôn Vì vậy, Tòa án xử hủy việc kết hôn” LuẠt Hôn nhân và gia đình 1986 và Nghị quyết 01/NQ-HĐTP đều không có hướng dẫn cụ thể thế nào là thiếu sự lự nguyện khi kết hôn và lliế nào là hành vi cưỡng ép hoặc lừa dối khi kết hỏn, vì vây trong quá trình xử lý các trường hợp cụ thể, các Tòa án đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc đánh giá căn cứ này
Hành vi cưỡng ép kết hôn có thể được hiểu là có hành vi dùng bạo lực
đe dọa đê buộc một người kết hôn trái với mong muốn của họ Trước đây, theo Thông tư số 1 12-NCPL ngày 19/8/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng (lẫn việc xử lý vổ mặt dân sự những hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn (lo luật định thì cưỡng ép kết hôn trên thực lế có nhiều mức đó và hình thức “Tòa
án chỉ xử liêu hôn trong trường hợp hành vi thực sự có tính chất cưỡng ép, nhu
đã dùng bạo iực về vật chất hoặc tinh thẩn, manh mẽ đến mức làm té liệt ý chí của dương sự, làm mất hản sự tự nguyện của họ khi kết hôn” Như vậy, có thổ hiểu rằng một người đã dùng bạo lực về vật chất hoặc tinh thần nhằm bắt buộc một người khấc phải kết hôn Sự bắt buộc dó mạnlt mẽ đến mức, nguôi bị cưỡng ép lo sợ rằng một mối nguy liiổrn IÓÌ1 sắp xảy ra cho bản lhân họ hoặc cho những ngươi thân họ Chính vì lỗi sợ hãi đó đã khiến cho đương sự buộc lòng phải đổng ý kết hôn mà không còn cách lựa chọn nào khác
Trang 38Ví dụ: Nguyễn Văn A là một thanh Ìiiân đã có tiền án tiền sự về tội cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng đem lòng yêu mến cô Lê Thị I I Khi A ngỏ lời muốn lấy cô H làm vợ thì cô H từ chối Một hôm, trên dường có
H đi làm về, A đã dùng dao nhọn sắc và đe dọa nếu cô H không đồng ý lay A thì hắn sẽ đâm chết cô, do sợ hãi, cô H đành trả lời đồng ý lấy Ạ Vài ngày sau, A lại đến nhà H khi H ở nhà một mình và lại dí dao vào cổ buộc H phái đến ủ y ban để đăng ký kết hôn với hắn, nếu không hắn sẽ giết cô và sẽ dùng bộc phá để giết chết cha mẹ và các em của cô H sợ quá đành cùng hắn đi đăng ký kết hôn
ỉNhư vậy đối với trường hợp này, cô II dã liên tiếp bị de đoạ và sự de dọa đó mang tính chất tức thời, liền kề Vì thế cần xác định rằng H bị cưỡng
ép mà đổng ý kết hôn vói A, nếu không bị đe dọa thì H sẽ không kết hôn với
A Như vậy, việc kết hôn của A và H là trái pháp luật, Tòa án có thể xử hủy việc kết hôn đó
Trong thực tế còn xảy ra một số trường hợp mà vì những lý do nhất định, nam, nữ đã đổng ý kết hôn trái với ý chí thực của họ Đó là trường hợpkết hôn do có sự dụ dỗ, thuyết phục hoặc do tình cảm yêu kính cha mẹ Đối
/
với các trường hợp này, việc kết hôn của họ có được coi là thiếu sư tư nguyên của các bên hay không ? Do Luật Hôn nhân và gia đình không quy định cụ thể
và cắc văn bản pháp luật khác cíĩng không có hướng dẫn nên trong thực tế vẫn
gây nhiều tranh luận Có quan điểm cho rằng, nếu một người mà lúc trước không muốn kết hôn với một người nào đó nhưng sau do bị dụ dỗ hoặc (lược thuyết phục nên đã đồng ý kết hôn thì cũng coi là bị cưỡng ép kêì hôn và như vậy, khi có yêu cầu thì cán xử hủy việc kết hôn đó Theo chúng tôi, một người
bị dụ dỗ hoặc được thuyết phục mà đồng ý kết hôn thì khống coi là thiếu sự tự nguyện khi kết hôn, bởi lẽ, trong quá trình người đó bị thuyết phục, bị dụ dỏ
họ cũng đã có thời gian để tự suy xét việc kết hôn của họ, nếu họ Ihấy lằng nên tiến hành kết hôn (hì rõ ràng đã do chính họ quyết định Hơn nữa, trong việc thuyết phục hay dụ dỗ một người không có nghĩa là họ đã bị cưỡng ép kết hôn nên không thể coi việc kết hôn của liọ là trái pliáp luật Đối với tri lừng hợp một người vì lòng yêu kính cha mẹ ncn đã nghe theo lòi khuyên và sự sắp
Trang 39xếp của ch a m ẹ tron g việc kết h ôn m à k h ô n g xuất phát từ m ụ c clícli vụ lợi của
cha mẹ thì cũng không thể coi là có sự cưỡng ép kết hôn
Qua phân tích trên đây cho thấy, chỉ coi là lliicu sự tự nguyện khi két
hôn khi có hành vi cưỡng ép kết hôn, hành vi đó phái mang tính chất quyết liệt
làm cho người kết hôn hoàn toàn mất hết tự chủ nên phải chấp nhận việt: kí t
hôn trái với ý muốn của mình Hành vi cưỡng ép kết hôn có thể từ một trong
hai người kết hôn, cũng có thể là từ phía người thứ ba có quan hệ trực tiếp vói
những người kết hôn
- Hành vi lừa dối khi kết hồn được đề cộp đến trong Thông tư số 112- NCPL ngày 19.8.1972 của Tòa án nhân (lân tối cao Theo Thông tư này thì
trường hợp “một bên đã dùng thủ đoạn mưu chước gian xảo để lừa dối bên kia
một cách nghiêm trọng, như che dấu lý lịch chính trị hoặc tư pháp đặc biẹl
xấu của mình, làm cho bên bị mắc lừa đồng ý kết hôn, thì cũng coi là viéc vi
phạm điều kiện tự nguyện kết hôn và cẩn phải xử tiêu hôn” Hôn nhân là sự
liên kết công khai giữa một người nam và một người nữ để nhằm chung sống
lâu dài nên pháp luật không thừa nhận những trường hợp có sự lừa dối dể kết
hôn Sự lừa dối nói chung là một người đã nói sai sự thật dẫn tới việc làm cho
người kia lầm lẫn trong việc đánh giá về người lừa dối nên đã đổng ý kết hôn
Tuy nhiên, chỉ coi là có sự lừa dối để xác định hôn nliAn trái pháp luật khi sự
lừa dối đó là nhằm để che dấu một sự thật liên quan trực liếp đến tư cácli đạo
đức, đị a vị ch í n h trị c ủ a m ộ t người, n h ư (tổ che giấu lý lịch chính trị lioạc tư
pháp đặc biệt xấu Việc xác định thế nào là lý lịch chính trị và lý lịch tư pháp
đặc biệt xấu cũng là vấn đề nan giải Chính trị là “những hoạt dộng nhằm
nâng cao giác ngộ chính trị cho quần cluing, tổ chức quần chúng thực hiện
một đường lối, những nhiệm vụ chính trị nhất định”20 Vậy lý lịch chính trị
của một người có Ihể được hiểu là quá trình giác ngộ và thực hiện đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước Trên cơ sở đó có thể hiểu lý lịch chính trị
đặc biệt xâu là lý lịch của một người đã;có những hành vi đi trái với đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước hoặc chống lại các đường lối chính sách đó
Lý lịch tư pháp “nhằm lim giữ và cung cấp nhííng thông tin về quá khứ pliạm
tội (nếu cổ) của người bị Iruy tố xét xử về hìnl) sự”21 Căn cứ dể xác định lý
Trang 40lịch Uf pháp đặc biệt xấu của mội người có thể dựa vào việc họ phạm lội hay không? Thông thường một người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng như :<fun phạm an ninh quốc gia, cướp của, giết người có thể coi là có lý lịch tư pháp đặc biệt xấu Nhưng theo chúng tôi, trong một số tnrờng hợp một người phạm tội ít nghiêm trọng nhưng thể hiện rõ rằng họ không đủ tư cách đạo đức để có thể xây dựng một gia đình hạnh phúc, mà đã che dấu để kết hôn thì cũng nên coi rằng họ đã lừa dối để kết hôn Ví dụ: một người đàn ỏng bị truy tố vì lội xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và phải chịu hình phạt là một năm tù Sau khi ra tù, anh ta ly hôn với vợ và có ý định kết hôn với người khác Khi yêu một cô gái, anh ta đã nói dối rằng chưa lấy vợ lần nào và cũng chưa từng yêu ai trước đó làm cho cô gái tin rằng anh ta là người đứng đắn và đổng ý kết hôn Sau khi kết hôn, người vợ mới phát hiện rằng chồng mình đã từng kết hôn trước đó và đã từng chung sống với nhiều phụ nữ khác khi (lang
cỏ vợ nên người vợ cho rằng đã bị lừa dối và yêu cáu hủy hôn nhân Theo chúng tôi trong trường hợp này người vợ đã bị lầm tưởng về tư cách đạo đức của chổng, tưởng là người tử tế, nhưng llụrc chất chỉ là kẻ thiếu trách nhiệm với vợ, quan hệ nam, nữ bừa bãi, là kẻ lừa gạt Ngưòi vợ dã bị lầm về một điểu kiện quan trọng quyết clịnh cho hôn nhân của họ Nôn chăng, cần coi các trường hợp này là có sự lừa dối khi kết hôn và cần hủy việc kết hôn đó Đối với các trường hợp khác tuy cũng có sự lừa dối để kết hôn, nhưng sự lừa dối không mang tính chấl nghiêm trọng như lừa dối về địa vị xã hội, về thành phần gia đình thì xử lý theo đường lối xử ly hôn nếu cá c bên đương sự yêu cầu cắt đứt quan hệ vợ chồng (Thông tư số I I2NCPL) Ví dụ một người là y tá nhuìig nói dối là bác sỹ để đối tượng của mình đổng ý kết hôn
Trong thực tế xảy ra một số trường hợp kết hôn đo có sự nhổm lãn vé nhân cách thì có nên cho rằng có sự lừa dối khi kết hôn hay không? Chẳng hạn một người đàn ỏng nói dối mình là giáo viên của một trường đại học nên
CÔ gái đã đồng ý kết hôn, nhưng sau khi kết hôn mới biết rằng anh ta là người không học hành, không nghề nghiệp Thiêì nghĩ trong trường hợp này cũng nên coi là có sự lừa dối kết hôn bởi rõ ràng cô gái dã irìm tưởng anh ta là người
có học hành, có bằng cấp, được giáo dục nhưng (hực ra anli ta là ngiíòi