1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hội nghị la hay về tư pháp quốc tế một số vấn đề lý luận và thực tiễn

328 46 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 328
Dung lượng 30,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHUYÊN ĐÈ TRONG ĐỀ TÀIChuýpn đề 1: Lịch sử hình thành và phát triển của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tếcốuyểiì đề 2: Những vấn đề pháp lý cơ &ổncủa Hôi nghi La Hay về Tư

Trang 2

B ộ T ư PHÁP TRƯ Ờ NG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

HỘI NGHỊ LA HAY VÈ TƯ PHÁP QUỐC TÉ

M Ộ T S Ố V Ấ N Đ È L Ý L U Ậ N V À T H ự C T I Ễ N• • •

M ã s ố : L H - 2 0 1 5 - 4 1 6 / Đ H L - H N

C H Ủ N H I Ệ M Đ Ề T À I : T S N G U Y Ễ N H Ò N G B Ắ C

T H Ư K Ý Đ Ề T À I : G V N G Ô T H Ị N G Ọ C Á N H

j TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN

; TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Ị PHÒNG DỌC

HÀ N ỘI, THÁNG 1/ 2016

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHUYÊN ĐÈ TRONG ĐỀ TÀI

Chuýpn đề 1: Lịch sử hình thành và phát triển của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tếcốuyểiì đề 2: Những vấn đề pháp lý cơ &ổncủa Hôi nghi La Hay về Tư pháp quốc tế

Chuyên đề 3: Quá trình tham gia của Viíật Nam v à ố íK rn g h ị tjảrHay về Tư pháp quốc tểChuyên đề 4: v ấ n đề bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi cởh nuôi quốc tế

Chuyên đề 5: v ấ n đề công nhận ly hôn và ly thân

Chuyên đề 6: Pháp luật áp dụng đối với các nghĩa vụ cấp dưỡng

Chuyên đề 7: Pháp luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Chuyên đề 8: v ấ n đề công nhận thỏa thuận lựa chọn tòa án trong giải quyết vụ việc dân

sự có yếu tố nước ngoài

Chuyên đề 9: v ấ n đề bãi bỏ hợp pháp hoá tài liệu công nước ngoài

Chuyên đề 10: v ấ n đề công nhận và thi hành bản án dân sự và thương mại của nước ngoài

Chuyên đề 11: v ấ n đề thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự và thương mại

Chuyên đề 12: v ấ n đề tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại

Chuyên đề 13: Kinh nghiệm quốc tế về gia nhập và thực hiện Công ước về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại

Chuyên đề 14: Kinh nghiệm về thực hiện nghĩa vụ và Công ước trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế của Liên minh Châu Âu

Chuyên đề 15: Kinh nghiệm quốc tế về gia nhập và thực hiện Công ước La Hay về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em

Trang 5

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

ƯNCITRAL ủ y ban về Luật Thương mại quốc tế

Trang 6

M U C L U C

PHẦN I: TỎNG QUAN VÈ ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

4 Mục đích nghiên cứu của đề tà i 4

5 Phạm vi nghiên cứu đề tà i 5

6 Nội dung nghiên cứu 5

PHẦN II: BÁO CÁO TÓNG HỢP KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u 6

A Tổng quan Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế (HccH) 6

/ Một số vấn đề pháp lý CO’ bản cứa Hội nghị 6

1 Mục đích và chức năng, nhiệm vụ 6

2 Thành viên và cơ cấu, tổ chức 8

3 v ề chi phí hoạt động của Hội nghị 13

II Lịch sử hình thành và phát triển của Hội nghị 14

1 Tiền đề và bối cảnh ra đời 14

2 Sự phát triển của Hội nghị 15

B Một số lĩnh vực hợp tác trong khuôn khổ Hội nghị 17

I Hợp tác giữa các nước trong lĩnh vực pháp lu ật 17

1 Trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em, ly hôn và ly thân 17

2 Trong lĩnh vực cấp dưỡng 25

3 Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế 29

II Hợp tác giữa các nước trong lĩnh vực tố tụng 32

Trang 7

1 Trong lĩnh vực thỏa thuận lựa chọn tòa án 32

2 Trong lĩnh vực miễn hợp pháp hóa 36

3 Trong lĩnh vực ủy thác tư pháp quốc tế 39

c Việt Nam với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị.,43 I ý nghĩa của việc Việt Nam gia nhập Hội nghị 43

II Ke hoạch thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên của Việt Nam 44

III Kinh nghiệm gia nhập, thực thi quyền và nghĩa vụ theo các Công ước La Hay của một số nước thành viên Hội nghị có giả trị tham khảo cho Việt Nam 45

1 Đối với Công ước La Hay năm 1965 46

2 Đối với Công ước Apostille 48

3 Đối với Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em 49

PHÀN III: CÁC CHUYÊN ĐÈ NGHIÊN c ứ u 52

Chuyên đề 1: Lịch sử hình thành và phát triển của Hội nghị 52

Chuyên đề 2: Những vấn đề pháp lý cơ bản của Hội nghị 68

Chuyên đề 3: Quá trình tham gia của Việt Nam vào Hội nghị 81

Chuyên đề 4: vấn đề bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế 96

Chuyên đề 5: vấn đề công nhận ly hôn và ly th ân 115

Chuyên đề 6: Pháp luật áp dụng đối với các nghĩa vụ cấp dưỡng 134

Chuyên đề 7: Pháp luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 146

Chuyên đề 8: vấn đề công nhận thỏa thuận lựa chọn tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 164

Trang 8

Chuyên đề 9: vấn đề bãi bỏ hợp pháp hoá tài liệu công nước ngoài 182 Chuyên đề 10: vấn đề công nhận và thi hành bản án dân sự và thương mại của

nước ngoài 203

Chuyên đề 1 ỉ: vấn đề thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự

và thương m ại 225

Chuyên đề 12: vấn đề tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp

trong lĩnh vực dân sự hoặc thương m ại 244

Chuyên đề 13' Kinh nghiệm quốc tế về gia nhập và thực hiện Công ước về

tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương m ại 261

Chuyên đề 14: Kinh nghiệm về thực hiện nghĩa vụ và Công ước trong khuôn

khổ Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế của Liên minh Châu Ầu 274

Chuyên đề 15: Kinh nghiệm quốc tế về gia nhập và thực hiện Công ước La

Hay về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ e m 295

Phụ lục 1 309 Phụ luc 2

Trang 9

PHÀN I

I Tính cip thiết của việc nghiên cứu

Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế (Hague Conference on Private International Líw) là một tố chức quốc tế liên Chính phủ được thành lập từ năm

1893, theo sáng kiến của nhà luật học T.M.C Asser (người đã được trao giải Nô- ben vì hoà bình năm 1911) Ngay từ khi thành lập, Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế (sau đâ'' gọi là Hội nghị) đã xác định tầm nhìn trong khuôn khổ hoạt động của mình là: hồnh động vì một thế giới trong đó các cá nhân, tổ chức thuộc các nước khác nhau được hưởng mức độ an toàn pháp lý cao; thúc đấy việc giải quyết tranh chấp một cách có trật tự và hiệu quả, quản trị tốt và pháp quyền, trong khi vẫn tôn trọng sự đa dạng của các truyền thống pháp luật

Điểm lại 120 năm hoạt động, có thể thấy Hội nghị đã có những đóng góp rất đáng kể vầô việc xây dựng và phát triển một hệ thống điều ước quốc tế về Tư pháp quốc tế (TPQT), mở rộng tầm ảnh hưởng không chỉ trong phạm vi Châu Âu

mà sang tất cả các khu vực khác trên thế giới

Đối với Việt Nam, TPQT là lĩnh vực tương đối mới mẻ Việt Nam chưa kýkết được nhiều điều ước quốc tế song phương và cũng chưa gia nhập nhiều điềuước quốc tế đa phương, nhất là trong lĩnh vực tương trợ tư pháp quốc tế Trên thựctiễn, các quar hệ TPQT phát sinh ngày càng nhiều khi Việt Nam hội nhập quốc tếngày càng sâu rộng Ngày 17 tháng 9 năm 2012 Chính phủ đã ban hành Nghịquyết số 58/NQ-CP về việc gia nhập Hội nghị Naàv 28/9/2012, Viêt Nam nôp

k

đơn xin gia rhập Hội nghị và chính thức trở thành thành viên đầy đủ thứ 73 của

Tổ chức này hể từ ngày 10/4/2013

Trang 10

Tirở thành thành viên cua Hội nghị, Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:

v ề quyền: Được tham gia quyết định chính sách, xây dựng các công ước hợp tác về các vấn đề TPQT và phương hướng tương lai của Hội nghị; có quyền

bỏ phiếu hàng năm trong Hội đồng Thường vụ và chính sách của Hội nghị; được mời tham dự mọi hoạt động, Phiên họp ngoại giao, ú y ban đặc biệt; được nhận thông tin cập nhật về tất cả các công việc đang diễn ra tại Hội nghị; được hưởng các dịch vụ hậu gia nhập bao gồm: hỗ trợ và xây dựng mạng lưới quốc tế các cơ quan trung ương, hưởng hỗ trợ kỹ thuật cho các quốc gia thành viên, hưởng các dịch vụ đào tạo và hỗ trợ của Trung tâm quốc tế về nghiên cứu tư pháp và hỗ trợ

kỹ thuật (do Hội nghị thành lập)

v ề nghĩa vụ: Việt Nam phải chỉ định Cơ quan quốc gia làm đầu mối liên lạc với Hội nghị và Ban Thường trực của Hội nghị; cử đại diện tham gia các hoạt động của Hội nghị; có nghĩa vụ đóng góp niên liễm cho Hội nghị khoảng 6.000 Eurc)/năm; tự chi trả các chi phí đi lại và ăn ở cho các đại biểu tham gia các hoạt động của Hội nghị1

Đe thực hiện tốt Quy chế thành viên Hội nghị sau khi chính thức trở thành viên của Hội nghị và mang lại lợi ích thiết thực cho Việt Nam, Chính phủ ban hành Ke hoạch thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị của Việt Nam

Kế hoạch đã đưa ra những yêu cầu để thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên của Việt Nam, đó là: phải chủ động, đồng bộ với lộ trình cụ thể, khả thi để thực hiện nghĩa vụ thành viên của Việt Nam với Hội nghị, phù họp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế

và tăng cường họp tác trong lĩnh vực tư pháp tại các Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

về cải cách pháp luật và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính

2

Trang 11

trị về vệc ban hành Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 22- NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

pể hiểu rõ Hội nghị và các công ước quốc tế ký kết trong khuôn khổ Hội

nghị, vệc nghiên cứu “H ội ngltị La H ay về Tư pháp quốc tế - M ột số vấn đề tỷ

luân vt thư c tiền ” là hết sức cần thiết khi Viêt Nam đã là thành viên của Hôi• • • •

nghị

H Tình hình nghiên cứu đề tài

Hội nghị đã có một số hội thảo, bài viết liên quan đến Hội nghị Có thể kể

tên m ậ số công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề này như: bài viết “Tổng quan

Hội n^iị La Hay về Tư pháp quốc t ế ”, uHội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế -

120 năm xây dụng và phát triển” của Đặng Hoàng Oanh - Vụ trưởng - Vụ Hợp tác

quốc té - Bộ Tư pháp; bài viết “Kinh nghiêm gia nhập và thực hiện các công ước

của Hòi nghị La Hay về Tư pháp quốc tế của Cộng hòa Liên bang Đức ” của

Phòng Tirơng trợ tư pháp, Vụ Hợp tác quốc tế; Tọa đàm “Hội nghị La Hay về Tư

pháp quòc tế” do Bộ Tư pháp phối hợp với Dự án Hỗ trợ thi hành pháp luật về hội

nhập kim tế quốc tế, tổ chức ngày 24/10/2011,

ở ngoài nước, có nhiều bài viết liên quan đến từng công ước của Hội nghị

như: “Tă liệu hướng dẫn thẩm phán về Công ước La H ay 1980 về các khía cạnh

dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em” của Hon James D Garbolino, Trung tâm tư

pháp liêi bang, Hoa Kỳ; bài viết “Giải quyết tranh chấp về bắt cóc trẻ em quốc tế

theo Côig ước La Hay” của Kilpatrick Townsned, Trung tâm quốc gia về trẻ em

bị bóc l(t và mất tích; bài viết “Thu thập chứng ở nước ngoài đê sử dụng trong vụ

án dân sự tại Hoa Kỳ - Hướng dẫn thực hành - Các Luật sư Quốc tế” của

PLATT1), C; bài viết “ Công ước La Hay và các giới hạn của sự lựa chọn tòa án”

củaM cLachlan, c

^Quyết địh số 1440/Q Đ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện uyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế của Việt Nam

3

Trang 12

Tuy nhiên, các công trình khoa học trên chỉ đê cập đên một sô vân đê của Hội nghị mà chưa phân tích cụ thế nội dung một số công ước quốc tế điến hình ký kết trong khuôn khổ Hội nghị, có đối chiếu so sánh với pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước khi thực thi các công ước La Hay của Hội nghị.

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “H ội n g h ị La Hay về T ư pháp quốc tế - M ột

số vấn đề lý luận và thự c tiễn " là vấn đề mới, chưa có công trình nào nghiên cứu

một cách hệ thống và toàn diện từ trước đến nay, nhất là sau khi Việt Nam là thành viên của Hội nghị

III Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Tổng hợp, phân tích, thống kê, khái quát hoá và đặc biệt là phương pháp so sánh Phương pháp so sánh được sử dụng trong một số chuyên đề của đề tài nhằm tìm ra những điểm giống nhau, nhất là những điếm khác nhau giữa quy định của công ước ký kết trong khuôn khổ Hội nghị với quy định của pháp luật Việt Nam

IV Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng rõ những vấn đề chung Hội ỉìghị; làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của một số công ước quốc tế ký kết trong khuôn khổ của Hội nghị Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước điển hình trên thế giới trong quá trình gia nhập và thực hiện các công ước quốc tế của Hội nghị, từ đó rút ra những bài học có giá trị tham khảo cho Việt Nam khi thực hiện công ước quốc tế của Hội nghị

Thực hiện thành công mục đích trên, đề tài có ý nghĩa lí luận và thực tiễn:

- Nâng cao nhận thức về TPQT, Hội nghị và các công ước của Hội nghị;

- Kết quả của đề tài nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu để phổ biến, phục vụ cho việc giảng dạy ở Trường Đại học Luật Hà Nội, cũng như cho các cơ

sở đào tạo pháp luật, viện nghiên cứu cũng như cho các đối tượng khác có quan tâm, đặc biệt đối với các công ước của Hội nghị;

4

Trang 13

- Tuyên truyên, phô biên vê Hội nghị, các công ước của Hội nghị và vai trò của TPQT, sự cần thiết đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng về TPQT.

V Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đây là đề tài tương đối rộng, các công ước của Hội nghị rất đồ sộ, trong hầu hết mọi lĩnh vực của TPQT Do vậy, đề tài không có tham vọng nghiên cứu tất cả các công ước của Hội nghị mà chỉ nghiên cứu công ước quốc tế điển hình mà Việt Nam đã gia nhập hoặc có khả năng gia nhập Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu công ước được đánh giá là thành công và công ước chưa thành công của Hội nghị, đế đánh giá toàn diện về Hội nghị Hiện nay, thành viên của Hội nghị là 80 thành viên, đề tài cũng chỉ đề cập đến kinh nghiệm của một số thành viên (EU, Hoa Kỳ, ) từ đó rút ra bài học có ý nghĩa tham khảo cho Việt Nam trong gia nhập và thực thi công ước của Hội nghị

VI Nội dung nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu tổng quan Hội nghị;

- Nghiên cứu nội dung cơ bản của một số công ước quốc tế trong ba lĩnh vực chủ yếu: Bảo vệ trẻ em, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; tưỡỉĩg trợ tư pháp quốc tế và thương mại quốc tế (hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế);

- Nghiên cứu, so sánh quy định của một số công ước quốc tế của Hội nghị với quy định của pháp luật Việt Nam tìm ra điểm phù hợp và những điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam với công ước, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này cho phù hợp với giai đoạn hiện nay;

- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước điển hình trên thế giới trong việc gia nhập và thực thi các công ước La Hay của Hội nghị, từ đó rút ra bài học

có giá trị tham khảo cho Việt Nam trong thực thi quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị

Những nội dung nghiên cứu trên cũng chính là những điểm mới của đề tài

5

Trang 14

PHẦN II

TONG QUAN HỘI NGHỊ LA HAY VÈ T ư PHÁP QƯÓC TÉ

1 Một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hội nghị

/ M ục đích và chức năng, nhiệm vụ

2 Mục đích

Điều 1 của Hiến chương đã xác định mục đích của Hội nghị là hành động vì

sự thchg nhất của các quy tắc TPQT

Ngay từ khi thành lập, Hội nghị đã xác định tầm nhìn trong khuôn khổ hoạt

động củi mình bao gồm: hành động vì một thế giới trong đó các cá nhân, tổ chức

mà cuộc sống và hoạt động của mình liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau đvợc hưởng mức độ an toàn pháp lý cao; thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp mở cách có trật tự và hiệu quả, quản trị tốt và pháp quyền, trong khi vẫn tôn trọng sụ đa dạng của các truyền thống pháp luật2.

Eựa trên tầm nhìn đó, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của mình, Hội nglị cũng đồng thời mang các sứ mệnh sau3:

Tĩứ nhất, Hội nghị trở thành một diễn đàn để các quốc gia thành viên xây

dựng Ví thực hiện những quy tắc chung của TPQT nhằm điều phối mối quan hệ giữa cái hệ thống tư pháp khác nhau trong bối cảnh quốc tế

ĩhứ hai, thúc đẩy hợp tác tư pháp và hành chính trong lĩnh vực bảo vệ gia

đình vàtrẻ em, thủ tục tố tụng dân sự và pháp luật thương mại

n

h ứ ba, cung cấp dịch vụ pháp lý đạt tiêu chuẩn cao và trợ giúp kỹ thuật vì lợi

ích củacác quốc gia thành viên và các quốc gia ký kết các công ước La Hay, cán bộ chính p ủ , ngành tư pháp và những người hành nghề luật của những nước đó

2 httPi/Ay^vv.hcch.net/index en.phpỸact^text.displav&tid^?

3 httpi/Av^.hcch.net/index en.php?act=text.display&tid=27

6

Trang 15

Thứ tư, cung cấp thông tin chất lượng cao và dễ tiếp cận cho các quốc gia

thành viên và các quốc gia ký kết các công ước La Hay, cán bộ chính phủ, ngành

tư pháp, những người hành nghề luật và công chúng nói chung

Mục đích hàng đầu của Tổ chức này là hướng tới xóa bỏ những khác biệt giữa các hệ thống luật pháp của các quốc gia và công dân, gia đình và pháp nhân của từng quốc gia đều có thể hưởng sự bảo đảm và an toàn về mặt pháp lý ở cấp

độ cao tại chính quốc gia đó và ở các quốc gia khác

Là một tổ chức liên chính phủ độc lập, Hội nghị cũng thường xuyên duy trì quan hệ chặt chẽ với một số tổ chức quốc tế liên chính phủ (Liên hợp quốc, đặc biệt là ủ y ban về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL), UNICEF, Uỷ ban về quyền trẻ em (CRC) và ủ y viên cao về người tị nạn (UNHCR) - Hội đồng Châu

Âu, Liên minh châu Âu, Tổ chức các nước châu Mỹ, Ban Thư ký Khối thịnh vượng chung, Tổ chức tư vấn pháp lý Á-Phi (AALCO), Viện quốc tế về thống nhất Luật tư (UNIDROIT) và một số tổ chức phi chính phủ, như Tổ chức dịch

vụ xã hội quốc tế, Hiệp hội quốc tế về Luật Gia Đình, Phòng Thương mại quốc tế,

4 http ://w w w h c c h n e t / i n d e x _ e n p h p ? a c t= c o n v e n tio n s li s tin g

7

Trang 16

Hiệp hội Luật sư Quôc tê, Liên minh quôc tê của Công chứng viên Latin, và Liên minh quốc tế cảnh sát trưởng và cán bộ tư pháp5 Việc Hội nghị họp tác với các tổ chức quốc tế liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ trên là nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế và thực hiện hiệu quả hơn những đề xuất liên quan tới phát triển hệ thống TPQT trên phạm vi toàn cầu.

Ngoài ra, Hội nghị còn hợp tác với các tổ chức khác và tập trung vào các nước đang phát triển hoặc các nước đang chuyển đổi Ví dụ, năm 1991 một thành viên của Ban Thư ký tham gia nhóm chuyên gia để tư vấn cho Chính phủ Rumani

về Công ước về Quyền trẻ em liên quan đến vấn đề con nuôi quốc tế Năm 1992 Hội nghị phối hợp với UNICEF soạn thảo một luật mới về bảo vệ trẻ em và nhận trẻ em làm con nuôi theo đề nghị của Anbani Năm 1993 Hội nghị tham gia một nhóm công tác được tổ chức chung với UNICEF và ƯNHCR về bảo vệ trẻ em bị

bỏ rơi (không có người lớn đi kèm) tại Nam Tư cũ Năm 1996, một thành viên của Ban Thư ký đã giúp Nghị viện Paraguay soạn thảo luật bảo vệ trẻ em Năm 1998, một thènh viên khác của Ban Thư ký tham gia một đoàn đến Ảc-me-ni-a theo sự phân cóng của UNICEF phối họp với Tổ chức dịch vụ xã hội quốc tế theo đề nghị cửâ Chính phủ Ăc-me-ni-a để tư vấn về cải cách chính sách và pháp luật liên qun đến cMm sóc trẻ em lang thang cơ nhỡ6

2 Thành viên và cơ cấu, tổ chức

d Thành viên: Thành viên của Hội nghị bao gồm quốc gia và tổ chức kinh

tế quốc tế khu vực

Thứ nhất, quốc gia thành viên

- Thành viên sáng lập Hội nghị là các quốc gia đã tham gia vào một hoặc nhiềui phiên họp của Hội nghị và chấp nhận Hiến chương của tổ chức này Các quốc; gia thành viên sáng lập gồm 16 quốc gia nêu trong Lời nói đầu Hiến chương

- Thành viên gia nhập Hội nghị, đó là các quốc gia đã chấp nhận Hiến chươrg Theo Điều 2 (2) và 2 (3) Hiến chương Hội nghị, bất kỳ quốc gia nào, trên

5h tt!p :;//v w w m o j.g o v v n /ct/tin tu c /P a g e s/n g h ie n -c u u -tra o -d o i.a sp x ? Ite m ID = 5 9 1 5

8

Trang 17

quan đểm tư pháp, nếu thấy Hội nghị có tầm quan trọng đối với quốc gia đó thì có thể than gia Hội nghị Việc chấp nhận trở thành thành viên mới sẽ do các Chính phủ cia các quốc gia thành viên Hội nghị quyết định bằng bở phiếu theo đa số trong ''óng sáu tháng, kế từ ngày nhận được đề xuất của một hoặc nhiều quốc gia thành 7Ìên về đề nghị gia nhập Hội nghị Việc tiếp nhận có hiệu lực vào thời điểm quốc gia hữu quan chấp nhận Hiến chương (Điều 2 Hiến chương).

Thứ hai, tổ chức kinh tế quốc tế khu vực

Vấn đề này được quy định trong Điều 3 Quy chế của Hội nghị Theo đó, để được lin gia nhập Hội nghị, tổ chức kinh tế quốc tế khu vực phải là tổ chức hoàn toàn do các quốc gia có chủ quyền thành lập và đã được các quốc gia thành viên chuyểi giao thẩm quyền đối với các vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Hội nghị, kể cả thẩm quyền ra các quyết định ràng buộc đối với các quốc gia thành viên dó Mỗi tổ chức kinh tế quốc tế khu vực khi xin gia nhập Hội nghị, phải nộp một bàn tuyên bố về thẩm quyền trong đó nói rõ các vấn đề mà các quốc gia thành viên chuyẩn giao cho tổ chức Mỗi tổ chức thành viên và các quốc gia thành viên của tổ chức phải thông báo mọi thay đổi về thẩm quyền hoặc số lượng thành viên cửâ tẻ chức cho Tổng Thư ký để chuyển thông tin đó cho các thành viên khác của Hội nghị

Cho tới nay, Hội nghị có 80 thành viên7, trong đó có 79 thành viên là quốc gia và mót thành viên là tổ chức, đó là Liên minh Châu Âu - EƯ8 EU gia nhập Hội nghị vào ngày 3/4/2007 Trong khuôn khổ các công ước của Hội nghị, EU đã tham gia ba công ước: Công ước về lựa chọn tòa án, Công bước hỗ trợ trẻ em và cấp dưỡng gia đình và Công ước luật áp dụng đối với nghĩa vụ cấp dưỡng Với sự chuyển gao chủ quyền của các quốc gia thành viên trong lĩnh vực tư pháp nội vụ nói chung và dân sự nói riêng, bao gồm cả TPQT, EU có quyền ký kết các điều ước quốc tế với các chủ thể của luật quốc tế với tư cách là một chủ thể độc lập và

http://wvw:noj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n464.uP

7 Xem phụ lic 1

8 http://wvvv.hcch.net/index_en.php?act=states.listing

9

Trang 18

điều này không ảnh hưởng đến quyền năng kỷ kết điều ước của mỗi quốc gia thành viên Vì thế, trong lĩnh vực TPQT, (và nhiều lĩnh vực khác), sẽ có những điều ước quốc tế mà chỉ EU là thành viên, có những điều ước cả EU và cả một số quốc gia thành viên của EU tham gia và có những điều ước chỉ có các quốc gia thành viên EU tham gia, không có mối liên hệ với EU.

Những điều ước quốc tế có sự tham gia của EU khi phát sinh hiệu lực sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với các quốc gia thành viên của

tổ chức này Do đó, những điều ước quốc tế này sẽ được thực thi ở cả hai cấp độ, cấp độ Liên minh và cấp độ quốc gia theo cơ chế: Ở cấp độ Liên minh, EU sẽ ban hành luật để đảm bảo việc thực hiện những điều ước quốc tế mà mình là thành viên; Ở cấp độ quốc gia, quốc gia sẽ thông qua cơ chế quốc gia, trên cơ sở phù hợp với những quy tắc của EU để thực thi những văn bản luật này Theo quy định tại Điều 4 TFEU (Hiệp định về hoạt động của Liên minh châu Ầu), khu vực tự do

an ninh và công lý, tên gọi của trụ cột tư pháp nội vụ là lĩnh vực chia sẻ thẩm quyền giữa EU và các quốc gia thành viên Điều này tức là cả EU và các quốc gia thành viên đều có thẩm quyền ban hành luật trên cơ sở nguyên tắc bổ trợ, nghĩa là

EU chỉ ban hành luật đối với các nội dung mà ở phạm vi mỗi quốc gia không giải quyết được hoặc giải quyết không hiệu quả, những nội dung có thể giải quyết ở cấp độ quốc gia, các quốc gia sẽ được quyền tự ban hành luật nhưng không được trái với luật của EU Nguyên tắc luật quốc gia phải phù họp với luật EƯ cũng được áp dụng trong trường hợp quốc gia ban hành luật nhằm nội luật hóa các quy định của pháp luật EU Theo cơ chế này, bản chất quá trình thực hiện những Công ước của Hội nghị La Hay tại các quốc gia thành viên là quá trình thực thi pháp luật

EU và thực thi những văn bản do chính quốc gia ban hành9

Ngoài 80 thành viên chính thức của Hội nghị, một số quốc gia khác tuy chưa trở thành thành viên của Hội nghị song đã tham gia và là thành viên của ít

9 Xem: C h u y ê n đề 14

10

Trang 19

nhẫt một trong số 40 công ước La Hay, và số lượng các quốc gia tham gia các công ước La Hay khác nhau ngày càng tăng lên.10.

Lợi ích của thành viên Hội nghị: (i) tiết kiệm thời gian cho các thành viên trong việc thỏa thuận, ký kết với nhiều quốc gia về tương trợ tư pháp bằng các công ước chung của Hội nghị; (ii) sự chấp nhận rộng rãi của các công ước do tính phổ cập và chất lượng tốt của các công ước này; (ii) cách thức làm việc hiệu quả

về kinh tế; (iii) hạn chế được việc can thiệp vào pháp luật quốc gia khi có các hoạt động liên quan đến tư pháp quốc tế; (iv) cơ sở vững chắc và đã được kiểm chứng trong hợp tác tư pháp quốc tế; (v) phạm vi hỗ trợ rộng rãi như đào tạo, tổ chứ c 11

b Cơ cấu, tổ chức

Cơ cấu tố chức của Hội nghị được quy định trong Hiến chương có hiệu lực ngày 15/7/1955 và được sửa đổi ngày 01/01/2007 Theo đó, Hội nghị bao gồm các

cơ quan chính sau:

(1) Các phiên họp ngoại giao toàn thể: Là diễn đàn để các phái đoàn của

nước thành viên, các quan sát viên từ các quốc gia có quan tâm và các tổ chức quốc tế thảo luận và thông qua các văn kiện chính của Hội nghị Các phiên họp toàn thể (tược tổ chức bốn năm một lần dưới hình thức các cuộc họp ngoại giao, khi 'Cần ủiết có thể tổ chức các phiên họp bất thường theo yêu cầu của các quốc gia thành viên

(2) ủ y ban Chính phủ thường trực Hà L an: ủ y ban này do Chính phủ Hà

Lani thàm lập trên cơ sở sắc lệnh Hoàng gia ngày 20/2/1897 nhằm tăng cường việc th ể (hế hoá TPQT và chịu trách nhiệm về hoạt động của Hội nghị

U ' ban sẽ xét các đề xuất dự kiến đưa vào chương trình nghị sự của Hội nghi 'và (ó toàn quyền quyết định đối với các đề xuất đó Các phiên họp thường kỳ

về mgưyứi tắc sẽ được tổ chức bốn năm một lần Nếu cần thiết, Uỷ ban Chính phủ

10 httỊp:///\wwv.hcch.neƯindex_en.php?act=states.nonmember

n http:///w/w\mof.gov.vn/portal/page/portal/ilfv/trangchu/xdvbqppl/l 14968556/114969374?p_page_id=l 14969374

&iteim iđi=9010912& p_details-1

11

Trang 20

thường trực có thể yêu cầu Chính phủ Hà Lan triệu tập Hội nghi bất thường khi iược các ihành viên phê chuấn.

(3) Hội đồng về các vẩn đề chung và chính sách', gồm có tất cả các thành

viên, chịu trách nhiệm về hoạt động của Hội nghị Các cuộc họp của Hội đồng về nguyên tắc được triệu tập hàng năm vào tháng tư Hoạt động của Hội đồng thông qua cơ quan thường trực và cơ quan này hoạt động theo sự chỉ đạo của Hội đồng Hội đồng kiểm tra tất cả các đề nghị định đưa vào chương trình nghị sự của Hội nghị và Hội đồng được quyền tự do quyết định về các đề nghị đó Các phiên họp, Hội đồng và các Uỷ ban đặc biệt, với khả năng cao nhất có thể, phải hoạt động trên cơ sở đồng thuận

(4) Các ủ y ban đặc biệt: Giữa hai phiên họp, Hội nghị và Ưỷ ban Chính

phủ thường trực có thể thành lập các Uỷ ban đặc biệt để chuẩn bị soạn thảo công ước mới hoặc nghiên cứu các vấn đề về TPQT nằm trong mục đích của Hội nghị Các Ưỷ ban đặc biệt liên tục được tổ chức tại La Hay để theo dõi hiệu lực của các công ước La Hay Các Ưỷ ban đặc biệt cũng được tổ chức để kiểm điếm tình hình thực hiện các công ước và thông qua các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu lực của các cồng ưởe và bảo đảm sự giải thích và áp dụng thống nhất các công ước đó

(5) Hội đồng các đại diện ngoại giao: Bao gồm đại diện ngoại giao của mỗi

nước thành viên Hội đồng họp định kỳ hàng năm vào tháng 7 để thông qua ngân sách thường kv và hàng năm của Hội nghị

(6) Cơ quan Thường trực: Hoạt động của Hội nghị được điều phối bởi một

Ban Thư ký đa quốc gia - Cơ quan thường trực - Đóng trụ sở tại La Hay Ngôn ngữ làm việc của Hội nghị là tiếng Anh và tiếng Pháp

Cơ quan thường trực gồm có một Tổng Thư ký và bốn luật sư (một là Phó Tổng Thư ký và 3 còn lại là Thư ký thứ nhất) do Chính phủ Hà Lan bổ nhiệm theo

đề nghị của các uỷ ban chính phủ thường trực

Ngoài các cơ quan trên, Hội nghị đã thành lập một văn phòng đại diện cho khu vực Châi Á-Thái Bình Dương, văn phòng đại diện tại khu vực Châu Mỹ La

Trang 21

Tinh và dự kiếm một văn phòng đại diện tại khu vực Châu Phi cũng sớm được mở tại Cai-rô, Ai C ậ p 12.

Hiến chiương quy định các loại chi phí cho hoạt động của Hội nghị như sau:

a Đối v ớ i quốc gia thành viên Hội nghị

Các chi phí hoạt động và duy trì Ban Thường trực và các Uỷ ban đặc biệt sẽ

do các thành viên của Hội nghị đóng góp, trừ chi phí sinh hoạt và đi lại của các phái đoàn tham gia Ưỷ ban đặc biệt sẽ do các Chính phủ cử phái đoàn chi trả Hàng năm, ngân sách của Ban Thường trực và các Ưỷ ban đặc biệt sẽ được trình cho các đại diện ngoại giao của các thành viên để phê chuẩn Các đại diện này sẽ phân chia chi phí trong phần ngân sách đó giữa các thành viên Các đại diện ngoại giao của các nước thành viên họp dưới sự chủ tọa của Bộ trưởng Ngoại giao Hà Lan để phân chia chi phí

Các chi phí cho các phiên họp thường kỳ của Hội nghị sẽ do Chính phủ Hà Lan chi trả Đối với các phiên họp đặc biệt, chi phí này sẽ do các thành viên Hội nghị có mặt tại phiên họp đóng góp Trong bất cứ trường hợp nào, chi phí đi lại và sinh hôật củã các phái đoàn sẽ do Chính phủ cử phái đoàn đó chịu

b Đối với tổ chức thành viên Hội nghị, chi phí từ ngân sách của Hội nghị sẽ

được chia cho các quốc gia thành viên Hội nghị gánh chịu Tổ chức thành viên không phải đóng góp thêm vào phần mà các quốc gia thành viên của tổ chức đóng góp vào ngân sách hàng năm của Hội nghị, nhưng phải nộp một khoản tiền theo quy định của Hội nghị sau khi trao đổi với tổ chức thành viên đó để thanh toán các chi phí hành chính phát sinh từ tư cách thành viên của tổ chức đó

Như vậy, hoạt động của Hội nghị chủ yếu được các quốc gia thành viên cung cấp kinh phí Ngân sách của nó được Hội đồng đại diện ngoại giao của các quốc gia thành viên phê duyệt hàng năm, ngoài ra tổ chức này còn tìm kiếm và nhận được kinh phí từ các nguồn khác

12 h ttp ://w w w m o j.g o v v n /c t/tin tu c /P a g e s/r ìg h ie n -c u u -tr a o -d o i.a sp x ? Ite m ID z::5 9 1 5

13

Trang 22

I I L ị c h s ử h ìn h t h à n h v à p h á t t r iể n c ủ a H ộ i n g h ị

Ị Tiền đề và bối cảnh ra đời

Hội nghị thành lập từ năm 1893 và trở thành một tổ chức quốc tế liên chính phủ độc lập kế từ năm 1955 trên cơ sở Hiến chương của Hội nghị Việc đề xuất thành lập Hội nghị được dựa trên quan điếm của Asser (Luật gia người Hà Lan Tobias Asser - một trong những người được coi là sáng lập ra Hội nghị) về hai lập luận quan trọng13:

Thứ nhất, nhu cầu vượt qua những rào cản đối với các di chuyển quốc tế

của con người và hàng hóa, thực trạng khác biệt về pháp lý dựa trên những khác biệt về truyền thống, văn hóa giữa các quốc gia, bởi vậy, việc nhất thể hóa TPQT không hướng tới việc tạo ra một hệ thống tư pháp duy nhất mà hướng tới tạo ra các cầu nối giữa các hệ thống pháp luật khác nhau

Thứ hai, cần thiết xây dựng những quy trình thảo luận để đạt được những

kết quả thực tiễn là những hiệp định, hiệp ước, công ước giữa các quốc gia trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế

Trước Hội nghị nhóm họp lần đầu tiên năm 1893, nhiều nỗ lực để triệu tập một hội nghị như vậy ở Châu Âu đã thất bại, trong đó có một hội nghị được dự tính diễn ra tại Rome vào năm 1885 dưới sự thúc đẩy của Bộ trưởng Tư pháp Ý Pasquale Mancini Trong khi các quốc gia ở Châu Âu không tổ chức được hội nghị như dự kiến thì bảy quốc gia Nam Mỹ đã kết thúc thành công một hội nghị

ngoại giao về TPQT ở Montevideo (1888-1889) với việc nhiều quốc gia ở Nam

Mỹ đã ký và thông qua được các hiệp ước quan trọng về TPQT, trong đó có Hiệp ước về Luật Thương mại quốc tế 14 Những tiền đề như vậy càng thúc đẩy cho khu vực Châu Âu xây dựng những cơ chế riêng nhằm phát triển các quy phạm liên quan tới TPQT áp dụng cho khu vực

13 Hans Van Loon, The Hague Conference on Private International Law: Current problem s and Perspectives, tr.25

14 Hiệp ước về Luật Thương mại quốc tế năm 1888, được các quốc gia gồm: Argentina, Bolivia, Colombia,

Paraguay, Peru và Uruguay (Kurt H Nadelmann, Con/ỉicí o f Laws: International and Interstate, Martinus

Nijhoff/The Hague, tr 310)

14

Trang 23

1 Sự phát triển của Hội nghị

c Giai đoạn trước năm 1955

Hội nghị đầu tiên (năm 1893) thành công đến mức một hội nghị thứ 2 ngay lập tức được tổ chức vào năm 1894 Một lần nữa, Asser chủ trì Hội nghị với Fedor

de Maitens là đại diện trong các cuộc đàm phán của Nga Sau đó, Asser tiếp tục chủ trì các Hội nghị thứ ba (1900) và thứ tư (1904) trên cơ sở từng hội nghị mà không có sự hỗ trợ của bất kỳ thư ký thường trực nào Vào năm 1904, Hội nghị lần thú tư kết nạp thành viên đầu tiên ngoài châu Âu là Nhật Bản Bốn hội nghị đầu tién này đã cho ra đời 7 công ước15 Bảy Công ước này về sau đã được thay thế bằag những văn bản pháp lý hiện đại và phù hợp hơn với thực tiễn

Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hội nghị mặc dù mở rộng khá nhiều về phạm vi thảo luận và ký kết các công ước nhưng giữa các quốc gia thành viên lại phát s.nh những bất đồng trong cách hiểu về giá trị pháp lý của các công ước và tình hình chính trị ngày càng xấu đi ở Châu Âu Trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, Hội nghị lần thứ năm (1925) và thứ sáu (1928) được tổ chức nhưng không có công ước nào được thông qua Tuy vậy, một bản dự thảo Công ưốc về luật áp dụng đối với mua bán hàng hóa quốc tế đã được xây dựng và trở thành nliững tiền đề quan trọng cho Hội nghị diễn ra vào những năm 50 Cho đến sau Chièn tranh thế giới thứ hai, các cuộc đàm phán mới được nối lại

Hội nghị lần thứ 7 được tổ chức năm 1951 đã đánh dấu một kỷ nguyên mới bằng vệc thông qua được Hiến chương của Hội nghị ngày 31/10/1951 Hiến chươngHội nghị có hiệu lực ngày 15/7/1955, là tiền đề để Hội nghị chính thức trở thành nột tổ chức quốc tế liên Chính phủ16

lại Hội nghị lần thứ 7, những kết quả cụ thể đã được ghi nhận Công ước về

tố tụngdân sự năm 1905 được áp dụng Sau hai cuộc chiến tranh thế giới và nhiều những ranh chấp lãnh thổ cùng với sự ra đời của các quốc gia mới đặt ra những

Trang 24

yêu cầi về hợp pháp hóa lãnh sự Những phác thảo về luật áp dụng đối với mua bán hàig hóa quốc tế đã được định hình bằng quá trình xây dựng Công ước chính thức trong lĩnh vực này Phiên họp lần thứ 7 đã thông qua Hiến chương và 5 Công

' 1 7

ước

t Giai đoạn từ năm 1956 đến nay

Hội nghị lần thứ 8 (năm 1956) là hội nghị tiếp theo của quá trình thông qua Công uớc về mua bán hàng hóa quốc tế và Công ước về giải quyết xung đột giữa luật quắc tịch và luật nơi cư trú Ke từ năm 1956, Hội nghị được tổ chức định kỳ 4 năm một lần thông qua các phiên họp toàn thể Đặc biệt, sau khi Chiến tranh thế giới th i hai kết thúc, sự nhìn nhận của quốc tế đối với các hoạt động của Hội nghị

đã đổi mới rõ rệt Hội nghị lần thứ 08 đã thông qua 3 công ước18 và Hội nghị lần thứ 9 năn 1960 đã thông qua 03 Công ước19 trong các lĩnh vực khác nhau

Nim 1964, tại Hội nghị lần thứ 10, Hội nghị ghi nhận sự tham gia với tư cách thàih viên của Israel; Hoa Kỳ và Cộng hòa Ả Rập thống nhất, đồng thời tiếng Arh trở thành ngôn ngữ chính thức thứ hai của Hội nghị sau tiếng Pháp Hội nghị thôig qua được 03 Công ước20

T í năm 1964 tới nay, Hội nghị đã thông qua thêm 26 Công ước và Nghị định thu nhằm bổ sung cho hệ thống văn kiện về giải quyết xung đột pháp luật

Ním 1980, Hội nghị đã quyết định cho phép các quốc gia không phải thành viên đưfc tham dự các phiên họp của Hội nghị với quyền biếu quyết các vấn đề có liên quai tới quốc gia đó Phiên họp toàn thể lần thứ 20 được tổ chức từ ngày 14/06 á n 28/06/2005 tập trung sửa đổi Quy chế tổ chức của Hội nghị theo hướng

mở rộn' khả năng gia nhập của các tổ chức mang tính khu vực như Liên minh

1718,19,20 Chuyên đề 1

16

Trang 25

Châu Âu Hội nghị lần thứ 21 năm 2007 đã thông qua Công ước về phục hồi

những hồ trợ quốc tế đối với trẻ em và các hình thức cấp dưỡng gia đình khác và

Nghị định thư về luật áp dụng với các nghĩa vụ cấp dưỡng

Các công ước hiện đại của Hội nghị tập trung chính vào giải quyết 3 nhóm

lĩnh vực của TPQT là:

1 Bảo vệ trẻ em, hôn nhân gia đình có yêu tô nước ngoài, các quan hệ vê tài

sản gia đình;

2 Hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tố tụng;

3 Luật thương mại quốc tế và tài chính quốc tế

Các công ước của Hội nghị được nhiều nước tham gia nhiều nhất hiện nay

là: Công ước miễn hợp pháp hóa giấy tờ công (Apostille); Công ước tống đạt giấy

tờ tư pháp và ngoài tư pháp; Công ước thu thập chứng cứ ở nước ngoài; Công ước

tiếp cận công lý; Công ước về bắt cóc trẻ em trên phạm vi quốc tế; Công ước bảo

vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế; Công ước xung đột

pháp luật liên quan tới việc định đoạt tài sản theo di chúc; Công ước nghĩa vụ cấp

dưỡng; Công ước về công nhận ly hôn và ly thân

B M Ộ T S Ó L Ĩ N H Vực H Ợ P T Á C T R O N G K H U Ô N K H Ỏ H Ộ I• • •

N G H Ị L A H A Y V Ề T Ư P H Á P Q Ư Ó C T É

I H ợ p t á c g iữ a c á c n ư ớ c t r o n g l ĩ n h v ự c p h á p lu ậ t

Hội nghị đã thông qua nhiều công ước điều chỉnh các quan hệ của TPQT:

Bảo vệ trẻ em, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, mua bán hàng

hóa quốc tế, tài chính quốc tế, thừa k ế

1 Trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em, ly hôn, ly thân và cấp dưỡng

Hội nghị đã thông qua một số công ước điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi,

nghĩa vụ cấp dưỡng, ly hôn, ly thân Điển hình là những công ước sau:

a Công ước La H ay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (Công ước La Hay 1993).

TRUNG TÂM THÔNG TIM THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠ! HỌC 1 MÂT M ỘI [ phòng đọc _ I I

17

Trang 26

Công ước La Hay năm 1993 được thông qua ngày 29/5/1993, có hiệu lực từ

ngày 01/5/1995 Tính đến tháng 6/2015 đã có 95 quốc gia và vùng lãnh thổ là

thành viên của Công ước Một số nước châu Á, như Trung Quốc, Campuchia,

Thái Lan, Philipin, M ông c ổ , Ẩn Đ ộ đã trở thành thành viên của Công ước này

Công ước gồm Lời nói đầu, 7 Chương, 48 Điều đề cập đến các vấn đề cơ bản sau:

- Nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi\ Những nguyên tắc cơ bản của Công

ước La Hay 1993 được coi là những quy định bắt buộc, có giá trị ràng buộc chung

đối với tảt cả các quốc gia thành viên Những nguyên tắc đó được đề cập trong

phần đầu tiên của Công ước, bao gồm cả các nguyên tắc được công nhận trong các

văn kiện pháp lý quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em

ngày 20/í 1/1989 và Tuyên bố của Liên hợp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp

lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ em, Chỉ dẫn đặc biệt về việc bảo trợ,

nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài (Nghị quyết của Đại Hội đồng số 41/86

ngày 3/12/1986)

Các nguyên tắc cơ bản được Công ước ghi nhận bao gồm:

+ rôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em; mọi chính sách pháp

luật ẩềììphải vì lợi ích tốt nhất và thúc đẩy việc thực hiện quyền của trẻ em;

+ rô n trọng quyền ưu tiên đối với trẻ em là được cha mẹ đẻ chăm sóc;

+ Nếu vì một lý do nào đó mà trẻ em không được cha mẹ đẻ chăm sóc, thì

cơ quan tổ chức có thẩm quyền có trách nhiệm bảo vệ trẻ em và xem xét tất cả

những £Ìải pháp khác nhau để trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tại quốc gia

mình; nìu các giải pháp này không thực hiện được, thì có thể tìm kiếm giải pháp

thay thếnhư nuôi con nuôi, giám hộ hoặc chăm sóc ở trung tâm bảo trợ xã hội;

+Chỉ cho phép những người ngoài gia đình ruột thịt của trẻ em nhận trẻ em làm cornuôi, nếu không có khả năng tìm thấy một nơi ở phù hợp cho trẻ em ngay

từ gia đnh gốc của mình;

+ Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh đầy đủ quan hệ cha mẹ và con theo pháp luìt;

Trang 27

+ ư u tiên thu xếp cho trẻ em làm con nuôi trong nước; việc cho trẻ em làm con nuôi ở iước ngoài chỉ được coi là giải pháp cuối cùng, sau khi chắc chắn rằng không thể tm được gia đình thay thế cho trẻ em ngay tại nước mình;

+ Nghiêm cấm mọi việc thu lợi bất minh từ việc cho trẻ em làm con nuôi; mọi hành V lạm dụng và buôn bán trẻ em phải bị xử lý nghiêm minh

- Điéu kiện nuôi con nuôi

+ ĐÌÌU kiện đối với người nhận nuôi: Trẻ em và cha mẹ nuôi phải thường trú tại các (Ịuốc gia thành viên khác nhau; người xin nhận con nuôi là một cặp vợ chồng hoặc một người đã hoặc chưa thành hôn; mọi trường hợp nuôi con nuôi phải làm piát sinh quan hệ cha mẹ và con, không phụ thuộc vào việc quan hệ của trẻ em đã CIO làm con nuôi với cha mẹ đẻ đã chấm dứt hay chưa Cơ quan có thẩm

quyền để >ác nhận điều kiện đối với cha mẹ nuôi là cơ quan có thẩm quyền của

nước nhận

+ Đều kiện đối với con nuôi: Công ước quy định việc nuôi con nuôi được

áp dụng cUi với trẻ em dưới 18 tuổi (Điều 3) Theo Điều 5 của Công ước thì điều

kiện để trt em được cho làm con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước gốc

quỹ ẫịinh vì xác nhận.

- Hí quả pháp lý của việc nuôi con nuôi: Điều 26 Công ước quy định cụ thể

hệ quả củi việc nuôi con nuôi, bao gồm việc công nhận mối quan hệ pháp lý cha

mẹ - con ịiữa trẻ em và cha mẹ nuôi; trách nhiệm của cha mẹ nuôi đối với trẻ em;

và công mận việc cắt đứt hay không mối liên hệ tồn tại trước đó giữa trẻ và cha

mẹ đẻ the) pháp luật của nước nơi thực hiện việc nuôi con nuôi

Ng»ài ra, Công ước La Hay năm 1993 còn quy định cơ quan có thẩm quyền

và trình ụ, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi

So sánh với pháp luật Việt Nam về các nội dung trên, cho thấy, pháp luật Việt Narrcơ bản đã phù hợp với quy định của Công ước La Hay năm 1993

Đâ' là Công ước La Hay đầu tiên Việt Nam tham gia Công ước có hiệu lực đối với yiệt Nam từ ngày 2/1/2012 Để triển khai thực hiện Công ước, ngày

19

Trang 28

7/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1233/QĐ-TTg phê duyệt Đe án triển khai thực hiện Công ước La Hay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2012-2015 Mục tiêu cơ bản của

Đề án là xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp, trách nhiệm của các Bộ, ngành, cơ quan địa phương nhằm khắc phục những khó khăn, thách thức trong các năm đầu tiên thực hiện Công ước La Hay số 33, tạo tiền đề thuận lợi để thực hiện Công ước La Hay một cách có hiệu quả và trở thành công việc bình thường của các Bộ, ngành,

cơ quan địa phương trong các năm tiếp theo, góp phần bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em

Ngàv 20/09/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 19/CT-TTg về việc nâng cao nhận thức pháp luật về nuôi con nuôi và tăng cường biện pháp bảo đảm thực thi Công ước La Hay số 33 Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trong năm 2013, Bộ Tư pháp chủ trì cùng với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Lao

động-Thưcng binh và Xã hội xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch về cơ chế phối hợp t-ong việc theo dõi tình hình phát triển của trẻ em Việt Nam được nhận làm con niôi người nước ngoài và bảo vệ trẻ em trong các tình huống cần thiết

CồfìJ ước La Hay 1993 đã tạo dựng một khuôn khổ pháp lý bao quát và hữu hiệu - mở ra khả năng hiệu chỉnh vấn đề nuôi con nuôi quốc tế không chỉ ở giai đoạn đầu của việc cho - nhận mà còn cả việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của tẻ em trong quá trình được nhận nuôi Việc Việt Nam ký gia nhập Công ước này cảnh dấu một bước tiến quan trọng trong việc từng bước hội nhập vào khuôn kh< hợp tác đa phương về TPQT mà trước hết là việc thực hiện Công ước

La H ay 1‘93 Cùng với Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm

2011, việt tham gia Công ước này chắc chắn tạo ra một khuôn khổ pháp luật đồng

bộ, điều củnh cả các vấn đề nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước mgoã vì lợi ích cao nhất của trẻ em, trong đó có trẻ em Việt Nam

b Công ước La Hay ngày 01/6/1970 về công nhận ly hôn và ly thân (Công

ước L a ỉay ngày 01/6/1970)

20

Trang 29

Hiện nay, trên thế giới, pháp luật các nước cơ bản đều có quy định về ly

hôn, trừ một số nước theo thiên chúa giáo như Andora, Manta, Paragoay cấm ly

hôn Còn vấn đề ly thân, các nước có cách nhìn nhận về ly thân khác nhau, từ đó

có cách giải quyết cũng khác nhau, v ề cơ bản, ly hôn và ly thân đều được giải

quyết tại cơ quan tư pháp (tòa án), nhưng một số nước không giải quyết ly hôn và

ly thân tại cơ quan tư pháp mà lại giải quyết tại cơ quan hành chính Ví dụ: Ở Đài

loan (Trung Quốc) Nếu quyết định ly hôn hoặc ly thân đó có nhu cầu được thi

hành ở nước ngoài thì nước được thi hành quyết định đó có thể sẽ không công

nhận và cho thi hành tại nước mình Hiện nay, rất nhiều nước quy định bản án

hoặc quyết định dân sự của nước ngoài chỉ được công nhận tại nước mình nếu như

đó là quyết định của tòa án Chính vì vậy, để tạo điều kiện cho việc công nhận

quyết định về ly hôn và ly thân ở nước ngoài, các nước đã cùng nhau ký kết hoặc

gia nlhập điều ước quốc tế điều chỉnh vấn đề này

Trong khuôn khổ Hội nghị, các nước đã thông qua Công ước công nhận ly hôn và iy thân ngày 01/6/1970 Công ước này được ký tại tại phiên thứ XI của Hội nghịị và có hiệu lực từ ngày 24 tháng 8 năm 1975 Công ước hiện có 20 thành viên21

Vjì 31 Điều khoản, Công ước quy định những nội dung cơ bản:

Thứ nhất, phạm vỉ áp dụng Công ước

- về không gian: Công ước áp dụng đối với công nhận ở một nước ký kết này việc ly hôn hoặc ly thân thực hiện theo thủ tục tố tụng tư pháp hoặc thủ tục

khác ớ một nước ký kết khác mà thủ tục đó được công nhận chính thức và có hiệu

lực cở nuớc giải quyết việc ly hôn hoặc ly thân

21 Allbanií, Australia, CHDCND Trung Hoa, Đảo Síp, CH Séc, Đan Mạch, Ai Cập, Estonia, Phần Lan, Italia, Luxembourg,

Hà Uan Nỉ Uy, Ba Lan, BÔ Đào Nha, Slovakia, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Anh và Moldova Trong đó, Moldova là quốc gia khônịig là tiành viên của Hội nghị La Hay.

21

Trang 30

Công ước cho phép một nước ký kêt có thê áp dụng các quy định pháp luật

thuận ợi hơn trong việc công nhận việc ly hôn hoặc ly thân đó được giải quyết ở

nước Ìgoài

- v ề thời gian: Công ước áp dụng bất kể ngày quyết định về việc ly hôn hoặc V thân là ngày nào Tuy nhiên, một nước ký kết trước thời điểm phê chuẩn

hoặc ịia nhập, có thể bảo lưu quyền không áp dụng Công ước này đối với việc ly

hôn hoặc ly thân về mặt pháp lý thực hiện trước ngày Công ước có hiệu lực đối

với nvóc đó

Ngoài ra, Công ước quy định các trường họp không áp dụng Công ước đối

với CIC quyết định liên quan đến nghĩa vụ về cấp dưỡng hoặc giám hộ trẻ em trong

quyếl đ;nh bản án ly hôn hoặc ly thân của cơ quan có thẩm quyền

Thứ hai, điều kiện công nhận ly hôn và ly thân

Hiện nay, trên thế giới có nhiều nước công nhận quyền được ly thân của vợ

chồng \à quy định về ly thân Một số nước phân biệt ly thân về mặt pháp lý với ly

thân ;hưc tế Ly thân về mặt pháp lý là trường hợp vợ chồng yêu cầu ly thân và tòa

án ra quyết định công nhận ly thân Ly thân thực tế là trường hợp vợ chồng tự

ngiiỳện sống riêng mà chưa có quyết định của một cơ quan thẳm quyền Do vậy,

trong Công ước, khi điều chỉnh ly hôn và ly thân được hiểu là ly hôn và ly thân về

mặtphíp lý

Hieo Điều 2 Công ước, việc ly hôn và ly thân về mặt pháp lý sẽ được thừa

nhận ỏ một nước ký kết khác nếu vào ngày bắt đầu thủ tục tố tụng ở nước có việc

ly hónhoặc ly thân (dưới đây gọi là nước gốc):

1) Bị đơn thường trú ở đó; hoặc

2) Nguyên đơn thường trú ở đó và đáp ứng một trong các điều kiện sau:

a Sự thường trú đó là liên tục ít nhất là một năm ngay trước khi bắt đầu thi tục tố tụng;

b Đó là nơi cuối cùng cặp vợ chồng cùng nhau cư trú;

(3) Cả hai vợ chồng có quốc tịch của nước đó; hoặc

Trang 31

(4) Nguyên đơn có quốc tịch của nước đó và một trong các điều kiện sau được đáp ứng:

a Nguyên đơn thường trú ở đó; hoặc

b Người đó đã thường trú ở đó liên tục ít nhất một năm trong vòng hai năm trước khi bắt đầu thủ tục tố tụng; hoặc

(5) Nguyên đơn trong vụ việc ly hôn có quốc tịch của nước đó và đáp ứng được cả hai điều kiện sau:

a Nguyên đơn có mặt tại nước đó vào ngày bắt đầu thủ tục tố tụng và

b Nơi cư trú cuối cùng của hai vợ chồng là ở nước mà pháp luật không công nhận việc ly hôn vào thời điểm bắt đầu thủ tục tố tụng

Tuy nhiên, khi xem xét các điều kiện trên, cần lưu ý: Khi nước gốc có có hai hay nhiều hệ thống pháp luật áp dụng trong các vùng lãnh thổ khác nhau về vấn đề ly hôn hoặc ly thân th ì:

- Điều 2, tiểu đoạn (3), sẽ áp dụng khi cả hai vợ chồng là công dân của nước

có vùng lãnh thổ là nơi việc ly hôn hoặc ly thân được quyết định, bất kể nơi thường trú của cặp vợ chồng đó;

- Điều 2, tiểu đoạn (4) và (5) áp dụng khi nguyên đơn là công dân của nước

có vùng lãnh thổ là nơi việc ly hôn hoặc ly thân được quyết định, bất kể nơi thường trú của cặp vợ chồng đó (Điều 14)

Khi xem xét công nhận việc ly hôn hoặc ly thân, các cơ quan có thẩm quyền của nuớc được đề nghị công nhận việc ly hôn hoặc ly thân sẽ không kiểm tra pháp luật áp dụng (luật nội dung, các nước thường áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch của cốc bên đương sự, luật nơi cư trú, luật của nước có toà án hay áp dụng phối hợp các nguyên tắc trên) để giải quyết vụ việc đó mà chỉ xem xét cơ quan ra quyết định \ề ly hôn hay ly thân có đúng thẩm quyền hay không (Điều 6)

Vấn đề công nhận iy hôn và ly thân là vấn đề nhạy cảm, cho nên Công ước cho phép các nước tham gia áp dụng trật tự công rất rộng Điều 10 Công ước quy định: Các nước ký kết có thể từ chối công nhận việc ly hôn hoặc ly thân về mặt

23

Trang 32

pháp h nếu việc công nhận đó rõ ràng là không phù hợp với chính sách công cộng

của n ư k đó Theo đó, sự công nhận việc ly hôn hoặc ly thân sẽ bị từ chối khi:

- Pháp luật trong nước của nước được đề nghị công nhận không cho phép việc ly hòn hoặc ly thân dựa trên cùng các tình tiết, hoặc

- Luật được áp dụng khác với các luật được áp dụng theo quy tắc của tưpháp quóc tế của nước đó

- Các nước ký kết có thể từ chối công nhận việc ly hôn nếu tại thời điểmquyết đnh việc ly hôn đó, cả hai bên đều có quốc tịch của nước không có quyđịnh về /iệc ly hôn và không có quốc tịch của bất kỳ nước nào khác

Việc tuyên bố bảo lưu được thực hiện theo thời điểm nhất định Công ước quy định, các nước ký kết, trước thời điểm phê chuẩn hoặc gia nhập, có thể đưa ra bảo luu Tuy nhiên, các nước tham gia Công ước không có quyền tuyên bố nhiều bảo liru đối với các điều khoản của Công ước Theo Điều 25, bất cứ nước nào, trước thời điểm phê chuẩn hoặc gia nhập, được thực hiện một hoặc nhiều bảo lưu

ở các Đều 19, 20, 21, và 24 trên và không được có bảo lưu nào khác nữa

ì"goài ra, Công ước còn quy định về cách giải quyết khi nhiều tòa án cùng thụ lỷ hột vụ việc về công nhận ly hôn hoặc ly thân (Điều 12) và vấn đề tham chiếu cÉn pháp luật của nước thành viên (Điều 23)

ìíhư vậy, Công ước này đã tạo điều kiện thuận lợi cho quyết định ly hôn hoặc ly thân tuyên ở trên lãnh thổ nước ký kết này được công nhận ở một nước ký kết khíc Hiện nay, theo pháp luật các nước ly hôn được giải quyết theo thủ tục khác nlau, có thể giải quyết theo thủ tục tư pháp hoặc thủ tục hành chính Dù được giải qu/ết theo thủ tục nào thì quyết định về ly hôn cũng đã có hiệu lực ở nước ra quyết tình Nhưng quyết định của cơ quan hành chính về ly hôn có yêu cầu công nhận ti Việt Nam thì chúng ta chưa có cơ sở pháp lý để công nhận mà chủ yếu công mận theo thực tế Do vậy, để tạo điều kiện cho việc công nhận quyết định ly hôn cik cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Việt Nam cũng như quyết định ly hôn cu cơ quan có thẩm quyền Việt Nam ở nước ngoài, chúng ta cần nghiên cứu,

Trang 33

xem xét ịia nhập Công ước La Hay ngày 01/6/1970 về công nhận ly hôn và ly thân Côrg ước này cùng Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) Việt Nam đã ký kết với CỈC nước sẽ tạo cơ sở pháp lý và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dânViệt Nam ở nước ngoài cũng như người nước ngoài tại Việt Nam.

2 rrong lĩnh vực cấp (luỡng

v ấ i đề cấp dưỡng là một trong những vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm của các nước thành viên của Hội nghị Trong khuôn khổ Hội nghị đã thông qua nhiều Công ướỉ về vấn đề này như: Công ước La Hay ngày 24/10/1956 về luật áp dụng đối với rghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ em, Công ước La Hay ngày 15/4/1958 về công nhận và ;ho thi hành các quyết định về nghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ em, Công ước

La Hay Ìgày 02/10/1973 về công nhận và thi hành các quyết định liên quan đến nghĩa vụcẳp dưỡng, Công ước La Hay ngày 02/10/1973 về luật áp dụng đối với nghĩa VỊ cấp dưỡng, Công ước La Hay ngày 23/11/2007 về thi hành cấp dưỡng cho trẻ em và các hình thức cấp dưỡng gia đình khác, Nghị định thư La Hay ngày 23/11/2G07 về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ các nghĩa vụ cấp dưỡng (Nghị định thu La Hay năm 2007) Trong số các điều ước này thì Nghị định thư La Hay năm 20C7 đạt được sự đồng thuận của các quốc gia22

Ngiị định thư La Hay năm 2007 gồm 30 Điều khoản và đưa ra nguyên tắc xác định bật áp dụng để điều chỉnh nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh trên cơ sở quan

hệ gia đm , huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng, bao gồm nghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ em, bấ kể tình trạng hôn nhân của cha mẹ, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn hoặc ly thân như sau:

Thto Điều 3 Nghị định thư La Hay năm 2007, về nguyên tắc, các nghĩa vụ cấp dưỡrụ, sẽ được điều chỉnh theo luật của nước nơi thường trú của người được cấp dướn* Trong trường hợp người được cấp dưỡng thay đổi nơi thường trú, luật của nướcnơi thường trú mới sẽ được áp dụng kể từ thời điểm thay đổi

22 Xemi ChựỆn đề 6

25

Trang 34

Bên cạnh đó, Nghị định thư La Hay năm 2007 cũng đưa ra các quy định đặc biệt đối với một số trường hợp khác.

Thứ nhất, nhằm đảm bảo quyền lợi của người được cấp dường, hệ thuộc

luật toà án sẽ được áp dụng để giải quyết các vụ việc về nghĩa vụ cấp dưỡng trong các trường hợp:

- Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ cho con;

- Nghĩa vụ cấp dưỡng của người không phải cha mẹ đối với người dưới 21 tuổi trừ trường hợp nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh trên cơ sở quan hệ vợ chồng;

- Nghĩa vụ cấp dưỡng của con cho cha mẹ23 Nấu một trong những người được cấp dưỡng thuộc nhóm trên gửi đơn tới toà án có thẩm quyền nơi cư trú của người có nghĩa vụ cấp dưỡng

Nhằm đảm bảo cho người được cấp dưỡng sẽ có cơ hội nhận tiền cấp dưỡng, Nghị định thư La Hay năm 2007 đã có quy định khá mềm dẻo và linh hoạt Theo kluản 2 và khoản 3 Điều 4, trong trường hợp người được cấp dưỡng không được qu/ền nhận cấp dưỡng theo quy định của luật nước nơi người đó thường trú, luật của nước có toà án giải quyết vụ việc sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề về nghĩa VỊ cấp dưỡng Ngược lại, nếu người được cấp dưỡng gửi đơn đến toà án của nước noi người có nghĩa vụ cấp dưỡng cư trú và theo luật của nước nơi có toà án, người điợc cấp dưỡng không được quyền nhận cấp dưỡng theo quy định của luật nước có toà án thì luật của nước nơi người đó thường trú sẽ được áp dụng Ngoài

ra, trong trường hợp người được cấp dưỡng không có quyền nhận cấp dưỡng từ người cí> nghĩa vụ theo luật của nước nơi người đó thường trú hoặc luật của nước

có toà án, luật của nước mà các bên có cùng quốc tịch (nếu có) sẽ được áp dụng24

7hứ hai, Nghị định thư La Hay năm 2007 đã đưa ra nguyên tắc lựa chọn

luật áp iụng để điều chỉnh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân cíng như sau khi li hôn Điều 5 của Nghị định thư La Hay năm 2007 đã quy

định v ỉ mặt nguyên tắc, luật của nước nơi người được cấp dưỡng cư trú sẽ được

23 Điều 4 N ghị định thư

26

Trang 35

áp dụng đê giải quyêt các vân đê vê nghĩa vụ câp dưỡng giữa vợ chông trong thời

kì hôn nhân hoặc sau khi li hôn cũng như giữa các bên trong quan hệ hôn nhân bị huỷ bỏ Tuy nhiên, trong trường hợp một trong các bên phản đối việc áp dụng luật của nước nơi người được cấp dưỡng cư trú và luật của quốc gia khác có mối quan

hệ gắn bó hơn với cuộc hôn nhân, đặc biệt là luật của nước nơi thường trú chung cuối cùng của các bên, thì luật của nước khác đó sẽ được áp dụng để thay thế cho nguyên tắc chung được ghi nhận tại Điều 3 của Nghị định thư

Như vậy, có thể thấy, Nghị định thư La Hay năm 2007 chỉ cho phép áp dụng luật của nước nơi thường trú chung cuối cùng của các bên đế điều chỉnh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng trong thời kì hôn nhân hoặc sau khi li hôn hay huỷ hôn khi có sự phản đối của một trong các bên đối với việc áp dụng luật của nước nơi người được cấp dưỡng cư trú

Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo quyền của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, Nghị định thư La Hay năm 2007 đã quy định quyền phản đối đơn kiện của người có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người được cấp dưỡng trên cơ sở không có nghĩa vụ cấp dưỡng theo luật của nước nơi thường trú của người có nghĩa vụ và luật quốc tịch chung của các bên (nếu có) Tuy nhiên, quy định này không được áp dụng đối với nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con cái

t

Điểm đặc biệt là Nghị định thư La Hay năm 2007 cho phép các bên trong quan hệ cấp dưỡng được quyền thoả thuận lựa chọn luật áp dụng đối với một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cấp dưỡng Cụ thể, theo Điều 8 của Nghị định thư La Hay năm 2007, các bên được quyền lựa chọn một trong các hệ thống pháp luật sau để điều chỉnh nghĩa vụ cấp dưỡng:

- Luật của nước mà một trong các bên có quốc tịch vào thời điểm thoảthuận;

- Luật của nước mà một trong các bên có nơi cư trú vào thời điếm thoảthuận;

24 Khoản 4 Điều 4 N ghị định thư Lahay.

2 7

Trang 36

- Luật do các bên thoả thuận hoặc luật được áp dụng trên thực tế đế điều chỉnh quan hệ tài sản giữa các bên;

- Luật do các bên thoả thuận hoặc luật được áp dụng trên thực tế để điều chỉnh việc ly hôn hoặc ly thân giữa các bên

Theo quy định của Nghị định thư La Hay năm 2007, các bên chỉ có quyền thoả thiận luật áp dụng khi đủ 18 tuổi và có đủ năng lực chủ thể và chỉ được thoả thuận một trong bốn hệ thống luật nêu trên Luật do các bên lựa chọn sẽ không được áp dụng để giải quyết việc liệu người được cấp dưỡng có được từ bỏ quyền được cấp dưỡng hay không, v ấ n đề này sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước nơi người có quyền cư trú vào thời điểm thoả thuận Luật do các bên thoả thuận sẽ không được áp dụng để điều chỉnh tất cả các vấn đề nếu luật đó có thể dẫn đến hệ quả khóng hợp lý cho bất kì bên nào

Nghị định thư La Hay năm 2007 không cho phép các nước thành viên được đưa ra các bảo lưu25 hay tuyên bố Đây là điểm mà các quốc gia khi tham gia cần đặc biệt lưu ý

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của pháp luật26 Quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản

1 Điều 129 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Tuy nhiên, khi so sánh với quy định của Nghị định thư La Hay năm 2007, có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã không cho phép các bên có quyền lựa chọn luật áp dụng đối với nghĩa vụ cấp dưỡng Trên thực tế, đây là một quy định có lợi cho các chủ thể bởi các bên có thể xác định trước các quyền và nghĩa vụ của mình có thể phát sinh trong tương lai và

từ đó hạn chế được các mâu thuẫn, tranh chấp về cấp dưỡng có thể phát sinh Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam nên quy định theo hướng thừa nhận quyền thoả

25 Điệu 27 Nghị định thư

26 Điều 107 Khoản 1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

28

Trang 37

thuận lựa chọn luật áp dụng đối với nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các bên Ngoài ra,

Việt Nam có thế cân nhắc việc gia nhập Nghị định thư La Hay năm 2007

3 Trong lĩnh vực m ua bán hàng hóa quốc tế

Trong khuôn khổ Hội nghị, đã thông qua một số Công ước điều chỉnh hợp

đồng mua bán hàng hoá như: Công ước về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán

hàng hoá và Công ước về luật điều chỉnh việc chuyển quyền sở hữu trong hợp

đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1955 và năm 1958 Trong đó, chỉ Công ước

La Hay năm 1955 về luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có

hiệu lực Tuy nhiên, do các điều khoản của Công ước quá cứng nhắc nên Công

ước này chỉ được áp dụng bởi chín quốc gia27

Tại phiên họp đặc biệt vào tháng 10 năm 1985, Hội nghị đã thông qua Công

ước về luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Hội nghị đã có

sự tham gia của 54 thành viên, các quan sát viên đến từ 8 quốc gia và các tổ chức

quốc tế như Ưỷ ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL),

Phòng thương mại và Công nghiệp quốc tế (ICC), UNIDROIT, Uỷ ban tư vấn

pháp luật Afro-Asian (AALCC) và Thư ký khối thịnh vượng chung Sau hai cuộc

họp của Uỷ ban đặc biệt với 05 văn kiện sơ bộ, 140 văn kiện làm việc và hai tuần

họp mặt với hàng trăm bản ghi nhớ, ngày 22/12/1986, Công ước về luật áp dụng

+ Nguyên tắc tự do ý chí của các bên: Điều 7(1) của Công ước La Hay năm

1986 quy định: “Hợp đồng mua bán sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa

chọn” Công ước đồng thời cũng cho phép các bên có thể thoả thuận luật điều

27 Xem C h u y ê n đề 7

2 9

Trang 38

bhỉnh đối với một phần hoặc toàn bộ hợp đồng28 Cũng trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng sự tự do ý chí của các bên, Điều 7(2) đã cho phép các bên có quyền thoả thuận thay đối luật áp dụng đối với một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tại bất kì thời điểm nào và việc thay đổi đó sẽ không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng cũng như quyền của bên thứ ba.

Luật do các bên lựa chọn sẽ được sử dụng để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, bao gồm, giải thích họp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, thực hiện hợp đồng, thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hàng hoá và lợi tức từ hàng hoá của người mua, thời điểm chịu rủi ro đối với hàng hoá cho người mua, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do không thực hiện hợp đồng, 29 Ngoài ra, luật do các bên thoả thuận sẽ được lựa chọn để xác định các vấn đề liên quan đến sự tồn tại và hiệu lực của thoả thuận chọn luật của các bên sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn30

Việc lựa chọn luật áp dụng của các bên đế điều chỉnh cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng Trong trường hợp trong hợp đồng không có điều khoản riêng biệt thể hiện thoả thuận lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng giữa các bên, cơ quan có thẩm quyền có thể xác định luật do các bên lựa chọn trên cơ sở các quy định được thế hiện trong hợp đồng và tổng thế hành vi của các bên

Bên cạnh đó, nguyên tắc tự do ý chí của các bên bị giới hạn bởi các quy phạm bắt buộc của quốc gia nơi có toà án cũng như trật tự công cộng Theo Điều

17 của Công ước La Hay năm 1986, việc áp dụng các quy phạm bắt buộc của quốc gia có toà án sẽ không bị ảnh hưởng bởi Công ước, bất kể luật được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng Tuy nhiên, quy định này chỉ được áp dụng đối với quy phạm bắt buộc của nước có toà án, chứ không áp dụng đối với các quy phạm bắt buộc của nước nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi thực hiện nghĩa vụ hoặc các nước khác

28 Điều 7(1) C ông ước La Hay năm 1986.

29 Điệu 12 Cõng ước La Hay năm 1986

30 Điều 10(1) Công ước La Hay năm 1986

3 0

Trang 39

có liên quan đến họp đồng Trong một số trường hợp, những quy phạm bắt buộc mang tính chất quốc tế được quốc gia nơi có toà án thừa nhận cũng sẽ hạn chế việc áp dụng luật do các bên lựa chọn để điều chỉnh hợp đồng.

+ Nguyên tắc xác định luật áp dụng trong trường hợp không có sự thoả thuận của các bên: Trong trường hợp các bên trong hợp đồng không thoả thuận luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, Công ước La Hay năm 1986 đã đưa ra các nguyên tắc để lựa chọn luật áp dụng Điều 8 của Công ước đã quy định luật của nước mà người bán có trụ sở vào thời điểm giao kết hợp đồng là luật được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Theo tinh thần của Điều 14 của Công ước, trong trường hợp người bán có hai hay nhiều trụ sở thì sẽ áp dụng luật của quốc gia nơi có trụ sở có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng và nơi thực hiện hợp đồng Trong trường hợp người bán không

có trụ sở thì sẽ áp dụng luật của nước mà người bán có nơi cư trú

Tuy nhiên, luật của quốc gia mà người mua có trụ sở sẽ được áp dụng đểđiều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế trong ba trường hợp được quy

định tại tại Điều 8 (2) Công ước La Hay năm 1986 Thứ nhất là trường hợp việc

đàm phán được thực hiện và hợp đồng được kí kết tại quốc gia mà người mua có

trụ sở, hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước người mua Thứ hai,

t

trường hợp hợp đồng quy định rõ ràng rằng người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng tại quốc gia mà người mua có trụ sở, luật của nước đó sẽ được áp dụng Ngoại lệ này có thể được lý giải đó là trong giao dịch mua bán hàng hoá quốc tế, các nước đang phát triến thường là người mua hơn là người bán, do đó, quy định ngoại lệ tại Điều 8(2)(b) sẽ tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển trong việc

áp dụng pháp luật đế giải quyết tranh chấp; từ đó, khuyến khích sự gia nhập của

các quốc gia này Thứ ba, đó là đối với các hợp đồng được kí kết trên cơ sở hoạt

động đấu thầu với các điều khoản do người mua đưa ra, hợp đồng đó sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước người mua

31

Trang 40

Ngoài ra, Công ước cũng quy định khả năng áp dụng luật của quốc gia có [mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng Tuy nhiên, nguyên tắc này sẽ không được

áp dụng nếu quốc gia mà người bán và người mua có trụ sở tuyên bố bảo lưu trên

cơ sở Điều 21 của Công ước hoặc trong trường hợp vào thời điếm giao kết hợp đồng, cả người mua và người bán đều có trụ sở ở quốc gia là thành viên của Công ước Viên năm 1980

Để xác định hiệu lực về hình thức của hợp đồng, Điều 11 của Công ước La Hay đã sử dụng nguyên tắc luật của nước nơi giao kết hợp đồng, luật của nước nơi các bên có trụ sở hoặc luật điều chỉnh nội dung hợp đồng

Việc áp dụng luật được lựa chọn theo quy định của Công ước năm 1986 để điều chỉnh nội dung và hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sẽ bị hạn chế trong trường hợp luật được lựa chọn có quy định trái với các quy phạm bắt buộc của nước có toà án cũng như trái với trật tự công cộng31

Nguyên tắc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế trong Công ước La Hay năm 1955 và năm 1986 có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

II Hợp tác giữa các nước trong lĩnh vực tố tụng

0

So với họp tác trong lĩnh vực pháp luật, hợp tác trong lĩnh vực tố tụng, Hội nghị đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Các Công ước quốc tế trong lĩnh vực này có sự tham gia của rất nhiều quốc gia.Trong khuôn khổ của Hội nghị, đã thông qua nhiều Công ước điều chỉnh trong mọi lĩnh vực của tố tụng, từ việc cho phép các bên đương sự lựa chọn tòa án đến hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

1 Trong lĩnh vực thỏa thuận lựa chọn tòa án

31 Điều 17, 18 Công ước La Hay năm 1986

32

Ngày đăng: 16/02/2021, 19:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm