THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO CÔNG TÁCDTBD HỆ THỐNG GTVT ĐƯỜNG BỘ VIỆT NAM I- SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ ĐỂ DUY TƯ BẢO DƯỠNG HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐƯONG BỘ Ở VIỆ
Trang 1THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO CÔNG TÁC
DTBD HỆ THỐNG GTVT ĐƯỜNG BỘ VIỆT NAM
I- SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ ĐỂ DUY TƯ BẢO DƯỠNG HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐƯONG BỘ Ở VIỆT NAM.
1 Công tác duy tư bảo dưỡng hệ thống GTVT đường bộ Việt Nam
1.1 Khái niệm về hệ thống GTVT đường bộ
Giao thông đường bộ là toàn bộ điều kiện vật chất kỹ thuật như hệ thốngcầu, đường, các công trình và thiết bị phụ trợ kèm theo và môi trường hoạt độnggắn với giao thông đường bộ , để từ đó phục vụ cho sản xuất và đời sống sinhhoạt của con người Như vậy, giao thông đường bộ gồm nhiều bộ phận nhỏ cótính chất, đặc điểm khác nhau nếu phân loại hệ thông giao thông đường bộ theophần cứng và phần mền thì:
- Phần cứng bao gồm các công trình cầu, đường, bến phà và các côngtrình, thiết bị phụ trợ an toàn giao thông, hệ thông thoát nước, trạm đỗ xe, trạmthu phí,tram cân xe, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo,kiểm tra giao thông và các thiết bị điểu khiển giao thông khác
- Phần mềm là toàn bộ hệ thống chính sách, cơ chế hoạt động, môitrường an ninh xã hội gắn với giao thông đường bộ, đảm bảo cho hoạt độnggiao thông tiến hành thuận lợi
Hệ thống đường bộ Việt Nam bao gồm:
Trang 2Xét theo cấp kỹ thuật, đường bộ được chia làm 7 loại: Đường cao tốc,đường cấp I, II, III, IV, V, VI, và đường chưa xếp loại.
1.2 Đặc điểm của hệ thống giao thông GTVT đường bộ Việt nam
Hệ thống GTVT đường bộ Việt Nam cũng có đặc điểm chung của hệthống GTVT đường bộ như:
- Giao thông đường bộ có tính hệ thống, tính cấu trúc và tính tương hỗ lớn,
từ đó việc phân bổ vốn đầu tư xây dựng và bảo trì phải đảm bảo cân đối giữacác loại đường,giữa các vùng,giữa đầu tư xây dựng mới, khôi phục, nâng cấp vàduy tu bảo dưỡng thường xuyên và các công trình phụ trợ kèm theo
- Hệ thống GTVT đường bộ có vị trí cố định, phân bổ ở khắp mọi miền củađất nước, có giá trị lớn Nó không chỉ phụ vụ nhu cầu hiên tại mà còn phục vụcho các nhu cầu ngày càng tăng trong tương lai Cho nên cần phải có sự tínhtoán kỹ lưỡng về vị trí xây dựng công trình, về mức vốn đầu tư, hiểu quả kinh tế
xã hội của các công trình đường trước khi quyết định đầu tư
- Sự phát triển của hệ thống đường bộ gắn liền với trình độ phát triển kinh tế
xã hội của mỗi nước Khi kinh tế phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước.khikinh tế phát triển sẽ có điều kiện để xây dựng hệ thống đường bộ hiện đại.ngượclại,hệ thông đường bộ hiện đại tạo động lực phát triển kinh tế xã hội một cáchmạnh mẽ
- Khả năng thu hội vốn trực tiếp từ các công trình GTVT đường bộ là rất hạnchế Đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn được đầu tư lại thườngđược thực hiện trong một thời gian dài Chính vì vậy, cần chú trọng đến việckhai thác, sử dụng các nguồn vốn thuộc sở hữu nha nước và sở hữu công khác
để đầu tư xây dựng , DTBD
- Phát triển hệ thống giao thông đường bộ là vẫn đề có tính chiến lược nằmtrong chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung của đất nước Do vậy, việchuy động vốn đầu tư xây dựng và bảo đưỡng GTVT đường bộ cần được họch
Trang 3định trong khoang thời gian dài và phủ hợp với cân đối chung trong kế hoạchtổng thể huy động vốn đầu tư phát triển toàn bộ nền kinh tế, xã hội
Từ những đặc điểm chung, hệ thống giao thống GTVT ở Việt Nam còn
co những đặc điểm riêng: Nhìn chung, mang lưới nước ta đã được hình thành vàphân bổ khác hợp lý so với địa hình, nhưng chưa hoàn chỉnh, còn tồn tại một sốvấn đề sau:
+ Chua co đường cao tốc, đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao (cấp I, cấp II)chiếm tỷ lệ thấp
+ Còn nhiều tuyến chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống đường chưa đồng
bộ, một số vùng như vung núi cao đường chưa thông xe được 4 mùa
+ Hành lang bảo vệ an toàn giao thông chưa đảm bảo đúng tiêu chuẩn, việcgiải phóng mặt bằng để cải tạo,mở rộng nâng cấp rất khó khăn, khối lượng đền
bù rất lớn
+ Nhiều công trình được xây dựng trước đây có độ cao và nền đường khôngcòn phủ hợp với chế độ nền móng hiện tại nên trong mùa mưa lũ, nhiều đoạnđường bị ngập và sụt lở, đặc biệt khu vực miền Trung đường bộ bị phá hoạinghiêm trọng sau những đợt lũ lụt
2 Sự cần thiết phải tăng cường huy động vốn đầu tư để duy tư bảo dưỡng hệ thống giao thông đường bộ ở Việt Nam
Công tác DTBD chỉ được tiến hành khi công trình đường bộ đã được hoàn
thành và phải được làm một cách thường xuyên liên tục theo thơi gian sử dụngcông trình Tuỳ theo đặc điểm, tính kết cấu của loại công trình đường bộ mà lập
kế hoạch DTBD phù hợp tránh gây sự thất thoát, lãng phí vốn Đối với trụcđường quốc lộ phải có kế hoạch DTBD thường xuyên và định kỳ, DTBD tốngthể và bộ phận và được phân cấp quản lý với nguồn ngân sách TW hỗ trợ, cònđối với đường tỉnh lộ , huyện lộ do điạ phương tự chủ trì thực hiện có sự giúp
đỡ của cấp trên có thẩm quyền , với đường xã lộ do dân địa phương thực hiệntheo các đường hỏng đến đâu thì DTBD đến đó…
Trang 4Do đặc điểm điều kiện tự nhiên và địa hình nước ta, công tác duy tu bảo dưỡngđường bộ của từng vùng, miền, các tỉnh có kế hoạch khác nhau và nguồn vốn dànhcho DTBD đòi hỏi nhưng nhu cầu của nền kinh tế đáp ứng chưa được là bao Do
vậy việc lập kế hoạch cho DTBD ở cấp cơ sở còn bị bỏ ngỏ
Mạng lưới GTVT đường bộ của Việt Nam là khá rộng, yêu cầu về DTBD
đối với một mạng lưới như vậy là rất quan trọng Đặc biệt khi mà hầu hết cáctuyến đường đều phải gánh khí hậu gió mùa ẩm ướt, sự quá tải của phương tiện
và một tỷ lệ lớn các tuyến đường nằm ở khu vực đồi núi mà phương tiện rửa trôi
và xói mòn đã góp phần vào việc tạo them rủi ro cho công tác DTBD
Chính phủ Việt Nam mong muốn cải thiện được tất cả các mặt của công tácDTBD đường bộ vả mạng lưới GTVT đường bộ nhất là GTVT nông thôn cònnhiều bất cập, tại nhiều các tỉnh đường xã, huyện quy mô và tình trạng sử dụngthấp
Bảng 1: Mạng lưới GTVT đường bộ một số tỉnh năm 2005 (đơn vị Km)
Nhựa cấp phối Đ.xỉ Đ đất Đ.tốt Đ.TB Đ.xấu
Đối với các tỉnh nhất là các tỉnh có địa hình đồi núi khó khăn, hệ thốngGTVT đường bộ cần được quan tâm hơn Như vậy việc tiếp tục đầu tư chonâng cấp và khôi phục đương bộ là rất cần thiết bởi:
Trang 5-Nâng cấp hệ thống đường đi lại trong mọi điều kiện thời tiết sẽ làm choviệc vận chuyển hang hoá và hành khách ở các vùng dễ dàng hơn rẻ hơn nhanhchóng hơn và thuận tiện đáng tin cậy hơn.
-Việc tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống đường sẽ làm tăng khẳ năng tiếp cậncủa người dân tới các vùng đã phát triển, các khu chợ, tiếp cận với các đầu vàophục vụ sản xuất, tiêu dùng, những nơi có việc làm, cơ sở y tế, tài chính, truyềnthống
-Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức Nhà nước và tư nhân cung ứng tốthơn các dịch vụ xây dựng và dịch vụ hỗ trợ vớicác nhà kinh doanh, buôn bánnhỏ Tạo cơ hội kinh tế và công ăn việc làm cho người dân , việc họ đượchưởng lợi ngày càng nhiều các dịch vụ tốt hơn về y tế và giáo dục …
Thực tế cho thấy Hệ thống GTVT đường bộ có đồng bộ duy trì bền vữngđược hay không lại phụ thuộc rất lớn vào việc DTBD thường xuyên và liên tục.Việc DTBD hệ thống giao thông GTVT đường bộ cho những năm tiếp theo làrất cần thiết, nó quyết định đến tuổi thọ của công trình, chất lượng sử dụng Nếukhông thực hiện công tác bảo dưỡng đường thì được coi như là hành đôngkhông đầu tư nữa bởi điều đó có ý nghĩa như một sự vứt bỏ những khoản đầu tưnữa bởi điều đó có ý nghĩa như một sự vứt bỏ những khoản đàu tư cho cáctuyến đường đã đầu tư Mặt khác đàu tư cho DTBD còn hạn chế được tai nạngiao thông Công tác bảo vệ giữ gìn và duy trì tình trạng kỹ thuật của hệ thốngđường bộ hiện có, một tài sản với tổng giá trị hang trăm ngàn tỷ đồng, việc đầu
tư cho công tác bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ đường bộ đượcquan tâm đúng mức và kịp thời theo chu lứa sửa chữa
Theo đánh giá của các chuyên gia ngân hang thế giới, trong khoảng hai thập
kỷ qua các nước đang phát triển đã mất đi khoảng 45 tỷ đô la cơ sở vật chất hạtầng mà hoàn toàn có thể giữ lại được nếu chi phí khoảng 12 tỷ đô la cho côngtác bảo dưỡng đường Điều này cũng có nghĩa là: Nếu đầu tư một đồng vốn kịpthời cho công tác bảo dưỡng đường thì giá trị sinh lợi sẽ gấp 4 lần đầu tư pháttriển mới Cần kịp thời ngăn chặn những hư hỏng xuống cấp của hệ thống
Trang 6đường thì việc tiếp tục DTBD là cần thiết và giữ gìn được giá trị tài sản kết cấu
hạ tầng hiện có Do vậy cần phải đầu tư hơn nữa bảo đảm tỷ lệ vốn đầu tư cần
và đủ hang năm, ổn định cho công tác DTBD đường bộ
II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO CÔNG TÁC DTBD HỆ THỐNG GTVT ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM
1 Tình hình huy động tổng mức vốn đầu tư cho duy tư bảo dưỡng hệ thống GTVT đường bộ ở Việt Nam
Bảng 2: Vốn đầu tư cho DTBD dường bộ giai đoạn 2001-2005
Trang 7Tốc độ phát triển liên hoàn
Trang 8Nguồn : Bộ GTVT
Qua bảng có thể thấy tổng vốn đầu tư cho phát triển hệ thống đường bộ có xuhướng tăng dần trong giai đoạn 2001-2005, năm sau tăng nhiều hơn năm trước,nhưng đến năm 2005 tốc độ tăng này có suy giảm (1,88%) Qua đây có thể thấyđược vấn đề phát triển hệ thống giao thông đường bộ đang ngày được coi trọng,thể hiện qua việc số vốn huy động cho công tác này ngày càng tăng Trong vốnđầu tư phát triển hệ thống giao thông đường bộ thì gồm có vốn đầu tư XDCB vàvốn đầu tư duy tu bảo dưỡng
Có thể thấy được trong những năm gần đây vốn đầu tư duy tu bảo dưỡng đangtăng nhanh hơn so với vốn đầu tư XDCB Nếu như năm 2005 vốn đầu tư XDCBtăng 13,36% so với năm 2001 thì ở vốn đầu tư duy tu bảo dưỡng, con số này là41,13% (gấp 3 lần) Tốc độ tăng hàng năm của vốn đầu tư duy tu bảo dưỡngcũng cao hơn đáng kể so với vốn đầu tư XDCB: năm 2002 vốn đầu tư XDCBtăng 0,76% thì vốn đầu tư DTBD tăng 7,277%,năm 2003 XDCB tăng 2,5% thìDTBD tăng 7,9%, năm 2005 XDCB còn giảm 0,5% thì DTBD vẫn tăng 6,96%.Như vậy có thể thấy được trong những năm gần đây nguồn vốn huy động chocông tác DTBD đang ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư Điềunày thể hiện công tác DTBD đang ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò quantrọng của mình
Trang 9Tỷ trọng % 28,900 30,200 31,10
0 32,000 33,600
Nhìnvào bảng số liệu và biểu đồ trên ta nhận thấy, vốn đầu tư chi cho xây dựng cơbản hệ thống giao thông quốc lộ đang có xu hướng tăng lên, mặc dù lượng tăng
là không đáng kể Tuy nhiên, xét về tỷ trọng nguồn vốn đầu tư chi cho xây dựng
cơ bản hệ thống giao thông quốc lộ trong tổng số vốn đầu tư cho ngành giaothông có xu hướng giảm Điều này dễ hiểu vì lượng vốn đầu tư cho giao thôngquốc lộ tăng ít hơn so với tổng lượng vốn được đầu tư cho ngành
Nhìn vào lượng vốn đầu tư cho duy tu bảo dưỡng cho các công trình giao thôngquốc lộ ta thấy nó có xu hướng tăng lên rõ rệt trong những năm trở lại đây Điềunày cho thấy, các công trình giao thông quốc lộ trong những năm gần đây đangđược chính phủ quan tâm nhiều hơn Đây là tín hiệu đáng mừng bởi như đã nói
ở trên, duy tu bảo dưỡng các công trình giao thông đường bộ có tác dụng rất lớntới việc đảm bảo chất lượng của công trình, cũng như đảm bảo tuổi thọ cho nó.Hơn nữa, khi đầu tư cho việc bảo dưỡng duy tu các công trình thì sẽ tiết kiệmđược cho chính phủ nguồn lực rất lớn
Trang 10Bảng 3: Vốn DTBD phát triển hệ thống giao thông quốc lộ giai đoạn
2000 - 2005
Tổng VĐT
Tỷđồng 15.425 15.571 15.902 17.148 17.295 17.398Tốc độ pt định gốc % 0,947 3,092 11,170 12,123 12,791Tốc độ pt liên
136,129Tốc độ pt liên
BDĐK
Tỷđồng 1.390 1.400 1.420 2.052 2.062 2.962Tốc độ pt định gốc % 0,719 2,158 47,626 48,345
113,094Tốc độ pt liên
Trong giai đoạn 2001-2005 tổng vốn đầu tư phát triển hệ thống giao thông quốc
lộ có xu hướng tăng dần, tuy nhiên tốc độ tăng không ổn định: giai đoạn
2001-2003 tốc độ tăng tăng dần đến năm 2001-2003 là 7,83% nhưng giai đoạn 2001-2003-2005tốc độ tăng giảm dần, đến năm 2005 còn 0,596% Năm 2003 là năm vốn đầu tưDTBD tăng mạnh nhất (7,83%) trong đó BDTX tăng 41,569%, BDĐK tăng44,507%
15.902
17.14
8 17.295 17.398
Trang 11Trong giai đoạn 2001-2005 tổng vốn đầu tư phát triển hệ thống giao thông quốc
lộ có xu hướng tăng dần, tuy nhiên tốc độ tăng không ổn định: giai đoạn
2001-2003 tốc độ tăng tăng dần đến năm 2001-2003 là 7,83% nhưng giai đoạn 2001-2003-2005tốc độ tăng giảm dần, đến năm 2005 còn 0,596% Năm 2003 là năm vốn đầu tưDTBD tăng mạnh nhất (7,83%) trong đó BDTX tăng 41,569%, BDĐK tăng44,507%
Tỷ trọng của vốn đầu tư BDTX và BDĐK cũng có xu hướng tăng trong giaiđoạn này Năm 2000 tỷ trọng của BDTX và BDĐK là 3,015% và 9,011% nhưngđến năm 2005 con số này đã là 6,311% và 17,025% Tốc độ tăng tỷ trọng củaBDĐK luôn cao hơn so với của BDTX, điều này cho thấy công tác BDĐK phầnnào được chú trọng hơn
2 Tình hình huy động tổng mức vốn đầu tư cho duy tư bảo dưỡng hệ thống GTVT đường bộ phân theo từng nguồn vốn
2.1.Vốn ngân sách
Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu , chi cân đối NSNN Nguồn ngânsách Nhà nước được chi cho đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng lớn, trong đó cóchi đầu tư xây dựng và DTBD hệ thống GTVT đường bộ ở các nước đang pháttriển như đất nước Việt Nam thì nguồn tiết kiệm của ngân sách Nhà nước cònrất hạn chế, do vậy nó thường chi được khai thác đầu tư các dự án then chốt cầnthiết Hiện nay nguồn vốn này mới chỉ mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầuvốn đầu tư cho thông đường bộ và khoảng 45% cho công tác duy tu bảo
Trang 12dưỡng.Tuy nhiên, trong lĩnh vực đầu tư phát triển nói chung và phát triển đường
bộ nói riêng, nguồn vốn tiết kiệm của ngân sách nhà nước gữ vai trò chủ đạo thểhiện thông qua vai trò chủ đạo của vốn ngân sách trong quá trình đầu tư, cụ thể: Trong những năm qua nguồn vốn ngân sách Nhá nước đã đóng vai tròchủ chốt trong việc cung cấp vốn để đầu tư nhằm tạo ra một hệ thống GTVTđường bộ, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Phần lớn hệ thống đường bộ hiện có được đầu tư bằng vốn của ngân sách.Nhà nước trong việc cung ứng hang hoá công cộng cho xã hội trong điều kiệnthực hiện cơ chế quản lý vốn bao cấp Mặt khác, đầu tư xây dựng và duy tư bảodưỡng kết cầu hạ tầng GTVT đường bộ cần một lương vốn lớn, quay vòng vốnchậm và thậm chi không có thu Do vậy chỉ co Nhà nước mới có khả năng đảmbảo vai trò chính trong lĩnh vực này Chính vì lẽ đó vốn ngân sách nền tảng,quyết định đến việc hình thành và đảm bảo hoạt động của hệ thống giao thôngvận tại nói chung và hệ thống GTVT đường bộ nói riêng
Các nguồn tài chính được sử dụng cho công tác DTBD đường phụ thuộc vàotình hình tài chính của NSNN, của ngân sách tỉnh, cơ quan hành chính sựnghiệp của huyện Việc hay động các nguồn ngoài quốc doanh ngân sách dànhcho công tác DTBD đường chỉ chiếm một ty lệ rất nhỏ và con số doanh nghiệp
tư nhân trong nước đầu tư cho công tác tác này gần như là con số không Thực
tế các nguồn tài chính hiện nay gồm: Nguồn vốn NSNN là chủ yếu (chiếm trên88%), ngân sách tỉnh, huyện và đóng góp dưới sự hỗ trợ của các tổ chức trong
và ngoài nước theo các chương trình trọng điểm quốc gia, lao động hành chính
sự nghiệp, lao động công ích tại các cơ sở huyện, xã lao động riêng lẻ tại cácnhà thầu và hộ dân cũng là nguồn đóng góp rất quan trọng cho công tác DTBD
hệ thống bộ ở nước ta hiện nay nhất là đối với GTNT
Bảng 4: Vốn ngân sách danh cho công tác duy tu bảo dưỡng đường bộ giai
đoạn 2001 - 2005
Năm
Đơn
Trang 1320,000
28,52
9 32,721Tốc độ phát triển liên hoàn %
6,471
12,70
7 7,108 3,261 Nguồn: Vụ kết cấu hạ tầng và đồ thị - Bộ KH&ĐT
Từ bảng số liệu trên ta thấy : Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp cho công việcduy tu bảo dưỡng đường bộ có xu hướng tăng dần qua các năm Nếu như năm
2001 nguồn vốn ngân sách dành cho công việc duy tu bảo dưỡng đường bộ là
1360 tỷ đồng thì đến năm 2005 con số này đa là 1805 tỷ đồng tăng 445 tỷ đồng(32,7%) Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp cho công tác duy tu bảo dưỡng
%