1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề cấp bách cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung bộ luật hình sự năm 1999

149 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 13,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Đăng Doanh Khoa Pháp luật hình sự Chựyen đề 3: Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS về quyết định hình phạt chưa đối với người chưa thành niên trong trường hợp chuẩn bị

Trang 1

't^ ỉỉc ị ; ■:

Trang 2

B ộ T ư PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •

ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

MỘT SỐ VẮN ĐÈ CÁP BÁCH CẦN NGHIÊN c ứ u ,

SỬA ĐỎI, BỒ SUNG BLHS NĂM 1999

Mã số đề tài : LH - 2010-16/ĐHL-HN Chủ nhiệm đề tài : TS Nguyễn Văn Hương Thư ký : TS Hoàng Văn Hùng

TRUNG T  M THÔNG TIN THƯ V L TRƯỜNG Đ A I HỌC L y  L H À NỘ;

P H Ò N G D Ọ C U Ỉ Q

-Hà N ộ i -2011

Trang 3

DANH SÁCH THA M GIA ĐÈ TÀI

Chuyên đề 1: Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung liên quan đến quy định

về hiệu lực của BLHS

44

0 TS Cao Thị Oanh Khoa

Pháp luật hình sự

Chuyên đề 2: Một sổ vấn

đề cần nghiên cứu, sửa đổi,

bô sung BLHS liên quan đến quy định về chủ thể của tội phạm

56

3 TS Lê Đăng Doanh Khoa

Pháp luật hình sự

Chựyen đề 3: Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS về quyết định hình phạt chưa đối với người chưa thành niên trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và phạm nhiều tội

Chuyên đề 4: Một sổ vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến quy định trong chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

74

Trang 4

5 TS Hoàng Văn

Hùng

Khoa Pháp luật hình sự

C huyên đề 5: Một số vấn

đề cần nghiên cứu, sửa đối,

bô sung BLHS liên quan đến quy định trong chương các tội xâm phạm an toàn công cộng

88

6 TS Trần Hữu Tráng Khoa

Pháp luật hình sự

Chuyên đề 6: Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sưng BLHS liên quan đến quy định trong chương các tội phạm về chức vụ

105

7 ThS Phạm Văn Báu

và ThS Lưu Hải y ến

Khoa Pháp luật hình sự

C huyên đề 7: Một sổ vấn

đề cần nghiên cứu, sửa đổi,

bô sung BLHS liên quan đến quy định trong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

124

Trang 5

C h uyên đề 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ CẦN NGHIÊN c ứ u , SỬA ĐỔI, BÓ

SUNG LIÊN QUAN ĐÉN QUY ĐỊNH VÈ HIỆU L ự c CỦA BLHS

I Một Số nội dung cần được sửa đồi, bổ sung liên quan đến quy

đinh về hiêu lưc của BLHS• • •

II Phưong án sửa đổi, bổ sung quy định về hiệu lực của BLHS 49 Chuyên đề 2: MỘT SỐ VÁN ĐÈ CẦN NGHIÊN c ử u , SỬA ĐỎI, BỎ

SUNG B ộ LUẬT HÌNH s ự LIÊN QUAN ĐÉN QUY ĐỊNH VÈ CHỈ THÈ 52 CỦA TỘI PHẠM

Chuyên đề 3: MỌT SỚ VÁN ĐÈ CẦ1N ĐƯỢC NGHIÊN c ứ u , SỬA

ĐÓI, BỎ SUNG BLHS VÊ QUYÉT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẲN BỊ

PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT VÀ PHẠM NHIÈU TỘI • • 7 • • • • •

1 Giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chua đạt 60

2 Vấn đề quyết định hình phạt trong trường họp ngưòi chưa

thành niên phạm nhiều tội.

C h uyên đề 4: MỘT SÓ VÁN ĐÈ CẦN NGHIÊN c ử u , SỬA ĐỐI, BỔ

SUNG BLHS LIÊN QUAN ĐẾN QUY ĐỊNH TRONG CHƯƠNG CÁC TỘI 72 XÂM PHẠM TRẬT T ự QUẢN LÝ KINH TÉ

1 Khái quát quy định của BLHS về các tội xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế

2 Một số kiến nghị nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định về các

tội xâm phạm trật tự quản lý kỉnh tế

60

68

72

78

Trang 6

91

C h u yên đề 5: MỘT SỐ VÁN ĐÈ CÀN NGHIÊN c ử u , SỬA ĐỎI, BỐ

SUNG BLHS LIÊN QUAN ĐÉN QUY ĐỊNH TRONG CHƯƠNG CÁC TỘI 88 XÀM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG

1 Sự Cần thiết phải sửa đỗi, bổ sung quy định về các tội xâm

phạm an toàn công cộng trong BLHS Việt Nam

2 Những nội dung cần sửa đổi, bổ sung trong quy định về các tội

xâm phạm an toàn công cộng trong BLHS Việt Nam

C h u yên đề 6: MỘT SÓ VÁN ĐỀ CẦN NGHIÊN c ử u , SỬA ĐỎI, BỎ

SUNG BLHS LIÊN QUAN ĐÉN QUY ĐỊNH TRONG CHƯƠNG CÁC TỘI 105 PHẠM VÈ CHỨC VỤ

Chuyên đề 7: MỘT SỐ VÁN ĐÊ CẦN NGHIÊN CÚ I), SỬA ĐỐI, BỔ

SUNG BLHS LIÊN QUAN ĐÉN QUI ĐỊNH TRONG CHƯƠNG CÁC TỘI 125 XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

1 về khái niệm “ngưòi không có tội”(Điều 293 BLHS) và khái

niệm “ngưòi có tội”(Điều 294 BLHS)

2 Qui định tội dùng nhục hình (Điều 298 BLHS) và tội bức cung

(Điều 299 BLHS)

3 v ề tội che giấu tội phạm (Điều 313 BLHS) Và tội không tố giác

tội phạm (Điều 314 BLHS)

4 v ề chủ thể của tội ra bản án trái pháp luật (Điều 295 BLHS) 134

5 về tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối

cung cấp tài liệu (Điều 308 BLHS)

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

128

128

130

135

Trang 7

DANH MỤC CHŨ VIÉT TẢT

2 BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

3 BLHSCHNDTH Bộ luật hình sự Cộng hoá nhân dân Trung Hoa

7 TNHS Trách nhiệm hình sự

9 TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

12 VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 8

MỎ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 từ ngày được ban hành đến nay đã được 10 năm Trong 10 năm qua, BLHS đã đóng vai trò là „công

cụ hữu hiệu“ của Nhà nước trong việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của tố quốc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Sau 10 năm áp dụng, do sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế, xã hội của đất nước, BLHS Việt Nam năm 1999

đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung một lần (tháng 6 năm 2009 ’), tuy nhiên còn nhiều vẩn đề bất cập của BLHS còn chưa được sửa đổi, bổ sung đòi hỏi phải được nghiên cứu, đề xuất sửa đoi, bố sung cho phù họp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh chổng tội phạm ở Việt Nam hiện nay Mặt khác, trước yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp đang được thực hiện mạnh mẽ, trong giai đoạn Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền và trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay thì việc tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi bổ sung BLHS là yêu cầu cấp thiết, là đòi hỏi khách quan của nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ lợi ích của nhà nước, tổ chức và công dân, đảm bảo sự tương đồng nhất định giữa pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình sự các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế, xã hội tiên tiến, tạo cơ sở pháp lý vừng chắc cho việc đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế của nhà nước góp phần thúc đấy qúa trình hội nhập quốc tế của Nhà nước, góp phần có hiệu quả vào việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ở Việt Nam hiện nay

Chính vì vậy nhóm tác giả đăng kí đề tài: ,M ột số vấn đề cấp bách cần nghiên cứu, sửa đỗi, bỗ sung Bộ luật hình s ự năm 1999“ làm đề tài nghiên cứu

khoa học cấp trường của Trường đại học luật Hà Nội năm 2010

II Tình hình nghiên cứu đề tài

Sự hạn chế, bất cập trong các quy định của BLHS dẫn đến hệ quả là những khó khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng luật hình sự trong

1 Xem: Luật sứa đồi, bồ sung m ột số điều của BLHS được Quốc Hội thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009.

Trang 9

việc đấu tranh chông tội phạm Những hạn chê, bât cặp trong các quy định của BLHS đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này có thể kể đến như:

- Nhừnq nội dung cần sửa đôi, bỏ sung trong Phần chung của Bộ luật hìnlĩ sự (2008), Hội thảo khoa học cấ p khoa, Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Những nội dung cần sửa đôi, bổ sung trong Phần các tội phạm của

Bộ luật hình sự (2009), Hội thảo khoa học c ấ p khoa, Trường Đại học Luật Hà

Nội;

- Hồ Sỳ Sơn (2008), Hoàn thiện một số quy định về hình phạt và quyết định hình phạt của BLHS năm 1999 nhằm đảm bảo hơn nữa nguvên tắc nhản đạo trong luật hình sự, Tạp chí Luật học, số 4/2008;

- Hồ Sỳ Sơn (2008), Những hạn chế trong các quv định của BLHS năm

1999 về khái niệm hình phạt, mục đích của hình p h ạ t và hưởng khắc phục,

- Lê Đăng Doanh (2009), Quyêt định hình p h ạ t trong trường hợp chuản

bị phạm tội - những vướng mắc và phương hướng hoàn thiện, Tạp chí Tòa án

nhân dân, số 23 (12/2009);

- Lê Cảm (2008), BLHS Việt Nam năm 1999, những vấn để cần hoàn thiện các quy định của phần chung, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp

luật, (Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999), Hà Nội 2008;

- Nguyền Ngọc Hòa (2008), Sửa đôi quy định của BLHS năm 1999 về đồng phạm và vẩn đề có liên quan đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc té, Bộ

Tư pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề sửa đổi, bố sung BLHS năm 1999), Hà Nội 2008;

Trang 10

- Trịnh Ọuôc Toản (2008), Hoàn thiện hình phạt quan chê trong BLHS núm 1999 nhăm đáp ừng vêit câu cải cách tư pháp, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân

chu và Pháp luật, (Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999), Hà Nội 2008;

- Phạm Văn lợi (2008), M ột sổ vưóĩìg mắc trong các quv định của pháp luật hình sự về tội phạm môi trường, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp

luật, (Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999), Hà Nội 2008;

Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập nhiều vấn đề bất cập, vướng mắc khác nhau trong các quy định của BLHS như những bất cập trong các quy định về đồng phạm 2, quyết định hình phạt trong trường họp chuẩn bị phạm t ộ i 3, những bất cập trong các quy định của tội phạm về môi trường 4 và các bất cập khác liên quan đến các quy định về chủ thể của tội phạm, lồi, chuẩn bị phạm tội, khái niệm và mục đích của hình phạt 5 Những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLHS làm cho việc áp dụng luật hình sự trong hoạt động đấu tranh chống tội phạm gặp nhiều khó khăn Những nghiên cứu,

đề xuất trong các công trình nghiên cứu nêu trên hầu như còn chưa được tiếp thu trong việc sửa đổi BLHS Tuy nhiên, có một số công trình nghiên cứu còn chưa phân tích toàn diện các yếu tố liên quan đến những hạn chế, bất cập trong quy định của BLHS; có công trình nghiên cứu mới chỉ nêu, liệt kê những hạn chế, bất cập mà chưa có sự phân tích rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của vấn đề nêu ra, từ đó một số giải pháp được các tác giả nêu ra chưa có tính thuyết phục cũng như khả năng thực thi trong thực tế Mặt khác, có nhiều hạn chế, bất cập trong các quy định của BLHS còn chưa được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu hoặc mới chỉ được nêu ra mà chưa có sự phân tích

cụ thể để từ đó đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLHS Đó là những bất cập liên quan đến các quy định về hiệu lực của BLHS; quy định liên quan đến chủ thể của tội phạm và chủ thể (đặc biệt) của một sổ tội cụ thể; quy định về

Xem: Nguyền N gọc Hòa (2008), Sửa đôi quy định của BLH S năm ỉ 999 vê đônẹ phạm và ván đê củ Hân

quan lỉcip ứng y ê u cầu cùa hội nhập quốc tế, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề sưa

đổi, bố sung BLH S năm 1999), Hà Nội 2008;

Xem: Lê Đ ăng Doanh (2009), Quyẻt đinh hình phạt trong trường hợp cỉĩitàn bị phạm lội - những vướng

rnãc và p h ư ơ n g hưở ng hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 23 (12/2009);

4 Xem: Phạm V ăn lợi (2008), M ột số vướng m ắc trong các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm môi

tr ư ờ n g Bộ Tư pháp, Tạp chí Dản chu và Pháp luật, (Số chuycn đề sứa đôi, bô sung BLHS năm 1999), Hà

Nội 2008.

5 Xem thêm các bài viết của các tác giả: Lc Cám, Trịnh Tiến Việt, Hồ Sỹ Sơn (đã ncu trcn).

Trang 11

quyết định hình phạt trong trường hợp chuấn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội hoặc các quy

định về mô tả tội phạm trong một số điều luật cũng như dấu hiệu định khung

hình phạt tăng nặng „thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”; “hàng

phạm pháp có số lượng lớn’ trong một số chương trong Phần các tội phạm

của BLHS

Trong điều kiện tình hình kinh tế, xã hội của đất nước đang có sự phát

triên nhanh như hiện nay thì những hạn chê, bât cập của BLHS đang tạo ra

những khó khăn lớn cho các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc bảo vệ lợi

ích của nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công

dân; là trở ngại lớn đối với yêu cầu hội nhập, phát triến của đất nước cũng như

hoạt động phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm đang có diễn

biến rất phức tạp hiện nay Vì vậy, việc nghiên cứu, sửa đổi, bố sung (một cách

nhanh chóng, khẩn trương) những hạn chế, bất cập trong các quy định của

BLHS năm 1999 đáp ứng yêu cầu bảo vệ lợi ích của nhà nước, tồ chức và công

dân, công cuộc hội nhập và phát triển đất nước cũng như yêu cầu của cuộc

đấu tranh chống tội phạm hiện nay là đòi hỏi cấp bách, khách quan của Nhà

nước và xã hội.

III Mục đích nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt mục đích là đưa ra được các đề xuất,

kiến nghị cùng các giải pháp sửa đổi, bổ sung BLHS góp phần hoàn thiện

BLHS; góp phần bảo vệ tốt nhất lợi ích của nhà nước, tổ chức, công dân, tạo

tiền đề pháp lý cho hội nhập quốc tế đồng thời nâng cao hiệu quả phòng ngừa

và đấu tranh chống tội phạm ở Việt Nam hiện nay.

IV Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đe đạt mục đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:

- Phân tích rõ những hạn chế, bất cập trong một số quy định (trong một sổ chương, điều) của Phần chung của BLHS, cơ sở lý luận, cơ sở thực

tiễn và những đòi hòi phải cấp bách sửa đổi, bổ sung các quy định này đồng

thời đưa ra các giải pháp sửa đổi, bồ sung để hoàn thiện các quy định trong

Phần chung của BLHS;

Trang 12

- Phân tích rô những hạn chế, bất cập trong một số quy định của Phân các tội phạm của BLHS, cơ sơ lý luận, cơ sở thực tiễn và những đòi hòi phải cấp bách sửa đối, bổ sung các quy định này đồng thời đưa ra các giải pháp sửa đổi, bố sung để hoàn thiện các quy định trong Phần các tội phạm của BLHS;

VI Phưong pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận cua chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài bao gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp tống hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử

VI Nội dung nghiên cứu

- Đe tài tập trung phân tích, làm rõ những hạn chế, bất cập trong các quy định (trong một số chương, điều luật) của Phần chung và Phần các tội phạm của BLHS; phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và những đòi hòi phải cấp bách sửa đổi, bổ sung các quy định này đồng thời đưa ra các giải pháp sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện BLHS năm 1999

Trang 13

PHẦN I TÓNG THUẬT KÉT QUẢ NGHIÊN c ử u CỦA ĐÈ TÀI

Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 từ ngày được ban hành đến nay đã được 10 năm Trong 10 năm qua, BLHS đã đóng vai trò là “công

cụ hữu hiệu” của Nhà nước trong việc phòng ngừa và đấu tranh chổng tội phạm, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thố của tổ quốc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tố chức, công dân Sau 10 năm áp dụng, do sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế, xã hội của đất nước, BLHS Việt Nam năm 1999

đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập Mặc dù đã được sửa đối, bố sung vào tháng 6 năm 2009 6 nhưng BLHS hiện hành vẫn còn nhiều vấn đề bất cập

Nhóm tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “M ột sổ vấn đề cấp bách cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999” Các vấn đề

nghiên cứu được nhóm tác giả lựa chọn dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau đó là: các quy định của BLHS có nhiều hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung đế đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm và hội nhập quốc tế trong thời gian tới, ví dụ, vấn đề hiệu lực của BLHS, ván đề chủ thể của tội phạm; các quy định của BLHS có nhiều hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung để đáp ứng yêu cầu đấu tranh chổng tội phạm, đồng thời dễ sửa đổi, bổ sung và có thể sửa đổi bổ sung ngay đế đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả để bảo vệ tốt hơn các quan hệ xã hội, góp phần phát triển kinh tế, mở rộng giao lưu, họp tác quốc tế cũng như tăng cường bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tố chức, công dân như: quy định của BLHS về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội xâm phạm an toàn công cộng, các tội phạm về chức

v ụ Sau một năm nghiên cứu đề tài, nhóm nghiên cứu đã đưa ra được những kết quả dưới đây nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện BLHS phục vụ công cuộc phát triển kinh tể, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, góp phần đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của tổ chức, công dân Kết quả nghiên cứu của đề tài được thế hiện ở các nội dung sau:

1 Xem: Luật sửa đôi, bô sung m ột số điều cua BLHS được Quốc Hội thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009.

Trang 14

I ĐÓI VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHẦN CHUNG CỦA BỘ LUẬT H1N14 S ự

Đối với các quy định của phần chung của BLHS, đề tài tập trung

nghiên cứu 3 nhóm vấn đề là: Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung

liên quan đến quy định về hiệu lực của BLHS; Một số vấn đề cần nghiên cứu,

sửa đổi, bố sung BLHS liên quan đến quy định về chủ thể của tội phạm; Một

sổ vàn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS về quyết định hình phạt

chưa đối với nsười chưa thành niên trong trường họp chuấn bị phạm tội,

phạm tội chưa đạt và phạm nhiều tội Sau khi nghiên cứu, nhóm tác giả

nghiên cứu đề tài đã đưa ra kết quả nghiên cứu cụ the như sau:

1 Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đối, bổ sung liên quan đến quy định

về hiêu lưc của BLHS• •

Hiệu lực của Bộ luật hình sự (BLHS)7 là giá trị áp dụng hay giá trị thi

hành của luật hình sự đối với hành vi phạm tội Trong BLHS năm 1999, hiệu

lực của BLHS Việt Nam được quy định tại ba điều luật (Điều 5, 6, 7 BLHS)

Theo quy định của các điều luật này, hiệu lực của BLHS Việt Nam được thể

hiện trên các phương diện là hiệu lực về không gian và hiệu lực về thời gian

Quy định về hiệu lực của BLHS Việt Nam năm 1999 về cơ bản giống như

quy định về hiệu lực của BLHS Việt Nam năm 1985 và đều thể hiện tính khái

quát cao Trong quy định của BLHS năm 1999, các quy định về hiệu lực nhiều

nội dung được mô tả cụ thế hơn so với BLHS năm 1985 Tuy nhiên, các quy

định về hiệu lực của BLHS Việt Nam hiện nay “quá” khái quát, một số nội

dung không đuợc quy định rõ và điều này dẫn đ ến sự n h ận th ứ c cũng như

áp d ụ n g lu ật gặp n h iề u k h ó k h ăn tro n g th ự c tiễ n vì vậy nó cần

đư ợc sử a đ ổ i, bổ su n g để đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm trong

điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và diễn biến phức tạp của tội

phạm hiện nay Cụ thê là:

phạm

Khoản 1 Điều 5 BLHS quy định “5Ộ luật hình sự được áp dụng đổi với

mọi nành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

1 Trong B LH S năm 1985 được gọi là “Phạm vi áp dụng cúa Bộ luật hình sự”

Trang 15

Việt Nam" Tuy nhiên, BLHS khôntỉ quy định rõ thê nào là hành vi phạm tội

thực hiện (xảy ra) trên lãnh thô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để hiểu rõ và áp dụng đúng quy định này cần làm rõ hai vấn đề là “thời gian thực hiện tội phạm” và “địa điểm thực hiện tội phạm”

- Thời eian thực hiện tội phạm là khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiếm cho xã hội có dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thế được quy định trong BLHS (không kể hậu quả của tội phạm đã xảy ra hay chưa)

- Địa điêm thực hiện tội phạm là nơi người phạm tội thực hiện tội phạm -

"'nơi hành vi phạm tội xảy ra (kẻ cả trường hợp chỉ bắt đầu, chỉ kết thúc hay chỉ diễn ra một phần) hoặc là nơi hậu quả xảv ra hay dự kiến xảv ra”8.

Để tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng BLHS được thống nhất cũng như tránh việc phải hướng dẫn, giải thích (thường được thực hiện rất chậm), BLHS cần có quy định cụ thể về vấn đề thời gian thực hiện tội phạm và địa điểm thực hiện tội phạm, v ấn đề này được quy định khá cụ thế trong BLHS của một sổ nước như: Đức, Thuỵ Đ iển 9

1.2 B L tìS cần quy định rõ các trường hợp phạm tội trên tàu thuỷ, tàu bay

Theo quy định tại Điều 5 BLHS: “ổợ luật hình sự được áp dụng đổi với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Ncim \ Thực tiễn áp dụng luật hình sự và trong bộ luật hình sự của nhiều

nước có quy định vấn đề tội phạm được thực hiện trên tàu biển và các phương tiện bay của quốc gia thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật quốc gia Liên quan đến vấn đề này, bên cạnh quy định trong công

ước của Liên Hợp quổc, phần lớn các học giả đều cho rằng: “máy bay, tầu thuỷ cũng có thê là một bộ phận của lãnh thô quốc gia khi nhữngphươtĩg tiện này ỏ bên ngoài lãnh thô theo luật quôc tế

Theo Công ước của Liên Hợp quốc (năm 2000) về chống tội phạm có

tổ chức xuyên quốc gia thì lãnh thổ quốc gia cũng được hiểu bao gồm cả trên

' Xem: - Trường Đại học luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Tập I, Nxb CAND, Hà Nội, Tr.36

9 Xem: - Điều 8,9 BLHS Đức (Chương thử nhất, mục thứ nhất, BLHS được ban hành 15.05.1871 Sửa đổi ơần nha:: 16 tháng 3 năm 2011)

- Điều 4 Chương 2 BLHS Thuỵ Điển (2005);

Điều 6 BLHS của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1997),

Trang 16

tàu biên mang cờ của quốc gia hoặc máy bay quốc gia đăng tịch: “thâm quyền

tài phán được quy định tại Điều 15 Công ước với các nguyên tắc phân định

thâm quyên cụ thê như: nguvên tăc lãnh thô, nguvên tăc quôc gia mà tàu

thuyên mang cờ, nguyên tắc quoc gia đăng tịch của phương tiện bay ” I0.

Như vậy, theo luật quốc tế và các nguyên tắc được thừa nhận chung, thì

hành vi phạm tội xáy ra trên tàu thuỷ, tàu bay thuộc thẩm quyền xét xử của

quốc gia mà tàu thuyền (treo cờ của quốc gia) hoặc trên các phương tiện bay

mà quốc gia đăng tịch Điều này chưa được quy định cụ thê trong BLHS Việt

Nam Đê tạo cơ sở pháp lý cụ thê, vũng chăc cho việc xử lý những hành vi

phạm tội xảy ra trên các phương tiện trên, đặc biệt là sự diễn biến phức tạp của

những hành vi “không tặc”, “hải tặc” - tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ hiện

nay, BLHS Việt Nam cần được sửa đổi, bổ sung quy dịnh rõ vấn đề trách

nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu thuỷ của Việt

Nam Điều này đã được quy định rõ trong BLHS của một số nước như BLHS

của Đức, Nga, Trung H oa 11

1.3 BLHS cần quy định rõ các trường hợp phạm tội ngoài lãnh thổ Việt

1.3.1 Đối với công dân Việt Nam hoặc người không quốc tịch thường trú tại

Việt Nam

Điều 6 BLHS quy định: “Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh

thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy ciru trách nhiệm

hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quổc tịch thường

trú ỏ' nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

- Thứ nhất, theo quy định này, công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài có thể phải chịu TNHS (trách nhiệm hình sự) và có thể không phải chịu

TNHS tại Việt Nam Vậy người phạm tội phải chịu TNHS trong trường họp

nào và không phải chịu TNHS trong trường họp nào và nếu họ đã bị truy cứu

10 Nguyền Thị Thuận (Chu biên) (2007), Luật hình sự quốc té, Nxb CAND, Hà Nội, tr.74

11 Xem: - Điều 4 Chương thứ nhất, mục thứ nhât BLHS của Đức (2011);

Điều 6 BLHS cúa Trung Hoa (1997)

- Khoản 3 Điều 11 BLHS của Nga (1996)

Trang 17

TNHS tại nước ngoài thi khi về Việt Nam có tiếp tục bị truy cứu TNHS nữa

không thì luật không quy định rõ

- Thứ hai, theo quy định tại Điều 6 BLHS, BLHS Việt Nam không quy định rõ vấn đề người Việt Nam, người không quốc tịch thường trú ở Việt

Nam nếu phạm tội ở nước ngoài đã bị xét xử và áp dụng hình phạt ở nước

ngoài thì khi về Việt Nam có thể tiếp tục bị xét xử theo BLHS Việt Nam hay

không? v ề vấn đề này hiện có các quan điểm khác nhau Có quan điếm cho

răng: “Công dân Việt Nam phạm tội ỏ' nước ngoài, đã bị Toà án nước ngoài xét

xử và đang chấp hành hình phạt nếu điểu kiện cho phép, họ có thể được đưa về

châp hành hình phạt tại Việt Nam, Trong trưòng họp này Toà án Việt Nam

không xét xử nữa” n

Đối với vấn đề này, quy định của BLHS các nước cùng có sự khác

nhau Có nước quy định rõ là công dân hoặc người không quốc tịch thường

trú ở nước đó chỉ bị truy cứu TNHS về hành vi phạm tội nếu hành vi đó chưa

bị kết án ở nước ngoài (nơi hành vi phạm tội được thực hiện)13 Trong khi đó,

BLHS của một số nước khác lại quy định: người có hành vi phạm tội ở nước

ngoài thì dù đă bị xét xử ở nước vẫn có the phải chịu TNHS theo luật hình sự

của quốc gia, nếu người đó đã phải chịu hình phạt ở nước ngoài thì đỏ là yếu

tổ để Toà án xem xét khi xác định mức độ TNHS đối với người phạm tội '4

Nhóm tác giả nghiên cứu đề tài cho rằng: để bảo vệ lợi ích quốc gia và

đối với các tội phạm có tính nguy hiểm cao (tội phạm rất nghiêm trọng, tội

đặc biệt nghiêm trọng nhưng việc xử lý của toà án nước ngoài (nơi hành vi

phạm tội xảy ra) chưa thoả đáng (theo luật hình sự Việt Nam) thì việc tiếp tục

xử lý những hành vi này là cần thiết Vì vậy, BLHS cần quy định trường hợp:

công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam có thể

phải chịu TNHS tại Việt Nam theo BLHS Việt Nam, trường hợp người đó đã

chấp hành hình phạt ở nước ngoài thì hình phạt được quyết định phải xét đến

bản án này

12 Xem: Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung) Nxb

Đại học Quốc gia hà Nội, tr 79

13 Xem: Khoán 1, 3 Điều 13 BLHS cua Nga (1996)

14 Xem: - Điều 6 C hương 2 BLHS Thuỵ Điển (2005);

- Điều 10 BLHS của Trune Hoa (1997)

Trang 18

1.3.2 Đôi với người nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam hoặc bị dân độ đèn Việt Nam

Khoản 2 Điều 6 BLHS Việt Nam quy định: “Người nước ngoài phạm tội ơ ngoài lãnh thô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thê bị truy cíni trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự Việt Nam trong những trường hợp được quỵ định trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký’ kết hoặc tham gia” Quy định này quá khái quát và không

rõ Theo cách hiếu hiện nay, trường họp người nước ngoài phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam chỉ bị truy cứu TNHS tại Việt Nam khi thực hiện các tội phạm được quy định tại Chương XXỈV BLHS

Trong tình hình quan hệ quốc tế phức tạp, việc đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế phòng chống tội phạm cần nhiều thời gian; các tội phạm quốc tế và tội phạm có tính chất quốc tế như tội khủng bố quốc tế, tài trợ khung bố quốc tế, làm tiền giả, buôn bán vù khí, buôn bán ma tuý, buôn bán người, cướp b iển , diễn biến phức tạp như hiện nay, thì việc quy định BLHS Việt Nam có hiệu lực xử lý đối với người nước ngoài thực hiện tội phạm ngoài lãnh thô Việt Nam xâm phạm lợi ích của Nhà nước và công dân Việt Nam là rất cần thiết Theo luật quốc tế, việc xét xử tội phạm trong trường hợp

này dựa trên nguyên tắc được gọi là “nguyên tắc quốc tịch thụ động” - dựa

vào quốc tịch của nạn nhân của tội phạm Nguyên tắc quốc tịch thụ động được thể hiện trong luật hình sự của nhiều nước như Italy, Mexico, Brazil

15 Vấn đề này cũng được quy định rõ trong BLHS của nhiều nước khác Ví

dụ, tại khoản 3 Điều 12 BLHS của Nga quy định: “Người nước ngoài và người không quốc tịch không thường trú ở Liên bang Nga mà phạm tội ở ngoài lãnh thô Liên bang Nga, thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật này, nếu tội phạm đó nhằm chống lại lợi ích của Liên bang N ga ”; tại khoản

1 Điều 7 Chương thứ nhất, mục thứ nhât BLHS Đức cũng quy định: “Pháp luật hình sự Đức cỏ hiệu lực đối với những hành vi được thực hiện ở nước ngoài chổng lại người Đức nếu tại nơi thực hiện, hành vỉ đỏ cũng bị đe doạ phải chịu hình phạt hoặc nơi thực hiện hành vi không có quyền lực hình sự”.

b Xcm: Luật quốc tế - các vấn đè thương m ại và kinh tế ở Châu á - Các vụ việc và tài liệu (Tập bài giảng do

khoa luật, trường Đại học tông hợp M elboum e biên soạn được tài trợ cúa Cơ quan phát tricn qưôc tê

A ustralia thuộc Dự án VN - Austrialia vc đào tạo tiêng Anh chuyên ngành và nguồn - phân Đào tạo luật), tr.65

Trang 19

Trong BLHS của Thuỵ Điến và BLHS Trung Hoa, vân đề này cũng được quy định cụ thể l(S.

Từ việc phân tích cụ thể cơ sở lý luận và thực tiền của vấn đề, nhóm nghiên cứu đề tài cho rằng: BLHS Việt Nam cần được sửa đổi bổ sung theo hướng quy định rõ các loại hành vi phạm tội do người nước ngoài phạm tội ngoài lãnh thố Việt Nam phải chịu TNHS theo BLHS Việt Nam nhằm đảm bảo lọi ích của Nhà nước và công đân Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc cua luật quốc tế

1.4 BLH S cần được bỗ sung quy định hiệu lực về thời gian tại Điều 7 BLHS

Ọuy định hiệu lực về thời gian tại điều Điều 7 BLHS hiện nay khá cụ thể, tuy nhiên có điểm chưa rõ và nếu xét ở khía cạnh nào đó thì đây là còn thiêu hoặc chưa chính xác Ví dụ, trường họp một người thực hiện hành vi phạm tội năm 1998 nhưng đến năn 2008 người phạm tội mới bị bắt giữ, thì càn cứ pháp lý để xử lý hành vi phạm tội này hiện nay có sự mâu thuẫn rất

khó giải quyết Khoản 1 Điều 7 quy định: “Điều luật được áp dụng đổi với một hành vi phạm tội ỉà điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điếm mà hcnh vi phạm tội được thực hiện” Đối với trường họp nêu trên, theo cách

hiểu thông thường thì căn cứ pháp ý để xử lý hành vi phạm tội này chính là điều khoản tương ứng (hành vi) được quy định trong BLHS Việt Nam năm

1985 Tuy nhiên tại thời điểm hiện tại, BLHS năm 1985 không còn hiệu lực

áp dụng, vì trong Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999

cé quy định: “Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21 thảng 12 năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2000.

Bộ luật hình sự này thay thế Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 và các luật sửa đôi, bô sung một sô điêu của Bộ luật hình sự được Quắc hội thông qua ngày 28 tháng 12 năm 1989, ngày 12 tháng 8 năm 1991, ngày 22 tháng 12 năm 1992 và ngày 10 thảng 5 năm 1997” Như vậy, theo quy định của Nghị quyết số 32 của Quốc Hội thì thời

lft Xem: - Điều 3 Chưcmg 2 BLHS Thuỵ Điển,

- Điều 8 BLHS Trung Hoa.

Trang 20

điểm BLHS năm 1999 có hiệu lực cũng là thời điếm BLHS năm 1985 và các luật sửa đôi bô sung BLHS năm 1985 hoàn hêt hiệu lực áp dụng Tuy thực tiễn xét xử hiện nay vẫn áp dụng BLHS 1985 để xử lý đối với trường hợp này (dựa vào quy định tại khoản 1 Điều 7 BLHS) nhưng căn cứ này không chắc chan và có sự mâu thuẫn Đe giải quyết mâu thuẫn này, trong BLHS của một

số nước có quy định rất cụ thể Ví dụ, khoản 4 Điều 2 quy định BLHS Đức có

quy định: “Luật chỉ có hiệu lực trong khoảng thời gian nhất định vẫn có thê được áp dụng khi đã hêt hiệu lực cho hành vi đã được thực hiện trong thời gian Luật nàv cỏ hiệu lực"", hoặc Điều 12 BLHS của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cùng quy định: „ Những hành vi thực hiện từ sau ngàv thành lập nước Công hoà nhân dân Trung Hoa đên trước ngày thi hành Bộ luật này mà

p h á p luật hời kỳ đó không coi là phạm tội thì được áp dụng theo pháp luật của thời kỳ đỏ; nêu pháp luật lúc đó coi là tội phạm và theo quy định tại Mục

s Chương IV Bộ luật này tội phạm đó phải bị truy tố, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được tiến hành theo pháp luật thời kỳ đó“ Như vậy, đê đảm

bảo về mặt pháp lý có căn cứ xử lý hành vi phạm tội trong trương họp nói trên, BLHS cần được sửa đổi để bổ sung quy định cụ thể về vấn đề này

Phưong án sửa đổi, bổ sung quy định về hiêu lực của BLHS:

Từ những phân tích trên, nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về hiệu lực của BLHS, nhóm nghiên cứu đề tài đề xuất sửa đổi, bổ sung các Điều

5, 6, 7 BLHS Các Điều 5, 6, 7 của BLHS được thiết kế lại theo phương ánsau:

Điều 5 Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội

trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1 M ọi hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thô nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật này, trừ trường hợp luật quy định khác.

2 Bộ luật hình sự cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội được thực hiện trên tàu thuỷ hoặc tàu bay của Việt Nam nếu các điều ước quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ n^hĩa Việt Nam không có quy định khác.

Trang 21

3 Tội phạm được coi là thực hiện trên lãnh thỏ nước Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam khi hành vi phạm tội, hậu quà của tội phạm, một phản cua hành vi hoặc hậu quả của tội phạm xảy ro trên lãnh thỏ nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

4 Đồi với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyển miễn trừ ngoại giao hoặc quyền mi đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam , theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đưòvg ngoại ÍỊÌƠO.

Điều 6 Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở

ngoài lãnh thô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ỉ Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cỏ thê bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này nếu hình vi đó tại nơi thực hiện cũng bị coi là tội phạm và

Bộ luật này quy định hình phạt tù từ một năm trở lên.

Quv định này cũng được áp dụng đổi với người không quốc tịch thường trú ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2 Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cỏ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình

sự Việt Nam trong những trường họp được quy định trong các điều ước quốc

tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Trường hợp không có điều ước quốc tế thì người nước ngoài phạm tội

ở ngoài lãnh thô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thê phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Việt Nam nếu tội phạm đó nhằm chống Nhà nước hoặc công dân Việt Nam và hình phạt nhẹ nhất theo quy định của Bộ luật này là từ 3 năm tù trở lên, trừ trường hành vi đó không bị xử phạt theo theo pháp luật của nơi tội phạm được thực hiện.

3 Noi thực hiện tội phạm là địa điểm hành vi phạm tội xảy ra hoặc địa điẻm hậu quả của tội phạm xảy ra hoặc dự kiến xảy ra.

Điều 7 Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian

Trang 22

1 Điêu luật được áp dụng đôi với một hành vi phạm tội là điêu luật đang cỏ hiệu lực thi hành tại thời điêm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

Thời gian thực hiện tội phạm là khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiềm cho xã hội có dấu hiệu cẩu thành tội phạm cụ thế được quy định trong BLHS (không kê hậu quả của tội phạm đã xảv ra hay chưa)

2 Điêu luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vỉ áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miên hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đôi với hành

vi phạm tội đã thực hiện trước khi điên luật đó có hiệu lực thi hành.

3 Điểu luật xoá bò một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặnạ, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiêt giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miền trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoả án tích và các quv định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đôi với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đỏ

cỏ hiệu lực thi hành.

2 Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến

quy định về chủ thế của tội p h ạm

Chủ thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm Vì vậy, quy định về chủ thể của tội phạm giữ vai trò là cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội Pháp luật hình sự nước ta từ năm 1945 đến nay nói chung và Bộ luật hình sự hiện hành nói riêng thể hiện quan điểm thống nhất là chỉ quy định cá nhân là chủ thể của tội phạm

Trong những năm gần đây, thực tiễn xã hội nước ta cho thấy không chỉ

cá nhân mà còn có nhiều tổ chức thực hiện nhũng hành vi vi phạm pháp luật nguy hiểm cho xã hội nhất là trong các lĩnh vực môi trường, quản lý thuế, tài chính, chửng khoán, đầu tư, bảo hiểm, đấu thầu xây dựng Mặc dù tất cả những hành vi gây thiệt hại của tổ chức đều được thực hiện bởi những cá nhân cụ thê nhưng họ thực hiện hành vi đó không phải với tư cách cá nhân mà với tư cách tổ chức Vì vậy, sẽ là không công bằng khi tổ chức đã “có lỗi”

Trang 23

trong việc đê cá nhân thực hiện tội phạm lại không phải chịu trách nhiệm hình

sự trong khi cá nhân thực hiện hành vi với tư cách tô chức lại phải chịu trách nhiệm hình sự Mặt khác, việc không áp dụng loại chế tài hình sự đối với các

tố chức sẽ làm gia tăng sự coi thường pháp luật của các tổ chức Hiện nay, đối vói các tố chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, Nhà nước chỉ có the xử

lý hành chính hoặc dân sự Điều đó chưa đảm bảo tính răn đe mạnh mẽ Vì vậy, việc áp dụng chế tài hình sự, ngay cả khi đó là hình phạt tiền thì vẫn bảo đảm tính cưỡng chế nghiêm khắc hơn nhiều so với các chế tài hành chính và dân sự Từ sự phân tích trên, việc đặt ra TNHS cho các tổ chức nói chung, TNHS cua pháp nhân nói riêng là cần thiết và đã được nhiều nhà khoa học đcns; tìn h 17

Hiện nay, trách nhiệm hình sự của tổ chức nói chung trong đó có trách nhiệm hình sự của pháp nhân nói riêng đã được quy định trong pháp luật hình

sụ của nhiều nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Canađa, ổtxtrâylia, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sỹ, Trung Ọuổc, Singapore, Malaixia, Nhật B ản Trong một

số công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc phê chuẩn như Công ước của Liên Họp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước của Liên Hợp quốc về phòng chống tham nhũng, Công ước của Liên Hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đều đưa ra nguyên tắc cơ bản để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân đối với các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức Việc quy định trách nhiệm hình sự của

tồ chức trong Bộ luật hình sự hiện hành cần đảm bảo:

Thứ nhất, về phạm vi tổ chức là chủ thê của tội phạm: Hiện nay, cùng

với cá nhàn, chỉ nên quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm chứ không nên quy định tô chức nói chung là chủ thể của tội phạm Thực tiễn vi phạm pháp luật của tổ chức ở nước ta những năm qua cho thấy, hầu hết các vi phạm pháp luật nguy hiểm đáng kể cho xã hội là do pháp nhân thực hiện Hơn nữa, chỉ các pháp nhân, với cơ cấu tổ chức chặt chẽ thì việc ràng buộc trach nhiệm cửa pháp nhân và người đứng đầu pháp nhân mới trở nên cần

th ết và phù họp

17 ','S Phạm H ồng Hái Pháp nhân có thế là chú thế cùa tội phạm hay không?, Tạp chí Luật học số 06/1999,

tr 14-19.

Trang 24

Thứ hai, Bộ luật hình sự cần bỏ sung một điều luật quy định về chủ thê cua tội phạm theo tinh thần: chủ the của tội phạm bao gồm cá nhân và pháp

nhân Bên cạnh điều luật này, cùng với Điều 12 và Điều 13, Bộ luật hình sự cần bổ sung thêm một điều luật quy định cụ thể các dấu hiệu cho phép xác định trường họp tội phạm được thực hiện bởi pháp nhân và nguyên tẳc truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân phạm tội Nội dung điều luật này có thể được quy định như sau:

Đ iều Các dấu hiệu và nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự trường họp tội phạm do pháp nhân thực hiện

1 Trong trường họp tội phạm do một hoặc nhiều người thực hiện với danh nghĩa pháp nhản, vì lọi ích của pháp nhản và ngirời đừng đầu pháp nhân

cỏ lôi trong việc đê tội phạm đỏ xảv ra thì tội phạm được xác định là do pháp nhàn thực hiện.

2 Trong trường họp pháp nhân phạm tội, cả pháp nhân và người đứng đầu pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của điều luật tương ứng.

Thứ ba, về phạm vi tội phạm cụ thê mà pháp nhân cỏ thế phải chịu trách nhiệm hình sự Theo chúng tôi, pháp luật hình sự Việt Nam chỉ nên quy

định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với một số tội phạm cụ thể như các tội phạm về môi trường, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội sản xuất, tàng trữ, buôn bán, tố chức sử dụng trái phép chất ma túy, tội đưa hối lộ Đây cũng là những tội phạm chủ yếu liên quan đến vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân ở nước ta trong những năm vừa qua

Cuối củng, về hình phạt đối với pháp nhân Xuất phát từ điều kiện thực

tiễn ở Việt Nam cũng như tính chất nghiêm khắc của hình phạt và quy trình tố tụng hình sự chặt chẽ, chúng tôi đề xuất lựa chọn hình phạt tiền là hình phạt chính duy nhất áp dụng đối với pháp nhân Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung các hình phạt bổ sung chỉ áp dụng đối với pháp nhân phạm tội trong những trường họp đặc biệt nghiêm trọng như tạm đình chỉ hoạt động, buộc chấm dứt hoạt động của pháp nhân Khác với pháp nhân, người đứng đầu pháp nhân vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự như trường họp cá nhân phạm tội tương ứng TRUNG TẦM THÔNG TIN THƯ Vlẹ

TRƯỜNG D Ạ i HỌC y U Â T j 3 À NÔ;

Trang 25

3 Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS về quyết định hình phạt chưa đối vói người chưa thành niên trong trường họp

c h u ấ n bị p h ạm tội, p h ạm tội chưa đạt và phạm nhiều tội

Nghiên cửu trách nhiệm hình sự (TNHS) của người chưa thành niên (CTN) phạm tội trong phạm vi đề tài nghiên cứu này tập trung vào một số nội dung sau:

- TNHS của người CTN phạm tội trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và việc quyết định hình phạt trong những trường họp này

- Quyết định hình phạt đối với người CTN phạm nhiều tội

3.1 Chuẩn bị phạm tội

Trên cơ sở các quy định của các Điều 12, 17 và 68, thì người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chỉ phải chịu TNHS về hành vi chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng

Nhóm tác giả đề tài nghiên cứu cho rằng, đối với người CTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuối không cần thiết phải truy cứu TNHS mà có thể áp dụng các biện pháp xử lí chuyển hướng vì những lí do sau đây:

Thứ nhất, Hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ là những hành vi ban đầu

tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm mà chưa có hành vi tác động đến đối tượng tác động, chưa gây thiệt hại cho khách thể mà luật hình

sự bảo vệ

Thứ hai, Nhận thức và hiểu biết của lứa tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi

còn rất hạn chế, chưa thấy hết tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, dễ bị lôi kéo, kích động cho nên đường lối xử lí đối với người CTN (nhất là đổi tượng dưới 16 tuổi) “ chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” (Điều 69 BLHS)

Thứ ba, trong thực tiễn xét xử tính đến nay, chưa có người nào từ đủ 14

đến dưới 16 tuổi.bị truy cứu TNHS về trường hợp chuẩn bị phạm tội

Như vậy, Điều 17 BLHS cần có quy định bổ: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS về việc chuấn bị phạm tội”

Trang 26

Đôi với độ tuối từ đủ 16 đên dưới 18 tuôi có hành vi chuân bị phạm tội thì cần thiết phải truy cứu TNHS, bởi vì trong độ tuổi này, họ đã có khả năng nhận thức tương đối đầy đủ về tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành v i ơ đây cần giải quyết việc quyết định hình phạt theo quy định của BLHS.

Trách nhiệm hình sự của người CTN có hành vi chuấn bị phạm tội được quy định tại các điều: Điều 17 - chuẩn bị phạm tội; Điều 52 - Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, Điều 71 - Các hình phạt được

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội; Điều 72 - Phạt tiền; Điều 73

- Cải tạo không giam giữ; Điều 74 - Tù có thời hạn; Điều 75 - Tông hợp hình phạt trong trường họp phạm nhiều tội, trong đó đáng chú ý nhất Điều 74 quy định hình phạt tù có thời hạn, với nội dung: “ Người chưa thành niên phạm tội

chi bị p h ạ t tù cỏ thời hạn theo quy định sau đ â y ” Theo Điều 74, người

CTN từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi không bị phạt quá 18 năm nếu tội thực hiện có khung hình phạt cao nhất là chung thân hoặc tứ hình và không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định hình phạt tù có thời hạn Theo quy định tại Điều

52 BLHS thì mức hình phạt áp dụng với người chuẩn bị phạm tội không quá

20 năm nếu điều luật có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình và không quá 1/2 mức cao nhất của khung hình phạt nếu điều luật quy định là khung hình phạt tù có thời hạn Như vậy, Điều 74 chỉ quy định chung cho người đủ 16 đến dưới 18 tuổi khi đã thực hiện tội phạm và mọi trường hợp không được phạt quá 18 năm tù (có thể được hiểu là trường họp phạm một tội hay phạm nhiều tội ) Nếu chỉ áp dụng Điều 52 BLHS để quyết định hình phạt đối với việc chuẩn bị phạm tội của người đủ 16 đến dưới 18 tuổi là không phù hợp với quy định tại Điều 74 BLHS về mức phạt tù và tất nhiên chưa thể hiện nguyên tắc giảm nhẹ hình phạt hơn so với người đã thành niên phạm tội

Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC số 01 ngày 12 -5 - 2006 tại mục 11 hướng dẫn vấn đề quyết định hình phạt tù nói chung đổi với người CTN phạm tội Theo Nghị quyết này, khi quyết định hình phạt, Toà án coi người phạm tội là người đã thành niên và quyết định mức hình phạt căn cứ theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành v i sau đó lấy mức 1/2 hoặc 3/4 mức phạt tù đó để quyết định hình phạt cho người CTN theo từng trường họp

Trang 27

cụ thê Hướng dẫn nêu trên có tính khoa học và rất thuận lợi cho việc áp dụng nhưng không phản ánh đầy đủ theo tinh thần quy định của Điều 74 BLHS Điên 74 BLHS chỉ nêu mức cao nhất mà hình phạt tù có thê áp dụng với

người CTN phạm tội chứ không phải quy định mức hình phạt tù bằng 3/4 hay

bằng 1/2 của mức hình phạt áp dụng với người đã thành niên phạm tội.

Từ những bất cập nêu trên, nhóm tác giả cho rằng cần quy định rõ người CTN phạm tội trường hợp nào thì phải chịu TNHS về hành vi chuẩn bị phạm tội và mức hình phạt cụ thê được áp dụng đối với họ như the nào Có như vậy, mới tạo sự thống nhất và thuận lợi cho việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm

Nếu hiếu Điều 52 BLHS quy định áp dụng đối với người đã thành niên

có hành vi chuẩn bị phạm tội có thế bị phạt đến 20 năm tù thì với nguyên tẳc người CTN phạm tội được giảm nhẹ so với người đã thành niên thì có the

áp dụng mức phạt không quá 12 năm tù hoặc không quá 1/3 mức cao nhất của khung hình phạt được áp dụng là phù hợp

Như trên đã đề cập, quyết định hình phạt đối với người CTN phạm tội hiện nay căn cứ vào các Điều 52 và Điều 74 BLHS Điều 74 BLHS quy định cho mọi trường hợp phạm tội mà không phân biệt các trường hợp chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt Nhóm tác giả cho rằng, cần có quy định mức hình phạt cụ thể riêng biệt đối với người CTN phạm tội chưa đạt để đảm bảo nguyên tắc giảm nhẹ hình phạt Mặt khác, cũng cần áp dụng nguyên tắc phân hoá TNHS với đối tượng đủ 14 đến dưới 16 tuổi để có đường lối xử lí khác so với độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi Điều này cần được thế hiện rõ ngay trong các quy định của luật hình sự phù hợp với từng đối tượng phạm tội Vì vậy, theo chúng tôi, trong BLHS cần có điều luật riêng quy định cụ thế hơn mức hình phạt và quyết định hình phạt đối với người CTN trong trường hợp phạm tội chưa đạt cũng như chuẩn bị phạm tội theo hướng đảm bảo nguyên tắc giảm nhẹ hình phạt cho những người này so với những trường họp tội phạm hoàn thành.18

18 N hùng kiến nghị cụ thể về điều luật xin xem ớ trang.

Trang 28

3.3 Quyết định hình ph ạt trong trường hợp người CTN phạm nhiều tội

Quy định tại Điều 75 BLHS hiện hành còn chưa thể hiện sự phân hoá các trường hợp phạm tội ở các độ tuôi khác nhau:

Nếu người phạm nhiều tội mà đều ở trong độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi hoặc từ đủ 16 đến dưới 18 tuối hoặc có tội thực hiện ở độ tuổi dưới 16 và

có tội được thực hiện đã đủ 16 tuổi v.v nếu áp dụng quy định Điều 74 và Điều 75 BLHS sẽ không có sự phân hoá các trường hợp cụ thể giữa các độ tuôi khác nhau và các trường hợp phạm tội khác nhau

Việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên (nhất là độ tuổi đủ 14 đến dưới 16 tuổi) chỉ khi thật cần thiết và với phương châm giáo dục thuyết phục là chủ yếu Nhưng cần phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng

và phân hóa TNHS Trường họp phạm nhiều tội phải có mức hình phạt cao hơn (cộng thêm 1/3 mức hình phạt như quy định về người đã thành niên, nếu một tội thì phạt không quá 20 năm tù và nhiều tội không quá 30 năm tù) Theo nguyên tắc này thì người dưới 16 tuổi phạm nhiều tội thì tống hợp hình phạt không quá 16 năm (một tội không quá 12 năm) Và người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì tống hợp hình phạt không quá 24 năm (một tội không quá 18 năm)

II ĐỐI VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHẦN CÁC TỘI PHẠM CỦA B ộ LUẬT HÌNH S ự

Đối với các quy định của phần các tội phạm của BLHS, đề tài tập trung nghiên cứu 4 nhóm vấn đề là: Một số vấn đề cần nghiên cửu, sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến quy định trong chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến quy định trong chương các tội xâm phạm an toàn công cộng; Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến quy định trong chương các tội phạm về chức vụ; Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến quy định trong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp Sau khi nghiên cứu, nhóm tác giả nghiên cứu đề tài đã đưa ra kết quả nghiên cứu cụ thê như sau:

Trang 29

1 Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến

quy địn h trong ch ư ơ n g các tội xâm phạm trật tự q u ả n lý kỉnh tế

Sau khi phân tích khái quát quy định của BLHS vế các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong BLHS năm 1999 với những sửa đối, bô sung so với BLHS năm 1985, tên gọi của chương, về cơ cấu các tội phạm trong chương và về nội dung quy định bao gồm tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, quy định các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt, cũng như các chế tài áp dụng, nhóm tác giả đã khắng định vai trò, tác dụng to lớn của các quy định của BLHS năm 1999 về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Nhóm tác giả phân tích rõ các yêu cầu của việc hoàn thiện BLHS về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế và đấu tranh chống các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong điều kiện hiện nay Các yếu cầu cụ thể của việc hoàn thiện BLHS về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được tập trung phân tích là:

- v ề lý luận: Quy định của BLHS nói chung, chương các tội xâm phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói riêng phải phù hợp với các điều kiện KT

- XH, phản ánh đầy đủ tình hình tội phạm cũng như vi phạm kinh tế trong giai đoạn hiện tại và những diễn biến trong tương lai

- v ề pháp lý: Quy định của BLHS nói chung và chương các tội xâm phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói riêng phải phù hợp với hệ thống pháp luật trong nước cũng như pháp luật quốc tế (đặc biệt là các điều ước quổc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia)

- v ề thực tiễn: Tổng kết hơn 8 năm thi hành BLHS cho thấy việc áp dụng các quy định của BLHS hiện hành nói chung, chương các tội xâm phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói riêng gặp không ít những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là trong một số lĩnh vực như chứng khoán, tài chính - kế toán, sở hữu trí tuệ xâm hại nghiêm trọng các quan hệ kinh tế và quản lý kinh tế, song lại không thể bị truy cứu TNHS do chưa được quy định là tội phạm trong BLHS

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009 (sau đây được gọi tắt là Luật sửa đổi, bổ sung) có nhiều quy định sửa đổi, bổ sung trong Luật sửa đổi, bổ

Trang 30

sung đối với chương “Các tội xâm phạm trật tự quán lý kinh tế” Cụ thế là: có

05 điêu luật được bô sung, quy định thêm các tội danh mới; 01 điêu luật được sửa đôi và chuyến sang từ chương các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân và 06 điều luật trong chương được sửa đổi các dấu hiệu cấu thành tội phạm hoặc chế tài áp dụng

Những điều chỉnh trên trong Luật sửa đổi, bổ sung góp phần thực hiện chủ trương nhân đạo hoá của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý tội phạm, phần tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, cập nhật một số hành vi vi phạm mới phát sinh trong một số lĩnh vực cần phải hình sự hoá để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và quy mô của một Luật sửa đối, bố sung nên phạm vi và nội dung của lần sưa đổi, bổ sung này được giới hạn, chủ yếu tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Bộ luật hình sự liên quan đến một số vấn đề bức xúc nhất của thực tiễn Bên cạnh những nội dung

đã được sửa đổi, bổ sung, một số quy định khác trong Chương này đã tỏ ra bất cập và thực tiễn áp dụng pháp luật đang đòi hởi phải được khẩn trương nghiên cứu, thống nhất ý kiến sửa đổi, bổ sung

Nhóm tác giả nghiên cứu đề tài đã đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bố sung quy địiih về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

1.1 Quy định về định lượng

Trong Chương XVI BLHS, bên cạnh một sổ điều luật có định lượng cụ the (theo đơn vị quy đổi thống nhất là đồng Việt Nam), nhiều điều luật còn định lượng ở dạng khái quát, chung chung, thậm chí trừu tượng như hàng phạm pháp

có sổ lượng lớn, rất lớn hay đặc biệt lớn (các điều 153, 154, 155, 158, 160, 164); thu lợi bất chính lớn, rất lớn hay đặc biệt lớn (các điều 153, 155, 156, 159, 160,

163, 164); gây hậu quả nghiêm trọng; rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng (các điều 153, 156, 157, 158, 160, 166, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 176,

177, 178, 179)

Định lượng ở dạng khái quát trong điều kiện kinh tế thị trường được coi

là cần thiết nhằm đảm bảo sự ổn định chung của pháp luật hình sự, tránh tình trạng phải liên tiếp “sửa luật” để theo kịp các biến động của kinh tế thị trường Tuy vậy, định lượng ở dạng khái quát phải đảm bảo yêu cầu “có thể

Trang 31

cự thê hóa được” (thông qua giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật), đông thời công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật phải đồng bộ, kịp thời.

Tính đến nay, BLHS năm 1999 đã có hiệu lực thi hành hơn 10 năm, song các cơ quan chức năng vẫn chưa thể ban hành văn bản giải thích, cụ thể hóa, hướng dần áp dụng các quy định của Chương XVI BLHS Có lẽ tính phức tạp, đa dạng của đối tượng được định lượng khiến cho các tiêu chí khái quát trở nên “quá khó” để được cụ thể hóa Thực tiễn vi phạm về kinh tế và

yêu cầu xử lý các vi phạm về kinh tế đòi hỏi cấp bách là phải cụ thể hóa các

dấu hiệu định lượng trong luật, bởi lẽ định lượng mang ý nghĩa là điều kiện truy cứu TNHS trong tuyệt đại đa số các điều luật của Chương XVI BLHS (ngoài ra còn với ý nghĩa phân hóa TNHS)

Định lượng có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng TNHS đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, nhưng hướng dẫn về định lượng để xác định TNHS đổi với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế còn rất thiếu, thực sự chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xử lý các vi phạm và tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế hiện nay N hư vậy, yêu cầu cấp bách

là phải kịp thời có hướng dẫn về định lượng Bên cạnh đó, một số điều luật lựa chọn tiêu chí định lượng theo số lượng hàng phạm pháp là chưa thực sự hợp lý, cần được nghiên cứu sửa đổi

Do sự đa dạng về chủng loại và khác biệt về giá trị các loại hàng hóa nên việc định ra mức chung để coi là “số lượng lớn” đối với tất cả hàng hóa gần như là không thể Ngay cả việc đưa ra một hướng dẫn thể nào là “số lượng lớn'’ đối với tùng loại hàng hóa cũng rất phức tạp, vì việc cụ thể hóa không thể theo chủ quan mà cần dựa trên cơ sở khoa học, thống nhất Đây cũng là lý do chính khiển cho chúng ta chưa thể có được một văn bản hướng dẫn chung áp dụng các quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, định lượng đối với các tội phạm này nói riêng Nhóm nghiên cứu đề tài đã đưa ra những đề xuất cụ thể định lượng với các đối tượng khác nhau như hàng cấm, hàng giả, tem, vé g iả

1.2 Quv định các dấu hiệu về nhãn thân vói ỷ nghĩa là điều kiện áp dụng TNHS

Một trong những điểm sửa đổi phổ biến của BLHS năm 1999 nói chung, Chương XVI nói riêng là việc đưa thêm các đặc điểm (xấu) thuộc về

Trang 32

nhản thân người phạm tội như đã bị xử phạt hành chỉnh, đã bị xư lý kỷ luật hoặc đã bị kết án mà còn vi phạm làm điều kiện áp dụng TNHS (bị coi là tội

phạm và phải chịu TNHS) 1Ọ

v ề lý luận, quy định các đặc điếm xẩu về nhân thân người phạm tội với

ý nghĩa xác định hành vi là tội phạm và phải chịu TNHS là thiếu hợp lý, trái với các nguyên tắc pháp chế và nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam Một người dù nhân thân của họ có xấu đến mức độ nào đi chăng nữa thì cũng không được phép lấy đó làm căn cứ phân định tội phạm và không là tội phạm Đặc điểm xấu về nhân thân không có ý nghĩa quyết định hành vi trở thành hành vi phạm tội mà chỉ có ý nghĩa làm tăng mức hình phạt cho người thực hiện hành vi phạm tội để đảm bảo cho hình phạt đạt được mục đích °

v ề thực tế, quy định này đã mở rộng phạm vi xử lý hình sự những hành

vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (chưa đạt định lượng mà điều luật quy định) Thậm chí có thể dẫn đến tình trạng xử lý hình sự tràn lan những trường hợp đã bị xử phạt hành chính, đã bị xử lý kỷ luật, đã bị kết án mà không cần tính đến tính chất, mức độ của lần vi phạm sau

Nhóm nghiên cứu đề tài đề xuất bỏ quy định các đặc điểm (xấu) về nhân thân người phạm tội là điều kiện truy cứu TNHS ở các tội xâm phạm trật

tự quản lý kinh tế cũng như các tội phạm khác

1.3 Quy định các dẩu hiệu định khung hình phạt

Quy định của BLHS về các dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế còn chưa thật sự hợp lý, đặc

9 T hống kê cho thấy 21/29 điều luật có quy định đặc điểm xấu về nhân thân với ý nghĩa xác định TNHS; 18/21 điều luật quy định nhiêu đặc điếm xấu về nhân thân cùng với ý nghĩa xác định TN H S; 18/21 điêu luật quy định đặc diêm “đã bị xừ phạt hành chính" với ý nghĩa xác định TNHS (các điều 153, 154, 155, 156, 158, 15l>, 161, 162, 164, 166, 167, 168, 170, 171, 173, 175, 177, 178); 8/21 điều luật quy định đặc điểm “đã bị xứ

lý ký luật “ với ý nghĩa xác định TNHS (các điều 165, 166, 167, 170, 174, 176, 177,’ 178); 16/21 điều luật quy định đặc điềm “đã bị két án” với ý nghĩa xác định TNHS (các điều 153, 154, 155, 156, 158, 159, 161,

162, 164, 167, 168, 171, 173, 175, 177, 178); 2 điều luật quy định đặc điểm xấư về nhản thân là điều kiện xác định TN H S độc lập (điều 159 và 174); 9 điêu luật quy định đặc điếm xấu vê nhân thân là điêu kiện xác định

TN H S có ý nghĩa tươníĩ đưưng, có thê thay thế trong trường hợp dâu hiệu hậu quả không thoả mân (điêu 162,

167, 168, 171, 173, 175 176, 177 và 178); 8 điều luật quy định đặc điểm xấu về nhân thân là điều kiện xác định TNHS bồ sung cho các dấu hiệu giá trị, số lượng hàng phạm pháp, số tiền thu lợi bất chính khi chưa đến

m ức định lượng mà điều luật quy định (các điều 153, 154, 155, 156, 158, 161, 164 và 166); 2 điều luật quy định đặc điếm xấu về nhân thân là điêu kiện xác định TNHS khi kết hợp với dâu hiệu hậu quả (điêu 165 và 170) (xem LATS Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quán lý kinh te - Nguyễn Vãn Nam - 2008)

20 X em PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm vù cẩu thành tội phạm , NXB C A N D , 2006, tr 188-190.

Trang 33

biệt chưa đáp ứng được yêu cầu phân hoá TNHS Trong chương XVI BLHS năm 1999, nhiều dấu hiệu phản ánh các mức độ nguy hiểm cho xã hội khác xa nhau, nhưng lại được quy định với vai trò định khung hình phạt như nhau

(cùng là dấu hiệu định khung tăng nặng trong một khung hình phạt) như gây hậu quả rát nghiêm trọng và gâv hận quả đặc biệt nghiêm trọng (điêm c

khoán 2 điều 169, điểm c khoản 2 điều 170, khoản 2 điểm c điều 171, khoản

2 điều 172, khoản 2 điểm c điều 173, khoản 2 điều 177, khoản 2 điều 178);

phạm tội trong trường họp rât nghiêm trọng và phạm tội trong trưồTig hợp đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 điều 175, khoản 3 điều 180, khoản 3 điều 181); thu lợi bất chính rắt lỏn và thu lợi bất chính đặc biệt /Ớ77 (điểm b khoản

3 điều 156 )

Nhóm nghiên cứu đề tài đề xuất cần thiết phải bổ sung một số dấu hiệu phản ánh mức độ nguy hiểm của tội phạm tăng đáng kể với ý nghĩa định khung hình phạt tăng nặng Cụ thể là bổ sung tình tiết định khung “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” ở tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả; tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả; tội làm, tàng trữ, vận chuyến, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác

Trong điều kiện trước mắt chưa thể thừa nhận TNHS của pháp nhân, cần quy định tình tiết định khung tăng nặng “lợi dụng tư cách pháp nhân để phạm tội” ở một số tội phạm như tội buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ qua biên giới, buôn bán hàng cấm, trốn thuế

1.4 Quy định về hình phạt tiền

Điều 30 khoản 1 BLHS xác định “Phạt tiền được áp dụng là hình phạt

chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh

tế Tuy nhiên, trong nhiều điều luật chương các tội xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế , hình phạt tiền lại được quy định trong chế tài của các tội phạm nghiêm trọng Ví dụ, chế tài ở khoản 1 Điều 155: phạt tiền từ năm triệuđồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm” Đây thuộc loại tội phạm nghiêm trọng Có the thấy các quy định tương tự trong các điều 156 khoản 1, điều 158 khoản 1, điều 160 khoản 1 và điều 179 khoản 1 Các Toà án thực sự lúng túng khi cân nhắc lựa chọn áp dụng hình phạt tiền

Thực tiễn xét xử cho thấy khi cần áp dụng hình phạt bổ sung, xu hướng

Trang 34

chung các Toà án lại lựa chọn tịch thu tài sản Đây là hình phạt bô sung cũng thường được quy định trong chế tài lựa chọn với hình phạt bố sung là phạt tiền và đảm bảo tính khả thi hơn do đã có các hoạt động tố tụng kê biên, thu giữ tiên, tài sản Pháp luật hiện hành chưa có các quy định thực sự hữu hiệu

để đảm bảo tính khả thi của hình phạt tiền

Nhóm nghiên cứu đề tài đề xuất sửa phần chế tài ở khoản 1 các điều 156,

158, 160 và 179 theo hướng quy định phạt tiền là hình phạt chính duy nhất

2 Một số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến quy định trong chương các tội xâm phạm an toàn công cộng

Trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, các tội xâm phạm an toàn công cộng được quy định tại Chương 19 từ Điều 202 đến Điều 244 Sau khi BLHS được ban hành, Chính Phủ đã ban hành các văn bản hướng dẫn việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ, trật tự an toàn giao thông đô thị

và xử lý các hành vi vi phạm Đáp ứng yêu cầu cấp thiết của hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, BLHS Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung ngày

19 tháng 6 năm 2009 Theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng được quy định thêm 5 tội mới: Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị sổ (Điều 224 BLHS); Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 225 BLHS); Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin ừên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều

226 BLHS); Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a BLHS); Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b BLHS)

Ngoài việc bổ sung 5 tội để tạo khả năng pháp lý cần thiết, kịp thời đấu tranh phòng chống tội phạm mới xuất hiện do sự phát triển có tính chất bùng

nô của công nghệ thông tin, Bộ luật hình sự cũng sửa đôi một tình tiêt định khung cho tội vi phạm quy định về điều khiến phương tiện giao thông đường

bộ (Điều 202 BLHS) Theo đỏ, tình tiết “Phạm tội trong tình trạng sav rượu hoặc sav do dùng chất kích thích mạnh khác ’ được thay thế bằng tình tiêt

Trang 35

“Phạm tội trong tình trạng cỏ sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thơ

có nông độ côn vượt quá mức quy định hoặc củ sứ dụng các chảt kích thích mạnh khác mà pháp luật cam sử dụng” Nhừng thay đổi cụ the trong Luật sửa

đổi và bổ sung một sổ điều của Bộ luật hình sự đối với các quy định về tội xâm phạm an toàn công cộng đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết, hữu hiệu để đấu tranh phòng chống loại hình tội phạm này trên toàn lãnh thố Việt Nam

Nhóm tác giả nghiên cứu để tài sau khi phân tích những hạn chế, bất cập của các quy định của BLHS liên quan các nhóm tội cụ thê xâm phạm an toàn công cộng đã rút ra các nhận xét và đề xuất biện pháp hoàn thiện quy định của BLHS đối với nhóm tội này là:

- Phân hóa hơn nữa trách nhiệm hình sự của người phạm tội theo hướng cần quy định khung hình phạt cho trường hợp gây hậu quả chết người độc lập với khung hình phạt chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe hoặc tài sản;

- Bô sung hình phạt tiền hoặc nâng mức phạt tiền cho các khung hình phạt cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở V iệt N am hiện nay và đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa tội phạm xâm phạm an toàn công cộng;

- Sửa đổi nội dung tình tiết “có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc

biệt nghiêm trọng nêu không được ngăn chặn kịp thời” thành có kha năng thực tế dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời

Những thay đối trên là cấp thiết để tạo cơ sở pháp lý quan trọng, kịp thời và

có hiệu quả trong đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm trật tự công cộng

ở Việt Nam hiện nay.

3 M ột số vấn đề cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến

q u y địn h trong c h u o n g các tội phạm về chức vụ

Trong BLHS nước ta, có thể nói các tội phạm về chức vụ là một trong các tội phạm được xây dựng khá chi tiết, cụ thể với cả các quy định phần chung về các khái niệm cả các quy định cụ thể về các tội phạm Kỳ thuật lập pháp này đã tạo nhiều thuận lợi cho việc áp dụng các quy định của BLHS trong thực tiễn xét xử tội phạm Tuy nhiên, trải qua hơn mười năm mà đặc biệt là với sự ra đời của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 thì đã xuất những hạn chế trong các quy định trong chương các tội phạm về chức vụ cân được hoàn thiện như sau:

Trang 36

3.1 Khách thê: Các tội phạm vẽ chức vụ là những hành vi xâm phạm Jioạt động đúng đăn của cơ quan, tô chửc“ Đê đảm bảo „hoạĩ động đứng đãìi của

cơ quan, tỏ ch ứ c' thì trước hết cần phải đảm bảo hoạt động đúne đắn, khách

quan, vô tư, trung thực, không thiên vị, không vụ lợi của các cán bộ, công chức Mặt khác, cũng cần phải bảo vệ quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức trong các trường họp người phạm tội sử dụng hoặc lợi dụng (lạm dụng) chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt Như vậy, có thể hiểu khách thể của các tội phạm về chức vụ như sau:

Khách thể của các tội phạm về chức vụ là hoạt động đủng đắn, khách quan, trung thực, vô tư, không thiên vị và không vụ lợi của cán bộ, công chức

và quyên sở hữu của nhà nước, của tô chức hav của cả nhân.

3.2 Chủ thế của tội phạm: Điều 277 quy định các tội phạm về chức vụ là các

hành vi “do người có chức vụ thực hiện trong khi thi hành công vụ” Theo định nghĩa này, chủ thể của các tội phạm về chức vụ phải là chủ thể đặc biệt:

là những người có chức vụ Khái niệm “chức vụ” chưa được định nghĩa trong các văn bán luật ngay cả Luật cán bộ, công chức năm 2008 cũng không đưa ra định nghĩa này Điều 277 đã định nghĩa: “Người có chức vụ” là người “được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ” Ở đây cần phân biệt rõ ràng khái niệm “chức vụ” và

“người có chức vụ” với khái niệm “người thực hiện chức năng quản lí (cán bộ quản lí)” Có thể chia cán bộ, công chức thành hai nhóm: Nhóm những người

có chức năng quản lí, điều hành hoạt động của các cơ quan, tổ chức và nhóm những người đơn thuần chỉ thực hiện các công việc chuyên môn, nghiệp vụ

Do phải thực hiện chức năng quản lí hành chính nên những người thuộc nhóm này được giao những quyền hạn tương ứng với vị trí công tác của họ để đảm bảo họ có thế thực hiện tốt chức năng quản lí điều hành của mình Vì vậy đối với nhóm người này, việc xác định người có chức vụ là không khó cả trong lí luận cùng như thực tiền xét xử Nhóm thứ hai là những cán bộ, công chức chỉ thực hiện các công việc chuyên môn, nghiệp vụ đơn thuần Bất kì một cán bộ, công chức nào cũng được giao một nhiệm vụ và được giao những quyền hạn nhất định tương ứng để thực thi nhiệm vụ đó Khi đó, những người này hoàn toàn có thê sử dụng hoặc lợi dụng (hay lạm dụng) quyền hạn của mình được

Trang 37

giao đê thực hiện các hành vi phạm tội về chức vụ Như vậy, khái niệm chức

vụ, quyền hạn là khái niệm luôn gan với khái niệm công vụ

Công vụ là những hoạt động do cán bộ, công chức nhân danh Nhà nước thực hiện trên cơ sở các quy định cua pháp luật nhằm phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, xã hội, cũng như các lợi ích chính đáng của mọi cá nhân, tô chức trong xã hội

Mồi vị trí công tác đều đưọc giao những quyền hạn tương ứng đế thực hiện nhiệm vụ (công vụ được giao) Các cán bộ, công chức chỉ cần sử dụng, lợi dụng hay lạm dụng quyền hạn được giao là có thề thực hiện được các hành

vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức hay xâm phạm sở hữu của người khác Điều đó có nghĩa là ngay cả những cán bộ, công chức bình thường, khi được giao những quyền hạn nhất định để thực thi nhiệm vụ thì đều có thể là chủ thể của tội phạm về chức vụ

3.3 Các tội phạm về tham nhũng

Điều 1 khoản 2 Luật phòng, chống tham nhũng định nghĩa: „Tham nhũng là hành vi cùa người cỏ chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đỏ vì vụ Ịợi“ Với định nghĩa đó, hành vi tham nhũng là những hành vi có

các đặc điếm cơ bản sau đây:

- Là hành vi do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện

- Hành vi tham nhũng phải là những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi

Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng đã liệt kê mười hai nhóm hành

vi tham nhũng Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng chông tham nhũng đã cụ thể hóa thêm những nhóm hành vi tham nhũng chưa được quy định cụ thể trong Luật phòng chống tham nhùng tại điều 3 Đối chiếu các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng và các quy định của Nghị định 120/2006/NĐ-CP, chúng ta thấy phạm vi các hành vi tham nhũng không chỉ bao gồm bảy nhóm hành vi tương đương với bảy tội danh được quy định trong Mục A chương XXI BLHS mà rộng hơn nhiều Điều này không chi tạo ra sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật mà còn tạo ra sự bất

Trang 38

họp lí khi một số hành vi vi phạm bị coi là hành vi tham nhũng nhưng khi

những hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì tội phạm phạm đó lại

không bị coi là tội phạm về tham nhũng Căn cứ vào các quy định của Luật

phòng, chống tham nhũng và Nghị định 120/2006/NĐ-CP, đối chiếu với

BLHS hiện hành cho thấy, cần phải xác định 21 tội danh thuộc nhóm tội

phạm về tham nhũng Nghiên cứu quy định của BLHS về tội phạm tham

nhũng cho thấy vẫn còn những bất cập như sau:

- Do khái niệm về chủ thể của các tội phạm về tham nhũng chỉ giới hạn

là người có chức vụ, quyền hạn nên một số trường họp, hành vi có mối quan

hệ rất mật thiết với việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi nhưng không

được quy định là tội phạm về tham nhũng như các tội đưa hối lộ, môi giới hổi

lộ và tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi

Điều 15 Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng đã không chỉ coi

hành vi nhận hổi lộ là hành vi tham nhũng mà cả hành vi đưa hối lộ cùng bị

coi là hành vi tham nhũng và cần phải bị xử lí nghiêm khắc.21 Pháp luật hình

sự của CHLB Đức cũng coi tội đưa hối lộ là một trong các tội phạm về tham

nhũng.22 BLHS của tiểu bang Texas tại chương 36 với tiêu đề hối lộ và tham

nhũng, các nhà lập pháp cũng quy định bên cạnh tội nhận hổi lộ là tội đưa hối

lộ, thậm chí hai tội này còn được quy định chung trong cùng một điều luật

đan xen với nhau như hai mặt gắn bó, không thể tách rời của một hiện

tượng.23 Sở dĩ pháp luật của nhiều quốc gia coi tội đưa hối lộ là tội phạm về

tham nhũng là vì đưa và nhận hối lộ là hai mặt gắn bó mật thiết với nhau

Hành vi làm môi giới hổi lộ cũng không nằm ngoài phạm vi này Ngoài ra,

hành vi lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi

cũng là loại hành vi có quan hệ mật thiết với người có chức vụ, quyền hạn

Qua hành vi này, hoạt động khách quan, vô tư, trung thực, không thiên vị,

không vụ lợi của các cán bộ, công chức cũng như hoạt động đúng đắn của cơ

21 Xem: Điều 15 United Nations C onvcntion against Corruption Nguồn:

h ttp : \Y \v \v u n o d c o re /p d f';c o r r a p tio n /p u b lic a tio n s u n o d c c o n v e n tio n -e p d ỉ‘.

Vê vàn đề này xin xem thêm: Trần Hừư Tráng, Sđd, tr 319, 320.

Xem: Trần Hừu Tráng, Các tội đưa và nhận hối lộ của Luật hình sự Hoa kì tronự sự so sánh với luật hình

sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số 12/2010, tr 51 (57); Xem điều 36.02 BLHS tiêu bang Texas, nguồn:

h u p ://\Y \v \v a u s tin tc x a s c r im in a ỉd c f e n s e c o ir t'■'penalcode.html.

Trang 39

quan, tô chức bị xâm hại Tại khoản a điều 18 Công ước cua liên họp quôc vê chông tham nhũng cũng coi hành vi của người lợi dụng ảnh hưởng đôi với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi thuộc hành vi tham nhũng.2

Vướng mắc lớn nhất khi quy định ba tội danh này vào nhóm các tội phạm về tham nhũng đó là chủ thể của tội phạm Sau khi nghiên cứu các quy định của BLHS về tội phạm tham nhũng, nhóm nghiên cứu cho rằng cần phải

mỏ rộng phạm vi chủ thể của các tội phạm về tham nhùng nói riêng cũng như các tội phạm về chức vụ nói chung theo hướng không chỉ giới hạn trong những người có chức vụ, quyền hạn Theo đó các khái niệm cơ bản như khái niệm “Tội phạm về chức vụ”, khái niệm “Tham nhũng”, hay khái niệm “Tội phạm về tham nhũng” cần phải được sửa đổi cho phù hợp Việc mở rộng như vậy không chỉ giải quyết được vấn đề đối với ba tội danh nói trên mà còn giúp cho việc mở rộng hành vi tham nhũng sang lĩnh vực tư nhân Điều này cũng phù họp với xu thế chung của thế giới cũng như của nhiều nước trên thế giói Ví dụ Điều 21 công ước của liên hợp quốc về chổng tham nhũng đã quy

định về “Hổi lộ trong khu vực tư ”25 hay Điều 22 của Công ước quy định về , Jỉiển thủ tài sản trong khu vực“ 6

Với các quy định này, chúng ta thấy chu thể của tội phạm về tham nhũng đã không còn giới hạn trong phạm vi những người có chức vụ, quyền hạn là cán bộ, công chức mà đã được mở rộng ra cả phạm vi những người có chức vụ, thậm chí cả nhân viên trong các tổ chức thuộc khu vực tư Pháp luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã mở rộng khái niệm của chủ thể của tội phạm về tham nhũng ra ngoài phạm vi công chức như pháp luật hình sự CHLB Đức27

Một điểm nữa cũng cần được khắc phục đó là về kĩ thuật lập pháp của các tội phạm về chức vụ Trong khi hầu hết các tội phạm thuộc mục A chương XXI đều có định lượng về giá trị tài sản để phân biệt giữa tội phạm và

vi phạm pháp luật, thì Điều 281 và 282 BLHS lại không có quy định về dấu

24 Xem: Điều 15 United Nations Convention against Corruption Nguôn:

h tt p :7 v v \v \v u n o d c o ru /p d f/c o m ip tio iiy p u b lic a tio n s u n o d c c o n v e n t i o n - c p d f

25 Điều 21 United Nations Convention against Corruption Nguồn:

h ttp :( /w \v w u n o d c o r tf /p d t/c o r r u p ti o n /p iib lic a tio n s u n o d c c o n v c n t i o n - e Ị x ií

Điều 22 United Nations Convention against Corrưption Nguôn:

h ttp i-ýxvAvxv.u nodc.o ru /pdửcorruption/p ubl i c a t i o n s _ u n o d c _ c o n v c n t i o n - c p d f

27 Xem Trằn Hừu Tráng, Sđd, tr 321, 322.

Trang 40

hiệu định lượng này Điều này rõ ràng sẽ tạo ra sự bất hợp lí trong mối tươne quan của các điều luật này so với các điều luật khác.2x

3.4 Hu&ng hoàn thiện các quy định trong chương các tội phạm về chức vụ

Từ những phân tích ở trên, chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến để hoàn thiện các quy định của

- Hoàn thiên các khái niêm• •

Điều 277 nên được đặt tên là xác định các khái niệm hay định nghĩa các khái niệm Theo chúng tôi, điều này cần làm rõ các khái niệm “tội phạm về chức vụ”, “công vụ” và “tội phạm về tham nhũng”

+ Khái niệm tội phạm chức vụ.

Tội phạm về chức vụ là những hành vi phạm tội có liên quan đến việc sử dụng hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn xâm phạm hoạt động đúng đan, khách quan, trung thực, vô tư, không thiên vị và không vụ lợi của cán

bộ, công chức và xâm hại quyền sở hữu của nhà nước, của tố chức hay của

cá nhân

+ Khái niệm “tham nhũng”

Tham nhũng là những hành vi có liên quan đến việc sử dụng hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi

+ K h ái niệm tội p h ạ m v ề th a m n h ũ n g

Tội phạm về tham nhũng là những hành vi phạm tội có liên quan đến việc sử dụng hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi

- Xác định các tội phạm về tham nhũng

Như trên đã phân tích, cần phải xác định rõ nhóm các tội phạm về tham nhũng tại Mục A chương XXI bao gồm trước hết là các tội danh: Tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS), Tội nhận hối lộ (Điều 279 BLHS), Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS) Ngoài ra để đáp ứng yêu cầu của hoạt động đấu tranh chống tham nhũng, chúng ta cũng cần phải nghiên cứu rà soát lại toàn bộ các quy định của BLHS để có thế nhóm tất

28 v ề Vấn đề này, xem thêm: Nguyền Duy Giảng, Một số vấn đề lí luận và thực tiền về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, Tạp chí Kiểm sát số 22 (Tháng 11/2006), tr 51 và các trang tiếp theo.

Ngày đăng: 16/02/2021, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w