Thứ tư, kết quả nghiên cứu đề tài, trong một mức độ nhất định, có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên và sinh viên trong nhà trường và các cơ sở đào tạo luật khác liê
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT Q U Ố C TẾ
TR U N G T Â M N G H IÊ N c ú u LUẬT A SEA N
***
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP c ơ SỞ
" MỘT SỐ Cơ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG LUẬT QUỐC TẾ "
Chủ nhiệm dề tài' T hạc sỹ Nguyễn Thị Thuận, Giám đốc trung tâm nghiên cứu Luật
ASEAN, Khoa pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà nội
Các cộng tác viên viết bài cho đề tài:
1 Tiến sỹ Nguyễn Hồng Thao, Ban Biên giới của Chính phủ.
2 Tiến sỹ Dương Thanh Mai, Phó Viện trưởng Viện NCKHPL, Bộ Tư pháp.
3 Thạc sỹ Nguyễn Thanh Tâm, Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà
4 Nguyễn Công Khanh, Chuyên viên Vụ Pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế, Bộ tư
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
Phần thứ nhất: Sự cần thiết và mục đích nghiên cứu đề tài 4
t
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế 9
2 Các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế 10
II Một số cơ chế giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế 17
/ Cơ c h ế giải quyết tranh chấp của Liên hợp quốc 17
3 Cơ c h ế giải quyết tranh chấp của (WTO) • 27
4 Cơ c h ế giải quyết tranh chấp theo Công ước của LHQ vê Luật Biển
5 Cơ c h ế giải quyết tranh chấp quốc t ế của Liên minh châu Au , _ 33III Kiến nghị về những đóng góp của Việt Nam vào cơ chế giải quyết 35
tranh chấp quốc tế
Phần thứ ba: Các chuyên đề do cộng tác viên thực hiện 42
Chuyên đề l: Khái quát về vấn đề giải quyết tranh chấp trong Luật 42 quốc tê
Chuyên đề 2: Cơ chế giải quyết tranh chấp của Liên hợp quốc 67
Chuyên đê 3: Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 97
Chuyên đề 4: Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 119
Chuyên đề 5: Cơ chế giải quyết tranh chấp của Liên minh' châu Âu 135
Chuyên đề 6: Cơ chế giải quyết tranh chấp theo CƯ Luật Biển 1982 156
Trang 4BẢO CÁO PHÚC TRÌNH
KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỂ TÀI
*
A PHẦN THỨ NHẤT
SỤ CẨN THIẾT VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ứ u ĐỂ TÀI
I Sự CẦN THIẾT NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
1 Lịch sử hình thành và phát triển của Luật quốc tế luôn gắn liền với chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại của các quốc gia, phản ánh quá trinh liên
kết, hợp tác, thương lượng và đấu tranh giữa các chủ thể của Luật quốc tế trong
việc củng cố, duy trì và bảo vệ lợi ích của các chủ thể, phù hợp với sự tương
quan tổng hoà lợi ích chung của cộng đồng quốc tế Tuỳ thuộc vào mức độ kết
quả đạt được trên cơ sở thoả hiệp giữa các quốc gia về những mục tiêu cơ bản
mà họ đặt ra trong quan hệ quốc tế, mà cho thấy trạng huống cân bằng giữa các
lực lượng chính trị trong xã hội Tuy nhiên, đảm bảo sự dung hoà lợi ích thường
là yêu cầu khó khăn nhất đối với mọi quốc gia khi tham gia vào quan hệ quốc tế
Điều này trước hết phụ thuộc vào bản thân mỗi quốc gia (trong việc hoạch định
chính sách đối ngoại cũng như đối nội) và tương quan lực lượng trong xã hội
Cũng chính từ đó, những bất đồng, mâu thuần, xung đột, tranh chấp giữa các
quốc gia thường xuyên xảy ra Điều đó phản ánh trạng huống bất ổn định của sự
cân bằng về lợi ích giữa các chủ thể và vì thế từ lâu đã trở thành nguyên nhân cơ
bản của mọi xung đột quốc tế
Một trong những điểm khác nhau căn bản của Luật quốc tế hiện đại so với
Luật quốc tế ở các thời kỳ trước đây là ở chỗ, nếu như ở các thời kỳ trước, xu thế
"cá lớn nuốt cá bé" được coi là hiện tượng phổ biến và chiến tranh được sử dụng như biện pháp hợp thức giải quyết mọi tranh chấp quốc tế, thì Luật quốc tế hiện
đại không chấp nhận và coi đó là hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc
cơ bản của Luật quốc tế Lê-nin đã chỉ ra rằng, cần phải giải quyết những bất đồng quốc tế bằng con đường thương lượng hoà bình, đồng thời cần lên án các cuộc chiến tranh thế giới như những biện pháp tàn khốc nhất giải quyết các mâu thuẫn trong lịch sử nhân loại
Trang 5Luật quốc tế hiện đại, xuất phát từ lợi ích chung của toàn nhân loại về việc
bảo vệ nền hoà bình và an ninh thế giới, đã coi vấn đề giải quyết tranh chấp quốc
tế bằng biện pháp hoà bình là một trong những nguyên tắc cơ bản có hiệu lực
jus cogens đối với mọi chủ thể khi tham gia vào các quan hệ quốc tế Hiến
chương Liên hợp quốc nghiêm cấm việc dùng chiến tranh như một biện pháp
giải quyết các bất đồng giữa các quốc gia Cùng với đó, vấn đề giải quyết tranh
chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình đã được khẳng định rõ trong nhiều văn
kiện pháp lý quốc tế và ngày càng trở thành chuẩn mực của nền văn minh nhân
loại
2 Trong bối cảnh quốc tế đang có nhiều biến đổi, đứng trước thực trạng toàn cầu hoá đang diễn ra ngày một mạnh mẽ, thì lẽ ra các quốc gia càng phải
nghiêm chỉnh tuân theo nguyên tắc tối quan trọng là giải quyết tranh chấp quốc
tế bằng biện pháp hoà bình, trên tinh thần hợp tác thương lượng, nhưng đáng tiếc
nhiều quốc gia lại quay về với biện pháp muôn thuở đã diễn ra trong quá khứ tàn
khốc là sử dụng vũ khí quân sự thay cho đối thoại, đàm phán Mới đây nhất là sự
kiện khủng bố quốc tế tại Hoa Kỳ ngày 11/9/2001 và việc Mỹ trả đũa bằng cuộc
chiến tranh trên quy mô lớn nhằm thủ tiêu lực lượng Taliban của AI Quaeda ở
Afganistan, rồi mâu thuẫn giữa Ấn Độ - Pakistan từ vụ khủng bố toà nhà Quốc
hội Ấn Độ cũng đẩy quan hệ hai nước tới sát bờ vực của cuộc chiến tranh nguy
hiểm vì cả hai nước đều có vũ khí hạt nhân Đó thực sự là những hành vi nguy
hiểm đe doạ hoà bình và an ninh thế giới, thách thức cả loài người, một sự lật tẩy
trắng trợn bản chất dân chủ và tiến bộ của Luật quốc tế mà nhân loại đã và đang
cố gắng duy trì
Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định chủ
trương, chính sách hoà bình, hữu nghị và hợp tác trong quan hệ giữa các quốc
gia, đề cao việc giải quyết mọi xung đột, tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà
bình, hạn chế và lường tránh mọi khả năng dẫn đến xung đột vũ trang, nhất là
làm bùng phát chiến tranh, gây tổ thất cho dân thường Sau sự kiện khủng bố ở
Mỹ, nhất là trong tình hình Trung Đông đang có nhiều nguy cơ bùng nổ chiến
tranh dữ dội và có nguy cơ mở rộng phạm vi đến các nước khác trong khu vực,
quan điểm nhất quán của Nhà nước Việt Nam là duy trì một chính sách ngoại
giao hoà bình, hữu hảo với tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ
quyền và các bên cùng có lợi Chính đường lối ngoại giao này đã là một đóng
góp thiết thực cho việc ổn định hoà bình và an ninh quốc tế
Trang 6Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện, có tính
hệ thống về cơ c h ế giải quyết tranh chấp trong Luật quốc t ế nối chung và một sô
tổ chức quốc t ế liên Chính phủ nói riêng, trên cơ sở các học thuyết, quan điểm,
tư tưởng tiến bộ hiện nay về Luật quốc tế, là điều cần thiết và có ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn sâu sắc
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN cứ u ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu đề tài này là nhằm:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận khoa học và thực
tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp nói chung trong Luật quốc tế hiện đại (như khái niệm về tranh chấp quốc tế, phân loại các tranh chấp quốc tế); phân tích một cách hệ thống về các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế, qua đó làm nổi bật vai trò, ưu thế của biện pháp này trong việc giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể của Luật quốc tế (đặc biệt là các quốc gia) trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống chính trị
Thứ hai, nghiên cứu và đánh giá một cách tổng thể về cơ chế giải quyết
tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ một số tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên (như Liên hợp quốc-UN, Hiệp hội các nước Đông Nam Á-ASEAN) hoặc đang chuẩn bị gia nhập (Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO), cũng như trong khuôn khổ các điều ước quốc tế đa phương khác (như Công ước Luật biển năm 1982, Liên minh châu Âu) Từ đó nêu lên các ưu điểm, thuận lợi cũng như thách thức của cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ các tổ chức
đó Đồng thời, rút ra được bài học hợp lý cho Việt Nam trong giai đoạn hội nhập khu vực và thế giới hiện nay
Thứ ba, bước đầu có những nhận định, kiến nghị về đóng góp của Việt
Nam trong việc hoàn thiện phương thức giải quyết các tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ các tổ chức, diễn đàn quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Thứ tư, kết quả nghiên cứu đề tài, trong một mức độ nhất định, có thể
được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên và sinh viên trong nhà trường và các cơ sở đào tạo luật khác liên quan đến chương trình Luật quốc tế về giải quyết tranh chấp; phục vụ việc nghiên cứu để tìm ra phương pháp luận phù hợp khi đánh giá về hiệu quả của các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình (mà Việt Nam là một bên tranh chấp) trong thời gian qua
Trang 7III PHẠM VI NGHIÊN cứ u CỦA ĐỀ TÀI
Vấn đề tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế là một vấn
đề có phạm vi khá rộng Do đó, trong khuôn khổ một đề tài khoa học cấp cơ sở (cấp trường), với thời gian và khả năng có hạn, chúng tôi không có tham vọng nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về đề tài này, mà chủ yếu nghiên cứu một số vấn để về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế nói chung, thông qua các thiết chế của Liên hợp quốc và một số tổ chức quốc tế liên Chính phủ khác
Trên tinh thần đó, phạm vi của đề tài M ột sô cơ chê giải quyết tranh chấp
trong L u ậ t quốc tê chủ yếu gồm các nội dung như sau:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế Phần
này chủ yếu đề cập dưới góc độ lý luận chung của Luật quốc tế về vấn đề tranh chấp quốc tế, vai trò và đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình, đồng thời phân tích về một số biện pháp hoà binh giải quyết tranh chấp quốc tế
- Một s ố cơ c h ế giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế Phần này tập
trung phân tích về cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ một số
tổ chức quốc tế liên Chính phủ mà Việt Nam là thành viên (như UN, ASEAN) hoặc Việt Nam chuẩn bị gia nhập (như WTO), cũng như một số tổ chức khác (như EƯ) và cơ chế giải quyết trong Công ước Luật Biển 1982, làm rõ những điểm đặc thù trong mỗi cơ chế giải quyết tranh chấp đó, đồng thời bước đầu có
sự đánh giá sơ bộ về tính hiệu quả của các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế đó
- Kiến nghị về những đóng góp của Việt Nam vào cơ c h ế giải quyết tranh
chấp quốc tế Phần này chủ yếu nêu lên những đề xuất, kiến nghị của Ban Chủ
nhiệm đề tài (có tính chất nghiên cứu, tham khảo) về những đóng góp của Việt Nam trong việc hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế nói chung và trong các tổ chức quốc tế phổ cập mà Việt Nam là thành viên nói riêng
Từ đó, có thể xây dựng một chiến lược chung của Nhà nước ta trong quá trình giải quyết các tranh chấp quốc tế phát sinh trong quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia và chủ thể khác của pháp luật quốc tế
Trang 8IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu khoa học duy vật, biện chứng, lấy nền tảng là các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về nhà nước và pháp luật nói chung, cũng như quan điểm, đường lối chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước
Những phương pháp khoa học cơ bản được sử dụng để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài này bao gồm:
1 Phương pháp lịch sử cụ thể:
Lịch sử hình thành và phát triển của Luật quốc tế luôn phản ánh quá trình hợp tác, đấu tranh và thương lượng giữa các chủ thể nhằm đi đến thoả hiệp (thoả thuận) về lợi ích giữa họ trong quan hệ quốc tế Các tranh chấp phát sinh trong quan hệ quốc tế, phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của Luật quốc tế, được giải quyết bằng các biện pháp thích hợp Luật quốc tế hiện đại coi việc giải quyết tranh chấp phải bằng các biện pháp hoà bình là một trong những nguyên tắc cơ bản Phương pháp tư duy lịch sử cụ thể, kết hợp với các phương pháp khác, đã được sử dụng để làm rõ vấn đề đã nêu trong đề tài nghiên cứu này
2 Phương pháp phân tích tổng hợp:
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp phân tích tổng hợp - phương
pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học, trên cơ SƯ xem xét,
đánh giá, nhìn nhận từ nhiều góc độ, trên nhiều bình diện khác nhau Bằng phương pháp này, đề tài đã làm rõ một số vấn đề quan trọng về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp trong quan hệ ’quốc tế, đặc biệt trong một số tổ chức quốc tế phổ cập tiêu biểu được lựa chọn
3 Phương pháp so sánh:
Đề tài đã áp dụng phương pháp so sánh trong việc nghiên cứu, đánh giá và tham khảo thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ một số tổ chức quốc tế phổ cập (như Liên hợp quốc, ASEAN, WT O từ đó rút ra những điểm giống và khác nhau, những lợi thế cũng như đặc thù của mỗi cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế, phù hợp với cơ cấu tổ chức bộ máy và nguyên tắc hoạt động của mỗi tổ chức quốc tế cụ thể
4 Ngoài ra, đề tài còn áp dụng một số phương pháp khác như thống kê, thu nạp kết quả khảo sát, điều tra về lĩnh vực đã chọn
Trang 9PHẦN THỨHAI:
NHŨNG KẾT QUẢ CHÍNH CỦA ĐỂ t à i n g h i ê n c ú u
TRONG LUẬT QUỐC TẾ
1 Khái niệm "tranh chấp quốc tế"
1 1 Hiện nay trong khoa học pháp lý quốc tế chưa có cách hiểu thống nhất về khái niệm tranh chấp quốc tế Ngay cả trong Hiến chương của Liên hợp
quốc (LHQ) và nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng khác cũng không quy
định thế nào là tranh chấp CỊUOC tế Tuy nhiên, căn cứ vào thực tiễn quan hệ đối
ngoại và nhiều văn kiện pháp lý quốc tế cho thấy, khái niệm tranh chấp quốc tế
có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng,
tranh chấp quốc tế có thể được hiểu là những xung đột (bất đồng, mâu thuẫn,
tranh chấp) về lợi ích giữa các chủ thể của Luật quốc tế, bao gồm cả tình thế
(tình trạng, trạng huống) xung đột gây ảnh hưởng đến lợi ích của họ írong quan
hệ quốc tế Theo nghĩa hẹp, tranh chấp quốc tế có thể được hiểu là sự xung đột
giữa các chủ thể cùng tham gia vào một tranh chấp nhất định
Vì Luật quốc tế không quy định cụ thể về khái niệm này, nên việc hiểu nó
theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp cũng chỉ có tính chất tương đối và phụ thuộc vào
mục đích giải thích và áp dụng pháp luật quốc tế của mỗi chủ thể của Luật quốc
tế Do đó, cơ sở để nhận định về tính chất, ý nghĩa của khái niệm tranh chấp
cũng như cách thức phân loại các tranh chấp quốc tế cũng phải dựa trên các tiêu
chí khác nhau
1 2 Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy rằng, khi tham gia vào bất kỳ giao lưu quốc tế nào, các chủ thể (chủ yếu là quốc gia) đều đặt mục tiêu và phấn
đấu để đạt được những lợi ích cơ bản nào đó, có thể là lợi ích vật chất (kinh tế)
hoặc lợi ích phi vật chất (chính trị) Do đó có thế khẳng định rằng, không một
chủ thể của quan hệ quốc tế nào khi tham gia vào các giao lưu quốc tế lại không
mong muốn có được những lợi ích nhất định trong mối tương quan với các chủ
thể khác V] thế, nguyên nhân của mọi tranh chấp, bất đồng, xung đột quốc tế,
suy cho cùng cũng đều bắt nguồn từ mâu thuẫn vé lơi ích giữa các chủ thể
Ngoài ra, sự bất đồng về lợi ích nhiều khi còn phát sinh từ các tình thế (tình
trạng) giữa các quốc gia Nói cách khác, chính tình trạng quan hệ quốc tế còn là
cơ sở thực tế tạo ra cơ hội có lợi hay bất lợi đối với một hay nhiều quốc gia Vì
vậy, theo nghĩa rộng, tranh chấp quốc tế còn là hiện tượng xã hội phát sinh từ
Trang 10mộl tình thế nhất định nào đó trong quan hệ quốc tế gây ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia Do đó, có thê suy rộng ra rằng, sự dung hoà, cân bằng về mức độ lợi ích của các chủ thể, tự nó đã là một bảo đảm tích cực,cho quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa các chủ thể, lường tránh tối đa sự phát sinh các tranh chấp quốc tế.
Việc xác định hay phân biệt ý nghĩa của khái niệm tranh chấp, như đã nói
ở trên, cũng chỉ có tính chất ước lệ và nhằm tạo thuận lợi cho việc xác định các biện pháp giải quyết phù hợp đối với nó Ở đây hoàn toàn không có sự khác nhau về bản chất, nếu xét trên phương diện ý nghĩa, hậu quả pháp lý của việc phân biệt khái niệm tranh chấp theo hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau
1 3 Từ năm 1907 tại Lahay nhiều quốc gia đã ký Công ước về giải quyết hoà bình các xung đột quốc tế, trong đó khẳng định rõ các quốc gia thành viên
có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo việc giải quyết một cách hoà bình mọi tranh chấp quốc tế phát sinh Luật quốc tế hiện đại nghiêm cấm đề cập đến chiến tranh và yêu cầu phải giải quyết tất cả các bất đồng quốc
tế giữa các quốc gia bằng biện pháp hoà bình Điều đó xuất phát từ mục đích cùng chung sống hoà bình của các quốc gia và hoàn toàn phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc
Điều 33 của Hiến chương LHQ đã cụ thể hoá các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế và quy định rằng các quốc gia tham gia vào quá trình tranh chấp quốc tế mà việc kéo dài tranh chấp đó có thể dẫn đến sự đe doạ phá hoại hoà bình và an ninh quốc tế, trước tiên cần nỗ lực tìm cách giải qưyét tranh
chấp đó bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, toà
án, sử dụng những tổ chức hoặc hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ Ngoài ra, cũng tại Điều này còn quy định
nếu xét thấy cần thiết, thì Hội đồng Bảo an LHQ có quyền yêu cầu các bên giải quyết tranh chấp đó bằng biện pháp hoà bình
2 Các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tê
Căn cứ vào Hiến chương LHQ (chương VI), Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ nãm 1982 và nhiều văn kiện pháp lý quốc tế khác, các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế bao gồm: điều tra; trung gian; hoà giải; trọng tài, toà án; sử dụng những tổ chức hoặc hiệp định khu vực hoặc các biện pháp hoà bình khác theo thoả thuận của các bên
a) Đàm phán trực tiếp
Trang 11Đây là biện pháp hữu ích, mềm dẻo, quan trọng nhất, vì thế LHQ quyết định xếp nó vào vị trí thứ nhất trong hàng loạt các biện pháp hoà bình khác Thực tế đã chứng minh rằng, biện pháp đàm phán đã đem lại nhiều ý nghĩa và lợi thế hơn hẳn các biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tê khác Nó giúp cho các bên có cơ hội trực tiếp hiểu nhau hơn thông qua các kết quả đàm phán, việc xử
lý các bất đồng vì thế cũng nhanh chóng và có hiệu quá hơn Đồng thời nó còn loại bỏ khả năng tham dự của bên thứ ba vào vụ tranh chấp Do đó đòi hỏi các bên phải biết nhân nhượng, thoá hiệp trên các kết quả cụ thể
Luật quốc tế không quy định cụ thê về thê thức, thủ tục, thời gian và cấp đàm phán, mà chủ yếu do các bên tự thoả thuận với nhau Thông thường đàm phán được thực hiện thông qua hình thức gặp nhau trực tiếp hoặc trao đổi bằng công hàm (thư từ, điện tín) do cơ quan đối ngoại của quốc gia tiến hành theo đường ngoại giao Tuỳ thuộc vào tính chất đơn giản hay phức tạp, mức độ nghiêm trọng của tranh chấp mà đàm phán có thể được tiến hành ở các cấp khác nhau Đối với các tranh chấp phức tạp, nghiêm trọng thì thông thường mở đầu bằng hình thức đàm phán (trao đổi) ở cấp chuyên viên (như đàm phán Việt Nam
- Inđônêxia về thềm lục địa; đàm phán Việt nam - Trung Quốc về bicn giới) Sau
đó đàm phán được tiến hành ở cấp cao hơn nữa (như cấp đại sứ hoặc Bộ trưởng) Cuối cùng là đàm phán ở cấp cao nhất giữa những người đứng đầu Chính phủ hoặc nhà nước (như đàm phán giữa hai nguyên thú Nam Bắc Triều Tiên)
Đàm phán trực tiếp là hình thức quan trọng nhất trong đàm phán, chí có các bên tranh chấp trực tiếp gặp nhau trên bàn họp hoặc tại Hội nghị quốc tế (ví
dụ Hội nghị geneva năm 1962 về vấn đề của Lào) mà không có sự tham dự của bên thứ ba Tuy nhiên, thực tiễn ngoại giao cho thấy, trong một số trường hợp nhất định, các bên có thể không trực tiếp ngồi tại bàn họp (mặt đối mặt), mà tiến hành đàm phán với nhau thông qua trung gian (ví dụ đàm phán giữa Apganistan
và Pakistan được tiến hành thông qua Phó Tổng Thư ký LHQ Diego Cordoroz để
đi đến ký kết Hiệp định geneva 1988) Trong trường hợp này, trung gian chỉ làm nhiệm vụ của người chung chuyển ý kiến (truyền đạt đúng quan điểm, lập trường, ý kiến của bên này cho bên kia và ngược lại)
Trong mọi trường hợp, tranh chấp chỉ có thể giải quyết được một cách ổn íhoả trên cơ sở nhất trí về lợi ích của cả hai bên với tinh thần thiện chí và nhân nhượng lẫn nhau Vì vậy, đàm phán cần được tiến hành một cách khách quan, không có sự "chỉ thị" hoặc đe doạ từ bất cứ quốc gia khác
b) Môi giới, trung gian
Trang 12Các Công ước La-hay năm 1899 và 1907 về giải quyết các xung đột quốc
tế chỉ ra rằng, sự tham gia của bên thứ ba (không phải là một bên trong vụ tranh chấp) vào quá trình đàm phán có thể theo đề nghị của chính các bên tranh chấp, cũng như theo sáng kiến của bên thứ ba đó (được các bên tranh chấp đồng ý)
Theo quan điểm của nhiều Luật gia-Luật quốc tế hiện nay cho thấy, trên
thực tế thì có sự khác nhau nhất định giữa môi giới và trung gian Môi giới
(bonnes offices) chỉ là sự giúp đỡ của bên thứ ba, xuất phát từ thiện chí của mình, để các bên tranh chấp có thể đối thoại với nhau và cùng ngồi vào bàn đàm phán Sau khi các bên đồng ý đối thoại hoặc đàm phán, thì chức năng môi giới cũng chấm dứt Bên môi giới chỉ có quyền tham dự đàm phán nếu các bên tranh
chấp cùng yêu cầu Còn trung gian (mediation) là sự thám gia tích cực của bên
thứ ba vào quá trình đàm phán và có thể đưa ra các điểu kiện đàm phán cho các bên tranh chấp
Biện pháp giải quyết tranh chấp bằng trung gian đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử quan hệ quốc tế và ngày càng được các quốc gia áp dụng Trong thời gian tồn tại của mình, Liên Xô đã giữ vai trò rất quan trọng không chỉ đối với sự duy trì hoà bình và ổn định an ninh thế giới, mà kể cả với vai trò môi giới, trung gian
để giải quyết các tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia Chẳng hạn, tranh chấp giữa Ân Độ - Pakistan về Casmia năm 1965 có vai trò môi giới của Liên Xô nên hai bên đã đi đến đàm phán và ký Tuyên bố chung về việc khôi phục hoà bình ngày 10/01 /1966 tại Tasken
c) Các u ỷ ban Hoà giải và Điều tra
Uỷ ban hoà giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế, theo các
Luật gia-Luật quốc tế Xô-viết, đã xuất hiện từ thế kỷ thứ XIV, chắc chắn cũng không muộn hơn so với sự ra đời của Uỷ ban điều tra Uỷ ban hoà giải có chức năng khá rộng, có quyền đề đạt những giải pháp, phương kế, dự thảo nghị quyết hoặc kết luận giải quyết vụ tranh chấp, đồng thời có thể trực tiếp thuyết trình các bên tranh chấp
Mục đích của Ưỷ ban hoà giải, trước hết là giải thích, làm rõ mọi nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến tranh chấp Sau đó tổng hợp thành một văn bản kết luận với những kiến nghị về cách thức giải quyết tranh chấp và được gửi cho đại diện các bên tranh chấp Trong lịch sử quan hộ quốc tế có rất nhiều trường hợp thành lập Uỷ ban hoà giải để giải quyết tranh chấp Chẳng hạn, tranh chấp về biên giới giữa Italia và Thuỵ Sĩ năm 1874 với Uỷ ban hoà giải Milanô Cuối thế
Trang 13kỷ XIX đầu thế kỷ XX giữa Hoa Kỳ với các nước khu vực Nam Mỹ đã ký các Hiệp ước Braianov về Uỷ ban hoà giải để giải quyết các tranh chấp về biên giới lãnh thổ Năm 1919 tại Hội nghị Paris, Áo và Na-uy đã đề nghị Hội quốc liên thành lập u ỷ ban hoà giải về giải quyết tranh chấp quốc tế Tại Hội nghị thứ năm các nước liên Mỹ (1923) đã ký Hiệp ước Gôndra, theo đó các quốc gia thành viên có nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng con đường ngoại giao thông qua việc thành lập một Uỷ ban hoà giải gồm 5 thành viên Sau đó trong Biên bản (thông qua tại Môngtevideo tháng 12 năm 1933) bổ sung cho Hiệp ước này xem xét vấn đề thành lập Uỷ ban hoà giải cho từng vụ tranh chấp quốc tế cụ thể giữa các quốc gia khu vực Nam Mỹ, trong đó Hoa Kỳ là nước luôn giữ vai trò quyết định.
Trong thời kỳ những năm 1918-1933 Liên Xô cũng giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế thông qua u ỷ ban hoà giải, đã ký
kết với các nước Đức, Pháp, Phần Lan, Ba Lan thoả thuận về thủ tục giải quyết tranh chấp Sau th ế chiến thứ hai, Liên Xô còn ký kết vối nhiều nước khác như Na-uy (1949), Tiệp Khắc (1956), Iran (1957), Afganistan (1958), Phần Lan (1960), Rumani (1961), Hungary (1961) và Ba Lan (1961) thoả thuận về giải quyết tranh chấp biên giới thông qua việc thành lập các Uỷ ban biên giới (hoặc
Ưỷ ban có thẩm quyền về biên giới) để giải quyết các bất đồng, nhằm duy trì hoà bình ở các khu vực biên giới
Uỷ ban điểu tra là biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế được
quy định trong các Công ước Lahay 1899 và 1907 Theo quy định tại phần 3 của Công ước Lahay 1907 (về các uỷ ban điều tra quốc tế), trong các cuộc xung đột quốc tế, trên cơ sở không gây ảnh hưởng đến danh dự, chủ quyền hoặc lợi ích vật chất của quốc gia, cần thiết phải thành lập Uỷ ban điều tra, chừng nào mà các bên tranh chấp chưa thể đạt được thoả thuận bằng đường ngoại giao Điều 35 của Công ước này quy định rằng, báo cáo của u ỷ ban điều tra chỉ xác định các sự kiện thực tế, mà không có giá trị pháp lý bắt buộc; các bên có toàn quyền trong việc sử dụng những sự kiện đó để giải quyết tranh chấp
Trong thời kỳ giữa đại chiến thế giới lần thứ nhất và thứ hai, những nước khu vực châu Mỹ đã ký kết nhiều thoả thuận về việc thành lập Ưỷ ban điều tra và hoà giải (vào các năm 1923, 1933 và 1936) Các thoả thuận này sau đó được sửa đổi, bổ sung bằng Công ước Bôgôta 1948, trong đó quy định việc thành lập các
Uỷ ban điều tra, hoà giải sẽ do cơ quan Hội đồng của Tổ chức các nước liên Mỹ tiến hành
Trang 14Năm 1928 Hội quốc liên thông qua Công ước chung về giải quyết hoà binh các xung đột quốc tế (được 23 quốc gia phê chuẩn) Tháng 4/1949 Công ước này được Đại hội đồng LHQ chỉnh lý lại (với nhiều quan điểm mới) Công ước quy định rằng, trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày nhận thông báo của một bên tranh chấp, sẽ thành lập một Uỷ ban điều tra lâm thời để giải quyết tranh chấp Uỷ ban này gồm 5 đại diện của các bên, hoạt động trong thời hạn 3 năm Trong trường hợp do khó khăn về việc cử đại diện, các bên có thể uỷ quyền cho Đại hội đồng LHQ chỉ định đại diện từ quốc gia thứ ba Thời hạn kết thúc điều tra vụ tranh chấp sẽ là 6 tháng, kể từ ngày vụ tranh chấp được đưa lên uỷ ban này.
d) Trọng tài quốc tê
Trọng tài quốc tế là cơ quan tài phán giải quyết các tranh chấp quốc tế được thành lập theo thoả thuận của các bên tranh chấp, các quyết định hay quyết nghị của nó có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp
Trước đây, các Iranh chấp quốc tế được đưa ra trọng tài giải quyết thường
là các tranh chấp liên quan đến biên giới lãnh thổ hoặc đòi bồi thường do hành vi gây hại của một quốc gia Chẳng hạn, trong Điều 4 của Hiệp ước trung lập (không tấn công nhau) ký giữa Anh và Pháp ngày 23/7/1 $73 có quy định về việc chuyển cho Toà án trọng tài xem xét đơn kiện về bồi thường thiệt hại do các công ty của Anh gây ra trong quá trình kiểm tra hải quan (liên quan đến một loại dầu khoáng sản xuất tại Anh) Thông thưòng khi ký kết điều ưức quốc tế về trọng tài, các bên phải thoả thuận về việc chuyển các loại tranh chấp nào cho trọng tài giải quyết, trừ các tranh chấp liên quan đến đời sống xã hội giữa các cá nhân (theo Hiệp ước Anh-Pháp năm 1903), hoặc chuyển cho trọng tài tất cả các tranh chấp mà không đạt được kết quả khi giải quyết bằng đường ngoại giao (theo Hiệp ước Đan Mạch - Hà Lan năm 1904)
Từ thế kỷ XIX đã có sự phân biệt giữa hai loại hình trọng tài: trọng tài cá nhân (vụ tranh chấp được giải quyết bởi một trọng tài viên - có quốc tịch của một nước thứ ba) và trọng tài tập thể (vụ tranh chấp được giải quyết bởi một số trọng tài viên) Yêu cầu chung đối với việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp trọng tài là phải dựa trên các quy định của Luật quốc tế hoặc các quy tắc đặc thù được thừa nhận giữa các bên tranh chấp
I
Thủ tục tố tụng tại toà án trọng tài dường như không được ấn định Nhưng theo thực tiễn và thông lệ quốc lế, có một số yêu cầu mà toà án trọng tài phải tuân theo đó là: trọng tài tập thể giải quyết và quyết định theo đa số; có thư ký
Trang 15ghi biên bản giải quyết; trọng tài có thể mời giám định viên; các bên tranh chấp
có quyền bảo vệ quyền lợi của mình thông qua các cơ quan đại diện, hội đồng hoặc trạng sư
Tại các điều 12 và 13 của Hiến chương Hội quốc liên cũng quy định rằng các quốc gia thành viên có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp quốc tế bằng trọng tài Tháng 9/1923 tại phiên họp thứ ba Hội quốc liên đưa ra nghị quyết khuyến cáo các thành viên cần soạn thảo một công ước quốc tế về trọng tài Đến tháng 9/1928 Hội quốc liên đã đưa ra bản thảo công ước này 1
Sau năm 1928 các quốc gia tư bản ký kết nhiều điều ước song phương với nhau, trong đó thoả thuận áp dụng nhiều biện pháp giải quyết tranh chấp (như các uỷ ban hỗn hợp, trọng tài, toà án) nhưng trên thực tế các điều ước đó chẳng mấy khi được áp dụng
Ngày 2/01/1929 tại Oa-sinh-tơn đã thông qua Hiệp ước của các nước liên
Mỹ về trọng tài quốc tế do 19 nước ký (Áchentina không ký) và sau đó được 14 nước phê chuẩn, trong đó có Hoa Kỳ với một số bảo lưu Theo Công ước này, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sẽ do hội đồng trọng tài gồm 5 thành viên đảm nhiệm (các nước phê chuẩn Công ước không có bảo lưu gồm Cuba, Haiti, Nicaragoa, Panama, Pêru và Brazil)
Như vậy, biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế bằng trọng tài, trước hết được thực hiện trên cơ sở tư nguyện thoả thuận của các bên tranh chấp, có thể dưới dạng trọng tài thường trực hoặc trọng tài ad hoc (trọng tài vụ việc) Trọng tài ad hoc được thành lập trên cơ sở điều ước đạc biệt giữa các bên tranh chấp nhằm giải quyết một vụ việc tranh chấp cụ thể Trọng tài thường trực cũng được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế (đa phương) Trong điều ước giữa các bên tranh chấp thường quy định rõ về việc cử trọng tài viên, trình tự và thủ tục tố tụng của trọng tài, nghĩa vụ của các bên trong việc thi hành quyết định của trọng tài
Luật quốc tế hiện đại coi việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài (toà án trọng tài, trọng tài thường trực) là một trong các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế Cùng với sự phát triển của Luật quốc tế, trong nhiều lĩnh vực hợp tác chuyên ngành, các quốc gia thoả thuận thành lập Trọng tài thường trực
để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên trong khuôn khổ một tổ chức quốc tế Chẳng hạn, theo Công ước năm 1982 về Liên minh bưu chính thế giới, mỗi bên tranh chấp có thể chọn một trọng tài viên; hai trọng tài viên đó sẽ chọn một trọng tài thứ ba làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài (nếu không
Trang 16chọn được có thể nhờ Tổng Thư ký LHQ lựa chọn) Công ước về thông báo kịp thời các tai nạn hạt nhân năm 1986, Công ước về tương trợ lẫn nhau trong trường hợp xảy ra sự cố hạt nhân 1986 cũng quy định rằng nếu các bên không chọn được trọng tài viên, thì có thể đề nghị Tổng Thư ký LHQ hoặc Chánh án Toà án quốc tế của LHQ cử một hoặc một số trọng tài viên.
Nghị quyết, quyết định của trọng tài được thông qua trên cơ sở các nguyên tắc và quy phạm pháp lý quốc tế, công lý và có giá trị bắt buộc đối với các bên Thông thường trọng tài chỉ giải quyết các tranh chấp về các vấn đề pháp lý; riêng bất đồng về chính trị thường do các bên giải quyết bằng biện pháp đàm phán hay qua đường ngoại giao
đ) Toà án quốc tế
t
Tranh chấp quốc tế còn được các bên tranh chấp thoả thuận đưa ra giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Toà án quốc tế (được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế khu vực cũng như toàn cầu) Tư tưởng về việc thành lập Toà án quốc tế
để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia đã xuất hiện từ thời kỳ cận đại, nhưng phải đến đầu thế kỷ XX mới được thực hiện
Tại Hội nghị lần thứ hai của Tổ chức các nước khu vực châu Mỹ (1901 - 1902) tiến hành tại Mêhicô, cùng với việc thành lập Toà án Trọng tài quốc tế, các quốc gia thành viên còn đưa ra ý tưởng về việc thành lập một Toà án Thường trực quốc tế nhằm giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia Nhưng do không thống nhất được ý kiến nên việc đó đã không thành
Có thể đánh giá sơ bộ về quá trình xem xét việc thành lập Toà án quốc tế như sau:
Trước hết là sự khởi đầu của ý tưởng về việc thành lập một Toà án Thường trực quốc tế trong khuôn khổ Hội nghị Lahay 1907 Điều đó được phản ánh khá
rõ trong Biên bản ngày 19/9/1910 Nhưng dự định này không được các quốc gia thành viên tán thành Sau đó, là sự ra đời của Toà án Trung tâm Hoa Kỳ (1907- 1918) Rồi tiếp đến là sự thành lập Pháp viện Thường trực quốc tế (trong khuôn khổ Hội quốc liên) và cuối cùng là Toà án quốc tế của LHQ (1945) Tại Chương
II của Phần này chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn về việc giải quyết tranh chấp tại Toà án quốc tế của LHQ
KHỔ MỘT SỐ TỔ CHỨC QUỐC TẾ LIÊN CHÍNH PHỦ VÀ
Trang 17c ơ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982
Trên cơ sở nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế - một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại được ghi nhận trong Tuyên
bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 về Những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tê hiện đại điều chỉnh quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên của các Tổ chức quốc tế hoàn toàn có quyền thoá thuận để lựa chọn các biện pháp thích hợp nhằm giải quyết các tranh chấp quốc tế phát sinh trong quan hệ giữa
họ với nhau, phù hợp với tôn chỉ mục đích và nguyên tắc hoạt động của mỗi tổ chức quốc tế Vì vậy, trong mỗi Tổ chức quốc tế đều thành lập một loại cơ quan
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp riêng, thể hiện những điểm đặc thù của tổ chức này
Trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở (cấp trường), chúng tôi chỉ giới hạn đi sâu nghiên cứu về những đặc thù trong cơ chế giải quyết tranh chấp của một số Tổ chức quốc tế phổ cập (như Liên hợp quốc), Tổ chức quốc tế khu vực (như ASEAN) mà Việt Nam là thành viên, hoặc Tổ chức kinh tế quốc tế có tính chất toàn cầu (như WTO) mà Việt Nam sẽ gia nhập Đồng thời, chúng tôi cũng cố gắng đưa ra sự so sánh vé cơ chế giải quyết tranh chấp của các Tổ chức quốc tế này với cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của Liên minh châu Âu (EU) và Công ước về Luật biển quốc tế năm 1982,
để qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn, làm cơ sở cho các kiến nghị bước đầu về những đóng góp của Việt Nam vào quá trình giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ các Tổ chức quốc tế mà Việt Nam
là thành viên
1 Cơ c h ế giải quyết tranh chấp của Liên hợp quốc
Liên hợp quốc là Tổ chức quốc tế toàn cầu, được thành lập ra với mục tiêu
cơ bản là duy trì hoà bình và an ninh thế giới, có cơ chế giải quyết tranh chấp hết sức đặc thù do hệ thống các cơ quan chính có thẩm quyền thực hiện (bao gồm
Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế - Xã hội, Hội đồng quán thác, Toà án Công lý quốc tế và Ban Thư ký)
T H ỉ í V ■! Ễ N
Trang 18Việc giải quyết tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ Liên hợp quốc có những đặc điểm cơ bản như sau:
T h ứ n h ấ t, về nguyên tắc, tất cả 6 cơ quan chính của LHQ đều có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan Chẳng hạn, về nguyên tắc, Đại hội đồng có quyền xem xét tất cả các vấn đề có thể đe doạ đến hoà bình và an
ninh quốc tế, trừ trường hợp Hội đồng Bảo an đang xem xét Còn Hội đồng Bảo
an là cơ quan thực hiện chức năng chính trong việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế (Điều 24 của Hiến chương LHQ) Chính vì vậy, Hội đồng Bảo an có các thẩm quyền khác biệt so với các cơ quan khác Toà án Công lý của LHQ lại là cơ quan tài phán, có chức năng xét xử - giải quyết các tranh chấp quốc tế do các quốc gia tự nguyện đưa lên Tổng Thư ký LHQ - thay mặt Ban Thư ký - cũng đảm nhiệm chức năng giải quyết các tranh chấp quốc tế chủ yếu thông qua biện pháp trung gian, hoà giải
T h ứ h a i, phù hợp với chức năng của mình, các cơ quan của LHQ (như Toà
án quốc tế, Hội đồng Bảo an) có thẩm quyền giải quyết cả các tranh chấp quốc tế giữa quốc gia thành viên với quốc gia không phải thành viên của LHQ, với mục tiêu cơ bản là duy trì hoà bình và an ninh thế giới
T h ứ ba, cách thức giải quyết tranh chấp, kết quả giại quyết tranh chấp của
các cơ quan LHQ có nhiều điểm không giống nhau Cụ thể như sau:
(1) Đại hội đồng có thẩm quyền (và chức năng) thực hiện các biện pháp
nhằm ngăn ngừa và giải quyết các tranh chấp quốc tế hoặc các tình thế có thể đe doạ hoà bình và an ninh quốc tế, theo quy định tại chương IV của Hiến chương LHQ Trên cơ sở các điều 10, 11 và 12 thì Đại hội đồng có chức năng: i) thảo luận mọi vấn đề liên quan đến hoà bình và an ninh quốc tế, trừ trường hợp Hội đồng Bảo an đang xem xét, đưa ra các kiến nghị cho các bên liên quan hoặc cho Hội đồng Bảo an (khuyến nghị của ĐHĐ chỉ có giá trị tham khảo, không có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh chấp); ii) thảo luận và đưa ra kiến nghị về bất
kỳ vấn đề gì trong khuôn khổ Hiến chương hoặc ảnh hưởng tới quyền lực và chức năng của bất cứ cơ quan nào của LHQ; iii) đưa ra các kiến nghị về giải quyết hoà bình mọi tranh chấp, tình thế có thể đe doạ đến hoà bình và an ninh thế giới hoặc có thể gây tổn hại đến quan hệ thân thiện giữa các quốc gia
Như vậy, các kết luận, kiến nghị (khuyến nghị) của Đại hội đồng chủ yếu mang tính tham khảo, không có tính jus cogens (bắt buộc chung) đối với các bên tranh chấp, trừ khi Đại hội đồng ra Nghị quyết về việc giải quyết tranh chấp đó
Trang 19v ề nguyên tắc, Nghị quyết của Đại hội đồng là văn bản có giá trị bắt buộc
chung đối với các bên và các quốc gia khác Việc từ chối thực hiện Nghị quyết
của ĐHĐ có thể sẽ dẫn tới hậu quả áp dụng biện pháp cưỡng c h ế đối với bên vi
phạm
(2) Ban Thư ký, đứng đầu là Tổng Thư ký LHQ, theo quy định tại Điều
98 của Hiến chương, có thẩm quyền nhất định trong việc ngăn ngừa và giải
quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế Điều 99 quy định rõ, Tổng Thư ký có
quyền lưu ý Hội đồng Bảo an về bất cứ vấn đề gì có thê ánh hưởng đến hoà bình
và an ninh thế giới, kể cả trong trường hợp không có quốc gia nào lưu ý đến vấn
đề đó Trong khi thực hiện quyền này, Tổng Thư ký có thể cử đặc phái viên hoặc
yêu cầu quốc gia thứ ba giúp đỡ, lập ra cơ quan bổ trợ tiến hành đánh giá xem
xét tình hình và yêu cầu các cơ quan khác của LHQ áp dụng các biện pháp thích
hợp để ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp quốc tế Chẳng hạn, trong tranh chấp
Manta và Libi (1980) Tổng Thư ký LHQ cử đại diện đặc biệt của mình đến hai
nước để tham gia vào việc tìm kiếm giải pháp được hai bên chấp nhận Hàng
năm Tổng Thư ký LHQ có nhiệm vụ trình ĐHĐ báo cáo đánh giá về các hoạt
động nhằm gìn giữ hoà bình và an ninh thế giới
(3) Tư tưởng thành lập Toà án Công lý quốc tế được đặt ra trong quá
trình xem xét dự thảo văn kiện về việc thành lập một tổ chức quốc lế vì hoà bình,
an ninh thế giới tại Dumbarton Ocse tháng 9/1944 Khi đó, các quốc gia đã nhất
trí về sự cần thiết thành lập một Toà án quốc tế mới Hội nghị quốc tê tại San
Fransisco tháng 4/1945 đã thông qua bản Quy chế của Toà án quốc tế, về cơ bán
là phù hợp với nội dung Quy chế Pháp viện Thường trực ,quốc tế (trên thực tế đã
chấm dứt hoạt động từ năm 1940) Vấn đề quan trọng đã được giải quyết tại Hội
nghị, đó là thành lập một Ttìà án Công lý quốc t ế mới của LHQ, chứ không phái
là Toà án kế thừa của Pháp viện Thường trực quốc tế thuộc Hội quốc liên trước
đây
Như vậy, xét về tính chất thì Toà án Công lý quốc tế (sau đây gọi là Toà
án quốc tế) trước hết là một trong 6 cơ quan chính của LHQ, là cơ quan xét xử
quốc tế thường trực, giải quyết các tranh chấp do các quốc gia thoả thuận đưa
lên; Quy chế của Toà án quốc tế là một phần của Hiến chương LHQ Nhưng một
điều dễ nhận thấy, phù hợp với nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc
tế - một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại - là ở chỗ, kể
cả Hiến chương LHQ và Quy chế Toà án quốc tế đều khổng quy đinh nghĩa vu
bát buỏc các quốc gia cũng như chủ thê khác của Luật quốc tế phải đưa vụ tranh
Trang 20chấp ra giải quyết tại Toà án quốc tế Theo Ọuy chế của Toà án quốc tế, thì Toà
án quốc tế chỉ cổ thẩm uuyén xét xử các tranh chấp quốc tế do chính các quốc gia tranh chấp tư nguyên thoả thuân đưa lẽn Mặc dù tư tưởng về nghĩa vụ bắt buộc các quốc gia phải đưa vụ tranh chấp ra Toà án quốc tế giải quyết được nhiều quốc gia yếu và đang phát triển hết sức quan tâm và họ muốn được khầng định về mặt pháp lý quốc tế (vãn cho phép các quốc gia báo lưu về điều đó), nhưng cuối cùng tư tưởng này cũng không được Hội nghị San Fransisco thông qua, vì bị các cường quốc đê quốc phản đối
Liên quan đến khoản 3 Điều 36 Hiến chương LHQ, trong khi cho ý kiến
về các tranh chấp có thê được xem xét theo thú tục tố tụng và cách thức giải quyết nó, Hội đồng Bảo an lưu ý rằng, các tranh chấp cổ tính chất pháp lý, theo quy tác chung, cán phái dươc giái quyết tai Toà án quốc tế phù hợp với quy định của Quy chế Lun ý này đã được Đại hội đồng chấp nhận.'
Rõ ràng là, trong khi vẫn tôn trọng quyền tối cao của quốc gia khi đưa vụ tranh chấp lên Toà án quốc tế, cơ quan lãnh đạo chính Irị của LHQ chỉ lưu ý các quốc gia về việc chuyển các tranh chấp có tính chất pháp lý lên Toà án quốc tế
để giải quyết Trong trường hợp này, Hội đồng Bảo an, sau khi xem xét vụ tranh chấp và thấy rằng không có nguy cơ phá hoại hoà bình và an ninh quốc tế, thi chuyển vụ tranh chấp cho Toà án LHQ giải quyết phù hựp với Luật quốc tế
Về nguyên tắc, trong khi xem xét các tranh chấp quốc tế, Toà án phải tuân theo các điều ước quốc tê có giá trị bắt buộc chung, kế cả các điều ước được ký kết giữa các bên, cho dù không có sự lưu ý của Hội đồng Bảo an LHQ Tuy nhiên, thực tiễn đôi khi lại không phải như vậy v ề vụ tranh chấp thềm lục địa ở vùng biển Êga, không phụ thuộc vào lưu ý của Hội đồng Báo an, Toà án quốc tế chỉ áp dụng điều ước tay đôi của các bên tranh chấp có liên quan do chính họ thoả thuận đưa lên
Ngày nay mọi người đều biết, một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thành lập Toà án quốc tế chính là bởi ưu thế của nó hơn hẳn so với trọng tài quốc
tế Trọng tài quốc tế được thành lập trước hết nhằm xem xét các vụ việc cụ thể
mà nó có thẩm quyền giải quyết, chủ yếu về khía cạnh pháp lý của vấn đề phát sinh gần như đồng thời với vụ tranh chấp, và sẽ chấm dứt sau khi được giải quyết xong Trên thực tế, trọng tài quốc tế chỉ chủ yếu dựa vào các nguồn điều ước quốc tế để xét xử, không có khả năng phát triển Luật quốc tế bởi vấn đề "án lệ" hầu như không được đặt ra đối với hoạt động của trọng tài Nhưng hoạt động của Toà án quốc tế rõ ràng đã khắc phục được nhược điểm này Năm 1953 Toà án
Trang 21quốc tế đã đưa ra đánh giá về sự khác nhau giữa nó với trọng tài và chí ra ràng,
trọng tài quốc tế được thành lập do thoả thuận của các bên để giải quyết các
tranh chấp cụ thể, trong khi Toà án quốc tế được hình thành như một cơ quan tư
pháp của Luật quốc tế, có chức năng và thẩm quyền riêng biệt hơn hẳn trọng tài,
chẳng hạn như Toà án quốc tế của Liên hợp quốc
(4) Hội đồng Bảo an là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của LHQ, "có
trách nhiệm duy trì hoà bình và an ninh thế giới" (Điều 24 Hiến chương LHQ)
Với trách nhiệm đó, HĐBA hành động với tư cách thay mặt tất cả các thành viên
LHQ Do đó, các quốc gia thành viên đều có trách nhiệm phải phục tùng và chấp
hành quyết định của HĐBA (Điều 25 của Hiến chương) Đây là điểm khác căn
bản trong kết quả giải quyết tranh chấp của HĐBA so với nghị quyết của các cơ
quan khác của LHQ Thẩm quyền của HĐBA được quy định tại chương 6 và
chương 7 của Hiến chương LHQ
Trong quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế, với mục đích duy trì hoà
bình và an ninh quốc tế, HĐBA thực hiện thẩm quyền khá rộng, kể cả việc quyết
định sử dung vũ ỈƯC, nếu xét thấy cần thiết Trên thực tế, thẩm quyền của HĐBA
chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực là giải quyết hoà bình’ các tranh chấp quốc tế
(theo chương 6 của Hiến chương) và duy trì hoà bình, đấu tranh chống xâm lược
(theo chương 7 của Hiến chương)
* Khi tiến hành giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế, HĐBA có
quyền:
Yêu cáu các bên tranh chấp giải quyết tranh chấp bằng một trong các biện
pháp hoà bình quy định tại Điều 33 của Hiến chương (đàm phán, điều tra, trung
gian, hoà giải, trọng tài, toà án, sử dụng phương thức hoặc hiệp định khu vực
hoặc các biện pháp khác theo sự lựa chọn của các bên)
Tiến hành điều tra mọi tranh chấp quốc tế hoặc tình thế (trạng huống) mà
việc kéo dài có thể dẫn tới sự bất hoà giữa các quốc gia hoặc đe doạ hoà bình và
an ninh thế giới Ví dụ, ngày 29/9/1950 tại cuộc họp về "kiến nghị xem xét việc
xâm lược có vũ trang vào Đài Loan", HĐBA dựa trên cơ sở Điều 34 của Hiến
chương LHQ để khẳng định rằng "Hội đồng Bảo an có quyền tiến hành điều tra
mọi tình thế nếu xét thấy chúng có thể đưa đến sự bất hoà giữa các dân tộc hoặc
phát sinh tranh chấp mà việc tiếp diễn nó có nguy cơ dẫn đến đe doạ hoà bình và
an ninh quốc tế"
Trang 22Đặc biệt, sau sự kiện bọn khủng bố quốc tê tấn công vào Trung tâm Thương mại thế giới và Lầu Năm góc của Hoa Kỳ hôm 11/9/2001, sau khi điều tra, xem xét mọi khía cạnh của vấn đề, theo đề nghị của Tổng Thư ký Cô-phi A-nan, ngày 28/9/2001 Hội đồng Báo an đã ra Nghị quyết về việc chống khủng bố quốc tế, yêu cầu tất cả các thành viên LHQ (gồm 189 quốc gia và vùng lãnh thổ) phái triệt để chấp hành.
t
Trên cơ sở các điều 36, 37 và 38 của Hiến chương LHQ, trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế, HĐBA có quyền kiến nghi các bẽn áp dung những thủ tuc hoăc phương thức giải quyết thích đáng Nếu các bên không tự thoả thuận được, HĐBA ấn định các thủ tục hoặc phương thức giải quyết để đi đến một giải pháp tối ưu Trong khi thực thi vấn đề này, HĐBA có tính đến một nguyên tắc chung là các tranh chấp pháp lý nên được chuyển cho Toà án công lý quốc tế giải quyết Chẳng hạn, trong vụ tranh chấp eo biển Corfou 1946-1959, HĐBA đã ra Nghị quyết ngày 9/4/1947 kiến nghị Vương quốc Anh và Anbani nên đưa vụ tranh chấp ra Toà án công lý quốc tế (lúc đó Anbani chưa phải là thành viên của LHQ) Đây là một trong các vụ tranh chấp quốc tế đầu tiên mà Toà án công lý quốc tế đã thụ lý và giải quyết
* Khi thực hiện thẩm quyền duy trì hoà bình và chống xâm lược, tuỳ
thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của các Iranh chấp quốc tế có thê dẫn đến sự đe doạ và an ninh thế giới, HĐBA tiến hành theo ba bước Cuộc chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991 là một ví dụ thể hiện rõ quá trình hoạt động theo ba giai đoạn của HĐBA Bước một, xác định sự tồn tại của mối đe doạ chống lại hoà bình hoặc một hành vi xâm lược (theo Điều 39 của Hiến chương) Bước hai, đưa ra các biện pháp tạm thời xét thấy cần thiết và yêu cầu các bên có nghĩa vụ thi hành; trong trường hợp không được thi hành thì HĐBA phải lưu ý đến điểm
đó Bước ba, kiến nghị áp dụng biện pháp cưỡng chế (kể cả bằng vũ lực)
Nói tóm lại, việc giải quyết tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ Liên hợp quốc, về cơ bản được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế Mặc dù có thể do nhiều cơ quan đảm nhiệm, mỗi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo cách thức riêng của mình, song việc giải quyết tranh chấp của Liên hợp quốc không nhằm mục đích gì khác là phục vụ mục tiêu cao nhất mà tổ chức này đặt ra nhằm duy trì, ổn định hoà bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia
2 Cơ ch ế giải quyết tranh chấp của ASEAN
Trang 232.1 Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) là một tổ chức quốc tế khu vực, hoạt động trên các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đồng thuận, bình đẳng và cùng có lợi Trong cơ chế giải quyết hoà bình các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên, có một số đặc điểm khác so với LHQ.
Trước hết, về mặt chính trị, ASEAN đưa ra nguyên tắc tôn trọng hoà bình,
truyền thống văn hoá và pháp luật của các nước thành viên và coi đó như
nguyên tắc chỉ đạo trong việc giải quyết tranh chấp Đây là nguyên tắc quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp của ASEAN, được đưa ra trên cơ sở các đặc điểm tương đồng về văn hoá, truyền thống của các nước trong khu vực
Trong Tuyên bố Băng-cốc năm 1967 về việc thành lập ASEAN đã khẳng định nguyên tắc tôn trọng công lý, luật pháp trong quan hệ giữa các nước thành viên, thúc đẩy hoà bình và an ninh khu vực Điều đó tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị thượng đỉnh các nước ASEAN (2/1976) khi thông qua Hiệp ước thiện chí và hợp tác khu vực Đông Nam Á, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác bền vững của tổ chức này, cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế phù hợp với điều kiện của ASEAN Điều 13 của Hiệp ước khẳng định quyết tâm của các quốc gia thành viên là "quyết tâm và thiện chí ngăn ngừa không để xảy ra tranh chấp" Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, theo Điều 14 và Điều 15, thì việc giải quyết tranh chấp phải được tiến hành bằng những thủ tục hợp lý, linh hoạt, hữu hiệu, tránh thái độ tiêu cực có thể đe doạ hoặc cản trở sự hợp tác
Quy trình giải quyết tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ Hiệp ước được xác định như sau:
- Trước hết, các bên liên quan phải chủ động thương lượng hữu nghị để giải quyết vấn đề
- Nếu không đạt được thoả thuận qua thương lượng, các bên ihành lập Hội đồng cấp cao (cấp Bộ trưởng) để xem xét giải quyết Hội đồng này ra khuyến nghị về các biện pháp giải quyết tranh chấp, cũng như biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn xung đột do tranh chấp gây ra
Nhìn chung, trong giai đoạn đầu (trước khi Việt Nam gia nhập) các hoạt động của ASEAN chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chính trị, do đó, các tranh chấp quốc tế phát sinh cũng tập trung trong lĩnh vực này Tuy nhiên, ở giai đoạn sau, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập cho đến nay, xu hướng hoạt động của ASEAN
đã có sự thay đổi, tập trung chủ yếu vào việc phát triển quan hệ hợp tác kinh tế,
Trang 24thương mại Các tranh chấp quốc tế được xem xét giải quyết chủ yếu bằng biện pháp hoà giải, thương lượng hữu nghị hoặc thông qua trọng tài khu vực.
2.2 Từ năm 1992, các hoạt động hợp tác kinh tế giữa các thành viên ASEAN thực sự khởi sắc, được khẳng định và đảm bảo bằng cơ chế pháp lý hữu hiệu thông qua một số điều ước quốc tế được ký kết trong khuôn khổ của tổ chức này Đó là Tuyên bố Singapore 1992, Hiệp định khung về đẩy mạnh hợp tác kinh
tế ASEAN, Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Mục đích của AFTA là loại bỏ hàng rào cản trở thương mại đối với hầu hết hàng hoá trong nội bộ ASEAN
Về giải quyết tranh chấp, Điều 9 của Hiệp định khung về đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc tế năm 1992 quy định: "Mọi khác biệt giữa các nước thành viên liên quan đến việc giải thích và áp dụng Hiệp định này hoặc bất kỳ một Hiệp định nào phát sinh từ Hiệp định này sẽ được giải quyết, trong chừng mực tối đa
có thể được, một cách thân thiện giữa các bên Khi cần thiết, một cơ quan thích hợp sẽ được chỉ định để giải quyết các tranh chấp" Như vậy, trong giai đoạn đầu, các tranh chấp phát sinh hầu như rất ít và được giải quyết chủ yếu dưới hình
thức thân thiện, tức là trên nguyên tắc tôn trọng bản sắc dân tộc của mỗi quốc
gia thành viên, hợp tác và hữu nghị, lấy chữ tín làm trọng trong mọi quan hệ hợp tác Nhưng trong các giai đoạn tiếp theo, khi các quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thành viên ngày càng phát triển, thực tế đã cho thấy việc ra các quyết định như vậy có thể dẫn đến khả năng phái sinh những bất đồng tiềm ẩn giữa các thành viên Nhằm đảm bảo tính minh bạch và bền vững của các hoạt động hợp tác kinh tế khu vực, đầu năm 1995 Nhóm công tác kỹ thuật về triển khai Hiệp định CEPT-AFTA (lần thứ 10) đã tiến hành thảo luận dự thảo về cơ chế giải quyết tranh chấp trong ASEAN Vấn đề đầu tiên được quan tâm là trong mỗi hiệp định về hợp tác kinh tế có thể xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp riêng, đặc biệt là Hiệp định CEPT-AFTA, hay nên xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp chung áp dụng cho tất cả các hiệp định kinh tế của ASEAN ? Tính đến thời điểm đó đã có tới 47 Hiệp định kinh tế Nên phương án được lựa chọn là xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp chung áp dụng cho tất cả các Hiệp định đó, trong khuôn khổ Hiệp định khung ASEAN về đẩy mạnh phát triển kinh tế
Trên tinh thần đó, n g à y '20/11/1996 N ghị định th ư vê Cơ chê giải quyết
tranh chấp đã được các Bộ trưởng Kinh tế của 7 quốc gia thành viên ký chính
thức (Brunei, Inđônêxia, Malayxia, Philippines, Singapore, Thailand, Vietnam)
Trang 25Như vậy, việc giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ ASEAN ngày nay được hiểu là cơ chế giải quyết tranh chấp theo Nghị định thư này.
2.3 Phạm vi áp dụng của Nghị định thư, theo quy định tại khoán 1 Điều 1, chủ yếu đối với các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện, giải thích hoặc áp dụng Hiệp định khung về hợp tác kinh tế ASEAN 1992 (sửa đổi 1995), các Hiệp định kinh tế của ASEAN đã và sẽ được ký kết (hiện tại gồm 47 Hiệp định) Như vậy, phạm vi áp dụng của Nghị định thư là rất rộng, bao gồm các lĩnh vực hợp tác có tính chất truyền thống như thương mại hàng hoá, đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, môi trường v.v
Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp, nếu có sự xung đột về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nghị định thư và cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt hoặc bổ sung trong các Hiệp định chuyên ngành, thì sẽ ưu tiên áp dụng các quy định trong các Hiệp định chuyên ngành Chẳng hạn, Điều 17 Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN quy định việc áp dụng Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp ASEAN đối với bất kỳ tranh chấp hoặc bất đồng nào phát sinh liên quan đến giải thích và áp dụng Hiệp định này
Trong trường hợp có sự khác nhau giữa các cơ chế bổ sung, đặc biệt trong hai hay nhiều Hiệp định thì các bên tranh chấp sẽ thương lượng với nhau đê lựa chọn cơ chế phù hợp Nếu trong vòng 60 ngày mà các bên không thống nhất lựa chọn được cơ chế phù hợp, thì có thể đưa vấn đề ra Hội nghị các quan chức cấp cao về kinh tê (SEOM) để xem xét theo trình tự đặc biệt (do nhóm chuyên gia hoặc một ban hội thẩm thực hiện) SEOM sẽ quyết định trên cơ sở kết luận của nhóm chuyên gia hoặc ban hội thẩm
2.4 Quy trình giải quyết tranh chấp theo Nghị định thư ngày 20/11/1996 có các giai đoạn chính là: tham vấn, thương lượng; trung gian, hoà giải; tố tụng tại SEOM; quyết định của SEOM; kháng nghị quyết định của SEOM lên Hội nghị
Bộ trưởng kinh tế (AEM); thực hiện quyết định của SEOM hoặc AEM; đền bù hoặc ngừng các cam kết nhượng bộ
Tham vấn được áp dụng khi có bất đồng liên quan đến việc thực hiện, giải
thích hay áp dụng các Hiệp định của ASEAN Nếu các nước thành viên cho rằng lợi ích mà họ trực tiếp hay gián tiếp được hưởng theo bất kỳ Hiệp định nào của ASEAN đang bị huỷ bỏ hay bị phương hại, hoặc mục tièu của nó bị cản trở do một nước thành viên không thực hiện nghĩa vụ, thì họ có thể khiếu nại, yêu cầu tham vấn
Trang 26Tiling gian, hoà giải được coi là biện pháp bắt buộc, song các bên có thê
tiến hành hay chấm dứt bất cứ lúc nào mà không làm ảnh hưởng tới việc thương lượng trực tiếp giữa các bên hoặc tới hoạt động của Ban Hội thẩm Chí sau khi hoà giải không thành thì các bên mới có thể đưa vụ việc ra giải quyết tại SEOM
T ố tụng tại SEOM được tiến hành sau khi chấm dứt 60 ngày mà vụ việc
không giải quyết được thông qua tham vấn, thương lượng trực tiếp hay trung gian, hoà giải SEOM thành lập một Ban Hội thẩm (Panel) để giải quyết vụ việc.Theo quy định tại Điều 6 của Nghị định thư, Ban Hội thẩm có trách nhiệm xem xét, đánh giá một cách khách quan tranh chấp được đệ trình lên, xác minh các sự kiện, khả năng áp dụng các quy định của Nghị định thư vào việc giải quyết tranh chấp, thu nhập các chứng cứ hỗ trợ cho SEOM trong việc ra quyết định Trong khi thảo luận, Ban Hội thẩm có trách nhiệm giữ kín các thông tin và
dự thảo báo cáo khi không có mặt các bên tranh chấp
Ngoài việc phải tuân theo các quy định của Nghị định thư trong khi giải quyết tranh chấp, Ban Hội thẩm còn phải áp dụng các thủ tục có tính chất tác nghiệp như sau:
Thứ nhất, Ban Hội thẩm phải tiến hành họp kín các bên liên quan và có quan tâm đến vụ tranh chấp chỉ được có mặt trong các cuộc họp khi được Ban Hội thẩm mời
Thứ hai, quá trình thảo luận của Ban Hôi thẩm và tài liệu nộp lên Ban Hội thẩm phải được giữ bí mật Các bên liên quan phải coi 'thông tin do một nước thành viên đưa ra là thông tin mật, nếu nước đó đòi hỏi như vậy
Thứ ba, Trước khi tiến hành phiên họp đầu tiên, các bên liên quan phải đệ trình lên Ban Hội thẩm một văn bản nêu rõ các sự kiện và lập luận của mình.Tổng số thời gian để giải quyết tranh chấp theo Nghị định thư là không quá
290 ngày, được phân chia cụ thể như sau:
- Tham vấn được tiến hành trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu
giải quyết khiếu nại
- Trung gian, htìà giải là một thủ tục bắt buộc, trước khi đưa lên SEOM giải
quyết
- T ố tụng tại SEO M : trong vòng 60 ngày mà việc thasn vấn, thương lượng
hay trung gian, hoà giải không thành, thì vụ việc được đưa lên SEOM giải quyết
Trang 27- Quyết định của SEOM về việc giải quyết tranh chấp sẽ được đưa ra trong
vòng 30 ngày kể từ ngày Ban Hội thẩm đệ trình báo cáo, nếu cần thẩm tra thêm thì kéo dài 10 ngày nữa
- Kháng nghị quyết định của SEOM lên AEM : AEM được coi là cơ quan
cao nhất có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên AEM phải ra quyết định giải quyết kháng nghị trong vòng 30 ngày kể từ ngày có kháng nghị, trường hợp ngoại lệ có thể kéo dài thêm 10 ngày nữa Phán quyết của AEM là chung thẩm và bắt buộc đối với tất cả các bên tranh chấp Các Bộ trưởng kinh tế của các quốc gia thành viên là các bên tranh chấp có thể có mặt trong quá trình thảo luận, nhưng không được tham gia vào việc ra phán quyết của AEM
- Thực hiện quyết định của SEOM hoặc AEM: theo quy định tại Điều 8 khoản 3 của Nghị định thư, khoảng thời gian hợp lý để thi hành quyết định của
SEOM không được quá 30 ngày, kể từ khi SEOM ra quyết định; còn đối với việc thi hành phán quyết của AEM là 30 ngày, kể từ ngày AEM ra phán quyết
Tóm lại, việc giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ ASEAN cũng có nhiều điểm khác so với các tổ chức quốc tế khác Các cơ quan có thẩm quyén giải quyết tranh chấp bao gồm Hội nghị các Quan chức Kinh tế cao cấp (SEOM), Ban Hội thẩm và Hội nghị các Bộ trưởng Kinh tế (AEM) AEM là cơ quan chung thẩm, tức là cơ quan ra phán quyết cuối cùng có giá trị bắt buộc với tất cả các bên Theo quy định của AEM, các quyết định được đưa ra trong AEM phải theo nguyên tắc đồng thuận, nghĩa là phải được tất cả các thành viên nhất trí Cho nên trên thực tế, nếu chỉ một nước thành viên không có thiện chí chấp thuận, thì AEM rất khó có thể kết thúc giải quyết tranh chấp thông qua việc ra được quyết định có tính chất bắt buộc chung
3 Cơ ch ế giải quyết tranh chấp của WTO:
Nói đến cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới, trước hết phải nhắc lại cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ GATT được quy định từ năm 1947, với các biện pháp truyền thống là tư vấn, trao đổi ý kiến (theo Điều 12) và hoà giải (theo Điều 13) Nhìn chung, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng như thủ tục giải quyết tranh chấp trong các Hiệp định của Vòng đàm phán Tokyo 1979 không đem lại mấy hiệu quả Do đó,
T ho ả thuận WTO 1994 vê quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp đã thực sự tạo
ra cơ sở pháp lý quốc tế cho việc giải quyết các tranh chấp quốc tế phát sinh
Trang 28trong quan hệ giữa các nước thành viên của WTO, trên cơ sở các nguyên tắc và quy định rõ ràng, cụ thể và có tính khả thi cao.
3.1 Cơ sở pháp lý của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO dựa trên Hiệp định về thành lập WTO (Hiệp định Marrakesh 1995), Thoả thuận WTO
1994, một số Hiệp định khác trong khuôn khổ GATT, GATS, TRIM, TRIP ) Trong số đó, cơ sở quan trọng nhất là Hiệp định Marrakesh, tại Điều 4 quy định Đại hội đồng WTO có thẩm quyền triệu tập Cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body - DSB) Chỉ có DSB mới có quyền thành lập Ban Hội thẩm và giám sát việc thi hành các quyết định giải quyết tranh chấp, có quyền áp dụng biện pháp trả đũa nếu một quốc gia thành viên không tuân thủ điều ước
3.2 M ục đích của việc giải quyết tranh chấp của WTO, trước hết là nhằm
đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mỗi thành viên theo quy định của WTO, ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm, làm sáng tỏ các vấn đề gây tranh chấp (trên cơ sở giải thích, vận dụng, thực hiện một cách đúng đắn các quy định liên quan), đưa ra các giải pháp thích hợp để xử lý và giải quyết ổn thoả mọi tranh chấp phát sinh, trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối đa cho các thành viên
3.3 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm: bình đẳng,
nhanh chóng, hiệu quả, cùng chấp thuận (đồng thuận) Các thành viên WTO cam kết không đơn phương giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, mà sử dụng hệ thống đa phương, tự nguyện tuân theo các phán quyết của hệ thống tài phán thương mại này
Việc quy định rõ thời hạn giải quyết tranh chấp (tối đa là 1 năm hoặc 15 tháng nếu có kháng nghị), đã góp phần hỗ trợ cho WTO hoàn thành chức năng
cơ bản của mình, thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại quốc tế ở tất cả các thành viên
3.4 Q uyền khiếu kiện, theo nguyên tắc, thuộc tất cả các thành viên của WTO, khi thấy lợi ích của mình bị xâm hại trong hoạt động thương mại quốc tế (trực tiếp hoặc gián tiếp) Theo quy định của WTO, nếu không phải là thành viên của WTO thì không có quyền khiếu kiện Tính đến tháng 6/1999 đã có 147 trường hợp khiếu kiện liên quan đến 117 lĩnh vực, trong đó có 45 trường hợp do các nước đang phát triển khiếu kiện (liên quan 38 lĩnh vực) và 10 trường hợp do các nước phát triển và đang phát triển cùng tham gia khiếu kiện (liên quan 4 lĩnh vực)
Trang 293.5 Các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của W TO bao gồm
các loại tranh chấp quy định trong Hiệp định W TO và các phụ lục kèm theo (bao gồm: Phụ lục 1 A - các Hiệp định đa phương về thương mại hàng hoá; Phụ lục 1
B - Hiệp định về thương mại dịch vụ; Phụ lục 1 'C- Hiệp định về các khía cạnh
của quyền sở hữu trí tuệ; Phụ lục 2 - Thoả thuận v ề quy tắc và thủ tục giải quyếl
tranh chấp 1994; Phụ lục 4 - các Hiệp định thương mại đa biên) Cho đến nay các tranh chấp chủ yếu phát sinh trên cơ sở Phụ lụtc 1 A (thương mại hàng hoá).Ngoài ra, trên thực tế các bên còn có thể khiếu kiện đối với chính sách thương mại tuy không vi phạm các quy định của \vVTO (theo Điều 26 Thoả thuận 1994), nhưng gây thiệt hại lợi ích nước khác hoặc cản trở việc thực hiện mục tiêu của các Hiệp định liên quan Trong trường hợp n;ày, hên bị kiện không có nghĩa
vụ huỷ bỏ chính sách mà họ đã áp dụng Ban Hệ)i thẩm chỉ có thể khuyến nghị các bên liên quan cố gắng tìm các biện pháp thích hợp để giải quyết tranh chấp phát sinh
3.6 Các biện pháp giải quyết tranh chấp (Ciia WTO bao gồm tư vân, trao
đổi ý kiến; môi giới, hoà giải, trung gian; trọng tiài, Toà án Như vậy, về cư bản, các biện pháp giải quyết tranh chấp trong khuôn &hổ WTO cũng phù hợp với các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp trong Luiật quốc tế nói chung, tuy phạm
vi có hẹp hơn
Quá trình giải quyết tranh chấp trong W T O thường tuân theo một số giai đoạn nhất định Trước hết, các bên cần tiến hành (đàm phán, thương lượng để giải quyết tranh chấp (trong thời hạn 60 ngày) Nếu tthành công, các bên phải thông báo cho DSB; trong trường hợp thất bại, vụ việìc được trình lên Tổng Thư ký WTO (để giải quyết bằng môi giới, hoà giải) Saiu 60 ngày mà không đi đến kết quả, nguyên đơn có thể yêu cầu DSB thành lập Ban Hội thẩm để giải quyết vụ việc (giai đoạn 2)
Ban Hội thẩm giải quyết vụ việc trong thờii hạn 6 tháng Bản báo cáo của Ban Hội thẩm phải đánh giá khách quan về vụ v/iệc, các tình tiết cũng như việc
áp dụng các quy định của WTO Trong trường hiợp các bên kháng nghị đối với báo cáo của Ban Hội thẩm, vụ việc được chuyể;n lên Cơ quan thường trực giải quyết kháng nghị (giai đoạn 3)
Cơ quan thường trực giải quyết kháng nghị có quyển xem xét lại các quyết định của Ban Hội thẩm Cơ quan thường trực g(ồm 7 người là đại diện của các thành viên WTO, có nhiệm kỳ 4 năm Thời hiạn giải quyết tại cơ quan này thường là 1 năm hoặc 1 năm 3 tháng nếu có kháíng nghị (về cụ thể, xem một số
Trang 30vụ giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO, bài của ThS Nguyễn Thanh
Tâm trong phần các chuyên đề do cộng tác viên thực hiện)
Nhìn chung, cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO có nhiều
điểm tương đồng với cơ chế giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế (về mặt lý
thuyết), nhưng cũng có nhiều điểm đặc thù của một tổ chức thương mại quốc tế
Các quốc gia và thành viên của WTO có nghĩa vụ phải luân theo cơ chế giải
quyết tranh chấp này, nếu lựa chọn phương thức giải quyết của WTO
Luột biển nâm 1982
Công ước của LHQ về Luật biển quốc tế năm 1982 chính thức có hiệu lực
từ ngày 16/11/1994, trong đó Phần XV gồm 3 mục 21 điều (từ điều 279 đến điểu
299) quy định về việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực biển
Theo quy định tại Điều 279, mọi tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành
viên về việc giải thích hay áp dụng Công ước LHQ về Luật biển 1982 đều là đối
tượng để xem xét giải quyết theo cơ chế tại Phẩn XV Nói một cách cụ thể, chỉ
có các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên Công ước mới được giải quyết
theo Công ước
4.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp theo Công ước Luật biển 1982
bao gồm: nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp về biển; nguyên tắc tự
do lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp; nguyên tắc thực hiện các nghía vụ
xuất phát từ các Hiệp định chung, khu vực hay song phương; nguyên tắc tiến
hành các trao đổi về quan điểm giữa các quốc gia thành viên có tranh chấp
4.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước 1982 gồm hai mức độ:
thủ tục giải quyết không có các quyết định bắt buộc và thủ tục bắt buộc dẫn tới
các quyết định bắt buộc
a) Thủ tục giải quyết tranh chấp không cố các quyết định bắt buộc được
thực hiện dưới hai hình thức là trao đổi ý kiến (thương lượng) và hoà giải
Thương lượng là biện pháp do các bên tranh chấp tự thực hiện trên tinh thần hữu
nghị, hợp tác và thiện chí, nhằm thu xếp ổn thoả tranh chấp phát sinh Còn hoà
giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba nhằm giải quyết trên
cơ sở chính trị, pháp lý nhằm dung hoà quan điểm của các bên tranh chấp Các
loại tranh chấp bắt buộc phải đưa ra hoà giải là tranh chấp liên quan đến quyền
chủ quyền của quốc gia ven biển đối với các tài nguyên sinh vật trong vùng đặc
quyền kinh tế; tranh chấp liên quan đến việc cho phép hoặc đình chỉ nghiên cứu
Trang 31khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; tranh chấp liên quan đến hoạch định biên giới biển, vịnh hoặc vùng nước lịch sử.
b) Thủ tục bắt buộc dần đến các quyết định bắt buộc được áp dụng, khi
việc thực hiện biện pháp thương lượng và hoà giải đều không đem lại kết quả, và theo yêu cầu của một bên, tranh chấp sẽ được đưa ra giải quyết tại một trong các Toà án có thẩm quyền (Toà án quốc tế về luật biển, Toà án công lý quốc tế, Toà Trọng tài và Toà Trọng tài đặc biệt) Trong khi xem xét vụ tranh chấp, Toà án có quyền áp dụng biện pháp đảm bảo quyền lợi riêng biệt của các bên tranh chấp hoặc ngăn không cho môi trường biển bị tổn thất nghiêm trọng, trong khi chờ quyết định cuối cùng
Quyết định của Toà án, phù hợp với quy định tại mục 2 Phần XV, có tính tối hậu, bắt buộc đối với các bên tranh chấp
4.3 Các giới hạn và ngoại lệ không bắt buộc áp dụng các quy định về
th ủ tụ c tài p hán b ắ t buộc được quy định tại Điều 298,'bao gồm tranh chấp về giải thích và áp dụng các quy định liên quan đến hoạch định biên giới biển hay các vụ tranh chấp về các vịnh hay danh nghĩa lịch sử; tranh chấp về hoạt động quân sự; tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng Bảo an LHQ; tranh chấp liên quan đến việc sử dụng và khai thác đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia (vùng tài sản chung của nhân loại)
4.4 Thủ tục tài phán bắt buộc đối với các phán quyết có tính chất bắt
buộc do Toà án công lý quốc tế, Toà trọng tài và Toà án quốc tế về luật biển tiến hành
a )T o à án quốc t ế về luật biển, theo quy định tại Điều 298, có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước về thực hiện quyền chủ quyền hay quyền tài phán của quốcrgi^ven biển đối với vấn
đề hàng hải, hàng không, đặt dây cáp, ống dẫn ngầm, nghiềạ cứu khoa học, tài nguyên sinh vật biển trong vùng đặc quyền kinh tế Trong Toà án có Viên giải quyết các vu tranh chấp liên quan đến đáy biển Đây là cơ quan tài phán chuyên giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển, bao gồm các tranh chấp phát sinh trong quá trình thăm dò, khai thác tài nguyên ở đáy đại dương Theo yêu
cầu của các bên, Viện có thể thành lập một Viện ad hoc để giải quyết một vụ
việc cụ thể
Theo quy định của Công ước, các tranh chấp về đáy biển không chỉ được xem xét giải quyết tại Viện, mà còn có thể được giải quyết tại Toà án trọng tài
Trang 32thương mại (ngoài khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước luật biển 1982) Trong trường hợp này, các quy tắc trọng tài của Uỷ ban LHQ về luật thương mại quốc tế UNCITRAL cũng như các quy tắc trọng tài khác được áp dụng.
b) Toà trọng tài được tiến hành trên cơ sở các thủ tục trọng tài của Công
ước 1982, phù hợp với chế định trọng tài trong luật quốc tế Khác với thủ tục trọng tài thông thường, các tranh chấp được đưa ra giải quyết tại Toà trọng tài ngay cả khi chỉ có một bên yêu cầu (trọng tài thông thường chỉ giải quyết tranh chấp khi tất cả các bên cùng nhất trí lựa chọn trọng tài)
c) Toà trọng tài đặc biệt được thành lập để giải quyết bốn loại tranh chấp
cụ thể mang tính chuyên ngành là đánh bắt hải sản, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển hoặc hàng hải, nạn ô nhiễm dầu do tàu thuyền hoặc do nhấn chìm Thủ tục trọng tài đặc biệt được thiết lập như sau:
Bắt đầu bằng một thông báo viết của một bên gửi cho bên kia hoặc các bên khác trong vụ tranh chấp, kèm theo yêu sách và căn cứ của các yêu sách đó Bên nguyên cử hai thành viên (trong danh sách trọng tài viên liên quan đến vụ kiện); bên bị cũng cử hai trọng tài viên (tuỳ chọn trong danh sách) Sau đó các bên cùng thoả thuận cử chủ tịch trọng tài đặc biệt (luỳ chọn trong danh sách trọng tài viên, là công dân của nước thứ ba)
Vào bất kỳ lúc nào, các bên có thể thoả thuận yêu cầu trọng tài đặc biệt tiến hành một cuộc điều tra và xác lập sự kiện từ nguồn gốc vụ tranh chấp Nếu không có thoả thuận khác, thì đây có thể được coi là chứng cứ đã được xác minh giữa các bên Theo yêu cầu của tất cả các bên, Toà trọng tài đặc biệt có thể thảo
ra các khuyến nghị làm cơ sở để các bên tiến hành xem xét lại những vấn đề làm phát sinh tranh chấp Các khuyến nghị này không mang tính tối hậu Đây là sự khác biệt giữa hình thức trọng tài thông thường với Toà trọng tài đặc biệt
Tóm lại, Công ước quốc tế 1982 về luật biển đã tạo ra một cơ chế giải quyết tranh chấp đặc thù trong khuôn khổ các quốc gia thành viên Tương ứng với mỗi loại tranh chấp cụ thể mà xác định hình thức giải quyết tranh chấp khác nhau Song tựu trung lại, thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Toà án công lý quốc tế, Toà án quốc tế về luật biển, Toà trọng tài và Toà án trọng tài đặc biệt,
đã góp phần bảo vệ quyền lợi của các quốc gia trong quá trình sử dụng và khai thác tiềm năng của biển vào việc phát triển kinh tế, duy trì hoà bình và an ninh quốc tế
Trang 335 Cơ chế giải quyết tranh chấp của Liên minh châu Âu
5.1 Khác với tất cả các cơ chế giải quyết tranh chấp đã nêu trên đây, trong khuôn khổ Liên minh châu Âu (EU) đã xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp hết sức đặc thù, không giống với bất cứ cơ chế giải quyết tranh chấp quốc
tế nào Tương tự như vậy, pháp luật áp dụng để điều chính quan hệ giữa các quốc gia thành viên EU, cũng không giống luật quốc tế theo nghĩa truyền thống Để hiểu rõ về nguyên nhân của hiện tượng này, không thể bỏ qua việc tìm hiểu sự ra đời của EU, hệ thống bộ máy và các cơ quan của EU, cũríg như hệ thống vãn bản điều ước và pháp luật dùng làm cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia thành viên, v ề vấn đề này, có thể xem toàn bộ chuyên đề của ThS Nguyễn Thanh Tâm (trong Phần thứ ba)
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ EU được thực hiện tại Toà án công lý của các cộng đồng châu Âu và Toà sơ thẩm (theo quy định từ Điều 164 đến Điều 188 của Hiệp ước EC), gọi chung là Toà án châu Âu
Toà sơ thẩm được thành lập trên cơ sở quyết định của Hội đồng ngày
24/10/1988, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp mà: i) nguyên đơn là cá nhân, pháp nhân; ii) nội dung liên quan đến công chức của cộng đồng (về cạnh tranh, than thép, bán phá giá và trợ cấp) Toà sơ thẩm không có thẩm quyén giai quyết các tranh chấp liên quan đến thủ tục yêu cầu Toà án châu Âu giải thích luật cộng đồng, hoặc tranh chấp mà nguyên đơn là quốc gia thành viên hay cơ quan của cộng đồng
Toà án châu Âu có nhiệm vụ bảo đảm sự tôn trọng pháp luật trong việc
giải thích và áp dụng các điều ước quốc tế và các quy định pháp luật do các cơ quan của cộng đồng thông qua Toà án châu Âu đồng thời đảm trách nhiều chức
năng tài phán khác như: tài phán hiến pháp (giải quyết tranh chấp giữa các cơ
quan của cộng đồng như Hội đồng, Uỷ ban, Nghị viện châu Âu); tài phán hành chính (giải quyết tranh chấp phát sinh từ các văn bản do u ỷ ban hoặc quốc gia thành viên thông qua trên cơ sở luật cộng đồng); tài phán lao động và các vấn đề
xã hội (giải quyết tranh chấp liên quan đến tự do đi lại và an toàn xã hội của người lao động, bình đẳng nam nữ trong quan hệ lao động); tài phán dân sự (giải quyết khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại, giải thích Công ước Brucxelles về thẩm quyền tư pháp và thi hành các quyết định trong lĩnh vực dân sự, thương mại)
Như vậy, thẩm quyền và cơ chế giải quyết tranh chấp của Toà sơ thẩm và nhất là Toà án châu Âu có nhiều điểm đặc biệt khác so với cơ chế giải quyết
Trang 34tranh chấp trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế đã nêu trên đây Chẳng hạn, về thủ tục khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại phát sinh từ trách nhiệm ngoài hợp
đồng, theo quy định tại Điều 178 và Điều 215 của Hiệp ước EC, nguyên đơn là
cá nhân, pháp nhân, quốc gia thành viên bị thiệt hại có quyền khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan hoặc công chức của cộng đồng
Hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan hoặc công chức của cộng đồng có thể là: các cơ quan cộng đồng ban hành văn bản trái pháp luật gây thiệt hại cho nguyên đơn; công chức của cộng đồng vi phạm pháp luật khi đang thi hành công
vụ Nguyên đơn phải chứng minh rằng quyền lợi hợp pháp của mình bị vi phạm Nguyên (lơn chỉ được khởi kiện tại Toà án châu Âu sau khi đã khởi kiện thất bại tại Toà án quốc gia mình
Bi đơn - là cơ quan của cộng đồng, trực tiếp ban hành văn bản dẫn tới gây
thiệt hại cho nguyên đơn, chứ không phải cộng đồng gây ra Trong trường hợp thiệt hại sinh ra từ một quyết định do Hội đồng thông qua trên cơ sở đề nghị của
Uỷ ban, thì nguyên đơn có thể khởi kiện chống lại cả Hội đồng và u ỷ ban Các
cơ quan này phải chịu trách nhiệm khi công chức của mình gây thiệt hại khi thi hành công vụ
5.2 Các hình thức giải quyết tranh chấp bao gồm: giải quyết việc kiện
ưực tiếp; giải quyết việc kiện gián tiếp; giải quyết kháng nghị đối với quyết định của Toà sơ thẩm
a) Khởi kiện trực tiếp bao gồm những cách thức như khởi kiện yêu cầu Toà
án xác định hành vi vi phạm pháp luật do quốc gia thành viên thực hiện; khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ văn bản trái pháp luật; khởi kiện yêu cầu Toà án xác định hành vi vi phạm pháp luật do các cơ quan cộng đồng thực hiện; khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng; khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động giữa công chức của cộng đồng'và cộng đồng
b) Khởi kiện gián tiếp bao gồm các cách thức như thủ tục yêu cầu Toà án
châu Âu giải thích luật cộng đồng, khởi kiện chứng minh tính trái pháp luật của văn bản
c) Kháng nghị chống lại quyết định của Toà sơ thẩm được quy định từ Điều
49 đến Điều 54 của Quy chế Toà án châu Ằu, theo đó tất cả các bên đều có quyền này Ngoài ra, trừ tranh chấp giữa cộng đổng và công chức của mình, các quốc gia thành viên và cơ quan của cộng đồng (kể cả Nghị viện châu Âu) cũng
có thể kháng nghị trong trường hợp không phải là một bên của vụ tranh chấp
Trang 35Trong trường hợp một quyết định của Toà sơ thẩm là đối tượng của thủ tục kháng nghị tại Toà án châu Âu, thì Toà sơ thẩm có thể dừng mọi thủ tục đê chờ Toà án châu Âu tuyên bố quyết định Kết quả kháng nghị thường là huỷ toàn bộ hoặc một phần quyết định của Toà sơ thẩm.
Tóm lại, cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ EU không giống với các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế khác Cơ chế này chủ yếu nhằm mục tiêu phục vụ cho hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Nguyên đơn không chỉ là các quốc gia thành viên của EU, mà còn là các cơ quan của cộng đồng, cá nhân, pháp nhân Tuy nhiên, trên thực tế rất hiếm khi quốc gia thành viên thực hiện vai trò nguyên đơn, vì các lý do khách quan, tế nhị trong quan hệ quốc tế BỊ đơn cũng được mở rộng trong các cơ quan của cộng đồng Đối tượng tranh chấp cũng rất đặc thù: có thể là sự vi phạm pháp luật, đòi huỷ văn bản trái pháp luật, đòi bồi thường thiệt hại Do đó, cách thức giải quyết tranh chấp trong EU cũng đảm bảo sự đa dạng và phù hợp
VÀO C ơ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TỂ
Nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế nói chung và trong khuôn khổ một số tổ chức quốc tế phổ cập nói riêng, như đã trình bày trong đề tài này, cho chúng ta thấy một cách tổng quan về hệ thống các cơ quan
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (phụ thuộc vào cơ chế tổ chức của mỗi tổ chức quốc tế cụ thể), phạm vi những vấn đề tranh chấp quốc tế trong từng lĩnh vực cụ thể và đặc biệt là chủ thể tham gia vào các tranh chấp quốc tế thường là không giống nhau Điều đó cho thấy, lý luận chung của Luật quốc tế về tranh chấp và giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia và chủ thể khác của Luật quốc
tế, chỉ đúng với cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ một số tổ chức quốc tế nhất định Riêng đối với cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế trong một
số tổ chức khu vực, như Liên minh châu Âu, Hiệp hội các nước Đông Nam Á, thì điều dễ nhận thấy là các tổ chức này có những phương thức giải quyết tranh chấp rất đặc thù, thậm chí riêng biệt, không giống với bất cứ mô hình giải quyết tranh chấp nào, nhất là Liên minh châu Âu
Do đó, đối với Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi như hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Luật quốc tế nói chung và trong khuôn khổ một số tổ chức quốc tế phổ cập nói riêng, để từ đó rút ra những mặt mạnh, những điểm còn tồn tại cần khắc phục,
Trang 36nhằm giúp cho việc hoạch định các chính sách và cơ chế áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp giữa Việt Nam với các chủ thể khác của Luật quốc tế - nếu có -
là điều rất cần thiết và có ý nghĩa thời sự thực tiễn sâu sắc
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở (cấp trường), với điều kiện và khả năng có hạn, chúng tôi không có tham vọng nghiên cứu và đề xuất được một cách tổng thể, cũng như đưa ra được những kiến nghị to lớn liên
quan đến chủ đề đã chọn, mà chủ yếu chỉ đê xuất một s ố vấn đề có tính chất
nghiên cứu bước đầu về những đóng góp của Việt Nam, thông qua vai trò và vị
th ế của Nhà nước ta, vào cơ chế giải quyết tranh chấp chung của cộng đồng quốc
tế trong giai đoạn hiện nay như sau:
T h ứ n h ất, xét trên phương diện quốc tế, hơn bất cứ lúc nào, trong giai đoạn hiện nay Việt Nam đề nghị cần tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các quốc gia trên tinh thần nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, đề cao hơn nữa vai trò của việc giải quyết mọi tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình Đã đến lúc cộng đồng quốc tế cần thống nhất nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp hoà
bình giải quyết tranh chấp quốc tế và phải quy định việc giải quyết bằng đàm
phán (thương lượng) là biện pháp bắt buộc trong toàn bộ tiến trình giải quyết
tranh chấp quốc tế Đồng thời, để đảm bảo thực thi nguyên tắc này, cần quy định một số biện pháp chế tài nhằm áp dụng đối với các bên vi phạm mà không tuân theo thủ tục đàm phán bắt buộc trong tiến trình giải quyết tranh chấp Cần trao quyền lực cho Hội đồng Bảo an - với tính cách là cơ quan lãnh đạo về mặt chính trị - giúp LHQ trong việc giám sát thực thi nguyên tắc này đối với tất cả các bên tranh chấp Đòi hỏi này có thể phải dẫn đến việc sửa đổi Hiến chương LHQ - tạo
ra nền tảng pháp lý quốc tế cho việc thông qua và áp dụng các quy định về biện pháp và chế tài đặc biệt nhằm đảm bảo sự tuân thủ luật quốc tế một cách hữu hiệu nhất
T h ứ hai, trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và quốc tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế khi tham gia vào các quan hệ đối ngoại, theo đuổi mục đích hoà bình, tự chủ và độc lập dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác Chính sách đối ngoại của Việt Nam là mở rộng quan hệ với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị và hình thái phát triển kinh tế - xã hội khác nhau Do đó, nếu có phát sinh tranh chấp trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước, thì Việt Nam luôn luôn coi trọng việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình
Trang 37Thực tế đã cho thấy, trong thời gian giữa và cuối những năin 90 của thế kỷ
XX, quan hệ Việt Nam và Trung Quốc trở nên căng thẳng xung quanh vấn đề chú quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Quan điểm của Việt Nam
là hai bên cố gắng kiềm chế, tiến hành thương lượng, hoà bình giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán trên tinh thần hữu nghị, hợp tác và cùng có lợi
Ngoài ra, thực tiễn còn chứng minh rằng, trong quá trình hoạch định biên giới và giải quyết các vấn đề liên quan đến đường biên giới trên lãnh thổ đất liền giữa Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Cămpuchia, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng nguyên tắc hoà bình giải quyết mọi tranh chấp, mâu thuẫn trong quan hệ với các nước láng giềng, xây dựng đường biên giới hữu nghị và hợp tác
Những đóng góp của Việt Nam trên đây, cùng với chính sách ngoại giao rộng mở, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, cũng như những thành tựu hết sức quan trọng mà Việt Nam đã đạt được qua 16 năm tiến hành đổi mới đất nước, đã ngày càng khẳng định vị thế của Nhà nước Việt Nam trên trường quốc
tế Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà vừa qua Mỹ và các nước Phương Tây đánh giá rằng Việt Nam là một điểm đến an toàn nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Điều đó là một sự khích lệ to lớn, tạo ra sức hút quan trọng cho đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam năm trong các năm tới, sau khi chúng ta bắt tay thực hiện Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ
T h ứ ba, các quan điểm chỉ đạo có tính nguyên tắc trong quá trình xây dựng
và thực hiện chính sách về đối ngoại của Nhà nước Việt Nam được khẳng định
rõ trong Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992: "Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách htìà
bình, hữu nghị, m ở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên th ế giới, không phân biệt c h ế độ chính trị và x ã hội khác nhau, trên cơ sở rốn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước x ã hội chủ nghĩa và các nước lúng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân th ế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội" Có thể nói, đó chính là tư
tưởng, quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong chính sách đối ngoại Đồng thời đó cũng là nền tảng pháp lý cho các quyết định của Nhà nước Việt Nam khi tham gia giải quyết các tranh chấp trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước bằng các biện pháp hoà bình
Trang 38Có thể nói, đây không hẳn chỉ là một sự hưởng ứng những nỗ lực to lớn của Liên hợp quốc trong việc tạo ra một bầu không khí hoà bình, hữu nghị của tất cả các quốc gia trên hành tinh, mà còn là đóng góp thiết thực của Việt Nam - một đất nước phải trải qua nhiều năm chiến tranh liên miên - vào việc ổn định và duy trì hoà bình, an ninh thế giới Trong khi một số nước đế quốc, đứng đầu là Mỹ, còn tiếp tục duy trì chính sách ngoại giao bá chủ thế giới, chạy đua vũ trang và
đe doạ nhân loại bằng việc khôi phục kế hoạch tên lửa MND, thì các chính sách ngoại giao vì một nền hoà bình và an ninh quốc tế như của Việt Nam, là một biểu hiện sâu sắc về nguyện vọng hoà bình của toàn thể nhân dân Việt Nam, phấn đấu vì một thế giới hoà bình và phát triển
T hứ tư, trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra khá mạnh mẽ, Việt Nam
đã tích cực đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Tham gia vào Tổ chức này, cũng có nghĩa là Việt Nam chấp nhận cơ chế giải quyết tranh chấp của nó, với tất cả những điểm đặc thù như đã phân tích ở trên Đóng góp của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp trortg khuôn khổ WTO sau này, nếu có, cũng chỉ là hết sức nhỏ bé Nhưng vai trò tích cực nhất là cố gắng không để xảy ra tranh chấp trong quan hệ với các thành viên khác Trong trường hợp không thể lường tránh hết được những tranh chấp phát sinh, thì nên nỗ lực đàm phán, thương lượng để giải quyết tranh chấp một cách có hiệu quả Kinh nghiệm tham gia ASEAN, với cơ chế giải quyết tranh chấp "tôn trọng truyền thống văn hoá và pháp luật" của nó trong thời gian qua, cũng phần nào giúp chúng ta có thêm kinh nghiệm khi gia nhập WTO
Cuối cùng, liên quan đến việc thực hiện các quyết định giải quyết tranh
chấp của các cơ quan có thẩm quyền trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đóng góp của Viêt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế là ở chỗ, Việt Nam có tích cực chủ động và tự nguyện thi hành các quyết định giải quyết tranh chấp đó hay không Chúng ta đều biết, trong vòng 15 năm nay, Nhà nước ta đã ký kết, gia nhập rất nhiều loại điều ước quốc tế thuộc các lĩnh vực khác nhau Trên nguyên tắc pacta sunt servanda, phù hợp với quy định tại Pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998, Việt Nam cam kết tuân thủ nghiêm chỉnh các điều ước quốc tế đã ký kết, đồng thời cũng yêu cầu các bên nghiêm chỉnh tuân thủ điều ước quốc tế đã ký kết với Việt Nam (Điều 23) Đây là một sự đóng góp tích cực, một đảm bảo vững chắc về việc Việt Nam sẽ tự nguyện thực hiện các quyết định giải quyết tranh chấp, nếu có, của
Trang 39các cơ quan có thẩm quyền trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế liên Chính phủ
mà Việt Nam là thành viên
KẾT LUẬN
Trên cơ sở nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế - một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, các quốc gia khi tham gia vào các quan hệ quốc tế, có quyền tự thoả thuận xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp thích hợp nhất, đảm bảo hiệu quả khi giải quyết các tranh chấp phát sinh
Trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế liên Chính phủ rộng lớn có tính toàn cầu như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại Quốc tế, các quốc gia thành viên thoả thuận xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp, một mặt phù hợp với tôn chỉ, mục đích hoạt động của mình, mặt khác đảm bảo lợi ích của các bên tham gia vào quan hệ tranh chấp Mô hình Toà án quốc tế và Trọng tài quốc tế (hoặc Toà trọng tài) được áp dụng phổ biến hơn cả Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, Toà
án công lý quốc tế là cơ quan tư pháp chuyên giải quyết (xét xử) các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên với nhau, cũng như với các quốc gia không phải thành viên của LHQ Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, Toà án LHQ
đã giải quyết rất nhiều tranh chấp quốc tế thuộc các lĩnh vực khác nhau song chủ yếu là liên quan đến việc giải thích và thực hiện các điều ước quốc tế Có những
vụ đã trở thành án lệ quan trọng và được coi là một trong các loại nguồn (bổ trợ) của pháp luật quốc tế
Khác với LHQ, Hiệp hội các nước Đông Nam Á là tổ chức khu vực, hoạt động vì sự phát triển quan hệ hợp tác và hữu nghị của các nước trong khu vực, chủ yếu là về kinh tế, văn hoá và xã hội (để phân biệt với tổ chức chuyên về quân sự như NATO) Trước khi Việt Nam tham gia tổ chức này, các mục tiêu phát triển kinh tế và hợp tác đa phương có tính khu vực cũng đã được đề cao Cơ chế giải quyết tranh chấp trong ASEAN có nhiều điểm không giống với cơ chế này trong LHQ, đặc biệt khác xa so với Liên minh châu Âu (cũng được coi là
Trang 40mô hình tổ chức khu vực) Chính sự tương đồng về văn hoá, phong tục tập quán
và phát triển kinh tế của các nước trong khu vực đã tạo tiền đề cho sự ra đời của
cơ chế giải quyết tranh chấp đặc thù ASEAN, lấy sự tôn trọng bán sắc văn hoá
dân tộc và pháp luật của mỗi quốc gia thành viên làm nguyên tắc xuyên suốt
quá trình giải quyết tranh chấp
Với tư cách là thành viên ASEAN, Việt Nam phấn đấu trở thành một quốc gia phát triển giàu mạnh, dân chủ và văn minh Trong quan hệ quốc tế khu vực, Việt Nam luôn coi trọng các cam kết đã đưa ra trong khuôn khổ các điều ước quốc tế của ASEAN, tích cực tham gia vào việc giải quyết mọi tranh chấp phát sinh bằng các biện pháp hoà bình, trên các nguyên tắc của ASEAN, nhằm đóng góp ngày càng nhiều kinh nghiệm cũng như trí tuệ trong lĩnh vực này./