Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam của dân, do dân vì dân là m ột định hướng lớn được Đảng khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn q
Trang 2BỘ T ư P H Á P B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRƯƠNG THỊ NGỌC LAN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG • • • •
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nirớc và pháp luật
Trang 3L Ờ O C Á M ơy\J
S ụ ctọr\g V\ầv\ g i u p đ ỡ c u a c ấ c T U Ầ ỵ , O a 0 ic\Oy c u a bè/
CÀ\c\ c[ír\k v à B ổ K\0 KvgKiồp l à rvgucm U K ích lẹ £|u y c K o fổi K o à n
tk à rv K luẹm v c m K\ày.
T o i x ì^ c K Ẩ n tKàí^k (ZCK\y\ ơv\ XiíầkA sT Duơrvg J^Acx\
KV0UỜÌ c(a \\iA0v\g dem tcm tỈKvU v à đ Á ỵ t^ ấ c K Kvhiẹm cle tổi kocm +k<ằ^k đ ẩ tài K\L:jKiồKV c ú u ,
,X m e h c m t K à Kvk c a m ơh 13cm (L^\ỉcur\ K ỉâ u \vKUỜv\Q Đ ạ i \\ọ c
L -u ạ t { 'l à A ]pi/ K k o a S a u Đ ạ i k ọ c cùr\0 toàrv tk ế c ấ c T k ầ ỵ , C ô
đcK rvkiầt tĩiak g ic m g c\ckỵ v à t ạ o mọi đ iề u \<\Ậv\ <zị\o tồi kocm t k à ^ k
rvKiồm vụ k ọ ^ t ạ p c ủ a
mí^k-c k a * tK mí^k-cm k mí^k-c ố m ơ n CQC A ^ k , kọ<^ viầKv lc^p £^c\o k ọ cL-uạt l<Koấ iO íi^UcMg Đ ạ i kọ c JLuạ+ 'Ha /\.'ọi cỉa <ftộr\0 viền tổi
Trang 41.1.3 Sự thống trị của pháp luật và vị trí tối cao của các đạo luật trong 9nhà nước pháp quyền
1.1.4 Vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền 10
1.2.3.3 Nguyên tắc phản ánh điều hoà các mâu thuẫn giữa các nhóm 22 lợi ích
1.3 Sư tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp 24
271.4 Phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp
1.4.2.2 Vì sao cần phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp 291.4.2.3 Phản biện xã hội trong các giai đoạn của quy trình lập pháp 31
1.4.3 Ý nghĩa của phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp 36
1.4.3.2 Đảm bảo nguyên tắc dân chủ trong xây dựng pháp luật 39
1.4.3.4 Góp phần nâng cao tính ổn định của pháp luật 41
Trang 5CHƯƠNG 2: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CH ẤT
LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG HOẠT
ĐỘNG LẬP PHÁP VIỆT NAM HIỆN NAY 44
2.1 Cơ sở của phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam 44
2 4 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của phản 65biện xã hội trong hoạt động lập pháp
2.4.1 Xây dựng quan hệ phối hợp giữa Nhà nước pháp quyền và xã 65hội dân sự trong xây dựng và thi hành pháp luật
dân vào quá trình xây dựng và ban hành VBQPPL
2.4.2.3 Xây dựng cơ chế phản biện độc lập, trong đó tăng cường vai 69trò của MTTQVN, các nhóm lợi ích
2.4.3.1 Tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL 70
Trang 6PHẦN MỞ ĐẨU
I Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam của dân, do dân vì dân là m ột định hướng lớn được Đảng khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX cùng với các giải pháp được đặt ra m ột cách toàn diện và đồng bộ như kiện toàn tổ chức và hoạt động của QƯẩC Hãi với trọng tâm là tăng cường chức năng lập pháp; xây dựng nền hành chính trong sạch vững mạnh, từng bước hiện đại hoá; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong s ạ c h , vững m ạ n h , có năng lực; cải cách tổ chức và hoạt động của CƯ
quan tư pháp; xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc mở rộng dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, bảo đảm cho nhân dân tham gia tích cưc và chủ động trong quản lý xã hội Nói cách khác, đô bảo đảm Nhà nước thực sự là m ột Nhà nước pháp quyền thì m ột trong những yêu cầu cơ bản đó là Nhà nước đó phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện và thống nhất, phản ánh đúng ý chí lợi ích của nhân dân và cộng đồng
Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ngày một phù hợp và thích ứng tốt hơn với những biến đổi kinh tế- xã hội sâu sắc của đất nước Tuy nhiên, hệ thống pháp luật đó vẫn chưa theo kịp và chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang trong tiến trình hội nhập quốc tế và yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Những bất cập chủ yếu của hệ thống pháp luật là sự thiếu toàn diện, thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất về mặt nội dung; chưa phân định rõ phạm vi, đối tượng và hình thức văn bản điều chỉnh trong m ột số lĩnh vực nên hiệu quả, hiệu lực thi hành không cao; tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật còn hạn chế
Trang 7Một nguyên nhân của tình trạng trên là do cơ chế xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật vẫn còn nhiều mặt bất cập : cách phân công và thực hiện quy trình xây dưng pháp luât dễ dẫn đến tình trang cả người đưa ra sáng kiên lập pháp
và người soạn thảo văn bản đều lo bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành mình, địa phương mình, chưa thật sự vì lợi ích chung và vì sự thuận lợi cho người dân; nội dung chính sách và các giải pháp lâp pháp được đưa ra và thông qua nhiêu khi mang nặng ý chí chủ quan của người quản lý, không dựa trên các luận cứ khoa học và thực tiễn lại thiếu sự thẩm định và phản biện từ phía xã hội ; việc
tổ chức lấy ý kiến tham gia của các bộ, ngành liên quan cũng còn mang tính hình thức
Vì vây, đẩy nhanh tốc độ ban hành và nâng cao chất lượng văn bán pháp luật trên cơ sở đổi mới quy trình lập pháp, lập qui theo hướng khắc phục tính cục bộ , đề cao trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân trong quá trình soạn thảo, thông qua văn bản quy pham pháp luât đã trở thành một yêu cầu, một nội dung quan trọng cua Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ
Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động lập pháp là một trong những phương thức thực hiện quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước, thể hiện khả năng và vai trò của nhân dân với tư cách vừa là đồng tác giả vừa là phản biện xã hội đối với những chính sách, những dự án luật do các cơ quan nhà nước đưa ra ở quy mô rộng hơn, trong mộí vài năm gần đây, bằng trí tuệ bằng sự quan tâm gắn liền với các lợi ích vật chất và tinh thần được khơi dậy thông qua các hoạt động góp ý, phản biện, thẩm định xã hội, nhân dân đã đóng góp thiết thực vào việc hoạch định và thông qua những chủ trương, chương trình, quy hoạch, dự án kinh tế- xã hội quan trọng của quốc gia hoặc địa phương
Trang 8Tuy nhiên, phản biện xã hội trong hoạt động hoạch định chính sách nói chung trong hoạt động lập pháp nói riêng vẫn chưa được nhận thức một cách thống nhất, chưa được mô hình hoá, luật hoá để từ đó trở thành phương thức,
nề nếp trong đời sống chính trị- pháp lý ở nước ta
Từ những lí do trên, chúng tôi manh dan chọn nghiên cứu đê tài: Nâng cao chất lượng và hiệu quả của phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp của Việt nam hiện nay" nhằm góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận về phản biện xã hội và đánh giá những tác động của nó trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật - nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện đường lối , chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách thể chế và phương thức hoat động của Nhà nước, phát huy dân chủ, giữ vững ky luật, kỷ cương tăng cường pháp chế, trong thời gian qua Quốc hội, Chính phủ
và các Bộ ngành Trung ương đã có nhiều cuộc hội thảo, hội nghị về việc tăng cường năng lưc lâp pháp, tăng cường vai trò phan biện xã hội nhăm nâng cao chất lượng hiệu qua của hoạt động lập pháp
Trên các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là ử các Tạp chí chuyên ngành về pháp luật đã có nhiều bài viết về công tác xây dựng luật, pháp lệnh, về dư luận xã hội, về việc đóng góp ý kiến của nhân dân trong việc xây dựng các chương trình chính sách của Nhà nước, các luật, dự án luật của Quốc hội
Ngoài ra, trong các sách tham khảo có đề cập đến vai trò tư vấn, phản biện xã hội của các tổ chức quần chúng cũng như đổi mới quy trình lập pháp như:
Trang 9- Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội của Văn phòng Quốc hội - Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2004.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động lập pháp, lập quy ở Việt nam hiện nay - Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2004
Các công trình nghiên cứu khoa học về vị trí, vai trò của phản biện xã hội trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động lập pháp ở Việt Nam hiện nay nhìn chung còn ít và chưa mang tính nghiên cứu hệ thống từ lý luận đến thực tiễn Tuy nhiên các công trình trên đã tạo cơ sở lý luận và thực tiễn ban đầu, quan trọng, gợi mở những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn toàn diện hơn nhằm góp phần nâng cao vị trí, vai trò của phản biện xã hội không những chỉ trong hoạt động lập pháp mà trong cả quá trình thực thi pháp luật
Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp, chúng tôi chỉ đề cập đến phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp, tức là dưới góc độ là sự tham gia của các chủ thể của xã hội vào quá trình xây dựng pháp luật và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hiệu quả của hoạt động này Sự tham gia của nhân dân vào những hoạt động này càng mạnh mẽ, sâu sắc càng thể hiện trình độ, khả năng nhân thức đánh giá và khả năng ứng xử các vân đô xa hội cua nhân dân vừa có khả năng tác động đến các hoạt động của các cơ quan Nhà nước cũng như hoạt động của đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu phản biện xã hội trong phạm vi hoạt đông lâp pháp tức là chỉ trong quy trình làm ra hiến pháp, các luật, phap lẹnh, chưa đi sâu vào hoạt động lập quy của Chính phủ
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước về phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp
Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Nghiên cứu các văn kiện Đảng, các tài liệu Iham khảo, các chương trình nghiên cứu có liên quan nhằm xác định cơ sở lý luận của đề tài
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ khoa học về vấn đề nghiên cứu
5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
a, Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu từ góc độ lý luận và thực tiễn vai trò của phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp
b, Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 116 Những đóng góp mói của luận văn:
- Luận văn đã tổng quan được những nội dung cơ bản lý luận về phảnbiện xã hội trong hoạt động lập pháp
- Đánh giá những đóng góp của phản biện xã hội trong việc góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động lập pháp
- Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao vị trí, vai trò của phản biện xãhội trong hoạt động lập pháp ở nước ta trong thời gian tới
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu,giảng dạy
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luân, luân văn bao gồm 2 chương:
Chương 1: Phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp - một số vấn đề líluận
Chương 2: Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp của Việt nam hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 1
PHẢN BIỆN XÃ HỘ] TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP
- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
Hoạt động lập pháp hiểu về tổng thể là hoạt động làm ra pháp luật, mà
cụ thể hơn là làm ra các đạo luật (để phân biệt với hoạt động lập quy - thường được hiểu là hoạt động làm ra các văn bản “dưới luật”, văn bản hướng dẫn thi hành luật) Sản phẩm của hoạt động lập pháp là các văn bản luật, từ Hiến pháp
- luật cơ bản của Nhà nước đến các bộ luật, luật, Nghị quyết của Quốc hội Bản chất, vị trí, các yêu cầu về nội dung và hình thức, giá trị hiệu lực của các đạo luật quy định những nguyên tắc, trình tự, thủ tục của hoạt động lập pháp cũng giống như trong các lĩnh vực sản xuất, chính các yêu cầu về chất lượng, hình thức của sản phẩm đòi hỏi phải có quy trình và công nghệ sản xuất tương ứng Vì vậy, trước khi đi sâu vào nghiên cứu về hoạt động lập pháp, cần bàn qua về sản phẩm của hoạt động đó- pháp luật nói chung, các đạo luật noi riêng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân do nhân dân, vì nhân dân
1.1 Pháp luật trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
1.1.1 Pháp luật vừa mang bản chất xã hội vừa mang bản chất giai cấp.
Pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự do Nhà nước xác lập hoặc thừanhân để điều chỉnh các quan hê xã hội Pháp luật phản ánh những lợi ích
1Trong cơ c h ế hiện hành của Việt N am , việc làm ra các p h á p lệnh của Uỷ ban thường vụ Q uốc hội cũng được dưa vào quy trình lập pháp, m ặc dù, v ề bản chất, dó là m ột
q u y trình dược thực hiện theo sự uỷ quyền lập p h á p của Q uốc hội.
Trang 13chung, những nhu cầu chung của xã hội về một trật lự xã hội được thể hiện và được bảo đảm bằng ỷ chí của Nhà nước Do vậy, pháp luật vừa mang bản chất
xã hội vừa mang bản chất giai cấp Pháp luật là điểm dừng cân bằng giữa lợi ích chung với các lợi ích riêng, trong đó các lợi ích có thể triệt tiêu nhau đã
bị loại bỏ "Các văn bản luật phải thể hiện ý chí, lợi ích chung của nhân dân, bảo đảm kết hợp và cân bằng một cách hài hoà giữa lợi ích của các tầng lớp nhân dân vì sự phát triển của cả cộng đồng, của cả xã hội" [34],
Hai thuộc tính xã hội và giai cấp của pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau Xét theo quan điểm hệ thống, không có pháp luật chí thể hiện duy nhất tính giai cấp, ngược lại, cũng không có pháp luật chỉ thể hiện tính xã hội
1.1.2 Pháp luật là tài sản tinh thần của nhân dân
Phát triển từ tư tưởng của JJ Rut xô về khế ước xã hội, trong một số bài nghiên cứu gần đây, pháp luật được đề cập đến như là khế ước tinh thần của con người với nhau và với nhà cầm quyền Đó là khế ước về sư tự nguyên cống hiến m ột phần tự do cá nhân để hình ihành các quy tắc xử sự chung đảm bảo tự do phát triển cho mọi cá nhân trong sự hài hoà lợi ích giữa các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng Nếu pháp luật - khế ước đó được định ra bởi ý chí của nhà cầm quyền thay vì là kết quả của quá trình thảo luận và đàm phán giữa các thành viên trong xã hội, thì pháp luât đó sẽ trái với ý chí của xã hội, không bảo đảm và phát triển quyền tự do của con người Trật tự pháp luật mang tính áp đặt, cưỡng bức không dựa trên sự tự do thoả thuận của các cá nhân sẽ không được các thành viên xã hội tự giác tôn trọng Luật gia Nguyễn Trần Bạt có lý khi nhận xét " Chỉ khi nào con người nhận ra mình là chủ sở hữu của những quy tắc sống, là đồng sở hữu của những khế ước xã hội thì lúc
đó, con người mới đối xử với pháp luật một cách tự giác" Bảo đảm tự do cá nhân trong sự hài hoà lợi ích với các cá nhân khác, với cộng đồng, bảo đảm tự
do trong phát triển của mỗi con người, do vậy là ý nghĩa, là mục đích thiêng
Trang 14liêng nhất của pháp luật trong một nhà nước pháp quyền, làm cho pháp luật thật sự trở thành tài sản tinh Ihần của nhân dân.[32]
1.1.3 Sự thống trị của pháp luật và vị trí tối cao của các đạo luật trong nhà
nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau: là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước (sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các nhánh quyền lực nhà nước để đảm bảo hạn chế sự lạm quyền, chuyên quyền, vi phạm tự do và quyền con người); là tính tối cao của luật trong hoạt động của nhà nước và trong đời sống xã hội; là cơ chê trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước - công dân - xã hội [53]
Từ góc độ pháp luật, Nhà nước pháp quyền được nhận diện qua vị trí thống trị của pháp luật đối với nhà nước và xã hội Vị trí đó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà cầm quyền muốn hay không muốn mà nó được quy định bởi vai trò đặc biệt của pháp luật trong quan hệ với kinh tế, chính trị quyền con người- những nhân tố, động lực cơ bản quyết định sự phát triển của một xã hội dân sự hiện đại Pháp luật là hình thức pháp lý bảo đảm hiệu quả cao của sản xuất vật chất (như Anghen nói pháp luật phát sinh từ nhu cầu khách quan phải tập hợp những hành vi sản xuất, phân phối, trao đổi sản phẩm dưới các quy tắc chung — lúc đầu là thói quen, sau là pháp luật) Pháp luật bao đảm cho sự phát triển tự do của con người, bảo vệ các quyền tự nhiên không thể bị tước đoạt của con người về tự do, bình đẳng, công bằng, sống trong một trật tự hạnh phúc Pháp luật là cái bảo đảm sự dân chủ về chính trị, làm cho nhà nước trở thành liên minh chính trị - pháp lý của các công dân bình đẳngtrong m ột xã hội dân sự [16], [54]
Sự thống trị của pháp luật trong nhà nước pháp quyền XHCN được thể
hiên bằng nhiều cách : thứ nhất, Nhà nước phải đại diện cho y chi, nguyẹn
vong của nhân dân để làm ra các đao luật tốt, phù hợp VỚI quy luật vận đọng
khách quan của đời sống kinh tế- xã hội; thứ hai, bản thân nhà nước phải phục
Trang 15lùng pháp luật; lliứ ba, phải đảm bảo tính tối cao của các đạo luật trong hệ
thống pháp luật- đảm bảo các quan hệ xã hội cơ bản, các quyền con người, quyền cơ bản của công dân đều được điều chính trực tiếp bằng các đạo luật;
thứ tư xác lập và tăng cường các cơ chế bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thực thi
pháp luật
1.1.4 Vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyển XH CN Việt Nam
Sự thống tri của pháp luật và vị trí tối cao của các đạo luật không phải là mục đích tự thân của pháp luật mà chính là ở cái mà nó có thể phục vụ, đem lại lợi ích cho người chủ đích thực của Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự- những con người tự do với đầy đủ các quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc
Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự có mối quan hệ hợp tác và tương
tác với nhau, cả hai đều đặt dưới pháp luật Đối với Nhà nước, pháp luật là
công cụ quản lý Nhà nước, là phương tiện để thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội Pháp luật vừa là cơ sử để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực Nhà nước, vừa là công cụ kiểm soát quyền lực công "Pháp quyền có nghĩa là không một cá nhân nào, dù là tổng thống hay công dân, được đứng trên pháp luật Các chính phủ dân chủ thực thi quyền lực bằng pháp luật bản thân họ cũng phải chịu sự hạn chế của luật pháp” [59]
Đối với x ã hội dân sự chỉ khi lợi ích và các qui phạm khác không phát
huy được tác dụng điều chỉnh quan hệ giữa các cá nhân một cách hiệu quả thì pháp luật mới được sử dụng như là một công cụ cần thiết để vừa hạn chế vừa bảo vệ quyền tự do của công dân Để pháp luật không bị lạm dụng trong tay
bộ máy quyền lực nhà nước, nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi và giao phó cho các đạo luật sứ mệnh xác lập nên cái giới hạn - cơ quan và công chức chỉ được làm những điều luật cho phép, người dân được làm tất cả những điều luật không cấm
Trang 16Để có được những giới hạn, không gian luật pháp hợp lí cho nhà nước pháp quyền và xã hội dân sư , pháp luâl phải do nhân dân và nhà nước cùng làm ra ; mọi quá trình làm luật, thi hành, áp dụng pháp luật phải là sản phẩm chung của nhà nước và nhân dân, phải có sự hợp tác của hai đối tác bình đăng
là nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự Nhà nước pháp quyền làm ra luật và thi hành luật không phải để cai trị mà trên hết là để phục vụ lợi ích của nhân dân ; xã hội dân sự làm ra luật và tự quản bằng luật để thực hành một trật tự có trong hạnh phúc cho mỗi người [37, tr 579] Đó là con đường hướng đến sự đồng thuận xã hội trong mối quan hệ đối với chính sách và pháp luật mà Nghị quyết Đại hội Đảng IX đề ra như là một trong nhũng tất yếu khách quan của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam [15]
1.2 Hoạt động lập pháp trong nhà nước pháp quyền
1.2.1 Triết lý lập pháp
Như trên đã luận bàn, pháp luật là tài sản tinh thần của nhân dân và từ nguyên lý chủ quyền thuộc về nhân dân đòi hỏi pháp luật phải do nhân dân làm ra Vấn đề cần bàn tiếp theo là trên thực tế, công việc lập pháp ở các quốc gia đều phải thực hiện theo cơ chế dân chú đại diện- nhân dân uỷ quyền cho các cơ quan, tổ chức đại diện cho mình làm ra luật pháp Vậy ai đang thực sự làm ra luật pháp và luật pháp được làm ra như thế nào trong nhà nước pháp quyền mà chúng ta hướng tới ?
Điều mà dường như ai cũng đã biết, theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội có quyền đó
là bởi vì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Quốc hội do nhân dân cả nước trực tiếp bầu ra và được nhân dân giao phó quyền đại diện cho nhân dân làm ra các đạo luật thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân Tuy nhiên, ở hầu như tất cả các quốc gia trong đó có Việt Nam, việc làm luật hay quá trình lập pháp trên thực tế lại bắt nguồn chủ yếu từ hành pháp Điều
Trang 17đó được lý giải bằng vị trí, chức năng điều hành của các cơ quan hành pháp Trong quá trình quản lí nhà nước, điều tiết hàng ngày các hoạt động xã hội, hơn ai hết hành pháp có khả năng và trách nhiệm nhận biết các nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật từ phía nhà nước cũng như từ phía người dân, phát hiện
và nắm bắt được mọi vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật, kể
cả những điểm phù hợp lẫn những han chế, bất cập cần sửa đôi trong môi đạo luật Do vậy, mặc dù quyền sáng kiến lập pháp, quyền đề xuất, kiến nghị về xây dưng pháp luât thuôc về nhiều chủ thê, trước tiên là các đại biêu Quôc hội các tổ chức chính trị- xã hội đại diện cho các giai tầng xã hội, các nhóm lợi ích khác nhau nhưng ở gần như tất cả các nước, tỉ trọng lớn nhất các dự thảo luật trình ra trước cơ quan lập pháp vẫn thuộc về Chính phủ [1 ] Từ nhận biết nhu cầu, hành pháp sẽ là người thiết kê mô hình hành xử cho nhà nước, cho xã hội và cho từng người dân trong mõi quan hệ pháp luật Hành pháp làm điều này thông qua việc mà các nhà nghiên cứu lập pháp gọi là phân tích và hoach đinh chính sách Đây chính là khâu quan trọng nhât, then chỏi nhât cua quy trình lập pháp vì suy cho cùng, luật là chính sách ẩn sau những câu chữ, điều khoản cụ thể Như vậy, hành pháp chính là kiến trúc sư quan trọng của nhiều đạo luật, và bởi vậy, mô hình hành xử do hành pháp đưa ra thường gắn với việc trao thêm quyền và sự tiện ích cho bộ máy hành pháp đồng thời hạn chế bớt quyền tự do của người dân theo tư duy làm luật để cai trị hơn là để phục vụ dân [31 ]
Vây thì vai trò của chức năng lập pháp duy nhất mà nhân dân giao phó cho cơ quan đại diên của mình thể hiện ở đâu trong mối quan hệ với hành pháp ? Bàn về thao tác bấm nút điện tử của các nhà lập pháp để thông qua một đạo luật tại kỳ họp Quốc hội, luật gia Trần Hữu Huỳnh luận giải vai trò ‘’ba trong m ột” của nhà lập pháp- là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân là người song hành cùng cơ quan hành pháp do chính họ bâu ra đê điều hành đất nước và là người hoá Ihân cùng cơ quan tư pháp để tìm ra công
Trang 18cụ có thể xác lập và duy trì công lý - khát vọng của người dân [401- Điều mà người dân gửi gắm ở những đại diện của mình là những ngón tay bấm nút đó phải biết rung lên cùng nhịp điệu của đất nước, vì vận mệnh và sự hưng thịnh của cả quốc gia cùng hàng triệu triệu con người Cái tâm và cái tài, cũng là sứ mệnh của nhà lập pháp đòi hỏi họ chỉ bấm nút thông qua một đạo luật khi tìm được sự cân bằng giữa các nhóm lợi ích khác nhau, khi lợi ích chung và nhu cầu phát triển của đất nước biện hộ được cho việc điều chỉnh hành vi, hạn chế
tự do của người dân [4]
Triết lý của lập pháp trong nhà nước pháp quyền chính là ở chỗ đó Quốc hội với tư cách là cơ quan đai diên cho nhân dân, kết hợp chặt chẽ chức năng lập pháp với chức năng giám sát hành pháp để phản biện lại các chính sách pháp luật do hành pháp đưa ra, để kiểm tra xem các quy tấc hành xử do hành pháp thiết kế có phù hợp với nguyên vọng, hạnh phúc của nhân dân
không tiên ích của nhà quản lý có hài hoà VỚI lợi ích cua ngươi dan k h ô n g ’,
cái giá phải trả cho sự hạn chế trước mắt đối với tự do cá nhân có thực sự đem lại lợi ích chung lâu dài, bền vững cho xã hội không Trên cơ sở những cân nhắc, phản biện đó, nhà lập pháp bấm nút biểu quyết thể hiện tiếng nói cuối cùng quyết đinh đối với sản phâm của toàn bộ hoạt động lập phap la cac đạo luật - sao cho mỗi đạo luật đều thật sự là tiếng vọng của lòng dân Như vậy, pháp luật là kết quả sự tương tác, phân công và phối hợp giữa lập pháp và hành pháp trong quá trình làm luật, một biểu hiện tinh tế của nguyên tắc tổ chức lao động quyền lực trong nhà nước pháp quyền XHCN của chúng ta
Trang 19Trước tiên, cần điểm qua mô hình lý thuyết có tính phổ biến của một quy trình lập pháp Quy trình là thuật ngữ được sử dụng khi nói về một loạt liên tục các hoạt động theo trình tự thống nhất, hợp lý với các bước phải tuân theo một cách thứ tự, lần lượt (do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành) bắt buộc các chủ thể có liên quan phải thực hiện đúng khi tiến hành một công việc xác định nào đó [29, tr 1381].
Quy trình lập pháp thể hiện sự phân công, phối hợp giữa các chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực nhân dân trong hoạt động lập pháp ơ các công đoan của quy trình để vừa đảm bảo tính khách quan, tinh dân chu, lại vừa đảm bảo được tính tập trung và thống nhất ý chí trong quá trình chuyển hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn thuộc đường lối, chính sách thành các quy phạm pháp luật mang tính quyền lực Quy trình lập pháp bao gồm nhiều hoạt động trải qua những công đoan kê tiếp nhau từ sáng kiến lập pháp đên việc xây dưng chính sách pháp luât, soan thao luật, thao luận, thông qua dụ an luạt
và công bô luât để thi hành
Về đại thể quy trình lập pháp chia làm 2 công đoạn lớn- một thuộc về Chính phủ- công đoạn soạn thảo luật và một thuộc về Quốc hội- công đoạn thảo luận, thông qua dự thảo luật
1.2.2.ỉ Công đoạn Chính phủ : công đoạn này gồm nhiều hoạt động và có
thể chia thành các bước nhỏ hơn, trong đó quan trọng nhất là hoạt động sáng kiến pháp luât và hoat động soạn thảo dự án luật
Sáng kiến pháp luật: Đây là bước khởi đầu của quy trình lập pháp ở tất
cả các nước Sáng kiến pháp luật ( tiếng Anh là Initiation of law) được hiểu là su' đề xuất các dư án luât Quyền sáng kiên pháp luật la quyen đe xuat va tnnh
dự án luật trước Quốc hội Như trên đã trình bày, những chủ thê chính được hiến pháp các nước giao quyền sáng kiến pháp luật là nghị sĩ, đại biểu Quốc
Trang 20hội Chính phủ (hành pháp) và một số chủ thể khác đại diện cho các nhóm công dân có lợi ích khác nhau Theo thống kê của Liên minh Quốc hội thế giới các chủ thể được nhiều nước quy định có quyền sáng kiến pháp luật là :
Nghị sĩ, đại biểu Quốc hội 82
Uỷ ban của Nghị viện, Quốc 15hội
65Chính phủ
29Nguyên thủ quốc gia
8Các tổ chức chính trị
8Các tổ chức kinh tế và xã hội
6
Cử tri
5Chính quyền địa phưưng
Điều cần lưu ý là ở các nước thực hiện chế độ phân quyền cứng rắn như
ở Hoa Kỳ, mặc dù Tổng thống và các cơ quan hành pháp không có quyền sáng kiến pháp luật nhưng bằng nhiều cách khác nhau, hành pháp vãn tác động mạnh mẽ đến việc đưa ra những dự án luật của nghị sĩ, ví dụ, thông qua các thông điêp của Tổng thống gửi Nghi viện hoặc thông qua cac nhom nghi SI
thuộc đảng cầm quyền Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng, hành pháp tác động đến lập pháp thông qua hình thức sáng kiến pháp luật là hiện tượng phổ biến không phụ thuộc vào hình thức chính thể [47]
Trang 21Tuy nhiên, nội hàm của quyền sáng kiến pháp luật và các yêu cầu đối với giai đoạn này lai có sự khác biệt nhất định.
Nhiều nước coi giai đoạn sáng kiến pháp luật kết thúc với việc dự án luât được xếp vào chương trình làm việc của Quốc hội và được thông báo trên các phương tiện thông tin của Quốc hội (Công báo của Quốc hội) Yêu cầu đối với m ột hồ sơ sáng kiến pháp luật được đưa vào chương trình nghị sự của Quốc hội phải bao gồm :
- Tờ trình về dự án luật, nêu rõ sự cần thiết và nội dung quan điểm,
Tại một số nước khác (Cộng hoà liên bang Đức, Canada ), khâu sáng kiến lập pháp lại được coi là kết thúc khi Chính phủ phê duyệt đề xuất xây dựng luật của một bộ, ngành và ra quyết định phân công soạn thảo dự án luật đồng thời thông báo với Quốc hội để biết về việc sáng kiến pháp luật đã được chấp nhạn từ phía Chính phú và dự thảo luật đang được chuẩn bị Hồ sơ sáng
Trang 22kiến pháp luật của các cơ quan bộ, ngành trình Chính phủ cũng bao gồm : Tờ trình đề xuất xây dựng luật (sự cần thiết, nội dung, quan điểm, chính sách điều chỉnh ) ; danh sách và ý kiến ủng hộ hay không ủng hộ của các chủ thể liên quan đối với đề xuất xây dựng dự án luật, đặc biệt không thể thiếu ý kiến của
Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ về các điều kiện ngân sách, nhân lực bảo đảm thi hành sau khi luật được thông qua, ý kiến của Bộ Tư pháp (Bộ pháp luật) về tính phù hợp với Hiến pháp và tính tưưng thích với hệ thống pháp luật hiện hành Nhu' vậy, ở các nước này, khâu thiết kế chính sách cũng đã được định hình và được phê duyệt trước khi bước vào giai đoạn soạn thảo luật
Tại một số ít nước, trong đó có Việt Nam, hoạt động lập pháp của Quốc hội được tiến hành theo một chương trình dài hạn (cả nhiệm kỳ) hoặc theo chương trình hàng năm Giai đoạn sáng kiên pháp luật cũng được coi là kêt thúc khi kiến nghị, đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh được Chính phủ trình và được Quốc hội thông qua bằng một nghị quyết về xây dựng luật, pháp lệnh 5
nãm hoặc hàng năm Điểm khác biệt lớn cần hãi ỷ là ờ giai đoạn này, các chu
thể sáng kiến pháp luật chưa phải trình dự án luật mà chỉ mới dừng ở những đề xuất, thậm chí mới chỉ là các ý tưởng về xây dựng một đạo luật, pháp lệnh Trong các đề xuất do các cơ quan hành pháp, kể cả do Chính phủ đưa ra đều chưa giải trình rõ sự cần thiết cũng như chính sách, quan điểm điều chỉnh trong dự án luật sẽ xây dựng Như vậy, sáng kiến pháp luật chưa gắn hữu cơ với việc xây dựng chính sách pháp luật Điều đó gây khó khăn lớn cho Quốc hội khi phải quyết định có đưa hay không một sáng kiến pháp luật cụ thể vào chương trình Việc Quốc hội phải thông qua một chương trình làm luật dựa trên những tiền đề không rõ ràng ấy chằng khác gì việc quyết định làm nhà trên một nền móng chưa được khảo sát địa chấn và gia cô kỹ thuật vững chăc
Về vấn đề này, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn Yểu đã nhận xét : " Quốc
Trang 23điều chỉnh của pháp luật để ban hành, sửa đổi hoặc bổ sung kịp thời những quy định của pháp luật Việc xác định tính cần thiết ban hành một văn bản luật hoặc pháp lệnh cần phải được giải quyết ngay từ khi Ưỷ ban thường vụ Quốc hội lập và Quốc hội quyết định chương trình Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm tính khoa học, chặt chẽ và tính khả thi của chương trình đã được Quốc hội thông qua” [34].
Theo quy trình này, viêc xây dưng chính sách pháp luật không đi trước
m ột bước mà lại được thực hiện đồng thời với quá trình soạn thảo luật , hay theo cách nói dân gian là "vừa thiết kế vừa thi công” , chưa khám bệnh đã bốc thuốc Cách làm đó đã hàm chứa trong mình những sai sót có thể làm vấn đề của thực tiễn không những không được xử lý mà còn thêm phức tạp Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng trong công đoạn Chính phủ của quy trình lập pháp nếu vấn
đề phát sinh trong thực tế không được nhận thức rõ ràng và chính sách được
đề ra để xử lý vấn đề đó cũng không rõ nốt thì coi như một công trình pháp luật đã mắc lỗi ở ngay khâu thiết kế và những cố gắng khắc phục ở các giai đoạn sau sẽ mất nhiều công sức mà không mấy hữu hiệu [31] Đó chính là nguy cơ tiềm ẩn của sư ra đời những đao luật không co sưc song, khong the bắt rễ sâu trong lòng dân
Vấn đề đặt ra đối với cơ quan lập pháp nước ta là làm sao để toàn bộ công đoan chính phủ của quy trình lâp pháp trớ nên có thê được giam sat mọt cách hiệu quả, ngay từ khâu sáng kiến, đề xuất xây dựng pháp luật đến soạn thảo dự án luật để loại trừ sớm hoặc kịp thời những chính sách, giải pháp lập pháp chỉ xuất phát từ lợi ích cục bộ của hành pháp, trong lúc đó lại né tránh những nhu cầu cấp thiết của người dân, của các nghiệp đoàn
Trang 241.2.2.2 Công đoạn Quốc hội thảo luận, thông qua dự thảo luật
Đây là công đoan do Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội trực tiêp thực hiện sau khi đã có dự thảo luật do Chính phủ hoặc các chủ thể sáng kiến pháp luật khác chuyển sang Tuỳ theo quy trình cụ thể của từng nước, giai đoạn này được chia làm nhiều bước nhỏ hơn, nhưng nhìn chung gồm các hoạt động : xem xét, thẩm tra của các Uỷ ban chuyên môn của Quốc hội, của các đại biểu Quốc hội hoặc nhóm đại biểu Quốc hội có liên quan trực tiếp được Quốc hội phân công ; xem xét, thảo luận tại các phiên họp toàn thể của Quốc hội • biểu quyết thông qua hoặc không thông qua dự thảo luật Đây chính là lúc để Quốc hội, đại biểu Quốc hội thực hiện việc giám sát và phản biện chính sách của Chính phủ trên cơ sở nắm bắt, phân tích thộng tin một cách khách quan, trung thực, toàn diện, cân nhắc đầy đủ, sâu sắc các lợi ích đan xen của các nhóm cộng đồng dân cư mà mình là đại diện, lợi ích của nhà nước, của xã hội hôm nay và ngày mai Đây là lúc mà mỗi đại biểu của dân phải biết lắng nghe, phải sống và trăn trở với ý chí, nguyện vọng của hàng triệu cử tri đang trông đợi, gửi gắm ở cái tâm, cái tài, cái đức của họ
Để có được những văn bản pháp luật tốt, có chất lượng ở mỗi công đoạn
- Chính phủ hay Quốc hội - đều cần việc nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc các quy luật, các hiện lượng xã hội, kinh tế, chính trị, lư tưởng của thực tiễn khách quan để từ đó rút ra những giá trị chuẩn mực từ trong nhu cầu của
xã hôi; nghiên cứu đông thái các hành vi pháp luật trong đó ca hanh VI hợp pháp và hành vi không hợp pháp để từ đó có thể dự kiến được diễn biến -của các hành vi đó trong tương lai; phân tích và đánh giá đúng hiệu lực và hiệu quả của viêc điều chỉnh các quan hê xã hội bằng các quy phạm và chê đinh hiện hành; nghiên cứu kinh nghiêm điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội cùng loại của các nước khác nhau trên thế giới [ 20, tr 641
Trang 251.2.3 Các nguyên tắc lập pháp
Lập pháp là một nhánh lao động quyền lực nhà nước và cùng với hành pháp, tư pháp tạo thành sự vận hành liên tục, thường xuyên của quyền lực nhà nước Lẽ đương nhiên, lập pháp phải tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền cơ bản về tổ chức quyền lực nhà nước như nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc
"Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Các nguyên tắc riêng đặc Ihù của hoạt động lập pháp được quy định trước tiên bởi bản chất của pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.2.3.ỉ Nguyên tắc khách quan
Hoạt động lập pháp mang tính khách quan Việc Nhà nước ban hành ra các văn bản quy phạm pháp luật phải xuất phát từ những đòi hỏi của thực tế đời sống xã hội, của nhu cầu cần được điều chỉnh bằng pháp luật của các quan
hệ xã hội chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của m ột tổ chức hay cá nhân nào Như Mác nói “Nhà lập pháp phải coi mình như là nhà khoa học tự nhiên, ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát m inh ra chúng, mà chỉ nêu chúng lên, ông ta biểu hiện những quy luật nội tại của những mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ỷ thức ” [5, tập 4, 232]
Đảm bảo cho tính khách quan của hoạt động lập pháp chính là sự kết hợp chặt chẽ giữa ý chí chủ quan với tồn tại khách quan trong quá trình hình thành các quy phạm pháp luật, ở đó, ý chí chủ quan phù hợp với hiện thực khách quan Vì vậy, m ột yêu cầu đặt ra đối với hoạt động lập pháp là phải bám sát, tôn trọng hiện thực khách quan, phát hiện ra các giá trị khách quan
m à xã hội có, xã hội cần, xã hội ủng hộ Tóm lại, hoạt động lập pháp là sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua hoạt động nhận thức chủ quan của con người, là sự kết hợp biện chứng giữa những nhận thức khoa học với chân
lý khách quan của hiện thực xã hội để gạt bỏ những ý m uốn chủ quan duy ý
Trang 26chí, xa rời hiện thực kinh tế - xã hội, coi thường quy luật vận động của các quan hệ xã hội.
ỉ 2.3.2 Nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch
Nguyên tắc dân chủ của lâp pháp bắt nguồn từ bản chất xã hội và giai cấp của pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân lao động, là tài sản tinh thần của nhân dân , điều đó đòi hỏi quá trình lập pháp phải được tổ chức và vận hành sao cho sự tham gia
của n h ân d ân - những người chủ đích thực của pháp luật là n h iều nhất, hiệu
quả nhất Tham gia vào quá trình lập pháp là một nội dung, một phương thức
để công dân thực hiện quyền hiến định - tham gia quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội Đó không những chỉ là nhu cầu, là quyền dân chủ cơ bản của bản thân mỗi công dân mà cũng là lợi ích sống còn của chính bản thân Nhà nước nếu muốn giữ được bản chất của dân, do dân, vì dân
Dân chủ trong lập pháp được thể hiện ở nhiều cấp độ bằng nhiều hình thức khác nhau:
- Bằng dân chủ trực tiếp, nhân dân Iham gia vào hoạt động lập pháp với các hình thức và mức độ chủ động khác nhau : thấp nhất là được hỏi ý kiến về các dự thảo luật và cao nhất là được phúc quyết hiến pháp (Hiến pháp 1946) hoặc được trưng cầu ý dân về một đạo luật, một điều luật quan trọng cụ thể [12]
- Bằng dân chủ gián tiếp, nhân dân thông qua các đại biểu Quốc hội, thông qua các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức nghề nghiệp của mình để đưa
ra các đề xuất xây dựng luật, để góp ý, giám sát hoạt động lập pháp của các cơ quan nhà nước trong việc thể hiện ý chí của nhân dân vào các dự án luật
Trang 27Dân chủ trong lập pháp đi liền với và được bảo đảm bàng tính công khai, minh bạch của lập pháp Người dân chỉ làm chủ được quá trình lập pháp nếu họ được tiếp cận thông tin đầy đủ từ những giai đoạn đầu như khi sáng kiến pháp luật được đề xuất, khi việc phân tích và xây dựng chính sách pháp luật được thực hiện Đồng thời sự công khai, minh bạch cũng phải là nguyên tắc hoạt động của các đại biểu nhân dân trong việc thông tin hai chiều với nhân dân trong quá trình lập pháp.
1.2.3.3 Nguyên tắc phản ánh điều hoà các mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích
Hoạt động lập pháp luôn gắn liền với việc nhận thức và thể hiện các lợi ích, lợi ích của toàn xã hội, của Nhà nước, của tập thể, của các giai cấp và nhóm xã hội khác nhau, lợi ích của các cá nhân Trong xã hội luôn tồn tại những sự khác biệt, thậm chí là mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhóm người, các giai cấp, tầng lớp Vấn đề đặt ra là lập pháp phải tạo ra được cơ chế ghi nhận, phản ánh ở các mức độ khác nhau những lợi ích, nhu cầu đa dạng trong xã hội Ví dụ, phải xem xét việc mở rộng phạm vi chủ thể có quyền sáng kiến pháp luật đến các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp, các nghiệp đoàn hoặc thừa nhận quy phạm hoá cách thức vận động của các nhóm lợi ích đối với các chủ thể có quyền sáng kiến pháp luật Cùng với việc ghi nhận sự mâu thuân lợi ích (nhưng không phải là những mâu thuẫn mang tính triệt tiêu, đối kháng), trong hoạt động lập pháp đồng thời phải tạo ra được cách thức hợp lý cho sự phản biện có trách nhiệm giữa đại diện của các nhóm lợi ích, phản biện của xã hội đối với lợi ích chung do các cơ quan đại diện nhà nước đưa ra, qua đó tìm được cách ‘’quy đồng mẫu số” các sự khác biệt đó thành các quy tắc hành xử chung bảo đảm cân nhắc hài hoà lợi ích của những cộng đồng, những giai tầng trong xã hội Chỉ khi xuất phát từ quan điểm vì sự phát triển của con người hoạt động lập pháp mới đảm bảo được sự hài hoà và cân đối lợi ích trong xã hội [54, tr 111]
Trang 28Mục đích của lập pháp là làm ra được những đạo luật có chất lượng và rộng hơn là xây dựng được một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, mang tính ổn định cao, phản ánh đúng đắn các quy luật phát triển của xã hội, phản ánh các lợi ích và ý chí của toàn thể nhân dân Muốn thế trong các giai đoạn của quy trình lập pháp cần huy động sự tham gia của nhân dân và tuân thú chặt chẽ các nguyên tắc xây dựng pháp luật.
1.2 4 Tư duy lập pháp trong Nhà nước pháp quyền
Một nền lập pháp tốt không chỉ cần các nguyên tắc lập pháp đúng đắn, hay một quy trình lập pháp hợp lý mà còn không thể thiếu mộl lư duy lập pháp mạnh mẽ, sáng suốt, khoa học Theo một số nhà nghiên cứu, hiện nay tồn tại 2 phương thức tư duy trong nghiên cứu lập pháp, đó là phương thức chủ toàn và chủ biệt
Phương thức chủ toàn khá phổ biến ở phương Đông, với lối tư duy xuấl phát từ toàn thể đến bộ phận dựa trên nguyên lý toàn thể quyết định bộ phận, toàn thể không phải chỉ là tổng số của bộ phận, nghĩa là các bộ phận cộng lại không nói hết đượcTiội dung của tổng thể
Phương thức chủ biêt lại phổ biên ở phương tây, với tư duy từ bộ phận đến toàn thể, toàn thể do các bộ phận ghép lại [4]
Theo TS Bùi Ngọc Sơn, ở Việt Nam hiện nay trong nghiên cứu luật và lập pháp đang sử dụng tư duy chuyên gia, tư duy chủ biệt, chuyên biệt hoá các bộ phận của xã hội, nhìn xã hội như sự ghép lại đơn thuần của các mặt Chính tư duy lập pháp mang tính đơn tuyến đưa đến hậu quả là nhiều đạo luật
ra đời không tính đến sự tác động đa chiều của xã hội nên nó không được xã hội chấp nhận
Để pháp luật gần dân, phản ánh đời sống của nhân dân, ở Việt Nam cần thay đổi phương thức tư duy từ chủ biệt sang chủ toàn đồng thời cần xây dựng lối tư duy đa tuyến Cụ thể là khi ban hành một đạo luật cần huy động tri thức
Trang 29từ nhiều ngành khoa học, nhiều lĩnh vưc khác nhau để có được một cái nhìn đa chiều, đa tuyến về đối tượng và phương thức đảm bảo pháp luật, huy động các nhà khoa học thuộc các ngành khác nhau tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật.
1.3 Sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp
Từ bản chất của pháp luật, bản chất và nguyên tắc của hoạt động lập pháp, nhà nước và nhân dân, nhà nước và xã hội luôn là hai đối tác song hành hợp tác chặt chẽ với nhau trong qui trình lập pháp để làm ra sản phẩm - tài sản chung là các đạo luật phản ánh ý chí chung của nhà nước và nhân dân
1.3.1 Các hình thức tham gia của nhân dán
Nhân dân có thể tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp
1.3.1.1 Tham gia gián tiếp :
Nhân dân tham gia vào các công đoan của qui trình lập pháp băng cách thông qua các chủ thể có quyền sáng kiến pháp luật (các đại biểu Quốc hội, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội mà mình là thành viên)
để đề đạt những nhu cầu, kiến nghị, phản ánh những đóng góp, đánh giá về chính sách pháp luật, về dự thảo luật, về việc thi hành đạo luật trong cuộc sống
1.3.1.2 Tham gia trực tiếp
Mỗi người dân, mỗi nhóm lợi ích trực tiếp tham gia vào các công đoạn
mà theo luật, họ có quyền tham gia Các cấp độ và cách thức tham gia trực
tiếp của nhân dân rất đa dạng và sẽ được phân tích ở phần tiếp theo.
Trang 301.3.2 Các cấp độ tham gia
a, Sự tham gia của nhân dân ở tư th ế là người được hỏi V kiến
Sự tham gia của nhân dân ở tư thế người được hỏi ý kiến có tính chất
“thụ động” , nghĩa là nhân dân chỉ tham gia khi được Nhà nước hỏi ý kiếnhoặc mời thẩm định, phản biện về chính sách và dự án luật do Nhà nước làm ra
Trường hợp này, sự tham gia của nhân dân thể hiện ở những cấp độ sau:
Trang 31b, Sự I ham gia của nhân dân ỏ tư th ế “chủ động ”
Nhân dân chủ động tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, với các cách thức và mức độ sau đây:
Trang 32Sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp có thể dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau như đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn bản pháp luật quan trọng, tham gia thẩm định, soạn thảo, đưa các sáng kiến lập pháp ự tham gia của nhân dân trong quá trình xây dựng pháp luật chính là việc thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân vì dân, để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, bảo đảm cho các chính sách, pháp luật bám sát yêu cầu thực tế của cuộc sống, có tính khả thi cao Trong quá trình tham gia, nhân dân vừa có thể là tác giả vừa có thể là người phản biện của các chính sách, pháp luật Đó cũng chính là nội dung cơ bản của phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp.
1.4 Phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp
1.4.1 Khái niệm phản biện
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam - NXB Từ điổn Bách khoa - Hà nội
2003 thì “phản biện” được hiểu “là việc đưa ra các nhận xét, đánh giá về một công trình khoa học (luận án, luận văn, khoá luận, hoặc kết quả nghiên cứu khoa học của một đề tài, một công trình nghiên cứu) Người (hay cơ quan) phản biện nhận định về tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài, nội dung và hình thức thể hiện của công trình khoa học, phương pháp nghiên cứu, kết luận, đóng góp, hạn chế Cuối cùng đánh giá chung là đạt hay không đạt những yêu cầu đề ra, xếp loại” [45]
Theo Đại từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin 1999 do Nguyễn Như Ý chủ biên thì “phản biện” được hiểu “là việc đánh giá chất lượng của luận văn tốt nghiệp đại học, luân án trên đại học trước hội đồng chấm ” [29]
Trang 33Từ những định nghĩa trên về phản biện, có thể khái quát phản biện là việc người phản biện đánh giá khách quan, độc lập về sự cần thiết, chất lượng nội dung và hình thức thể hiện của một công trình, dự án, đề án, đề tài theo yêu cầu của người đưa phản biện Giữa người phản biện và người yêu cầu phản biện có mối quan hệ hai chiều và cả hai đều có mối quan tâm chung đối với đối tượng phản biện
1.4.2 Phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp
l 4.2.1 Khái niệm
Phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp được hiểu là sự đánh giá của
xã hội đối với những sáng kiến pháp luật, những chính sách pháp luật hoặc những dự án luật do Nhà nước soạn thảo và đưa ra yêu cầu xã hội đánh giá, góp ý
Chủ th ể phản biện ở đây là xã hội bao gồm những tổ chức kinh tế, chính
trị, xã hội (phi chính phủ), các cộng đồng dân cư, các nhóm lợi ích và các cá nhân công dân Mỗi một chủ thể có sự quan tâm khác nhau đối với từng sáng kiến, chính sách và dự thảo luật tuỳ theo nhận thức, hiểu biết và các lợi ích của họ liên quan đến vấn đề đặt ra để xử lý
Chủ th ể yêu cầu phản biện là nhà nước, cụ thể hơn là cơ quan nhà nước
có thẩm quyền trong từng giai đoạn của quy trình lập pháp Đó là cơ quan đề xuất hoặc cơ quan quyết định sáng kiến pháp lu ậ t; cơ quan xây dựng hoặc cơ quan phê duyệt chính sách pháp luật; cơ quan soạn thảo hoặc cơ quan thảo luận, thông qua dự thảo luật
Đối tượng phản biện là tất cả nhũng sản phẩm trung gian hoặc cuối
cùng củ a q u y trình lập pháp - từ đề xuất, sáng kiến pháp luật đến chính sách
pháp luật và các bản dự án luật trước khi trình Quốc hội biểu quyết thông qua
Trang 34Theo cách hiểu này thì phản biện xã hội có phạm vi và nội hàm hẹp hơn
so với sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp Như đã phân tích,
sự tham gia của nhân dân, của xã hội trong hoạt động lập pháp rất đa dạng, trong đó, các cá nhân, tổ chức phi chính phủ có thể trực tiếp tham gia xây dựng chính sách, trực tiếp soạn thảo luật chứ không chỉ là người đứng ngoài
để phản biện Cấp độ cao nhất của sự tham gia là trưng cầu ý dân , theo đó, nhân dân, xã hội sẽ trở thành người quyết định, không phải là người phản biện
ỉ 4.2.2 Vì sao cần phản biện x ã hội trong hoạt động lập pháp?
Thứ nhất, xuất phát từ triết lý lập pháp như đã phân tích ở trên, hoại
động lập pháp là sự tương tác giữa hai nhánh quyền lực nhà nước là lập pháp
và hành pháp, hay nói chính xác hơn là sự giám sát, phản biện của lập pháp đối với những sáng kiến, chính sách và dự thảo luật của hành pháp Sự giám sát và phản biện của lập pháp đối với hành pháp, cho dù có dựa trên những phân tích, tổng hợp, cân nhắc ý kiến đóng góp của cử tri, của nhân dân thì vẫn
là sự giám sát và phản biện của cơ quan nhà nước đối với cơ quan nhà nước, của nội bộ quyền lực nhà nước Chính xác hơn, theo phương thức phản biện nhà nước này, nhân dân - đồng sở hữu chủ của pháp luật - chỉ tham gia gián tiếp Hơn nữa, theo quy trình lập pháp ở Việt Nam, hầu như chưa có cơ chế cho sự giám sát và phản biện của lập pháp đối với “công đoạn của Chính phủ” , đặc biệt đối với hoạt động sáng kiến pháp luật, xây dựng chính sách và giai đoạn soạn thảo luật trước khi trình sang Quốc hội Vì vậy, phản biện xã hội trong “ công đoạn chính phủ” sẽ là mộl bổ khuyết cần thiết cho hoạt động giám sát, phản biện của lập pháp Ngay trong “công đoạn Quốc hội”, phản biện xã hội cũng cần được tiến hành đồng thời, độc lập với phản biện của chính lập pháp để tạo nên bức tranh đầy đủ, khách quan về công trình pháp luật do hành pháp thiết kế và thi công ở giai đoạn cuối
Trang 35Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc Đảng lãnh đạo lập pháp Đảng Cộng
sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội Đường lối, chủ trương của Đảng thông qua hoạt động lập pháp trở thành pháp luật để quản lý xã hội theo mục tiêu, định hướng của Đảng Mặc dù Đảng
không có m ục tiêu nào khác là phục vụ nhân dân, vì lợi ích và hành phúc của
nhân dân Tuy nhiên trong thực tế, không phải bất cứ một đường lối chính sách của Đảng đưa ra cũng phù hợp với lòng dân nhất là trong một xã hội còn phân hoá thành nhiều nhóm lợi ích khác nhau Phản biện xã hội chính là một biện pháp hữu hiệu để các tầng lớp nhân dân bày tỏ quan điểm, đánh giá, kiến nghị của mình với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần tạo ra những đạo luật thật sự thê hiện ý Đảng, lời Nhà nước, lòng Dân Phản biện xã hội, do vậy là một giải pháp quan trọng để góp phần bổ khuyết cho những điểm yếu của chế độ một đảng cầm quyền [30]
Thứ ba, xuất phát từ tư duy lập pháp theo phương Ihức chủ toàn, đa
tuyến Một chính sách pháp luật, một dự án luật có the gây những tác động nhiều chiều lên những đối tượng khác nhau trong xã hội Cách làm luật theo phương pháp tổng kết thực tiễn, rút ra nguyên nhân yếu kém, bất cập và đề xuất giải pháp khắc phục, sửa chữa trong phạm vi hợp lý hẹp của từng ngành chuyên biệt đã không còn thích hợp trước những vấn đề thật sự bức xúc, không có tiền lệ, đòi hỏi những giải pháp vừa tổng thể, liên ngành vừa cụ thể chyên sâu Phản biện xã hội với sự cọ sát khách quan, trung thực giữa nhũng
tư duy đa tuyến, đa chiều của các chuyên gia, các nhà khoa học bên cạnh tư duy cụ thể, hiệu dụng của các doanh nhân, những người hoạt động thực tiễn luôn là nguồn sức sống nuôi dưỡng cây đời xanh tươi của mọi nền lập pháp
Trang 361.4.2.3 Phản biện xã hội trong các giai đoạn của quy trình lập pháp
Vấn đề mấu chốt của phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp đó chính là xác định thời điểm tiến hành hoạt động phản biện xã hội trong quy trình lập pháp Hoạt động phản biện được tổ chức vào lúc nào sẽ phát huy tối
đa hiệu quả và chất lượng ?
Giai đoạn đầu tiên của quy trình lập pháp là sáng kiến pháp luật Theo
các số liệu thống kê thì hiện nay Chính phủ là cơ quan có sáng kiến pháp luật nhiều nhất, đến hơn 90% các dự án luật, pháp lệnh là do Chính phủ trình, còn lại là của các tổ chức và cá nhân khác Điều này xuất phát từ thực tế vì Chính phủ là nơi tập trung những nguồn lực mạnh mẽ và có khả năng nắm bắt nhanh chóng, nhạy bén nhu cầu điều chỉnh pháp luật của xã hội 110]
Chính vì thế, ngay ở giai đoạn này, đã có thể và cần tiến hành các hoạt động phản biện xã hội đối với sáng kiến pháp luật do Chính phủ đưa ra Các
bộ, ngành phải đưa đề xuất xây dựng luật (trong đó đã có những đường nét cơ bản của chính sách pháp luật sẽ áp dụng) ra lấy ý kiến chuyên gia và nhóm đối tượng sẽ chịu sự tác động trực tiếp của chính sách mới Trên cơ sở ý kiến đóng góp, kiến giải cụ thể của các tổ chức, cá nhân công dân, cơ quan đề xuất lập pháp và cơ quan có nhiệm vụ soạn thảo văn bản pháp luật tiến hành nghiên cứu đưa ra các chính sách vừa “phản ánh một cách trung thực, khách quan điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước ở thời điểm hiện tại và dự báo khả năng, khuynh hướng phát triển trong lương lai” [8] Điều này vô cùng quan trọng vì nếu không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính sách và
pháp luật, sẽ d ẫn tới tình trạng khi thể c h ế các chính sách thành các văn bản quy pham pháp luât hoăc sẽ không có tính khả thi hoăc kìm hãm sự phát triên của các mối quan hệ kinh tế — chính trị — xã hội, bởi vì “soạn thảo văn bản trước khi nghiên cứu và phân tích chính sách cũng giống như việc kê đưn mà
bỏ qua công đoạn khám bệnh” [31]
Trang 37Vì vậy, phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp cần phải được tổ chức thực hiện ngay từ khâu đầu tiên của quy trình lập pháp.
Trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra: cơ quan chủ trì soạn
thảo là cơ quan đưa ra yêu cầu phản biện xã hội đồng thời trực tiếp tiếp nhận
xử lý những ý kiến đóng góp để xây dựng, chỉnh lý văn bản
Sự tham gia của nhân dân trong giai đoạn này tập trung vào ba thời điểm
là trước khi soạn thảo văn bản, xây dựng nội dung cụ thể và hoàn tất dự thảo
để trình cơ quan có thẩm quyền, mục đích là giúp cho cơ quan soạn thảo có đầy đủ, toàn diện hơn các cơ sở cho việc xây dựng các nội dung của văn bản, bảo đảm dự thảo văn bản có chất lượng ngay từ đầu Cơ quan chủ trì soạn thảo
có trách nhiệm tập hợp ý kiến góp ý để xây dựng hoặc chỉnh lý dự thảo văn bản, đồng thời lập báo cáo giải trình về việc tiếp thu ý kiến của nhân dân gửi
cơ quan có quyền trình hoặc ban hành văn bản
Có nhiều phương Ihức khác nhau để nhân dân tham gia thực sự vào xây dựng pháp luật Cụ thể, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tổ chức các cuộc hội thảo khoa học - thực tiễn để lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan, các chuyên gia, các nhà khoa học Bằng cách này, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan, các chuyên gia, các nhà khoa học có cơ hội trực tiếp thể hiện
ý kiến của mình đối với văn bản được soạn thảo
Thứ hai, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế và thông qua
đó tìm hiểu ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, trên cơ sở đó xây dựng đề cương và dự kiến những nội dung của văn bản Cách thức tiến hành cũng có thể là tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị mừi đại diện của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản tham dự và góp
ý h o ặc gửi dự thảo đến cho họ
Trang 38Trong quá trình thẩm định, thẩm tra, nếu thấy cần những ý kiến xác
đáng về văn bản, giúp cho cơ quan có thẩm quyền đánh giá văn bản chính xác, toàn diện hơn, cơ quan thẩm định, thẩm tra văn bản có thể đề nghị nhân dân đóng góp ý kiến về dự Ihảo văn bản được giao thẩm định Phạm vi, đối tượng
và phương Ihức lấy ý kiến ở giai đoạn này hẹp hơn giai đoạn soạn thảo, và tập trung vào những đối tượng trọng tâm, có kỳ vọng là có các ý kiến xác đáng Đối lượng chủ yếu sẽ là các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học, và một số đại diện tiêu biểu của đối tượng chịu sự tác động Nội dung chủ yếu tập Irung vào những vấn đề cơ bản, những vấn đề còn nhiều
ý kiến khác nhau thông qua các cuộc họp lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo yêu cầu góp ý hoặc đặt câu hỏi về những vấn đề mà cơ quan thẩm định, thẩm tra quan tâm Thành lập các hội đồng thẩm định độc lập bao gồm chủ yếu là các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà hoạt động thực tiễn không phụ thuộc vào cơ quan soạn thảo là một hình thức tiêu biểu của phản biện xã hội trong công đoạn chính phủ
Cơ quan thẩm định tập hợp ý kiến và phát biểu về văn bản, phản ánh các
ý kiến lên cơ quan trình hoặc cơ quan ban hành văn bản
Cuối cùng là giai đoạn trình, xem xét, thông qua văn bản Đây là hoạt
động cuối cùng trước khi công bố văn bản quy phạm pháp luật và do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chủ trì Lần này nhân dân tập trung vào những vấn đề chính của văn bản, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, có thể định hướng rõ những vấn đề cần được góp ý Đối tượng lấy ý kiến nên tập trung vào các cơ quan, tổ chức hữu quan, đoàn đại biểu Quốc hội, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản Phương thức tổ chức có thể gửi dự thảo văn bản kèm theo nội dung cần xin ý kiến; đăng tải dự thảo văn bản quy phạm pháo luật trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác Những ý kiến đóng góp sẽ được u ỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo các cơ
Trang 39quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm tra và một số cơ quan tổ chức khác tập hợp, tiếp thu, chinh lý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và lập báo cáo giải trình.
Như vậy có thể thấy trong quy trình lập pháp, hầu như ở giai đoạn nào cũng có thể tổ chức hoạt động phản biện xã hội dưới những hình thức, nội dung và tập trung vào nhũng nhóm đối tượng khác nhau, vì “toàn bộ quy trình lập pháp suy cho cùng là tạo mọi kênh thông tin, làm cho người dân phản ánh lợi ích đa dạng của mình” [35] Đẩy mạnh phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp chính là tăng cường sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp, công khai hoá các thông tin trong quá trình xây dựng pháp luật đến nhân dân, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng một xã hội chủ động tích cực, hợp tác và nhất trí, coi tính nghiêm minh của pháp luật là
tự do cá nhân
1.4.2.4 Chất lượng, hiệu quả và điều kiện bảo đảm
Chất lượng phản biện x ã hội trong hoạt động lập pháp được đánh giá
q u a ch ất lượng của những ý k iến đóng góp, đánh giá so với yêu cầu của người
đưa ra phản biện (góp ý chính xác, trực tiếp vào các vấn đề được yêu cầu; đánh giá đáng tin cậy, khách quan, khoa học dựa trên những luận cứ xác đáng,
có hơi thở cuộc sống; những đề xuất cụ thể, khả thi )
Hiệu quả của phản biện xã hội có thể đánh giá qua số lượng và chất
lượng của các ý kiến phản biện từ các chủ thể phản biện; chi phí thời gian và các nguồn nhân, tài lực cho hoạt động phản biện xã hội so với kết quả cuối cùng thu được là việc điểu chỉnh chính sách pháp luật cho phù hợp hơn với sự vận động khách quan của các quan hệ xã hội, là việc nâng cao rõ rệt chất lượng dự thảo luật Thậm chí, nếu kết quả thu được từ phản biện xã hội là phải dừng việc ban hành chính sách, dự thảo luật vì không khả thi thì đó cũng cần
Trang 40được nhìn nhận là hoạt động phản biện có hiệu quả tốt vì đã ngăn chặn được những phí tổn lớn hơn nhiều khi để thông qua và cho thi hành một đạo luật không khả thi, đặc biệt là tổn thất về lòng Ún của nhân dân đối với nhà nước
và pháp luật
Điều kiện bảo đảm chất lượng và hiệu quả phản biện xã hội
Đièu kiện đầu tiên đảm bảo chất lượng và hiệu quả của phản biện đó là bên thực hiện phản biện phải có sự hiểu biết, sự am hiểu nhất định và đặc biệt
là phải có sự quan tâm thật sự về vấn đề phản biện Muốn có một cái nhìn tổng quan về vấn đề phản biện, một sự đánh giá chuẩn xác nhất thiết phải vận dụng kiến thức lý luận và thực tiễn trong việc phân tích và chứng minh sự phù hợp giữa vấn đề phản biện với thực tế cuộc sống Do vai trò vô cùng quan Irọng của hoạt động phản biện - có thể quyết định đến “sự sống còn” của vấn
đề được đưa ra phản biện mà điều kiện tiên quyết của bên thực hiện phản biện
là phải có sự am tường về lĩnh vực mà mình phản biện
Điều kiện thứ hai không thể thiếu đó là bên Ihực hiện phản biện phải có thời gian và cơ hội để tiếp cận với vấn đề phản biện Ngoài kiến thức, thời gian dành cho công việc phản biện cũng vô cùng quan trọng Bên ihực hiện phản biện phải dành một khoảng thích hợp để nghiên cứu vấn đề phản biện và đưa ra những nhận định của riêng mình Những nhận định đó là hoàn toàn khách quan, dựa trên những căn cứ khoa học và những suy nghĩ độc lập của bên phản biện Bên cạnh đó bên đưa ra yêu cầu phản biện phải cung cấp đầy
đủ những thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan đến vấn đề phản biện, hay nói cách khác là phải tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho bên thực hiện phản biện thể hiện đầy đủ nhất chính kiến của mình Bên thực hiện phản biện
có nghĩa vụ phải thực hiện đúng các yêu cầu phản biện và tuân thủ các quy định về thời gian được đặt ra