1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

92 62 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 755,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, theo nguyên tắc được quy định tại các pháp lệnh này thì mỗi đương sự, tổ chức xã hội khởi kiện, viện kiểm sát khởi tố vì lợi ích chung có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng mi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Bùi Thị Huyền

HÀ NỘI 2012

Trang 2

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1.BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, được sửa đổi bổ sung

bởi Luật số 65/2011/QH12

3.PLTTGQCVADS Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

4.PLTTGQCTCLĐ Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

5.PLTTGQCVAKT Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

6 PTSTDS Phiên toà sơ thẩm dân sự

7.TANDTC Toà án nhân dân tối cao

8.TTDS Tố tụng dân sự

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1

1.1 Khái niệm nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự……… 1 1.2 Cơ sở của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự……… 8 1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự……… ……… 11 1.4 Mối quan hệ giữa nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự với các nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng dân sự… 13 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS 16

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM……….21

2.1 Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh………… 21 2.2 Sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

và chứng minh của đương sự……… .36

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ .……… …46

3.1 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự……….…46 3.2 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện và thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh………67

Trang 4

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự……….… 71

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã và đang đạt được những thành tựu to lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưng cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và của các quan hệ dân sự cũng kéo theo sự gia tăng các tranh chấp dân sự theo chiều hướng ngày càng đa dạng, phức tạp Chính vì vậy,

để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, bảo đảm kỷ cương xã hội, một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước đặt ra là phải từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật TTDS nói riêng

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, hoạt động cung cấp và thu thập chứng cứ có vai trò vô cùng quan trọng để giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng và đúng pháp luật Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới

đã khẳng định: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền và lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”[6] Trong

thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự những năm gần đây nhìn chung TAND các cấp đã có nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động chứng minh, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự, trách nhiệm thu thập và đánh giá chứng cứ để từ đó làm tốt nhiệm vụ của mình đồng thời bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của họ nhằm mục đích giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Tuy nhiên, bên cạnh đó, thực tiễn xét xử cũng cho thấy tỷ lệ bản án bị hủy, bị sửa và qua nhiều cấp xét xử vẫn chiếm tỷ lệ khá cao Nguyên nhân của tình trạng này một phần cơ bản xuất phát từ việc chưa xác

Trang 6

định đúng quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh

Vì vậy, việc nghiên cứu “Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng những yêu cầu

của cải cách tư pháp cũng như những đòi hỏi cấp thiết của đời sống kinh tế, xã hội, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chế định chứng cứ và chứng minh là một chế định quan trọng và phức tạp của pháp luật TTDS Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau như: Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Minh Hằng với đề tài “Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong TTDS Việt Nam” năm 2002; Luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Văn Đồng với đề tài “Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong BLTTDS” năm 2006; Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Minh Hằng với đề tài “Chế định chứng minh trong TTDS Việt Nam” năm 2007; một số bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý như:

“Chế định chứng cứ và chứng minh trong BLTTDS” (Nguyễn Công Bình, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2/2004); "Chứng cứ và chứng minh trong TTDS” (Hoàng Ngọc Thỉnh, Tạp chí Luật học số đặc san góp ý BLTTDS); "Thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự” (Bùi Thị Huyền, Tạp chí Luật học) Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu khái niệm, cơ sở, ý nghĩa của nguyên tắc cung cấp chứng cứ

và chứng minh trong TTDS, mối liên hệ giữa nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh với các nguyên tắc khác của TTDS và các yêu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc

Trang 7

- Phân tích các quy định, đánh giá thực trạng của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh

- Đưa ra các yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện đầy đủ nguyên tắc cung cấp chứng

cứ và chứng minh trên thực tế

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS tại các Tòa án Việt Nam nhằm làm rõ những ưu điểm và bất cập của việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học

Khóa luận đã được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về Nhà nước và pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp được sử dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sử dụng như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội học như lấy số liệu, khảo sát, phỏng vấn, sử dụng các kết quả thống kê…

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS

Chương 2: Nội dung nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS

Trang 8

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG

CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong

tố tụng dân sự

Theo cách hiểu chung nhất, nguyên tắc là một thuật ngữ được dùng để

chỉ “điều cơ bản đã định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”[12, tr.694] Hoạt động TTDS là một dạng của hoạt động thực tiễn nên

cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Nguyên tắc của một ngành luật là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho hoạt động xây dựng

và thực hiện các quy định của nó Tuy vậy, trên thực tế các tư tưởng pháp lý chỉ có giá trị bắt buộc nếu được thể hiện dưới hình thức quy phạm pháp luật Các nguyên tắc của một ngành luật thường được quy định trong các văn bản pháp luật về ngành luật đó làm cơ sở cho việc thực hiện và được quy định dưới dạng quy phạm chung Luật TTDS Việt Nam là một ngành luật cụ thể của hệ thống pháp luật Việt Nam nên cũng mang những đặc điểm chung đó

Xét về mặt nội dung, các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS là những quy phạm chỉ đạo, mang tính chất cơ sở, nền tảng cho toàn bộ quy trình TTDS Nội dung của các quy phạm này phải được quán triệt trong toàn bộ các quy phạm của pháp luật TTDS và cũng chính vì vậy các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS quyết định toàn bộ kết cấu của quy trình TTDS Các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS là những quy phạm chung, chính vì vậy, các nguyên tắc này sẽ không ghi nhận những mệnh lệnh cụ thể như: cấm đoán, cho phép, bắt buộc…mà thể hiện một cách cô đọng nhất bản chất, những đặc trưng cơ bản của TTDS

Các nguyên tắc cơ bản trong luật TTDS vừa mang tính chất chủ quan đồng thời lại là sự phản ánh những quy luật khách quan Các nguyên tắc thể hiện tính chủ quan bởi đó là những tư tưởng do con người đặt ra, làm cơ sở cho việc ban hành, xây dựng và thực hiện pháp luật Trong mỗi thời kỳ, mỗi Nhà nước, mỗi giai cấp lại thiết lập hoặc thừa nhận những nguyên tắc khác nhau phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước, giai cấp đó Mặt khác, các nguyên tắc trong TTDS cũng phản ánh những quy luật chung của đời sống xã hội

Trang 9

Pháp luật là những quy tắc để điều chỉnh các quan hệ xã hội, do đó pháp luật bao giờ cũng phản ánh các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Sự thay đổi về bản chất trong xã hội dẫn đến sự thay đổi của pháp luật, cũng như các nguyên tắc pháp luật Do vậy, các điều kiện về kinh tế, xã hội sẽ quyết định sự hình thành và phát triển các nguyên tắc pháp luật nói chung, trong đó có các nguyên tắc trong TTDS

Các nguyên tắc cơ bản của TTDS có tính ổn định trong từng thời kỳ nhất định, nhưng sự ổn định đó chỉ mang tính chất tương đối Do nội dung các nguyên tắc bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế - xã hội và những điều kiện

đó lại rất phong phú, năng động, không ngừng phát triển nên các nguyên tắc

cơ bản của TTDS phải luôn được xem xét, nghiên cứu, kịp thời loại bỏ những nội dung không phù hợp, bổ sung những nội dung mới Các nguyên tắc này phải được nhìn nhận trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, trong mối liên hệ nhất định với nội dung chính sách dân sự trong từng giai đoạn cụ thể Đồng thời việc áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn xét xử phải hết sức cụ thể

và nghiêm chỉnh Nội dung các nguyên tắc cơ bản của TTDS phù hợp với các nguyên tắc của chính sách xã hội nói chung và chính sách dân sự nói riêng sẽ góp phần rất lớn trong việc bảo đảm sự thống nhất và phối hợp chặt chẽ của tất cả các chế định chính trị, xã hội, pháp lý Định nghĩa về nguyên tắc của luật TTDS đã được trình bày trong Giáo trình Luật TTDS Việt Nam của

trường Đại học Luật Hà Nội như sau: “Nguyên tắc của luật TTDS là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTDS và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật TTDS”[24, tr.37]

Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Văn Cung trong luận văn thạc sĩ "Các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS Việt Nam" cũng đưa ra khái niệm về các

nguyên tắc cơ bản của luật TTDS Việt Nam một cách khá toàn diện: "Các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo mang tính chất xuất phát điểm, phản ánh đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, bản chất và những đặc trưng cơ bản của TTDS, được quán triệt trong nội dung của các chế định, quy phạm pháp luật TTDS, quy định kết cấu của toàn bộ quy trình TTDS và thể hiện phương hướng và cách thức thực hiện mục đích nhiệm vụ của TTDS Việt Nam"[1]

Hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ

sở có sự tranh chấp về quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư

Trang 10

đối lập nhau hoặc có yêu cầu công nhận một quyền dân sự hoặc xác định một

sự kiện pháp lý có liên quan đến các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng Chính sự bình đẳng về địa vị pháp lý của các chủ thể dẫn đến một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự là: người nào đề ra một yêu cầu đối với người khác thì cần phải có chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình Tòa án chỉ có thể giải quyết đúng vụ việc dân sự khi có đầy đủ các chứng cứ và các

sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự đã được làm sáng tỏ Chính vì vậy, trong hoạt động TTDS, nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự là một nguyên tắc rất quan trọng, đặt cơ sở nền tảng cho quá trình giải quyết các vụ việc dân sự

Tuy nhiên, tùy theo truyền thống lập pháp, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân mà nội dung nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự được quy định khác nhau Ở một số nước, theo nguyên tắc này, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự được đề cao và mức độ hỗ trợ của nhà nước đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự là rất ít Do đó, hoạt động cung cấp chứng cứ của đương sự gắn liền và đồng nghĩa với nghĩa

vụ chứng minh của họ, vai trò của Tòa án chỉ là người phân xử trên cơ sở các chứng cứ đã được đương sự cung cấp Tiêu biểu cho những nước này là Vương quốc Anh và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, một vụ kiện thường bắt đầu bằng việc bên khiếu kiện đệ đơn lên thư ký tòa án quận trong đó nêu rõ yêu cầu của mình và viện dẫn những cơ sở pháp lý và thực tiễn ủng hộ cho yêu cầu đó Thư ký tòa

sẽ phát hành trát đòi hầu tòa gửi tới bị đơn kèm theo bản sao của đơn khiếu kiện để báo cho bị đơn biết về việc họ đang bị kiện và khoảng thời gian họ có

để tìm cách bảo vệ mình trước đơn khiếu kiện đó Trong giai đoạn tiền tố tụng, các bên sẽ phải trao đổi chứng cứ và các nhận định dựa trên những gì họ

dự kiến tranh luận trong phiên tòa Điều này nhằm giúp cho các bên tránh được những bất ngờ trong phiên tòa xét xử đồng thời làm rõ bản chất của vụ kiện Bởi lẽ trong phiên tòa xét xử việc họ thắng kiện hay thua kiện hoàn toàn phụ thuộc vào việc họ có đưa ra được những chứng cứ để thuyết phục thẩm phán hoặc bồi thẩm hay không Phiên tòa sẽ được tiến hành bằng cách các bên đưa ra nhân chứng và cung cấp chứng cứ, thẩm phán hoặc bồi thẩm sẽ dựa hoàn toàn vào các bằng chứng đó để ra phán quyết Tương tự như vậy, ở Anh, phiên tòa xét xử là cơ hội để các luật sư tranh tụng thể hiện tài năng biện

Trang 11

hộ của mình Mọi tình tiết, chứng cứ của vụ án sẽ được các bên đưa ra và tranh luận ngay tại phiên tòa, thẩm phán sẽ chỉ dựa vào đó để đưa ra các phán quyết của mình[23, tr248,284] Như vậy, đối với những nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng, thì nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các bên đương sự được đề cao, Tòa án chỉ là người phân xử trên cơ sở các chứng cứ do đương sự cung cấp Vì vậy, việc thu thập chứng cứ do chính các bên hoặc luật sư của họ thực hiện với sự trợ giúp của Tòa án, thông qua việc buộc bên kia phải trả lời, phải tuyên thệ, đối chất, đưa ra các tài liệu để làm sáng tỏ nội dung vụ việc

Trong khi đó, hệ thống pháp luật của một số nước mặc dù vẫn quy định nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS thuộc về các đương sự nhưng mức độ hỗ trợ của Nhà nước đối với việc thực hiện nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự lại nhiều hơn Chẳng hạn, trong pháp luật TTDS của Cộng hòa Pháp và Liên bang Nga, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh vẫn được xác định là trước tiên thuộc về các đương sự, họ phải thực hiện nghĩa vụ này ngay từ khi khởi kiện - giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng Điều 56 BLTTDS của Liên bang Nga có quy

định: “Mỗi bên có nghĩa vụ phải chứng minh những tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu của mình hay sự phản đối yêu cầu của bên kia, nếu luật liên bang không quy định khác”[23] Khi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải

quyết vụ việc dân sự của mình bên nguyên đơn cần chú ý là đơn khởi kiện phải được viết thành văn bản và phải nêu rõ những tình tiết mà dựa vào đó họ

đã đưa ra yêu cầu, những chứng cứ làm cơ sở cho những tình tiết đó (Điều

131 BLTTDS Liên bang Nga)[23] Điều 6 BLTTDS Pháp lại quy định: “Các bên đương sự có nghĩa vụ viện dẫn các tình tiết cụ thể làm căn cứ cho các yêu cầu của mình” và tại Điều 9: “Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ chứng minh theo luật định các tình tiết cần thiết làm căn cứ cho các yêu cầu của mình” Trong

quá trình tố tụng các bên đương sự phải trình cho thẩm phán đơn kiện chung nêu rõ các yêu cầu của mỗi bên, những điểm mà các bên còn bất đồng cũng như các căn cứ tương ứng của mỗi bên Trong đơn kiện chung này các bên phải ghi rõ những căn cứ chứng minh cho các yêu cầu của mình, nếu không đơn sẽ bị bác (Điều 57) [10] Tuy nhiên, trong những trường hợp vì lý do khách quan và chủ quan các đương sự không thể tự mình thu thập được chứng

cứ thì Tòa án có thể hỗ trợ cho họ Điều 57 BLTTDS của Liên bang Nga có

quy định “trong trường hợp những người tham gia tố tụng gặp khó khăn

Trang 12

trong việc xuất trình chứng cứ, theo yêu cầu của họ Tòa án có thể giúp đỡ trong việc thu thập và yêu cầu cung cấp chứng cứ”[23] Pháp luật TTDS của Pháp cũng quy định nếu trong quá trình tố tụng, một bên đương sự dựa vào một công chứng thư hoặc tư chứng thư mà họ không tham gia hoặc một tài liệu do người thứ ba đang giữ, họ có thể yêu cầu thẩm phán thụ lý vụ kiện ra lệnh cấp cho họ tài liệu và bản sao tài liệu ấy (Điều 138 về yêu cầu được cấp

những giấy tờ, tài liệu do người thứ ba đang giữ)[10] Như vậy, đối với những nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi, vai trò của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ được đề cao Thẩm phán bao giờ cũng có trong tay toàn bộ tài liệu

về quá trình điều tra, là người đặt câu hỏi cho những người tham gia phiên tòa Thẩm phán có quyền tự mình quyết định áp dụng mọi biện pháp thẩm cứu mà pháp luật cho phép Tuy vậy, các bên đương sự có nghĩa vụ giúp Thẩm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không giúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ

Ở Việt Nam, trước khi có BLTTDS nguyên tắc cung cấp chứng cứ

được quy định tại Điều 3 PLTTGQCVADS với nội dung: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Tòa án có nhiệm

vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng

cứ để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác Điều 3 và 4 PLTTGQCVAKT quy định: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình Khi cần thiết, Tòa án có thể xác minh thu thập chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác” Điều 2 và 3 PLTTGQCTCLĐ quy định: “Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi cần thiết, Tòa án tiến hành xác minh thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu các bên tranh chấp lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án lao động được chính xác, công bằng ” Như vậy, theo nguyên tắc được quy định tại các pháp lệnh này

thì mỗi đương sự, tổ chức xã hội khởi kiện, viện kiểm sát khởi tố vì lợi ích chung có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, khởi tố của mình, phía đương sự đối lập cũng có thể đưa ra chứng cứ để yêu cầu lại đối với đương sự bên kia và việc phản đối của mình đối với yêu cầu của đương sự đối lập Tùy theo trình độ, năng lực của mỗi đương sự mà họ có thể tự mình hoặc nhờ luật sư hay thông qua người đại diện thu thập chứng cứ

để chứng minh trước Tòa án Bên cạnh đó, Tòa án có quyền chủ động hoàn

Trang 13

toàn trong việc thu thập chứng cứ khi cần thiết Điều 3, Điều 20, Điều 38 của PLTTGQCVADS có quy định điều tra là nhiệm vụ của Tòa án , do đó, nếu xét thấy hồ sơ chưa đủ chứng cứ thì Tòa án đều phải chủ động tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ Có thể thấy, theo nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ và chứng minh của các đương sự được quy định tại các PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ thì nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự được quy định rất mờ nhạt Ngược lại, sự hỗ trợ của Tòa án đối với nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương

sự gần như tuyệt đối Khi Tòa án xét thấy cần thiết thì Tòa án có quyền và trách nhiệm thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc được chính xác Có thể thấy quy định này được ban hành trong điều kiện đất nước ta vừa thoát ra khỏi nền kinh tế bao cấp, sự hiểu biết pháp luật của người dân còn thấp, sự ảnh hưởng của truyền thống tố tụng xét hỏi còn rất lớn song

chính những quy định này đã dẫn đến hệ quả là Tòa án vừa “điều tra”, vừa

“xét xử” Điều này đã dẫn đến tình trạng Tòa án làm thay đương sự và gây ra

sự nghi ngại trong xã hội về tình trạng Tòa án vừa “đá bóng”, vừa “thổi còi”

Cùng với sự phát triển của xã hội, xu thế mở rộng tranh tụng trong TTDS được quan tâm nhiều hơn khi lập pháp và thực tiễn áp dụng, nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự được qui định tại Điều 6 BLTTDS 2004 với nội dung:

“1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án

và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự

2 Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”

Có thể nhận thấy nguyên tắc được quy định tại Điều 6 BLTTDS có nội dung mới mang tính đột phá so với các pháp lệnh trước đây, dành sự chủ động và xác định nghĩa vụ nhiều hơn cho các đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh Tuy nhiên, hiện nay, khi sự hiểu biết pháp luật của đa số các đương sự ở nước ta vẫn còn thấp, khả năng tự bảo

vệ còn hạn chế nên nếu quy định các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ để chứng minh toàn bộ yêu cầu của mình thì có thể dẫn đến tình trạng

Trang 14

đương sự không có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và hậu quả là quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ Trong lúc đó, một bên đương sự khác có thể được hưởng lợi không có căn cứ chỉ do đương sự có quyền đã không có khả năng chứng minh được quyền của mình Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, Tòa án vẫn cần phải hỗ trợ các đương sự ở một mức độ nhất định Nội dung nguyên tắc này thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trước hết là nghĩa vụ

thuộc về các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Thứ hai, khi các đương sự và những cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi

kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác không tự mình thực hiện được hoặc trong các trường hợp khác do pháp luật quy định, Tòa án sẽ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ

Như vậy, dù theo hệ thống pháp luật nào đi nữa thì đương sự vẫn là những chủ thể đầu tiên có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ Đây là hoạt động khởi nguồn, quyết định tới các hoạt động khác mà cội nguồn của hoạt động này

xuất phát từ nguyên tắc “quyền tự định đoạt của đương sự” Theo đó, khi

đương sự đưa ra yêu cầu nếu không có bất kỳ bằng chứng, lý lẽ nào chứng minh cho quyền lợi hợp pháp của mình Tòa án sẽ từ chối thụ lý vụ kiện và vì vậy không làm phát sinh bất cứ một hoạt động tố tụng nào tiếp theo Đây cũng chính là đặc điểm đặc trưng nhất của TTDS Có thể khẳng định, kết quả giải quyết vụ việc dân sự trước hết phụ thuộc vào các chứng cứ, tài liệu mà các đương sự cung cấp Chứng cứ càng đầy đủ, chính xác thì vụ kiện càng được giải quyết nhanh chóng, công bằng và hợp lý Có thể thấy, nguyên tắc này đề cập đến vấn đề chủ yếu là quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự, của cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; còn Tòa án chỉ hỗ trợ khi họ không thể tự mình thực hiện được và trong những trường hợp pháp luật quy định Song, suy cho đến cùng, việc cung cấp chứng cứ (của đương sự và những người tham gia tố tụng khác) và việc thu thập chứng cứ (của Tòa án) thực chất là hai công việc có cùng mục đích là giúp Tòa án có được những chứng cứ của vụ việc, giải quyết vụ việc chính xác, khách quan Đây là hoạt

Trang 15

động chiếm một khối lượng công việc lớn nhất, nhiều thời gian nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự

Từ sự phân tích trên, cho thấy, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS là một trong những nguyên tắc đặc trưng cơ bản của Luật TTDS, trong đó xác định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự, người khởi kiện đồng thời xác định trách nhiệm hỗ trợ của Tòa án đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự, người khởi kiện trong trường hợp nhất định nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác và khách quan

1.2 Cơ sở của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong

tố tụng dân sự

Trong cuộc sống hằng ngày, con người luôn thực hiện những giao lưu

về văn hóa, kinh tế… Sự giao lưu đó như là một đòi hỏi cần thiết để con người sống, tồn tại và phát triển Và có quan hệ, có giao lưu tất yếu sẽ không tránh khỏi những mâu thuẫn, tranh chấp và những yêu cầu khác nhau của chủ thể Mâu thuẫn, tranh chấp, yêu cầu khác nhau đó luôn gắn liền đến quyền lợi

và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ Là tổng hòa các mối quan

hệ xã hội giữa con người với con người, do đó các tranh chấp, yêu cầu dân sự xảy ra trong đời sống hàng ngày là một tất yếu khách quan Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của con người cũng là một tất yếu khách quan

Do đó, trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, có pháp luật thì nhà nước đó, pháp luật đó phải có những biện pháp, cách thức giải quyết mâu thuẫn, các tranh chấp bảo vệ quyền và lợi ích của con người nhằm bảo đảm sự ổn định của một trật tự xã hội

Ở nước ta, “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN” Để đảm bảo trật tự xã hội được ổn định, bảo

đảm cho việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn dân sự được nhanh chóng, bảo

vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Nhà nước phải ban hành một hệ thống pháp luật đủ sức để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Hệ thống luật đó (bao gồm cả luật TTDS) phải đảm bảo được một trong các yêu cầu cơ bản là tôn trọng quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, bảo đảm cho đương sự trong tố tụng dân sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình Trong TTDS, để đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, bảo đảm quyền và lợi ích của các bên, pháp luật đã ghi

Trang 16

nhận nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự Nguyên tắc này có nội dung xác định khi đưa ra yêu cầu hay bác bỏ yêu cầu của người khác đương sự có quyền, nghĩa vụ cung cấp và chứng minh để làm rõ căn cứ yêu cầu của mình hay căn cứ bác bỏ yêu cầu của người khác Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì cũng có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh như đương sự Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong trường hợp họ không thể tự mình chứng minh được và trong những trường hợp pháp luật quy định

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong TTDS hoàn toàn khác so với nguyên tắc trách nhiệm chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự Xuất phát từ nhiệm

vụ của pháp luật hình sự là bảo đảm an ninh quốc gia, an toàn xã hội, độc lập chủ quyền lãnh thổ và bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho mỗi người dân nên các

cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết một vụ án hình sự tức là giải quyết một quan hệ pháp luật phát sinh giữa người phạm tội và Nhà nước Nhà nước với tư cách là người bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, quyền chủ thể của Nhà nước được thực hiện qua các cơ quan đại diện (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) Do đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, phải chịu trách nhiệm hình sự trước Nhà nước, chứ không phải với người bị hại Vì thế, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được dựa trên các tài liệu, chứng cứ do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được, xem xét, đánh giá Bị can, bị cáo có quyền chứng minh mình vô tội mà không

có nghĩa vụ cung cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng chứng cứ để chứng minh họ đã phạm tội

Ngược lại, trong TTDS các tranh chấp, yêu cầu chủ yếu phát sinh từ các quan hệ dân sự giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau Chính tính chất bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTDS

và quyền tự định đoạt của các chủ thể này đã tạo nên sự khác biệt cơ bản của nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS và tố tụng hình sự Trong TTDS, đương sự có quyền tự định đoạt tức là đương sự

sẽ tự quyết định về quyền, lợi ích của mình và lựa chọn biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó Quan hệ dân sự là quan hệ riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được thì họ cũng tự quyết định có yêu cầu Nhà nước hỗ

Trang 17

trợ hay không? Hơn nữa, các bên đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc là người đưa ra yêu cầu, họ là người hiểu rõ vụ việc của mình nhất, biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp Họ thường biết rõ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc của mình có những gì và đang ở đâu Bên cạnh đó, khi khởi kiện cũng như khi đưa ra các yêu cầu phản tố, bao giờ đương sự cũng là người đứng ở thế chủ động, tự nguyện đưa ra những lý

lẽ để chứng minh, bênh vực cho quyền lợi của mình Do đó, khi các bên đã đưa việc tranh chấp của họ ra tòa, thì Tòa án chỉ là người trọng tài, giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật chứ Tòa án không thể làm thay, chứng minh thay cho đương sự với những yêu cầu của

họ Mặt khác, việc xác định trách nhiệm cung cấp chứng cứ thuộc về các đương sự nhằm mục đích để các đương sự cân nhắc, tính toán kỹ khi đưa ra các yêu cầu và ràng buộc trách nhiệm của các bên khi đưa ra yêu cầu của mình Vì nếu đưa ra yêu cầu mà không đưa ra được các chứng cứ để chứng minh thì các chủ thể đó sẽ không bảo vệ được quyền lợi của mình, đồng thời cũng không thể ràng buộc Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu

Như đã phân tích ở Mục 1.1, tùy theo truyền thống tố tụng, điều kiện kinh tế xã hội và trình độ hiểu biết pháp luật của người dân mà mỗi Nhà nước đều có cơ chế hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh khác nhau Ở những nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng hoàn toàn không quy định vai trò điều tra của Tòa án, việc cung cấp chứng cứ để chứng minh

vụ việc hoàn toàn thuộc trách nhiệm của các bên Còn đối với những nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi lại ngược lại, việc thu thập chứng cứ được các bên đương sự tiến hành trước khi phiên tòa được mở nhưng Tòa án sẽ hỗ trợ giúp đỡ họ trong những trường hợp nhất định[15, tr 68-69] Ở những nước

có điều kiện kinh tế xã hội phát triển, trình độ hiểu biết của đương sự ở mức

độ cao thì sự hỗ trợ của Tòa án sẽ ít hơn những nước điều kiện còn khó khăn, trình độ của đương sự còn thấp Ở Việt Nam, Tòa án với tư cách là cơ quan công lý giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân lao động trong quá trình giải quyết vụ việc, nên Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn các bên cung cấp chứng cứ, có nghĩa vụ xác minh chứng cứ các bên đưa ra và hỗ trợ các bên đương sự khi họ không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu

Như vậy, theo nguyên tắc này, pháp luật không bắt buộc Tòa án phải chủ động thu thập chứng cứ và chứng minh nhưng trong quá trình tố tụng Tòa

Trang 18

án vẫn phải hỗ trợ các bên đương sự trong việc tìm ra sự thật khách quan, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, bởi lẽ:

Thứ nhất, Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức

năng xét xử, thiết lập lại các quan hệ nội dung bị vi phạm hay tranh chấp, bảo

vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Thứ hai, có những trường hợp do trình độ hiểu biết pháp luật hạn

chế mà đương sự không tự thu thập chứng cứ, chứng minh được hoặc sự chống đối, chây ỳ của đương sự phía đối lập hoặc do sự trì trệ trong việc cung cấp thông tin của các cơ quan công quyền, các tổ chức xã hội cho người dân dẫn đến có những việc mà bản thân công dân không thể thực hiện việc thu thập chứng cứ được cần phải có sự hỗ trợ, can thiệp của Tòa án Ví dụ: yêu cầu cơ quan lưu trữ cung cấp những giấy tờ, tài liệu cần thiết; lấy lời khai, trưng cầu giám định, xem xét tại chỗ…

Chính vì vậy, mà nội dung chủ yếu của nguyên tắc nội dung này là xác định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự cần phải có thêm nội dung quy định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc thực hiện nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự

1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS là một trong các nguyên tắc của TTDS Trên phương diện chung nó cũng có những ý nghĩa của các nguyên tắc của pháp luật TTDS, đó là:

Thứ nhất, trong quá trình lập pháp, các nguyên tắc cơ bản của TTDS là

căn cứ để xây dựng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật TTDS Nói cách khác, các nguyên tắc cơ bản của TTDS giúp cho các nhà lập pháp có được một định hướng cơ bản để một mặt xây dựng nên một quy trình tố tụng

có logic nội tại, mặt khác có thể phát hiện những khiếm khuyết trong pháp luật thực định để hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện

Thứ hai, trong lĩnh vực áp dụng pháp luật, so sánh giữa các nguyên tắc

cơ bản của TTDS với các quy phạm pháp luật TTDS thì có thể nhận thấy: giữa các quy phạm pháp luật TTDS với các nguyên tắc cơ bản của nó có mối quan hệ hai chiều Mối quan hệ này được thể hiện trong thực tiễn áp dụng pháp luật như sau: việc vi phạm các nguyên tắc cơ bản của TTDS được thể

Trang 19

hiện bằng việc vi phạm một hoặc một số các quy phạm pháp luật chuyên biệt

và ngược lại Nói cách khác, tất cả các hành vi được tiến hành trong quá trình

tố tụng như khởi kiện, khởi tố, điều tra, ra quyết định hoặc bản án đều phải được thực hiện trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc đã đề ra Bất cứ hành vi nào của bất kì giai đoạn tố tụng nào, vi phạm một trong số các nguyên tắc của TTDS đều bị coi như tiến hành tố tụng không hợp pháp Tóm lại, các nguyên tắc cơ bản của TTDS giúp cho Tòa án áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật trong khi giải quyết các vụ việc cụ thể cũng như tạo điều kiện để Toà án kiểm tra được tính đúng đắn trong các phán quyết của mình

Thứ ba, trong lĩnh vực giáo dục ý thức pháp luật, các nguyên tắc cơ bản

của TTDS có vai trò tác động lên ý thức pháp luật của mọi công dân, giúp họ hiểu đường lối, chính sách dân sự của Đảng và Nhà nước, bản chất của pháp luật TTDS Các nguyên tắc cơ bản của TTDS góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân, tạo điều kiện để họ thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Việc quán triệt các nguyên tắc cơ bản của TTDS còn có tác dụng ngăn chặn mọi hành vi vi phạm pháp luật và những biểu hiện tiêu cực trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án dân sự

Ngoài các ý nghĩa chung đó, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh còn mang những ý nghĩa riêng của nó Như chúng ta đã biết, trong TTDS chứng cứ có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Trên cơ sở các chứng cứ, Tòa án mới làm rõ được các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, giải quyết được đúng các yêu cầu của đương

sự Chính vì vậy, pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ trước tiên thuộc về đương sự với mục đích tạo điều kiện thuận lợi nhất để Tòa

án giải quyết vụ việc dân sự Bởi lẽ đương sự là người trong cuộc, hơn ai hết

họ hiểu được các tình tiết của vụ việc, có điều kiện cung cấp cho Tòa án các tình tiết của vụ việc Nguyên tắc này chính là phương tiện quan trọng để Tòa

án nhận biết được sự thật của vụ việc, giải quyết được vụ việc dân sự một cách công minh, có căn cứ và hợp pháp Khi các bên đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa án một cách trung thực và đầy đủ, chắc hẳn việc giải quyết

vụ án sẽ đơn giản và nhanh chóng hơn rất nhiều Ngược lại, khi đương sự cố tình không đưa ra hoặc không đưa ra đủ chứng cứ, tức là không tuân thủ nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự thì họ sẽ

Trang 20

phải gánh chịu những hậu quả nhất định Điều này cũng góp phần giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được chính xác và thuận lợi

Mặt khác, trên cơ sở của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS, khi các đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ hoặc trong những trường hợp pháp luật quy định thì họ sẽ được Tòa án hỗ trợ Trên thực tế, không phải lúc nào đương sự cũng dễ dàng có được những chứng cứ cần thiết để cung cấp cho Tòa án, ví dụ như trường hợp các giấy tờ, tài liệu chứa đựng chứng cứ của vụ việc đang do một cơ quan Nhà nước giữ đương

sự không thể dễ lấy ra được; trường hợp đương sự có trình độ văn hóa thấp,

có nhược điểm về thể chất hoặc có chứng cứ chỉ thu thập được bằng biện pháp nhất định Khi đó, họ sẽ có quyền yêu cầu Tòa án giúp thu thập chứng

cứ để tìm ra sự thật khách quan của vụ việc Việc này là rất cần thiết, nó giúp cho việc giải quyết vụ việc được đúng đắn, giảm được những hậu quả bất lợi cho các đương sự do không thể cung cấp được chứng cứ cho Tòa án

Tóm lại, các nguyên tắc cơ bản của TTDS có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với thực tiễn lập pháp áp dụng pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật Chính vì vậy, trong lĩnh vực lập pháp cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của nguyên tắc trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật liên quan, còn trong lĩnh vực áp dụng pháp luật phải triệt để tuân thủ nguyên tắc này làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được tiến hành đúng đắn, hiệu quả

1.4 Mối quan hệ giữa nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự với các nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng dân sự

BLTTDS đã ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của TTDS Việt Nam (tại chương II với 22 điều luật (từ Điều 3 đến Điều 24) quy định 22 nguyên tắc cơ bản Có thể thấy toàn bộ các nguyên tắc này luôn có mối liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một hệ thống Trong hệ thống đó mỗi nguyên tắc đều có vai trò độc lập tương đối, song ý nghĩa đầy đủ của mỗi nguyên tắc chỉ có thể xác định trong mối liên hệ với những nguyên tắc khác

và thông qua sự tác động của cả hệ thống các nguyên tắc đối với hoạt động TTDS

Hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong TTDS có thể được chia thành các nhóm sau:

Trang 21

- Nhóm các nguyên tắc thể hiện tính pháp chế XHCN;

- Nhóm các nguyên tắc về tổ chức hoạt động xét xử của Tòa án;

- Nhóm các nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự;

- Nhóm các nguyên tắc thể hiện trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;

- Nhóm các nguyên tắc thể hiện vai trò, trách nhiệm của các cá nhân,

cơ quan, tổ chức trong TTDS

Và trong đó nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nằm trong nhóm các nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia tố tụng

của đương sự, là nguyên tắc đặc trưng của TTDS

Trong mối liên hệ với toàn bộ hệ thống các nguyên tắc cơ bản của TTDS, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh là một trong những nguyên tắc có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các hoạt động TTDS theo quy định của các nguyên tắc khác Khi yêu cầu Tòa án xem xét vụ việc dân sự của mình, người khởi kiện phải gửi đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp đến Tòa án có thẩm quyền Như vậy, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh phải được đương sự thực hiện ngay từ giai đoạn đầu tiên trong quá trình giải quyết một vụ việc dân sự Nếu như đương sự khi gửi đơn khởi kiện lại không có những chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp thì Tòa án có thể sẽ không thụ lý vụ án Và như thế thì sẽ không có hoạt động xét xử, các nguyên tắc về tổ chức hoạt động xét xử của Tòa án như nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể …cũng không thể thực hiện được Trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của TTDS, có những nguyên tắc sẽ xuyên suốt quá trình giải quyết vụ việc dân sự như nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTDS, tiếng nói và chữ viết dùng trong TTDS …,

có những nguyên tắc chỉ phục vụ trong một giai đoạn tố tụng nhất định như nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia, nguyên tắc xét xử công khai… Việc thực hiện tốt các nguyên tắc của giai đoạn tố tụng trước sẽ là tiền đề giúp cho việc thực hiện các giai đoạn tố tụng sau được thuận lợi Vì thế, khi thực hiện tốt nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng

Trang 22

minh trong TTDS, tức là khi các đương sự cung cấp cho Tòa án toàn bộ các chứng cứ một cách trung thực và đầy đủ thì việc giải quyết vụ việc dân sự sẽ thuận lợi và nhanh chóng hơn rất nhiều

Đặc biệt, giữa nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS với các nguyên tắc khác trong nhóm các nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự lại càng có mối quan hệ chặt chẽ Các nguyên tắc khác trong nhóm này gồm có: nguyên tắc quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự; nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS; nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTDS

Trong số các nguyên tắc này, có thể thấy nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự là một nguyên tắc chủ đạo, thể hiện rõ đặc trưng của TTDS Và nguyên tắc này cũng có mối quan hệ biện chứng mật thiết đối với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, nhưng để được tòa án thụ lý thì đương sự phải đưa ra những chứng cứ, tài liệu chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Đương sự chỉ có thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình khi được đảm bảo sự tự định đoạt và ngược lại, quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự thể hiện rõ nét nhất khả năng tự định đoạt của đương sự Theo đó, các quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự do chính hành vi tố tụng của họ quyết định Khi đương sự đưa ra yêu cầu mà thực hiện được đầy đủ, chính xác quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình thì các quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ được đảm bảo bằng phán quyết của Tòa án Khi họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng đắn, đầy đủ nghĩa vụ này cũng đồng nghĩa là họ

đã tự mang lại cho mình một hậu quả pháp lý bất lợi Hoạt động chứng minh theo đó mà cũng phải đảm bảo được sự tự chủ của đương sự, tòa án chỉ có trách nhiệm thu thập chứng cứ khi đương sự không tự mình thu thập được và

có yêu cầu Đây chính là hệ quả của việc tôn trọng tối đa nguyên tắc quyền quyết định và quyền tự định đoạt của đương sự

Ngoài ra, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ dân sự cũng có liên hệ chặt chẽ với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật TTDS, các đương sự có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau, có quyền bình đẳng trong việc cung cấp, bổ sung

Trang 23

chứng cứ Khi đưa ra yêu cầu, đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án các chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu của mình Khi phản đối yêu cầu của đương sự phía bên kia đương sự cũng có quyền và nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án các chứng cứ để làm cơ sở cho việc phản đối Trong việc cung cấp chứng cứ họ có quyền bình đẳng, nghĩa là không có sự phân biệt vị trí tố tụng, địa vị xã hội, thành phần xã hội, nam nữ, dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng… Tòa

án bảo đảm sự bình đẳng của đương sự về quyền và nghĩa vụ TTDS cũng chính là bảo đảm cho các đương sự bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh

Tóm lại, mỗi nguyên tắc trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của TTDS đều có nội dung độc lập, có ý nghĩa thực tiễn độc lập nhưng toàn bộ các nguyên tắc trong hệ thống đều thống nhất với nhau, tác động qua lại trong

việc thực hiện mục đích, nhiệm vụ của TTDS

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

- Trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự

Có thể thấy các tranh chấp, yêu cầu của các bên đương sự trong quan

hệ pháp luật TTDS đều xuất phát từ quan hệ riêng tư của các bên, các bên sẽ

là người trực tiếp tự giải quyết, tự quyết định là chủ yếu, Tòa án chỉ tham gia với tư cách là người trọng tài phân xử trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự Chính vì vậy, sự hiểu biết pháp luật của mỗi cá nhân, tổ chức

sẽ ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Ngay từ khi xác lập, bắt đầu tham gia vào một giao dịch dân sự, mỗi chủ thể nên tuân thủ theo những quy định của pháp luật, dự liệu trước những tình huống có thể xảy ra để lựa chọn phương án phù hợp nhất với nhu cầu của mình Tin tưởng lẫn nhau, tin tưởng "đối tác" trong mối quan hệ giao dịch dân

sự, đặc biệt khi có giao dịch với anh chị em họ hàng, những người thân thiết

là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta Tuy nhiên có nhiều trường hợp,

do quá tin tưởng nhau cũng như thiếu sự hiểu biết pháp luật mà quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể bị xâm hại, dẫn đến những mâu thuẫn tranh chấp không đáng có Đó là các trường hợp xảy ra khá phổ biến trên thực tế như vay mượn tài sản không lập văn bản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất không công chứng tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Có thể nói chính những sự chủ quan, không tuân thủ pháp luật này mà tạo điều kiện cho những tranh

Trang 24

chấp xảy ra Vì vậy, mỗi chủ thể trong giao dịch dân sự cần phải có những kiến thức pháp lý khi xác lập các giao dịch, tránh những "kẽ hở" gây bất lợi cho mình Nếu giao dịch được xác lập dựa trên những cơ sở pháp lý vững chắc chắc hẳn sẽ hạn chế được những mâu thuẫn phát sinh

Còn trong những trường hợp khi đã có tranh chấp xảy ra, mỗi chủ thể cũng cần trang bị cho mình kiến thức pháp luật, xác định những việc cần thiết phải làm khi đưa tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án Các bên đương sự cần phải biết cách đưa ra yêu cầu của mình, cách xác định, tìm kiếm, thu thập chứng cứ cũng như cách thức yêu cầu Tòa án hỗ trợ Có như vậy thì vụ việc dân sự mới được giải quyết một cách nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của cả hai bên đương sự Bởi lẽ nếu không có những hiểu biết cần thiết thì các đương sự không thể biết những chứng cứ nào là quan trọng, cần phải có cho việc giải quyết tranh chấp cũng như không biết những thủ tục, những quyền lợi mà mình được thực hiện, những nghĩa vụ phải tuân theo

Như vậy, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân không chỉ ảnh hưởng đến quá trình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh khi tranh chấp xảy ra

- Sự tham gia của luật sư và các tổ chức trợ giúp pháp lý trong quá

trình giải quyết vụ việc dân sự

Như đã phân tích ở trên, mỗi cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch dân sự, khi giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án thường bị hạn chế bởi trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật, kinh nghiệm trong lĩnh vực luật pháp nên khó có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách đầy đủ và toàn diện Trong khi đó, những luật sư là những người am hiểu và có kinh nghiệm trong hoạt động pháp luật, hoàn toàn có thể hỗ trợ cho các cá nhân, tổ chức về mặt pháp lý có hiệu quả nhất khi có những vụ việc xảy ra liên quan đến pháp luật Luật sư có thể hỗ trợ các chủ thể từ khi bắt đầu tham gia giao dịch, trong quá trình thực hiện giao dịch và khi có tranh chấp xảy ra đảm bảo đúng pháp luật và bảo vệ được lợi ích chính đáng của các chủ thể Chính vì vậy, để nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh được thực hiện có hiệu quả trên thực tế cần tăng cường sự tham gia của luật sư trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Các luật sư với hiểu biết và kinh nghiệm của mình sẽ hỗ

Trang 25

trợ cho đương sự trong việc xác định những chứng cứ cần thiết cho vụ việc, cách thức tìm kiếm, thu thập chứng cứ có hiệu quả Đây là một bước có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ, nếu không xác định được hoặc xác định không đúng những nội dung cần xác minh thu thập sẽ làm cho quá trình thu thập chứng cứ mở rộng tràn lan, đương sự có thể thu thập cả những tài liệu không liên quan đến vụ việc, những tài liệu không có giá trị chứng minh, gây ra lãng phí thời gian, công sức Mặt khác, việc xác định không đúng những nội dung cần chứng minh cũng có thể làm cho quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ bị thu hẹp, bỏ sót, không thu thập hết những thông tin cần thiết Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu có sự tham gia của luật sư, chắc hẳn quá trình thu thập chứng cứ sẽ nhanh chóng và có hiệu quả hơn

Bên cạnh đó, sự tham gia của các tổ chức trợ giúp pháp lý trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí (tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng ) cho một số đối tượng chính sách xã hội như người nghèo, người có công với cách mạng (gia đình liệt sĩ, thương binh ), người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu

số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cũng có ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS Các tổ chức này sẽ giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần vào việc phổ biến và chấp hành pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật

- Trách nhiệm của Tòa án trong việc thu thập, xem xét, đánh giá chứng

cứ

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có vị trí rất quan trọng, là người đưa ra quyết định phân xử, ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của cả hai bên đương sự Vì vậy, để giải quyết vụ việc được khách quan, đúng pháp luật mà cụ thể là để đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS, Tòa án phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc thu thập, xem xét, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ

Trước hết, Tòa án phải xác định được đúng những trường hợp nào cần phải hỗ trợ, những trường hợp nào đương sự có thể tự làm được Có nhiều trường hợp đương sự chưa làm hết khả năng của mình trong việc tìm kiếm, thu thập chứng cứ nhưng đã làm đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ Nếu không xem

Trang 26

xét cụ thể, Tòa án rất dễ rơi vào tình huống "làm thay" đương sự Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh được quy định nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của các bên đương sự trong việc đưa ra yêu cầu và giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền lợi cho mình, nên nếu Tòa án "làm thay" đương sự thì đã đi ngược lại với mục đích của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh Tuy nhiên, khi thấy đương sự vì những lý do khách quan và chủ quan

mà không thể thu thập được chứng cứ thì Tòa án cũng phải tích cực hỗ trợ, giúp đỡ, tránh tình trạng vụ việc bị giải quyết thiếu khách quan do không đầy

đủ chứng cứ

Thứ hai, Tòa án phải thực hiện tốt việc xem xét, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ Có thể nói chứng cứ là "linh hồn" của quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, nếu chứng cứ được thu thập đầy đủ, nghiên cứu kỹ lưỡng chắc hẳn sẽ có được quyết định khách quan và đúng đắn Tòa án, cụ thể là các Thẩm phán phải nghiên cứu, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác, tránh sự thiên vị để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự, trong những trường hợp xét thấy chứng cứ chưa đủ để giải quyết thì yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung những chứng cứ còn thiếu Mặt khác, Tòa

án cũng cần chủ động thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định pháp luật khi thấy cần thiết Có như vậy, nguyên tắc cung cấp chứng cứ

và chứng minh mới được bảo đảm thực hiện để mọi sự thật khách quan của vụ việc dân sự luôn được tìm ra

- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân lưu giữ và quản lý chứng

từ những cơ quan, tổ chức, cá nhân này Những chủ thể này cần phải nhận thức rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc cung cấp chứng cứ, tài

liệu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS là một trong những nguyên tắc đặc trưng cơ bản của Luật TTDS, trong đó xác định

Trang 27

nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự, người khởi kiện đồng thời xác định trách nhiệm hỗ trợ của Tòa án đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự, người khởi kiện trong trường hợp nhất định nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác và khách quan Nguyên tắc này được quy định xuất phát từ sự bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ TTDS, theo đó ai là người đưa ra yêu cầu thì cũng phải đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Nguyên tắc này

có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của pháp luật TTDS và có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Trên cơ

sở các chứng cứ, Tòa án mới làm rõ được các sự kiện, tình tiết của vụ việc mà hơn ai hết đương sự là những người có thể cung cấp cho Tòa án các chứng cứ liên quan đến vụ việc một cách chính xác nhất Và để đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc này trên thực tế cần chú ý đến những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến nó như: trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự, sự tham gia của luật sư

và các trung tâm trợ giúp pháp lý, trách nhiệm của Tòa án và các cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ và quản lý chứng cứ

Trang 28

Chương 2

NỘI DUNG NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Điều 6 BLTTDS quy định nguyên tắc: “Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS” với hai nội dung cơ bản mang tính khái quát: Các đương

sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền

và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự và Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện cụ thể trong toàn bộ quá trình TTDS

2.1 Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh

Đương sự khi đưa ra yêu cầu, khởi kiện, bác bỏ yêu cầu của người khác

có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho việc làm đó của mình là

có căn cứ và hợp pháp Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và đúng pháp luật

Trong TTDS, khi giải quyết vụ việc dân sự là Tòa án giải quyết các tranh chấp, yêu cầu liên quan đến mối quan hệ giữa các đương sự Vì vậy, về nguyên tắc ai là người đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết thì người đó phải có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự được thể hiện trong toàn bộ quá trình TTDS

2.1.1 Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong giai đoạn khởi kiện, yêu cầu và thụ lý vụ việc dân sự

Trang 29

Khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS Khởi kiện, yêu cầu trước hết là quyền tố tụng của các chủ thể, là phương thức mà các chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nước hoặc người khác Tuy nhiên, quyền khởi kiện, yêu cầu của các chủ thể chỉ làm phát sinh nghĩa vụ thụ lý vụ việc của Tòa án khi việc khởi kiện, yêu cầu phải tuân thủ đúng và đủ các điều kiện khởi kiện, yêu cầu về hình thức khởi kiện và tạm ứng án phí Các điều kiện khởi kiện bao gồm:

- Người khởi kiện, yêu cầu phải là người có quyền khởi kiện, yêu cầu

và có đủ năng lực hành vi TTDS

- Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định của Tòa

án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật, trừ các trường hợp: Bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn; yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại; vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện

- Việc khởi kiện, yêu cầu của các chủ thể phải được thực hiện đúng thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án theo loại việc, theo cấp và theo lãnh thổ Đối với một số loại việc trước khi khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết thì người khởi kiện, yêu cầu phải có sự xem xét, giải quyết trước của các cơ quan liên quan Ví dụ: các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì chỉ được đưa ra giải quyết tại TAND nếu đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí

Bên cạnh đó, để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự thì cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện nộp cho Tòa án Đơn khởi kiện phải được trình bày rõ ràng, đầy đủ những vấn đề cơ bản theo quy định tại khoản 2 Điều 164 BLTTDS Đặc biệt, để đảm bảo cho việc khởi kiện, yêu

cầu của các cá nhân, tổ chức là có căn cứ thì khi khởi kiện, yêu cầu “người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” (Điều 165 BLTTDS)

Tức là, ngoài các điều kiện khởi kiện khác, ngay khi nộp đơn khởi kiện, yêu cầu, người khởi kiện, yêu cầu phải xuất trình cho Tòa án các tài liệu, chứng

Trang 30

cứ để chứng minh mình có quyền khởi kiện đối với một chủ thể về quan hệ pháp luật nhất định

Tùy theo từng loại vụ việc cụ thể, người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện các chứng cứ, tài liệu cần thiết ban đầu Ví dụ:

- Đối với tranh chấp về hợp đồng, người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện bản hợp đồng do các bên ký kết hoặc giấy tờ xác nhận các bên

đã giao kết hợp đồng, giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký tạm trú hoặc

sổ hộ khẩu của người khởi kiện Các tài liệu ban đầu này là cơ sở để chứng minh người khởi kiện có quyền khởi kiện với người giao kết hợp đồng với họ

về tranh chấp hợp đồng Các chứng cứ, tài liệu khác chứng minh quyền và nghĩa vụ của các bên như tài liệu phản ánh quá trình thực hiện hợp đồng của các bên, hành vi vi phạm hợp đồng…các đương sự có thể cung cấp ngay khi nộp đơn khởi kiện hoặc trong quá trình giải quyết vụ việc

- Đối với các tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện có các chứng cứ, tài liệu xác định

có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại, lỗi của các bên (biên bản của cơ quan công an, bản án của Tòa án, kết luận giám định ), thiệt hại đã xảy ra (hóa đơn thuốc, chứng từ chi phí sửa chữa tài sản ); giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký tạm trú hoặc sổ hộ khẩu của người khởi kiện Các tài liệu ban đầu này là cơ sở để chứng minh người khởi kiện có quyền khởi kiện với người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng

- Đối với các tranh chấp về thừa kế cần phải có di chúc (nếu có); giấy chứng tử của người để lại di sản; bản kê khai các di sản và các giấy tờ sở hữu của người để lại di sản; giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế, giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký tạm trú hoặc sổ hộ khẩu của người khởi kiện.…

- Đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình cần phải có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, giấy khai sinh của các con, giấy tờ chứng nhận

sở hữu tài sản chung của vợ chồng hoặc sở hữu riêng của từng người; giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký tạm trú hoặc sổ hộ khẩu của người khởi kiện.…

- Đối với các tranh chấp về lao động cần phải có những tài liệu như hợp đồng lao động, các giấy tờ chứng minh tranh chấp xảy ra và việc hòa giải tại

Trang 31

cơ sở; giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký tạm trú hoặc sổ hộ khẩu của người khởi kiện

- Đối với các tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại của người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra cần phải có bản

án, quyết định thể hiện việc người đó bị oan, giấy tờ chứng minh việc người

bị oan hoặc người thân của họ đã thỏa thuận, thương lượng với cơ quan gây thiệt hại…

Việc pháp luật quy định khi khởi kiện người khởi kiện phải cung cấp các chứng cứ cần thiết ban đầu giúp cho Tòa án có cơ sở để xem xét thụ lý vụ việc Trong giai đoạn này đương sự không có nghĩa vụ phải giao nộp cho Tòa

án toàn bộ các tài liệu chứng cứ mà đương sự đó đang có mà họ chỉ phải bắt buộc cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ để chứng minh họ có quyền khởi kiện, yêu cầu với người bị kiện về quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc có yêu cầu Theo khoản 1 Điều 83 BLTTDS thì các tài liệu này phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền cung cấp xác nhận Nếu đương sự chỉ cung cấp bản photo thì Tòa án sẽ không chấp nhận và trả lại đơn khởi kiện

Chẳng hạn: Ngày 26/4/2005 Ông Trần Đức K có mua của bà Vũ Thị M

40 m2 đất trong thửa đất 100 m2 tại GL- Hà Nội, việc mua bán bằng giấy viết tay, bên bán đã bàn giao đất, bên mua đã trả đủ tiền và đã xây nhà trên đất Theo thỏa thuận, trong thời hạn tối đa 6 tháng bên bán phải làm thủ tục tách

sổ đỏ cho bên mua và chịu toàn bộ chi phí Nhưng đến nay bên bán vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ tách sổ đỏ cho bên mua và bên mua khởi kiện yêu cầu Tòa

án công nhận hợp đồng mua bán Tuy nhiên, với tâm lý chỉ có giấy mua bán viết tay là căn cứ bảo vệ quyền lợi cho mình nên khi khởi kiện bà M, ông K đã không cung cấp cho Tòa án bản gốc tờ giấy viết tay đó mà chỉ cung cấp bản photo nên Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện cho ông K

Ngoài ra, mặc dù pháp luật yêu cầu người khởi kiện phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ khi khởi kiện là hoàn toàn hợp lý nhưng trên thực tế, với một số chủ thể nhất định, việc xác định và cung cấp những chứng cứ ban đầu này là không đơn giản Ví dụ: Pháp luật lao động cho phép đối với một số công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng hoặc đối với lao động giúp việc gia đình thì các bên có thể giao kết bằng miệng (Điều 28 Bộ Luật Lao động 1994, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007) Như

Trang 32

vậy, nếu có tranh chấp xảy ra giữa người giúp việc gia đình và người sử dụng lao động thì tài liệu, chứng cứ nào sẽ được cung cấp cho Tòa án khi họ không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản

Nếu người khởi kiện không cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ bắt buộc ban đầu kèm theo đơn khởi kiện thì có thể hiểu là trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện để Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo Điều 168 BLTTDS hay Tòa án vẫn thụ lý và sẽ yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung sau? Trước đây, khi BLTTDS chưa được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12,

"tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp" là một trong những nội dung chính của đơn khởi kiện, nếu thiếu nội

dung này thì người khởi kiện có thể tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong một thời hạn nhất định (không quá 30 ngày, trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày – Điều

169 BLTTDS) Hiện nay, BLTTDS không quy định đây là nội dung của đơn khởi kiện nữa với mục đích để tránh sự trùng lặp với Điều 165 BLTTDS Theo Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP, "chưa đủ điều kiện khởi kiện" được

hướng dẫn là "trường hợp các đương sự có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn kiện), nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện đó"

(Mục 7 Phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP) Từ đó có thể coi việc không cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ bắt buộc ban đầu kèm theo đơn khởi kiện là trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện và đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại sau khi đã bổ sung tài liệu, chứng cứ đủ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo Điều 168 BLTTDS

Trước đây, theo PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ thì khi khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc dân

sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện cũng có nghĩa vụ cung cấp những tài liệu, lý lẽ chứng minh cho yêu cầu của mình nhưng các pháp lệnh này lại có

quy định: “Tòa án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết

có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác”[6] Như vậy, nếu các chủ thể khởi kiện khi làm đơn khởi kiện

chưa nêu rõ các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp thì Tòa án vẫn thụ lý Sau đó, Tòa án sẽ yêu cầu các đương sự bổ sung chứng cứ hoặc tự thu thập thêm khi xét thấy cần thiết Quy định này tạo

Trang 33

điều kiện thuận lợi cho đương sự khi khởi kiện nhưng sẽ dẫn đến nguy cơ việc thụ lý của Tòa án thiếu căn cứ và không xác định được trách nhiệm của các đương sự khi khởi kiện, người khởi kiện cũng có thể ỷ lại vào Tòa án, không phối hợp, hỗ trợ Tòa án trong việc xác minh thu thập, chứng cứ Điều này sẽ dẫn đến việc giải quyết vụ việc dân sự bị kéo dài, gây mất thời gian, công sức và tiền bạc, Tòa án làm thay đương sự Chính vì vậy, BLTTDS ra đời đã quy định người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp là hoàn toàn phù hợp, nâng cao trách nhiệm của người dân trong việc yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích của mình

2.1.2 Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Giai đoạn chuẩn bị xét xử là giai đoạn Tòa án tiếp tục thu thập chứng

cứ, xây dựng hồ sơ vụ việc, nghiên cứu hồ sơ và đánh giá chứng cứ của vụ việc dân sự và trên cơ sở đó vận dụng đúng pháp luật để giải quyết vụ việc Các đương sự có thể tự mình cung cấp, bổ sung chứng cứ cho Tòa án hoặc Tòa án yêu cầu các đương sự bổ sung chứng cứ cần thiết Các đương sự có thể cung cấp chứng cứ tại buổi lấy lời khai, tại phiên hòa giải hoặc bất cứ lúc nào trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án sẽ được Tòa án thông báo bằng văn bản về việc thụ lý vụ án Những người được thông báo này sẽ phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, trong trường hợp cần thiết thì Tòa án có thể gia hạn nhưng không được quá 15 ngày (Điều 175 BLTTDS) Họ có quyền thể hiện quan điểm của mình về yêu cầu của người khởi kiện trước Tòa án là đồng ý hay bác bỏ yêu cầu này; có quyền cung cấp chứng cứ cho Tòa án, có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng

cứ kèm theo đơn khởi kiện (danh sách những tài liệu, chứng cứ này sẽ được nêu trong văn bản thông báo về việc thụ lý vụ án) Cùng với việc đưa ra ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ

án ra xét xử sơ thẩm, bị đơn còn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên

Trang 34

đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu độc lập Khi

đó, thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được tiến hành theo theo quy định về thủ tục khởi kiện, tức là khi đưa ra yêu cầu của mình, bị đơn và người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng phải đưa ra các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở và hợp pháp Quy định này một mặt đảm bảo cho các đương sự có được sự bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu, ý kiến của mình, mặt khác giúp cho việc giải quyết vụ việc của Tòa án được diễn ra đúng thời hạn quy định, không bị kéo dài

Tuy nhiên, quy định tại Điều 174 và 176 BLTTDS không có nghĩa bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền cung cấp chứng cứ trong thời hạn tối đa 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý Bởi mục 4 phần I Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của

HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTDS về "Chứng

cứ và chứng minh" có hướng dẫn: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu thấy chứng cứ mà đương sự giao nộp chưa đầy đủ cơ sở để giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ theo khoản 1 Điều 85

Bộ luật Tố tụng dân sự Khi yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, Tòa án cần nêu cụ thể chứng cứ cần giao nộp bổ sung”[16]

Theo đó đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong suốt quá trình tố tụng, kể từ thời điểm khởi kiện, yêu cầu vụ việc đến khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm Quy định như vậy có lợi thế

là bảo đảm cho bản án, quyết định được đúng đắn, sự thật khách quan của vụ

án dù muộn cũng sẽ được tìm ra Tuy nhiên mặt trái của quy định này là có thể sẽ kéo dài thời gian giải quyết vụ kiện Bởi lẽ, khi một chứng cứ được đưa

ra không thể sử dụng được ngay mà còn phải xem xét, đánh giá xem chứng cứ

đó có tác động như thế nào đến quá trình giải quyết vụ án Và để đảm bảo việc đánh giá chứng cứ một cách chính xác, đầy đủ và toàn diện đôi khi sẽ mất rất nhiều thời gian Khi đó, việc đương sự đưa ra những chứng cứ muộn

sẽ làm kéo dài thời gian chuẩn bị xét xử, làm lãng phí thời gian, tiền bạc của những người tham gia tố tụng khác cũng như của Nhà nước

Bên cạnh đó, khi quy định việc đương sự, các cá nhân, cơ quan, tổ chức

có quyền cung cấp, bổ sung chứng cứ sau khi thụ lý vụ việc nhưng BLTTDS lại không có quy định việc khi một bên đương sự xuất trình thêm chứng cứ mới sẽ phải thông báo cho các đương sự khác hoặc Tòa án sẽ thông báo cho

Trang 35

các đương sự khác Điều này phải chăng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa

vụ bình đẳng của các bên trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh, làm ảnh hưởng đến quyền tranh luận của đương sự Bởi lẽ, khi một bên đương sự

sử dụng một chứng cứ nào đó để xây dựng lập luận cho mình thì để công bằng, phía bên kia cũng phải có quyền tiếp cận chứng cứ đó Các đương sự phải có quyền được biết về những vấn đề mà người khác có yêu cầu đối với mình về quyền và nghĩa vụ dân sự, có quyền được biết đầy đủ và toàn diện các chứng cứ và lý lẽ chống lại họ Có như vậy việc tranh luận tại phiên tòa sau này mới có hiệu quả Tuy nhiên, khi một bên đương sự xuất trình chứng

cứ muộn mà phía bên kia lại không được biết, hoặc khi những chứng cứ đương sự kia đưa ra lại không được Tòa án chấp nhận, tức là họ đã mất đi cơ hội chuẩn bị đầy đủ lý lẽ, bằng chứng phản bác lại những chứng cứ chống lại mình Như vậy, đương sự không được thông báo về những chứng cứ mới xuất hiện hay những bất kỳ thay đổi nào về chứng cứ sẽ có nguy cơ bị thua kiện vì

bị động trước những chứng cứ mới của vụ việc mà họ đã không được biết để chuẩn bị Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với quyền và lợi ích chính đáng của các bên Có thể lấy ví dụ như sau:

Công ty TNHH X và Công ty cổ phần Y có tranh chấp với nhau về Hợp đồng mua bán hàng hóa, TAND quận Hoàn Kiếm, Hà Nội đã thụ lý vụ án Trong quá trình chuẩn bị xét xử, luật sư N là người bảo vệ quyền lợi của công

ty TNHH X đã nhiều lần đến Tòa án để xem xét, nghiên cứu hồ sơ vụ án để

có cơ sở bảo vệ cho thân chủ Vài ngày trước ngày xét xử, công ty cổ phần Y lại nộp thêm chứng cứ cho Tòa án Công ty TNHH X và luật sư N không được thông báo về việc này, lại chủ quan cho rằng đã gần ngày xét xử nên không nghĩ đến việc bên kia lại bổ sung chứng cứ như thế Điều này dẫn đến việc luật sư N thiếu thông tin về vụ án và quan điểm bảo vệ không thuyết phục được Hội đồng xét xử

Với mục đích đảm bảo cho việc thu thập chứng cứ được đầy đủ, Điều 7 BLTTDS có quy định trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ

quan, tổ chức có thẩm quyền: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án, Viện kiểm sát và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương

Trang 36

sự, Toà án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ” Theo quy định này, nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không

cung cấp được chứng cứ cho đương sự thì phải thông báo bằng văn bản có ghi

rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ để họ chứng minh với Tòa

án là họ đã thu thập chứng cứ nhưng không có kết quả và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ Tòa án, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu các cá nhân, cơ quan,

tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cung cấp chứng cứ cho mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu (Điều 94 BLTTDS) Nếu các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng việc cung cấp chứng cứ thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật (Điều 94, 385 BLTTDS) Pháp luật TTDS đưa quy định này trở thành một nguyên tắc cơ bản nhằm mục đích hỗ trợ nhiều hơn nữa cho các đương sự cũng như Tòa án

có được đầy đủ những chứng cứ quan trọng của vụ việc dân sự Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng đương sự khi yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu chứng cứ cho mình thì không nhận được sự phối hợp tích cực từ các cơ quan này diễn ra khá phổ biến Họ không tích cực trong việc đưa ra tài liệu, chứng

cứ nhưng cũng không thông báo bằng văn bản cho đương sự khiến cho các đương sự khi muốn nhờ đến sự hỗ trợ của Tòa án cũng không có căn cứ để đưa ra yêu cầu chính đáng của mình

2.1.3 Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự

PTSTDS là nơi Tòa án thực hiện việc xét xử qua việc nghe các bên đương sự trình bày, tranh luận; kiểm tra, xác minh các tài liệu, chứng cứ của

vụ án một cách toàn diện và khách quan; áp dụng đúng pháp luật quyết định giải quyết vụ án Nói cách khác, thực chất hoạt động xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là hoạt động của những người tiến hành tố tụng về đánh giá các tình tiết,

sự kiện và áp dụng pháp luật để ra phán quyết về vụ việc dân sự

Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP thì tại phiên tòa

sơ thẩm, đương sự vẫn có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh

để bảo vệ quyền lợi cho mình Theo Điều 49 PLTTGQCVADS, tại thủ tục bắt đầu phiên tòa chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự, kiểm sát viên, đại diện tổ chức

xã hội khởi kiện vì lợi ích chung xem ai có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc cung cấp thêm bằng chứng mới hay không để HĐXX xem xét và

Trang 37

quyết định Quy định này xuất phát từ việc PLTTGQCVADS quy định cho Tòa án có quyền chủ động thu thập chứng cứ khi cần thiết Còn hiện nay, do

đề cao nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự nên BLTTDS không có quy định về vấn đề này Do đó, có thể hiểu đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp thêm những chứng cứ mới nhưng họ phải chủ động đề xuất với HĐXX, chủ tọa phiên tòa không có trách nhiệm phải hỏi về vấn đề này trước khi bắt đầu thủ tục xét hỏi Tuy nhiên, trong mẫu biên bản phiên tòa sơ thẩm ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP lại

có ghi “Chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia tố tụng và Kiểm sát viên (nếu có) xem có ai cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa hay không”[82] Có thể thấy hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP là

không nhất quán với tinh thần của BLTTDS

Pháp luật TTDS quy định đương sự có quyền tham gia phiên tòa để cung cấp chứng cứ, tranh luận công khai mọi vấn đề, trong đó vấn đề quan trọng là bảo vệ yêu cầu của mình và phản bác yêu cầu của phía bên kia Mọi chứng cứ của vụ kiện đều phải đưa ra xem xét công khai, trực tiếp tại phiên tòa Mục đích chính của thủ tục hỏi tại phiên tòa là xem xét các chứng cứ trong vụ kiện, thông qua việc hỏi những người tham gia tố tụng, các đương sự

có quyền tranh luận, phân tích cho các lý lẽ của mình, có quyền đưa ra các chứng cứ bác bỏ lý lẽ của bên kia Ngoài các chứng cứ đã được xem xét và thu thập ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự vẫn có quyền đưa ra những chứng cứ mới, bổ sung những chứng cứ đã cung cấp Quy định này nhằm mục đích đảm bảo mọi sự thật khách quan của vụ án sẽ luôn được tìm ra nhưng lại rất dễ trở thành kẽ hở để đương sự (thường là các

bị đơn) lợi dụng để làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến HĐXX cũng như đương sự phía bên kia Trong nhiều trường hợp khi việc giải quyết vụ việc đã bước vào giai đoạn tranh luận, chuẩn bị tuyên án, đương sự mới xuất trình chứng cứ Điều này sẽ gây bất ngờ, làm cho đương sự phía bên kia không kịp chuẩn bị lý lẽ để tranh luận, quyền và lợi ích hợp pháp của họ

có thể bị ảnh hưởng Mặt khác, nếu việc xem xét đánh giá chứng cứ đó không thể thực hiện ngay tại phiên tòa mà cần phải có thời gian xác minh thêm mới

có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX có thể phải tạm ngừng phiên tòa Sau

khi xác minh HĐXX tiếp tục mở lại phiên tòa để xét xử vụ việc “Nếu tại phiên tòa, đương sự xuất trình tài liệu, chứng cứ mới mà có yêu cầu giám định bổ sung đối với tài liệu, chứng cứ đó hoặc giám định lại (kể cả việc tài

Trang 38

sản mới được phát hiện cần phải định giá) và xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại (định giá) là cần thiết cho việc giải quyết vụ án, thì HĐXX quyết định giám định bổ sung, giám định lại (định giá) và căn cứ vào khoản 4 Điều 230 của BLTTDS ra quyết định hoãn phiên tòa”[16]

Như vậy, Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP xác định trường hợp cần giám định bổ sung đối với những chứng cứ mới đương sự đưa ra hoặc tài sản mới phát hiện cần định giá thì HĐXX ra quyết định hoãn phiên tòa Nếu trước khi hết thời hạn hoãn phiên tòa chưa có kết quả giám định thì Thẩm phán căn

cứ vào khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Khi đương sự cung cấp chứng cứ tại phiên tòa, HĐXX cần chú ý phân biệt xem đó có phải là chứng cứ mới không hay là yêu cầu mới Có thể lấy một ví dụ như sau:

A khởi kiện đòi B 8 triệu đồng tiền bồi thường sức khỏe do B đã gây ra tai nạn cho A Tại phiên tòa sơ thẩm, A đưa ra thêm một hóa đơn thuốc và yêu cầu B bồi thường thêm 3 triệu đồng Hóa đơn mà A đưa ra này cũng là để yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe nên có thể coi là một chứng cứ mới

bổ sung Tuy nhiên cũng tình huống này nhưng tại phiên tòa A lại đưa ra yêu cầu đòi bồi thường thêm vì chiếc xe máy của A bị hỏng thì đây lại là yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản Và đây được coi là một yêu cầu mới HĐXX

sẽ chấp nhận việc bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc bổ sung của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu (Điều 218 BLTTDS)

Như vậy, pháp luật quy định cho đương sự có thể xuất trình chứng cứ ở mọi giai đoạn tố tụng, ngay cả tại phiên tòa một mặt đảm bảo cho mọi sự thật của vụ án đều được công khai nhưng mặt khác cũng gây không ít khó khăn cho đương sự phía bên kia cũng như HĐXX Khi một bên đương sự đưa ra một chứng cứ mới ngay tại phiên tòa sẽ khiến cho các đương sự phía bên kia không kịp chuẩn bị các bằng chứng để phản bác lại, đồng thời họ cũng không

có quyền xin sao chụp lại những tài liệu, chứng cứ mới đó khiến cho việc tranh tụng tại phiên tòa để bảo vệ quyền lợi của họ cũng bị ảnh hưởng Đối với các Thẩm phán, việc đưa ra chứng cứ mới tại phiên tòa cũng làm cho họ ít nhiều bị động, rơi vào tình thế phải xử lý ngay lập tức mà không có thời gian

Trang 39

để cân nhắc, xem xét đầy đủ và do vậy, họ phải đối mặt với rủi ro bị hủy án ở cấp cao hơn

2.1.4 Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong giai đoạn xét xử phúc thẩm

Phúc thẩm dân sự là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Việc phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có thể khắc phục những sai lầm có thể có trong những bản

án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án, bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như các lợi ích công cộng được thực hiện trong thực tế góp phần bảo vệ pháp chế XHCN

Để bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật được xét xử theo thủ tục phúc thẩm thì phải có kháng cáo của đương sự hoặc người đại diện của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức đã khởi kiện vụ án dân sự hoặc có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp Trong quá trình Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị thì các đương sự vẫn có quyền xuất trình thêm chứng cứ mới, bổ sung thêm những chứng cứ đã có Người kháng cáo có thể giao nộp chứng cứ bổ sung kèm theo đơn kháng cáo đến Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm, có thể giao nộp chứng cứ sau khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý hồ sơ hoặc có thể xuất trình chứng cứ ngay tại phiên tòa

phúc thẩm Khoản 3 Điều 271 BLTTDS có quy định: “Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ”

HĐXX sẽ xem xét cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới được bổ sung

Cũng như việc quy định đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong mọi giai đoạn xét xử sơ thẩm như đã phân tích ở trên, quy định này có mặt tích cực là sẽ làm cho việc giải quyết vụ án được khách quan do mọi sự thật của vụ án, dù sớm hay muộn, cũng sẽ phải được tìm cho ra và được Tòa án đánh giá một cách đúng đắn Song khi cho phép các đương sự xuất trình chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm cũng sẽ dẫn đến mặt hạn chế là có thể sẽ có đương sự cố tình “giữ” chứng cứ quan trọng, không xuất trình tại cấp sơ thẩm, mà chỉ trình ra tại cấp phúc thẩm nhằm dây dưa kéo dài vụ án Bởi lẽ, khi có những chứng cứ mới, quan trọng ở cấp phúc thẩm sẽ đặt bản án của cấp sơ thẩm trong tình trạng có thể bị hủy và vụ án sẽ lại quay lại cấp sơ

Trang 40

thẩm, đạt được mục đích kéo dài vụ kiện của đương sự đã không chịu xuất trình chứng cứ[9] Chính vì vậy, pháp luật nên có quy định trường hợp nếu đương sự có khả năng cung cấp được chứng cứ vào giai đoạn vụ án ở cấp sơ thẩm hay đương sự ở vào trường hợp buộc phải biết về các chứng cứ này và

có thể tự mình giao nộp cho Tòa án hay đề nghị Tòa án thu thập khi tự mình không thể thu thập được mà họ không thực hiện thì họ sẽ bị mất quyền xuất trình chứng cứ đó ở cấp phúc thẩm Điều này sẽ giúp cho các vụ kiện được giải quyết khách quan, sự thật được làm rõ đồng thời đem lại sự công bằng cho các đương sự, đảm bảo việc không đương sự nào có thể lợi dụng quy định của pháp luật để làm vụ án bị kéo dài hay gây khó khăn cho việc giải quyết vụ

án

Khi vụ việc dân sự được xem xét tại cấp phúc thẩm, bản án sơ thẩm có thể bị hủy toàn bộ, hủy một phần để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án Điều 277 BLTTDS có quy định:

"Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án

sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án sơ thẩm giải quyết lại vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1 Việc chứng minh và thu thập chứng cứ không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được;

2 Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của

Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.”

Quy định này phải chăng đã có sự mâu thuẫn đối với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự Điều 6 BLTTDS có nội dung: cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là

có căn cứ và hợp pháp là quyền và nghĩa vụ của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện; Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng

cứ trong những trường hợp pháp luật quy định Theo đó, việc xác định, tìm kiếm, thu thập chứng cứ và chứng minh trước hết thuộc về trách nhiệm của các đương sự, Tòa án chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong những trường hợp nhất định, khi đương sự không thể tự mình thực hiện được và cần đến sự giúp đỡ của Tòa án Tuy nhiên, Điều 277 BLTTDS lại quy định việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ

mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được là một căn cứ để hủy

Ngày đăng: 16/02/2021, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w