1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố hà nội

113 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 4,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

25 Chương 2.QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ .... Những

Trang 1

- -

DƯƠNG PHI HÙNG

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

- -

DƯƠNG PHI HÙNG

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 3

tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Dương Phi Hùng

Trang 4

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra

ĐTBS : Điều tra bổ sung KSV: Kiểm sát viên TTHS : Tố tụng hình sự THQCT: Thực hành quyền công tố VAHS: Vụ án hình sự

VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

Số hiệu

Bảng 2.1 Số liệu án hình sự VKSND thành phố Hà Nội thụ lý, thực

Bảng 2.2 Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm

Bảng 2.3

Số liệu kháng nghị, kiến nghị, thông báo rút kinh nghiệm Tòa

án trong công tác xét xử sơ thẩm của VKSND thành phố Hà

Nội

64

Bảng 2.4 Kết quả xét xử phúc thẩm án hình sự VKSND thành phố Hà

Biểu 2.1 Số vụ án Tòa án trả hồ sơ Viện kiểm sát điều tra bổ sung 62

Biểu 2.2 Số vụ án Tòa án trả hồ sơ Viện kiểm sát điều tra bổ sung

Biểu 2.3 Số vụ án kháng nghị phúc thẩm của VKSND thành phố Hà

Biểu 2.4 Cơ cấu kết quả xét xử phúc thẩm án hình sự của

Trang 6

CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 9

1.1 Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm 9

1.2 Đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 15

1.3 Vai trò của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 17

1.4 Nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 18

1.4.1 Quyết định truy tố 18

1.4.2 Xét hỏi 19

1.4.3 Luận tội 21

1.4.3 Tranh luận 23

1.4.4 Kháng nghị phúc thẩm 25

Chương 2.QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 27

2.1 Những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 27

2.1.1 Rút quyết định truy tố 28

2.1.2 Giải quyết việc Tòa án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung 30

Trang 7

2.2.1 Đọc bản cáo trạng 32

2.2.2 Tham gia xét hỏi 32

2.2.3 Xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ 34

2.2.4 Luận tội 34

2.2.5 Tranh luận tại phiên tòa 35

2.3 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn sau khi kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 37

2.3.1 Kháng nghị phúc thẩm 37

2.4 Đánh giá quy định của pháp luật tố tụng hình sự về về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 43

2.4.1 Những bất cập trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã được khắc phục trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 43

2.4.2 Những vấn đề chưa được khắc phục 50

Chương 3.THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 55

3.1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội 55

3.1.1 Vài nét về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội 55

Trang 8

3.1.3 Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc 71

3.2 Một số kiến nghị bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội 76

3.2.1 Tăng cường triển khai các biện pháp thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội 76 3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 78 3.2.3 Các giải pháp khác 83

KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan giữ vai trò quan trọng trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng, trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân, bảo

vệ an ninh trật tự xã hội Để thực hiện vai trò quan trọng đó, pháp luật đã quy định cho Viện kiểm sát nhân dân các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể

Hiện nay, lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau, chưa có tính thống nhất, thiếu đồng bộ Thực tiễn tổng kết thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Đến nay, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được Quốc hội thông qua và đang chờ hiệu lực thi hành, tuy nhiên qua nghiên cứu cho thấy bộ luật này vẫn còn nhiều quy định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát có

sự bất cập, cần được làm rõ để có cách hiểu thống nhất Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và cải cách Viện kiểm sát nhân dân của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, tiến tới xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Chủ trương này cũng đã được thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết của Đảng

Theo Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về một

số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định:

“Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được tiến hành ngay từ khi khởi tố vụ án và trong

Trang 10

suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tổ chức sắp xếp lại các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân các cấp để thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” 1

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định:

“Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra.” 2

Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh kể từ khi Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và đang trong tiến trình đàm phán ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), việc giao lưu, ảnh hưởng giữa các nền kinh tế thế giới tất yếu dẫn đến sự ảnh hưởng đan xen lẫn nhau

về văn hóa, chính trị, xã hội trong đó có pháp luật Quá trình hội nhập quốc tế

ít nhiều có sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới đến hệ thống pháp luật nước ta Bởi vậy hệ thống pháp luật nước ta nói chung

và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng phải tự hoàn thiện dần để phù hợp với

hệ thống pháp luật chung của thế giới

Để đáp ứng yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp, yêu cầu hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và những hạn chế,

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Hà Nội

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Hà Nội

Trang 11

thiếu sót trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về nhiệm

vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là cần thiết Trên cơ sở thực tiễn áp dụng pháp luật để tìm ra những hạn chế, thiếu sót từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp khắc phục để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Qua đó góp phần giúp cho Viện kiểm sát nhân dân ngày một nâng cao vị thế của ngành trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng và trong hoạt động đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích của tổ chức, công

dân Vì những lý do nêu trên, em chọn đề tài: "Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện

kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội " làm luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố như sau:

Luận văn thạc sĩ “Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự taị thành phố Hải Phòng – Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012)

thực hiện tại Đại học Luật Hà Nội Luận văn làm sáng tỏ một số lý luận về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Tổng kết, phân tích, đánh giá, nhận xét thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng từ năm 2004 đến năm 2011; đề xuất các phương hướng, xây dựng các giải pháp để khắc phục những hạn chế của Viện kiểm sát trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ để nâng cao chất lượng của hoạt động này trong thời gian tới đồng thời cũng nhằm nâng cao vị thế của ngành kiểm sát trong hoạt động bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích công dân

Trang 12

Luận văn thạc sĩ “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai

đoạn điều tra vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Văn Thực (2014) thực hiện

tại Đại học luật Hà Nội Luận văn làm rõ một số vấn đề chung như: khái niệm

về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát và vấn đề thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật; nghiên cứu một cách khái quát những quy định của pháp luật tố tụng hình sự và những văn bản pháp luật có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; phân tích những kết quả đạt được cũng như những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Kiểm sát viên trong giai đoạn khởi tố vụ

án hình sự

Luận văn thạc sĩ “Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân (2010) thực hiện tại Đại

học luật Hà Nội Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận như: khái niệm

về quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm; nghiên cứu một cách khái quát những quy định của pháp luật tố tụng hình sự

và những văn bản pháp luật có liên quan về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; phân tích những kết quả đạt được cũng như những vướng mắc, bất cập còn tồn tại trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự

Luận văn thạc sĩ “Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thưc tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thu Dung (2016) tại Đại học quốc gia Hà

Nội Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận như : khái niệm thực hành quyền công tố, vấn đề thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp

Trang 13

luật của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; nghiên cứu khái quát những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành

về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự; tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự tại thành phố Hà Nội từ năm 2011 đến năm 2015, phân tích những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự tại thành phố Hà Nội

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nâng cao chất lượng thực hành

quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự” của Viện kiểm

sát nhân dân Tối cao (2011) Đề tài đã khái quát một số quy định của pháp

luật, đánh giá kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các

vụ án hình sự, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân dẫn đến hạn chế, vướng mắc Đề tài cũng đã đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Cùng với các công trình nêu trên còn có một số bài đăng trên tạp chí

chuyên môn như: “Về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử” của tác giả Lý Văn Chính, tạp chí Tòa án nhân dân số 12/2006; “Cơ quan thực

hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” của tác giả

Đỗ Văn Đương, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 7/2006; “Bàn về tranh tụng

tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Đức Mai, tạp chí Tòa

án nhân dân, số 17/2007; “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng luận

tội, tranh luận của kiểm sát viên tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp” , Nguyễn Xuân Khánh, Tạp chí Kiểm sát, số 05/2012…

Trên cơ sở kết quả khảo sát trên cho thấy, việc nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 14

chưa mang tính hệ thống, chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể Những nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu chung, khái quát về chức năng, nhiệm vụ, thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và phân tích những quy định của pháp luật

tố tụng hình sự hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nêu ra những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn bất cập mà Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2015 chưa giải quyết Trên cơ sở thực tiễn của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016, luận văn tiến hành phân tích, đánh giá công tác thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

để tìm ra các tồn tại, hạn chế, từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trên cơ sở đối chiếu với thực tiễn thực hiện của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện, đánh giá những thành tựu đã đạt được, chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện và hoàn

Trang 15

thiện pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên Cơ sở lý luận Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới liên quan đến Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố nói chung và trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp thống kê để giải quyết vấn đề

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

6.1.Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận như : khái quát khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự , xây dựng khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ; đặc điểm nhiệm

vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; vai trò của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; nội dung hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự

6.2.Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở những phân tích, đánh giá quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và từ thực tiễn thực hiện của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, luận văn đã tổng hợp, đề xuất cho cơ quan lập pháp các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và

Trang 16

cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay Ngoài ra, luận văn đã đóng góp cho ngành Kiểm sát nhân dân nói chung, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng những hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đưa ra những giải pháp khắc phục, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của ngành Kiểm sát nhân dân

Luận văn là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, học viên và sinh viên của các

cơ sở đào tạo pháp luật Bên cạnh đó, luận văn cũng bổ sung kiến thức lý luận

và thực tiễn không chỉ đối với các cán bộ Viện kiểm sát làm công tác xét xử thực tiễn mà còn là tài liệu tham khảo đối với các cán bộ công tác tại các cơ quan tư pháp, các cán bộ làm công tác pháp luật tại các sở ban ngành, góp phần giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm được thống nhất, khách quan, toàn diện, có căn cứ và đúng pháp luật

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện

kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về nhiệm

vụ , quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 3: Thực tiễn thực hiện và giải pháp bảo đảm thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở thành phố Hà Nội

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG

GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

- Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố

Trên thế giới, khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố (THQCT) đã xuất hiện từ rất sớm, gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của nhà nước và pháp luật Ở nước ta dưới góc độ lập pháp, Hiến pháp năm 1980

là văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Thực hành quyền công tố” khi

đề cập đến chức năng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)3

Thuật ngữ này được nhắc lại ở Luật tổ chức VKSND năm 19814 Như vậy, hoạt động của Viện kiểm sát (VKS) bên cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “quyền công tố” và “ thực hành quyền công tố” Từ đó đến nay đã có nhiều tài liệu giảng dạy, nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học đề cập đến khái niệm này

Dưới góc độ nghiên cứu ngôn ngữ học, “Công tố” là một từ ghép Hán – Việt được hình thành bởi hai từ đơn “Công” và “Tố” Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tố” có nghĩa là “nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác”, “Công” có nghĩa là “thuộc về nhà nước chung cho mọi người, khác với tư”, “Công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án”5

Hiện nay ở nước ta vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố, nổi bật lên là các nhóm quan điểm chính sau:

3 Điều 137 Hiến pháp năm 1980

4 Điều 1 và Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 1981

5

Viện ngôn ngữ học (1994),Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 200,204,973

Trang 18

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, Quyền công tố là quyền của Nhà

nước giao cho Viện kiểm sát đưa vụ án ra Tòa xét xử để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích chung và bảo vệ lợi ích của công dân được thực hiện trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và trong các lĩnh vực tố tụng khác Theo tác giả

quan điểm trên đã mở rộng nội dung và phạm vi quyền công tố khi cho rằng quyền công tố có cả trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS), dân sự, kinh tế; quan điểm đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng khác của VKS trong quá trình kiểm sát việc tuần theo pháp luật của các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động )6

Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, Quyền công tố là quyền của Nhà

nước giao cho Viện kiểm sát truy tố người phạm tội ra Tòa án và thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa Quan điểm trên cho rằng chỉ có duy nhất VKS có

quyền công tố và chỉ thực hiện quyền này tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.7 Theo tác giả quan điểm trên đã thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố

và không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền này Bởi vì, hoạt động truy tố và buộc tội của VKS tại phiên tòa chỉ là một trong các nội dung của thực hành quyền công tố

Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng, Quyền công tố là quyền Nhà nước

giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình

sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội 8 Theo quan điểm trên, quyền công tố được các cơ quan tiến hành tố tụng cụ thể là Cơ quan điều tra (CQĐT), VKS và Tòa án thực hiện trong các giai đoạn tố tụng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Nếu hiểu quyền công tố theo quan điểm nêu trên dễ dẫn đến sự nhầm lẫn về chức năng, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, có thể hiểu rằng cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án đều là chủ thể của thực hành quyền công tố

8 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), Tờ trình số 07/VKH ngày 11/3/2002 về dự án Luật tổ chức Viện kiểm sát

nhân dân (sửa đổi), Hà Nội, tr 10

Trang 19

Nhóm quan điểm thứ tư cho rằng, Quyền công tố là quyền nhân danh

Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước và nhà nước giao cho một cơ quan chuyên trách- Cơ quan công tố thực hiện (ở nước ta cơ quan này là Viện kiểm sát)

Để thực hiện quyền này, Cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội trên cơ sở

đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa 9 Theo quan điểm này, Quyền công tố là quyền buộc tội (quyền truy cứu trách nhiệm hình sự) nhân danh nhà nước đối với người phạm tội

Có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý Tác giả đồng tình với nhóm quan điểm thứ tư vì thấy rằng quan điểm này đã thể hiện được hầu hết nội dung của quyền công tố đó là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ra trước Tòa án Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất ở nước ta được nhà nước trao quyền nhân danh nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội ra trước Tòa án Điều

này được quy định tại Điều 107, Hiến pháp 2013 “ Viện kiểm sát nhân dân

thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” và được cụ thể hóa

tại Điều 2, Luật tổ chức VKSND năm 2014, Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003

Từ những phân tích trên có thể đưa ra “khái niệm quyền công tố” như

sau: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân

truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội

Bản chất của quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ra trước Tòa án và chủ thể duy nhất được ở nước ta được nhà nước trao quyền là Viện kiểm sát nhân dân

9 Lê Hữu Thể (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giải đoạn điều tra,

NXB Tư pháp Hà Nội, Hà Nội, tr40

Trang 20

Phạm vi thực hiện quyền này được bắt đầu từ giai đoạn tiền khởi tố tức là giai đoạn xác minh tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật Để đảm bảo cho việc THQCT của VKSND, nhà nước ban hành các văn bản pháp luật trong đó quy định về các quyền năng pháp lý thuộc về quyền công tố giao cho VKS thực hiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Có quan điểm cho rằng

“Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý

thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử ”10 Khái niệm trên còn mang tính khái quát, chưa thể hiện hết được phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát

Tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng: “Thực hành quyền công tố

là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” 11

- Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không có một điều luật nào quy định

cụ thể về các giai đoạn tố tụng nhưng căn cứ vào bố cục của BLTTHS đã thể hiện sự phân chia các giai đoạn tố tụng một cách rõ nét việc giải quyết một vụ

án hình sự (VAHS) trải qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Trong các giai đoạn tố tụng giải quyết VAHS, có thể nói giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò rất quan trọng Tại phiên tòa, trên cơ sở những chứng cứ đã được kiểm tra công khai, Tòa án ra bản án xác định bị cáo có tội hay không có tội Nếu bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội thì đó là tội gì, được quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình

10 Lê Hữu Thể (1999), Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt

Nam từ 1945 đến nay, Đề tài khoa học cấp bộ, VKSNDTC, Hà Nội, tr 19-21,tr 27

11

Xem Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 2014

Trang 21

sự (BLHS) Ngoài việc ra bản án, Tòa án còn có quyền ra các quyết định cần thiết khác nhằm giải quyết vụ án hình sự Theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn pháp luật quy định thì có hiệu lực pháp luật, nhưng nếu bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Như vậy có thể nói xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu do Tòa án có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật, trừ những trường hợp khác theo quy định của pháp luật12

Theo Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của

trường Đại học Luật Hà Nội thì, Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tố

tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ

án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật” 13

Dưới góc độ ngôn ngữ học, “nhiệm vụ” là “công việc phải làm, phải gánh vác” Theo cách giải nghĩa này thì “nhiệm vụ” nói chung là công việc mang tính bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện Nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách của chủ thể đó trong mối quan hệ xã hội tham gia và được pháp luật quy định Như vậy, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước nói chung

và cơ quan tư pháp nói riêng được hiểu là những hoạt động cụ thể của từng cơ quan đó, trong một thời gian nhất định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành để cùng thực hiện nhiệm vụ chung của cả bộ máy nhà nước là bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Trang 22

“Quyền hạn” được hiểu là “quyền theo cương vị, chức vụ cho phộp”14

“Quyền hạn” của một cơ quan, tổ chức hoặc cỏ nhõn được xỏc định theo phạm vi, nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trớ cụng tỏc và trong phạm vi khụng gian, thời gian nhất định theo quy định của phỏp luật 15

Theo quy định tại điều 107 Hiến phỏp năm 2013, điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, chức năng của VKSND là thực hành quyền cụng tố, kiểm sỏt hoạt động tư phỏp của nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam Trong giai đoạn xột xử sơ thẩm vụ ỏn hỡnh sự, VKS thực hiện cả hai chức năng THQCT và kiểm sỏt việc tuõn theo phỏp luật nhằm đảm bảo việc truy cứu trỏch nhiệm hỡnh sự đối với bị can trước Tũa ỏn là cú căn cứ, đỳng phỏp luật

Để đảm bảo việc thực hiện chức năng THQCT của VKS , Bộ luật tố tụng hình sự

và các văn bản pháp luật TTHS quy định cụ thể những nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố Xuất phỏt từ chức năng của Viện kiểm sỏt trong giai đoạn xột xử sơ thẩm, tỏc giả đưa ra khỏi niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sỏt khi thực hành quyền cụng tố trong giai đoạn xột xử sơ thẩm

vụ ỏn hỡnh sự như sau:

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sỏt khi thực hành quyền cụng tố trong giai đoạn xột xử sơ thẩm vụ ỏn hỡnh sự là hệ thống những hoạt động Viện kiểm sỏt phải tiến hành và những quyền năng phỏp lý được phỏp luật quy định nhằm đảm bảo cho việc truy cứu trỏch nhiệm hỡnh sự và buộc tội đối với người phạm tội trước Tũa ỏn là cú căn cứ, đỳng phỏp luật

Nhiệm vụ và quyền hạn tuy là hai khỏi niệm độc lập song cú thể thấy giữa hai khỏi niệm này vẫn cú mối quan hệ chặt chẽ, khụng tỏch rời Bản thõn trong nhiệm vụ đó chứa đựng quyền hạn và ngược lại Khi phỏp luật trao cho VKS một nhiệm vụ nào đú để thực hiện thỡ cũng trao cho cơ quan này những quyền hạn nhất định để đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ đú

Trang 23

Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của VKS khi THQCT trong giai đoạn xột

xử sơ thẩm VAHS được cụ thể thụng qua cỏc hoạt động tố tụng sau: Rỳt quyết định truy tố trước khi mở phiờn tũa; xử lý những trường hợp Tũa ỏn trả

hồ sơ để ĐTBS; Đọc bản cỏo trạng tại phiờn tũa; tham gia xột hỏi bị cỏo và những người liờn quan; Xem xột vật chứng, xem xột tại chỗ; Luận tội, tranh luận, rỳt một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khỏc bằng hoặc nhẹ hơn; phỏt biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ ỏn tại phiờn tũa; Khỏng nghị bản ỏn, quyết định của Tũa ỏn

1.2 Đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sỏt khi thực hành quyền cụng tố trong giai đoạn xột xử sơ thẩm vụ ỏn hỡnh sự

Trong giai đoạn xột xử sơ thẩm vụ ỏn hỡnh sự, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sỏt khi thực hành quyền cụng tố cú những đặc điểm như sau :

Thứ nhất, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sỏt khi thực hành quyền cụng tố trong giai đoạn xột xử sơ thẩm vụ ỏn hỡnh sự chỉ được quy định tại phỏp luật tố tụng hỡnh sự

Theo quy định tại điều 107, Hiến pháp 2013 ‘‘Viện kiểm sỏt nhõn dõn

thực hành quyền cụng tố, kiểm sỏt hoạt động tư phỏp’’ Nh- vậy, VKS là cơ

quan duy nhất có chức năng thực hành quyền công tố Để đảm bảo việc thực hiện chức năng THQCT của Viện kiểm sát , BLTTHS và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố Với nhiệm vụ, quyền hạn pháp luật quy định, VKS thực hiện quyền lực nhà n-ớc, trực tiếp thực hành quyền công tố góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà n-ớc; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm mọi hành vi xâm phạm tới lợi ích của nhà n-ớc, của tập thể và lợi ích hợp pháp của công dân phải đ-ợc phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật

Trang 24

Thứ hai, Kiểm sỏt viờn là người đại diện cho Viện kiểm sỏt thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền cụng tố trong giai đoạn xột xử sơ thẩm vụ ỏn hỡnh sự

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Kiểm sát viên (KSV) là ng-ời đại diện cho VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đ-ợc pháp luật TTHS quy định Đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án Kiểm sát viên là người đ-ợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t- pháp16 Quỏ trỡnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, KSV phải thực hiện đầy

đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS và quy chế của ngành

Thứ ba, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sỏt khi thực hành quyền cụng tố trong giai đoạn xột xử sơ thẩm vụ ỏn hỡnh sự được thực hiện thụng qua quyết định tố tụng hoặc hành vi tố tụng

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và sau khi kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thông qua các quyết

định tố tụng nh- : quyết định truy tố (bản cáo trạng), quyết định rút quyết định truy tố, quyết định kháng nghị phúc thẩm Tất cả các quyết định tố tụng trên

đều thể hiện d-ới hình thức văn bản theo quy định pháp luật tố tụng hình sự

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, KSV đại diện cho VKS thực hành quyền công tố thông qua các hành vi tố tụng nh- công bố các quyết định ,yêu cầu, tham gia xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa đ-ợc thể hiện d-ới dạng lời nói Là ng-ời đại diện cho VKS thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nên lời nói của KSV tại phiên tòa chính

là quan điểm giải quyết của VKS và có hiệu lực thi hành ngay nh- quyết định của KSV thực hành quyền công tố tại phiên toà về việc luận tội, truy tố bị cáo ở

điểm, khoản, điều nào của BLHS và đề nghị mức hình phạt, khung hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng hoặc quyết định rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát tr-ớc đó

16

Xem Điều 75 Luật tổ chức VKSND năm 2014

Trang 25

1.3 Vai trò của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Viện kiểm sát nhân dân là Cơ quan duy nhất được Hiến pháp và pháp luật TTHS quy định có chức năng thực hành quyền công tố Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS sử dụng những quyền năng pháp lý mà Nhà nước giao cho để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và thực hiện việc buộc tội trước Tòa án, là cơ sở để Tòa án đưa ra bản án, quyết định khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và bảo vệ pháp chế

xã hội chủ nghĩa Vì vậy, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự, Viện kiểm sát có những vai trò sau:

- Bảo đảm cho việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm,làm oan người vô tội Việc truy tố của VKS phải dựa trên cơ sở kết quả điều tra của CQĐT trong suốt quá trình điều tra và kết quả xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa của Hội đồng xét xử Từ đó, VKS đưa ra quyết định buộc tội chính thức và cuối cùng đối với người phạm tội trước Tòa án

- Bảo đảm cho việc tranh luận được bình đẳng, dân chủ, công khai Trách nhiệm của VKS là phải đối đáp lại các ý kiến của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết VAHS công khai tại tòa Khi tranh luận các bên có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau Chỉ tranh luận những vấn

đề liên quan đến vụ án Những nội dung đưa ra tranh luận đều phải được đối đáp lại

- Bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định của Tòa án trước khi được đưa ra thi hành Nếu phát hiện bản án, quyết định của Tòa án có sai sót, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, VKS ra quyết định kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm

Trang 26

1.4 Nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là những hoạt động VKS sử dụng quyền năng pháp lý được pháp luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội đối với người phạm tội trước Tòa án, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật, không để bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội Đó là các hoạt động: trình bày bản cáo trạng; tham gia xét hỏi; trình bày lời luận tội; tham gia tranh luận; kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp VKS phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội

1.4.1 Quyết định truy tố

Quyết định truy tố của VKS là văn bản áp dụng pháp luật (bản cáo trạng), trong đó VKS quyết định truy tố một (hoặc nhiều) bị can, về một (hoặc nhiều) hành vi phạm tội mà có căn cứ cho rằng bị can (hoặc các bị can) đó đã thực hiện ra trước Tòa án để xét xử 17 Bản cáo trạng là căn cứ đầu tiên để xác định phạm vi và cơ sở cho Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, là văn bản pháp lý thể hiện kết quả của quá trình điều tra bao gồm toàn bộ các chứng

cứ buộc tội đối với người phạm tội, quan điểm đánh giá chứng cứ, quan điểm xác định tội danh và quan điểm giải quyết vụ án của VKS Cáo trạng có những đặc trưng như sau:

- Mang tính quyền lực nhà nước: Cáo trạng là văn bản thể hiện quyền công tố của VKS, chỉ có duy nhất VKS mới có quyền ban hành Cáo trạng thể hiện sự buộc tội của VKS đối với người phạm tội về tội danh theo điều luật cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự Trên cơ sở cáo trạng, Tòa án xác định giới hạn xét xử và tiến hành xét xử theo tội danh và những nội dung mà cáo trạng đã truy tố đối với người phạm tội

- Mang tính có căn cứ và đúng pháp luật: để có thể ban hành được bản cáo trạng, VKS phải dựa trên kết quả của quá trình điều tra Theo đó, Cơ quan

17

Trường Đại học Luật hà Nội (2015), Giáo trình Luật TTHS, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 341

Trang 27

điều tra đã tiến hành thu thập đầy đủ các chứng cứ buộc tội đối với người phạm tội theo những trình tự thủ tục do pháp luật quy định Trong phạm vi, thẩm quyền của mình VKS có thể tiến hành những biện pháp thu thập chứng

cứ để làm rõ hơn và củng cố thêm các tài liệu chứng cứ do CQĐT đã thu thập

để làm căn cứ cho việc truy tố của mình đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật

- Việc truy tố phải đúng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đáp ứng được yêu cầu và các đòi hỏi của nhân dân: các đường lối chính sách của Đảng đã được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật

- Ngôn ngữ sử dụng trong cáo trạng phải là ngôn ngữ phổ thông, ngôn

từ pháp lý có chọn lọc: lập luận trong cáo trạng phải sắc bén, chặt chẽ, có tính thuyết phục cao, hình thức của cáo trạng phải được ban hành theo mẫu thống nhất do VKSND Tối cao ban hành, không được tùy tiện sửa chữa, thay đổi.18

cứ thực tế của việc truy tố, phát hiện ra những hạn chế, thiếu sót của quan điểm truy tố nhằm khắc phục kịp thời, đồng thời nhằm bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát Để thực hiện tốt việc xét hỏi công khai tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, KSV cần phải:

- Lựa chọn cách thức xét hỏi cho phù hợp với từng đối tượng, từng giai đoạn, từng thời điểm để việc xét hỏi đạt hiệu quả

18 Nguyễn Minh Đức (2016), Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố và vấn đề nâng

cao chất lượng bản cáo trạng ,Tạp chí kiểm sát (16), Hà Nội, tr 49-54

Trang 28

- Xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể, phù hợp với nội dung vụ án trước khi tiến hành xét hỏi trực tiếp tại phiên tòa

- Sử dụng chiến thuật hỏi hợp lý và phù hợp với từng đối tượng (ví dụ:

bị cáo nhận tội thì sử dụng chiến thuật hỏi thẳng, bị cáo chối tội sử dụng chiến thuật hỏi dồn, ngắn gọn, trả lời chỉ có hai cách lựa chọn có hoặc không…), giọng xét hỏi cũng phải thay đổi cho phù hợp với mỗi đối tượng và phù hợp với diễn biến phiên tòa (ví dụ: bị cáo nhận tội thì hỏi giọng nghiêm nghị, bình thường; bị cáo không nhận tội thì hỏi giọng nghiêm nghị đanh thép…), thái

độ, cử chỉ, nét mặt của người tiến hành xét hỏi phải thể hiện sự uy nghiêm, đĩnh đạc Tránh nói ngọng, lắp bắp, hỏi không rõ nghĩa, hỏi quá dài, hỏi không có mục đích, hỏi trùng lặp những nội dung đã được làm rõ…

Việc xét hỏi vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của KSV, cùng với Hội đồng xét xử, KSV giữ quyền công tố tại phiên tòa tham gia xét hỏi bị cáo và người tham gia tố tụng khác để làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án, làm rõ hành vi phạm tội, làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm, động cơ, mục đích, nguyên nhân thúc đẩy bị cáo phạm tội Đồng thời tiến hành kiểm tra toàn bộ các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do CQĐT thu thập tại phiên tòa Trên cơ

sở đó, cùng Hội đồng xét xử nghiên cứu, xem xét và đánh giá các chứng cứ

đó để đưa ra quan điểm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đúng quy định pháp luật

Để đạt được mục đích trên, KSV xây dựng "đề cương xét hỏi" với những nội dung cụ thể dựa trên cơ sở nội dung vụ án, vì vậy KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm chắc các tình tiết của vụ án cũng như diễn biến quá trình thu thập chứng cứ, diễn biến thay đổi lời khai của các đối tượng từ đó xác định từng vấn đề cần hỏi, cần làm rõ đối với từng đối tượng trong vụ án đồng thời dự kiến những tình huống sẽ phát sinh tại phiên tòa, hoạch định những phương án xử lý những tình huống đó

Nội dung của kế hoạch xét hỏi cần làm rõ: hành vi phạm tội của bị cáo,

Trang 29

năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo, lỗi của bị cáo, vị trí vai trò của bị cáo

và các đồng phạm khác, các đặc điểm nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả tội phạm, các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và những vấn đề liên quan khác trong vụ án…

Tùy theo tư cách của những người tham gia tố tụng mà KSV lựa chọn câu hỏi cho phù hợp với các đối tượng này Tuy nhiên cần chú ý đặc điểm tâm lý của từng đối tượng khi hỏi để đạt được mục đích hỏi, ví dụ: bị cáo thường hay chối tội, khai báo né tránh; người làm chứng sợ bị trả thù nên hay thay đổi lời khai tại tòa, người bị hại hay khai tăng hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để đồi bồi thường cao… Đối với những người tham gia tố tụng là đại diện cho các cơ quan chuyên môn thì khi hỏi tại phiên tòa chỉ cần hỏi làm

rõ những vấn đề chưa rõ hoặc liên quan trực tiếp đến các kết luận chuyên môn

có trong hồ sơ vụ án: ví dụ đối với giám định viên chỉ hỏi những vấn đề liên quan đến kết luận giám định trong hồ sơ vụ án chưa được rõ…19

1.4.3 Luận tội

Hiện nay, chưa có khái niệm chính thức định nghĩa thế nào là “Luận tội” Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Luận tội” được hiểu là: "phân tích, cân nhắc để xét tội" Từ đó có thể hiểu Luận tội là sự phân tích, đánh giá chứng

cứ trên cơ sở kết quả chứng minh công khai tại phiên tòa, kết hợp với ý kiến của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa

Luận tội là sự buộc tội trực tiếp, chính thức và cuối cùng của VKS đối với người phạm tội Cũng giống như bản cáo trạng, sự buộc tội của Luận tội đều được xác định là giới hạn xét xử của Tòa án.Tương tự như Cáo trạng, Luận tội cũng có những đặc trưng mang tính quyền lực nhà nước; tính có căn

cứ và đúng pháp luật; tuân thủ các đường lối, chính sách của Đảng và pháp

19 Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012), Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự tại Hải Phòng- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa Luật- Đại học Quốc gia HN, tr30-32

Trang 30

luật của nhà nước cũng như đáp ứng được yêu cầu, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân Tuy nhiên, Luận tội khác Cáo trạng căn bản là sự phân tích và đánh giá chứng cứ chứng minh bốn yếu tố cấu thành tội phạm, trên cơ

sở đánh giá quá trình nhân thân để đề xuất mức hình phạt, loại hình phạt chính thức và cụ thể đối với người phạm tội nên Luận tội còn mang những đặc trưng khác như:

- Luận tội phải có căn cứ, chính xác, khách quan và cụ thể: các kết luận vềhành vi phạm tội cụ thể của bị cáo phải được viện dẫn chứng cứ chứng minh Các chứng cứ được đưa vào Luận tội là những chứng cứ đã được đưa ra kiểm tra, xem xét công khai tại tòa cụ thể là tại giai đoạn xét hỏi Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vai trò vị trí, trách nhiệm của

bị cáo trong vụ án Viện dẫn các căn cứ pháp luật phải đảm bảo chính xác, đúng lời văn điều luật quy định

- Luận tội phải có tính thuyết phục, giáo dục và phòng ngừa tội phạm: khi Luận tội đảm bảo được các yêu cầu trên thì đã có tính thuyết phục Thông qua việc phân tích, trích dẫn điều luật mà hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm trong Luận tội đã góp phần tuyên truyền, giáo dục pháp luật, giúp bị cáo và những người tham dự phiên tòa hiểu rõ những hành vi nào bị pháp luật cấm Qua đó, góp phần điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội Tính phòng ngừa tội phạm của luận tội thể hiện ở việc phân tích những nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội, trong đó có việc phân tích những sơ hở, thiếu sót vi phạm trong quản lý kinh tế, xã hội, con người làm cơ sở để kiến nghị với các cơ quan chức năng kịp thời khắc phục

- Văn phong sử dụng trong Luận tội phải trong sáng, mạch lạc,

dễ hiểu, chuẩn xác không sử dụng những từ ngữ miệt thị bị cáo, không sử dụng những từ ngữ "đao to, búa lớn" Bố cục Luận tội phải chặt chẽ, logic Luận tội là một bài văn nhưng không được quá "văn" làm cho người nghe thấy sáo rỗng

Trang 31

Luận tội của VKS thể hiện đầy đủ bản chất hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá và kiểm chứng lại toàn bộ quá trình điều tra, truy tố đồng thời thể hiện quyền hạn của VKS khi THQCT tại phiên tòa xét xử sơ thẩm Nhà nước

đã giao cho VKS chức năng thực hiện việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa để bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo vệ tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị xử lý KSV trình bày luận tội để buộc tội bị cáo nhằm để thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát Lời luận tội của KSV tại phiên tòa là một văn bản pháp lý có ý nghĩa trong việc xem xét, quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử, là cơ sở để các bên liên quan tiến hành tranh luận.20

1.4.3 Tranh luận

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “tranh luận” có nghĩa là "bàn cãi để tìm ra

lẽ phải"21; còn “tranh tụng” là "kiện tụng lẫn nhau"22 Theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ "tranh tụng" được hiểu bao gồm hai thuật ngữ "tranh luận" và

"tố tụng" Trong tố tụng nói chung và tố tụng hình sự nói riêng bao giờ cũng

có ít nhất hai bên có những quyền và lợi ích trái ngược nhau, yêu cầu Tòa án phân xử Do đó các bên phải đưa ra những chứng cứ, phân tích, đánh giá, tranh cãi để bảo vệ quan điểm của mình Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử-

cơ quan tài phán sẽ tiến hành xem xét, đánh giá và quyết định Tranh luận của KSV tại phiên tòa là một phần trong việc thực hiện tranh tụng của Viện kiểm sát Có nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm bắt đầu và kết thúc của việc tranh tụng tại giai đoạn xét xử, có quan điểm cho rằng tranh tụng ở giai đoạn xét xử bắt đầu khi thủ tục phiên tòa bắt đầu và kết thúc khi Tòa án tiến hành nghị án Tuy nhiên, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, VKS đã phải tiến hành tranh tụng với Thẩm phán về một số vấn đề như: tư cách của những người tham gia

tố tụng, thành phần của Hội đồng xét xử, cụ thể là Hội thẩm nhân dân trong những vụ án vị thành niên hoặc cố ý gây thương tích… Việc tranh tụng kết

20 Nguyễn Thị Tuyết Nhung, tlđd chú thích 19 , tr32-33

21 Viện ngôn ngữ học , tlđd chú thích 14, tr 135

22

Viện ngôn ngữ học, tlđd chú thích 15, tr 807

Trang 32

thúc khi các bên trình bày xong ý kiến để bảo vệ quan điểm của mình, còn việc quyết định của Tòa án chỉ là kết quả thực tế của quá trình tranh tụng Do vậy, phạm vi tranh tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm được bắt đầu từ khi Tòa

án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và kết thúc khi Hội đồng xét xử chuyển sang giai đoạn nghị án Hiểu theo nghĩa rộng, phạm vi của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa là rất rộng, được thực hiện trong hầu hết các giai đoạn của phiên tòa, đặc biệt là trong phần xét hỏi và phần tranh luận Hiểu theo nghĩa hẹp thì hoạt động tranh tụng là hoạt động tranh luận của KSV tại phiên tòa

Chất lượng tranh luận có đạt được hiệu quả dân chủ, công khai, toàn diện hay không thì ngoài việc phụ thuộc vào sự điều khiển của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, thì còn phụ thuộc trực tiếp vào hoạt động đối đáp giữa KSV

và những người tham gia tố tụng khác.Việc tranh luận của KSV không bị giới hạn về thời gian, nội dung Tuy nhiên, để tránh tình trạng tranh luận tràn lan, dàn trải cùng một vấn đề hoặc những vấn đề không liên quan đến vụ án, BLTTHS năm 2003 quy định: "Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án" 23

Tranh luận là một thủ tục rất quan trọng đòi hỏi KSV phải nắm được toàn bộ nội dung vụ án, những tình tiết có liên quan Đồng thời, KSV phải có khả năng lập luận, diễn đạt tốt, có sự nhạy bén, linh hoạt trong việc xử lý tình huống phát sinh Tuy mô hình TTHS nước ta thuộc mô hình tố tụng xét hỏi có kết hợp một số yếu tố của tố tụng tranh tụng, Toà án không giữ vai trò trọng tài thụ động mà có trách nhiệm xét hỏi để làm sàng tỏ tình tiết của vụ án, nhưng không vì thế mà KSV đánh mất sự chủ động của mình, phó thác hoạt

23 Lý Bích Hường (2015), Hoàn thiện quy định của bộ luật TTHS về tranh luận tại phiên tòa, Luận văn thạc

sỹ, Đại học Luật Hà Nội, tr 35

Trang 33

động xét hỏi cho Thẩm phán, KSV phải có ý thức chủ động trong việc tranh luận và xét hỏi.24

1.4.4 Kháng nghị phúc thẩm

Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử có tính độc lập nhưng để cho hoạt động xét xử đạt hiệu quả cao, bảo đảm việc ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội thì hoạt động xét xử phải được đặt dưới sự giám sát của một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đó chính là Viện kiểm sát.Trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự, Khi thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát sử dụng quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự nếu phát hiện bản án, quyết định của Tòa án xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, đồng thời để bảo

vệ quan điểm truy tố của mình

Kháng nghị phúc thẩm là một quyền năng pháp lý đặc biệt, một hoạt động quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân và chỉ Viện kiểm sát mới có quyền kháng nghị phúc thẩm Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: đó là Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa

án đã tuyên bản án, quyết định sơ thẩm

Đối tượng của quyền kháng nghị phúc thẩm: Bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm

Mục đích của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Khi thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ quyền truy tố của mình đồng thời bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Trang 34

Kết luận chương 1

Lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự hiện nay vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau, chưa có tính thống nhất dẫn tới việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong thực tiễn còn nhiều bất cập, giữa các cơ quan tiến hành tố tụng không có sự thống nhất về quan điểm giải quyết Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, luận văn đã tổng hợp, khái quát từ các công trình nghiên cứu trước để đưa ra khái niệm “Quyền công tố” và

“Thực hành quyền công tố”, xây dựng khái niệm “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự”; đồng thời luận văn đã khái quát những đặc điểm đặc trưng, nổi bật của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của vụ án hình sự; khái quát vai trò của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, phân tích nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 35

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH

VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN

XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

2.1 Những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Giai đoạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử được tính từ thời điểm VKS chuyển toàn bộ hồ sơ VAHS kèm theo bản cáo trạng truy tố bị can để Tòa án thụ lý Trong giai đoạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, VKS thực hành quyền công tố thông qua việc xem xét rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố để đảm bảo việc truy tố đúng người đúng tội và giải quyết việc Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung (ĐTBS) Hiện nay, có một số quan điểm về vấn

đề Tòa án trả hồ sơ VKS để ĐTBS có được xem là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hay không? Nếu không thuộc giai đoạn này thì đồng nghĩa hoạt động THQCT của VKS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử chỉ là xem xét tính có căn

cứ, đúng pháp luật trong quyết định truy tố và giải quyết việc rút quyết định truy tố

Tác giả Nguyễn Hữu Khoa có quan điểm vấn đề giải quyết việc trả hồ

sơ để ĐTBS của Tòa án không thuộc phạm vi của giai đoạn chuẩn bị xét xử , bởi vì khi Tòa án trả hồ sơ để ĐTBS thì phải xóa sổ thụ lý và việc trả hồ sơ của Tòa án phải theo quy định của Nghị quyết số 04-NQ/HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Kết quả ĐTBS đa số làm thay đổi bản cáo trạng và quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án Khi hồ sơ vụ án đến cơ quan nào thì cơ quan

đó thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình để giải quyết vụ án và có quyền

Trang 36

quyết định việc áp dụng, hủy bỏ, thay đổi biện pháp ngăn chặn Do đó, vấn đề ĐTBS không thuộc phạm vi của giai đoạn xét xử sơ thẩm25

quyền trả lại hồ sơ cho Tòa án và giữ nguyên quan điểm truy tố

ra xét xử phần quyết định truy tố chưa bị Viện kiểm sát rút lại

Theo quy định tại Điều 181 BLTTHS năm 2003; Điều 25, khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999 thì trong các trường hợp sau VKS rút quyết định truy tố: Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình

25 Nguyễn Hữu Khoa (2010), Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,

luận văn thạc sĩ, Đại học luật Hà Nội, Hà Nội tr 23-24

Trang 37

chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:

5 năm đối với tội ít nghiêm trọng, 10 năm đối với tội nghiêm trọng, 15 năm đối với tội rất nghiêm trọng, 20 năm đối với tội đặc biệt nghiêm trọng; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp tái thẩm đối với người khác

Các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự: tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội; do chuyển biến của tình hình vào thời điểm điều tra, truy tố, xét xử hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; người phạm tội

tự thú trước khi bị phát giác, thành khẩn khai báo, phạm tội ít nghiêm trọng, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm xảy ra xét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự; người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã được gia đình và tổ chức nhận giáo dục, không cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự

Sau khi chuyển hồ sơ vụ án sang Tòa án, để chuẩn bị tham gia phiên tòa KSV phải tiến hành nghiên cứu lại toàn bộ hồ sơ vụ án phát hiện thấy việc truy tố của VKS chưa chính xác (ví dụ: xác định phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm, lý lịch, nhân thân dẫn đến khung, khoản truy

tố chưa chính xác); hoặc sau khi đã bổ sung thêm các tài liệu chứng cứ KSV thấy việc truy tố của VKS không khách quan, chưa chính xác, chưa đúng thì báo cáo lãnh đạo Viện về việc rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa26

Rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa là một biện pháp cần thiết để bảo đảm cho việc truy tố bị can ra trước Tòa án của VKS không bị oan, sai, đúng người, đúng tội theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 96 ngày

26/06/2015 của Quốc hội khóa 13 về Tăng cường các biện pháp phòng chống

oan sai và bảo đảm bồi thường cho người bị hại trong hoạt động tố tụng hình

sự và Chỉ thị 04/CT-VKSTC của Viện trưởng VKSND Tối cao ngày

10/07/2015 về Tăng cường các biện pháp phòng chống oan, sai và nâng cao

26 Xem Điều 19, Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (Ban hành

kèm theo Quyết định số 960/2007/VKSTC ngày 17/09/2007)

Trang 38

trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự Ngoài ra, việc pháp luật quy định VKS có quyền rút

quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa còn giúp khắc phục những tồn tại, thiếu xót mà VKS chưa phát hiện ra trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tránh việc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội

2.1.2 Giải quyết việc Tòa án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung

Theo quy định tại khoản 2 điều 176, khoản 1 Điều 179 BLTTHS năm

2003, Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày

27/08/2010 Hướng dẫn thi hành các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về

trả hồ sơ điều tra bổ sung, sau khi thụ lý và nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm

phán được phân công chủ tọa phiên tòa phát hiện những thiếu xót, sai phạm

và đã trao đổi với KSV nhưng không thể khắc phục, bổ sung kịp thời thì Tòa

án phải ra “Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung” cho Viện kiểm sát trong những trường hợp sau:

a, Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;

b, Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác

c, Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Sau khi nhận được Quyết định trả hồ sơ vụ án để ĐTBS, Viện kiểm sát phải xem xét căn cứ, tính hợp pháp của quyết định trả của Tòa án để có quan điểm chấp nhận hay không chấp nhận Quyết định trả hồ sơ bổ sung của Tòa

án Nếu thấy quyết định trả hồ sơ để ĐTBS của Tòa án có căn cứ mà không thể tự mình bổ sung được thì VKS ra quyết định trả hồ sơ để ĐTBS và chuyển ngay hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra

Nếu VKS nhận thấy quyết định trả hồ sơ để ĐTBS của Tòa án là không

có căn cứ thì VKS có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quan điểm truy tố đối với quyết định trả của Tòa án và hoàn trả lại hồ sơ cho Tòa án để đưa vụ án ra

Trang 39

xét xử Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2010, trong những trường hợp sau Tòa án không được trả hồ sơ điều tra bổ sung:

- Nếu là chứng cứ quan trọng nhưng nếu thiếu cũng truy tố, xét xử được hoặc không thể thu thập được Ví dụ 1: Có 3 người làm chứng nhưng chỉ xác định được 2 người Ví dụ 2: Hiện trường đã bị thay đổi không thể xem xét lại được hay vật chứng đã mất không thể tìm được

- Nếu là chứng cứ quan trong nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy có thể xét xử bị can (bị cáo) về một hay nhiều tội tương ứng bằng hoặc nhẹ hơn hoặc có thể xét xử bị can (bị cáo) ít tội hơn số tội mà VKS truy tố

- Có vi phạm tố tụng nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng

- Bị can (bị cáo) là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra nhưng đến khi truy tố, xét xử bị can (bị cáo) đã đủ 18 tuổi27

Sau khi kết thúc điều tra bổ sung, CQĐT phải có bản kết luận ĐTBS, trong đó kết luận rõ đối với từng vấn đề trả hồ sơ ĐTBS và quan điểm giải quyết vụ án Nếu kết quả ĐTBS dẫn đến đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ theo thẩm quyền quy định tại Điều 164 và Điều 169 BLTTHS năm 2003

Nếu kết quả ĐTBS không làm thay đổi quyết định truy tố thì VKS có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án Nếu kết quả ĐTBS làm thay đổi quyết định truy tố thì VKS ban hành cáo trạng mới thay thế cáo trạng cũ và chuyển hồ sơ đến Tòa án xét xử28

2.2 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thông qua các hoạt động tố tụng của KSV thực hành quyền công tố

27 Xem Điều 1,2,3 , Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/08/2010 Hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ điều tra bổ sung

28

Xem khoản 4 Điều 7, Thống tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC

Trang 40

tại phiên tòa, thể hiện trong việc thực hiện chức năng buộc tội thông qua bản cáo trạng của VKS truy tố bị can trước pháp luật, tham gia vào phần xét hỏi cùng hội đồng xét xử, luận tội và tranh luận tại phiên tòa

2.2.1 Đọc bản cáo trạng

Theo quy định tại Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, trước khi tiến hành xét hỏi, KSV đại diện cho VKS thực hành quyền công tố công bố bản cáo trạng truy tố bị can ra trước Tòa án và trình bày ý kiến bổ sung nếu có để Tòa án tiến hành xét xử bị cáo về hành vi phạm tội theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố Ý kiến bổ sung của KSV thực hành quyền công tố tại phiên tòa không được làm xấu đi tình trạng thực

tế của bị cáo, chỉ làm rõ những tình tiết còn mâu thuẫn trong bản cáo trạng mà chưa kịp sửa đổi

2.2.2 Tham gia xét hỏi

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tại phiên tòa xét

xử sơ thẩm, KSV có quyền xét hỏi đối với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác như người bị hại, người làm chứng, giám định viên, nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Việc xét hỏi của KSV là nội dung hoạt động THQCT tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nhằm làm rõ các tình tiết vụ án để bảo vệ quyết định truy tố của VKS, đảm bảo việc VKS truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội Ngoài ra, KSV có thể xét hỏi thêm những tình tiết, nội dung khác mà trước đó tại giai đoạn điều tra chưa được làm rõ để củng cố, hoàn thiện căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của

bị cáo.29

Theo quy định tại Điều 207 BLTTHS năm 2003 về trình tự xét hỏi thì KSV tham gia xét hỏi sau khi Chủ tọa phiên tòa, các Hội thẩm nhân dân đã hỏi xong, KSV được quyền hỏi những người đã được hội đồng xét xử hỏi trước đó, sau khi được phép của chủ tọa phiên tòa, ai trước, ai sau theo chủ ý của mình Về nguyên tắc, KSV phải hỏi tất cả các tình tiết mà cáo trạng truy

29

Xem Điều 207-211, 215 Bộ luật TTHS năm 2003

Ngày đăng: 16/02/2021, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w