Đặc biệt đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức liên quan đến vấn đề này như Hội thảo về Hiệp định TRIPS, Hội thảo về các đối tượng sở hữu công nghiệp mới ở Việt nam...Đồng thời, đã có n
Trang 2TRƯ Ờ N G ĐẠI H Ọ C L U Ậ T HÀ N ỘIKHOA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
HÀ NỘI, 2002
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT QUỐC TỂ
Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ luật học Nguyễn Hổng Bắc, Phó trưởng bộ môn Tư
pháp quốc tế, Khoa pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà nội
Các cộng tác viên tham gia đề tải:
1 Tiến sỹ luật học Nguyễn Bá Diên Trưởng bộ môn Luật quốc tế, Đại học quốc gia Hà nội
2 Tiến sỹ luật học Hoàng Phước Hiệp Phó vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế và
Hợp tác quốc tế, Bộ tư pháp
3 Thạc sỹ luật học Nguyễn Hồng Bác Phó trưởng bộ môn Tư pháp quốc tế,
Khoa pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà nội
4 Thạc sỹ luật học Kiều Thanh Giảng viên Khoa tư pháp, Đại học Luật Hà
nội
Thư ký đề tài' Vũ Thị Phưong Lan, Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế, Đại
học Luật Hà nội
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các nước Đông nam Á
A P E C Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái bình dương
IM F Quỹ tiền tệ quốc tế
hợp năm 1989
F A O Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới
W T O Tổ chức Thương mại thế giới
W I P O Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
quyền sở hữu trí tuệ
U P O V Công ước về giống cây trồng mới
M FN Chế độ đối xử tối huệ quốc
NT Chế độ đối xử quốc gia
Trang 5MỤC LỤC
TRANG
4 Sơ sánh nội dung của Hiệp định TRIPS với các Hiệp định của 20
WIPO về sở hữu trí tuệ
I I Mức độ tương thích của pháp luật Việt nam với Hiệp định TRIPS 26
1 V ề các qui định chung và các nguyên tắc cơ bản 27
2 Các qui định liên quan đến quyền tác giả và các quyền liên quan 28
3 Các qui định liên quan đến quyền sở hữu côn í,' nghiệp 33
4 Các qui định liên quan đến thực thi quyền sỏ hữu trí tuệ và giải 35
Chuyên đ ề ỉ : Các khái niệm cơ bản và những nguyên tắc chung của 46Hiệp định TRIPS
Trang 6Chuyên đ ề 2: Những nội đung cơ bản của Hiệp định TRIPS 68
Chuyên đề 3: Nghiên cứu so sánh nội dung của Hiệp định TRIPS với 95các Hiệp định của WIPO về sở hữu trí tuệ
Chuyên dê 4: Pháp luật Việt nam về quyển sở hữu trí tuệ 113
Chuyên đề 5 Sự tương thích của pháp luật Việt nam với Hiệp định 155TRIPS và những biện pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật Việt nam
về sở hữu trí tuệ trong điều kiện hội nhập quốc tế
Tài liệu tham khảo
Trang 7BÁO CẢO PHÚC TRÌNH
K Ế T Q U Ả N G H IÊ N c ứ u Đ Ể T À I
CÓ LIÊN QUAN CỦA VIỆT NAM”
*
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI:
"Trí tuệ con nọ ười là nẹuồn gốc của mọi công trình nghệ thuật và sáng tạo Các cônq trình này là sự đảm bảo cho cuộc sống con người Trách nhiệm của các quốc gia là bảo hộ có hiệu quả các tác phẩm nghệ thuật và các công trình sánq tạo đó." Dòng chữ khắc trên vòm trụ sở Tổ chức sở hữu
trí tuệ thế giới - W IPO muốn nhắn gửi một thông điệp đến chúng ta: Trí tuệ
là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, là nguồn gốc của mọi của cải, vật chất trong xã hội Quốc gia nào biết nuôi dưỡng và phát huy năng lực trí tuệ, quốc gia đó sẽ phát triển độc lập và hưng thịnh
Ớ Việt nam, hội nhập khu vực và thế giới đang là mục tiêu đồng thời
là một biện pháp lớn nhằm thực hiện chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt nam đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Việt nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển
Trang 8Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, Việt nam
đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN năm 1995, tháng 12/1995, Việt nam đã cùng các nước thành viên ASEAN ký Hiệp định khung ASEAN
về hợp tác sở hữu trí tuệ Ngày 27/6/1997 Việt nam đã ký Hiệp định về quyền tác giả với Hoa kỳ (Hiệp định có Hiệu lực ngày 23/12/1998) Ngày 7/7/1999 Chính phủ Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt nam đã chính thức ký Hiệp định song phương về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với Chính phủ liên bang Thuỵ Sỹ
Để thiết lập và phát triển quan hệ kinh tế thương mại giữa hai quốc gia, ngày 13/7/2000 Hiệp định Thương mại giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam và Hợp chủng quốc Hoa kỳ đã được ký tại Washington (Hiệp định
có hiệu lực ngày 10/12/2001) Hiệp định Thưưng mại giữa Việt nam và Hoa
kỳ sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho Việt nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO
Ngày 1/1/1995 Việt nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO Việc gia nhập WTO sẽ là bước ngoặt lớn đánh dấu sự hội nhập đầy đủ của kinh tế nước ta với kinh tế thế giới Trong tiến trình đó, Việt nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới vô cùng to lớn Nộp đơn vào tổ chức này nghĩa là Việt nam phải chấp nhận các điều kiện mà tổ chức đặt ra để đổi lấy các lợi ích mà tổ chức đó mang lại
Về sở hữu trí tuệ, WTO đòi hỏi các nước thành viên trong một thời hạn ấn định phải bảo đảm xây dựng cho được một hệ thống đầy đủ và có hiệu quả để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Một trong những tiêu chuẩn để được coi là đầy đủ là hệ thống đó phải bảo hộ tất cả các đối tượng sở hữu trí tuệ liệt kê trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS, WTO)
Trong chương trình hành động về sở hữu trí tuệ để Việt nam gia nhập WTO, cũng như để chuẩn bị thi hành một số nghĩa vụ theo các Hiệp định khác mà Việt nam đã và sẽ ký kết, chúng ta phải nhanh chóng triển khai việc bảo hộ thưc sự cho tất cả các đối tượng sở hữu trí tuệ mà cả thế giới đã cùng cam kết báo Ỉ1Ộ Do vậy, trong tiến trình này Việt nam cần phải sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam về sở hữu trí tuệ cho phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu của Hiệp định TRIPS
Trang 9Từ thực tế trên việc nghiên cứu “Những nội dung cơ bản của Hiệp định TRIPS và mức độ tương thích của các chế định pháp luật có liên quan của Việt nam ” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với Việt nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế.
II, TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu ĐỂ TÀI:
Sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực mới mẻ và rất phức tạp ở Việt nam Những năm gần đây vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan, Ban, ngành cũng như các cơ sở đào tạo luật Đặc biệt đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức liên quan đến vấn đề này như Hội thảo về Hiệp định TRIPS, Hội thảo về các đối tượng sở hữu công nghiệp mới ở Việt nam Đồng thời, đã có nhiều bài viết của nhiều tác giả trong nước và nước ngoài về sở hữu trí tuệ như: Tiến sỹ Dominique De stoop (bài giảng về luật quốc tế khoá 2 Dự án VAT), Tiến sỹ Nguyễn Bá Diến (bài viết hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ trong điều kiện Việt nam hội nhập quốc tế đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2001)
Nhưng các bài viết đó chỉ đề cập tới một vài khía cạnh nhỏ của sở hữu trí tuệ, còn nghiên cứu một cách toàn diện, một cách hệ thống từ các nguyên tắc, nội dung của Hiệp định, để từ đó liên hệ với hệ thống pháp luật Việt nam trong lĩnh vưc sở hữu trí tuê, nhằm tìm ra các phương hướng và biên pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam trong điều kiện hội nhập quốc tế, phù hợp với các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu của TRIPS thì hầu như chưa có một công trình nào đề cập tới Do vậy, đề tài này như là sự tiếp tục các vấn
đề mà các tác giả đã có dịp đề cập và gợi mở
III MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu đã nêu ở trên, mục đích của đề tàilà: nghiên cứu những nguyên tắc, nội dung cơ bản của TRIPS có so sánh vớicác qui định của pháp luật Việt nam để tìm ra sự tương đồng và sự khác biệt của pháp luật Việt nam so với TRIPS, để từ đó tìm ra những phương hướng
và biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hội nhập quốc tế
Thực hiện thành công mục đích của đề tài đặt ra, đề tài sẽ có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
Trang 10- Làm sáng rõ những lợi ích có được khi Việt nam gia nhập TRIPS.
- Giúp những người quan tâm đến lĩnh vực này có cơ sở để nghiên cứu và giảng dạy cũng như thực hiện TRIPS tại Việt nam
- Góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân trong lĩnh vực bảo hộ
sở hữu trí tuệ
Với mục đích trên đề tài được bố cục thành 3 phần với các nội dung sau đây:
I Những vấn để CƯ bản về Hiệp định TRIPS.
Trong phần này, đề tài tập trung phân tích làm rõ những khái niệm,những nguyên tắc, những nội dung cơ bản của Hiệp định TRIPS, có so sánhvới các qui định trong các Hiệp định của WIPO để làm nổi bật những điểm tưcmg đồng, những điểm mới, tiến bộ của Hiệp định TRIPS so với các Hiệp định của WIPO trong lĩnh vực sở hCru trí tuệ và đây cũng là cơ sở để tìm ra sự tương thích của pháp luật Việt nam với TRIPS
II Sự tương thích của pháp luật Việt nam với Hiệp định TRIPS.
Từ việc phân tích các qui định của pháp luật Việt nam hiện hành, có so sánh với các nội dung cơ bán của TRIPS để qua đó có thể khẳng định rằng Việt nam đã có một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ để bảo hộ các đối tương của quyền sở hữu trí tuệ Đồng thời, cũng từ việc so sánh này tìm ra những điểm phù hợp và điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt nam với các qui định của TRIPS, để từ đó đưa ra các phương hướng và biện pháp hoàn thiện pháp luật Việt nam về sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay: giai đoạn hội nhập và phát triển
III Một sô kiến nghị nhầm hoàn thiện pháp luật Việt nam về sở hữu trí tuệ trong điều kiện hội nhập kinh tê quốc tế.
+ Trên cơ sở giải quyết tốt các vấn đề lý luận trên, chúng tôi đề xuất những phương hướng và biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt nam về sở hữu trí tuệ trong điều kiện hội nhập quốc tế Trong những biện pháp đó, chúng tôi tập trung vào biện pháp sửa đổi, bổ sung BLDS, đặc biệt là phần VI cùng các văn bản hướng dẫn thi hành các qui định của phần VI đó
+ Qua việc nghiên cứu đề tài, Ban chủ nhiệm đề tài đưa ra một số kiến nghị với nhà trường, với mục đích đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học
Trang 11IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện đề tài chúng tôi đã dựa trên các tài liệu đã có để tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hoá Từ những qui định cụ thể, phân tích
để làm rõ từng nội dung đảm bảo tính hệ thống của một đề tài khoa học Như vậy, trong đề tài chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp, nhưng chú trọng các phương pháp: tổng hợp, phân tích, liệt kê, khái quát hoá và đặc biệt
là phương pháp so sánh Phương pháp so sánh được sử dụng trong hầu hết các nội dung của đề tài:
- So sánh giữa các qui định của TRIPS với các qui định trong các Hiệp định của WIPO
- So sánh giữa các qui định của TRIPS với các qui định của pháp luật Việt nam hiện hành về sỏ' hữu trí tuệ
Trang 12B PIIẨN T H Ứ H A I
I NHỮNG VẤN ĐỀ C ơ BẢN CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS:
1 Khỏi quát chung về hiệp định TRIPS:
Quyền sở hữu trí tuệ ngày nay đã trở thành một trong hai loại hình sở hữu chính của con người - sở hữu tài sản hữu hình và sở hfm trí tuệ Quyền
sở hữu trí tuệ là loại quyền đặc biệt, chỉ xuất hiện và được luật hoá khi cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ phát triển và khi con người ý thức được những lợi ích vật chất mà sáng tạo trí tuệ đem lại Sở hữu trí tuệ bao gồm hai lĩnh vực chính: quyền sở hữu công nghiệp và quyền tác giả
Trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới trong suốt thế kỷ qua, lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã có những bước tiến mạnh mẽ và mang dấu ấn thời đại rõ nét Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và các tổ chức tiền thân của nó đã có rất nhiều cố gắng trong việc xây dựng hệ thống các quy định mang tính quốc tế để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Một số Công ước quốc tế quan trọng đã được thông qua, như Công ước Rome (1961), Công ước Paris (1967), Công ước Stockholm (1967, sửa đổi 1979), Công ước Berne (1971)
Theo dòng thác phát triển kinh tế - thương mại quốc tế, tổ chức thương mại thế giới (WTO) dược thành lập năm 1995 với tư cách là thể chế pháp lý điều tiết các mối quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế mang tính toàn cầu WTO ngày càng phát huy vai trò và hiệu quả của mình trên cơ sở k ế thừa tất
cả những nguyên tắc, luật lệ của tổ chức tiền thân đã tồn tại gần 50 năm qua
là Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (GATT) và hoạt động dựa trên 4 nguyên tắc chính là: mở cửa thị trường, đãi ngộ tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia và cạnh tranh công bằng Với 25 Hiệp định đa phương đã được ký
kết, WTO là một "sân chơi ’ quốc tế với những “luật chơi” trong quan hệ
kinh tế quốc tế hiện đại, điều tiết ngày càng sâu sắc quá trình trao đổi hàng hoá dịch vụ, đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa các quốc gia
Trong suốt thời gian tổn tại của GATT, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chỉ là đối tượng điều chỉnh của các Hiệp định và Công ước quốc tế riêng
Trang 13rẽ và không nằm trong khuôn khổ GATT Từ những năm cuối của thập kỷ
70 và những năm 80, hầu hết các nước công nghiệp hoá đã cố gắng cập nhật các Công ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ (Công ước Paris và công ước Berne) Những nỗ lực đó không thành công trước sự phản đối mạnh mẽ từ các nước đang phát triển với nhìn nhận rằng, các nước phát triển chỉ muốn duy trì vai trò thống trị bằng cách tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Sau khi Hoa Kỳ tuyên bố đề cập đến việc đưa các vấn đề hàng giả vào khuôn khổ của GATT năm 1984 và Hội đồng GATT hướng dẫn Uỷ ban soạn thảo giải quyết cơ bản các vấn đề tiềm tàng liên quan đến thương mại, vấn đề bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ vẫn chưa được tất cả các nước thành viên chấp nhận trong khuôn khổ GATT Lập luận của một số nước là GATT chỉ giải quyết các vấn đề liên quan tài sản hữu hình mà không liên quan đến tài sản vô hình, hơn nữa vấn đề hàng giả chỉ thuộc thẩm quyền của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO Sau đó, các nước đang phát triển bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để tăng cường phát triển kinh tế của mình và việc chuyển giao kỹ thuật từ các nước phát triển
Vòng đàm phán thương mại đa phương Urugoay được bắt đầu tại
Punta del Este vào ngày 20/9/1986 và kết thúc bằng việc ký Hiệp định
Marakesh thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngày 15/4/1994 Hiệp định TRIPS là một trong bốn Hiệp định phụ lục trong Hiệp định thành lập WTO
Ngày 1/1/1995 Hiệp định TRIPS chính thức có hiệu lực Với những nội dung tiến bộ và đầy đủ, Hiệp định TRIPS được đánh giá là Hiệp định đa phương đầy đủ nhất, toàn diên nhất về sở hữu trí tuệ
Hiệp định qui định nghĩa vụ của mỗi thành viên trong việc đưa ra các qui chuẩn bảo hộ tối thiểu với từng lĩnh vực cơ bản của sở hữu trí tuệ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định Mỗi nội dung được bảo hộ được xác định
rõ, cụ thể là: đối tượng được bảo hộ, các quyền được chuyển giao, một số ngoại lệ đối với các quyền này và thời hạn bảo hộ tối thiểu Hiệp định đã xác lập các qui chuẩn này bằng cách, trước hết, là yêu cầu các nước thành viên tuân thủ các nghĩa vụ thuộc luật nội dung được qui định trong các công ước hiện hành của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, công ước Paris về bảo
hộ sở hữu công nghiệp, công ước Beme về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật
Trang 14Trừ một số điều khoán của công ước Berne về các quyền tinh thần, tất
cả các điều khoản chủ yếu thuộc luật nội dung được qui định trong các công ước nêu trên được đưa vào TRIPS dưới dạng dẫn chiếu, nên cũng trở thành nghĩa vụ chung của các nước thành viên TRIPS Các qui định này được qui định tại điểu 2.1 (liên quan đến công ước Paris) và điều 9.1 (liên quan đến công ước Berne) của Hiệp định TRIPS Ngoài ra, TRIPS còn bổ sung một số lượng lớn các nghĩa vụ chưa được qui định hoặc chưa được qui định đầy đủ trong các công ước, hiệp định đã ký trước đây Vì lý do này, Hiệp định TRIPS đôi khi được gọi là “tổng hợp của các công ước Paris và công ước Berne”
2 Những nguyên tốc cơ bản củ a Hiệp định TRIPS:
Những nguyên tắc của TRIPS cũng dựa trên những nguyên tắc của WTO Bên cạnh đó, kết quả chính của TRIPS là việc áp dụng các nguyên tắc của GATT trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại Do đó, có thể khẳng định rằng, những nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TRIPS là sự cụ thể hoá những nguyên tắc của GATT và WTO trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Trên cơ sở phân tích các khái niệm cơ bản của Hiệp định TRIPS như:
sở hữu trí tuệ, bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dãn địa lý, kiểu dáng công nghiêp đề tài đi sâu phân tích các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định gồm các nguyên tắc sau:
2.1 Nguyên tắc đối x ử tối huệ quốc ( M F N - M ost Favoured Nations):
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 4 Hiệp định TRIPS Đây là nguyên tắc được xem là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất và là nguyên tắc
nền tảng của GATT và WTO; theo đó, bảo đảm cho sự bình đẳng trong đối
x ử giữa các nước Thành viên b ằnẹ việc quy định rằng bất cứ sự ưu đãi nào được m ột nước Thành viên dành cho bất cứ nước nào khác phải được dành nqay lập tức và vô điều kiện cho tất cả các nước Thành viên khác Nguyên
tắc này (được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực thương mại quốc tế) là một nhân tố mới trong khuôn khổ sở hữu trí tuệ quốc tế Nếu hai hay nhiều nước Thành viên của TRIPS tham gia một thoả thuận có tiêu chuẩn bảo hộ cao hơn tiêu chuẩn bảo hộ của TRIPS thì những nước này có nghĩa vụ phải dành sự
ưu đãi và đặc quyền đó cho công dân của tất cả các nước Thành viên khác
Trang 15Mặc dầu vậy, cũng giống như chế độ MFN trong GATT và WTO,
TRIPS vẫn quy định một số ngoại lệ (exception) và miễn trừ (waiver) Những
ngoại lệ và miễn trừ này được qui định cụ thể tại Điều 4 của Hiệp định TRIPS
2.2 Nquyên tắc đối xử quốc gia (National treament)
Nguyên tắc này được ghi nhận tại khoản 1 Điều 3 Hiệp định TRIPS:
“M ỗi Thành viên phải chấp nhận cho các công dân của các thành viên khác
sự đối x ử không kém thiện chí hơn so với sự đối xử của thành viên đó đối với cônẹ dân của mình trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ”.
Đây là nguyên tắc cơ sở của tất cả các Công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ, cũng được nêu tại Điều 3 của GATT Song trong khuôn khổ các Công ước về sở hữu trí tuệ, nguyên tắc này chỉ áp dụng cho các chủ thể quyền chứ không áp dụng đối với hàng hoá như trong GATT
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có những ngoại lệ, theo đó, các thành viên có thể dựa vào để miễn trừ nghĩa vụ tuân thủ Hiệp định TRIPS Các trường hợp ngoại lệ được qui định cụ thể trong: Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật, Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, tổ chức phát sóng truyền hình và Hiệp ước Washington về bảo hộ mạch tích hợp
Các nghĩa vụ đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc nêu trên đây không áp dụng cho các thủ tục quy định trong các Thoả ước đa phương được
ký kết dưới sự bảo trợ của WIPO liên quan đến việc đạt được và duy trì hiệu lực bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ
Ngoài hai nguyên tắc cơ bản trên, Hiệp định TRIPS còn qui định một
số nguyên tắc khác: như nguyên tắc về sự cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích của công chúng và xã hội; các vấn đề có tính nguyên tắc liên quan đến vấn đề thực thi Hiệp định TRIPS trong pháp luật quốc gia thành viên
3 Nội dung của Hiệp định TRIPS:
Ngoài các nguyên tắc, Hiệp định TRIPS điều chỉnh những nội dung sau đây:
1 Đối tượng bảo hộ
2 Thực thi quyển sở hữu trí tuệ
Trang 163 Ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp.
4 Các qui định chuyển tiếp
5 Các qui định về tổ chức
Trong các nội dung đó đề tài tập trung phân tích cụ thể nội đung thứ nhất đó là các đối tượng được bảo hộ theo Hiệp định TRIPS Cụ thể:
T hứ nhất: Đôi tưựng bảo hộ:
Hiệp định qui định 7 đối tượng của sở hữu trí tuệ:
Bần quyền và các quyền liên quan:
Đặc trưng cơ bản của các điều khoản về bản quyền là ở chỗ các nước thành viên phải tuân thủ các qui định thuộc phạm vi luật nội dung của Công ước Berne, được sửa đổi bổ sung bởi Định ước Paris năm 1971 (cụ thể là các điều 1-21 của Công ước Berne năm 1971) và các Phụ lục kèm theo Công ước Berne qui định các vấn đề như đối tượng bảo hộ, thời hạn bảo hộ tối thiểu, các quyền được chuyển giao và một số hạn chế được phép đối với các quyển này Tuy nhiên, theo TRIPS các nước thành viên không có quyền hoặc nghĩa vụ bảo hộ các quyền về tinh thán của tác giả - tức là nghĩa vụ ngăn ngừa các hành vi làm sai lệch hoặc sửa đổi các tác phẩm của họ mà hậu quả
là dẫn đến làm tổn hại về danh dự hoặc uy tín của họ (tác giả)
Các chương trình máy tính cũng được bảo hộ giống như các tác phẩm văn học nghệ thuật trong công ước Berne Các cơ sở dữ liệu cũng được bảo
hộ nếu cách chọn và sắp xếp dữ liệu biểu thị tính sáng tạo về trí tuệ Các dữ liệu và tài liệu được lưu giữ trong các cơ sở (dữ liệu) này thì không được bảo
hộ, tuy nhiên bản thân chúng (các dữ liệu, tài liệu) có thể được hưởng sự bảo
hộ về bản quyền
Tác giả các chương trình máy tính và đạo diễn các chương trình phát thanh (ghi âm) phải được quyền cho phép hoặc cấm việc (thuê) sử dụng công khai mang tính chất thương mại các tác phẩm của họ Tác giả phim cũng có quyền tương tự như vậy nếu việc (thuê) sử dụng sẽ dẫn đến việc sao chép một cách rộng rãi các tác phẩm mà hậu quả làm tổn hại đến quyền được bảo
hộ của họ
Những người biểu diễn cũng được bảo hộ nhằm tránh việc ghi âm, ghi hình bất hợp pháp các tác phẩm mà họ biểu diễn
Trang 17Thời hạn bảo hộ lối thiểu đối với tác phẩm văn học nghệ thuật là 50 năm kể từ lúc công bố hoặc hoàn thành Đối với người biểu diễn, đạo diễn các chương trình phát thanh, ghi âm là 50 năm được tính từ năm biểu diễn hoặc ghi âm.
Nhãn hiệu hàng hoá:
So với Công ước Paris, Hiệp định TRIPS có một số qui định mới bổ sung, trong đó có định nghĩa về nhãn hiệu hàng hoá tại Điều 15 Hiệp định Hiệp định cũng qui định rõ bản chất của hàng hoá hoặc dịch vụ sẽ mang nhãn hiệu hàng hoá không ảnh hưởng tới khá năng được đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đó, pháp luật không bảo hộ bản chất đó mà chỉ bảo hộ tên gọi, ký hiệu, hình ảnh dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của cơ sở này với cơ sở khác, không phụ thuộc vào bản chất của chúng tốt hay xấu, có chất lượng hay không có chất lượng
Trên cơ sở điều 6bis công ước Paris (1967) TRIPS đề cập đến nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng Theo đó, xác định một nhãn hiệu hàng hoá có nổi tiếng hay không phải xem xél danh tiếng của nhãn hiệu hàng hoá đó trong bộ phận công chúng có liên quan, kể cả danh tiếng tại nước thành viên tương ứng của Hiệp định đạt được nhờ hoạt động quảng cáo nhãn hiệu hàng hoá đó
Thời hạn bảo hộ tối thiểu là 7 năm và được quyền gia hạn vĩnh viễn
Chỉ dẫn địa lý:
Được quy định tại Điều 22 khoản 1 Hiệp định TRIPS Như vậy, tên gọi xuất xứ hàng hoá là dấu hiệu để phân biệt những sản phẩm cùng loại nhưng không phải để phân biệt những sản phẩm cụ thể giữa những nhà sản xuất với nhau, mà là dấu hiệu để phân biệt sản phẩm ở một nước, một địa phương hay một khu vực nhất định có chất lượng đặc thù với những sản phẩm cùng loại được sản xuất ở những khu vực, địa phương hay nước khác không có tính chất, chất lượng đặc thù như vậy Tên gọi xuất xứ hàng hoá không do m ột tác giả nào tạo nên, mà được hình thành từ những yếu tố tự nhiên, lịch sử và quá trình người địa phương sản xuất ra sản phẩm đặc trưng đó Tên gọi xuất xứ hàng hoá không thuộc riêng chủ sở hữu nào và cũng không ai được độc quyền sử dụng Tất cả các chủ thể sản xuất, kinh doanh tại địa phương đều
Trang 18có quyền yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá cho sản phẩm của mình.
Tên gọi xuất xứ hàng hoá được xem là một đối tượng đặc biệt của quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ Sự đặc biệt này chứa đựng hai thuộc tính:
- Chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của hàng hoá;
- Chất lượng, uy tín, đặc đính khác của hàng hoá chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định (khí hậu, đất đai, con người, nghề nghiệp truyền thống)
Như vậy, các chỉ dẫn địa lý nhằm thông báo cho người tiêu dùng rằng
một hàng hoá nào đó “có chất lượng, uy tín và các dặc tính khác” mà về “cơ bản là nhờ xuất x ứ địa ỉ ỷ của hàng hoá đ ó ” Vì vậy, các nước không được
cho phép đăng ký nhãn hiệu có những chỉ dẫn có thể gây nhầm lẫn về xuất
xứ địa lý của hàng hoá
Nhằm bổ sung cho quy định này, Điều 23 Hiệp định đã chỉ rõ sự cần thiết của những biện pháp pháp lý để các bên liên quan ngăn ngừa việc sử dụng một chí dẫn địa lý của các rượu vang cho những loại rượu vang không bắt nguồn từ lãnh thổ lương ứng với chỉ dẫn địa lý đó hoặc sử dụng chỉ dãn địa lý của rượu mạnh cho những loại rượu mạnh không bắt nguồn từ lãnh thổ
tư ơn g ứ n g v ớ i c h ỉ dẫn địa lý đ ó
Hiệp định cũng quy định, không bắt buộc một nước thành viên phải áp dụng quy định của mình cho một chỉ dẫn địa lý của một nước khác dùng cho hàng hoá hoặc dịch vụ nếu chỉ dãn đó trùng với thuật ngữ mà theo ngôn ngữ phổ thông trong lãnh thổ nước thành viên đó có nghĩa là tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ đó
Trang 19hộ các loại kiểu dáng mà đặc tính định hình của nó chỉ đơn thuần là các yếu
tố mang tính kỹ thuật, vận hành
Điểu 26 khoản 1 qui định các nước thành viên có nghĩa vụ dành cho
chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ quyền ngăn cấm không cho
bên thứ ba sản xuất, bán hoặc nhập khẩu, nhằm mục đích thương mại, các
mặt hàng sao chép toàn bộ hoặc phần lớn kiểu dáng được bảo hộ mà không
được sự đồng ý của chủ sở hữu đó Thời hạn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp là
10 năm
Patent ( ván bằng sáng chê):
Hiệp định TRIPS không đưa ra khái niệm cụ thể về sáng chế; tuy
nhiên tại Điều 27 có quy định các tiêu chuẩn bảo hộ một sáng chế Theo đó,
những ý tưởnq về một ụ ải pháp s ẽ được đăng ký dưới hình thức m ột văn
bằng sáng c h ế (bất k ể đó là sáng c h ế là sản phẩm hay quy trình thuộc mọi
lĩnh vực côn ẹ nghệ) nếu thoả mãn các điều kiện sa u :
Có nội dung mới
Có trình độ sáng tạo
Có khả năng để áp dụng trong công nghiệpVăn bằng sáng chế được cấp và thụ hưởng các quyền phát sinh từ bằng
sáng chế không phụ thuộc vào nơi tạo ra sáng chế và không phụ thuộc vào
việc hàng hoá là hàng nhập khẩu hay hàng được sản xuất trong nước Nếu
một sáng chế của một công dân nước thành viên ra đời ở một quốc gia không
thuộc WTO, thì sáng chế đó vẫn được bảo hộ tại các quốc gia trong khuôn
khổ WTO
Tuy nhiên, khái niệm patent trong phạm vi bảo hộ của Hiệp định cũng
có những giới hạn nhất định,.Theo đó, những sáng chế sau đây mặc dù có
những dấu hiệu nêu trên, song không được cấp patent:
1) Những sáng chế cần phải bị cấm khai thác nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của các nước thành viên để bảo vệ trật tự công cộng hoặc
đạo đức xã hội, kể cả để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ con người và động
vật, thực vật hoặc để tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, với
điều kiện là những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì lý do duy nhất là
việc khai thác các sáng ch ế tương ứng bị pháp luật của nước đó ngăn cấm
Trang 202) Các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp nội và ngoại khoa để chữa bệnh cho người và động vật;
3) Thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh (các tổ chức hữu cơ siêu nhỏ), và các quy trình sản xuất thực vật và động vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh Tuy nhiên, các nước thành viên phải báo hộ giống cây bằng hệ thống patent hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp giữa hai
hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào
Thời hạn bảo hộ Patent không được dưới 20 năm tính từ ngày nộp đơn xin cấp patent
Thiết kê bô trí (topograph) mạch tích hợp:
Điều 35 Hiệp định TRIPS qui định các nước thành viên có nghĩa vụ bảo hộ các thiết k ế bố trí mạch tích hợp phù hợp với các qui định của Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thiết kế bố trí mạch tích hợp được đàm phán dưới sự bảo trợ của WIPO năm 1989 Các qui định này điều chỉnh các vấn đề như định nghĩa “mạch tích hợp” , “ thiết kế bố trí”, yêu cầu bảo hộ, độc quyền, một số hạn chế, cũng như việc khai thác, đăng ký và công bố thiết k ế bố trí mạch tích hợp
Nghĩa vụ báo hộ thiết k ế bố trí được áp dụng cho các thiết k ế bố trí mới, có tính sáng tạo, lần đầu tiên, theo nghĩa là chúng là kết quả của lao động sáng tạo trí tuệ của người thiết k ế mà không trùng hoặc không giống với sản phẩm hiện hành cùng loại Đặc quyền bao gồm quyền tái tạo, nhập khẩu, bán và phân phối nhằm mục đích thương mại
Thời hạn bảo hộ ít nhất là 10 năm kể từ ngày đăng ký hoặc ngày đầu tiên sử dụng với mục đích thương mại, tuỳ từng trường hợp cụ thể
Thông tin b í mật: Theo Hiệp định TRIPS, các thông tin bí mật như bí
quyết thương mại, bí quyết kỹ thuật, phải được bảo hộ nhằm tránh việc công
bố hoặc thụ đắc theo “cách thức trái với hoạt động thương mại trung thực”
Theo khoản 2 Điều 39 TRIPS, m ột thông tin được coi là bí mật và s ẽ được bảo hộ khi có dầy đủ các điều kiện sau:
- Có tính chất bí mật
- Có giá trị thương mại vì có tính chất bí mật;
Trang 21- Trong mọi trường hợp, được người kiểm soát thông tin đó giữ bí mật bằng những biện pháp thích hợp.
Để đảm bảo chống cạnh tranh không lành mạnh một cách có hiệu quả
như qui định tại điều lObis Công ước Paris (1967), các thành viên phải bảo
hộ bí mật thương mại và các dữ liệu theo các qui định tại điều 31 khoản 1
Hiệp định TRIPS
Đối với các dữ liệu thử nghiệm dược phẩm và sản phẩm hoá nông
được các hãng nộp cho Chính phủ để chứng minh tính an toàn và tính hiệu
quả của các sản phẩm đó có các thành phần hoá chất mới , Hiệp định yêu cầu
các Chính phủ phải bảo hộ để các dữ liệu đó không bị sử dụng trong thương
mại một cách không lành mạnh
* Thứ hai: v ấ n để thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Hiệp định TRIPS qui định các thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ rất
cụ thể Hiệp định yêu cầu các nước phải bảo đảm rằng các thủ tục thực thi
quyền sở hữu trí tuệ phải được quy định trong luật quốc gia, Irong đó có
những biện pháp chế tài khẩn cấp nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm và
những biện pháp tư pháp nhằm ngăn chặn không để các hành vi xâm phạm
tiếp diễn Cách thức áp dụng các thủ tục này không được tạo ra các hàng rào
đối với thương mai hơp pháp và phải bảo đảm chống lại sự lạm dụng chính
các thủ tục này
Các thủ tục này phải công bằng và hợp lý, không được làm phức tạp
hoá một cách không cần thiết hoặc gây tốn kém và không thể bị giới hạn về
mặt thời gian một cách bất hợp lý hoặc bị trì hoãn không có bảo đảm
Hiệp định TRIPS thiết lập những tiêu chuẩn tối thiểu cho các thủ tục
Các thủ tục có thể là thủ tục hành chính hoặc thủ tục xét xử (mặc dù các bên
trong mỗi vụ khiếu kiện đều có quyền yêu cầu toà án xem xét lại các quyết
định hành chính cuối cùng)
Các quyết định được trao cho các bên một cách kịp thời và phải dựa
vào các chứng cứ mà các bên đều đã có cơ hội được trình bày ý kiến
Hiệp định TRIPS qui định việc thực thi theo cả đường dân sự và hình
sự Đối với các vụ án dân sự, các cơ quan xét xử phải kết hợp các thủ tục và
các biện pháp ch ế tài đã được qui định Toà án có thẩm quyền ra lệnh đình
chỉ hành vi xâm phạm, đừng việc nhập khẩu, ra lệnh bồi thường thiệt hại, ra
Trang 22lệnh bổi thường các chi phí cho chủ sở hữu, trong đó có thể bao gồm cà các khoản chi phí luật sư thích hợp, ra lệnh cung cấp chứng cứ (phối hợp với qui định bảo hộ thông tin bí mật), xử lý việc các bên từ chối không cho phép tiếp cận chứng cứ phù hợp mà không có lý do chính đáng, và xử lý những chủ sở hữu nào lạm dụng các thủ tục thực thi.
Hiệp định TRIPS buộc các nước thành viên phải cho cơ quan xét xử có
thẩm quyền ra lệnh áp dụng các biên pháp tam thời một cách nhanh chóng
và có hiệu quả dể ngăn ngừa vi phạm, để ngăn chặn không cho hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm vào lưu thông thương mại và giữ gìn chứng cứ thích họp Người yêu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời phải cung cấp đầy đủ chứng
cứ để chímg minh rằng mình là chủ sở hữu và làm cho toà án tin rằng vi phạm đang xảy ra và có thể sắp xảy ra Toà án phải có thẩm quyền yêu cầu chủ thể quyền nộp một khoản bảo đảm (hoặc một khoản bảo chứng tương đương) để bảo vệ quyền của bị đơn và ngăn ngừa sự lạm dụng các thủ tục bổi thường tạm thời
Hiệp định TRIPS cũng đề cập đến vấn đề thực thi tại Biên giới , các
nước phải ban hành các thủ tục hải quan cho phép chủ sở hữu nào có những căn cứ hợp lý nghi ngờ việc nhập khẩu hàng hoá giả mạo nhãn hiệu hàng hoá hoặc hàng hoá xàm phạm bản quyền sắp xảy ra được nộp đơn cho các CO' quan có thẩm quyền (hành chính hoặc CƯ quan xél xử) ycu cầu các cơ quan hải quan tạm giữ hàng hoá không cho đưa vào lưu thông thương mại tự do Những hàng hoá xâm phạm các loại quyền sở hữu trí tuệ khác cũng bị áp dụng theo các quy định bảo hộ này Bên yêu cầu thực thi tại cơ quan hải quan phải cung cấp một bản mô tả chi tiết về hàng hoá xâm phạm Đối với một số loại hàng hoá nhất định bị khiếu kiện là xâm phạm, chủ hàng phái có quyền nhận hàng sau khi đã nộp một khoản bảo đảm đủ để bồi (hường cho chủ thể quyền, nếu sau đó bị kết luận là xâm phạm quyền
Cơ quan hành chính có thẩm quyền phải có quyền ra lệnh tiêu huỷ hoặc xử lý hàng hoá xâm phạm, nhung những lệnh đó có thể bị xem xét lại theo thủ tục xét xử
Các nước phải qui định các thủ tục và hình phạt hình sự để áp dụng ít nhất là cho những trường hợp cố ý giả mạo nhãn hiệu hàng hoá và bản quyền với qui mô thương mại Các hình phạt hình sự này phải bao gồm cả hình phạt
Trang 23tù, phạt tiền hoặc cả hai loại hình phạt đủ để ngan chặn hành vi xâm phạm tương đưong với các tội phạm khác có mức độ nghiêm trọng tương ứng Ngoài những hành vi xâm phạm bán quyền và nhãn hiệu hàng hoá, các nước
có thể qui định các hình phạt hình sự đối với các hành vi xâm phạm nếu hành
vi xâm phạm đó là do cố ý và với qui mồ thương mại
* T h ứ ba: v ấ n đề ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp:
Theo Hiệp định TRIPS các nước phải công bố các văn bản qui phạm pháp luật và các quyết định hành chính hoặc xét xử cuối cùng có hiệu lực áp dụng chung đối với các đối tượng của Hiệp định TRIPS Các nước cũng phải thông báo các văn bản pháp luật và các quyết định hành chính hoặc xét xử cuối cùng áp dụng chung đối với các đối tượng cho Hội đồng TRIPS để giúp Hội đổng đánh giá việc thi hành Hiệp định
Cư chế giải quyết tranh chấp trong Thoả thuận về các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp của GATT 1994 (điều XXII-XXIII) được áp dụng cho Hiệp định TRIPS, nếu không có qui định cụ thể khác trong Hiệp định Tuy nhiên, các qui định của GATT 1994 (điểm lb và lc điều XXIII) không
áp dụng cho hiệp định TRIPS trong thời hạn 5 năm
* T hứ tư: Các qui định chuyển tiếp:
Tất cả các nước có một năm tính từ ngày WTO có hiệu lực để thi hành các quy định của Hiệp định TRIPS
Các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi
từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường tự CỈO và đang tiến hành cải tổ cơ cấu hệ thống sở hữu trí tuệ và gặp những khó khăn đặc biệt trong việc soạn thảo các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ, được phép hoãn thi hành trong vòng 4 năm tiếp theo, trừ các quy định về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia
Các nước đang phát triển có thêm 5 năm nữa để thực hiện các cam kết
về patent của TRIPS trong những lĩnh vực mà các nưóc này không có quy định về bảo hộ patent sản phẩm vào ngày áp dụng Hiệp định TRIPS (chẳng hạn như đối với dược phẩm và hoá chất nông nghiệp ở một số nước đang phát triển)
Trang 24Các nước kém phát triển có thời hạn 10 năm kể từ ngày áp dụng Hiệp định TRIPS để thi hành các cam kết của Hiệp định TRIPS (trừ các quy định
về đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc) và có thể được gia hạn tiếp Bởi vì tất cả các nước có ít nhất một năm chuyển tiếp để thi hành các cam kết của Hiệp định TRIPS, thời hạn chuyển tiếp dành cho các nước kém phát triển là
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO là tổ chức quốc tế liên chính phủ
có trụ sở tại Geneva Thuỵ sỹ Đây là một trong 16 tổ chức chuyên môn của
hệ thống các tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc WIPO chịu trách nhiệm đối với việc xúc tiến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên toàn cầu thông qua các hoạt động hợp tác giữa các quốc gia, và là tổ chức quốc tế chịu trách nhiệm quản lý các điều ước quốc tế đa biên khác nhau liên quan đến các khía cạnh pháp lý và hành chính của sở hữu trí tuệ Đã có hơn 160 quốc gia là thành viên phải tuân theo các qui định của các Hiệp định của WIPO Ngoài ra, có khoảng 10 quốc gia khác tuy chưa phải là thành viên WIPO nhưng đã tự nguyện cam kết tuân theo các hiệp định của WIPO Hệ thống các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ của WIPO khá lớn: Công ước Paris 1883 về bảo
hộ sở hữu công nghiệp (được xem xét lại năm 1967 và sửa đổi lần cuối năm 1979), công ước Berne 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật (được xem xét lại năm 1971 và sửa đổi năm 1979), Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, người đạo diễn các chương trình phát thanh, Hiệp định về sở hữu trí tuệ Hên quan đến mạch tích hợp (IPIC) được thông qua tại Washington 1989
Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo các công ước, hiệp định trên vẫn chưa đầy đủ, chưa toàn diện về nhiều phương diện cơ bản Chẳng hạn, thành viên của các Công ước này rất đa dạng, nhưng không bao gồm hết tất cả các nước thành viên của WTO Thêm nữa một số qui chuẩn chung, quan trọng như thời hạn bảo hộ sáng chế chưa được qui định Đó là lý cỉo tại sao cần phải xây dựng một cơ chế phù hợp và hữu hiệu nhằm thực thi
Trang 25quyền sở hữu trí tuệ và giải quyết nhanh chóng các tranh chấp phát sinh giữa các nước trong lĩnh vực này.
Từ thực tế nêu trên, phát sinh nhu cầu cần thiết phải qui định một hệ thống các quyền và nghĩa vụ trong một công cụ quốc tế đa phương có hiệu lực pháp lý bắt buộc nhằm không những chỉ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, mà còn giảm thiểu những hạn chế, lệch lạc trong thương mại quốc tế nói chung
Do vậy, WTO (Tổ chức thương mại thế giới là tổ chức quốc tế chỉ hoạt động chuyên về các vấn đề liên quan đến các qui tắc của thương mại toàn cầu liên quốc gia) đã có Hiệp định TRIPS, bổ sung một số lượng đáng kể các tiêu chuẩn bảo hộ mới hoặc tiêu chuẩn bảo hộ cao hơn các điều ước quốc tế của WIPO
Nghiên cứu so sánh nội dung của TRIPS và các Hiệp định của WIPO
về sở hữu trí tuệ, chúng ta nhận thấy:
T h ứ n h ất: Các qui định tương ứng trong các Điều ước quốc tế của WIPO về sở hữu trí tuệ có điểm tương đồng và có điểm khác biệt cơ bán với các qui định của Hiệp định TRIPS và đặc biệt có rất nhiều điểm mới hoặc chưa có trong các Điều ước quốc tế này đã được đưa vào TRIPS Cụ thể:
a Vê các qui định chunq và các nguyên tắc cơ bản:
- Ở phần I của TRIPS ( gồm 8 điều ) qui định các qui phạm chung và cácnguyên tắc cơ bản về sở hữu trí tuệ
- Các tiêu chuẩn nằm trong phẩn I của TRIPS - nguyên tắc quốc tịch - đó cũng là các tiêu chuẩn tương tự đã được ghi nhận trong Công ước Paris, Công ước Berne, Công ước Rome
- Các điều ước quốc tế nói trên đã định nghĩa thuật ngữ “sở hữu trí tuệ”giống nhau, đó là “tất cả các loại sở hữu trí tuệ thuộc đối tượng từ mục 1đến mục 2 phần II của TRIPS” Các lĩnh vực khác của sở hĩai trí tuệ(chẳng hạn các giải pháp hữu ích) không thuộc phạm vi điều chỉnh của TRIPS
- TRIPS đặt ra yêu cầu sử dụng “đãi ngộ quốc gia” (NT) và “đãi ngộ tối huệ quốc” (MFN) Như đã biết qui định NT được Công ước Paris, Công ước Berne coi là nguyên tắc cơ bản của sở hữu trí tuệ TRIPS tiếp nhận
NT theo đúng tinh thần của Công ước Paris và Công ước Beme Ngoài ra
Trang 26TRIPS còn bổ sung nguyên tắc MFN với tư cách là nguyên tắc cơ bản của TRIPS Trong khi đó Công ước Paris và Công ước Berne thì không có qui định về MFN Tuy vậy TRIPS cũng đặt ra ngoại lệ đối với nguyên tắc MFN, theo đó các quyền liên quan không đề cập trong TRIPS trong những điều kiện nhất định được bảo hộ theo những thoả thuận quốc tế khác sẽ lập tức được các nước thành viên TRIPS khác thụ hưởng nếu nó đưa lại lợi ích cho các nước này.
- TRIPS còn qui định các nguyên tắc NT, MFN sẽ không áp dụng đối với các thủ tục do các điều ước quốc tế đa biên được ký kết theo tinh thần của WIPO liên quan đến việc thủ đắc hoặc duy trì quyền sở hữu trí tuệ
- TRIPS đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên thông qua các biện pháp nhằm báo hộ sức khoẻ công chúng và nguồn dinh dưỡng, khuyến khích phát triển quyền sở hữu trí tuệ vì lợi ích công cộng cũng như ngăn ngừa
sự lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ và vận dụng thực tiễn nhằm hạn chế vô
lý thương mại hoặc hiệu quả thiết thực của việc chuyển giao công nghệ quốc tế Cả công ước Paris và công ước Berne đều có chứa đựng những tuyên bố tương tự nhưng không có văn bản nào khẳng định các quốc gia kết ước có thể áp dụng các biện pháp phù hợp với yêu cầu của công ước Paris hoặc Berne như được ghi nhận trong TRIPS để ngăn ngừa việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ
b V ề quyền tác giả và các quyền liên quan:
Phẩn I của TRIPS được áp dụng cho cả các quyền tác giả và quyền liên quan Các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan (ngoài các quy định chung ở phần I) được quy định trong 6 điều (từ điểu 9 đến điều 14) Ở đây có thể thấy sự khác biệt trong từ dùng để chỉ cùng một khái niệm TRIPS dùng từ “related rights” (quyền liên quan) để chỉ khái niệm “neibouring lights” (quyền kề cộn) vãn thường được WIPO sử dụng trong các tài liệu của mình, đó là quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất chương trình và quyền của các tổ chức phát sóng
Điều 10 TRIPS đặt ra vấn đề bảo hộ chương trình máy tính và các sưu tập dữ liệu Theo đó các chương trình máy tính phải được bảo hộ như tác phẩm văn học đã được Công ước Berne bảo hộ Công ước Berne không nhắc
rõ tên chương trình máy tính, mà chỉ nói chng là mọi sản phẩm trong lĩnh
Trang 27vực văn học, khoa học và nghệ thuật không kể chúng tồn tại dưới dạng hoặc hình thức thể hiện như thế nào.
Đối với các sư tập dữ liêu, Điều 10 khoản 2 TRIPS có qui định được bảo hộ như chương trình máy tính theo qui định của quyền tác giả
Một điểm mới nữa của Hiệp định TRIPS, đó là quyền cho thuê, quyền này không có trong qui định của Công ước Berne
Ngoài ra, khi nghiên cứu về thời hạn bảo hộ theo Điều 12 Hiệp định TRIPS, chúng ta thấy trong một số trường hợp thời hạn bảo hộ tối thiểu theo TRIPS sẽ dài hơn thời hạn bảo hộ tối thiểu theo Công ước Berne (nhất là khi
sử dụng quy định về “công bố bản sao hợp pháp tác phẩm cho công chúng”);
và cũng có trường hợp thời hạn bảo hộ tối thiểu theo công ước Berne có thể dài hơn thời hạn bảo hộ tối thiểu theo TRIPS (nhất là khi trình diễn tác phẩm cho công chúng)
- Đối với người biểu diễn:
Hiệp định TRIPS quy định người biểu diễn được ngăn cấm các hành vi ghi âm buổi biểu diễn trực tiếp (live performance) chưa được ghi âm (điều 14 khoản 1), trong khi đó điều 7.1 điểm b của công ước Rome lại báo hộ bất cứ chương trình biểu diễn nào
Đối với việc phát sóng Iruyền thông buổi biểu diễn đến công chúng thì qui định cuả Hiệp định TRIPS đặt ra phạm vi quyền bảo hộ rộng hơn qui định của Công ước Rome Quy định này không được đề cập đến trong công ước Rome, nhưng được qui định cụ thể tại Điều 14 khoản 4 TRIPS, do vậy, nghĩa vụ phát sinh từ quy định này của TRIPS là nghĩa vụ mới đối với những nước tham gia công ước Rome, và theo Điều 14 khoản 5 TRIPS thì thời hạn bảo hộ nhìn chung dài hơn thời hạn bảo hộ tương ứng của công ước Rome
c V ề nhãn hiệu thương mại.
TRIPS có định nghĩa (còn công ước Paris thì không có) các dấu hiệu
có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp khác, v ề khả năng được đăng ký và quyền ưu tiên, công ước Paris đặt ra khả năng được đăng ký nhãn hiệu và quyền ưu tiên chỉ đối với hàng hoá (cho dù nhãn hiệu dịch vụ cũng có thể được bảo hộ), trong khi đó TRIPS quy định khả năng đăng ký nhãn hiệu cả hàng hoá
và dịch vụ cũng như quyển ưu tiên của hai lĩnh vực thương mại đó v ề thời
Trang 28hạn báo hộ, TRIPS quy định thời hạn ban đầu và thời hạn của mỗi lần gia hạn ỉà không ít hơn 7 năm Trong khi đó công ước Paris không quy định rõ ràng như vậy.
d C hí dẫn địa lý:
Điều 22 TRIPS có định nghĩa chỉ dẫn địa lý Trong khi đó, công ước Paris không có định nghĩa thế nào là chỉ dẫn địa mà lại sử dụng hai thuật ngũ' khác nhau là “chỉ dẫn nguồn gốc” và “tên gọi xuất xứ” mà cả hai thuật ngữ này cũng không được định nghĩa TRIPS đặt ra vấn đề bảo hộ bổ sung đối với rượu vang và nước hoa không xuất xứ tại nơi được ghi trong chỉ dẫn địa
lý Trong khi đó công ước Paris không có quy định này
đ V ề thiết k ế kiểu dánq công nạhiệp
Hiệp định TRIPS và công ước Paris đều đặt ra yêu cáu phải bảo hộ thiết k ế kiểu dáng công nghiệp, tuy vậy điều kiện bảo hộ của T R IP S 'có khác với quy định của công ước Paris TRIPS còn có quy định đặc biệt về bảo hộ thiết k ế sản phẩm dệt may v ề thời hạn bảo hộ, TRIPS quy định không ít hơn
10 năm, trong khi đó công ƯỚC Paris lại không quy định thời hạn này
e V ề sáng chế:
Nhiều quy định ở TRIPS vể phần này không có trong công ước Paris
Ví dụ như thời hạn bảo hộ sáng chế Ngoài ra, TRIPS còn đặt ra việc bảo hộ giống củy trồng mới bằng một hệ thống văn bằng bảo hộ hoặc bằng các quy định của pháp luật trong nước phù hợp với yêu cầu quốc tế
g Bảo hộ thiết k ế b ố trí m ạch tích hợp:
Việc bảo hộ các thiết kế bố trí mạch tích hợp theo Hiệp định TRIPS được xây dựng trên cơ sở các qui định của Hiệp định Washington về sở hữu trí tuệ đối với mạch lích hợp dưới sự bảo trợ của WIPO Hiệp định này được
ký năm 1989 nhưng đến nay (2002) vãn chưa có hiệu lực thi hành So với Hiệp định Wasinhton, Hiệp định TRIPS đã bổ sung thêm một số điều khoản liên quan, đặc biệt qui định thời hạn bảo hộ thiết k ế bố trí mạch tích hợp ít nhất là 10 năm
Trang 29h v ề các thônẹ tin không được tiết lộ:
Công ước Paris không có quy định này, ngoại trừ ở điều 10 bis có nói đến việc chống mọi hành vi cạnh tranh trái với thực tiễn lành mạnh về hoạt động thương mại và công nghiệp
Thứ hai: Hiệp định TRIPS luôn có mối quan hệ gắn bó và chặt chẽ với
các điều ước quốc tế của WIPO
Như đã trình bày trên đây, Hiệp định TRIPS được xây dựng trên cơ sở các Công ước quốc tế hiện hành có liên quan đến sở hữu trí tuệ như Công ước Paris (1967) về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Công ước Beme (1971) về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật, Công ước Rome (1961) về bảo hộ người trình diễn, người sản xuất băng đĩa ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình, Hiệp định về sở hữu trí tuệ liên quan đến mạch tổ hợp (1989)
ý tưởng cơ bản của TRIPS là không đưa ra toàn bộ các quy định mới mà sử dụng những Công ước đã có về quyền sở hữu trí tuệ làm khởi điểm Vì vậy, TRIPS có mối quan hệ rất gắn bó và chặt chẽ với các Công ước này
Mối quan hệ đó được thể hiện qua một số điều của Hiệp định Cụ thể:
- Đối với phần 1 của TRIPS được áp dụng cho cả quyền tác giả và quyền liên quan Các vấn đề này được qui định trong 6 điều (từ Điều 9 đến Điều
14).
Điều 9 Hiệp định TRIPS qui định: "Các thành viên phải tuân thủ các điều từ Điều 1 đến 21 của Công ước Berne năm 1971 và Phụ lục đính kèm theo Công ước đó Tuy vậy, các thành viên không có quyền hoặc nghĩa vụ theo Hiệp định này đối với các quyền được qui định tại hoặc phát sinh từ Điều 6bis của Công ước đó"
Đối với các phần II.III.và IV của Hiệp định này, các Thành viên phải tuân theo các Điều từ 1 đến 12 và Điều 19 của Công ước Paris (1967)
Không một quy định nào trong các phần từ I đến IV của Hiệp định này làm ảnh hưởng đến các nghĩa vụ đang tồn tại mà các Thành viên có thể có đối với nhau theo Công ước Paris, Công ước Berne, Công ước Rome và Hiệp ước về quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp
Riêng về mối quan hệ giữa Hiệp định TRIPS với Công ước Berne và Công ước Rome về quyền tác giả và các quyền có liên quan, các nước tham
Trang 30gia vẫn bị ràng buộc bởi những quy định của Công ước Berne và Công ước Rome ngay cả sau khi trở thành Thành viên của TRIPS Các nước Thành viên của TRIPS không bị yêu cầu phải tham gia Công ước Berne, nhưng thừa nhận những nghĩa vụ của Công ước này (trừ điều 6 bis) Công ước Rome không được đưa vào TRIPS mà chỉ được đề cập ở một số quy định nhất định;
ví dụ: nguyên tắc đối xử quốc gia được thừa nhận, nhưng chỉ đối với những quyền được quy định trong Hiệp định TRIPS Điều này dẫn đến tình trạng là
có những nước đồng thời là Thành viên của TRIPS, Công ước Berne và Công ước Rome; song cũng có những nước là Thành viên của TRIPS mà không phải là Thành viên của Công ước Berne và Công ước Rome, nên chỉ phải tuân thủ những quy định của hai Công ước này được TRIPS đề cập tới
Tóm lại, Hiệp định TRIPS là một trong những kết quả quan trọng nhất của Vòng đàm phán Ưrugoay về Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT Có thể coi đây là thoả thuận về sở hữu trí tuệ toàn diện đầu tiên được ký kết bởi hầu hết các quốc gia tham gia quan hệ thương mại quốc tế nhằm thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu đối với hầu hết các loại quyền sỏ' hữu trí tuệ (cả các qui định về nội dung và các qui định về thực thi)
Việc nghiên cứu một cách toàn diện và thấu đáo các khái niệm cơ bản, các nguyên tắc chung, các nội dung của Hiệp định TRIPS về lĩnh vực sở hữu
trí tu ệ Iron g k h u ô n k h ổ WTO n h ằm p hụ c vụ c h o q u á trình h ộ i n hập k in h tế
quốc tế của Việt nam trong giai đoạn hiện nay
II MỨC ĐỘ TƯƠNG THÍCH CỦA C Á C CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT
C Ó LIÊN QUAN CỦA VIỆT NAM VỚI HIỆP ĐỊNH TRIPS:
ở Việt nam quyền sở hữu trí tuệ là lĩnh vực mới mẻ và đáy phức tạp
Ngay cả thuật ngũ’ “quyền sỏ hữu trí tuệ” cũng mới chỉ được ghi nhận chính
thức ở nước ta từ năm 1995 cùng với việc ban hành Bộ luật dân sự (BLDS).
Tuy nhiên, phù hợp với bản chất của Nhà nước và chế độ mới cũng như phù hợp với sự phát triển của các quan hệ xã hội thì ý tưởng về việc bảo
hộ sự sáng tạo của các nhà trí thức đã được hình thành ngay từ Hiến pháp
1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và sau này được tiếp tục ghi nhận ngày càng rõ hơn ở các bản Hiến pháp 1959,
1980, 1992 Điều 60 Hiến pháp 1992 khẳng định:
Trang 31“Công dân có quyền nqhiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sán ạ kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sảmỉ tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham qia các hoạt độ n ẹ văn hoá khác Nhà nước bảo hộ quyền tác qiả, quyền sở hữu côn ẹ nghiệp
Tuy nhiên, các qui định trong Hiến pháp thường mang tính khái quát rất cao, rất khó thực hiện nếu không có các văn bản pháp luật chuyên biệt khác cụ thể và chi tiết hoá Do vậy, từ năm 1981 đến nay nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản luật và dưới luật để chi tiết hoá các qui định bảo
hộ có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ Có thể nói trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, nhà nước ta đã xây dụng được một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh
để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này
Hiện nay, Việt nam đã tham gia một số Hiệp định của WIPO, đó là Công ước Paris 1883 về sở hữu công nghiệp, Thoả ước Madrit 1891 về đăng
ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá, Công ước Stockhom về thành lập WIPO và Hiệp ước về bằng sáng chế 1970 Hàng loạt văn kiện khác của WIPO, cũng như bản thân TRIPS Việt nam chưa tham gia Tuy vậy, Việt nam có Bộ luật dân sự và các văn bản dưới luật qui định khá đầy đủ và đáp ứng đa số các yêu cầu mà TRIPS đặt ra đối với các nước thành viên
Nghiên cứu so sánh các qui định của TRIPS và các qui định của pháp luật Việt nam về quyền sở hữu trí tuệ, chúng ta thây, một số qui định của pháp luật Việt nam còn thiếu hoặc có qui định nhưng chưa rõ ràng Cụ thể:
1 Về c á c qui định chung và c á c nguyên tắ c cơ bản:
- Phần I TRIPS qui định các qui định chung và các nguyên tắc cơ bản về
sở hữu trí tuệ Theo qui định của phần ỉ TRIPS, nguyên tắc quốc tịch được coi là nguyên tắc cơ bản về sở hữu trí tuệ Qui chế đãi ngộ quốc gia (NT), qui chế đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) phải được sử dụng với tính cách là các qui chế pháp lý cơ bản mà các quốc gia thành viên TRIPS phải tuân theo, trừ một số ngoại lệ nhất định theo các điều ước quốc tế đa biên hiện hành mà quốc gia thành viên TRIPS tham gia
- So sánh với qui định của pháp luật Việt nam về sở hữu trí tuệ cho thấy:
Thứ nhất: về cơ bản, pháp luật Việt nam đã có nhiều qui định phù họp
với qui định chung của TRIPS Tuy vậy, còn nhiều vấn đề chưa được qui
Trang 32định rõ như nguyên tắc quốc tịch trong bảo hộ sở hữu trí tuệ, chưa có điều khoản nào khẳng định Việt nam sẽ áp dụng qui chế MFN hay NT trong quan
hệ sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài mà chỉ nói chung là: “theo qui định của pháp luật Việt nam và các điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc tham gia” (điều 836, 837, 838 Bộ luật dân sự)
T h ứ hai: TRIPS đặt ra mối quan hệ chặt chẽ giữa TRIPS và các điều
ước quốc tế của WIPO, nhiều quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên TRIPS được xử lý theo các qui định của WIPO Trong khi đó Bộ luật dân sự
và các qui định khác của pháp luật Việt nam chưa đủ rõ hoặc chưa có các qui định tương tự (ví dụ qui định về bảo hộ thiết kế mạch tích hợp, về chương trình tín hiệu vệ tinh đã được mã hoá)
T h ứ ba: Pháp luật Việt nam chưa có những qui định ngoại lệ trong bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ như qui định của điều 3 khoản 1, điều 4, 5, 6, 8 của TRIPS Bộ luật dân sự chỉ có điều 749 về các tác phẩm không được bảo hộ, điều 760, 761 về giới hạn quyền tác giả, điều 787 về các đối tượng sở hữu công nghiệp không được nhà nước bảo hộ, và một số qui định khác với phạm
vi hẹp
T h ứ tư: pháp luật Việt nam không có định nghĩa thuật ngữ “sở hữu trí
tuệ” , “quyền tác giả”, các định nghĩa khác cũng chưa thật phù hợp với các định nghĩa trong TRIPS, chưa có định nghĩa và qui định thế nào là quyền kinh tế mà chỉ nói đến quyền tài sản (theo điều 188 Bộ luật dân sự), là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự kể cả quyền sở hữu trí tuệ
Trong khi đó Điều 1 khoản 2 TRIPS có định nghĩa “sở hữu trí tuệ là tất cả đối tượng sở hữu trí tuệ nêu tại các mục từ 1 đến 7 của phần II TRIPS” Phần II TRIPS liệt kê từ mục 1 đến 7 các đối tượng sau: bản quyền và các quyền liên quan, nhãn hiệu thương mại, chỉ dẫn địa lý, (kiểu dáng) thiết kế công nghiệp, patent, thiết k ế bố trí mạch tích hợp, các thông tin bí mật
2 C á c qui định liên quan đến quyền tá c giá và c á c quyền liên quan:
2.1 Quyền tác giả:
2.1.1 Đ ối tượnq của quyền tác ẹiả được bảo hộ:
Trang 33Theo Hiệp định TRIPS, dối tượng của quyền tác giá được bảo hộ cơ bản là trên cơ sở các qui định của Công ước Berne Ngoài ra, theo Điểu 10 TRIPS qui định các chương trình máy tính dù trong dạng mã nguồn hay mã máy đều phải được bảo hộ như tác phẩm viết theo Công ước Berne.
Theo pháp luật Việt nam, đối tượng của quyền tác giả được qui định tại Điều 747 BLDS và hướng dẫn tại Điều 4 Nghị định số 76/CP(29/l 1/1996) thì tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả phải là bản gốc, không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện, chất lượng của tác phẩm
Như vậy, pháp luật Việt nam cơ bản là phù hợp với các qui định của TRIPS Tuy nhiên, pháp luật Việt nam chưa có các điều khoản tương ứng với các qui định của TRIPS về báo hộ chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu Điểm quan trọng là các qui định của TRIPS về quyền tác giả liên quan đến Công ước Berne, mà Việt nam lại chưa tham gia Công ước này
2.1.2 Quyền củci tác giả, chủ sở hữu tác phẩm :
Các quyền được hưởng của tác giả, chủ sở hữu theo Hiệp định TRIPS gồm toàn bộ các quyền cơ bản trong Công ước Berne 1971 và các quyền này được áp dụng tương ứng cho chương trình máy tính (trừ quyền tinh thần) Ngoài ra, Điều 11 TRIPS còn bổ sung thêm quyền cho thuê, quyền này không có trong Công ước Berne
Theo pháp luật Việt nam các quyền trên được qui định trong BLDS, cụ thể:
- Đối với tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền nhân thân
Trang 34e Bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung tác phẩm.
+ Quyền tài sản:
a Được hưởnq nhuận bút;
b Được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng;
c Được hưởìMỊ lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức sau đây:
Xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh;
D ịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể;
Cho thuê.
d N hận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả, trừ trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ."
- Đ ối với tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm
Theo Điều 752 khoản 1 BLDS thì chủ thể này có các quyền nhân thânđối với tác phẩm mà mình là tác giả bao gồm:
- Đăt tên cho tác phẩm;
- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặcbút danh khi tác phẩm được công bố, phổ biến, sử dụng;
- Bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung tác phẩm
Điều 752 khoản 2 ghi nhận tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền tài sản đối với tác phẩm mà mình là tác giả Đó là:
- Được hưởng nhuận bút;
- Được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng;
- Nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả, trừ trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ
Các quyền trên của tác giả luôn được pháp luật Việt nam bảo hộ Tuy nhiên trong một số trường hợp pháp luật Việt nam còn qui định giới hạn quyền tác giả Giới hạn quyền tác giả được hiểu là quyền của các cá nhân, tổ
Trang 35chức được phép sử dụng tác phẩm đã công bố, phổ biến của người khác mà không phải xin phép, không phải trả thù lao nhưng phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm với điều kiện tác phẩm đó không bị cấm sao chụp
và việc sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh, không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm
Như vậy, pháp luật Việt nam qui định các quyền mà tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được hưởng cơ bản là phù hợp với TRIPS, nhưng có một điểm khác là pháp luật Việt nam qui định quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình là quyền nhân thân mà theo Hiệp định TRIPS đây là quyền tài sản
2.1.3 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả:
Vấn đề này được qui định tại Điều 12 Hiệp định TRIPS Theo pháp luật Việt nam thì thời hạn bảo hộ được qui định tại Điều 776 BLDS và Điều
- Đối với tác phẩm không rõ tác giả hoặc tác phẩm khuyết danh thì quyền tác giả thuộc Nhà nước; nếu trong thời hạn 50 năm, kể từ ngày tác phẩm được công bố lần đầu tiên mà xác định được tác giả, thì thời hạn bảo hộ quyền tác giả được tính từ ngày xác định được tác giả
Theo qui định đó, thời hạn bảo hộ quyền tác giả của pháp luật Việt nam có khác với qui định của TRIPS, trong nhiều trường hợp là dài hơn thời hạn qui định trong Hiệp định TRIPS
Trang 362.2 Các quyển Liên quan:
Điều 14 khoan 1 Hiệp định TRIPS qui định về các quyền của ngườibiểu diễn, Điều 14 khoản 2 qui định về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm,Điều 14 khoản 3 qui định quyền của các Tổ chức phát sóng
Theo pháp luật Việt nam:
Đ ối với nqười biểu diễn các quyển của họ được qui định tại Điều 775
BLDS:
- Được giới thiệu tên khi biểu diễn
- Được bảo hộ hình tượng biểu diễn không bị xuyên tạc
- Cho hoặc không cho người khác phát thanh, truyền hình trực tiếp chươngtrình biểu diễn của mình tại nơi đang biểu diễn, trừ trường hợp phátthanh, truyền hình có tính chất tường thuật những sự kiện thời sự hoặc nhằm mục đích sử dụng trong giảng dạy
- Cho hoặc không cho người khác ghi âm, ghi hình chương trình biểu diễn
Đ ối với tổ chức sản xuất bặng - đĩa âm thanh, băng - đĩa h ìn h, quyền
đối với sản phẩm của họ được quị định tại điều 777 BLDS:
- Cho hoặc không cho nhân bản, phát hành sản phẩm
- Hưởng lợi khi sản phẩm được sử dụng
Các quyền trên được bảo hộ trong thời hạn 50 năm, kể từ ngày đĩa âm thanh, băng-đĩa hình được phổ biến lần đầu tiên.Trong thời hạn bảo
băng-hộ, tổ chức được chuyển giao quyền của tổ chức sản xuất băng-đĩa âm thanh, băng - đĩa hình tiếp tục hưởng các quyền này cho đến khi hết thời hạn bảo hộ
Đ ối với tổ chức phát thanh, truyền hình, thì các quyền của tổ chức này
được qui định tại Điều 779 BLDS
Trang 37- Clio hoặc không cho làm các bản sao chương trình nhằm mục đích kinh doanh.
Các quyền của tổ chức phát thanh, truyền hình được báo hộ trong thời hạn 50 năm, kể từ ngày chương trình phát thanh, truyền hình được phát lần đầu tiên Trong thời hạn bảo hộ, tổ chức được chuyển giao quyền của tổ chức phát thanh, truyền hình được tiếp tục hưởng các quyền đó cho đến hết thời hạn bảo hộ
Qua các điều này cho thấy, pháp luật Việt nam không giống các điều khoản tương ứng với các qui định của TRIPS về quyển ghi và quyền truyền tới công chúng các chương trình phát thanh, truyền hình, qui định về quyền cho thuê bản ghi âm, qui định về quyền truyền tới công chúng chương trình biểu diễn các tác phẩm kịch, nhạc kịch, âm nhạc
Về thời hạn bảo hộ: Điều 14 khoản 5 của Hiệp định TRIPS qui định
về thời hạn bảo hộ đối với các quyền liên quan
Theo pháp luật Việt nam, thời hạn bảo hộ đối với tổ chức phát thanh, truyền hình được bảo hộ trong thời hạn là 50 năm kể từ ngày chương trình phát thanh, truyền hình được phát lần đầu tiên (TRIPS qui định ít nhất là 20 năm)
Như vây, pháp luật Viêt nam không có các qui định tương ứng với qui định của TRIPS về quyền liên quan, chưa có qui định về thời hạn bảo hộ đối với người biểu diễn (TRIPS qui định người biểu diễn được bảo hộ ít nhất là
50 năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà buổi biểu diễn được tiến hành)
3 C á c qui định liên quan đến quyền sỏ hữu công nghiệp:
- V ề nhãn hiệu thương mại:
Đối tượng này được qui định từ Điều 15 đến điều 21 TRIPS Pháp luật Việt nam qui định tại điều 785 BLDS, Điều 6 Nghị định 63/CP, Điều 1 điểm
4 Nghị định 0 6 /2 0 0 1/NĐ-CP cơ bản phù hợp với các yêu cầu của TRIPS về nhãn hiệu thương mại
- V ề chí dẫn địa lý:
Điều 22-24 TRIPS qui định khá chi tiết về chỉ dãn địa lý Pháp luật Việt nam theo Điều 10 Nghị định 54/ 2000/NĐ-CP đã qui định về tên gọi
Trang 38xuất xứ hàng hoá theo tinh thẩn của Công ước Paris 1967 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, có hẹp hơn qui định của TRIPS Ngoài ra, pháp luật Việt nam chưa có qui đinh đối với chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang, rượu mạnh, nước hoa.
- V ề thiết k ế kiểu dánẹ công nghiệp:
Điều 26, 27 TRIPS đặt ra một số qui định mới so với Công ước Paris
1967, trong khi đó pháp luật Việt nam theo Điều 784 BLDS, Điều 5 Nghị định 63/CP lại được xây dựng trên cơ sở Công ước Paris 1967, pháp luật Việt nam qui định không rõ ràng về bảo Ỉ1Ộ thiết kế kiểu dáng hàng dệt may, cũng như điều kiện bảo hộ các thiết kế kiểu dáng công nghiệp
- Vê sáng chế:
Được qui định tại Điều 27 - 34 TRIPS Theo pháp luật Việt nam, sáng chế được qui định tại Điều 782 BLDS, Điều 4 Nghị định 63/CP và Điều 1điểm 3 Nghị định 0 6 /2 0 0 1/NĐ-CP Đối chiếu các điều khoản này chúng tathấy pháp luật Việt nam đã có các qui định cơ bản phù hợp với TRIPS Tuy vậy, việc bảo vệ giống cây trồng mới không được bảo hộ theo hệ thống văn bằng sáng ch ế mà theo Nghị định số 13/2001/NĐ-CP ngày 20/4/2001 của Chính phủ về bảo hộ giống cây trồng mới
- V ề bảo hô các thiết k ế b ố trí mạch tích hợp: (1PIC):
Điều 35 - 38 TRIPS qui định khá chi tiết vấn đề này Pháp luật Việt nam chưa có qui định nào về bảo hộ IPIC theo qui định của TRIPS hoặc theo qui định của Hiệp định năm 1989 về IPIC
- Vê bảo hộ thông tin khônạ được tiết lộ:
Điều 39 TRIPS qui định khá cụ thể Vấn đề này ở Việt nam được qui định trong Điều 6 khoản 1 Nghị định 5 4/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2000 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dãn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp, cơ bản phù hợp với yêu cầu của TRIPS
- V ề thủ tục liên quan đến việc xác lập và duy trì các quyền sở hữu trí tuệ và thủ tục hành chính về huỷ bỏ hiệu lực quyền sở hữu trí tuệ.
Theo khoản 5 Điều 62 Hiệp định TRIPS, các quyết định hành chính cuối cùng liên quan đến thủ tục xác lập, và duy trì quyền sở hữu công
Trang 39nghiệp, thủ tục hành chính về huỷ bỏ hiệu lực quyền sở hữ trí tuệ, các thủ tục hành chính về việc phán đối, huy bỏ, đình chỉ hiệu lực quyền sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của các bên đều có thể bị xem xét lại tại cơ quan tư pháp (toà án) hoặc cơ quan tương đương với cơ quan tư pháp Tại Điều 32 Hiệp định TRIPS thì mọi qui định huỷ bỏ hoặc đình chỉ hiệu lực sáng chế đều có thể bị xem xél lai tại cơ quan tư pháp.
Theo pháp luật Việt nam, tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, thì quyết định xác lập, duy trì, huỷ bỏ hiệu lực quyền sở hữu công nghiệp và quyết định huỷ bỏ, đình chỉ hiệu lực quyền sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của các bên liên quan, cũng như mọi quyết định hành chính khác có thể bị kiện trước toà hành chính hoặc bị khiếu nại với cơ quan cấp trên trực tiếp của Cục sở hữu công nghiệp là Bộ khoa học, công nghệ và môi trường sau khi đã khiếu nại với Cục trưởng Cục sở hữu công nghiệp Tuy nhiên, quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ khoa học, công nghệ
và môi trường là quyết định cuối cùng về vấn đề tương ứng và sẽ không bị kiện trước toà hành chính
Như vậy, qui định của pháp luật Việt nam chưa phù hợp với qui định của TRIPS chúng ta cần cân nhắc để sửa đổi vấn đề này
4 C á c qui định liên quan đến thực thi quyền sỏ hữu trí tuệ và giải quyết tranh chap:
Vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPS được qui định từ Điều 41 đến 61 của Hiệp định Theo các qui định này, để thực thi quyền sở hữu trí tuệ Hiệp định đã sử dụng rất nhiều các biện pháp như: biện pháp dân sự, hành chính, hình sự, các biện pháp tạm thời và các biện pháp kiểm soát biên giới
Ớ Việt nam chưa có một văn bán chung thống nhất qui định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, mà các vấn đề này được qui định trong một số văn bản, cụ thể:
- Về biện pháp xử lý hành chính: có Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 6/3/1999 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hCru công nghiệp, Nghị định số 3 1/2001/NĐ-CP ngày 26/6/2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá thông tin
Trang 40- v é biện pháp xử lý hình sự: có Luật hình sự ngày 21/12/1999 (có hiệu lực ngày 1/7/2000) Trong đó có 3 điều luật: Điều 131 -Tội xâm phạm quyền tác giả Điều 170 - Tội vi phạm qui định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, hình phạt cao nhất là 7 năm tù, Điều 171 - Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với hình phạt có thể lên tới 3 năm tù Kèm theo hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung.
- Biện pháp khởi kiện dân sự hoặc hành chính: Quyền sở hữu trí tuệ là quyền dân sự của chủ thể, do vậy, khi các quyền này bị xâm phạm chủ thể quyền áp dụng Điều 12 BLDS để yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền dân sự cho mình Các chủ thể đó cũng có quyền yêu cầu giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính đối với các quyết định hành chính và vi phạm hành chính theo qui định tại Điểu 33 Nghị định số 76/CP và một số điều của Nghị định 63/CP
Qua các qui định trên, pháp luật Việt nam có nhiều điểm tương đổng với Hiệp định TRIPS, đổng thời còn nhiều điểm chưa phù hợp với qui định của TRIPS Luật Hải quan năm 2001 đã có một số qui định rất chung về thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới (mục 5 chương III) Tuy vậy, qui định này cũng cần tiếp tục được cụ thể hoá Việt nam đang xây dựng các văn bản liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong vi phạm quyền sở hữu trí tuệ Tuy vậy, qui trình tố tụng trong nước vẫn chưa đáp ứng các yêu cầu giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này
Tóm lại, việc so sánh một cách có hệ thống và toàn diện các qui định của Hiệp định TRIPS với các qui định của pháp luật Việt nam về quyền sở hữu trí tuệ, để từ đó tìm ra những điểm tương đồng và những điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt nam với TRIPS sẽ là cơ sở để chúng ta đưa ra các phương hướng và biên pháp để bổ sung, sửa đổi pháp luật Việt nam cho phù hợp với Hiệp định TRIPS và đồng thời cũng là cơ sở để hoàn thiện pháp luật Việt nam về sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay