Mỗi quốc gia, xuất phát từ chủ quyền quốc gia đối với dân cư trong phạm vi lãnh thổ và từ chức năng đối nội của Nhà nước áp dụng các nguyên tắc cụ thể về quốc tịch và quy định cụ thể các
Trang 1NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA QUÓC TỊCH VIỆT NAM
TRONG BÓI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TÉ
HÀ N ộ i -2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI* * « í*
TRẦN THU TRANG
Trang 2B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRÀN THƯ TRANG
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA QUỐC TỊCH VIỆT NAM
TRONG BÓI CẢNH HỘI NHẬP QUÓC TỂ
CHUYỀN NGÀNH: LUẬT QUÓC TẾ
MÃ SỐ: 6038 60 LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
TS BÙI XUÂN N H ự
TRUNG TÁM THÒNG TIN THƯ VIỆN TRUỒNG ĐẠI HỌC LUẬT H.À NỘ! ị PHÒNG BỌC _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _
HÀ N Ộ I-2 0 1 0
Trang 3Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới người thầy
đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, đó là TS Bùi Xuân Nhự - Trưởng khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội
Tôí cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy kiến thức cho tôi trong suốt khóa học, cảm ơn Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ luật học này
Sinh viên Trần Thu Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ Đ Ầ U 1
CHƯƠNG I NHỮNG VẮN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÈ QUỐC TỊCH 7
1.1 Khái niệm quốc tịch 7
1.1.1 Định nghĩa về Quốc tịch 7
1.1.2 Lịch sử của chế định quốc tịch 8
1.1.3 Đặc điểm của quốc tịc h 10
1.1.4 Ý nghĩa của quốc tịch 12
1.2 Sự ra đời và phát triển của chế định quốc tịch Việt Nam 14
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1975 14
1.2.2 Giai đoạn sau năm 1975 16
1.3 Luật Quốc tịch của một số quốc gia 19
1.3.1 Luật Quốc tịch của một số quốc gia quy định căn cứ để xác định quốc tịch 19
1.3.3 Một số quốc gia quy định về nguyên tắc hai hay nhiều quốc tịch 21
1.3.4 v ề cách thức hưởng quốc tịch 21
1.3.5 Xác định mất quốc tịch theo pháp luật một số nước 27
1.3.6 Thẩm quyền giải quyết cho việc nhập, trở lại, thôi, tước và hủy quốc tịch theo pháp luật của một số nước 28
1.3.7 Thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch theo pháp luật một số n ư ớ c 28
CHƯƠNG II NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM .30
2.1 Cơ sở, quá trình xây dựng Luật Quốc tịch hiện hành 30
2.1.1 Sự cần thiết sửa đổi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 30
2.1.2 Quá trình xây dựng Luật Quốc tịch Việt Nam hiện hành 37
2.2 Một số điểm mới của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 46
2.2.1 v ề vấn để gia nhập quốc tịch Việt Nam »,, 46
2.2.2 v ề trở lại quốc tịch Việt Nam .51
Trang 52.2.3 v ề căn cứ mất quốc tịch Việt Nam 56
2.2.4 v ề người không quốc tịc h 59
2.2.5 Quốc tịch của trẻ em 60
2.2.6 v ề người Việt Nam định cư ở nước ngoài 62
CHƯƠNG III THựC THI LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM TRONG ĐIÈƯ KIỆN HỘI NHẬP QUỐC T Ế 70
3.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về việc xây dựng và tổ chức thực hiện Luật Quốc tịch 70
3.2 Tổ chức thưc hiên Luât Quốc tich Viêt N am 71• t • V I • 3.2.1 Một số hướng hoàn thiện Luật Quốc tịch hiện nay 71
3.2.2 Các biện pháp tổ chức và điều kiện bảo đảm thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam hiện hành 80
KẾT LUẬN 84
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quốc tịch là một khái niệm chính trị - pháp lý và xã hội Pháp luật về quốc tịch là công cụ pháp lý, thông qua đó nhà nước thể hiện công quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế và quyền lực nhà nước đối với dân cư trong phạm vi lãnh thổ của mình Quốc tịch là căn cứ để xác định tập hợp các thành phần dân cư của một quốc gia, là cơ sở pháp lý quan trọng để quốc gia bảo hộ công dân nước mình ở nước ngoài Tuy vậy, trong những năm gần đây, tình trạng quốc tịch của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài ngày càng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp cả ở phương diện pháp lý và thực tiễn Với đặc điểm như vậy, quốc tịch được quan tâm, nghiên cứu và giải quyết ở nhiều cấp độ trong pháp luật thực định, khoa học pháp lý và thực tiễn
Việt Nam đang hội nhập khu vực và quốc tế như hiện nay, vấn đề đặt ra cho các cơ quan lập pháp, các nhà nghiên cứu về quốc tịch Việt Nam, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc tịch, tăng cường hom nữa về việc tìm hiểu kinh nghiệm của các nước trong khu vực, cũng như trên thế giới, để Luật quốc tịch Việt Nam được hoàn thiện, áp dụng khả thi hơn và góp phần đưa Việt Nam thực hiện hiệu quả việc hợp tác quốc tế và giải quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch
Luật Quốc tịch Việt Nam được Quốc Hội khóa X thông qua ngày 20/5/1998 (sau đây gọi là Luật Quốc tịch năm 1998) đã điều chỉnh tương đối toàn diện các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quốc tịch Việt Nam Sau hom 9 năm thực hiện, nhiều quy định của Luật Quốc tịch năm 1998 đã thực sự đi vào cuộc sống, phát huy vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng ừong việc xác định người có quốc tịch Việt Nam, quyết định việc cho nhập, cho thôi, cho trở lại quốc tịch Việt Nam, thực hiện chính sách bảo hộ của nhà nước ta đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài , đồng thời đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Tuy
Trang 7nhiên Luật Quốc tịch năm 1998 cũng đã bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập lớn Vì vậy, việc xây dựng và ban hành Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2008) là rất cần thiết và phù hợp, đạt được sự hoàn thiện hơn cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp Ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2009 về tổng thể, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có cấu trúc cơ bản như Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 (6 chương và 42 điều) nhưng những hạn chế của Luật Quốc tịch năm 1998 đã cơ bản được sửa đổi trong Luật Quốc tịch mới (đã khắc phục được khó khăn, vướng mắc như việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch “cứng”; một số điều kiện miễn và trở lại quốc tịch Việt Nam; việc đăng ký quốc tịch Tuy nhiên, vấn đề mới hơn cả là việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch nhưng mềm dẻo hơn.
Có thể nói, việc Quốc hội thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm
2008 đã quán triệt và thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quốc tịch, đồng thời là sự kế thừa và phát triển những giá trị của pháp luật quốc tịch Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm, qua đó nghiên cứu, áp dụng có chọn lọc những kinh nghiệm quốc tế để điều chỉnh vấn đề quốc tịch trong những năm gần đây, phù hợp với tình hình hội nhập
Với cách đặt vấn đề như trên, tác giả đã chọn đề tài: “Những điểm mới của quốc tịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.• • •
Trang 82 Tinh hình nghiên cứu đề tài
- Trên thế giới: từ đầu thế kỷ XX, trên thế giới đã có một số học giả
nghiên cứu về vấn đề này như E.M.Bochard, G.H.Hackworth, P.Weis,H.F.VanPanhuys, Yvon Lusuam và Pie Buren Đặc biệt, một số học giả Xô Viết như x.v Trec-nhi-tren-cô, X.V.Txep-sốp, X.V.Phi-lip-pốp cũng có đóng góp lớn trong lĩnh vực này
- Ở Việt Nam: vấn đề quốc tịch đã được khá nhiều học giả quan tâm
nghiên cứu dưới nhiều góc độ như PGS.TS Hà Hùng Cường, TS Bùi Xuân Nhự, TS Vũ Đức Long, TS Hoàng Phước Hiệp, TS Lê Mai Anh
Ngoài ra, phải kể đến khối lượng lớn các giáo trình của cơ sở đào tạo Luật trong và ngoài nước như Giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội, khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh, Giáo trình Tư pháp Quốc tế của hai tác giả Yvon Lusuam và Pie Burren (Pháp)
Mặc dù chưa có công trình nghiên cứu toàn diện về vấn đề quốc tịch và Luật Quốc tịch, nhưng các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam ừong lĩnh vực này đã góp phần quan ừọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc tịch Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu, tìm hiểu một số điểm mới của Luật Quốc tịch Việt Nam hiện hành, đồng thời, tìm hiểu Luật Quốc tịch một
số nước tiêu biểu của hệ thống pháp luật khác nhau ở khu vực và thế giới, qua
đó tác giả đánh giá và đưa ra khả năng áp dụng, thực thi Luật Quốc tịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 94 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
Quốc tịch là vấn đề phức tạp có liên quan đến nhiều nội dung khác nhau, việc nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều góc độ và đặc biệt xem xét những điểm mới của Luật Quốc tịch (sửa đổi, bổ sung năm 2008) lại càng phức tạp hơn Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu những điểm mới của Luật Quốc tịch hiện hành (chủ yếu là nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo và khả năng áp dụng ở Việt Nam) và tìm hiểu hệ thống pháp luật tiêu biểu trên thế giới về phương thức áp dụng quốc tịch Nội dung của đề tài tập trung vào việc nghiên cứu những vấn đề chính sau đây:
• Những vấn đề lý luận về quốc tịch như: khái niệm, nguyên tắc, đặc điểm, ý nghĩa của quốc tịch
• Những điểm mới của Luật Quốc tịch Việt Nam hiện hành
• Thực thi Luật Quốc tịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng họp phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt có sử dụng phương pháp so sánh, kết hợp với phân tích tổng hợp, thống kê, khái quát hóa
để làm rõ những nội dung và mục đích nghiên cứu của đề tài
6 Những đóng góp của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà lập pháp, các cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề quốc tịch trong hệ thống pháp luật của các nước cũng như Việt Nam, đồng thời giúp họ có cách nhìn sâu sắc hom về lĩnh vực này nhằm vận dụng kết quả nghiên cứu một cách hữu ích nhất Những đóng góp cụ thể của luận văn là một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật quốc tịch Việt Nam hiện hành
Trang 107 Kết cấu và nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương, phân bổ theo kết cấu như sau:
Chương I: Lý luận chung về quốc tịch
1.1 Khái niệm quốc tịch
1.1.1 Định nghĩa Quốc tịch
ỈA.2 Lịch sử của chế định quốc tịch
1.1.3 Đặc điểm của quốc tịch1.1.4 Ý nghĩa của quốc tịch1.2 Sự ra đời và phát triển của chế định quốc tịch Việt Nam
1.3 Luật quốc tịch của một số quốc gia
Chương n : Những điểm mới của Luật Quốc tịch Việt Nam hiện hành
2.1 Cơ sở, quá trình xây dựng Luật Quốc tịch hiện hành
2.1.1 Sự cần thiết sửa đổi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998
2.1.2 Quá trình xây dựng Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008
2.2 Một số điểm mới của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008
2.2.1 v ề vấn đề gia nhập quốc tịch Việt Nam;
2.2.2 v ề vấn đề trở lại quốc tịch Việt Nam;
Trang 11Chương III: Thực thi Luật Quốc tịch Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc xây dựng và thực hiện Luật Quốc tịch
3.2 Tổ chức thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam
3.2.1 Một số hướng hoàn thiện Luật Quốc tịch hiện nay
3.2.2 Các biện pháp tổ chức và điều kiện bảo đảm Luật Quốc tịch Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG L NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÈ QUỐC TỊCH
1.1 Khái niệm quốc tịch
thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước”
Các chuyên gia Mỹ cho rằng: “Quốc tịch là một đặc thù phát sinh từ sự kiện quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó”
Luật Quốc tịch Lào khẳng định: “Quốc tịch Lào thể hiện mối quan hệ pháp luật và chính trị, ràng buộc một người nào đỏ với Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và là cơ sở xác định người đó có địa vị là công dân Lào”
Trong khoa học pháp lý của Việt Nam hiện nay có một số quan điểm, một số cách tiếp cận chưa thống nhất về quốc tịch Có quan điểm cho rằng:
“quắc tịch là mối liên hệ chỉnh trị pháp lý, cỏ tỉnh ổn định lâu dài, bền vững
về mặt thời gian, không bị hạn chế về không gian, giữa một cả nhân cụ thể với một chỉnh quyền Nhà nước nhất định”.
Trong từ điển giải thích thuật ngữ Luật quốc tể (trường Đại học Luật
Hà Nội) lại định nghĩa: “quốc tịch là mối liên hệ pháp lý giữa một cá nhân với
một nhà nước nhất định biểu hiện ở tổng thế các quyền và nghĩa vụ của người
đó, được Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện" Theo cách định nghĩa
này, có hai điểm đáng lưu ý như sau về quốc tịch: i) Quốc tịch là mối quan hệ ràng buộc hai chiều giữa cá nhân và Nhà nước Sự hiện diện của Nhà nước cùng với công cụ pháp lý - pháp luật chính là sự đảm bảo quan trọng để duy
Trang 13trì mối quan hệ này; ii) Mối quan hệ ràng buộc hai chiều chỉ thực sự có ý nghĩa khi các quyền và nghĩa vụ qua lại giữa công dân và nhà nước được đảm bảo thực hiện trên thực tế thông qua sự tồn tại của quốc tịch.
Theo Luật Quốc tịch Việt Nam (Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam năm
2008): “quốc tịch Việt Nam thể hiện mồi quan hệ gắn bỏ giữa cá nhân với
Nhà nước CHXHCN Việt Nam, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đổi với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước CHXHCN Việt Nam với công dân Việt Nam” Như vậy, theo Luật quốc tịch
Việt Nam, quốc tịch được hiểu là mối quan hệ gắn bó giữa cá nhân với Nhà nước
Từ những sự phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về quốc tịch như sau: “quốc tịch là mối quan hệ pháp lý - chính trị có tính chất lâu dài, bền vững, ổn định cao về mặt thời gian, không bị giới hạn về mặt không gian giữa cá nhân cụ thể với chính quyền Nhà nước nhất định”
1.1.2 Lịch sử của chế định quốc tịch
Quốc tịch có mối quan hệ khăng khít, không tách rời với nhà nước, bởi vậy sự ra đời của nhà nước quyết định sự ra đời và tồn tại của quốc tịch và ngược lại sự ra đời và tồn tại của quốc tịch phản ánh công quyền nhà nước đó Bởi vậy, có quan điểm cho rằng phương tiện pháp lý (các văn bản quy phạm pháp luật) làm cho quốc tịch xuất hiện và mất đi
là không đúng Nguyên nhân làm quốc tịch xuất hiện là quá trình vận động xã hội và kết quả của sự vận động đó làm xuất hiện chính quyền nhà nước Sau đó, giai cấp thống trị mới ban hành pháp luật về quốc tịch nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với các cá nhân sống trên lãnh thổ quốc gia Để thực hiện và bảo vệ chủ quyền quốc gia, chính quyền nhà nước phải xác định những người thuộc về nhà nước mình, chịu
sự quản lý của nhà nước và được bảo vệ khi có sự can thiệp của nhà nước khác Bởi vậy, học thuyết Mác-LêNin về nhà nước và pháp luật đã coi sự
Trang 14phân chia dân cư theo lãnh thổ là một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước.
Khi nghiên cứu sự ra đời của nhà nước, Ăngghen khẳng định: “Bây giờ, cái có ý nghĩa quyết định không phải là việc thuộc về những tập đoàn cùng dòng máu nào mà là địa điểm cư trú, người ta không phải phân chia nhân dân mà là phân chia địa vực, về phương diện chính trị dân cư đã đơn thuần trở thành một vật phụ thuộc vào địa vực” (Trích tác phẩm Ănggen toàn tập - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia)
Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, “quốc tịch” là một khái niệm ra đời vào thời kỳ xã hội đang chuyển dần từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản Đây là một chế định mới được giai cấp tư sản đưa ra nhằm thu hút và “lôi kéo” quần chúng nhân dân ủng hộ cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập chính quyền mới của giai cấp tư sản Chế định này là một bước phát triển quan trọng trong lịch sử loài người, lần đầu tiên người dân sống trong một quốc gia đã có riêng cho mình một chế định mang tính pháp lý; đây cũng là lần đầu tiên họ được coi là “công dân” của một quốc gia chứ không phải là “thần dân” như trong xã hội phong kiến Tuy nhiên, ý nghĩa về sự bình đẳng mà giai cấp tư sản hứa mang lại cho họ khi đưa ra chế định quốc tịch thời bấy giờ cũng chỉ là sự bình đẳng mang tính hình thức Trên thực tế, chỉ có giai cấp tư sản - giai cấp nắm chính quyền mới được hưởng thụ một cách đầy đủ nhất sự bình đẳng và lợi ích mà chế định này mang lại Hiện nay, do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế - xã hội, cũng như sự gia tăng các học thuyết chính trị pháp lý về nhân sinh ngày càng nhiều, các giá trị nhân văn ngày càng được trân trọng hơn, thì con người - với vai trò là chủ thể cơ bản hình thàiih nên mồi quốc gia cũng được khẳng định
vị thế của mình Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là khái niệm công dân và địa
vị pháp lý của họ trong hệ thống pháp luật quốc gia đang được ghi nhận một cách đúng nghĩa nhất Lúc này, quốc tịch không còn là chế định mang tính
Trang 15hình thức, mà đã trở thành cách thức biểu đạt rõ nhất mối quan hệ hai chiều giữa một bên là nhà nước và một bên là công dân của nhà nước đó.
1.1.3 Đặc điểm của quốc tịch
Thứ nhất, quốc tịch là mối quan hệ pháp lý đặc biệt giữa một cá nhân
với một Nhà nước
Trong các mối quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước, quốc tịch là mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước và cá nhân, bởi vì, quốc tịch là mối quan hệ được thiết lập giữa Nhà nước và công dân - nhóm dân cư đông nhất trong thành phần dân cư của một quốc gia Ngoài công dân của nước mình, ữong lãnh thổ mỗi quốc gia còn có người nước ngoài sinh sống, làm việc Giữa người nước ngoài với quốc gia nơi họ sinh sống cũng có mối quan hệ nhất định, nhưng mối quan hệ đó không có tính chất đặc biệt như mối quan hệ giữa công dân và Nhà nước Mặc dù cũng được hưởng các quyền và nghĩa vụ nhất định nhưng các quyền và nghĩa vụ mà người nước ngoài được hưởng, một mặt, xuất phát từ những quy định của Luật quốc tế được xây dựng ừên cơ sở nguyên tắc có đi có lại trong quan hệ giữa các quốc gia; mặt khác, xuất phát
từ thực tiễn thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Do đó, phạm vi các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho người nước ngoài hẹp hơn so với phạm vi các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho người có quốc tịch nước đó Chỉ có công dân của nước
đó, xuất phát từ việc có quốc tịch quốc gia mới được hưởng các quyền công dân cơ bản như quyền bầu cử và ứng cử, quyền được Nhà nước bảo hộ
Thứ hai, quốc tịch được biểu hiện thông qua tổng thể các quyền và
nghĩa vụ tương ứng giữa công dân và Nhà nước và Nhà nước phải bảo đảm thực hiện bằng các công cụ khác nhau
Nói cách khác, nội dung của quốc tịch chính là các quyền và nghĩa vụ tương ứng giữa cá nhân và Nhà nước Các quyền và nghĩa vụ đó thể hiện nội dung mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước và Nhà nước phải đảm bảo thực hiện Khi xem xét nội dung quốc tịch, cần phải xem xét các quyền và nghĩa vụ
Trang 16đó trong một tổng thể nhất định chứ không xem xét từng quyền và nghĩa vụ riêng biệt.
Thử ba, quốc tịch có tính cá nhân.
Quốc tịch nhằm xác định mối quan hệ giữa một Nhà nước với một cá nhân công dân cụ thể Một trong những căn cứ quan trọng để xác định quốc tịch là quan hệ huyết thống và việc thay đổi quốc tịch có thể là hệ quả của một
số quan hệ khác như quan hệ hôn nhân, quan hệ nhận làm con nuôi, nhưng khi cá nhân công dân có quốc tịch, mối quan hệ quốc tịch chỉ được xác lập giữa chính công dân đó và Nhà nước Thông qua việc có quốc tịch, chính công dân đó sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ pháp lý, như các công dân khác mà Nhà nước quy định Khác với các quyền tài sản và nhân thân phi tài sản khác, quyền về quốc tịch là một quyền không thể chuyển nhượng, kế thừa Tính cá nhân của quốc tịch còn thể hiện ở việc thay đổi quốc tịch của cá nhân không làm thay đổi quốc tịch của những người thân khác có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ gia đình như bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em, trừ trường hợp trẻ vị thành niên
Thứ tư, quốc tịch có tính bền vững, ổn định theo thời gian, không bị
hạn chế bởi không gian
v ề bản chất, mối quan hệ giữa công dân và Nhà nước mang tính bền
vững vì một Nhà nước không thể tồn tại nếu không có cư dân của mình Ngược lại, sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân phải được đặt trong một mối quan hệ gắn bó với một Nhà nước nhất định Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong xã hội có giai cấp, Nhà nước luôn luôn tồn tại, vì vậy, luôn luôn tồn tại mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước, v ề pháp lý, tính bền vững của quốc tịch thực chất là sự bảo đảm quyền có quốc tịch của cá nhân Pháp luật của các nước hầu hết đều quy định công dân nước mình không bị tước quốc tịch một cách độc đoán (ví dụ: Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam, Điều 2 Luật quốc tịch Vương Quốc Campuchia), trừ trường hợp đặc
Trang 17biệt như có hành động gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập chính trị
và uy tín của quốc gia mà mình mang quốc tịch
về mặt thời gian, quốc tịch của một cá nhân không thay đổi kể từ khi
cá nhân đó được hưởng quốc tịch bằng nhiều cách thức khác nhau (do sinh ra, xin nhập quốc tịch, do kết hôn, do nhận con nuôi ) cho tới khi cá nhân đó mất quốc tịch (do xin thôi, do đương nhiên mất quốc tịch, do tước quốc tịch ) Khi một công dân phạm tội, trong thời gian thụ án, bản thân công dân không thể thi hành một số quyền và nghĩa vụ công dân Điều đó không đồng nghĩa với việc công dân bị mất quốc tịch Mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước vẫn tồn tại và công dân đó đang phải thi hành bản án của cơ quan xét xử của Nhà nước
về mặt không gian, quốc tịch của công dân không thay đổi cho dù công dân đó ở trong hay ngoài lãnh thổ quốc gia mình mang quốc tịch Do điều kiện sinh sống, học tập, công tác, kinh doanh ở nước ngoài, công dân không thể thực hiện được một số quyền và nghĩa vụ công dân của mình (công dân Việt Nam ở nước ngoài chưa có điều kiện thực hiện quyền bầu cử, cũng như chưa có điều kiện thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với Nhà nước Việt Nam) Tuy nhiên, mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước không mất đi
1.1.4 Ỷ nghĩa của quốc tịch
Quốc tịch luôn có ý nghĩa về chính trị - pháp lý và xã hội không chỉ đối với cá nhân mà còn đối vói Nhà nước
Trước hết, đối với cá nhân, quyền có quốc tịch là quyền nhân thân của mỗi con người được pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia ghi nhận: “Ai cũng có quyền có quốc tịch Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán” Điều 15 khoản 1, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948: “Mọi người đều có quyền có một quốc tịch” Ngoài ra, nhiều Công ước cũng khẳng định quyền có quốc tịch của cá nhân như Công ước về ỉoại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1963 (Điều 5, Khoản d, Mục III), Công ước về các quyền dân sự chính
Trang 18trị năm 1966 (Điều 24) Luật quốc tịch của các nước cũng đã ghi nhận quyền
có quốc tịch như Điều 1 Luật quốc tịch Liên bang Nga năm 1993; Điều 9 Luật Quốc tịch của Trung Quốc; Điều 15 Luật Quốc tịch Hàn Quốc
Đề cao ý nghĩa của quốc tịch đối với mỗi cá nhân, nhiều quốc gia đã ghi nhận thành nguyên tắc: việc kết hôn, ly hôn, huỷ hôn với người nước ngoài không làm thay đổi quốc tịch, hoặc việc thay đổi quốc tịch của vợ hoặc chồng hay cha, mẹ, con không ảnh hưởng tới quốc tịch của những người thân
Việc có quốc tịch của một Nhà nước là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định địa vị pháp lý của cá nhân trong một Nhà nước, là cơ sở để cá nhân
đó được hưởng các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội quan trọng nhất mà pháp luật mỗi nước quy định Khi một cá nhân có quốc tịch của một Nhà nước, cá nhân có quyền định cư và sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia đó về nguyên tắc, Nhà nước không trục xuất công dân mình vì bất kỳ lý
do gì, trong khi đó Nhà nước có thể trục xuất người nước ngoài nếu vi phạm pháp luật Nhà nước đó Bên cạnh đó Nhà nước cũng không dẫn độ công dân nước mình cho nước khác Quốc tịch còn là căn cứ và điều kiện để cá nhân được hưởng quyền bảo hộ ngoại giao và bảo hộ lãnh sự của Nhà nước mà cá nhân đó mang quốc tịch
Ngoài ra, quốc tịch còn có ý nghĩa là cơ sở pháp lý quan trọng để công dân các quốc gia là thành viên các điều ước quốc tế song phương cũng như đa phương về quyền và nghĩa vụ công dân (như các Hiệp định lãnh sự, các Hiệp định tương trợ tư pháp ) đang cư trú trên lãnh thổ quốc gia thành viên khác được hưởng các quyền mà công dân các quốc gia không phải là thành viên của các điều ước đó không được hưởng như quyền định cư, quyền cư trú
Đối với mỗi quốc gia, quốc tịch cũng có ý nghĩa rất quan trọng Chủ quyền quốc gia đối với dân cư được thể hiện thông qua việc Nhà nước quy định các nguyên tắc về quốc tịch, các căn cứ để xác định quốc tịch, các trường hợp mất quốc tịch, thẩm quyền giải quyết vấn đề quốc tịch Điều 1 Công ước
Lahay 1930 về xung đột luật quốc tịch khẳng định: “Mỗi nước tự qưy định
Trang 19cho mình, ai là công dân nước mình Mỗi quốc gia, xuất phát từ chủ quyền quốc gia đối với dân cư trong phạm vi lãnh thổ và từ chức năng đối nội của Nhà nước áp dụng các nguyên tắc cụ thể về quốc tịch và quy định cụ thể các căn cứ để xác định quốc tịch của một người do sinh ra hoặc do xin nhập quốc tịch sao cho phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia.
Quốc tịch còn là căn cứ và điều kiện để Nhà nước thực hiện việc bảo hộ đối với công dân của mình ở nước ngoài Mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước mà công dân mang quốc tịch có tính ổn định, bền vững và không bị hạn chế về mặt không gian Tính bền vững của mối quan hệ này phát sinh trên cơ
sở quyền tài phán nhân thân (personal jurisdiction), có nghĩa là quốc gia có
quyền tải phán đối với công dân của mình dù người đó đang ở ữong hay ngoài lãnh thổ quốc gia Vì vậy, khi công dân của một Nhà nước định cư hoặc làm ăn sinh sống ở nước ngoài, họ vẫn có mối quan hệ với Nhà nước của mình thông qua mối quan hệ quốc tịch Trên cơ sở đó, Nhà nước sẽ trợ giúp
và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân nước mình khi bị vi phạm
Quốc tịch cũng là cơ sở để phân biệt ranh giới chủ quyền quốc gia đối với dân cư để từ đó xác định địa vị pháp lý khác nhau giữa công dân nước này với nước khác
1.2 Sự ra đời và phát triển của chể định quốc tịch Việt Nam
Pháp luật quốc tịch hình thành và phát triển gắn liền với tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam được khái quát ở hai giai đoạn: trước và sau năm 1975
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1975
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương tạm thời áp dụng những quy định của pháp luật cũ (nội dung không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa), cụ thể
là Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã khẩn trương ban hành những văn bản pháp luật mới, trong đó
Trang 20- sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945, quy định những ai là công dân Việt Nam (tức là có quốc tịch Việt Nam) và những người nào bị mất quốc tịch Việt Nam, thể thức tước quốc tịch Việt Nam của những người không xứng đáng;
- Sắc lệnh số 73/SL ngày 7/12/1945 quy định điều kiện mà người ngoại quốc xin gia nhập quốc tịch Việt Nam;
- Sắc lệnh số 25/SL ngày 25/2/1946 bổ sung sắc lệnh số 53/SL về trường hợp người đàn bà Việt Nam lấy chồng ngoại quốc và đàn bà ngoại quốc lấy chồng Việt Nam;
- Sắc lệnh số 215/SL ngày 20/8/1948 quy định những quyền lợi đặc biệt của những người ngoại quốc đã giúp vào công việc kháng chiến của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
* về việc có quốc tịch Việt Nam
Theo Điều 2 sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945, cá nhân có quốc tịch Việt Nam được quy định:
(1) Cha là công dân Việt Nam;
(2) Cha không rõ là ai hoặc không thuộc quốc tịch nào mà mẹ là công dân Việt Nam;
(3) Đẻ trên lãnh thổ nước Việt Nam mà cha mẹ không rõ là ai hay không thuộc quốc tịch nào
Điều 1 Sắc lệnh 73/SL ngày 7/12/1975 quy định về việc nhập quốc tịch Việt Nam:
(1) Đủ 18 tuổi;
(2) Đã ở 10 năm trên đất nước Việt Nam;
(3) Có trú quán nhất định trong nước Việt Nam;
(4) Biết nói tiếng Việt Nam;
(5) Có hạnh kiểm tốt;
(6) Nếu có vợ hoặc chồng là người ngoại quốc thì phải được người vợ hoặc chồng thỏa thuận cho nhập quốc tịch Việt Nam
Trang 21Nguyên tắc bình đẳng dân tộc và bình điĩĩgnãm - nứ trõrĩg“cáb vấn đề
về quốc tịch Theo nguyên tắc này, tư cách công dân Việt Nam không phụ thuộc vào nguồn gốc dân tộc, quy định này nhằm chống lại âm mưu của các thế lực thù địch gây mơ hồ về quốc tịch Việt Nam trong một bộ phận cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Nguyên tắc chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam Tại Điều 3 Luật quốc tịch năm 1988 đã khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”
v ề việc có quốc tịch Việt Nam, được xác định bởi 5 căn cứ trong Điều
5 Luật Quốc tịch năm 1988 Trong số các cách thức hưởng quốc tịch thì việc hưởng quốc tịch do sinh ra là phổ biến nhất vì vậy, Điều 6 quy định việc hưởng quốc tịch do sinh ra trên cơ sở kết hợp của hai nguyên tắc “quyền huyết thống và quyền nơi sinh” và việc kết hợp hai nguyên tắc này nhằm hạn chế hệ quả pháp lý có thể phát sinh đồng thời đảm bảo quyền có quốc tịch của trẻ em
về việc mất quốc tịch Việt Nam Luật năm 1998 quy định bốn trường hợp công dân Việt Nam mất quốc tịch Việt Nam: (1) Được thôi quốc tịch Việt Nam; (2) Bị tước quốc tịch Việt Nam; (3) Mất quốc tịch Việt Nam theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia; (4) Mất quốc tịch Việt Nam trong các trường hợp khác theo quy định của Luật
Sau gần 10 năm đi vào cuộc sống, Luật Quốc tịch 1988 đã góp phần đắc lực phục vụ công cuộc đổi mới đất nước, tăng cường mối liên hệ gắn bó giữa Nhà nước với công dân, kể cả công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài Đồng thời Luật Quốc tịch 1998 cùng với các đạo luật khác đã tạo cơ sở pháp
lý để thực hiện tốt các vấn đề kinh tế, chính tri, an ninh quốc phòng và văn hóa xã hội của đất nước Tuy nhiên, để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của Luật, có nhiều vấn đề đòi hỏi phải được hoàn thiện Hội nghị tổng kết, thi hành Luật Quốc tịch 1988 do Ban soạn thảo Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa
Trang 22* v ề việc mất quốc tịch Việt Nam
về thôi quốc tịch: được quy định tại Điều 2 sắc lệnh 25/SL “phụ nữ
Việ Nam lấy chồng có quốc tịch nước ngoài muốn theo quốc tịch của chồng thì trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày ban hành sắc lệnh phải xin bỏ quốc tịch Việt Nam và phải được Chính phủ cho phép”
về tước quốc tịch: Điều 7 sắc lệnh 53 quy định:
(1) Nhập quốc tịch ngoại quốc;
(2) Giữ một chức vụ nào đó ở ngoại quốc mà không chịu thôi, tuy đã được Chính phủ cảnh cáo;
(3) Làm việc gì phạm đến nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa của nước Việt Nam
Pháp luật Quốc tịch Việt Nam trước năm 1975 đã thể hiện rõ chủ quyền quốc gia đối với dân cư, thể hiện quan điểm của nhà nước về các vấn đề cơ bản liên quan đến quốc tịch như: nguyên tắc một quốc tịch, bảo đảm quyền có quốc tịch của cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam, bình đẳng giữa công dân Việt Nam về quyền và nghĩa vụ qua đó, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn
đề đặt ra trên thực tiễn Đồng thời, thủ tục, trình tự giải quyết các vấn đề về nhập quốc tịch, thôi quốc tịch và trở lại quốc tịch Việt Nam nhìn chung là đơn giản và thuận tiện Giai đoạn này, pháp luật Việt Nam về quốc tịch đã phục vụ đắc lực cho công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, góp phần khẳng định vị thế của nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế Tuy nhiên, vì được ban hành đơn lẻ, giá trị pháp lý thấp nên pháp luật quốc tịch giai đoạn này chưa giải quyết được toàn diện những vấn đề về quốc tịch Việt Nam, đặc biệt chưa cụ thể hóa được những vấn đề về quốc tịch được quy định trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959
1.2.2 Giai đoạn sau năm 1975
* Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988 (Gồm Lời nói đầu và 18 điều) với những nội dung cơ bản sau:
Trang 23đổi) tổ chức 24/4/1996 đã chỉ ra những vấn đề cần được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và cần phải ban hành Luật Quốc tịch mới phù họp với tình hình nước ta.
* Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 (gồm 7 chương, 42 điều) được coi là bước tiến trong việc hoàn thiện pháp luật về quốc tịch, đã quy định tương đối cụ thể về chính sách của Nhà nước ta về quốc tịch, việc có và mất quốc tịch Việt Nam, thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và con nuôi, thẩm quyền và thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch
Để triển khai thực hiện Luật Quốc tịch năm 1998, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31/12/1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam; Nghị định số 55/2000/NĐ-CP ngày 11/10/2000 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định 104/1998/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 08/1998/TTLT-BTC-BTP-BNG ngày 31/12/1998 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao hướng dẫn thu, nộp, quản lý và sử dụng
lệ phí giải quyết việc nhập, ừở lại, thôi quốc tịch Việt Nam và cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy chứng nhận mất quốc tịch Việt Nam;
Sau 9 năm thực hiện, ngày 15/2/2008, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 đánh giá những mặt tích cực, chỉ ra những hạn chế cần khắc phục như việc ghi nhận nguyên tắc một quốc tịch còn cứng nhắc; điều kiện nhập, ừở lại quốc tịch Việt Nam chưa thực
sự phù hợp với tình hình mới; thủ tục tiếp nhận và giải quyết các việc về quốc tịch còn rườm rà, công tác quản lý quốc tịch còn lỏng lẻo, chưa sát thực tiễn
* Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (gồm 6 chương, 44 điều)
Quốc hội thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã quán triệt
và thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quốc tịch Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của
Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Mặt khác Luật
Trang 24Quốc tịch Việt Nam năm 2008 còn bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Hiến pháp 1992, sự đồng bộ với các văn bản pháp luật có liên quan cũng như tính khả thi của các quy định có tính nguyên tắc của Luật Bảo đảm quyền có quốc tịch của mỗi cá nhân, hạn chế tình trạng không quốc tịch ở nước ta; tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quốc tịch, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho việc bảo hộ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài Hơn thế nữa, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 còn là sự kế thừa và phát triển những giá trị của pháp luật quốc tịch Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời nghiên cứu, áp dụng có chọn lọc những kinh nghiệm quốc tế trong việc điều chỉnh vấn đề quốc tịch trong những năm gần đây.
1.3 Luật Quốc tịch của một số quốc gia
1.3.1 Luật Quốc tịch của một sổ quốc gia quy định căn cứ để xác định quổc tịch
Trong Luật Quốc tịch cúa Lào (Điều 8): “Căn cứ có quốc tịch Lào do sinh ra, được vào quốc tịch hoặc do cơ sở khác theo Luật”
Luật Quốc tịch Trung Quốc (Điều 2): “Một người có quốc tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa khi có các điều kiện quy định sau đây:
(1) Người có cha hoặc mẹ đã từng là công dân Trung Quốc khi người
đó sinh ra;
(2) Người được sinh ra sau khi cha hoặc mẹ của họ chết, tại thời điểm
đó cha hoặc mẹ của họ là công dân Trung Quốc;
(3) Người được sinh ra trên lãnh thổ Trung Quốc, không xác định được cha, mẹ là ai hoặc cha mẹ là người không quốc tịch;
(4) Người đã được nhập quốc tịch
1.3.2 Luật Quốc tịch của một sổ quốc gia quy định về nguyên tắc một quốc tịch
Qua việc nghiên cứu Luật Quốc tịch của một số nước trên thể giới, có thể nhận thấy rằng nguyên tắc một quốc tịch là nguyên tắc phổ biến nhất Các
Trang 25nước theo nguyên tắc một quốc tịch như Trung Quốc, Hàn Quốc, Lào, Thái Lan, Nhật, Nga, Đức Các nước này đưa ra các quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc một quốc tịch như người nước ngoài muốn nhập quốc tịch của các nước này thì phải từ bỏ quốc tịch gốc của mình; công dân các nước này nếu tự nguyện nhập quốc tịch của nước ngoài sẽ đương nhiên mất quốc tịch gốc Tuy nhiên, ở một số nước, nguyên tắc một quốc tịch được đánh giá là nguyên tắc “một quốc tịch mềm dẻo” vì ngoài những trường hợp bắt buộc phải thôi quốc tịch thì họ
có thể được xem xét để giữ quốc tịch gốc khi nhập quốc tịch nước ngoài
Điều 9 Luật Quốc tịch Trung Quốc quy định: “Người nước ngoài xin nhập quốc tịch theo quy định từ Điều 3 đến Điều 7 sẽ phải cung cấp quyết định thôi quốc tịch của họ Trong trường hợp người đó tuyên bố không thể có được Quyết định thôi quốc tịch mà lý do không phải do người đó và được điều tra, khẳng định điều đó là sự thật thi người đó không cần phải xuất trình quyết định thôi quốc tịch”
Điều 15 Luật Quốc tịch Hàn Quốc quy định: (1) Công dân Hàn Quốc tự nguyện nhập quốc tịch nước ngoài sẽ mất quốc tịch nước Cộng hòa Hàn Quốc ngay tại thời điểm nhập quốc tịch nước ngoài; (2) Công dân Hàn Quốc thuộc một trong các trường hợp quy định tại các mục sau sẽ tự động bị mất quốc tịch tại thời điểm được nhập quốc tịch nước ngoài, nếu người đó không gửi thông báo mong muốn được giữ quốc tịch Hàn Quốc đến Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong vòng 06 tháng kể từ khi người đó được nhập quốc tịch nước ngoài: người có quốc tịch thông qua việc kết hôn vói người nước ngoài; người có quốc tịch của cha nuôi hoặc mẹ nuôi thông qua việc nhận con nuôi của người nước ngoài; người được nhận quốc tịch của cha hoặc mẹ thông qua sự công nhận của cha hoặc mẹ là người nước ngoài
Điều 2 Luật Quốc tịch Lào: “Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào không cho phép công dân Lào có nhiều quốc tịch”; và Điều 14 “Người xin nhập quốc tịch Lào phải có đầy đủ những điều kiện sau phải từ bỏ quốc tịch cũ”
Trang 261.3.3 Một sổ quốc gia quy định về nguyên tắc hai hay nhiều quốc tịch
Bên cạnh các nước theo nguyên tắc một quốc tịch thì có một số nướccho phép công dân của nước họ có quyền mang hai hay nhiều quốc tịch
Theo Luật Quốc tịch Ôxtrâylia (Điều 13): “Nhập quốc tịch Ôxtrâylia không bắt buộc thôi quốc tịch nước ngoài”; Khoản 2 Điều 17 “Trong trường hợp kết hôn, công dân Ôxtrâylia có quyền mang cả hai quốc tịch”
Điều 5 Luật Quốc tịch Canada: “Cho phép công dân Canada có quốc tịch nước ngoài mà không bị mất quốc tịch Canada hoặc nhập quốc tịch Canada mà không bị mất quốc tịch nước ngoài”; Điều 8 quy định: “Người sinh ra ở nước ngoài sau ngày 14/2/1977, có quốc tịch Canada do khi ấy cha hoặc mẹ có quốc tịch Canada theo quy định tại Điều 3 Khoản l(b) hoặc (e), sẽ mất quốc tịch Canada lúc 28 tuổi, trừ phi: một mặt đương sự xin bảo lưu quốc tịch Canada; mặt khác đương sự đã đăng ký công dân Canada và hoặc đã cư trú tại Canada 01 năm trước khi làm đơn hoặc chứng minh được mình có những mối quan hệ rõ ràng với Canada”
1.3.4 về cách thức hưởng quốc tịch
- Hưởng quốc tịch do sinh ra
+ Xác định quốc tịch theo huyết thống
Nguyên tắc quyền huyết thống có thể có những biến dạng như xác định quốc tịch theo huyết thống của cha, mẹ theo đó trẻ em có quốc tịch của cha
mẹ khi cha mẹ cùng quốc tịch Trường hợp này có thể coi như hưởng huyết thống một cách tuyệt đối, vô điều kiện
Phổ biến hơn là việc xác định quốc tịch theo cha hoặc mẹ Trong trường hợp này, quốc tịch của một người sẽ được xác định theo quốc tịch của cha hoặc mẹ Tuy nhiên, nếu cha, mẹ có quốc tịch khác nhau, đứa ứẻ có khả năng có hai quốc tịch
Theo pháp luật các nước trong nhóm này thì một người có quốc tịch do sinh ra thuộc các trường hợp sau:
(1) Khi cha, mẹ là người có cùng quốc tịch nước đó;
Trang 27(2) Khi cha hoặc mẹ có quốc tịch nước đó;
(3) Khi cha hoặc mẹ là người nước đó còn người kia không rõ là ai hoặc là người không quốc tịch;
(4) Khi cha là người có quốc tịch nước đó nhưng đã chết khi mẹ đang mang thai đứa trẻ
+ Xác định quốc tịch theo nơi sinh
Theo nguyên tắc này, một người sinh ra sẽ có quốc tịch của nước nơi người đó sinh ra, không phụ thuộc vào quốc tịch của cha, mẹ Đặc điểm của nhóm nước này là áp dụng nguyên tắc quyền nơi sinh trong đa số các trường họp để xác định quốc tịch gốc của cá nhân Nguyên tắc quyền huyết thống chỉ được áp dụng trong một số trường hợp kèm theo điều kiện Tiêu biểu cho nhóm nước này phải kể đến Hợp chủng quốc Hoa kỳ Khác với nhiều nước trên thế giới, ở nước này có sự phân biệt hai khái niệm thuộc dân (nationality)
và công dân (citizen) Ví dụ: cá nhân có quốc tịch Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có thể là công dân hoặc thuộc dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Một người là công dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chắc chắn là thuộc dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
và có tư cách công dân Hợp chủng cho phép thông qua một số quyết định đặc biệt Đây là quan điểm hết sức cứng rắn mà Tòa án trong khi xét xử luôn tuân thủ và quan điểm này được thể hiện trong pháp luật hiện hành (Điều 301, khoản b)
+ Kết hợp ngang nhau nguyên tắc quyền huyết thống và quyền nơi sinh
để xác định quốc tịch do sinh ra
Đối với các nước này (Pháp, Campuchia ), nguyên tắc đầu tiên được
áp dụng để xác định quốc tịch là nguyên tắc quyền huyết thống Khi xác định quốc tịch một người theo huyết thống, các nước trong nhóm này trước hết dựa trên nguyên tắc huyết thống hoàn toàn theo cha hoặc mẹ mà không kèm theo bất cứ điều kiện nào Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, các nước này ngoài việc áp dụng nguyên tắc quyền huyết thống còn áp dụng nguyên tắc quyền nơi sinh để xác định quốc tịch Như vậy, mặc dù một
Trang 28người không có quan hệ huyết thống với những người mang quốc tịch nước này nhưng cũng có thể có quốc tịch do sinh ra trên lãnh thổ của nưóc đó Khi
áp dụng nguyên tắc quyền nơi sinh để xác định quốc tịch một người do sinh ra
ở các nước này, trong từng trường họrp cụ thể, nguyên tắc quyền nơi sinh thường được áp dụng kèm theo những điều kiện nhất định Thông thường, một người sinh ra tại Cộng hòa Pháp có thể có quốc tịch Cộng hòa Pháp nếu cha hoặc mẹ cùng sinh ra tại Cộng hòa Pháp; còn một người sinh ra tại Campuchia có thể có quốc tịch Campuchia nếu cha hoặc mẹ sinh ra và sống hợp pháp tại Campuchia
- Hưởng quốc tịch do gia nhập
Để tạo cơ sở pháp lý cho việc hưởng quốc tịch do xin nhập quốc tịch, Luật quốc tịch của các nước đều quy định các điều kiện chặt chẽ đối với cá nhân muốn xin nhập quốc tịch
Thứ nhất, cá nhân đó phải đạt độ tuổi nhất định Với quan niệm, cá nhân độc lập ý chí để quyết định những vấn đề quan trọng trong đó có vấn đề hưởng quốc tịch và thực hiện các quyền cơ bản của công dân, nên đa số các nước đều quy định quyền độc lập xin nhập quốc tịch cho các cá nhân đủ tuổi thành niên hoặc có đủ năng lực hành vi dân sự Một số nước quy đinh cụ thể
độ tuổi để cá nhân có thể độc lập xin nhập quốc tịch: Điều 14, Khoản 1 Luật Quốc tịch Lào; Điều 53 Bộ luật Quốc tịch Cộng hòa Pháp; Điều 13 Khoản b, Luật Quốc tịch Ôxtrâylia Ngoài ra, một số nước khác quy đinh, người muốn nhập quốc tịch phải có đủ năng lực hành vi dân sự: Điều 10, Khoản 1, Luật Vương tịch và Quốc tịch Cộng hòa Liên bang Đức
Thứ hai, phải có một thời gian cư trú nhất định trên lãnh thổ nước mà
cá nhân đó xin nhập quốc tịch Thông thường, các nước quy định thời gian cư trú đối với người nhập quốc tịch là 5 năm như Nhật Bản (Điều 5, Khoản 1, Luật Quốc tịch Nhật Bản), Thụy Điển (Điều 6, Khoản 2 Luật Quốc tịch Thụy Điển), Liên bang Nga (Điều 19, Khoản 2 Luật Ouốc tịch Liên bang Nga)., Có một số nước do trong cùng khu vực địa lý, gần gũi về truyền thống ngôn ngữ,
Trang 29văn hóa nên đòi hỏi thời gian cư trú đối với công dân các nước này như công dân các nước khác trong cùng khu vực (Ví dụ: Theo Điều 6, Khoản 2, Luật Quốc tịch Thụy Điển, công dân các nước Bắc Âu như NaƯy, Đan Mạch muốn nhập quốc tịch Thụy Điển thì điều kiện về thời gian cư trú chỉ là 2 năm thay cho 5 năm đối với công dân các nước ngoài khu vực) Đối với các nước đa dân tộc như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, thời gian cư trú thường là thời gian thử thách lòng trung thành của công dân đối với nước mà mình xin nhập quốc tịch Theo Điều 312 Luật nhập cư và Quốc tịch Hợp chủng quốc Hoa kỳ, người xin nhập quốc tịch Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nếu từ 50 tuổi trở ỉên thì phải sống ở Hợp chủng quốc Hoa kỳ tổng cộng là 20 năm trước khi được phép thường trú hợp pháp, hoặc nếu 55 tuổi trở lên thì thời gian cư trú tổng cộng 15 năm trước khi được phép thường trú hợp pháp.
Thứ ba, điều kiện về khả năng ngôn ngữ hoặc khả năng hòa nhập vào cộng đồng văn hóa của các nước xin nhập quốc tịch Đổ có thể hiểu biết lịch
sử văn hóa và xã hội của nước xin nhập quốc tịch và để hòa nhập vào cộng đồng nước đó ở mức độ tối thiểu, cá nhân muốn nhập quốc tịch cần phải biết ngôn ngữ của nước đó ở mức độ nhất định (Điều 14, Khoản 2 Luật Quốc tịch Lào; Điều 8 Khoản 5 Luật Quốc tịch Campuchia )
Thứ tư, các điều kiện về chính trị và nhân thân của người xin nhập quốc tịch Pháp luật Nhật Bản, Philippin, Liên bang Nga, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ yêu cầu người nhập quốc tịch phải tự nguyện tuân thủ hay tôn trọng Hiến pháp và pháp luật của nước xin nhập quốc tịch Điều 313 Luật nhập cư và quốc tịch Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định “một người nước ngoài không được nhập quốc tịch Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nếu là thành viên hoặc dính líu tới Đảng Cộng sản Mỹ”
Thứ năm, điều kiện về khả năng đảm bảo cuộc sống Đó là yêu cầu đối vói người xin nhập quốc tịch cần phải có các điều kiện về tài sản hoặc có khả năng chuyên môn hay tài chính để nuôi sống bản thân và gia đình Điều 8,
Trang 30Khoản 4 Luật Quốc tịch Đức; Điều 10, Khoản 3 Luật Quốc tịch Thái Lan; Điều 5, Khoản 4 Luật Quốc tịch Nhật Bản
Thứ sáu, phải thôi quốc tịch gốc hoặc việc nhập quốc tịch mới sẽ dẫn tới việc mất quốc tịch cũ v ề vấn đề này hiện nay trên thế giới có hai xu
hướng Xu hướng thứ nhất, nhóm các nước áp dụng quy định này như một điều kiện bắt buộc để được nhập quốc tịch Đây thường là nhóm các nước hạn chế nhập cư, áp dụng chính sách một quốc tịch trong xây dựng pháp luật quốc tịch, đồng thời ưu tiên áp dụng nguyên tắc quyền huyết thống để xác định quốc tịch nguyên thủy của cá nhân (như Lào, Trung Quốc, Đức, Thụy Điển ) Xu hướng thứ hai, các nước không yêu cầu điều kiện trên như một điều kiện cần thiết để được nhập quốc tịch Các nước này chủ yếu theo chính sách khuyến khích nhập cư, ưu tiên áp dụng nguyên tắc quyền nơĩ sinh để xác định quốc tịch gốc của cá nhân (như Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Ôxừaylia
- Hưởng quốc tịch thông qua hôn nhân: có hai xu hướng giải quyết
+ Xu hướng thứ nhất vẫn chịu ảnh hưởng rất lớn của quan niệm cũ về
sự thay đổi đương nhiên quốc tịch của người vợ sau khi kết hôn Vì vậy, hôn nhân được coi là sự kiện pháp lý quan trọng để người phụ nữ hưởng quốc tịch
mà không cần sự gắn bó thực sự của người phụ nữ đó với Nhà nước mình thông qua những điều kiện về thời gian cư trú Điều 11, Khoản 2 Luật Quốc tịch Thái Lan quy định phụ nữ nước ngoài kết hôn với nam công dân Thái Lan chỉ cần có đủ những điều kiện tối thiểu như có đủ năng lực hành vi dân
sự theo pháp luật Thái Lan và pháp luật nước người đó mang quốc tịch, có tư cách đạo đức tốt, có nghề nghiệp ổn định Một số nước quy định thời hạn cư trú đối với phụ nữ nước ngoài kết hôn với công dân nước mình, nhưng quy định giảm thời hạn cư trú so với các trường hợp xin nhập quốc tịch thông thường (Điều 15 Hiến pháp Malaixia, Điều 124 Hiến pháp Singapo đều quy định người phụ nữ phải cư trú liên tục tại các nước đó 2 năm trước khi nhập quốc tịch và có ý định cư trú thuờng xuyên)
Trang 31+ Xu hướng thứ hai không phân biệt giới tính trong việc xem xét các trường hợp được hưởng quốc tịch do kết hôn (Pháp, Nga, Mỹ, Đức ) Các nước này đều tạo điều kiện để người nước ngoài kết hôn với công dân của mình được nhập quốc tịch nên trong luật thực định của các nước đều quy định được giảm các điều kiện để người đó xin nhập quốc tịch Ví dụ: Cộng hòa Liên bang Nga, một người đã kết hôn vói công dân Nga có thể vào quốc tịch bằng cách đăng ký quốc tịch; hoặc Điều 7 Luật Quốc tịch Nhật Bản, vợ hoặc chồng là người Nhật Bản, đã thường trú hoặc tạm trú tại Nhật Bản ít nhất là 3 năm trở lên (trong khi đó với các trường hợp khác muốn xin nhập quốc tịch phải có thời gian cư trú tối thiểu là 5 năm).
- Có quốc tịch do ừở lại quốc tịch
Theo Điều 4 Luật Quốc tịch Cộng hòa Pháp, người muốn xin trở lại quốc tịch cần phải chứng minh sự duy trì và gắn bó với Cộng hòa Pháp về các phương diện như văn hóa, nghè nghiệp, kinh tế hoặc quan hệ gia đình Đối với một số nước, việc từ bỏ hay xin thôi quốc tịch để nhập quốc tịch khác trong nhiều trường hợp được coi như hành vi phản bội Tổ quốc (Malaixia) Theo pháp luật Hoa Kỳ, chỉ có những trường hợp bị mất quốc tịch thông qua hôn nhân mới được trở lại quốc tịch
- Có quốc tịch do được nhận làm con nuôi
Vấn đề quốc tịch của trẻ em khi được nhận làm con nuôi ở các nước giải quyết không giống nhau, vấn đề quốc tịch của con nuôi thường liên quan đến ừẻ em, chủ thể đặc biệt, chưa có khả năng tự bảo vệ nên các quốc gia, trong khi xây dựng và thực hiện các quy định pháp luật về nuôi con nuôi nói chung và quốc tịch của con nuôi nói riêng cần phải lưu ý đến những nguyên tắc của pháp luật quốc tịch về vấn đề này, được ghi nhận trong một số Điều ước quốc tế như Công ước về quyền trẻ em (20/11/1989), Công ước Lahay về bảo vệ quyền trẻ em và nuôi con nuôi quốc tế (29/5/1993) Ngoài ra, Luật Quốc tịch Lào quy định (Điều 22, đoạn 1): “Trẻ em là công dân nước ngoài hay trẻ em là người không quốc tịch được công dân Lào nhận làm con nuôi
Trang 32thì coi như công dân Lào”; Điều 6 Luật Vương tịch và Quốc tịch Đức: “Với việc nhận con nuôi có hiệu lực thông qua một người Đức, thì con nuôi vào thời điểm đệ đom xin nhận làm con nuôi chưa đủ 18 tuổi có quốc tịch Đức hoặc con của người con nuôi này cũng được xem như đã từng là người Đức” Một số nước còn yêu cầu thêm điều kiện để trẻ em được nhận quốc tịch theo cha mẹ nuôi là phải cư trú tại lãnh thổ nước cha mẹ nuôi có quốc tịch như Bộ luật nhập cư và quốc tịch Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Điều 322, Khoản c), Luật Quốc tịch Ôxtraylia (Điều 10A), Luật Quốc tịch Nhật Bản (Điều 8, Khoản 2).
- Có quốc tịch trên cơ sở Điều ước quốc tế
Điều 21 Luật quốc tế Liên bang Nga 1993, Điều 22 Hiến pỊiáp Malaixaia quy định việc hưởng quốc tịch trên cơ sở Điều ước quốc tế Việc hưởng quốc tịch trên cơ sở Điều ước quốc tế thường được đặt ra khi có sự thay đổi lãnh thổ như trong trường hợp trao đổi lãnh thổ giữa Liên Xô cũ và
Ba Lan theo Hiệp định ngày 06/07/1945 hoặc giữa Liên Xô cũ với Tiệp Khắc
cũ theo Hiệp định ngày 10/06/1946 Trong trường hợp này các cá nhân được phép lựa chọn một trong hai quốc tịch trong khoảng thời gian nhất định
1.3.5 Xác định mất quốc tịch theo pháp luật một sổ nước
- Mất quốc tịch do xin thôi quốc tịch
Điều 11 Luật quốc tịch Nhật Bản ghi nhận công dân Nhật Bản đồng thời có quốc tịch nước ngoài có quyền xin thôi quốc tịch Nhật Bản Điều 16 Luật Quốc tịch Lào, Điều 23 Luật Quốc tịch Liên Bang Nga, Điều 22 Luật Quốc tịch và Vương tịch Đức quy định nếu một người đang bị truy cứu ừách nhiệm hình sự, đang phải chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án cũng không được thôi quốc tịch Với quan điểm hạn chế tình trạng thôi quốc tịch, Hoa Kỳ không cho phép một người đang cư trú trên lãnh thổ nước mình hoặc lãnh thổ hải ngoại được thôi quốc tịch (Điều 351 Bộ luật nhập cư và Quốc tịch Hoa Kỳ)
- Mất quốc tịch do đương nhiên mất quốc tịch
Trang 33Đây là hình thức mất quốc tịch tương đối phổ biến, đặc biệt đối với các nước áp dụng nguyên tắc một quốc tịch trong xây dựng và thực hiện pháp luật quốc tịch.
- Mất quốc tịch do bị tước quốc tịch
Với một số quốc gia luôn đề cao ý nghĩa pháp lý của quốc tịch như Ôxtrâylia, Mỹ hoặc các quốc gia mà đạo Hồi chi phối mạnh mẽ như Malaixia, một người bị tước quốc tịch gốc nếu người đó phục vụ cho một cơ quan nước ngoài hoặc trong quân đội nước ngoài Đối với những người có quốc tịch do xin nhập quốc tịch, nhà nước có thể tước quốc tịch nếu người đó gian lận trong việc xin nhập quốc tịch hoặc đã nhập quốc tịch ở một nước mà không khai báo lý do để giữ quốc tịch mới nhận (Điều 26 Hiến pháp Malaixia, Điều
21 Luật Quốc tịch Ôxtrâylia)
1.3.6 Thẩm quyền giải qưyết cho việc nhập, trở lại, thôi, tước và hủy quốc tịch theo pháp luật của một sổ nước
Ở nhiều nước, thẩm quyền giải quyết các việc về quốc tịch thuộc cơ quan hành pháp như Chính phủ hoặc cơ quan trực thuộc Chính phủ như Bộ
Tư pháp ở Nhật Bản, Mỹ hoặc cơ quan chuyên ứách để giải quyết các việc quốc tịch như Bộ Di chú và nhập cư ở Canada, Ồxtrâylia Tại Trung Quốc, thẩm quyền giải quyết các việc cụ thể về nhập, thôi và trở lại quốc tịch thuộc thẩm quyền của Bộ Công an Ở Liên Bang Nga, Tổng thống là người có thẩm quyền cao nhất giải quyết các vấn đề về quốc tịch Ở Canada, theo Điều 5, 9,
11, Luật Quốc tịch Canada Bộ trưởng Bộ Các vấn đề về quốc tịch có thẩm quyền về vấn đề này
1.3.7 Thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch theo pháp luật một số nước
- Cấp giấy tờ chứng minh về quốc tịch
Theo pháp luật Pháp, căn cứ cao nhất và duy nhất để chứng minh quốc tịch Pháp là “Giấy chứng nhận quốc tịch Pháp”, giấy chứng nhận này do Tòa Dân sự cấp sơ thẩm cấp Tại Nhật Bản, chỉ có công dân Nhật bản mới được
Trang 34đăng ký tên trong danh sách gọi là “KOEKI”, tức sổ đăng ký hộ tịch và căn
cứ bản sao sổ hộ tịch thì đương sự xin cấp Hộ chiếu ra nước ngoài
- Thủ tục giải quyết việc xin, thôi, trở lại quốc tịch ở các nước
Theo thủ tục thông thường, đương sự cần phải làm đom (Thụy Điển) hoặc hồ sơ xin thay đổi quốc tịch, để gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nếu đương sự ở trong nước, cơ quan thụ lý hồ sơ có thể là các Phòng
Tư pháp quận, huyện (Nhật Bản), cơ quan cảnh sát khu vực nơi người đó cư trú (Thụy Điển) hay Tòa Dân sự sơ thẩm (Pháp) Sau khi nộp đom, đương sự cần phải gửi kèm theo một số giấy tờ liên quan: ví dụ trong trường hợp xin nhập quốc tịch phải có giấy khai sinh, giấy chứng nhận về thời gian cư trú, nhận xét về nhân thân hay lý lịch tư pháp của cơ quan công an, cảnh sát khu vực, quyết định cho thôi quốc tịch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia đương sự có quốc tịch cũ (Nhật Bản, Thụy Điển) hoặc giấy cam đoan sẽ thôi quốc tịch trong trường hợp được nhận quốc tịch (Thụy Điển)
Vấn đề quốc tịch là vấn đề hết sức quan trọng, liên quan đến địa vị pháp lý của mỗi cá nhân vì vậy, các nước đều thận trọng trong việc quy định
về cách thức (gia nhập, mất, xin thôi ), về thẩm quyền, thủ tục của quốc tịch trong pháp luật cũng như giải quyết vấn đề này trong thực tiễn Việc quy định về pháp luật quốc tịch của từng nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính đặc thù của quốc gia như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đồng thời, cũng phải phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế về vấn đề này
Trang 35CHƯƠNG II NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT QUÓC TỊCH
VIỆT NAM
2.1 Cơ sở, quá trình xây dựng Luật Quốc tịch hiện hành
2.1.1 Sự cần thiết sửa đổi Luật Quắc tịch Việt Nam năm 1998
Ngày 20/5/1998, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999, thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988 Có thể nói sự ra đời của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 là bước tiến trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và hoàn thiện về pháp luật quốc tịch nói riêng Sau hơn 9 năm
triển khai thực hiện, Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 đã thu được nhiều kết quả
quan trọng như tổ chức bộ máy, nhân sự các cơ quan làm công tác quản lý
nhà nước về quốc tịch từng bước được củng cố, kiện toàn; một số lượng lớn
các hồ sơ về quốc tịch đã được giải quyết, bước đầu đáp ứng yêu cầu và
nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được nêu trên thì quá
trình thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 cũng đã phát sinh một số
hạn chế nhất định:
Thứ nhất, về thực hiện nguyên tắc một quốc tịch Theo quy định tại
Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 thì “Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc
tịch Việt Nam”; khoản 3 Điều 20 Luật quy định “công dân nước ngoài được
nhập quốc tịch Việt Nam thì không còn giữ quốc tịch nước ngoài, trừ trường
hợp đặc biệt do Chủ tịch nước quyết định” Tuy nhiên Luật Quốc tịch Việt
Nam năm 1998 không quy định công dân Việt Nam nếu nhập quốc tịch nước
ngoài thì đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam Vì vậy, trên thực tế nguyên
tắc một quốc tịch “cứng” của Luật này dẫn đến hệ quả sau:
- Trong trường hợp công dân Việt Nam ở những nước cũng theo nguyên tắc một quốc tịch triệt để như: Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa muốn nhập quốc tịch nước sở tại thì họ phải làm thủ
Trang 36tục thôi quốc tịch Việt Nam Tương tự như vậy, người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam thì cũng không còn giữ quốc tịch nước ngoài Vì vậy, trong những trường hợp này, nguyên tắc một quốc tịch của Luật Quốc tịch Việt Nam được thực hiện một cách triệt để;
- Trong trường hợp công dân Việt Nam ở nước không quy định nguyên tắc một quốc tịch như Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ, ú c nếu muốn nhập quốc tịch nước sở tại thì không bắt buộc thôi quốc tịch gốc Trong trường hợp này, công dân Việt Nam không làm thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam, trong khi đó
họ lại nhập quốc tịch nước sở tại nên trên thực tế họ có hai quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước sở tại;
- Đối với quốc tịch của trẻ em cũng xảy ra tình trạng tương tự do có sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và một số nước trong việc áp dụng nguyên tắc xác định quốc tịch theo huyết thống và theo nơi sinh nên cũng dln tới tình trạng hai quốc tịch của trẻ em Ví dụ Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam năm
1998 quy định: “Trẻ em sinh ra có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh ra trong hay ngọài lãnh thổ Việt Nam” Trong khi đó, Luật Quốc tịch Hoa Kỳ quy định bất kỳ trẻ em nào sinh
ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều có quyền có quốc tịch Hoa Kỳ Như vậy trên thực
tế, đối với trường hợp này, trẻ em có hai quốc tịch là quốc tịch Việt Nam (theo pháp luật Việt Nam) và quốc tịch Hoa Kỳ (theo pháp luật Hoa Kỳ)
Tình trạng hai quốc tịch này đã dẫn tới những tranh chấp liên quan đến việc bảo hộ công dân giữa Việt Nam và các nước, trong đó đặc biệt là vấn đề
áp dụng pháp luật dân sự (khi có tranh chấp) hoặc pháp luật hình sự, hành chính khi công dân Việt Nam (có hai quốc tịch) vi phạm pháp luật Việt Nam Tình hình trên đây cũng làm cho cơ quan nhà nước Việt Nam lúng túng khi giải quyết các vấn đề hành chính, giao dịch dân sự, kinh tế liên quan đến những người mang hai quốc tịch Nếu thừa nhận quốc tịch nước ngoài của người chưa thôi quốc tịch Việt Nam thì vi phạm nguyên tắc một quốc tịch; nếu không thừa nhận thì không tạo điều kiện cho công dân Việt Nam ở nước
Trang 37ngoài hướng về Tổ Quốc Ví dụ: công dân Việt Nam định cư ở Hoa Kỳ nếu chưa thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng đã nhập quốc tịch Hoa Kỳ, thì khi về Việt Nam kết hôn với người Việt Nam ở trong nước, cơ quan đăng kỷ hộ tịch không biết ghi quốc tịch của người này như thế nào; nếu ghi quốc tịch Việt Nam thì phía Hoa Kỳ không giải quyết cho họ nhập cảnh vào Hoa Kỳ, nhưng nếu ghi quốc tịch Hoa Kỳ hoặc ghi cả hai quốc tịch (Hoa Kỳ và Việt Nam) thì
vi phạm Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 Trên thực tế, không phải trường hợp nào người dân cũng quan tâm đến hai quốc tịch của mình như nhau Thông thường, khi người dân ở nước ngoài thì họ chủ yếu chỉ quan tâm đến quốc tịch nước sở tại của mình, chỉ khi nào có việc hoặc lợi ích liên quan đến Việt Nam như: hồi hương, đầu tư vào Việt N am thì họ quan tâm đến quốc tịch Việt Nam Cụ thể, trong thời gian gần đây, nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài có đơn xin Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam để được cấp Hộ chiếu Việt Nam Như vậy có thể nói, việc thực hiện nguyên tắc một quốc tịch theo Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, không kèm theo cơ chế đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và cơ chế đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam, trên thực tế vô hình chung đã dẫn đến hệ quả là vẫn tồn tại hai hoặc nhiều quốc tịch đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài Thực
tế này cho thấy, nguyên tắc một quốc tịch theo Luật Quốc tịch Việt Nam năm
1998 thể hiện sự cứng nhắc và thực sự gặp khó khăn trong triển khai thực hiện Mặt khác, cũng làm phát sinh vướng mắc trong việc giải quyết việc nhập quốc tịch đối với những người định cư ở trong nước Theo nguyên tắc này, những người muốn nhập quốc tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài Thực tế, giải quyết việc công dân nước ngoài cư trú lâu năm trên lãnh thổ Việt Nam xin nhập quốc tịch Việt Nam thì việc họ xin cấp Giấy chứng nhận thôi quốc tịch nước ngoài là rất khó khăn và hầu hết họ đều không xin được Giấy này vì nhiều lý do khác nhau
Thứ hai, về quản lý nhà nước đối với quốc tịch.
Trang 38- Việc nắm danh sách và quản lý số người Việt Nam định cư ở nước ngoài rất khó khăn và chưa đầy đủ, chính xác Hiện nay, khoảng 3 ưiệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng trên thực tế chúng ta chưa có thống kê
và không thể quản lý được những ai trong số này đang có quốc tịch Việt Nam, những ai đã được nhập quốc tịch nước ngoài mà chưa thôi quốc tịch Việt Nam vì chúng ta chưa có cơ chế đăng ký công dân ở nước ngoài hoặc đăng
ký giữ quốc tịch Việt Nam tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, số lượng người đang là công dân Việt Nam có quốc tịch nước ngoài, đang định
cư ở nước ngoài, cũng không có danh sách đầy đủ và cụ thể Chẳng hạn đối với cô dâu Việt Nam ở Đài Loan, Hàn Quốc Cơ quan đại diện của Việt Nam chỉ có thể nắm được số lượng do nước ngoài cung cấp nhưng không thể nắm được danh sách, địa chỉ cụ thể của từng người Từ hạn chế về thống kê, quản lý người Việt Nam định cư ở nước ngoài, những năm qua các cơ quan hữu quan đã rất khó khăn, vất vả trong quá trình giải quyết các vụ án về hình
sự, hành chính và đây cũng là kẽ hở để một số người lợi dụng chính sách ưu đãi trong nước về (sở hữu nhà, đầu t ư Luật tuyên bố Nhà nước ta bảo hộ công dân ở nước ngoài nhưng không có cơ sở pháp lý để thực hiện và thực tế cũng không thực hiện được
sơ sở dữ liệu tập trung về quốc tịch Theo khoản 1 Điều 34 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 33, trong đó có nhiệm vụ thống kê nhà nước về quốc tịch Việt Nam Tuy nhiên, cũng theo Luật này ủ y ban nhân dân cấp tỉnh và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền xét và cấp Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam và Giấy chứng nhận mất quốc tịch Việt Nam Trong thực tế, do chưa có cơ chế liên thông giữa các cơ quan này nên Bộ Tư pháp chưa thể xây dựng được cơ sở dữ liệu chung về quốc tịch Do vậy, việc xét và cấp các loại giấy nêu trên của ủ y ban nhân dân cấp tỉnh và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng gặp nhiều khó khăn và dựa trên những
Trang 39thông tin chưa có độ tin cậy cao Trong thời gian gần đây, rất nhiều người
Việt Nam ở nước ngoài có yêu cầu Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
cấp Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam và Hộ chiếu thì Cơ quan đại diện
gặp nhiều khó khăn và phải đề nghị cơ quan Tư pháp và Công an ở trong
nước xác minh Tuy nhiên, việc xác minh của các cơ quan trong nước cũng
gặp không ít khó khăn và ít hiệu quả vì đa số những người này rời khỏi Việt
Nam từ nhiều thập kỷ trước, thậm chí đã qua hai, ba thế hệ nên không thể lần
tìm được nguồn gốc chính xác của họ Đặc biệt, đối với những người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, do không có cơ chế đăng ký công dân hoặc đăng
ký giữ quốc tịch Việt Nam, nên thực tế với hom 3 triệu người Việt Nam ở
nước ngoài, chúng ta không thể nắm được số người đang có quốc tịch Việt
Nam đồng thòi có quốc tịch nước ngoài, số người chỉ có quốc tịch Việt Nam
mà không có quốc tịch nước ngoài, số người chỉ có quốc tịch nước ngoài mà
không còn giữ quốc tịch Việt Nam
- Tình ừạng người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam vẫn
còn tồn đọng Theo quy định tại Điều 8 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998
thì: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em
sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch và những người không quốc
tịch thường trú tại Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam” Như vậy, theo
Luật Quốc tịch Việt Nam nám 1998, những người không quốc tịch thường trú
trên lãnh thổ Việt Nam muốn có quốc tịch Việt Nam chỉ có một cách duy nhất
là nhập quốc tịch Việt Nam Theo quy định tại Điều 20 của Luật này, thủ tục
nhập quốc tịch Việt Nam của những người không quốc tịch cũng giống như
thủ tục của người nước ngoài nhập quốc tịch Việt Nam, họ không được miễn
hoặc giảm về điều kiện và thủ tục Thực tế hiện nay, những người không quốc
tịch, người không rõ quốc tịch cư trú trên lãnh thổ nước ta khá nhiều và chủ
yếu ở khu vực miền núi, biên giới xa xôi, các tỉnh phía Nam của đất nước vì
vậy, việc làm thủ tục nhập quốc tịch của những người này là rất khó khăn
Trong những năm qua, một phần do quy định của Luật Quốc tịch và các văn
Trang 40bản hướng dẫn luật về điều kiện, trình tự, thủ tục giải quyết cho việc nhập quốc tịch còn rườm rà, phức tạp, một phần do tư duy của chúng ta về quốc tịch còn hơi nặng nề, cứng nhắc nên chưa dám mạnh dạn đề xuất các biện pháp giải quyết cho số cư dân này nhập quốc tịch Việt Nam.
giới sau việc cắm mốc theo các Hiệp định về hoạch định biên giới vói các nước láng giềng chưa được giải quyết Trong những năm gần đây, có sự điều chỉnh biên giới giữa nước ta với các nước láng giềng thông qua các Hiệp định
về hoạch định biên giới, theo đó có bộ phận dân cư là công dân của nước láng giềng sau cắm mốc sinh sống ổn định trên lãnh thổ Việt Nam Trong Hiệp định không quy định rõ số công dân này đương nhiên có quốc tịch Việt Nam (hầu hết họ đều là người dân tộc, nghèo, trình độ văn hóa thấp, không hiểu biết về quốc tịch và hộ tịch), nếu họ muốn có quốc tịch Việt Nam thi phải làm thủ tục nhập quốc tịch Thực tế, việc giải quyết vấn đề này rất chậm vì để được nhập quốc tịch Việt Nam họ phải hội tụ đủ các điều kiện, phải làm thủ tục xin thôi quốc tịch gốc, phải nộp khoản lệ phí cao so với khoản thu nhập của họ
Ba là, về điều kiện nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam.
- Điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam: một số quy định về điều kiện
nhập quốc tịch Việt Nam chưa sát với tình hỉnh thực tế nước ta, nhất là bộ phận những người không quốc tịch, người nước ngoài đã định cư ổn định trên lãnh thổ Việt Nam Theo quy định tại Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam năm
1998, điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam của người nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam là như nhau Điều này không phù hợp với nguyên tắc hạn chế tình trạng không quốc tịch như Điều 8 luật định Một trong những điều kiện để được nhập quốc tịch Việt Nam là người xin nhập quốc tịch phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam (điểm a, khoản 1, Điều 20) Quy định này trong một sổ