Thêm vào đó, thực tiễn của hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam cho thấy, có nhiều tác động tiêu cực, bắt nguồn từ việc thực hiện nhượng quyền thương mại, tới các bên chủ thể của
Trang 2VŨ ĐỘNG HẢI YẾN
NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THựC TlỄN
VỂ PHÁP LUẬT ĐIỂU CHỈNH NHƯỢNG QUYỂN
THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh t ế
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các s ố liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Đ ặng H ải Yến
Trang 4CHUONG 1: n h ũ n g v a n đ ê l ý l u ậ n v ề n h u ợ n g q u y ề n t h u ơ n g m ạ i
VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NHƯỢNG QUYỀN THUƠNG m ạ i t r o n g ĐIÊU KIỆN NỀN KINH TẾ THỊ TRUỒNG ở VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề chung về nhượng quyền thương mại
1.2 Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại
CHƯƠNG 2: THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐlỀU CHỈNH NHƯỢNG QUYÊN THƯƠNG MẠI TRONG Đ iề u KIỆN NEN k i n h t ế t h ị t r ư ờ n g ở v i ệ t NAM VÀ KINH NGHIỆM Q u ố c TẾ
2.1 Thực trạng các quy định về hình thức nhượng quyền thương mại2.2 Thực trạng các quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại2.3 Thực trạng các quy định về hoạt động nhượng quyền thương mại
trơng mối quan hệ với pháp luật sở hữu trí tuệ
2.4 Thực trạng các quy định về hoạt động nhượng quyền thương
mại trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh
CHƯƠNG 3: QUAN ĐlỂM v à g i ả i p h á p h o à n t h i ệ n p h á p l u ậ t v ề HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYEN t h ư ơ n g m ạ i t r o n g ĐlỀU k i ệ n n e n KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
3.2 Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 5Trên thế giới, hoạt động nhượng quyền thương mại đã xuất hiện rất sớm, và đến nay đã phát triển rộng khắp trên phạm vi toàn cầu Nhượng quyền thương mại đang được các tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới sử dụng với tính chất là một trong những phương thức kinh doanh chủ yếu và có hiệu quả, đặc biệt là trong lĩnh vực phân phối và dịch vụ Người tiêu dùng trên toàn thế giới không còn xa lạ với những thương hiệu nổi tiếng như đồ ăn nhanh McDonlcTs, Loterria, hệ thống siêu thị Metro - đây là những thương hiệu của các nhà đầu tư sử dụng phương thức kinh doanh ữanchising [30] Theo ước tính, nhượng quyền kinh doanh thương hiệu ở Châu Á đã đạt 50 tỷ USD/năm Chỉ tính riêng ở Trung Quốc, sau thời điểm gia nhập WTO, đã có 50 ngành hàng thực hiện kinh doanh theo phương thức íranchising, tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực này đạt 40%/năm [1, Tr 3].
Ở Việt Nam, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, nhượng quyền thương mại vẫn đang còn là vấn đề rất mới mẻ Những biểu hiện thực tế của hoạt động nhượng quyền thương mại tuy đã xuất hiện ở Việt Nam gần 10 năm nay, song kinh nghiệm về hoạt động nhượng quyền thương mại còn nhiều hạn chế
cả về lý luận và thực tiễn Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, không thể phủ nhận được rằng hộ thống pháp luật về thương mại của Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng đa dạng của hoạt động thương mại, trong đó có nhượng quyền thương mại; tuy nhiên cơ sở pháp lý cho hoạt động nhượng quyền thương mại còn khá nhiều bất cập, chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh
Quan hệ nhượng quyền thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực phức tạp như: quyền sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, bản thân quyền thương mại lại được hình thành từ một gói các quyền liên quan đến nhiều đối tượng của quyền sở
Trang 6quyền đã làm cho bên nhận quyền luôn có xu hướng muốn được thực hiện các hoạt động thương mại một cách độc lập, thoát ly khỏi sự kiểm soát của bên nhượng quyền Trong khi đó, để duy trì sự vận hành ổn định của hệ thống nhượng quyền và bảo vệ tối đa các quyền sở hữu trí tuệ của mình, bên nhượng quyền luôn phải thực hiện việc giám sát chặt chẽ đối với toàn hệ thống nhượng quyền mà cụ thể là các bên nhận quyền Chính vì vậy, mối quan hệ tưởng chừng như được kết nối bởi sự hợp tác giữa các bên nhượng quyền và nhận quyền lại là mối quan hệ chứa đựng những khả năng phát sinh tranh chấp Thêm vào đó, thực tiễn của hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam cho thấy, có nhiều tác động tiêu cực, bắt nguồn từ việc thực hiện nhượng quyền thương mại, tới các bên chủ thể của quan hệ nhượng quyền thương mại, người tiêu dùng và nền kinh tế nói chung, ví dụ như các vấn đề về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hạn chế cạnh tranh.
Xuất phát từ thực tế nói trên, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, đánh giá có hệ thống và toàn diện một số quy định pháp luật
về nhượng quyền thương mại, đề ra những giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về nhượng quyền thương mại là cần thiết, góp phần hoàn thiện pháp luật về thương mại tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển hoạt động thương mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về nhượng quyền thương mại là nội dung quan trọng của pháp luật thương mại trong nền kinh tế thị trường, đang được ríhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trình đã được công bố, đề cập đến một vài khía cạnh kinh tế và pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại
Trang 7Xét trên phạm vi khu vực và toàn thế giới, các công trình nghiên cứu về nhượng quyền thương mại chủ yếu tập trung vào: (i) phân tích các đặc điểm và cách thức tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại, đặc biệt là nhượng quyền thương mại quốc tế (Editors: Yanos Gramatidis & Dennis Campbell -
International Franchisiiĩg: An in-depth treatment o f business and ỉegal techniques (Based on reports made in the Spring 1990 conference sponsored by
McGeorge School of Law at Waidring, Austria, and chaired by Yanos Gramatidis, Bahas, Gramatidis & Associates, Athens, Greece.) -Kluwer Law and Taxation Publishers Deventer -Boston 1999); (ii) đánh giá những tác động của hoạt động
nhượng quyền thương mại tới nền kinh tế (.Economic Impact o f ỷranchised
bussiness, a study fo r the internatỉonal /ranchise Association Educational
Foundation, 2004, by the National Economic Consulting Practise of PricewaterhouseCoopers); (iii) nghiên cứu hoạt động nhượng quyền thương mại
dưới góc độ pháp luật (Roberto Baldi, Distributorship, Franchising, Agency -
Community and national Laws and Prachtice in the EEC).
Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đề cập khái niệm về nhượng quyền thương mại từ khía cạnh kinh tế với những so sánh giữa nhượng quyền thương mại vcd một số hoạt động thương mại khác như bài viết của tác giả Phạm Thị Thu Hà với tên gọi: Nhượng quyền thương mại với doanh nghiệp Việt Nam, đăng trên Tờ tin của Hội Sở hữu công nghiệp số 47 - 2005; từ khía cạnh pháp lý như bài viết của tác giả Bùi Ngọc Cường: Các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại (tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2007); Hoàn thiện khung pháp lý về nhượng quyền thương mại (tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 8/2007) Nhìn nhận hoạt động nhượng quyền thương mại đơn thuần dưới góc độ thương mại và coi nhượng quyền thương mại là một bí quyết kinh doanh, tác giả
Lý Quý Trung có bài viết với tên gọi: Franchise - Bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh (NXB Trẻ, Hà Nội, 2005) Ngoài ra, với bài viết
Trang 8Nhượng quyền thươne mại dưới góc độ Luật Cạnh tranh (tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 03/2007), tác giả Nguyễn Thanh Tú nghiên cứu nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh.
Bên cạnh đó, một số công trình tiếp cận nghiên cứu một số nội dung
cụ thể của pháp luật về nhượng quyền thương mại, như: luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Thị M inh Huệ với đề tài Những vấn đề lý luận
và thực tiễn về nhượng quyền thương mại tại V iệt Nam (Trường Đại học Luật Hà nội - 2005) ; đề tài nghiên cứu khoa học của trường Đại học Ngoại Thương với tên gọi: “Một số giải pháp phát triển hình thức kinh doanh chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu tại Việt Nam ”, năm 2005
Tuy nhiên, những công trình kể trên mới dừng lại ở việc nghiên cứu nhượng quyền thương mại dưới góc độ kinh tế và những ảnh hưởng của hoạt động thương mại này tới đời sống xã hội hoặc nghiên cứu từng khía cạnh nhỏ của hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp lý, ví
dụ như vấn đề hợp đồng nhượng quyền thương mại trong tương quan với pháp luật cạnh tranh
Từ việc đánh giá tình hình hình nghiên cứu pháp luật về nhượng quyền thương mại ở Việt Nam, cho thấy đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về nhượng quyền thương mại và pháp luật về nhượng quyền thương mại, để trên cơ sở đó chỉ ra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay
Có thể khẳng định đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này ở nước
ta, với cấp độ luận án tiến sỹ Luật học
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại, trên cơ sở đó đưa ra một số phương
Trang 9hướng hoàn thiện pháp luật điểu chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam.
Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:+ Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về nhượng quyền thương mại
và pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại;
+ Phân tích nội dung cơ bản của pháp luật về nhượng quyền thương mại; đánh giá những un điểm và nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành về nhượng quyền thương mại;
+ Xây dựng quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là: các quan điểm, tư tưởng luật học
về nhượng quyền thương mại và pháp luật về nhượng quyền thương mại; các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về nhượng quyền thương mại; pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế về nhượng quyền thương mại; thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật về nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại là vấn
đề pháp luật còn tương đối mới ở Việt Nam và có nội dung phức tạp Luận
án tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương m ại, đặc biệt là những nội dung có nhiều điểm bất cập, đang gây cản trở, làm giảm hiệu quả của hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
Pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại được tạo thành bởi nhiều quy định pháp luật nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau, điều chỉnh các vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình thương nhân thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại được thực hiện dưới nhiều
Trang 10cách tiếp cận khác nhau Luận án lựa chọn cách tiếp cận để nshiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại dựa trên các nội dung cơ bản, bao gồm:
(i) Các quy định về hình thức hoạt động nhượng quyền thương mại;
(ii) Các quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại;
(iii) Các quy định về hoạt động nhượng quyền thương mại trong mối quan hệ với pháp luật sở hữu trí tuệ;
(iv) Các quy định về hoạt động nhượng quyền thương mại trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh
Như vậy, với phạm vi nghiên cứu đã được chỉ rõ, từ chương 1 đến chương 3, luận án tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đưa ra quan điểm cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại dựa trên cơ sở bốn vấn đề nêu trên
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn Các phương pháp nghiên cứu trong Luận
án được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm , đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa
và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
6 Những kết quả nghiên cứu và những điểm mới của luận án
Luận án đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, xây dựng quan điểm pháp lý tiến bộ và hiện đại về chức năng,
vai trò và đặc điểm của pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại; xác định rõ mối quan hệ giữa pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại với
Trang 11các chế định pháp luật khác, cụ thể là với pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh Từ đó đánh giá sự cần thiết phải có những quy định bổ trợ giữa các chế định pháp luật kể trên với pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại nhằm tạo ra chế định pháp luật minh bạch và đầy đủ để điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam.
Thứ hai, chỉ rõ những bất cập của pháp luật hiện hành điều chỉnh nhượng
quyền thương mại, đang ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại, quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh của các thương nhân trong điều kiện nền kinh tế thị trường Việt Nam;
Thứ ba, đề xuất quan điểm và xác định luận cứ khoa học cho việc hoàn
thiện pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại, đảm bảo cho các thương nhân tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại hiệu quả, tự do và bình đẳng
Thứ tư, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định về nhượng quyền
thương mại trong Luật Thương mại (2005) và các văn bản pháp luật liên quan,
cụ thể là: (i) kiến nghị hoàn thiện khái niệm pháp lý về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, đặc biệt là khái niệm pháp lý về quyền thương mại; (ii) kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về các hình thức hoạt động nhượng quyền thương mại tạo điều kiện cho thương nhân thực hiện hiệu quả hoạt động thương mại này; (iii) kiến nghị hoàn thiện quy định điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại, bao gồm: quyền và nghĩa vụ của các bên, thời hạn
và việc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại; (iv) đề xuất giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại với pháp luật sở hữu trí tuệ, cụ thể là kiến nghị việc pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ quyền thương mại với tất cả các yếu tố cấu thành không thể tách rời của nó; (v) đề xuất giải pháp xây dựng pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh nhằm giải quyết mối quan
hệ giữa các thoả thuận trong hợp đồng nhượng quyền thương mại với các thoả
Trang 12thuận hạn chế cạnh tranh cũng như hạn chế được việc lạm dụng hoạt động nhượng quyền thương mại để thực hiện các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh thị trường của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại.
Những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại được đề xuất trong luận án có khả năng ứng dụng ngay để thiết lập sự thống nhất của pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại với pháp luật thương mại nói chung và các chế định pháp luật có liên quan trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Về những điểm mới của luận án.
Luận án có những điểm mới đóng góp cho sự phát triển của khoa học pháp lý chuyên ngành, bao gồm:
+ Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu các học thuyết, quan niệm về nhượng
quyền thương mại ở những nước phát triển cũng như thực tiễn pháp lý Việt Nam, luận án đã xây dựng được hệ thống lý luận khoa học về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của Việt Nam;
+ Thứ hai, từ quá trình nghiên cứu, luận án đã phát hiện ra vấn đề quan
trọng là pháp luật về nhượng quyền thương mại của VN chưa quan tâm xử lý đầy đủ, đúng đắn giữa pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại và pháp luật cạnh tranh Có thể nói, đây là vấn đề rất quan trọng, quyết định tới sự hoạt động thương mại lành mạnh nói chung và nhượng quyền thương mại nói riêng;
+ Thứ ba, là công trình khoa học đầu tiên phân tích, đánh giá một cách
có hệ thống những hạn chế bất cập của pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại của Việt Nam;
+ Thứ tư, luận án đã bước đầu xây dựng hệ quan điểm khoa học cũng
như đưa ra những giải pháp tiến bộ, hiện đại cho việc hoàn thiện pháp luật
Trang 13điều chỉnh nhượng quyền thương mại của Việt Nam phù hợp với pháp luật và tập quán thương mại quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
tế thị trường ở Việt Nam;
Chương 2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế;
Chương 3 Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ NHƯỢNG QUYỂN t h ư ơ n g m ạ i
VÀ PHÁP LUẬT ĐIỂU CHỈNH NHƯỢNG QUYỂN t h ư ơ n g m ạ i TRONG ĐIỂU KIỆN NEN k i n h t ê t h ị t r ư ờ n g ở v i ệ t n a m
1.1 NHŨNG VẤN ĐỂ CHUNG VỂ NHƯỢNG QUYỂN THƯƠNG MẠI
1.1.1 Quan niệm về nhượng quyền thương mại
1.1.1.1 Nhượng quyền thương mại dưới góc độ kinh tế
Nhượng quyền thương mại là một trong những khái niệm khá mới mẻ trong đời sống thương mại cũng như trong khoa học pháp lý Việt Nam Trong khi đó, hoạt động này tại một số thị trường khác trên thế giới lại hết sức sôi động Người tiêu dùng trên toàn thế giới không còn xa lạ gì với những thương hiệu nổi tiếng như đồ ăn nhanh McDonalcTs, Loterria, Gloria Jean’s, hệ thống siêu thị Metro hoặc Seven Eleven - đây là những thương hiệu sử dụng nhượng quyền thương mại làm phương thức kinh doanh Theo ước tính, nhượng quyền kinh doanh thương hiệu ở châu Á đã đạt 50 tỷ USD/năm [1, Tr 3] ở Việt Nam, kể từ thời điểm trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới - WTO, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại, nhiều phương thức kinh doanh mới đã hình thành và phát triển rộng rãi Nhượng quyền thương mại là một trong số các phương thức kinh doanh mới mẻ đó Qua một số trải nghiệm thực tế, có thể nói nhượng quyền thương mại là một phương thức kinh doanh hiệu quả của các thương nhân trong hoạt động thương mại ở góc độ kinh doanh, hoạt động này được coi là sự kết hợp hiệu quả nhất của hai hoạt động thương mại khác là xúc tiến thương mại và phân phối thương mại Có thể nói, nhượng quyền thương mại giúp cho thương nhân có thể phát triển công việc kinh doanh của mình dưới một tên thương mại mà tên thương mại ấy, ban đầu được đầu tư, xúc tiến bởi tiền và tài sản của một thương nhân khác Việc
Trang 15mua, bán “sự nổi tiếng” chính là cách hiểu thông thường của hoạt động nhượng quyền thương mại Tuv nhiên, việc mua bán “sự nổi tiếng” ấy không phải là đích đến cuối cùng của quan hệ Khi thiết lập quan hệ nhượng quyền thương mại, các bên, một cách trực tiếp hay gián tiếp, đều muốn hướng tới khoản lợi nhuận khổng lồ từ việc phân phối thành công một khối lượng lớn các hàng hoá, dịch vụ đặc thù dưới một tên thương mại chung.
Có thể nói, dưới góc độ kinh tế, nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh, phân phối hàng hoá, dịch vụ của các thương nhân thông qua việc chia sẻ quyền kinh doanh trên một thương hiệu, bí quyết kinh doanh cho một thương nhân khác Hoạt động này được tạo lập bởi ít nhất là hai bên chủ thể: bên nhượng quyền - là bên có quyền sở hữu đối với “quyền thương mại” - và bên nhận quyền - là bên độc lập, muốn kinh doanh bằng “quyền kinh doanh”, hay còn gọi là “quyền thương mại” của bên nhượng quyền Các bên thoả thuận: bên nhượng quyền trao cho bên nhận “quyền kinh doanh” bao gồm quyền sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh sản phẩm, dịch vụ dưới tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hoá của mình và nhận lại một khoản phí hay phần trăm doanh thu trong một khoảng thời gian nhất định; bên nhận quyền sử dụng “quyền kinh doanh” của bên nhượng quyền để tiến hành hoạt động kinh doanh nhưng phải chấp nhận tuân thủ một số điều kiện mà bên nhượng quyền đưa ra Như vậy, dưới góc độ kinh tế, bản thân nhượng quyền thương mại không phải là một cơ sở kinh doanh mà là một cách thức kinh doanh Thông qua cách thức kinh doanh này, bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều hướng tới những khoản doanh thu trực tiếp do các hoạt động thương mại tương đối độc lập đem lại
Một cách khái quát nhất, nhượng quyền thương mại được hiểu là một hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên chủ thể bao gồm bên nhận quyền và bên nhượng quyền, theo đó, bên nhượng quyền là chủ sở hữu của gói quyền thương mại bao gồm nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ, bí quyết, khẩu
Trang 16hiệu kinh doanh, bên nhận quyền là bên được cho phép sử dụng gói quyền thương mại đó để kinh doanh Bên nhượng quyền hỗ trợ bên nhận quyền về huấn luyện nhân viên, lựa chọn địa điểm kinh doanh và đôi khi hỗ trợ cả tài chính ban đầu dưới dạng một số cơ sở vật chất cần thiết Bên nhận quyền tiến hành hoạt động kinh doanh theo chỉ dẫn của bên nhượng quyền và trả phí nhượng quyền cho bên nhượng quyền Bên nhượng quyền trong quan hệ nhượng quyền thương mại thường có mục đích hướng tới việc huy động vốn của các chủ thể kinh doanh khác, mở rộng hệ thống cung cấp hàng hoá, dịch
vụ dưới tên thương mại của mình, nhằm làm cho tên thương mại đó ngày càng nổi tiếng Đối mặt với các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện việc nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền phải gia tăng chi phí giám sát đối với các cơ sở nhượng quyền Vì vậy, dưới góc độ kinh tế, mặc
dù không thể phủ nhận được nguồn thu tương đối lớn từ phí nhượng quyền, không phải lúc nào khoản thu nhập từ phí nhượng quyền cũng cao hơn chi phí giám sát mà bên nhượng quyền đã chi trả để duy trì sự ổn định của hệ thống nhượng quyền
Dưới góc độ kinh tế, hoạt động nhượng quyền thương mại có thể bao gồm các loại như: (i) nhượng quyền thương mại phân phối sản phẩm (product distribưtion íranchises), qua đó, bên nhận quyền được quyền bán các sản phẩm do bên nhượng quyền sản xuất ra dưới tên thương mại của bên nhượng quyền; (ii) nhượng quyền thương mại hệ thống (format íranchises), qua đó, bên nhận quyền có quyền thực hiện việc cung cấp các hàng hoá hoặc dịch vụ dưới tên thương mại của bên nhượng quyền Với hình thức nhượng quyền này, bên nhượng quyền phải tiến hành cung cấp các thông tin về công việc kinh doanh cũng như phải hỗ trợ đào tạo nhân viên, tham gia vào thiết kế cửa hàng cho bên nhận quyền nhằm đảm bảo tính thống nhất của các cửa hàng nhượng quyền [52, Tr 144] Tuy nhiên, xét dưới góc độ kinh tế, các bên hoàn toàn có thể sáng tạo ra các hình thức nhượng quyền thương mại khác nhau và chỉ có
Trang 17thể nhận ra sự khác biệt đó trong lừng điều khoản hợp đồng do các bên thoả thuận khi quyết định thiết lập quan hệ nhượng quyền thương mại.
Có thể nói, các bên chủ thể của quan hệ nhượng quyền thương mại, khi tham gia vào hoạt động thương mại tương đối đặc biệt này đều hướng tới những cơ hội kinh doanh và xúc tiến thương mại Đối với bên nhượng quyền, việc bán “sự nổi tiếng” và “uy tín kinh doanh” của mình cho người khác, ngoài mục đích thu về một khoản phí không nhỏ ở hiện tại với những hứa hẹn lợi nhuận đầy tiềm năng trong tương lai, bên nhượng quyền còn chủ ý phát triển hơn nữa chính “sự nổi tiếng” và “uy tín kinh doanh” của mình Đây có thể được coi là một biện pháp xúc tiến thương mại mang lại lợi nhuận trực tiếp cho bên nhượng quyền Đối với bên nhận quyền, việc mua “sự nổi tiếng” cũng như “uy tín kinh doanh” của một người khác, chấp nhận ẩn mình để khoác chiếc áo của người khác trong kinh doanh cũng chính là bên nhận quyền đã mua cho mình một cơ hội kinh doanh với một độ an toàn được đảm bảo Rủi
ro ít đi cùng với những thoả thuận hợp đồng nhượng quyền thương mại chính
là đích đến của các bên nhận quyền Ngoài ra, bên nhận quyền còn hướng tới phương thức kinh doanh thông qua nhượng quyền thương mại bởi vì một lý do không kém phần quan trọng, đó chính là việc được trở thành nhà kinh doanh độc lập - mặc dù sử dụng tên thương mại của một nhà kinh doanh khác - thay
vì việc phải đi làm thuê với tư cách là người lao động Trên phương diện này, mối quan, hệ giữa các bên nhận quyền và nhượng quyền hoàn toàn không phải
là mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và ngươi làm thuê, đó chính là một quan hệ bình đẳng và độc lập
Chính vì vậy, có thể nói, dưới góc độ kinh tế, hoạt động nhượng quyền thương mại chính là một cách thức kinh doanh thu lợi nhuận nhưng cũng chính là một cơ hội đầu tư xúc tiến thương mại hoặc một cơ hội nhằm hạn chế rủi ro trong những hoạt động kinh doanh độc lập của các bên nhận quyền và nhượng quyền thương mại
Trang 181.1.1.2 Nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp lý
Xét ở góc độ pháp lý, nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh của các thương nhân thông qua việc chia sẻ quyền thương mại trên một tên thương mại, quy trình, bí quyết kinh doanh cho một thương nhân khác Các bên trong quan hệ ràng buộc với nhau bởi một loạt các thoả thuận pháp lý, trong đó, quan trọng nhất
là việc bên nhượng quyền - dưới sự cho phép và giám sát của pháp luật - đồng
ý trao cho bên nhận quyền một “quyền thương mại” bao gồm quyền sử dụng
mô hình, kỹ thuật kinh doanh sản phẩm, dịch vụ dưới tên thương mại của mình và nhận lại một khoản phí hay phần trăm doanh thu trong một khoảng thời gian nhất định Được sự đồng thuận của bên nhượng quyền, bên nhận quyền có quyền sử dụng một cách hợp pháp tất cả các dấu hiệu nhận biết thương nhân hay sản phẩm của thương nhân do bên nhượng quyền làm chủ sở hữu để tiến hành hoạt động kinh doanh, tuy nhiên, bên nhận quyền phải đồng
ý chấp nhận tuân thủ một số điều kiện mà bên nhượng quyền đưa rạL
Việc xây dựng một định nghĩa pháp lý chuẩn về hoạt động nhượng quyền thương mại phụ thuộc khá nhiều vào việc hiểu như thế nào về thuật ngữ
“nhượng quyền thương mại” mà trong tiếng Anh là “íranchise” Thuật ngữ
“ửanchise” với cách hiểu phổ biến, thông thường, gần với bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại như hiện nay, được nhận định là một thuật ngữ mới Tính mới của thuật ngữ này thể hiện ở việc một số cuốn từ điển chuyên ngành luật hoặc chuyên ngành thương mại đã có sự bổ sung và giải nghĩa thuật ngữ này Cụ thể, cuốn từ điển tiếng Anh Oxíbrd (bản bổ sung năm 1972) đã ghi nhận thuật ngữ này xuất hiện năm 1959 trong từ vựng thương mại Vào năm 1979, cuốn từ điển chuyên ngành luật Black’s law đã lần đầu đề cập tới việc bán “ữanchise” và khẳng định hoạt động này chính là sự phát triển từ hình thức phân phối qua các đại lý, mặc dù trước đó hoạt động này thường được ẩn dưới danh nghĩa đại lý độc quyền (exclusive agent) [57, Tr 2]
Trang 19Hiện nay, ở các nước, các tổ chức thương mại quốc tế khác nhau đã có nhiều định nghĩa về nhượng quyền thương mại, được ghi nhận như là một phần quan trọng của pháp luật thương mại đối với từng tổ chức quốc tế hay quốc gia đó Dưới góc độ pháp lý, ímột trong những khái niệm sớm nhất về hoạt động thương mại này chính là một phần đặc biệt trong một phán quyết của Toà án Phúc thẩm Paris ngày 20/04/1978 Theo đó:
“Nhượng quyền thương mại được định nghĩa như (i) một phương pháp hợp tác giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp, một bên là bên nhượng quyền, bên kia là bên được nhượng quyền, trong đó, bên nhượng quyền - chủ sở hữu của tên thương mại hoặc tên pháp lý quen thuộc, các ký hiệu, các biểu tượng, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu thương mại hoặc nhãn hiệu dịch vụ, một bí quyết đặc biệt, (ii) trao cho người khác quyền sử dụng một tập hợp các sản phẩm, dịch
vụ nguyên gốc hoặc đặc biệt, để độc quyền khai thác chúng một cách bắt buộc và hoàn toàn theo cách thức thương mại đã được thử nghiệm, được chỉnh sửa và hoàn thiện định kỳ, để có được ảnh hưởng tốt nhất đối với thị trường và để đạt được sự phát triển tăng tốc của hoạt động thương mại của doanh nghiệp liên quan, để (iii) đổi lấy tiền bản quyền hoặc một lợi thế; theo hợp đồng, có thể (iv)
có sự hỗ trợ về sản xuất, thương mại hoặc tài chính, để bên được nhượng quyền hội nhập vào hoạt động thương mại của bên nhượng quyền và bên nhượng quyền có thể tiến hành một số kiểm soát đối với bên được nhượng quyền về việc thực hiện một phương pháp độc đáo hoặc một bí quyết đặc biệt để duy trì hình ảnh của nhãn hiệu dịch vụ hoặc sản phẩm bán ra và phát triển khách hàng với giá rẻ nhất, với khả năng sinh lợi lớn nhất của cả hai bên, theo đó, (v) hai bên vẫn độc lập hoàn toàn về mặt pháp luật” [55, Tr 165]7
Trang 20Khái niệm này đã miêu tả khá chi tiết các đặc điểm cơ bản, đồng thời cũng xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên chủ thể trong quan hệ nhượng quyền thương mại Theo cách hiểu này, môt quan hê nhương quyền thương mại ít nhất phải đáp ứng được năm yêu cầu, trong đó, yêu cầu quan trọng nhất là có sự xuất hiện của tập hợp các yếu tố như: tên thương mại hoặc tên pháp lý quen thuộc, các ký hiệu, các biểu tượng, nhãn hiệu hàng hoá hoặc nhãn hiệu dịch vụ, một bí quyết đặc biệt Các bên sẽ hợp tác kinh doanh trên
cở sở dùng chung tập hợp các yếu tố nói trên để hoạt động kinh doanhj Bên nhượng quyền - chủ sở hữu của các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ sẽ nhận được một khoản phí từ bên nhận quyền và trong chừng mực nhất định, bên nhượng quyền thực hiện quyền giám sát đối với bên nhận quyền trong khi bên này sử dụng tên thương mại của mình.ịM ột yếu tố không thể thiếu nữa của quan hệ nhượng quyền thương mại chính là tính chất độc lập giữa các bên nhượng quyền và nhận quyền Sự độc lập này có thể được hiểu cụ thể là sự độc lập về mặt pháp lý và trách nhiệm trước những rủi ro trong kinh doanhỊ
Theo Bộ Quy chế của Châu Âu về nhượng quyền thương mại do Hiệp hội Châu Âu về nhượng quyền thương mại ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/1/1992, hoạt động này được gọi bằng một tên khác: chuyển nhượng quyền
sử dụng thương hiệu và được định nghĩa như sau:
“Chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu được định nghĩa
là một hệ thống thương mại hoá các sản phẩm và/ hoặc các dịch vụ
và /hoặc các công nghệ, được xây dựng dựa trên mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và liên tục về pháp lý và tài chính giữa các doanh nghiệp khác nhau và hoạt động độc lập với nhau, giữa một bên là người chuyển nhượne quyền sử dụng thương hiệu và một bên là những ngưòi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu, trong
đó, người chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu chấp nhận cho những người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu quyền
Trang 21và nghĩa vụ khai thác kinh doanh đối tượng chuyển nhượng của
người chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu” [48, Tr 52]^J
Như vậy, về bản chất, hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu được nói đến trong khái niệm này có cùng bản chất với hoạt động nhượng quyền thương mại mà Toà án Paris đã đề cập đến trong phán quyết của mì
Một khái niệm khác về nhượng quyền thương mại đã được đưa ra bởi Hiệp hội Nhượng quyền thương mại Quốc tế (The International Franchise Association), theo đó:
“Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, trong đó, bên chuyển nhượng đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhân trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; bên nhận chuyển nhượng hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hoá, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên chuyển nhượng sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận chuyển nhượng đang hoặc sẽ đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình.” [7 Tr 134]
Ở nước Mỹ, thuật ngữ “ữanchise” - nhượng quyền thương mại, được định nghĩa rất đa dạng ở cấp liên bang và cấp bang Thông qua những vụ án đã được mang ra xem xét ở thời kỳ đầu, thuật ngữ nhượng quyền thương mại được hiểu là chủ sở hữu của một tên thương mại hoặc một nhãn hiệu hàng hoá cho phép một người khác được cung cấp hàng hoá, dịch vụ dưới tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hoá đó Vì vậy, các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được coi là “xương sống” của quan hệ nhượng quyền thương mại Tuy nhiên, sự phát triển của nhượng quyền thương mại, với tư cách là một cách thức phân phối hàng hoá và phát triển dịch vụ, đã chứng tỏ hoạt động nhượng quyền thương mại không đơn thuần chỉ là li xăng nhãn hiệu hàng hoá Chính
7 H ơ V Ẹ N
TRƯỜNG Đ/Ị
PHÒNG ĐO
Trang 22vì thế, ở mỗi bang hoặc toàn liên bang Hoa Kỳ pháp luật thương mại đều đưa
ra những định nghĩa khác nhau, phù hợp với mục đích điểu chỉnh của từng bang hoặc liên bang Từ năm 1979, Hội đồng thương mại liên bang Mỹ đã định nghĩa nhượng quyền thương mại là một lĩnh vực thương mại rất rộng, bao trùm các hoạt động từ nhượng quyền sản xuất, phân phối đến các hoạt động cung cấp dịch vụ [71] Như vậy, nhượng quyền thương mại được hiểu là bất cứ
một thoả thuận hợp đồng nào, trong đó: (i) hoặc bên nhượng quyền bán, cung
cấp cho bên nhận quyền hàng hoá, sản phẩm hoặc dịch vụ được nhận biết bởi tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ hoặc biểu tượng thương mại của bên nhượng quyền, một cách trực tiếp hay gián tiếp hướng dẫn cho bên nhận quyền có thể khai thác, kinh doanh, bán hàng hoá, dịch vụ dưới tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ hoặc biểu tượng thương mại của bên nhượng quyền; Bên nhận quyền có quyền được khai thác
và sử dụng toàn bộ phương thức kinh doanh của bên nhượng quyền bao gồm: cách thức tổ chức, quản lý kinh doanh; các biện pháp xúc tiến thương mại hoặc sự kiện thị trường Bên nhượng quyền có nghĩa vụ trợ giúp cho bên nhận quyền cập nhật những cách thức mới nhất trong phương thức kinh doanh của
bên nhượng quyền Hoặc (ii) bên nhượng quyền cung cấp trực tiếp hàng hoá,
quản lý chặt chẽ về địa điểm bán hàng, giá cả hàng hoá đối với bên nhận quyền [53, Tr 9-10] Như vậy, với cách thức thứ hai, bên nhận quyền không khác gì so với một đại lý phân phối hàng hoá, sản phẩm mà bên nhượng quyền chính là nhà sản xuất
Từ năm 1970, các bang trong nước Mỹ đã có luật về nhượng quyền thương mại của mình Tại thời kỳ này, có tới 14 bang của Mỹ có luật về lĩnh vực này trước khi pháp luật về nhượng quyền thương mại của Liên bang ra đời, riêng New York là có luật về nhượng quyền thương mại sau khi Hội đồng thương mại liên bang Mỹ ban hành Luật về hoạt động thương mại đặc biệt này Điều đáng nói là hầu hết luật nhượng quyền thương mại của các
Trang 23bang trong nước Mỹ đều liên quan đến mối quan hệ giữa nhà sản xuất ô tô và nhà phân phối ô tô Luật Cơ hội kinh doanh của bang Texas đã coi hoạt động nhượng quyền thương mại như một ngoại lộ phải áp dụng thủ tục đăng ký của Luật này Luật Đầu tư nhượng quyền thương mại của Bang California lại định nghĩa, nhượng quyền thương mại là thoả thuận hợp đồng, thể hiện ra bên ngoài hay ngụ ý, dưới dạng văn bản hay lời nói, theo đó: (i) bên nhận quyền được trao quyền tổ chức hoạt động chào hàng, bán hàng hoặc phân phối hàng hoá, dịch vụ dưới một kế hoạch tiếp cận thị trường hoặc một hệ thống đóng vai trò quan trọng trong phương thức kinh doanh của bên nhượng quyền; (ii) sự vận hành công việc kinh doanh của bên nhận quyền phải phù hợp với hệ thống cơ bản của bên nhượng quyền với tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, logo và quảng cáo hoặc các biểu tượng
thương mại khác do bên này sáng tạo ra; (iii) yêu cầu trả phí được đặt ra đối
với bên nhận quyền thương mại [53, Tr 25] Luật Đầu tư nhượng quyền thương mại của Bang Michigan cho rằng, hoạt động nhượng quyền thương mại chẳng qua là một hoạt động đại lý và quyền cũng như nghĩa vụ của bên nhượng quyền sẽ được pháp luật điều chỉnh giống với quyền và nghĩa vụ của bên giao đại lý, kể từ thời điểm mối quan hệ hợp đồng giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền không còn ràng buộc chặt chẽ bởi các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ [53, Tr 27] Ra đời muộn hơn so với pháp luật về nhượng quyền thương mại của Liên bang, Luật Nhượng quyền thương mại của New York cũng đưa ra định nghĩa khá tương đồng với định nghĩa về hoạt động nhượng quyền thương mại của Liên bang Tuy nhiên, cách hiểu về phí nhượng quyền được giải thích một cách linh hoạt hơn, trong đó bao gồm cả các khoản phí nhượng quyền trực tiếp và gián tiếp [53, Tr 29] Một số bang như Bang Caliíornia, New York, Illinois là các bang có sự phát triển mạnh mẽ về hoạt động nhượng quyền thương mại, ngoài những luật lệ riêng của bang, lại cùng
Trang 24nhau thoả thuận áp dụng Thoả thuận chung về Hình thức nhượng quyền thương mại (Uniíorm Franchise Offering Circular).
Ịở Việt Nam, Điều 284, Luật Thương mại (2005) đã đưa ra khái niệm
về hoạt động nhượng quyền thương mại, theo đó:
“Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền được quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
1 Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”
Với khái niệm này, pháp luật thương mại của Việt Nam khẳng định hoạt động nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại, vì vậy, hoạt động này phải do thương nhân thực hiện và có mục đích kinh doanh Ngoài
ra, khái niệm này cũng chỉ rõ tính chất ràng buộc (juaịì lại giữa các bên có liên quan, nhất là khẳng định sự giám sát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền thương rnạĩ^
ịNhư vậy, xét dưới cả góc độ kinh tế và góc độ pháp lý, với những đặc điểm đã phân tích, có thể xây dựng được một khái niệm cơ bản về hoạt động nhượng quyền thương mại với tư cách là một hoạt động thương mại đặc thù Nhượng quyền thương mại là một quan hệ pháp luật được thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa các bên, trong đó, bên nhượng quyền thương mại và bên nhận
Trang 25quyền thương mại trong đó, bên nhượng quyền thương mại cho phép bên nhận quyền thương mại sử dụng một “gói” các quyền thương mại của mình mà chủ yếu là các quyền liên quan đến đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành kinh doanh với một tư cách pháp lý độc lập Đổi lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền cho bên nhượng quyền thương mại, phí này có thể bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí nhượng quyền định kỳ trả dựa trên doanh thu hàng tháng, hàng năm của bên nhận quyền thương mại Ngoài ra, bên nhượng quyền thương mại có thể ràng buộc bên nhận quyền thương mại bởi các thoả thuận nhằm duy trì tính hệ thống hoặc để kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền thương mại trên cơ sở có hỗ trợ về mặt kỹ thuật và đào tạo nhân lực cũng như một số cơ sở vật chất cần thiết cho bên nhận quyền thương mại.
Có thể nói, cho dù nhượng quyền thương mại được nhìn nhận dưới góc
độ nào, và ở những nơi khác nhau, hoạt động này được gọi bằng những cái tên không giống nhau, tuy nhiên nhượng quyền thương mại luôn'được xác định với những đặc trưng cơ bản không thể khác, ít nhất là trong các vấn đề nổi bật sau đây:
M ột là, trong quan hệ nhượng quyền thương mại, tính chất độc lập của
các bên nhượng quyền và nhận quyền được thể hiện rõ nét Mặc dù, có sự hỗ trợ và kiểm soát qua lại giữa các bên nhưng tư cách pháp lý và trách nhiệm tài chính của các bên luôn độc lập với nhau Theo đó, bên nhượng quyền đồng ý trao cho bên nhận quyền quyền khai thác các nội dung chủ yếu của “quyền thương mại” và thực hiện quyền kiểm soát đối với bên nhận quyền, bù lại, bên nhận quyền trả phí nhượng quyền cho bên nhượng quyền và tuân thủ những quy định cũng như chịu sự giám sát của bên này
Hai là, sự thống nhất, đồng bộ về mặt hình thức biểu hiện đối với cách
thức tiến hành hoạt động thương mại của bên nhượng quyền và bên nhận quyền, hay rộng hơn, trong cả hệ thống nhượng quyền là đặc điểm không thể
Trang 26thiếu ở quan hệ nhượng quyền thương mại Sự thống nhất này có được và được quy định bởi tính chất đặc biệt của quan hệ nhượng quyền thưưng mại Xuất phát từ việc cùng nhau sử dụng những nội dung của “quyền thương mại”, các chủ thể cùng hệ thống nhượng quyền thương mại sẽ được hưởng, đồng thời cùng chịu rủi ro từ tính thống nhất đặc trưng này của quan hệ nhượng quyền thương mại.
Ba là, hoạt động nhượng quyền thương mại chính là sự kết hợp của
nhiều hoạt động thương mại khác nhau như: li-xăng, chuyển giao công nghệ; đại lý v v Những hoạt động thương mại này có thể được các thương nhân thực hiện độc lập, tuy nhiên, trong hoạt động nhượng quyền thương mại, không thể tìm thấy sự độc lập này Vì vậy, có thể coi hợp đồng nhượng quyền thương mại là một tập hợp các hợp đồng không thể tách rời, thể hiện tính chất của các loại hợp đồng li-xăng, chuyển giao công nghệ và đại lý Đây chính là điểm đặc biệt của hoạt động nhượng quyền thương mại trong tương quan so sánh với các loại hợp đồng thương mại cùng loại khác
Có thể nói, nhượng quyền thương mại, với những đặc điểm của mình đã khẳng định được tính chất độc lập khi được đặt cạnh những hoạt động thương mại khác Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, với ít nhất hai đặc điểm tưởng như mâu thuẫn: tính độc lập và tính đồng bộ, nhượng quyền thương mại chính là một hoạt động thương mại có rất nhiều khía cạnh pháp lý đáng phải nghiên cứu và làm sáng tỏ
1.1.1.3 Đặc điểm của hoạt động nhượng quyền thương mại
Dựa vào bản chất đã được phân tích qua những khái niệm trên đây, hoạt động nhượng quyền thương mại có một số đặc điểm, thông qua đó có thể phân biệt dễ dàng hoạt động này với một số hoạt động thương mại cùng loại khác Một số đặc điểm cơ bản của hoạt động nhượng quyền thương mại được chỉ ra dưới đây:
Trang 27Thứ nhất, về chủ thể, trong hoạt độne nhượng quyền thương mại, điều
kiện đặt ra đối với các chủ thể được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế và góc độ pháp luật.ỊĐể đáp ứng điều kiện thực tế nhằm làm cho việc nhượng quyền có tính khả thi, bên nhượng quyền bắt buộc phải có một hệ thống, cơ sở kinh doanh có lợi thế cạnh tranh trên thị trường Hệ thống kinh doanh này phải có
sự trải nghiệm thị trường đủ để tạo ra một giá trị “quyền thương mại” hợp lý
và tạo niềm tin cho bên nhận quyền^M ặt khác, dưới góc độ pháp luật, để đáp ứng yêu cầu của pháp luật, bên nhận quyền là môt doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý, tài chính và đầu tư, đồng thời chấp nhận rủi ro đối với vốn bỏ ra
để thực hiện việc tham gia vào hệ thống nhượng quyền của bên nhượng quyền] Rất nhiều nước trên thế giới, khi quy định về điều kiện để trở thành các bên của một quan hệ nhượng quyền thương mại, đều nêu cao tiêu chí yêu cầu cả bên nhận quyền và bên nhượng quyền phải có tư cách thương nhân Tiêu chí này chứng tỏ nhượng quyền thương mại là một hoạt động đặc trưng của thương mại, vì vậy, hầu như hoạt động này chỉ giành riêng cho các thương nhân Để đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ, đặc biệt là bảo vệ lợi ích của bên được coi là yếu thế hơn - bên nhận quyền, pháp luật của hầu hết các nước quy định rằng, để có thể nhượng “quyền thương mại” cho một bên nhận, bên nhượng quyền phải có một thời gian hoạt động kinh doanh nhất định trong chính lĩnh vực dự định sẽ thực hiện việc nhượng quyền Thời gian kinh doanh thực tế này chính là thời gian vừa đủ để khẳng định giá trị “quyền thương mại” Tuy nhiên, xét dưới góc độ pháp luật, thời gian kinh doanh yêu cầu phải có này không nhất thiết phải kèm theo điều kiện về kinh doanh có lãi hoặc phải đạt một tỉ lệ lợi nhuận nhất định, mặc dù yêu cầu về kinh doanh có lãi của bên nhượng quyền chính là yếu tố chi phối đến tính khả thi của việc nhượng “quyền thương mại” diễn ra trên thực tế Thêm vào đó, đối với bên nhượng quyền, việc đăng ký để thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại
Trang 28với cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng là một điều kiện bắt buộc ở hầu hết các nước.
Thứ hai, về hình thức biểu hiện, hoạt động nhượng quyền thương mại
có sự đa dạng nhất định Hoạt động nhượng quyền thương mại bao gồm rất nhiều loại, phân biệt với nhau dựa theo một số tiêu chí cụ thể sau đây: Theo tiêu chí nội dung của hoạt động kinh doanh, có thể có nhượng quyền sản xuất (Processing- ĩranchise), nhượng quyền phân phối (distribution - íranchise) và nhượng quyền thực hiện dịch vụ (Service - ữanchise); theo tiêu chí hình thức hoạt động kinh doanh, có thể có nhượng quyền sơ cấp (master íranchise), nhượng quyền đa cơ sở (multi- ữanchise), nhượng quyền liên kết (pluri- ữanchise) và nhượng quyền góc (comer- ữanchise); theo tiêu chí lãnh thổ, có thể có nhượng quyền nội địa và nhượng quyền quốc tế Tính chất đa dạng của nhượng quyền thương mại phát triển tỷ lệ thuận với những lợi ích mà nhượng quyền thương mại đem lại cho các bên trong quan hệ cũng như cho nền kinh
tế - xã hội
Thứ ba, về nội dung của khái niệm “quyền thương mại” - đối tượng của
hoạt động nhượng quyền thương mại, cũng phát triển rất phong phú, bao gồm: hàng tiêu dùng; công việc kinh doanh; dịch vụ; dịch vụ chuyên môn; dịch vụ đặc biệt (thuộc Chính phủ); các phương thức kinh doanh “Quyền thương mại” trong hoạt động nhượng quyền thương mại là một khái niệm mở, cho phép các chủ thể của quan hệ nhượng quyền cụ thể hoá từng nội dung bao gồm trong đó
“Quyền thương mại” có thể chỉ đơn giản là bí quyết kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, công nghệ sản xuất nhất định hoặc là tổng hợp tất cả những quyền đối với hầu hết các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ để bên nhận quyền có thể sử dụng để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ giống với những sản phẩm hoặc dịch vụ mà bên nhượng quyền tạo ra Sự phức tạp của nội dung khái niệm “quyền thương mại” làm cho hoạt động nhượng quyền thương mại khác biệt so với các hoạt động thương mại khác có liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ
Trang 29Trong một bối cảnh chung là chưa có bất cứ một khái niệm chính thức nào định nghĩa rõ ràng về “quyền thương mại” thì nội dung của “quyền thương mại” sẽ phụ thuộc vào sự giải thích của các bên trong từng quan hệ nhượng quyền thương mại cụ thể Tuy nhiên, tính chất “tổng hợp”, “kết hợp” giữa các quyền đối với các đối tượng của sở hữu trí tuệ là yếu tố không thể thiếu của “quyền thương mại”, giúp cho hoạt động nhượng quyền thương mại có thể được phân biệt một cách tương đối trong tương quan so sánh với những quan hệ thương mại tương tự khác Tóm lại, đối tượng của quan hệ nhượng quyền thương mại là một chỉnh thể thống nhất bao gồm nhiều yếu tố kết hợp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt đối với tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ thuộc sở hữu của thương nhân nhượng quyền.
Sự mở rộng của hình thức cũng như đối tượng của nhượng quyền thương mại phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội từng quốc gia cũng như khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, càng được khuyến khích mở rộng, quan hệ nhượng quyền thương mại càng chứa đựng những khả năng gây
ra tranh chấp thương mại Bản thân “quyền thương mại” đã liên quan trực tiếp tới lợi ích thiết thân của nhà kinh doanh, việc phát triển “quyền thương mại” đồng nghĩa với việc nâng cao vị thế cạnh tranh của nhà kinh doanh trên thị trường và quyết định mức tăng về doanh thu, về lợi nhuận Việc nhượng lại quyền thiết thân này cho một chủ thể kinh doanh khác để cùng kinh doanh, cùng chia sẻ những lợi thế mà “quyền thương mại” đem lại, vì thế, chắc chắn
sẽ gây ra không ít tranh chấp Chính vì đặc điểm này, quan hệ nhượng quyền thương mại phải được coi là một loại quan hệ thương mại đặc biệt, được điều chỉnh bằng những quy định pháp luật phù hợp nhằm giảm thiểu những kẽ hở trong thoả thuận mà các bên có thể bỏ qua trong quá trình giao kết Có thể nói, đối với từng khu vực, từng quốc gia khác nhau, sự vận hành thuận lợi của hoạt động nhượng quyền thương mại phụ thuộc không nhỏ vào việc pháp luật
có những cơ chế điều chỉnh hiệu quả như thế nào Thực tế của quá trình sản
Trang 30xuất kinh doanh sẽ sản sinh ra hoạt động nhượng quyền thương mại một cách
tự nhiên, nhưng nếu không có sự hỗ trợ của pháp luật, các bên trong quan hệ nhượng quyền sẽ không có cơ sở pháp lý để tiếp tục duy trì và mở rộng nhũng hoạt động này, ngay cả khi chúng mang lại lợi ích cho các bên và cho nền kinh tế - xã hội
Thứ tư, tính đồng bộ và tính hệ thống là đặc trưng không thể thiếu của
quan hệ nhượng quyền thương mại Mục đích chính của bên nhượng quyền, khi chấp nhận nhượng lại “quyền thương mại” của mình cho người khác, sau
đó tiếp tục cùng kinh doanh với “quyền thương mại” ấy là để mở rộng hệ thống sản xuất, phân phối hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ sở dĩ, có thể gọi
đó là hệ thống, bởi vì hầu hết các cơ sở nhượng quyền - dù ở vị trí địa lý nào - đều phải đạt tiêu chuẩn theo một mô hình đã được thiết kế trước với ý tưởng của bên nhượng quyền Sự giống nhau trong chất lượng và hình thức của hàng hoá, dịch vụ, cách thức phục vụ của nhân viên khi cung ứng các sản phẩm trên thị trường tạo nên tính hệ thống của quan hệ nhượng quyền thương mại Bằng cách này hay cách khác, những đặc trưng cơ bản nhất của hàng hoá, dịch vụ
và cách thức cung ứng của bên nhượng quyền phải được bên nhận quyền lặp lại Mọi sự phát triển và sáng tạo không xuất phát từ ý chí của bên nhượng quyền hoặc không có sự cho phép của bên nhượng quyền sẽ phá hỏng tính hệ thống của mạng lưới cung ứng sản phẩm được tạo ra từ quan hệ nhượng quyền thương mại Hậu quả, mục đích chính của quan hệ nhượng quyền thương mại
là hướng tới sự đồng bộ và phát triển hệ thống nhượng quyền sẽ không được thoả mãn, trong khi từng bên chủ thể riêng lẻ trong quan hệ nhượng quyền thương mại vẫn có thể thu về lợi nhuận Vì vậy, tính đồng bộ, hệ thống chính
là đặc trưng cơ bản và quan trọng trong quan hệ nhượng quyền thương mại và đây chính là một trong những mục tiêu quan trọng nhất mà các bên, nhất là bên nhượng quyền hướng tới trong khi thiết lập các quan hệ nhượng quyền thương mại với các bên nhận quyền thương mại
Trang 311.1.1.4 Phán biệt hoạt động nhượng quyên thương mại với một sô hoạt động thương mại khác có liên quan
Với những đặc trưng cơ bản đã phân tích, có thể nhận thấy nhượng quyền
thương mại là một hoạt động thương mại đặc thù, tuy nhiên, hoạt động này cũng
có những điểm tương đồng khá rõ nét với một số hoạt động thương mại khác như
đại lý thương mại, li-xãng, chuyển giao công nghệ Chính vì vậy, pháp luật điều
chỉnh quan hệ nhượng quyền thương mại và pháp luật điều chỉnh các hoạt động
thương mại nói trên cũng có mối tương quan với nhau Tuy nhiên, dựa vào
những đặc trưng của hoạt động nhượng quyền thương mại đã phân tích trên
đây, trong tương quan so sánh với những mối quan hệ khác liên quan đến
“quyền thương mại” hoặc một số yếu tố tách biệt của quyền này như quyền
đối với nhãn hiệu hàng hoá, công nghệ; quyền đối với kiểu dáng công nghiệp,
quan hệ nhượng quyền thương mại có những đặc điểm phân biệt Sự khác biệt
này vừa được nhìn nhận bằng thực tế các quy định của pháp luật lại vừa là cơ
sở để mỗi một mảng pháp luật điều chỉnh một hoạt động thương mại có những
cơ chế điều chỉnh khác nhau Có thể chỉ ra những khác biệt trong mối quan hệ
giữa hoạt động nhượng quyền thương mại cũng như pháp luật điều chỉnh hoạt
động này với một số hoạt động thương mại khác cũng như pháp luật điều
chỉnh chúng như sau:
M ột là, sự khác biệt của nhượng quyền thương mại so với việc chuyển
nhượng hoàn toàn thương hiệu, quyền kinh doanh Nếu như hậu quả pháp lý
của việc chuyển nhượng hoàn toàn quyền kinh doanh đối với một loại hàng
hoá, dịch vụ nhất định là bên chuyển nhượng sẽ chấm dứt việc kinh doanh với
loại hàng hoá, dịch vụ đó thì việc nhượng quyền thương mại sẽ dẫn đến tình
trạng cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng cùng tiến hành song
song các hoạt động kinh doanh
Trang 32Hai là, hoạt động nhượng quyền thương mại cũng khác với một số hoạt
động cho thuê hoặc cho mượn tài sản thông thường khác ở hậu quả pháp lý của hành vi Nếu như việc cho thuê, mượn tài sản thông thường để sử dụng sẽ làm cho các tài sản thông thường ấy hao mòn, không còn nguyên giá trị sử dụng (hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình) thì đối với việc cho thuê, mượn
“quyền thương mại” lại không làm cho tài sản này hao mòn, ngược lại, sự phát triển mạnh mẽ của cả hộ thống dưới một tên thương mại duy nhất sẽ làm cho
“quyền thương mại” đó càng trở nên phổ biến và khẳng định được hơn nữa giá trị của mình
Ba là, với quan hộ đại lý thương mại, nhượng quyền thương mại khác
biệt chủ yếu ở trách nhiệm phân minh giữa các bên đối với kết quả kinh doanh hoặc rủi ro trong kinh doanh Đối với quan hệ đại lý, bên giao đại lý chỉ thực hiện việc giao hàng cho bên đại lý mà không chuyển giao cho bên đại lý quyền sở hữu đối với hàng hoá đó, vì vậy, khi không bán được hàng hoá hoặc
có rủi ro xảy ra với hàng hoá, người phải gánh vác nghĩa vụ đối với rủi ro đó một cách đầu tiên và trực tiếp chính là bên giao đại lý - chủ sở hữu hàng hoá Trong khi đó, sự độc lập về mặt pháp lý giữa các bên chủ thể của quan hệ nhượng quyền thương mại dẫn đến sự độc lập về trách nhiệm tài chính trong hoạt động kinh doanh của các bên Việc bên nhận quyền hoặc bên nhượng quyền kinh doanh thua lỗ, không có khách hàng hoặc có rủi ro xảy ra với hàng hoá của mỗi bên không liên quan trực tiếp tới bên kia nếu những sự kiện đó không bắt nguồn từ một sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhượng quyền Như vậy, sự độc lập trong quan hệ đại lý chỉ là sự độc lập về tư cách chủ thể Có thể khẳng định, bên đại lý chỉ là bên “bán hộ” cho bên giao đại lý Còn đối với nhượng quyền thương mại, mỗi bên đều thực hiện hoạt động kinh doanh độc lập, không bên nào “bán hộ” hàng hoá, dịch vụ cho bên nào v ề bản chất, trong hoạt động nhượng quyền thương mại, hai bên nhượng quyền và nhận quyền chỉ cùng nhau kinh doanh dưới một tên thương mại mà thôi
Trang 33Bổn lủ, với quan hệ li xăng và chuyển giao công nghệ, nhượng quyền
thương mại cũng có những điểm khác biệt quan trọng Li xăng là việc chủ sỏ' hữu chuyển giao quyền sử dụng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ như nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp bí quyết kinh doanh, sáng chế cho một chủ thể khác nhằm thu phí [15, Tr 2] Sau khi ký hợp đồng li xăng, bên nhận có quyền sử dụng các đối tượng được li xăng vào hoạt động kinh doanh của mình Tuỳ thuộc vào đối tượng của hợp đồng li xăng, bên nhận có thể gắn nhãn hiệu hàng hoá của bên li xăng vào hàng hoá do mình sản xuất hoặc dùng kiểu dáng
mà bên li xăng thiết kế ra đối với sản phẩm của mình Chuyển giao công nghệ
là cách thức mà thông qua đó, bên nhận chuyển giao có thể sử dụng công nghệ của bên chuyển giao để sản xuất ra hàng hoá của mình, tuy nhiên, việc hàng hoá đó gắn nhãn hiệu hàng hoá nào, được bán ra với tên thương mại nào còn phụ thuộc vào việc giữa hai bên có thêm hợp đồng li xăng hay không Sau khi nhận chuyển giao công nghệ, bên nhận chuyển giao có thể lựa chọn giữ nguyên công nghệ để áp dụng hoặc phát triển công nghệ đó theo hướng tích cực Như vậy, li xăng và chuyển giao công nghệ là hai hoạt động thương mại tương đối giống với nhượng quyền thương mại Tuy nhiên, hai hoạt động nói trên chỉ đề cập tới các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ một cách tách biệt và không bắt buộc phải kết hợp cũng như không có nhiều điều kiện cho sản phẩm được tạo
ra, trong khi đó, nhượng quyền thương mại lại quan tâm tới sự kết hợp chặt chẽ
của các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Sự kết hợp này là bắt buộc, mặc dù
kết hợp ở mức độ nào là tuỳ thuộc vào thoả thuận của các bên trong từng hợp đồng cụ thể Điều kiện về sự tương đồng cũng đặt ra đối với sản phẩm của bên nhận quyền trong tương quan so sánh với sản phẩm của bên nhượng quyền Sự tương đồng của sản phẩm này liên quan đến ít nhất ba vấn đề chính: chất lượng, hình thức và giá cả Mặc dù, không phải lúc nào quan hệ nhượng quyền thương mại cũng bắt buộc bên nhận quyền phải tạo ra những sản phẩm y hệt như sản phẩm mà bên nhượng quyền tạo ra, nhưng sự tương đồng luôn luôn phải tồn tại
ở một giới hạn mà tại đó, khách hàng có thể nhận ra đúng các sản phẩm thuộc
Trang 34về một mạng lưới nhượng quyền thương mại nhất định Như vậy, tính “tương
đồng” về sản phẩm đã phân tích ở trên là một trong những đặc điểm chính phân
biệt giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và hoạt động li xăng cũng như
chuyển giao công nghệ
1.1.2 Vai trò của hoạt động nhượng quyền thương mại
Dựa vào cơ chế hoạt động của mình, nhượng quyền thương mại không
chỉ mang lại lợi ích to lớn cho các bên trong quan hệ mà còn tác động trực tiếp
tới sự phát triển và sự ổn định của nền kinh tế xã hội Tuy nhiên, bên cạnh
những ý nghĩa tích cực, nhượng quyền thương mại cũng có thể đặt các bên
trong quan hệ cũng như nền kinh tế xã hội vào thế phải đối mặt với những
nguy cơ rủi ro tương đối lớn Có thể nhận thấy, hoạt động nhượng quyền
thương mại với những bước phát triển của nó, có những tác động không nhỏ
tới sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, trong đó phải kể đến
tác động của hoạt động này đối với các bên trực tiếp tham gia quan hệ cũng
như vai trò của nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế - xã hội với
những đặc điểm khá đặc thù của Việt Nam
1.1.2.1 Ý nghĩa của hoạt động nhượng quyền thương mại đôi vói bên nhượng quyền
Đối với bên nhượng quyền, un điểm lớn nhất mà nhượng quyền thương
mại mang lại là giúp cho hệ thống kinh doanh của bên này được mở rộng
trong khi hầu như không phải bỏ thêm vốn Cùng với việc chuyển giao
“quyền thương m ại” cho một chủ thể kinh doanh khác cùng kinh doanh, bên
nhượng quyền có thể nhận được một khoản vốn không nhỏ, thu được từ
khoản phí nhượng quyền mà bên nhận quyền phải trả Tuy nhiên, tuỳ vào
từng điều kiện và mục đích mà mỗi bên nhượng quyền khác nhau hướng tới,
bên nhượng quyền có thể quy định về việc thu phí nhượng quyền ban đầu
hoặc vẫn tiến hành việc nhượng quyền với phí ban đầu bằng không Điều này
phụ thuộc vào mức độ nổi tiếng của tên thương mại được nhượng cũng như
Trang 35chiến dịch mở rộng hệ thống của bên nhượng quyền Bên cạnh phí nhượng quyền ban đầu, hàng tháng, hàng năm, bên nhận quyền vẫn có thể phải trả cho bên nhượng quyền một khoản tiền nhất định bằng một số phần trăm trên tổng số lợi nhuận bên nhận quyền thu được Khoản tiền này được hiểu là để trả cho việc sử dụng “quyền thương m ại” thực tế trong một tháng hay một năm Mặc dù, để duy trì và vận hành hệ thống các cơ sở nhượng quyền thương mại ổn định và phát triển, bên nhượng quyền phải chi trả khoản phí giám sát tương đối lớn nhưng trên thực tế, có những doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm về nhượng “quyền thương mại” cao hơn so với tổng doanh thu về nghề nghiệp chính của họ như kinh doanh siêu thị, bán đổ ăn nhanh - những ngành nghề làm nên tên tuổi của doanh nghiệp Mặt khác, bên nhượng quyền hoàn toàn có thể được hưởng thêm những phần trăm doanh thu từ việc cung cấp một số nguyên liệu, hàng hoá là đặc thù của hộ thống nhượng quyền cho bên nhận quyền Như vậy, bằng tiền của người khác - bên nhận quyền, bên nhượng quyền thật sự có được mạng lưới kinh doanh rộng rãi, mang tên thương mại của mình Đồng thời, hệ quả của việc nhượng quyền thương mại là hệ thống kinh doanh được mở rộng mà vẫn nằm trong sự điều tiết chung của bên nhượng quyền Bên nhượng quyền có quyền giám sát việc bên nhận quyền đối xử như thế nào với “quyền thương mại” đã được nhượng, nhất là thái độ của bên nhận quyền với việc bảo vệ và làm cho thương hiệu trở nên tốt đẹp và nổi tiếng hơn Như vậy, đối với bên nhượng quyền, việc kinh doanh thông qua nhượng quyền thương mại xuất phát từ
những lý do, bao gồm: (i) chi phí mở rộng hệ thống được tiết giảm, mặc dù,
trong một số trường hợp và ở những giai đoạn nhất định, bên nhượng quyền phải đầu tư tương đối lớn vào việc xúc tiến thương mại và giám sát hệ thống
nhượng quyền thương mại; (ii) khai thác được hiệu ứng đám đông, tạo nên sự
nổi tiếng của tên thương mại thông qua việc kết nạp ngày càng nhiều các cơ
sở nhượng quyền thương mại; (iii) huy động được vốn của các bên nhận
Trang 36quyền thương mại, xây dựng một hệ thống nhượng quyền thương mại bằng vốn của những người có ý tưởng (bên nhượng quyền) và những người khác muốn chia sẻ phần vốn kinh doanh của mình (bên nhận quyền).
Tuy nhiên, việc đồng ý ràng buộc bởi hợp đồng nhượng quyền thương mại, nắm chắc trong tay những khoản lợi nhuận không nhỏ và rất ổn định nói trên, cũng đồng nghĩa với việc bên nhượng quyền phải trao toàn bộ những bí quyết, công thức, bí mật kinh doanh của mình cho một bên độc lập khác Tính chất độc lập của bên nhận quyền sẽ có khả năng thúc đẩy bên này vi phạm hợp đồng nhượng quyền bất cứ khi nào bên nhận quyền nhận thấy phần lợi nhuận
mà mình thu được từ việc thực hiện trung thành các điều khoản hợp đồng nhượng quyền thương mại ít hơn rất nhiều so với việc vi phạm hợp đồng đó Nguy cơ mất bí quyết kinh doanh, lộ bí mật kinh doanh là nguy cơ thường trực
mà bên nhượng quyền phải đối mặt Giải pháp cho tình thế này là bên nhượng quyền phải ràng buộc chặt chẽ bên nhận quyền bằng các điều khoản cấm trong hợp đồng Tuy nhiên, những điều khoản cấm này đôi khi là trái pháp luật nếu
nó đi quá giới hạn của một công cụ bảo vệ và vi phạm vào ranh giới của quyền
tự do kinh doanh của bên nhận quyền Bên cạnh đó, nguy cơ khác cũng có thể xảy ra đối với chủ thể nhượng quyền, đó chính là việc phải đối mặt với sự đổ vỡ hàng loạt trong hệ thống nhượng quyền của mình Tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền cho phép khách hàng nhận ra tất cả các cửa hàng trong cùng một
hệ thống, nhưng chính nó lại làm cho khách hàng không thể nhận biết được tính chất độc lập của mỗi cửa hàng cũng như chủ sở hữu của chúng Vì vậy, chỉ cần một trong các cửa hàng không làm hài lòng khách hàng, lập tức cả hệ thống nhượng quyền sẽ bị bài trừ, không có ngoại lệ Như vậy, tham gia vào một quan
hộ nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền luôn luôn có cơ hội để nắm bắt cả những phần tích cực và tiêu cực của hoạt động này
Trang 371.1.2.2 Ý nghĩa của hoạt động nhượng quyển thương mại đôi với bên nhận quyền
Đối với bên nhận quyền, không phải tốn kém nhiều chi phí và thời gian
vào việc xây dựng một mồ hình kinh doanh, đào tạo một đội ngũ quản lý hoặc
xây dựng một thương hiệu trên thị trường, bên nhận quyền có thể tiến hành
kinh doanh ngay sau khi được nhượng “quyền thương mại” Để bù đắp vào
khoản chi cho phí nhận nhượng “quyền thương mại”, bên nhận quyền tiết
kiệm được rất nhiều chi phí so với việc tự mình tham gia thị trường với thương
hiệu và mô hình kinh doanh riêng của mình [41], [44] Do cùng chia sẻ lợi ích
trên một tên thương mại, nhằm bảo vệ chính công việc kinh doanh của mình,
bên nhượng quyền luôn phải hỗ trợ và tư vấn tốt nhất cho đối tác nhận quyền
Như vậy, bên nhận quyền có thể thụ hưởng những trợ giúp từ bên nhượng
quyền mà không phải băn khoăn về tính hiệu quả của chúng Hơn nữa, kinh
doanh theo một mô hình quản lý có sẵn, cung cấp một loại hàng hoá, dịch vụ
đã có sức cạnh tranh trên thị trường, phần trăm rủi ro trong kinh doanh được
giảm xuống mức đáng kể Khi đã tham gia vào hệ thống nhượng quyền thương
mại, bên nhận quyền thương mại thụ hưởng được những lợi ích mà hiệu ứng
đám đông mang lại Sự nổi tiếng của tên thương mại tỉ lệ thuận với sự mở rộng
của hệ Ihống nhượng quyền thương mại, vì vậy, công việc kinh doanh của bên
nhượng quyền cũng như các bên nhận quyền trở nên dễ dàng hơn Có thể nói,
với bên nhận quyền, sức hấp dẫn của nhượng quyền thương mại có thể tổng kết ở
hai điểm căn bản: chi phí thấp và ít rủi ro
Bên cạnh những tác động tích cực, những thuận lợi to lớn mà phương thức
kinh doanh đặc biệt này đem lại, bên nhận quyền cũng có thể phải tiếp nhận
những tác động tiêu cực, những hạn chế từ quan hệ nhượng quyền thương mại
Trước hết, với lượng tài chính phải chi trả không nhỏ để nhận được sự đồng ý
chuyển giao “quyền thương mại” từ bên nhượng quyền, không ai có thể chắc chắn
Trang 38về khoán lợi nhuận mà hợp đồng nhượng quyền sẽ đem lại Tính chất tương lai của lợi nhuận và sự không bắt buộc phải bảo đảm từ phía bên nhượng quyền cùng với tính chất “mượn” tên thương mại và bí quyết của người khác để kinh doanh làm cho các bên nhận quyền không thể tính toán được trước khả năng thua lỗ và những rủi ro có thể xảy ra Hơn nữa, sự kiểm soát bắt buộc trong quan hệ từ phía bên nhượng quyền đối với các bên nhận quyền làm cho các bên này không phát huy được tính sáng tạo trong kinh doanh và luôn luôn ở trong tình trạng không độc lập, mặc dù, dưới góc độ pháp luật, các bên nhận quyền hoàn toàn độc lập về
tư cách pháp lý cũng như trách nhiệm tài chính trước bên nhượng quyền Thêm vào đó, thời gian tồn tại của công việc kinh doanh theo phương thức này hầu như phụ thuộc vào thoả thuận của các bên, mà chủ yếu là phụ thuộc vào ý chí của bên nhượng quyền Nếu không đạt được thoả thuận gia hạn hợp đồng sau khi hết hạn hợp đồng thì công việc kinh doanh của bên nhận quyền chấm dứt với những ràng buộc nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên nhượng quyền Một trong những
ví dụ điển hình về điều khoản cấm sau khi kết thúc hợp đồng nhượng quyền thương mại là trong thời gian nhất định kể từ khi hợp đồng hết hiệu lực, bên nhận quyền không được kinh doanh trong cùng một ngành nghề, bán một loại hàng hoá hoặc cung cấp một loại dịch vụ giống với công việc kinh doanh của bên nhượng quyền theo hợp đồng nhượng quyền đã ký trước đó Điều này hạn chế đáng kể và làm gián đoạn công việc kinh doanh của bên nhận quyền Rõ ràng, quan hệ nhượng quyền thương mại có thể giúp cho bên nhận quyền giảm bớt nhiều rủi ro trong kinh doanh nhưng việc dùng tiền của mình để phát triển tên thương mại cho một chủ thê khác cũng đem lại không ít hạn chế cho bên nhận quyền
1.1.23 Ý nghĩa của hoạt động nhượng quyền thương mại đối vói hoạt động thương mại ở Việt Nam
Đối với nền kinh tế, xã hội nói chung, sự phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại cũng có những tác động không nhỏ Có thể nói,
Trang 39không chỉ mang lại lợi ích cho các bên trong quan hệ, hoạt động nhượng quyền thương mại còn giúp người tiêu dùng thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với hàng hoá, dịch vụ với một hệ thống bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ đồ sộ Mặt khác, nền kinh tế theo đó cũng phát triển được cả về bề rộng và chiều sâu Bên nhượng quyền mở rộng hệ thống kinh doanh và tiếp nhận thêm nhiều bên nhận quyền mới, đó là những doanh nghiệp nhỏ, những doanh nghiệp khó có thể tự mình gây dựng một thương hiệu để tham gia thị trường Vì thế, sự sôi động của nền kinh tế lại được thúc đẩy bởi sự gắn bó, liên kết bằng lợi ích giữa các chủ thể kinh doanh trong hoạt động nhượng quyền thương mại Xét
về lợi ích của người tiêu dùng, khi nhượng quyền thương mại phát triển cùng với ràng buộc khắt khe của loại hợp đồng này giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, hàng hoá được sản xuất và phân phối tới người tiêu dùng với chất lượng và giá cả được kiểm soát
Tuy nhiên, không thể loại trừ một số tác động tiêu cực mà nhượng quyền thương mại có thể gây ra đối với nền kinh tế xã hội, nhất là đối với nền kinh tế chưa hề có tiền lệ như ở Việt Nam Mạng lưới nhượng quyền dễ dàng
và nhanh chóng được mở rộng bao nhiêu thì việc đổ vỡ hệ thống có tác động xấu bấy nhiêu tới sự ổn định của nền kinh tế Nhượng quyền thương mại là phương thức kinh doanh liên quan rất nhiều tới quyền sở hữu trí tuệ, vì vậy, sự
vi phạm và lạm dụng hình thức kinh doanh này sẽ gây ra những tác động nghiêm trọng tới những cố gắng bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong pháp luật về sở hữu trí tuệ Sự phát triển trái chiều của việc mở rộng hệ thống và hành vi lạm dụng, vi phạm trong quan hệ nhượng quyền thương mại sẽ đặt nền kinh tế - xã hội trước những thách thức và buộc Nhà nước phải ban hành những văn bản pháp luật đủ chặt chẽ để điều chỉnh đúng mực hoạt động thương mại đặc biệt này
Mặt khác, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ngày càng phát triển, đời sống của dân cư được cải thiện, kèm theo đó là những nhu cầu về việc tiêu
Trang 40dùng những hàng hoá, dịch vụ đạt tiêu chuẩn cao Để cung cấp được những
dịch vụ này đến cộng đồng dân cư, các nhà kinh doanh không nhất thiết phải
là người xây dựng nên những tên thương mại nổi tiếng hay những sản phẩm
đạt chất lượng cao mà có thể dùng phương thức nhượng quyền thương mại để
vừa có thể cung cấp cho xã hội những hàng hoá, dịch vụ chất lượng cao, lại
vừa không tốn nhiều công sức để xây dựng tên thương mại cũng như tiết kiệm
được rất nhiều các chi phí xúc tiến thương mại Một lần nữa có thể khẳng
định, sự ghi nhận để điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động nhượng quyền
thương mại trong thời kỳ hiện nay của Việt Nam là cần thiết Khi đã được ghi
nhận với tư cách là một hoạt động thương mại độc lập, hoạt động nhượng
quyền thương mại chứng tỏ được sự phù hợp và vị trí không thể thiếu của nó
trong đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay
1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại ở một sô nước trên thế giói và ở Việt Nam
1.13.1 Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động nhượng quyền
thương mại ở một sô nước trên thê giới
Nhìn nhận dưới góc độ kinh tế gắn với tiến trình lịch sử để xem xét hoạt
động nhượng quyền thương mại, không thể phủ nhận được tính đa dạng của
các lý thuyết về sự ra đời đối với hoạt động này Trong quá trình nghiên cứu,
mỗi một nhà khoa học hoặc một nhóm các nhà khoa học khác nhau lại đưa ra
một lý thuyết tương đối khác biệt về sự ra đời của nhượng quyền thương mại
Cùng với lý thuyết ấy, các nhà nghiên cứu đều cố gắng chứng minh sự gắn kết
chặt chẽ của quá trình hình thành nhượng quyền thương mại với những đặc
trưng của hoạt động này
Ở giai đoạn sơ khai, thuật ngữ “nhượng quyền thương mại” -
“íranchise” - được coi là bắt nguồn từ một từ trong tiếng Pháp cổ, có nghĩa là
“đặc quyền” - “privilege” Trong thời gian dài của thời kỳ Trung cổ, thuật ngữ