1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề pháp lý cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở việt nam hiện nay

72 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 7,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số công trình, đề tài được in thành sách tạp chí các bài viết liên quan đến pháp luật về lao động và việc làm đã giúp ích cho việc nghiên cứu, tham khảo về chế định này như: Đề tài c

Trang 2

= 1 m

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÂM THỊ THU HUYEN

NHỮNG VẤN ĐÊ PHÁP LÝ cơ BẢN VÊ VIỆC LÀM

VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG BÔÌ CẢNH SUY THOÁI

KINH TÊ ở VIỆT NAM HIỆN NAY■ ■

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

Trang 3

Luận văn thạc sỹ

1

Đại học Luật Hù Nội

MỤC LỤC

LỜI NÓI Đ Ầ U 2

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật việc làm, giải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay 6

1.1 N hững vấn đề chung về việc làm và giải quyết việc làm 6

1.2 Pháp luật việc làm và vai trò của pháp luật việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh t ế 16

Chương II: Thực trạng pháp luật việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện n a y 25

2.1 Các nguyên tắc pháp lý chủ yếu về việc làm 25

2.2 X ác định trách nhiệm của các bên trong lĩnh vực việc làm 27

2.3 N hững biện pháp pháp lỷ chủ yếu giải quyết việc làm 28

2.4 N hững nhận xét về pháp luật và thực trạng giải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế 43

Chương 3: M ột số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật việc làm trong điều kiện suy thoái kinh tế ở Việt Nam 48

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về việc làm trong bổi cảnh suy thoái kinh tế 48

3.2 Hoàn thiện pháp luật việc làm 55

3.3 M ột sổ g iả i pháp nhằm giải quyết hiệu quả việc làm ở Việt Nam 59

KẾT L U Ậ N 67

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM K H ẢO 68

Lâm Thị Thu Huyên Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 4

Luận văn thạc sỹ

2

Đại học Luật Hà Nội

LỜI NÓI ĐÀU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lao động là một lĩnh vực hoạt động quan trọng nhất của con người Không

có lao động thì xã hội không thể phát triển, con người không thể mưu cầu hạnh phúc Trong đó, việc làm được thừa nhận có vai trò quan trọng trong việc ổn định tình hình chính trị - xã hội, là điều kiện quan trọng nhất để xóa đói giảm nghèo và là cách thức để thông qua đó người lao động tích cực tham gia và khẳng định sự đóng góp của mình đối với sự phát triển của đất nước Việc làm là tiền đề, là điều kiện cần thiết của quan hệ lao động

Trong nền kinh tế thị trường, việc làm và thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầu, vấn đề này không loại trừ một quốc gia nào dù đó là nước đang phát triển hay nước có nền công nghiệp phát triển Theo báo cáo của Bộ lao động thương binh và xã hội tính đến năm 2009 nước ta có khoảng 85 triệu người trong

đỏ số người trong độ tuổi lao động là 44,16 triệu người chiếm 51,9% dân số Trung bình hằng năm có khoảng hơn một triệu người bước vào độ tuổi lao động Điều này đã tạo nên sức ép rất lớn đối với công tác giải quyết việc làm Giải quyết việc làm chống thất nghiệp luôn là vấn đề nan giải Với ý nghĩa của việc làm, Đảng và nhà nước ta đã đề ra quan điếm bảo đảm việc làm cho người dân là mục tiêu xã hội hàng đầu Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có cơ hội cỏ việc làm là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế

ở Việt Nam hiện nay thì vấn đề việc làm và giải quyết việc làm lại càng trở nên cấp thiết hơn Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng thua

lỗ, mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản, giải thể khiến cho nhiều người lao động mất việc làm, đẩy số người thất nghiệp trong xã hội lên cao Hậu quả của vấn đề này không những ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bản thân và gia

Lâm Thị Thu Huvén Lớp: Cao hục luật KI 6

Trang 5

Luận văn thạc sỹ

3

Đại học Luật Hà Nội

đình của người lao động mà tạo nên một sự mất trật tự, ổn định xã hội nghiêm trọng

Trước yêu cầu đó tác giả chọn đề tài: ‘'Những vẩn đề pháp lý cơ bản về

việc làm và giải quyết việc làm trong bổi cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện

n a y”, với mong muốn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận thực tiễn áp dụng và

kiến nghị một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp lý về việc làm trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Lao động và việc làm có vai trò quan trọng chính vì vậy đề tài về lĩnh vực này luôn tạo sức hút mạnh mẽ cho các nhà nghiên cứu, nhũng chuyên gia kinh tế pháp lý tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra nhiều đề tài khoa học có giá trị Đặc biệt là trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay thì đề tài này lại càng được quan tâm đúng mức bởi tính cấp thiết và tầm ảnh hưởng sâu rộng cả về kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội

Từ trước đến nay có nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu về việc làm dưới góc

độ kinh tế lao động và luật học Các ý kiến đỏng góp và hướng hoàn thiện đúng đắn của các nhà khoa học đã được pháp luật lao động ghi nhận và điều chỉnh cho phù hợp trong những lần sửa đổi Bộ luật Lao động

Một số công trình, đề tài được in thành sách tạp chí các bài viết liên quan đến pháp luật về lao động và việc làm đã giúp ích cho việc nghiên cứu, tham khảo về chế định này như: Đề tài cấp Nhà nước “Nguồn lao động và việc làm” năm 1992; Đề tài khoa học Luật Lao động cấp trường “Việc làm và giải quyết việc làm trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam”, năm 2004 cuaTrường Đại học Luật, Hà nội; Ngoài ra có luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Văn Quynh và một số khóa luận tốt nghiệp của sinh viên trường Đại học Luật Hà nội thực hiện và nghiên cứu dưcri góc độ

lý luận luật học và một số bài viết đăng trên các tạp chí: Lao động và Xã hội;

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật K ỉ ổ

Trang 6

Luận văn thạc sỹ

4

Đại học Luật Hà Nội

Nghiên cứu lập pháp, Kinh tế và phát triển chủ yếu nghiên cứu góc độ chính sách kinh tế lao động và việc làm

Đây là đề tài không hoàn toàn mới, tuy nhiên do ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn hiện tại nên tác giả vẫn mạnh dạn lựa chọn đề tài này

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Với đề tài : “Những vấn đề pháp lý cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, ỉuận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề quan điểm, chính sách, các quy định của pháp luật về việc làm và thực tiễn giải quyết việc làm, bảo vệ việc làm cho người lao động trong phạm vi quan hệ lao động là đối tượng chủ yếu của Luật lao động Việt Nam, trong một chừng mực nhất định những quy định pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện việc làm trong các khu vực khác cũng được đề cập đến trong luận văn, từ đó luận văn đi phân tích tác động của suy thoái kinh tể tới pháp luật việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động

4 Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của luận văn là nhằm góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận vấn đề việc làm và sự điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam Từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá và nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật việc làm và nâng cao hiệu quả pháp luật việc làm hiện hành.Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, khái niệm việc làm, giải quyết việc làm, những quy phạm pháp luật trong lĩnh vực việc làm và thực tiễn giải quyết việc làm ở Việt Nam, trong đó chủ yếu tập trung vào các quy phạm pháp luật hiện hành được quy định trong Bộ luật lao động 1994 và các lần sửa đổi bổ sung từ

đó đến nay, những văn bản pháp luật có liên quan

Nhiệm vụ chủ yếu của luận văn là: nghiên cứu các vấn đề lý luận việc làm, giải quyết việc làm, vấn đề suy thoái kinh tế và tác động của suy thoái kinh tế đối

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao hục luật KI 6

Trang 7

Luận văn thạc sỹ

5

Đại học Luật Hù Nội

với sự hình thành việc làm, giải quyết việc làm, phân tích các quy định của pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm và các hoạt động tạo, giải quyết việc làm, bảo

vệ việc làm cho người lao động Từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các ý kiến và nêu

ra quan điểm khoa học về lĩnh vực việc làm

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn gồm: phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng họp, thống kê, khái quát hoá để giải quyết nội dung khoa học của đề tài Đặc biệt, luận văn rất chú trọng phương pháp so sánh luật; kết hợp lý luận với thực tiễn

6 Kết cấu của luân văn

Kết cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Ngoài lời nói đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương I: Những vẩn đề lý luận cơ bản về pháp luật việc làm, giải quyết việc làm trong bổi cảnh suy thoái kinh tế hiện nay.

Chương II: Thực trạng pháp luật việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay.

Chương III: Một số kiến nghị để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật việc làm, giải quyết việc làm ở Việt Nam trong điều kiện suy thoái kinh tế hiện nay.

Lâm Thị Thu Huyên Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 8

Luận văn thục sỹ

6

Đại hục Luật Hà Nội

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật việc làm, giải quyết

việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay 1.1 Những vấn đề chung về việc làm và giải quyết việc làm

1.1.1 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam

1.1.1.1 Khái niêm

• Dưới góc độ kinh tế- xã hội:

Với một quốc gia, việc làm là phản ánh quan trọng về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó, nó luôn là vấn đề được xã hội quan tâm hàng đầu không chỉ ở riêng một quốc gia nào mà còn là vấn đề có tính toàn cầu, phản ánh

sự phát triển của lao động xã hội Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới động vật nói chung và con người nói riêng Tuy nhiên, đối với con người, kiểm sống không phải là hoạt động sinh vật đơn thuần giúp con người thích ứng với thiên nhiên, với điều kiện sống mà qua đó còn cải tạo con người, biến con người tò sinh vật hoang dã thành sinh vật xã hội, có ý thức, tham gia các quan hệ xã hội, hình thành xã hội Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là làm việc, hoặc thực hiện việc làm

Theo Phó cố vấn kinh tế Giăng Mu-tê, Văn phòng lao động quốc tế, “việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào

nồ lực sản xuất” 1

Theo Guy Hân-tơ, Viện phát triển hải ngoại Luân- đôn (Anh), “việc làmtheo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cảnhững gì quan hệ đến cách thức kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã

1 Văn phòng Ban soan thảo BL L Đ , Bộ Lao động - T h ư ơ n g binh và XH (1995), Một số tài liệu pháp luật nước ngoài, Hà Nội, tr 10-11

Lâm Thị Thu Huyền Lóp: Cao học luật K ì 6

Trang 9

Luận văn thạc sỹ

7

Đại học Luật Hà Nội

hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế”.H.A.Gô-rê-lổp (Liên Xô cũ), “việc làm là một quan hệ sản xuất nảy sinh do có

sự kết hợp giữa cá nhân người lao động với các phương tiện sản xuất” Còn theo Giáo sư Sô- nin và Phó Tiến sỹ E Jit-nôp ( Liên Xô cũ), “việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hóa của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của nông trang viên”

Có thể còn có nhiều khái niệm khác nữa về việc làm Song, dù ở góc độ nào, các khái niệm đó đều thể hiện các tiêu chí định danh việc làm là những dạng

hoạt động lao động, trong đó có việc người lao động chỉ p h ỉ sức lao động của mình với mục đích giành được lợi ích (thu nhập) nào đó, nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân gia đình và xã hội.

Hoạt động lao động được coi là việc làm có thể được thể hiện dưới các hình thức khác nhau, đó là: làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó; làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân; làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó Như vậy, dù ở hình thức nào, được trả thù lao trực tiếp hay gián tiếp, thù lao đó được thể hiện bằng tiền mặt hay lợi ích vật chất khác thì việc làm cũng luôn thể hiện là các hoạt động tiềm tàng khả năng tạo ra lợi ích hay thu nhập cho người bỏ sức lao động tiến hành hoạt động đó

Như vậy, xét về phương diện kinh tế - xã hội, có thể hiểu việc làm là các

dạng hoạt động lao động, tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập và việc làm là dạng hoạt động của mỗi cá nhân nhưng lại luôn gắn liền với xã hội và được xã hội.

• Dưới góc độ pháp lý:

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 10

Luận văn thạc sỹ

8

Đại học Luật Hà Nội

Trong cơ chế kinh tế kể hoạch hóa tập trung trước đây, người lao động được coi ià có việc làm và được xã hội thừa rhận, trân trọng là người làm việc trong các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thỉ Trong cơ chế đó, Nhà nước có trách nhiệm bố trí việc làm cho người lao độn* Trên bình diện pháp lý, vấn đề việc làm đã được giải quyết, thất nghiệp được coi như một cái gì đó xa lạ, không được thừa nhận với tư cách là một hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu cả trong pháp luật và trên thực tế Do vậy, khi đề cập cến việc làm ở khía cạnh pháp lý, người ta thường cho rằng việc làm trước hết là qiyền của người lao động Điều 58 Hiến pháp 1980 còn khẳng định: “công dân có qiyền việc làm”

Từ khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế giải quyết việc làm đã có những tằay đổi căn bản Hiến pháp 1992 khẳng định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội

có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Điều 55) Trong bối cảnh đó trên cơ sở tiếp thu và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và hoàn cảnh nước ta, Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994

đã qui định tại Điều 13: “Mọi hoạt động lao độn% tạo ra thu nhập không bị pháp

luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Thú nhất, việc làm mang nội dung

kinh tế và mục đích cơ bản nhất là tạo ra thu nhập, đáp ứng nhu cầu cá nhân

người lao động và nhu cầu xã hội Thứ hai, việc làm là những hoạt động lao

động mà pháp luật quốc gia không cấm Điều đó có nghĩa là có nhiều hoạt động mang lại thu nhập nhưng không được pháp luật thừa nhận là việc làm Đây có thể được coi là dấu hiệu đậm chất pháp lý của quan niệm về việc làm trong pháp luật lao động hiện hành

Cũng từ khái niệm về việc làm nêu trên, pháp luật cũng quy đinh về vấn

đề giải quyết việc làm đảm bảo việc làm cho người lao động Điều 13 BLLĐ

khẳng định: “giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động

đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật K I6

Trang 11

Luận văn thạc sỹ

9

Đại học Luật Hà Nội

toàn xã hội Đây là một khẳng định có tính chất tuyên ngôn của Nhà nước về vấn

đề giải quyết việc làm cho người lao động D( vậy, có thể khẳng định giải quyết việc làm là một chính sách lớn của Nhà nước thông qua hàng loạt cơ chế, biện pháp pháp lý và kinh tế - xã hội nhằm tạo việc ầm, hạn chế thất nghiệp nhàm mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo các vấn đề xã hội

1.1.1.2 Đặc điếm của việc làm

Việc làm có tính xã hội: việc làm là síng tạo của xã hội loài người và

đồng thời là cơ sở của mọi sinh hoạt xã hội cua con người Thực chất đời sống sinh hoạt xã hội của mọi thời đại đều gắn với v.ệc làm, qua các trao đổi việc làm Bên cạnh tính chất kinh tế thì việc làm còn mang tính xã hội rất cao Điều đó

được thể hiện thông qua các khía cạnh sau: Mộ1 , là, việc làm có lịch sử xã hội lâu

dài, từ việc con người chỉ biết săn bắn, hái lươm trái cây có sẵn trong tự nhiên đến việc cải tạo tự nhiên để đáp ứng nhu cầu bản thân và xã hội Con người tác động vào tự nhiên từ việc phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên đến việc bắt tự nhiên phục vụ con người Trong quá trình phát triển đó, việc làm như một yếu tố quyết định nền văn minh của con người Việc làm càng phức tạp thì con người càng phát triển, nền văn minh của con người càng cao, con người càng trở nên thông

minh, xã hội càng phát triển; Hai là, mỗi con người là một cá thể độc lập, việc

làm của mỗi người cũng có tính độc lập tương đối Tuy nhiên, con người là một

cá thể nằm trong tổng hòa các mối quan hệ với thế giới và việc làm của mỗi con người cũng phải nằm trong mối quan hệ với các yếu tố khác Như vậy, việc làm còn mang tính xã hội thể hiện ở việc làm của mỗi người luôn gắn liền với các hoạt động sản xuất của xã hội Việc làm của mỗi cá nhân không chỉ nuôi sống cá nhân đó mà còn có thể nuôi sống gia đình họ và góp phần vào sự phát triển của

xã hội

Việc làm cỏ tính kinh tế: khi tiến hành bất kỳ một công việc nào, người ta

đều tạo ra những giá trị sử dụng nhất định Những giá trị đó có thể vô hình (sản

Lâm Thị Thu Huyên Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 12

Luận vãn thạc sỹ

10

Đại học Luật Hà Nội

phấm trí tuệ) hoặc hữu hình (các đồ vật) đều là thành quả của sự lao động thông qua một việc làm Dưới góc độ kinh tế, việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân người lao động, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh cơ bản nhất của con người

Ph Ăngghen đã khẳng định lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, chính lao động đã tạo ra chính bản thân con người Hiện nay, sức lao động được coi là một loại hàng hóa đặc biệt, bởi lẽ nó không chỉ nuôi sống bản thân người lao động mà còn tạo ra lợi nhuận rất lớn cho người sử dụng lao động Người lao động tham gia vào công việc nào đó để trả công, hoặc

tự tạo ra các việc làm để tiến hành sản xuất, tạo ra của cải vật chất Mức tiền công cho người lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quan trọng nhất là giá trị việc làm, việc làm càng có giá trị cao thì mức trả công càng lớn

Việc làm là một phạm trù mang tính đạo lý: Việc tiến hành một công việc

trong bất cứ phạm vi rộng, hẹp nào đều liên quan và thể hiện tính đạo lý sâu sắc Một việc làm được coi là vô lương luôn luôn bị xã hội lên án, bài xích và không thừa nhận Một việc làm, dù đơn giản nhưng có tính nhân văn, vì con người, đều được tôn trọng Người làm việc tốt sẽ được tôn trọng, ca ngợi, và ngược lại sẽ bị lên án Trong xã hội có nhà nước, việc làm được luật pháp quan tâm quy định và bảo vệ Việc làm phát triển từ chỗ quy định những việc mà người ta sống trong cộng đồng được làm, ngày nay đã phát triển thành quy tắc rộng rãi: người ta có quyền làm những việc mà pháp luật không cấm

Việc làm có tính hệ thống' Mỗi việc làm đều gắn với một hệ thống ngành

nghề kinh tế quốc dân Việc phân chia đó nhằm tạo ta những cơ sở đê nghiên cứu, phân tích, xác định, thực hiện việc làm một cách khoa học Đồng thời để đảm bảo cho việc trả công lao động, thực hiện các chính sách đối với người lao động2

2 G iáo trình Luật lao động, Đ ại học Luật Hà Nội, N xb C A N D , Hà N ội, 2009.

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật K lỏ

Trang 13

Luận văn thạc sỹ

11

Đại học Luật Hà Nội

Có nhiều cách phân loại việc làm khác nhau tùy theo những góc độ nghiên cứu khác nhau

Căn cứ vào tỉnh chất nguy hiểm, độc hại của việc làm thì có thể chia việc làm thành việc làm bình thường và việc làm kho khăn, độc hại, nguy hiếm Việc

làm bình thường là việc làm mà không có hoặc có những chứa đựng rất ít những yếu tố khó khăn, độc hại, nguy hiểm được thể hiện qua quá trình làm việc và hậu quả dài của công việc đó Chính vì vậy mà nguời lao động có thể trực tiếp làm hoặc tuy có sự bảo hộ nhưng không đáng để giải quyết công việc đó một cách an toàn và không đề lại những hậu quả xấu cho tương lai Công việc khó khăn, nặng nhọc, độc hại là các công việc chứa đựng những yếu tố như hóa học, vật lý, sinh học có hại với người lao động Người lao động khi phải trực tiếp làm công việc

đó hoặc làm việc trong môi trường độc hại thì có thể ảnh hưởng không nhỏ đế sức khỏe, tinh thần, làm ảnh hưởng đế khả năng lao động và để lại những di chứng cho tương lai Vì vậy, khi muốn làm những công việc đó người lao động cần có những phương tiện bảo hộ hoặc những phương tiện có thể giúp người lao động không phải trực tiếp làm

Căn cứ vào tình trạng của người lao động và yêu cầu đổi với việc làm có thể chia công việc thành công việc dành cho người bình thường và công việc dành cho người đặc thù Tình trạng đặc thù của người lao động được thể hiện qua việc

giới hạn những công việc và giới hạn chịu được những công việc do nguyên nhân xuất phát tò tình trạnh cơ thể Người lao động có sự phát triển không bình thường hoặc khiếm khuyết về cơ thể hoặc không phù hợp với tình trạng cơ thể khiến họ không có nhiều cơ hội để thực hiện tất cả công việc Ví dụ, những công việc khó khăn, nặng nhọc độc hại thường không phải là đối tượng của người lao động là phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, người cao tuổi lựa chọn Những công việc đó đôi

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật K ỉ 6

Trang 14

Luận văn thạc sỹ

12

Đại học Luật Hà Nội

khi còn là đối tượng bị hạn chế với những ngròi sử dụng lao động, không được phép sử dụng người lao động đặc thù

Căn cứ vào phương thức thực hiện cờĩg việc thì cỏ thê chìa việc làm thành việc làm chân tay và việc làm trí óc Việc làm chân tay về cơ bản sử dụng

nhiều sức khỏe cơ thể, sử dụng cơ bắp, việc tư duy sâu thường sử dụng ở mức bình thường Tuy nhiên, cách phân loại cổ đién này chỉ nói lên một tình trạng phân biệt có tính tương đối Bởi vì, khi làm việc bằng trí óc, người ta phải sử dụng chân tay để hành động Và ngược lại, khi đang làm việc chân tay thì người lao động vẫn phải tư duy chứ không làm theo vò thức

Căn cứ vào tính thời gian của việc làm có thê chia việc làm thành việc làm trọn ngày và việc làm không trọn ngày (tùr.gphần) Việc làm trọn ngày hay

thường gọi đầy đủ thời gian (fưll time), đây là hình thức việc làm trong đó người lao động dành trọn ngày làm việc để thực hiện một loại công việc nhất định Việc làm từng phần hay thường gọi là việc làm bán thời gian (part time), việc làm theo

ca giờ, đây là hình thức làm việc trong đó người lao động chỉ sử dụng một phần thời gian của một ngày làm việc để giải quyết một công việc nhất định Điều này

có thể xuất phất từ tính chất công việc đòi hỏi không cần nhiều thời gian trong một

ngày hoặc xuất phát từ khả năng làm việc của người lao động không thể dành hết thời gian một ngày làm việc cho công việc đó

1.1.2 M ối quan hệ về việc làm với quan hệ pháp luật lao động

• Việc làm - điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ pháp luật lao động

Việc làm là yếu tố không thể thiếu của hoạt động lao động Không có việc làm thì không thể có sự làm việc tức là không có hoạt động lao động Trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ lao động được hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa hai bên là người lao động và người sử dụng lao động Quan hệ này xuất phát từ quan hệ của hai bên: người lao động có nhu cầu làm

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao hục luật KI 6

Trang 15

Luận văn thạc sỹ

13

Đạihọc Luật Hà Nội

việc và được trả công cho công việc đó còn người sử dụng laođộng muốn thuê mướn lao động Kết quả thành công của việc thương lượng, thoa thuận giữa hai bên là cơ sở tạo nên quan hệ lao động Giao kết hợp đồng lac động là sự kiện pháp lý chủ yếu, thông dụng để hình thành quan hệ pháp luịt lao động Tuy nhiên, hợp đồng lao động chỉ có thể được giao kết trên cơ sở vệc làm nhất định hay nói cách khác vấn đề cơ bản và tiên quyết để thiết lập qian hệ lao động chính là việc làm, đối tượng của quan hệ lao động Việc làm t'ở thành cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động, là cơ sở để thiế: lập quan hệ lao động giữa hai bên Không có việc làm thì quan hệ lao động kh3ng có cơ sở để phát sinh và tồn tại, hoạt động lao động không thể thực hiện được Với ý nghĩa

đó, việc làm là điều kiện không thể thiếu để thiết lập quan hệ lao động

Việc làm - nội dung chủ yếu của quan hệ pháp luật lac động.

Nội dung của quan hệ pháp luật lao động là các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ Đối với mỗi chủ thể, quyền và nghĩa vụ cùa họ luôn được gắn liền với nhau, quyền lợi luôn đi liền với nghĩa vụ, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Cũng như nhiều quan hệ pháp luật song phương khác, trong quan hệ pháp luật lao động, các bên không chỉ phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn có trách nhiệm tạo điều kiện cho phía bên kia thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của họ, và đó cũng chính là phương thức để thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình trọn vẹn Lợi ích của các bên chủ thể giao hòa nhau trên tinh thần: lợi ích của mình chỉ được bảo đảm trong mối tương quan với lợi ích của bên kia Việc làm là tiền đề quan hệ pháp luật lao động nên việc làm cũng là nội dung không thể thiếu trong nội dung quan hệ pháp luật lao đông Nếu chia nhỏ quan hệ pháp luật lao động có thể thấy nội dung quan hệ này bao gồm rất nhiều vấn đề như việc làm, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hôi, các loại phụ cấp

• Việc làm - cơ sở đê duy trì quan hệ pháp luật lao động

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao hục luật KI 6

Trang 16

Luận văn thạc sỹ

14

Đại học Luật Hù Nội

Không chỉ là tiền đề thiết lập và nội dung quan hệ pháp luật lao động, việc làm còn đảm trách cơ sở duy trì quan hệ lao động Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó bị triệt tiêu ỈChi giao kết hợp đồng lao động, tức là thiết lập quan hệ pháp luật lao động, thời hạn, tính chất của việc làm quyết định thời hạn của hợp đồng lao động, ờ góc độ này, việc làm là cầu nối giữa hai chủ thể của quan hệ pháp luật lao động vì có việc làm mà quan hệ lao động có điều kiện tồn tại, khi không còn việc làm hoặc công việc kết thúc thì hợp đồng lao động đương nhiên chấm dứt hiệu lực, quan hệ lao động cũng không còn lý do để tiếp tục duy trì Trong mối tương quan này, quan hệ lao động phụ thuộc vào và dựa trên cơ sở là việc làm

1.1.3 Vai trò ỷ nghĩa của vẩn đề việc làm và giải quyết việc làm

• Trên bình diện kinh tế - xã hội

Chúng ta đều biết rằng, sức lao động là yếu tổ cơ bản nhất thuộc sức sản xuất, thị trường lao động là thị trường quan trọng nhất có vị trí trung tâm so với các thị trường khác trong cơ chế kinh tế thị trường và nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng và bền vững Tất cả

những điều kiện trên đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn với vấn đề việc làm về

mặt kinh tế, việc làm là cơ sở để gắn sức sản xuất với đổi tượng lao động, với tư

liệu sản xuất Giải quyết tốt được vấn đề việc làm thì mới đảm bảo được sản xuất phát triển, kinh tế mới đi lên Thị trường lao động là thị trường mà ở đó người ta mua và bán sức lao động, là một thị trường có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các thị trường trong nền kinh tế, nó cung cấp yểu tố sức lao động của con

người - chủ thể quyết định nhất đối với quá trình sản xuất và tái sản xuất, về mặt

xã hội, giải quyết việc làm, chống thất nghiệp vả khắc phục tình trạng thiếu việc

làm, bảo đảm tăng thu nhập cho người lao động., có hiệu quả to lớn trong vấn đề phòng, chống hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ gìn trật tự xã hội Thất nghiệp, việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp không những chỉ là điều kiện, hoàn cảnh

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật K ỉ 6

Trang 17

Luận văn thạc sỹ

15

Đại học Luật Hà Nội

mà bao giờ cũng là nguyên nhân sâu xa, tiền đề, nguồn gốc của đói nghèo, chậm phát triển, tiêu cực và các tệ nạn xã hội

• Trên bình diện chính trị - pháp lý

Trên bình diện pháp lý, việc làm là vấn đề gắn liền với nhiều cơ chế pháp

lý Trước hết, cần khẳng định quyền lao động là một phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người Có việc làm là nguyện vọng đáng trân trọng của con người Con người được tự do trong lao động là tiền đề để giải phóng sức lao động và phát huy triệt để tiềm năng con người Mọi người có sức lao động đều có quyền

có việc làm, không những thế đó là quyền tiến hành bất cứ hoạt động nào tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình chỉ với một điều kiện hoạt động đó hợp pháp Đây chính là biểu hiện sống động nguyên tắc: công dân có quyền làm những gì

mà pháp luật không cấm Bên cạnh đó, về mặt pháp lý, vấn đề việc làm gắn liền với chế độ pháp lý lao động, trong đó quan hệ việc làm được coi là “tiền quan hệ lao động” và đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì, quy định nội dung của quan hệ lao động Không những thế, chế độ pháp lý lao động còn có một phần được biểu hiện là các nguyên tắc pháp lý về lao động - việc làm Theo đó, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân được tiến hành đồng thời với các bảo đảm khác như cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động, bảo đảm bình đẳng trong lĩnh vực việc làm, ưu đãi một sổ đối tượng là người lao động đăc thù như lao động nữ, lao động là người tàn tật cùng với hàng loạt chính sách của Nhà nước nhằm khuyến khích hỗ trợ tạo điều kiện tạo ra ngày càng nhiều việc làm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của lực lượng lao động trong xã hội

• Trên bình diện quổc gia - quốc tế

Trên bình diện quốc tế, việc làm đã và đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu sâu sắc, được các nước các tổ chức quốc tế đặc biệt quan tâm, đặc biệt trong bổi cảnh xu thế quốc tế hóa, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập, kinh tê

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật K I 6

Trang 18

Luận văn thạc sỹ

16

Đại học Luật Hà Nội

quốc tê đang diễn ra hết sức sâu rộng và ngày càng gia tăng Trong bổi cảnh đó,

dù chủ động hội nhập với kinh tế khu vực và quôc tế với những bước đi được tính toán, cân nhắc thận trọng, các quốc gia cũng không thể tránh khỏi áp lực ngày càng gia tăng của tiến trình tự do hóa thương mại, mở cửa thị trường Sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thị trường lao động của các quốc gia thể hiện mức độ hội nhập kinh tế quôc tế của mỗi quốc gia đó Trong thị trường đó, cạnh tranh không còn là vấn đề giữa những người lao động mà nó cũng đã trở thành vấn đề giữa các quốc gia Thực hiện có hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm trong nước là biện pháp bảo đảm tăng cường sức cạnh tranh của lao động nước mình trên thị trường lao động quốc tế Điều đó còn nhằm tạo ra nguồn nhân lực đủ sức thích ứng với hoàn cành điều kiện và bảo đảm hiệu quả khi hội nhập Từ ý nghĩa này, việc làm không những yêu cầu được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia mà còn bằng luật pháp quốc tế, không chỉ trong quan hệ song phương mà còn trong khuôn khổ các quan hệ quốc tế đa phương

1.2 Pháp luật việc làm và vai trò của pháp luật việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế

1.2.1 Pháp luật việc làm

1.2.1.1 Khái niệm pháp luật việc làm

Pháp luật việc làm là hệ thống các quy định hình thành như là một chế định của luật lao động, có chức năng điều chỉnh quan hệ xã hội về việc làm, bao gồm quan hệ xã hội trong lĩnh vực tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động Việc làm là một trong nhũng nội dung quan trọng quy định tại chương

II Bộ luật lao động với 7 điều thể hiện rất rõ những quan điểm, những chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm Thông qua pháp luật, Nhà nước quản lý tổ chức, chỉ đạo các hoạt động liên quan đến việc

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 19

Luận văn thạc sỹ

17

Đụi hục Luật Hà Nội

làm nhằm đáp ứng tốt nhất vấn đề việc làm cho người lao động và giải quyết cáctranh chấp liên quan P^NGTA^ÍongI ^ tTĨĨ.;

TRƯỜNG ĐẠI HỌP HÀ ỈSlỤỉ,

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật việc làm chính là quan hệ việc làm Đây cũng chính là mối quan hệ chủ đạo mà BLLĐ Việt Nam điều chỉnh Quan

hệ việc làm là quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực giải quyết, bảo đảm việc làm cho người lao động trong xã hội Trong quan hệ việc làm bao gồm các nhóm quan hệ sau: quan hệ việc làm giữa người lao động với người sử dụng lao động, quan hệ việc làm giữa nhà nước với công dân, quan hệ việc làm giữa nhà nước với đơn vị sử dụng lao động, quan hệ việc làm giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức

Quan hệ việc làm giữa người sử dụng lao động với người sử dụng lao động:

Quan hệ việc làm giữa người lao động với người sử dụng lao động là đối tượng điều chỉnh quan trọng nhất, chủ đạo nhất trong quan hệ pháp luật việc làm Quan hệ này được xác lập, duy trì, chấm dứt, trên cơ sở của luật lao động Theo Khoản 4 Điều 30 BLLĐ thì: “Công việc theo họp đồng lao động phải do người giao kết thực hiện, không được giao cho người khác nếu không có sự đồng

ý của người sử dụng lao động” Ngoài ra, người sử dụng lao động có quyền quan

lý đối với người lao động xuất phát từ vị thế giữa hai đối tượng này là khác nhau: người sử dụng lao động nắm trong tay tài sản và tư liệu sản xuất nên họ có quyền thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản của mình; họ là người mua sức lao động của người lao động nên họ có quyền quản lý người lao động trong phạm vi pháp luật cho phép đặc biết là người lao động phải quản lý chính cơ sở của mình, giám sát quá trình sản xuất để có thể đem lại lợi nhuận cao nhất Có thể nói rằng trong quan hệ việc làm, người sử dụng lao động có vị thế mạnh hơn người lao động, đây là nguyên nhân nhà nước phải có những chính sách cụ thể nhằm đảm

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật KI ổ

Trang 20

Luận văn thạc sỹ

18

Đại học Luật Hà Nội

bảo công bằng và bảo vệ lợi ích cho cả hai bên, tránh tình trạng lạm dụng sức lao động của người lao động Trong quan hệ việc làm, việc xác lập, duy trì, chấm dứt, quan hẹ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động, có sự tham gia của đại diện lao động Đây chính là đặc điểm đặc thù của quan hệ việc làm với các quan hệ pháp luật khác Việc tham gia của đại diện lao động, đặc biệt là tổ chức công đoàn có ý nghĩa quan trọng, vì yếu tố tập thể trong hoạt động của đại diện lao động là một trong những bảo đảm tôt nhất cho người lao động có nhiều khả năng đạt được sự bình đẳng thực tế với người sử dụng lao động

Quan hệ việc làm giữa nhà nước với người lao động

Trong quan hệ pháp luật việc làm, nhóm quan hệ giữa người lao động với nhà nước cũng là một quan hệ cần quan tâm Nhà nước là một chủ thể đặc biệt, Nhà nước thông qua hệ thống các cơ quan chức năng, trong việc xác lập và thực hiện các chính sách việc làm, với các công dân, tổ chức được hưởng các chính sách việc làm đó Trong mối quan hệ này, thực hiện chức năng quản lý hành chính, tham gia giải quyết việc làm trực tiếp cho các công dân Bên cạnh đó, các

bộ phận của Nhà nước còn là những đơn vị sử dụng lao động

Quan hệ việc làm giữa nhà nước với các trung tâm giới thiệu việc làm, các cơ sở dịch vụ việc làm với khách hàng

Đây là quan hệ đặc trưng trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi người lao động gặp khó khăn khi tìm được việc làm hoặc người sử dụng lao động gặp khó khăn trong việc tuyển dụng Lúc này hình thành nên các trung tâm giới thiệu việc làm để giải quyết các khó khăn đó Trong phạm vi luật lao động, mối quan

hệ được điều chỉnh là mối quan hệ giữa trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước các tổ chức xã hội với người lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật K16

Trang 21

Luận văn thạc sỹ

19

Đại học Luật Hà Nội

1.2.2 Vai trò của pháp luật việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam.

1.2.2.1 Suy thoái kinh tế và tác động của suy thoải kinh tế đối với việc làm ở Viêt Nam

* Khái niệm suy thoái kinh tế

Suy thoái kinh tế, theo Kinh tế học vĩ mô, là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp ữong năm (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý) Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế

“là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng” Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá

cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm3

Theo Ngân hàng thế giới (WB) cho biết, năm 2008, Việt Nam (VN) chứng kiến hai cuộc khủng hoảng nối tiếp Nửa đầu năm, VN chịu ảnh hưởng của tình trạng phát triển quá nóng do nguồn vốn đổ vào ồ ạt Kết quả là lạm phát gia tăng, thâm hụt thương mại, bong bóng bất động sản và giảm sút chất lượng đầu tư Nửa cuối năm 2008, rủi ro liên quan tới mảng cho vay bất động sản (BĐS) dưới chuẩn tại Mỹ đã thổi bùng khủng hoảng tài chính toàn cầu với diễn biến khó lường Tuy nhiên, theo WB, mức độ ảnh hưởng của tình trạng suy thoái này tới kinh tế VN còn chưa rõ Khu vực tài chính ngân hàng của VN có thể không bị ảnh hưởng trực tiếp vì chưa trực tiếp tham gia vào giao dịch các sản phẩm rủi ro phức tạp trên Các định chế tài chính nước ngoài của VN có thể chịu ảnh hưởng nhưng tỉ lệ sở hữu của chúng còn khá khiêm tốn trong khu vực tài

3 W ikip edia- S u y thoái kinh tế

Lâm Thị Thu Huyên Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 22

Luận văn thạc sỹ

20

Đụi học Luật Hà Nội

chính - ngân hàng của VN Tuy vậy, xuất khẩu của VN chắc chắn bị ảnh hưởng tiêu cực, cam kết vốn FDI giảm đi đáng kể Tình trạng trì trệ của thị trường BĐS

sẽ gây khó khăn cho nhiều DN, có thể sẽ làm tăng các khoản nợ xấu gây tổn hại cho hệ thống ngân hàng Tiến trình của công cuộc xoá đói giảm nghèo đầy ấn tượng của VN sẽ chậm lại.4

* Tác động của suy thoải kinh tế với việc làm:

Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, nhiều doanh nghiệp gặp kJhó khăn buộc phải thu hẹp sản xuất dẫn đến nhiều người lao động bị mất việc làm, thiếu việc làm, nhưng cũng có những doanh nghiệp vẫn duy trì và phát triển sản xuất

có nhu cầu thu hút lao động vào làm việc

- Năm 2008, theo báo cáo của 41 tỉnh, thành phố có 66.707 người bị mất việc làm, chiếm 16,26% lao động làm việc trong các doanh nghiệp có báo cáo, trong đó số lao động nữ bị mất việc làm chiếm 25,5% Một số tỉnh, thành phố có

số lao động bị mất việc làm cao là: thành phố Hồ Chí Minh 19.041 người, Hà Nội 9.634 người, Bình Dương 8.515 người, Đồng Nai 6.445 người, Bắc Ninh 3.986 người Một số tỉnh không thuộc vùng kinh tế trọng điểm, ít doanh nghiệp nhưng có số lao động mất việc làm lớn như: An Giang có 2 doanh nghiệp báo cáo đã có 2.692 lao động mất việc làm, tỉnh Sóc Trăng có 5 doanh nghiệp báo cáo đã có 4.938 lao động bị mất việc làm

- Quý I năm 2009, qua khảo sát thực tế và báo cáo của 48 tỉnh, thành phố thì có 1.264 doanh nghiệp đang gặp khó khăn với số lao động bị mất việc làm là 64.897 người, chiếm 10% lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp có báo cáo, trong đó số lao động nữ bị mất việc làm là 21.654 người (chiếm 33,3% tổng

số lao động bị mất việc làm), lao động thiếu việc làm là 38.914 người (phải giảm giờ làm việc hoặc thay phiên làm việc) Một số tỉnh, thành phố có số lao động bị

4 T heo W orid B a n k .

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 23

Luận văn thạc sỹ

21

Đại học Luật Hà Nội

mất việc làm cao, tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm là: TP Hồ Chí Minh 15.548 người, Hà Nội 13.245 người, Bình Dương 8.002 người, Đồng Nai 5.460 người, Hải Phòng 4.053 người, Nam Định 3.179 người

Các ngành có số lượng lao động mất việc làm và thiếu việc làm tập trung nhiều nhất là ngành dệt may, da giày, chế biến hải sản, chế biến nông sản, xây dựng, công nghiệp ôtô, điện tử, kinh doanh địa ốc, chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp có hàng xuất khẩu sang nước ngoài hoặc có nguyên liệu nhập khẩu tò các doanh nghiệp nước ngoài; các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng thủ công truyền thống xuất khẩu sang các nước Đông Âu, Mỹ

và các nước khác cũng chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới Ở khu vực nông thôn, đặc biệt là ở các làng nghề suy giảm kinh tế đã tác động đến sản xuất

và tiêu thụ của các làng nghề, mà trực tiếp nhất là ảnh hưởng đến vấn đề việc làm và đời sống của người lao động Tại làng nghề La Phù (Xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội) trước thời kỳ khủng hoảng, với hơn 97 doanh nghiệp, tổ hợp sản xuất và trên 1.000 hộ gia đình sản xuất kinh doanh, hàng năm

La Phù giải quyết việc làm cho khoảng 25.000 người lao động (trong đó có khoảng 10.000 người làm việc thường xuyên trong các doanh nghiệp, 15.000 người làm việc tại gia đình gia công hàng cho các doanh nghiệp tại xã và các địa phương lân cận) Tuy nhiên do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, các nước Đông

Ẩu gặp khó khăn và có biến động về tỷ giá, hàng hóa xuất sang các nước này giảm hẳn nên nhu cầu sử dụng lao động tại La Phù đã giảm 50-70% Tại làng nghề Đồng Kỵ, tỉnh Bắc Ninh cũng bị ảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế Với 140 doanh nghiệp và 20 họp tác xã sản xuất hàng truyền thống, nhu cầu sử dụng lao động hàng năm của Đồng Kỵ là 6.000 lao động địa phương và khoảng 10.000 lao động đến từ các tỉnh lân cận, hiện nay làng nghề này cũng giảm 2/3 số lao động Theo báo cáo của 46 tỉnh, thành phố thì Quý 1/2009 số lao động mất việc làm ở trong khu vực làng nghề là 30.594 người (trong đó nữ là 14.890 người, chiếm 48,6%) Một số tỉnh, thành phố có số lao động bị mất việc làm cao như tỉnh Bắc

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 24

Luận văn thạc sỹ

22

Đại học Luật Hù Nội

Ninh là 6.150 người (trong đó làng nghề là 5.400 người, họp tác xã là 750 người), tỉnh Thái Bình 6.427 người, tỉnh Hà Nam 4.583 người, thành phố Hà Nội: 2.007 người, tỉnh Hải Dương 1.977 người Qua số liệu báo cáo của các địa phương và khảo sát thực tế cho thấy xu hướng mất việc làm năm 2009 vẫn đang diễn biến phức tạp do nhiều doanh nghiệp không nhận được đơn đặt hàng

từ phía nước ngoài; nhiều doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng hóa và xuất khẩu gặp nhiều khó khăn Dự báo số lao động mất việc làm trên phạm vi toàn quốc trong các doanh nghiệp năm 2009 khoảng 300.000 người Tình hình suy thoái kinh tế thế giới vẫn đang ảnh hưởng lớn đến lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài Đã có trên 7.000 lao động về nước trước thời hạn, đồng thời, ước tính số lao động đang làm việc ở nước ngoài bị mất việc phải về nước trước thời hạn năm 2009 có thể lên tới 10.000 lao động Mặc dù có nhiều doanh nghiệp thu hẹp sản xuất do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, nhưng vẫn có doanh nghiệp mới được thành lập, bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp tiếp tục duy trì, phát triển sản xuất và có nhu cầu thu hút lao động vào làm việc Quý 1/2009, theo báo cáo của các địa phương thì nhu cầu về lao động ở các doanh nghiệp vẫn còn rất lớn, tại TP Hồ Chí Minh, sổ lao động mất việc làm là 15.548 người, nhưng nhu cầu tuyển lao động là 61.000 người; tỉnh Bình Dương có 8.002 người bị mất việc làm từ 3 tháng trở lên, nhưng số lao động cần được tuyển là 41.600 người; tỉnh Đồng Nai có 5.460 người mất việc làm, nhưng số lao động được tuyển thêm

là 25.000 người; tỉnh Thái Bình số lao động mất việc làm là 1.064 người, nhưng nhu cầu tuyển lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn là 2.777 người; tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu có 862 người trong 19 doanh nghiệp bị mất việc làm nhưng lại đang có nhu cầu tuyển lao động là 4.000 người (trong 14 doanh nghiệp); tại tỉnh Long An số lao động bị mất việc làm năm 2008 và Quý 1/2009 trên 4.000 người, nhưng nhu cầu tuyển lao động 6 tháng đầu năm 2009 là trên 5.000 người; tại thành phố c ầ n Thơ nhu cầu tuyển lao động cao hơn rất nhiều so với lao động

bị mất việc làm, qua khảo sát của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại 36

Lãm Thị Thu Huyên Lớp: Cao hực luật KI 6

Trang 25

Luận văn thạc sỹ

23

Đại hục Luật Hà Nội

doanh nghiệp cho thấy chỉ có 69 lao động mất việc và thôi việc, nhưng số lao động dự kiến tuyển thêm là 5.212 lao động; tại tỉnh Hậu Giang nhu cầu tuyển lao động là trên 1.500 lao động Theo báo cáo của các Sở Lao động - Thương binh

và Xã hội, có khoảng trên 80% sổ lao động mất việc làm ở các địa phương đã tìm được việc làm, điển hình như tỉnh Bình Dương 95% số lao động bị mất việc làm đã tìm được việc làm; TP Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai trên 80% số lao động mất việc làm đã tìm được việc làm Tại các làng nghề mặc dù bị thu hẹp sản xuất nhưng hầu hết các hộ gia đình làm nghề truyền thống vẫn tiếp tục sản xuất, một số lao động chuyển sang làm việc khác kết hợp với làm nông nghiệp, nên thu nhập và đời sống không bị ảnh hưởng nhiều Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất vẫn phát triển và vẫn có nhu cầu tuyển dụng lao động như doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng thủ công phục vụ thị trường trong nước, doanh nghiệp khai thác nguồn nguyên liệu trong nước (nghề mây tre đan), doanh nghiệp làm giấy 5

1.2.2.2 Vai trò của pháp luật việc làm

Việc làm là vấn đề rất quan trọng trong đời sổng xã hội vì vậy những quy định điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực việc làm cũng là bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc gia

Thứ nhất, pháp luật về việc làm đảm nhận vai trò chung của pháp luật, đó

là sự thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực lao động xã hội, là

công cụ pháp lý điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực tạo việc làm và giải quyết việc làm Pháp luật việc làm là công cụ để nhà nước quản lý và điều tiết thị

trường lao động thông qua các quy định về mức lương tối thiểu, về đào tạo nghề,

về điều kiện người lao động nước ngoài làm việc tại Việt N am

5 Báo cáo tình hình lao động mất việc làm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế của Bộ

trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

Lâm Thị Thu Huyên Lớp: Cao học luật K I 6

Trang 26

Luận văn thạc sỹ

24

Đại học Luật Hà Nội

Thứ hai, pháp luật về việc làm là cơ sở pháp lý - chính trị góp phần xác định quyền lợi của các chủ thể tham gia vào lĩnh vực việc làm và trong quan hệ lao động Pháp luật về việc làm là khung pháp lý để mọi cá nhân, mọi tổ chức,

mọi thành phần kinh tế đều được bình đẳng trong lĩnh vực lao động Mọi người lao động đều bình đẳng về cơ hội làm việc, không bị phân biệt về dân tộc, giới tính, tôn giáo hay bất cứ tiêu chí nghề nghiệp nào khác Đối với người sử dụng lao động có quyền tự do tuyển dụng lao động, không bị hạn chế, không bị phân biệt đối xử đơn vị sử dụng lao động Luật lao động cũng điều chỉnh lợi ích để đảm vảo hợp lý giữa lợi ích xã hội, lợi ích lao động và lợi ích người sử dụng lao động thông qua các quy định về vấn đề giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp, bảo vệ người lao động, nhất là lao động nữ, trẻ em và người lao động tàn tật Việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong luật lao động tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ pháp luật việc làm tạo ra sự phát triển bền vững, ổn định chính trị xã hội, giảm thiểu những tác động tiêu cực của nền kinh tế

Thứ ba, pháp luật về việc làm là cơ sở pháp lý góp phần vào việc hợp tác quốc tế về việc làm và giải quyết việc làm Trong nền kinh tể thị trường hiện

nay, khi nước ta đang mở cửa nền kinh tế thì vấn đề việc làm càng trở lên cấp bách Pháp luật về việc làm không chỉ có vai trò điều tiết thị trường việc làm trong nước mà còn có vai trò quan trọng trong việc hợp tác quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề thất nghiệp và các tác động tiêu cực lên nền kinh tế chung toàn cầu Một hệ thống pháp luật vững chắc sẽ tạo điều kiện cho việc tham gia vào các tổ chức lao động quốc tế trở nên dễ dàng hơn

Thứ tư, pháp luật về việc làm là cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm và giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực việc làm Luật về việc làm là căn

cứ pháp lý đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ pháp luật việc làm, là căn cứ giải quyết các tranh chấp lao động và đình công liên quan đến việc làm, nếu có

Lảm Thị Thu Huyền Lớp: Cao hục luật K ì ổ

Trang 27

Luận văn thạc sỹ

25

Đại học Luật Hà Nội

Chương II: Thực trạng pháp luật việc làm và giải quyết việc làm

ở Việt Nam hiện nay

2.1 Các nguyên tắc pháp lý chủ yếu về việc làm

Nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo bắt buộc phải tuân thủ trong toàn bộ quá trình ban hành, thực hiện pháp luật Bất kỳ một hệ thống pháp luật nào đều có những nguyên tắc căn bản, là cốt lõi xuyên suốt, bảo đảm cho hệ thống đó được ổn định, hiệu quả Vì là một trong những hệ thống pháp luật quan trọng, pháp luật việc làm, bên cạnh việc tuân theo những nguyên tắc chung của toàn hệ thống, pháp luật việc làm còn thể hiện những nguyên tắc căn bản sau đây:

Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do việc làm của công dân

BLLĐ quy định: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối

xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo”(khoản 1 điều 5) Đây là sự khẳng định quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm của người lao động, cũng là nhằm khẳng định và cụ thể một nguyên tắc hiến định rất tiến

bộ tại Điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghữa Việt Nam năm 1992:

“Lao động là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, điều đó cũng phù họp với nguyên tắc tự do việc làm của pháp luật lao động quốc tế

Nguyên tắc cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động

BLLĐ quy định: “Cấm ngược đãi người lao động, cấm cưỡng bức người lao động dưới bất kỷ hình thức nào”(Khoản 2 Điều 5) Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi người lao động Theo đó, trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động vốn có lợi thế hơn so với người lao động, không được ép buộc người lao động tiến hành những việc làm trái với ý muốn của họ hoặc ngược đãi họ ở

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 28

Luận văn thạc sỹ

2 6

Đại học Luật Hà Nội

khía cạnh nào đó, nguyên tắc này như là sự bổ sung cho nguyên tắc bảo đảm quyền từ do việc làm Tuy nhiên, xét ở bình diện rộng hơn, nguyên tắc này bảo

vệ nhân quyền và chống lại ách nô dịch việc làm

Nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng trong lĩnh vực việc làm: Đây cũng là

nguyên tắc thể hiện nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”(Điều 5 Hiến pháp), được quy định tại các Điều 5, 7 và 13 BLLĐ Theo đó mọi công dân đều có quyền bình đẳng về cơ hội có việc làm, được đối xử bình đẳng đối với mọi việc làm và được trả công ngang nhau khi làm những công việc như nhau, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo Nguyên tắc này, xa hơn là bảo vệ quyền bình đẳng cơ hội việc làm của người lao động

Nguyên tắc thực hiện một số ưv đãi đối với một sổ đối tượng đặc thù

Nguyên tắc này xuất phát từ thực tế không phải ai cũng có khả năng làm việc, có được cơ hội việc làm như nhau do có sự khác nhau trong những vấn đề như: giới, mức độ trưởng thành hay những đặc điểm đặc thù khác như là người tàn tật,

có hoàn cảnh đặc biệt, yếu thế, nhất là trong điều kiện cạnh tranh lao động ngày càng gay gắt Do vậy, chính sách lao động - việc làm cần dành cho các đối tượng này những ưu đãi nhất định nhằm hỗ trợ họ có được những cơ hội việc làm, hòa nhập với cộng động, khắc phục những yếu thế đặc thù của họ Đây cũng là một nội dung trong chính sách xã hội của Nhà nước

Nguyên tắc khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo việc

làm Khoản 3 Điều 5 quy định: “Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm,

dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ” Ngoài ra, Nhà nước có các biện pháp bảo đảm việc làm, chống sa thải người lao động như đào tạo, đào tạo lại nghề, chính sách đối với lao động dôi dư, quy định chỉ tiêu tạo việc làm mới bắt buộc trong chương trình dự án phát triển

Lâm Thị Thu Huyên Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 29

Luận văn thạc sỹ

27

Đại học Luật Hù Nội

kinh tế - xã hội, ưu đãi đối với các dự án sử dụng lao động tại chồ, sử dụng lao động Việt N am Nguyên tắc này vừa thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và thể hiện trách nhiệm của xã hội, của người sử dụng lao động và của bản thân người lao động trong vấn đề giải quyết việc làm

2.2 Xác định trách nhiệm của các bên trong lĩnh vực việc làm.

Điều 13 BLLĐ quy định: “Giải quyết việc làm bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội”

Trách nhiệm của Nhà nước: BLLĐ đã có những quy định khá cụ thể về

trách nhiệm của Nhà nước cả ở tầm quản lý vĩ mô và trong việc ban hành các chính sách cơ chế cụ thể để giải quyết việc làm Ở tầm vĩ mô, Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm; lập Chương trình quốc gia về việc làm; lập Quỹ quốc gia về việc làm từ nguồn ngân sách Nhà nước và các nguồn khác Chỉ tiêu, Chương trình và Quỹ này phải được trình Quốc hội quyết định hàng năm Một nội dung quan trọng trong trách nhiệm của nhà nước mà pháp luật quy định là phải xây dựng và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách giải quyết việc làm Theo BLLĐ, các cơ chế, chính sách đó là: tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế, áp dụng các biện pháp khuyến khác để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm; ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số; khuyển khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các

tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài để giải quyết việc làm cho người lao động; gắn chương trình việc làm với các chương trình dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới, phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm

Trách nhiệm của người lao động: Người lao động có quyền làm việc cho

bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm

Lãm Thị Thu Huyền Lcrp: Cao học luật K l ổ

Trang 30

Luận văn thạc sỹ

28

Đại học Luật Hà Nội

Người cần tìm việc làm có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký tại các tổ chức dịch vụ việc làm để tìm việc tùy theo nguyện vọng khả năng trình độ nghề nghiệp và sức khỏe của mình (Điều 16 BLLĐ); có trách nhiệm tự tạo việc làm cho bản thân với sự hỗ trợ của Nhà nước (Khoản 1 Điều 14 BLLĐ); tự học nghề phù hợp với yêu cầu của mình (Điều 20 BLLĐ)

Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chưc

dịch vụ việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 16 BLLĐ),

có trách nhiệm ưu tiên nhận lao động nữ (Điều 111 BLLĐ), nhận một số lượng nhất định lao động là người tàn tật (Điều 125 BLLĐ), phải đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng vào chỗ làm mới trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ, phải lập quỹ dự phòng về mất việc làm (Điều 17 BLLĐ)

2.3 Những biện pháp pháp lý chủ yếu giải quyết việc làm

2.3.1 Chương trình việc làm

Chương trình việc làm là một trong những biện pháp để Chính phủ thực hiện điều tiết vấn đề nhằm giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp Chương trình thể hiện một lĩnh vực công tác trọng tâm của Chính phủ Đây cũng là một chương trình có tính pháp lý cao Nội dung chương trình việc làm tiếp tục khẳng định quan điếm đã được khẳng định trước đó trong các văn bản pháp lý như BLLĐ và văn bản pháp luật khác Đó là bảo đảm việc làm cho dân là mục tiêu

xã hội hàng đầu; giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có cơ hội có việc làm, đặc biệt là thanh niên, lao động nữ, lao động là người tàn tật, là trách nhiệm của mọi người, mọi ngành, mọi cấp, của Nhà nước và của toàn xã hội

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật K ì6

Trang 31

Luận vãn thạc sỹ

29

Đại học Luật Hà Nội

Góp phần thực hiện mục tiêu chung6 của nền kinh tế về bảo đảm việc làm cho khoảng 49,5 triệu lao động, tạo việc làm mới cho 8 triệu lao động trong 5 năm 2006 - 2010 (trong đó, trực tiếp từ Chương trình này là 2 - 2,2 triệu lao động) và giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010 Mục tiêu cụ thể đến hết năm 2010: Tạo việc làm cho 2 - 2,2 triệu lao động thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm trong 5 năm 2006 - 2010; Nâng cao năng lực và hiện đại hoá 30 - 40 trung tâm giới thiệu việc làm và hoàn thiện

hệ thống thông tin thị trường lao động; nâng số người được tư vấn và giới thiệu việc làm lên 4 triệu người trong 5 năm; Tổng nguồn vốn cho Chương trình là 5.985 tỷ đồng (không kể nguồn vốn hỗ trợ việc làm ngoài nước)

Thực tế thực hiện chương trình đã thu được những kết quả hết sức to lớn: Tạo được sự chuyển biến trong nhận thức và cách thức giải quyết việc ỉàm; cơ chế chính sách giải quyết việc làm từng bước đi vào cuộc sống Qua 7 năm 2001

- 2007, cả nước đã tạo việc làm cho 10,85 triệu lao động, giai đoạn 2001 - 2005

là 7,5 triệu lao động (tăng 25% so với giai đoạn 1996- 2000); riêng năm 2006 là1,65 triệu lao động và năm 2007 ước tính 1,68 triệu lao động Trong đó, tạo việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội là hơn 8 triệu lao động, tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm là 2,37 triệu lao động, xuất khẩu lao động theo hợp đồng 456 nghìn người Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm dần: năm 2001 là 6,28% đến năm 2006 còn 5,1%7

6 Q u y ết định 1 0 1 /2 0 0 7 /Q Đ -T T g ngày 0 6 /0 7 /2 0 0 7 về phê duyệt c h ư ơ n g trình m ụ c tiêu q u ố c gia về việc làm đến năm 2 0 1 0

7 Lao đ ộ n g và giải q uyết việc làm ở n ước ta hiện nay, Võ H ồng Phúc- Uy viên T ru n g ư ơ n g Đ ản g - Bộ trưởng

Bộ Kế hoạch và Đ ầ u tư.

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 32

Luận văn thạc sỹ

30

Đại học Luật Hà Nội

2.3.2 Quỹ giải quyết việc làm

Theo quy định của BLLĐ và văn bản hướng dẫn thi hành, hiện có: quỹ quốc gia về việc làm, quỹ giải quyết việc làm của địa phương, quỹ việc làm cho người tàn tật và quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm

Quỹ quốc gia về việc làm là một biện pháp pháp lý quan trọng của Nhà

nước trong việc khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm Nguồn quỹ bao gồm: Ngân sách Nhà nước, các nguồn hỗ trợ của các tổ chức và

cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn hỗ trợ khác Quỹ được sử dụng vào các mục đích sau: Hỗ trợ các tổ chức dịch vụ việc làm; Hỗ trợ các đơn vị gặp khó khăn tạm thời để tránh cho nhiều người lao động đang bị mất việc làm; Hỗ trợ các đơn vị nhận người lao động đang bị mất việc làm theo đề nghị của cơ quan lao động Thương binh và Xã hội địa phương; Cho vay với lãi suất thấp để

hỗ trợ giải quyết việc làm cho một số đối tượng thuộc diện chính sách xã hội do

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định

Quỹ giải quyết việc làm của tỉnh, thành phổ trực thuộc Trung ưong được hình thành từ các nguồn là ngân sách địa phương (do Hội đồng nhân dân tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương quyết định), hỗ trợ từ quỹ quốc gia về việc làm

và các nguồn khác Quỹ giải quyểt việc làm của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm thực hiện chương trình việc làm của địa phương, được sử dụng cho các mục tiêu của chương trình giải quyết việc làm của địa phương và

hỗ trợ cho chương trình giải quyết việc làm cấp huyện

Quỹ việc làm cho người tàn tật Theo quy định Nghị định số 81/CP ngày

23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của BLLĐ về lao động là người tàn tật thì quỹ việc làm cho người tàn tật là một quỳ của địa phương, do ủ y ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập để trợ giúp người tàn tật phục hồi chức năng lao động và tạo việc làm Quỹ việc làm cho người tàn tật được hình thành từ các nguồn ngân sách địa phương, hỗ trợ từ quỹ

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 33

Luận văn thạc sỹ

31

Đại học Luật Hà Nội

quốc gia về việc làm, khoản thu từ các doanh nghiệp nộp hàng tháng do không nhận đủ số lao động là người tàn tật vào làm việc theo quy định, trợ giúp của các

tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước

Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm cũng là một biện pháp pháp lý,

được quy định tại Khoản 3 Điều 17 của BLLĐ Quỹ được dùng để trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động làm việc trong doanh nghiệp nay bị mất việc làm và chi cho việc đào tạo do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ; đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ của doanh nghiệp và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề cho người lao động Khác với Quỹ quốc gia về việc làm và quỹ giải quyết việc làm của địa phương nêu trên, quỹ dự phòng mất việc làm này hoàn toàn của doanh nghiệp, do doanh nghiệp lập, quản lý, sử dụng và phát triển quỹ theo quy định của pháp luật Tại QĐ 30/2009/QĐ- TTg ngày 23 tháng 02 năm 2009 về việc hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế qui định như sau: 1) Được vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc ỉàm để tự tạo việc làm; 2) Được vay vốn để học nghề theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên trong thời gian 12 tháng, kể từ ngày người lao động bị mất việc làm; 3) Được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội như đối tượng chính sách quy định tại Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 4 năm 2004 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian 12 tháng, kể từ ngày người lao động bị mất việc làm hoặc ngày người lao động về nước8

Thực tế thực hiện cho vay vốn với lãi suất un đãi từ Quỹ Quốc gia về việc làm như sau: số vốn cho vay giải quyết việc làm đến năm 2010: 164,15 tỷ đồng;

Số vốn cấp mới trong giai đoạn 2006-2010: 39,5 tỷ đồng; Hỗ trợ cơ sở sản xuất

8 Q Đ 30/2009/Q Đ - T T g ngày 23 tháng 0 2 năm 2009 về việc hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn d o suy giàm kinh tế

Lâm Thị Thu Huyên Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 34

Luận văn thạc sỹ

32

Đại học Luật Hà Nội

kinh doanh đủ điều kiện được vay vốn và hỗ trợ hộ gia đình đủ điều kiện được vay vốn, tạo việc làm theo đúng quy định Kết quả cho vay với lãi suất thấp theo quy định trên là: 110.000 - 115.000 lượt ngàn lao động có việc làm trong giai đoạn 2006-2010; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm xuổng dưới 04% vào năm 2010; thời gian lao động ở nông thôn đạt trên 85% vào năm 201 o9

2.3.3 Tổ chức giới thiệu việc làm

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 156 BLLĐ, tổ chức này được gọi là tổ chức dịch vụ việc làm Theo quy định tại Nghị định số 39/2003/NĐ- CP thì tổ chức giới thiệu việc làm bao gồm hai loại: các trung tâm giới thiệu việc làm và các doanh nghiệp chuyên giới thiệu việc làm BLLĐ quy định tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động; cung ứng

và tuyển lao động theo yêu cầu của người lao động; thu thập, cung ứng thông tin

về thị trường lao động và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật Điều 7 Nghị định số 19/2005/NĐ - CP của Chính phủ ngày 28/2/2005 về điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm quy định trung tâm giới thiệu việc làm có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách có liên quan đến quan hệ lao động theo quy định của pháp luật lao động; Giới thiệu việc làm cho người lao động, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; Thu thập, phân tích, cung ứng thông tin về thị trường lao động bao gồm nhu cầu tuyển dụng, nhu cầu cần việc làm, tiêu chuẩn lao động, tiền lương, tiền công trên địa bàn hoạt động của vùng và cả nước; Được tổ chức dạy nghề theo quy định của pháp luật

Thành lập các tổ chức giới thiệu việc làm được coi là một trong những biện pháp nhằm hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động, tạo điều kiện cho quan

hệ lao động có thể được xác lập, là “kênh trung gian” góp phần phân phối và

9 Khung theo dõi, giám sát, đánh giá- C h ư ơ n g trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm 2010 (Ban hành kèm theo Q uyết định số 2 3 3 7 /Q Đ -U B N D ngày 10 th áng 10 năm 2008 của ủ y ban nhân dân tỉnh Tây Ninh)

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao học luật KI 6

Trang 35

Luận văn thạc sỹ

33

Đại học Luật Hà Nội

phân phối lại nguồn lao động trong các khu vực, các ngành nghề, góp phần thúc đấy sự hình thành và phát triển của thị trường lao động

Những kết quả đạt được trong chính sách phát triển các trung tâm giới thiệu việc làm: Đầu tư cho các Trung tâm giới thiệu việc làm: 01 Trung tâm được cấp vốn đầu tư giai đoạn 2006-2010, phấn đấu 100% Trung tâm được hồ trợ phần mềm, trang thiết bị, có 01 Trung tâm tổ chức sàn giao dịch việc làm định kỳ, thường xuyên, Tỷ lệ người lao động có việc làm qua trung tâm chiếm

20 - 25% tổng số giao dịch việc làm trên thị trường; số lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề qua trung tâm giai đoạn 2006 - 2010 là 25.000 người; Tổ chức sàn giao dịch việc làm: Tăng cường tư vấn, tuyển dụng lao động qua sàn giao dịch việc làm; tổ chức phiên giao dịch việc làm Đã có từ 35% - 40% lao động tham gia giao dịch tại sàn giao dịch việc làm được tuyển dụng; tổ chức ít nhất 01 phiên giao dịch việc làm kết nối trên phạm vi toàn tỉnh đến năm

201010.

2.3.4 Dạy nghề gắn với việc làm

Việc làm quan hệ mật thiết với đào tạo nghề Trong đó, việc làm vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho việc đào tạo nghề Có nghề nghiệp (tay nghề) là điều kiện tiên quyết đối với người lao động để có thể nhanh chóng tìm được việc

và có chỗ làm ổn định, có thu nhập cao ở tầm vĩ mô, trong chính sách việc làm nói chung cần có sự gắn kết vấn đề giải quyết việc làm với đào tạo nghề Vì vậy, trong BLLĐ có hẳn một chương quy định về học nghề Chính phủ cũng đã thành lập Tổng cục dạy nghề thuộc Bộ LĐTBXH, còn công tác phát triển đào tạo nghề nằm trong chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo sẽ do Bộ Giáo dục và Đào tạo đảm nhiệm Năm 2006, Quốc hội thông qua Luật dạy nghề, đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ về thể chế dạy nghề - học nghề ở Việt Nam Trong đó Điều 39:

10 Khung theo dõi, g iá m sát, đ ánh giá- C hư ơng trình mục tiêu Q uốc gia về việc làm đến năm 2010 (Ban hành kèm theo Ọ uyết định số 2 3 3 7 / Q Đ -U B N D ngày 10 tháng 10 năm 2008 cúa ủ y ban nhân dân tinh Tây Ninh)

Lâm Thị Thu Huyền Lớp: Cao hục luật KI 6

Trang 36

Luận văn thạc sỹ

34

Đại học Luật Hà Nội

Các loại hình trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề: Trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên; Trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề tư thục do các tổ chức hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên; Trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có vốn đầu tư nước ngoài thành lập theo hình thức liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài do tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên Điều 40: Điều kiện thành lập trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề: Trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề được thành lập khi có đề án bảo đảm các điều kiện chủ yếu sau đây: a) Có trường sở, khả năng tài chính và thiết bị dạy lý thuyết, thực hành phù hợp với nghề, trình độ và quy mô đào tạo, b) Có đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ chuẩn và kỹ năng nghề bảo đảm thực hiện mục tiêu, chương trình dạy nghề; Điều kiện cụ thể thành lập trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương quy định.11

Theo thống kê năm 2009 cả nước có khoảng 355 cơ sở dạy nghề (CSDN) thuộc các thành phần kinh tế, bao gồm: hơn 100 trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề (trong đó có 47,57% trường ngoài công lập); còn lại khoảng 250 CSDN (trong đó có 67% ngoài công lập) và hàng trăm CSDN khác tham gia dạy nghề ngắn hạn Những năm qua, bình quân mỗi năm các trường nghề thuộc doanh nghiệp đào tạo khoảng 90.000- 100.000 học sinh hệ dài hạn và hàng trăm ngàn học sinh học nghề ngắn hạn, về cơ bản cung cấp đủ số lượng lao động có tay nghề

11 Đ iều 39,40 Luật dạy ng h ề 200 6

Lãm Thị Thu Huyền Lớp: Cao hục luật KI 6

Ngày đăng: 16/02/2021, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w