1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta hiện nay

96 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 9,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

buộc phải nộp ch o N hà nước theo mức quy định." [tr 93 số 28, tr 929] Theo giáo trình Luật Tài chính Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội: “ T h u ế là khoản nộp bắt buộc mà các phá

Trang 2

Nguyễn Thị Hổng Hạnh

Chuyên ngành : L U Ậ T DÂN s ự - KIN H T Ê

M ã sô': 5 0 5 1 5

Luận vần thạc sy luật học

THƯ VIỆNTRƯỜN G Đ A I H O r m ^ i À |\Ộ!

Người hướng dẫn : T S T R Ẩ N đ ì n h h ả o

H à nội 2002

Trang 3

P H Ầ N N Ộ I D U N G :

CHƯƠNG I : C ơ sở lv luân về pham vi điều chỉnh của pháp luât về thuê thu nhâp

doanh nghiệp

1.1 Khái quát về thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp Trang 5

1.2 Những vấn đề lý luận chung về phạm vi điều chỉnh

1.3 Khái niệm nội hàm về phạm vi điều chỉnh của

pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp T rang 17

CHƯƠNG I I : Pham vi điều chỉnh của pháp luât hiên hành 1về thuê thu nhập doanh nghiệp ở nước ta

2.1 £)ố' tưnínp nôn thuế 'YT S * - tS ịC Ị 97

2.3 Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Trang 49

2.4 Chế độ đăng ký, kê khai, nộp thuế và quyết toán

2.5 Chế độ miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh

CHƯƠNG I I I : Phương hướne hoàn thiên pháp luât về thuê thu nhâp doanhnghiệp ở nước ta

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thuế

3.2 Phương hướng hoàn thiện Luật thuế thu nhập

Trang 4

P H Ầ N M Ở Đ Ầ U

1 T ín h cấp thiết của đề tài :

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX quyết định Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu của thế kỷ X X I : “ Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại h óa theo định hướng x ã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng đ ể đến năm 2020 nước ta c ơ bản trở thành một nước công nghiệp” [tr 92 ( số 10, tr 148)]1 Dự báo tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân hàng năm trong 5 năm đầu là 20 - 21 % GDP, trong đó thuế và phí khoảng 18 - 19 % GDP Dự kiến trong 5 năm đầu tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 620 nghìn tỷ đổng, trong đó thu từ thuế và phí khoảng 560 nghìn tỷ đồng Giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 là : “ Tiếp tục cải cách h ệ thống chính sách thuê' theo hướng nuôi dưỡng nguồn thu, thực hiện công khai, minh bạch, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp

và dân cư: khuyến khích phát triển sản xuất và đảm bả o công bằng x ã hội Tiến hành cải cách th u ế giai đoạn 3 theo hướng thu hẹp dần các mức thu ế suất, giảm tỷ trọng

th u ế gián thu, áp dụng các sắc thu ế mới như th u ế thu nhập cá nhân, th u ế bất động sản Thực hiện các cam kết quốc t ế về giảm thuế C ải tiến hình thức thu phí, lệ p h í qua ngân sá ch ; đổi mới phương thức thu thuế, đơn giản h óa thủ tục hành chính B ảo đảm thu đúng, thu đủ vào ngân sách nhà nước, chống thất thu và lạm thu C ơ quan thuế thực hiện chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm ”, [tr 92 ( số 10, tr 327)]

Nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, ngày 19/5/2001 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Do đó, việc thay đổi các Luật thuế trực thu là cần thiết, tạo nên sự đồng bộ cho các Luật thuế trong cùng khung, đăc biệt là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận phạm vi điều chỉnh của pháp luật về

( I ) : Xem trang 92 - Trích dẫn tài liệu tham khảo sô' 10 trang 148

Trang 5

Thuế thu nhập doanh nghiệp và việc đánh giá thực trạng phạm vi điều chỉnh của

pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, nhằm hiểu rõ Luật thuế này tạo điều kiện cho việc áp dụng nó trong giai đoạn trước mắt, đồng thời tổng kết những thành công và tổn tại qua ba năm triển khai Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Trên cơ sở

đó, xác định được những biện pháp khắc phục nhằm hoàn thiện sắc thuế này cho phù hợp với tình hình thực tiễn, phù hợp với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người

có thu nhập cao

Do đó, việc chọn đề tài nghiên cứu : “ Phạm vi điêu chỉnh của pháp luật vê

trọng trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế cho ngân sách Nhà nước

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu để t à i :

Đã có nhiều bài phát biểu, bài viết đăng trên các báo, các tạp chí, nhiều công trình nghiên cứu, các luận văn tốt nghiệp có giá trị đề cập đến những tổn tại trong Luật thuế lợi tức đưa đến việc ra đời của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng dự thảo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 26/3/1997 Chính phủ đã có Tờ trình Quốc hội về hai dự luật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp Tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX đã

có nhiều bài tham luận, bài phát biểu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội về dự thảo thuế thu nhập doanh nghiệp

Từ ngày Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997 đến nay

đã có nhiều bài viết, bài phát biểu trên các báo, tạp chí mang tính chất giới thiệu, tuyên truyền, phổ biến Luật thuế thu nhập doanh nghiệp là chính

Nãm 1998 tác giả Lâm Trí Quang với luận án thạc sĩ " Một số vấn đề pháp

lý về thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam" đã lý giải cơ sở lý luận và thực tiễn của việc chuyển từ thuế lợi tức sang thuế thu nhập doanh nghiệp; trên cơ sở phân tích, đánh giá ưu khuyết điểm về nội dung pháp lý chủ yếu của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đề xuất những phươna, hướng hoàn thiện trong tương lai

Từ năm 1998 đến nay, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã thông qua Luật doanh nghiệp ngày 12/6/1999 và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với

Trang 6

người có thu nhập cao ngày 19/5/2001 với nhiều điểm mới Vì thế, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cần phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp với điều kiện mới.

3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề t à i :

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phạm viđiều chỉnh của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp

Nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về phạm vi điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Trên cơ sở phân tích những ưu khuyết điểm về thực trạng phạm vi điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp qua ba năm triển khai áp dụng, đề xuất những giải pháp để góp phần hoàn thiện sắc thuế này trong tương lai

4 Phương pháp nghiẻn cứu :

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án đó là : phương phápbiện chứng duy vật, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích thống k ê ,

- Phương pháp biện chứng duy vật : Xuất phát từ cơ sở kinh tế để nghiên cứu hình thức pháp lý của các quan hệ về thuế thu nhập doanh nghiệp Nghiên cứu phạm vi điều chỉnh của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp trong mối quan hệ tác động qua lại với các hiện tượng xã hội khác

Phương pháp so sánh : So sánh phạm vi điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp với Luật thuế lợi tức trong từng quan hệ pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp cụ thể

Phương pháp phân tích và thống kê : Nghiên cứu thực tiễn áp dụng của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp qua các số liệu thống kê thu thập được

Phương pháp hệ thống : Đặt Luật thuế thu nhập doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật thuế nói riêng cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung để nghiên cứu

5 K ết cấu của luân án :

Luận án có kết cấu như sau :

• Phần mở đầu :

• Phần nội dung : gồm 3 chương

Trang 7

Chương I : Cơ sở lý luận về phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chương II : Phạm vi điều chỉnh của pháp luật hiện hành về thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta

Chương I ỉỉ : Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta

• Phần kết luận :

Trang 8

C H Ư Ơ N G I :

C ơ SỞ L Ý L U Ậ N V Ể P H Ạ M V I Đ IỂ U C H ỈN H

C Ủ A P H Á P L U Ậ T V Ê T H U Ế T H U N H Ậ P D O A N H N G H IỆ P .* • •

1.1 K hái quát về thuê và thuê thu nhập doanh nghiệp :

Từ trước đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản : " Đ ể duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đống góp của những người công dãn của

N hà nước đó là th u ế má" [tr 93 ( số 27, tr 522)]

Theo cuốn từ điển tiếng Việt : " T h u ế là khoản tiền hay hiện vật mà người

h oặc tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghê' nghiệp, buộc phải nộp

ch o N hà nước theo mức quy định." [tr 93 ( số 28, tr 929)]

Theo giáo trình Luật Tài chính Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội:

T h u ế là khoản nộp bắt buộc mà các pháp nhân và th ể nhân có nghĩa vụ phải nộp

ch o nhà nước, p h át sinh trên c ơ s ở văn bản pháp luật do Quốc hội, ủ y ban thường

vụ Q uốc hội ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp''1 [tr 92 ( số 21, tr 91)]

Theo giáo trình Thuế của Trường đại học Tài chính - K ế toán Hà Nội: " T hu ế

là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các th ể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức đ ộ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng." [tr 92 ( số 22, tr 11)]

Theo quan niệm của Mác và Ảng ghen đối tượng nộp thuế rất hẹp chỉ gồm

có công dân và Nhà nước và cũng chưa thấy được nghĩa vụ đóng góp bắt buộc của thuế Định nghĩa thuế trong cuốn từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên chưa thấy được đặc điểm không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp của thuế Định nghĩa thuế trong giáo trình Luật Tài chính - Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội và giáo trình Thuế của Trường đại học Tài chính -

K ế toán Hà Nội đã nêu đầv đủ về đối tượng nộp thuế bao gồm các thổ nhân và pháp

Trang 9

nhân; khẳng định tính không hoàn trả trực tiếp và không mang tính đối giá của thuế.

Bản chất kinh tế của thuế là quan hệ phân phối của cải dưới hình thức giá trị ( phổ biến là hình thức tiền tệ) giữa Nhà nước với các thể nhân và pháp nhân Kết quá của quan hệ phân phối là sự chuyển giao một bộ phận thu nhập cửa người nộp thuế cho Nhà nước V iệc chuyển giao một phần thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính chất bắt buộc phi hình sự Chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự Hành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có biểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa

Xét về khía cạnh pháp lý, thuế là nghĩa vụ thanh toán của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước trên cơ sở quy định của pháp luật Các pháp nhân và thể nhân có các dấu hiệu và sự kiện được quy định trong luật phải thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và nghĩa vụ này được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước

Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế hay nghĩa vụ thanh toán của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước đều không mang tính đối giá, tính hoàn trả trực tiếp Các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước nhưng không trên cơ sở được hưởng những lợi ích vật chất tương ứng, tức là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế thể hiện ở chỗ Nhà nước thu thuế từ các pháp nhân và thể nhân trong xã hội nhưng không ràng buộc bởi trách nhiệm phải hoàn trả lại cho người nộp

Từ sự phân tích ở trên, có thể rút ra định nghĩa về thuế như sau : T h u ế là khoản đóng góp bắt bu ộc của các th ể nhân và pháp nhân đối với Nhà nước, không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp, phát sinh trên c ơ sở các văn bản pháp luật

d o c ơ quan Nhà nước c ỏ thẩm quyên ban hành.

Trang 10

Thuế được phân loại theo nhiều tiêu thức, tùy theo yêu cầu quản lý ở mỗi nước mà có sự lựa chọn khác nhau Đa số các nước trên thế giới dựa vào hai tiêu thức phương pháp đánh thuế và đối tượng đánh thuế.

Căn cứ theo phương pháp đánh thuế, hệ thống thuế được chia thành 2 loại : thuế trực thu và thuế gián thu

T h u ế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế Tính chất trực thu của loại thuế này thể hiện ở chỗ người nộp thuế, đổng thời là người chịu thuế Loại thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được Thuộc loại thuế này ở nước ta bao gồm : thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đ ấ t,

T h u ế gián thu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ Người tiêu dùng hoặc người cung cấp những hàng hóa và dịch vụ đó là người chịu thuế này Đặc điểm của thuế gián thu là người nộp thuế theo luật và người trả thuê không đồng nhất với nhau Số thuế được cộng vào giá và là một bộ phận cấu thành của giá hàng hóa, dịch vụ Thuộc loại thuế này có các sắc thuế mà cơ sở đánh thuế

là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng Ở nước ta thuế gián thu gồm : thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập k h ẩu ,

Căn cứ theo đối tượng đánh thuế, hệ thống thuế được chia thành cácloại sau:

+ Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp

+ Thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa như thuê tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

+ Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất

+ Thuế đánh vào việc sử dụng tài sản Nhà nước như thuế tài nguyên, thuế

sử dụng đất nông nghiệp

+ Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh như thuế doanh thu

+ Thuế đánh vào việc chuyển dịch tài sản như thuế trước bạ

Trang 11

Để khuyến khích việc tiết kiệm, đa số các nước phát triển thực hiện việc cắt giảm thuế trực thu và chuyển dần gánh nặng sang các loại thuế tiêu dùng như giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, Sự gia tăng của thuế gián thu, đặc biệt là thuế tiêu dùng chung là xu hướng phù hợp với việc phổ cập áp dụng thuế giá trị gia tăng trên thế giới, trong đó có cả các nước đã phát triển Xu hướng này thể hiện rõ nhất ở một

số nước vốn trước đây chưa có thuế tiêu dùng như : Hy Lạp, Niu Di-lân, Thổ Nhĩ

Kỳ Tỷ trọng thuế tiêu dùng trong tổng thu của Nhật Bản cũng tăng đáng kể ( song song với việc giảm thuế thu nhập công ty) trong những năm 90 Vương quốc Anh cũng thể hiện rõ xu hướng tăng tỷ trọng thuế tiêu dùng do tăng thuế suất và mở rộng diện đánh thuế giá trị gia tăng

Trong khi đó, xu hướng thay đổi cấu trúc thuế ở các nước đang phát triển trong một vài thập kỷ qua lại diễn ra theo chiều ngược lại Tuy nhiên, sự trái ngược này không có gì mâu thuẫn Một đặc trưng của các nước đang phát triển là thu nhập thấp, nên muốn có nguồn chi tiêu, Chính phủ của các nước đó phải dựa chủ yếu vào các loại thuế gián thu, vừa dễ thu, dễ quản lý lại vừa ổn định ( tuy có vi phạm nguyên tắc công bằng đôi chút nhưng vẫn có thể chấp nhận được) KJhi thu nhập được nâng cao theo quá trình phát triển kinh tế thì vấn đề công bằng trong chính sách thuế ngày càng phải được quan tâm hơn Thêm vào đó, khi thu nhập được nâng cao thì cũng tạo khả năng cho Chính phủ có thể có được nguồn thu từ thuế thu nhập một cách dồi dào hơn Vì vậy, cấu trúc thuế thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng của thuế trực thu là hoàn toàn hợp lý Bảng 1 cho thấy sự thay đổi tỷ trọng của thuế trực thu của một số nước đang phát triển qua các thời kỳ

Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, sự thay thế hoàn toàn thuế gián thu bằng thuế trực thu hoặc ngược lại là điều không thể có Ngay các nước đã phát triển cũng không thể loại bỏ hoàn toàn thuế gián thu và thậm chí gần đây có xu hướng coi thuế gián thu là loại thuế quan trọng trong hệ thống thuế Bởi vậy, sự kết hợp chặt chẽ giữa thuế trực thu và gián thu là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý thuyết và thực tiễn không chỉ ở những nước phát triển mà ngav cả ở những nước đang phát triển Trong đó, một quy luật chung có tính phổ biến là các nước phát triển dựa chủ yếu vào thuế trực thu, còn các nước đang phát triển thì dựa chủ yếu vào nguồn thuế gián thu

Trang 12

Bảng 1 : Sự thay đổi tỷ trọng thuê trực thu của một sô nước đang phát triển.

Nguồn V asanthi Monsingh, Tax mix and Stage ofG row th W ebsiĩe.

Ở nước ta việc áp dụng thuế giá trị gia tăng và các hình thức thuế gián thu khác ( thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu) là một phương hướng quan trọng của cải cách thuế trong giai đoạn hiện nay, nhằm sử dụng chức năng điều chỉnh thuế để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển Tỷ trọng thuế gián thu ở nước ta trong cơ cấu thuế nói chung thường lớn hơn so với thuế trực thu Điều đó hạn chế vai trò của cả hai loại thuế Thứ nhất, thuế gián thu cao do tính chất lũy tiến của chúng nên những người có thu nhập thấp chịu gánh nặng của thuế nhiều hơn những người có thu nhập cao, khả năng tiêu dùng và đầu tư của họ bị hạn chế Thứ hai, thuế trực thu thấp nên vai trò điều chỉnh của nó để kích thích đầu tư ở những người có thu nhập cao bị hạn chế Do đó, trong tương lai thuế trực thu cần được quan tâm, đặc biệt là thuế thu nhập Với những nước thu nhập cá nhân chưa cao thì việc quan tâm đến thuế thu nhập doanh nghiệp là rất quan trọng

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thu nhập

Theo Từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên thì danh từ thu nhập được giải thích là : " C ác khoán thu nhập được ĩWng một khoảng thời gian nhất định tính theo thúng năm" [tr 93 ( số 28, tr 925)] Cùng theo Từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chú biên thì động từ thu nhập được giải thích là : " Nhận được tiền bạc, cứa củi vật chui từ một hoạt động não đó'' [tr 93 ( số 28, tr 925)]

Trang 13

Theo giáo trình Thuế trường Đại học Tài chính kế toán Hà Nội : “ Thu nhập được hiểu là tổng cá c giá trị mà một chủ th ể nào đó trong nền kinh t ế x ã hội nhận được, thu được thông qua quá trình phân phối thu nhập quốc dân trong một thời hạn nhất định, không phân biệt nguồn gốc hình thành từ bất động sản, từ tài sản hay đầu n r [tr 92 ( số 22, tr 144)]

Định nghĩa về danh từ thu nhập của cuốn từ điển tiếng Việt chưa đề cập đến việc trừ các chi phí bỏ ra, định nghĩa về động từ thu nhập trong cuốn lừ điển tiếng Việt có rõ hơn nhưng chưa đủ ở chỗ có những thu nhập mà người nhận được không phải do có " một hoạt động nào đó" mà do người khác biếu, tặng hoặc do thừa kế Những khoản thu nhập này tuy không thường xuyên nhưng cũng rất quan trọng Định nghĩa về thu nhập của giáo trình Thuế - Trường đại học Tài chính - Kế toán

Hà Nội là đầy đủ

Xét về khía cạnh kinh tế, thu nhập là chỉ bộ phận tài sản lăng thêm trong một thời gian nhất định Tuy nhiên, thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định như:thu nhập của một cá nhân, thu nhập của một doanh nghiệp, thu nhập của một quốc

Xét về khía cạnh pháp lý, không phải toàn bộ thu nhập phải chịu thuế mà thu nhập chịu thuế là thu nhập thực tế phát sinh, tức là thu nhập nhận được sau khi đãtrừ đi các chi phí

Như vậy, có th ể hiểu thu nhập là các khoản tiền h oặc vật chất mà các th ể nhân h oặc p h á p nhân nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ h oặc

từ cá c hành vi hợp p h áp khác.

Thu nhập nói chung có rất nhiều loại : thu nhập từ lao động, thu nhập từ tài sản, thu nhập từ hoạt động kinh doanh, thu nhập đầu tư, thu nhập thường xuyên, thu nhập không thường xuyên, thu nhập phát sinh trong nước, thu nhập phát sinh từ nước ngoài Song thuế thu nhập chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản thu nhập và chi phí

T h u ế thu nhập là một loại thu ế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực t ế của các th ể nhân và p h áp nhân.

Trang 14

Thuế thu nhập xuất hiện rất sớm trong lịch sử thuế khoá Mức cao hay thấp đánh vào tổng thu nhập hay đánh vào từng khoản thu nhập khác nhau của các chủ thể thường phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng nước trong những thời kỳ nhất định Cách tính toán cụ thể, thu nhập chịu thuế, thuế suất hoàn toàn do pháp luật thuế thu nhập của từng nước quy định Song hầu hết các nước đều áp dụng thống nhất hai loại thuế thu nhập : thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.

Mặc dù có sự định danh khác nhau nhưng hầu hết các quốc gia trên thế giới trong hệ thống pháp luật thuế đều có quy định thứ thuế đánh vào thu nhập của các doanh nghiệp Hình thức thuế thu nhập công ty được áp dụng đầu tiên vào năm

1920 ở Đức và Mỹ Ngàv nay thứ thuế này được áp dụng rộng rãi Tuy vậy, Luật của các nước có sự không đồng nhất về xác định phạm vi đối tượng nộp thuế, phạm

vi thu nhập chịu thuế và cách đánh thuế trên mỗi loại thu nhập Chẳng hạn, theo Luật thuế thu nhập công ty của Thụy Điển quy định các công ty, các chủ kinh doanh có số vốn từ 50.000 Curon trở lên và có lao động làm thuê thì được coi là đối tượng phải nộp thuế thu nhập công ty Còn Bộ luật thu của Thái Lan quy định đối tượng nộp thuế thu nhập công ty chỉ bao gồm các công ty và các tổ chức hùn vốn có

tư cách pháp nhân

Trước năm 1990 ở Việt Nam thuế đánh vào thu nhập từ kinh doanh gọi là thuế lợi tức nhưng chỉ áp dụng đối với thành phần kinh tế tập thể và cá thể Đối với các đơn vị kinh tế quốc doanh, Nhà nước thu một phần lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh bằng chế độ thu trích nộp lợi nhuận Sau cuộc cải cách thuế giai đoạn 1 từ năm 1990 Nhà nước áp dụng chế độ thu thuế lợi tức đối với tất cả các thành phần kinh tế

Luật thuế lợi tức được Quốc hội khóa V III, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30/6/1990 và sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức được Quốc hội khóa

IX , kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 6/7/1993 Luật thuế lợi tức và các văn bản hướng dẫn thi hành đã phát huy vai trò tích cực là công cụ để Nhà nước động viên một bộ phận lợi tức của các cơ sỏ' kinh doanh vào ngân sách nhà nước, là công cụ của Nhà nước để điều tiết thu nhập và điều tiết sản xuất kinh doanh đối với nền kinh tế Tuy

Trang 15

nhiên, trong quá trình áp dụng Luật thuế lợi tức còn bộc lộ một số mặt hạn chế và không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường.

Do đó, ngày 10/5/1997 Quốc hội khóa IX, tại kỳ họp thứ 11 đã thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Ngày 13/5/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị đính số 30/CP hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Ngày 14/7/1998 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 99/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 30/CP ngày 13/5/1998 Ngày 4/6/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/CP sửa đổi, bổ sung một sô' điều của Nghị định số 30/CP ngày 13/5/1998 Ngày 20/2/2002 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 18 hướng dẫn thi hành Nghị định số 26 và Nghị định số 30 nêu trên

Như vậy, th u ế thu nhập doanh nghiệp là thu ế trực thu đánh vào thu nhập chịu thu ế của cấc doanh nghiệp.

1.2 Những vấn đề lý luận chung về phạm vi điều chỉnh của pháp l u ậ t :

Sự ra đời của pháp luật gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước Theo học thuyết Mác - Lênin, pháp luật chỉ phᣠsinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp Pháp luật được hiểu là :

Theo từ điển tiếng Việt của Giáo sư Hoàng Phê : “ Pháp luật là những quy phạm hành vi do N hà nước ban hành mà người dân buộc p h ải tuân theo, nhằm điều chỉnh cá c quan h ệ x ã hội và b ả o vệ trật tự x ã h ội.” [tr 93 ( số 28, tr 741)]

Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Trường đại học Luật Hà Nội : “ Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự d o nhà nước ban hành và

b ả o đảm thực hiện, th ể hiện ỷ chí của giai cấp thống trị trong x ã hội, lả nhân tố điều chỉnh cá c quan h ệ x ã hội.” [tr 92 ( số 19, tr 64)]

Các định nghĩa trên đều nêu được tính quy phạm, tính Nhà nước, tính ý chí

và tính x ã hội của pháp luật

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, đó là những khuôn mẫu, những mực thước được xác định cụ thể, không trừu tượng, chung chung Do đó, pháp luật có tính quy phạm , Tính quy phạm của pháp luật cho biết giới hạn cần thiết mà Nhà nước quy định để mọi chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho

Trang 16

phép Vượt quá giới hạn đó là trái luật Giới hạn đó được xác định ở nhiều khía cạnh khác nhau như cho phép, cấm đoán, bắt b u ộ c,

Ngoài ra, quy phạm pháp luật còn có những đặc điểm riêng là : quy phạm pháp luật luôn gắn liền với Nhà nước và thể hiện ý chí của Nhà nước. Quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn

và được đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp cưỡng chê nhà nước Nhà nước thể hiện ý chí của mình trong quy phạm pháp luật bằng cách xác định đối tượng nào trong những hoàn cảnh, điều kiện nào thì phải xử sự theo pháp luật, những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có và cả những biện pháp cưỡng chế nào buộc họ phải gánh chịu nếu họ không thực hiện đúng những nghĩa

vụ đó

Pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, cho nên pháp luật có tính quyền Ị ực. Pháp luật được hình thành và phát triển bằng con đường Nhà nước chứ không thể bằng bất kỳ một con đường nào khác Nhà nước là một tổ chức của quyền lực chính trị có quyền lực bao trùm toàn xã hội Khi pháp luật được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nó sẽ có sức mạnh của quyền lực Nhà nước

và có thể tác động đến tất cả mọi người

Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, cho nên pháp luật mang tính ý chí Pháp luật bao giờ cũng là hiện tượng ý chí, không phảỉ là kết quả của sự

tự phát hay cảm tính Ý chí trong pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị Pháp luật

tư sản thể hiện ý chí của giai cấp tư sản, pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Chỉ có lực lượng nào nắm được Nhà nước mới có khả năng thể hiện ý chí và lợi ích của mình một cách tối đa trong pháp luật Một khi ý chí và lợi ích đã được hợp pháp hóa thành pháp luật thì nó được đảm bảo thực hiện bàng quyền lực Nhà nước

Bên cạnh tính ý chí, tính Nhà nước, pháp luật còn mang tính x ã hội, Muốn cho pháp luật phát huy được hiệu lực thì nó phải phù hợp với những điều kiện cụ thể của xã hội ở thời điểm tồn tại của nó, nghĩa là pháp luật phải phản ánh đúng những nhu cầu khách quan của xã hội Pháp luật do Nhà nước ban hành, đại diện chính thức cho toàn xã hội ban hành nên nó mang tính chất xã hội Nghĩa là, pháp

Trang 17

luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội ở mức độ nhiều hay ít tùy vào từng giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể.

Pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, do đó pháp luật mang tính giai cấp sâu sắc, Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của nhà nước, ý chí đó được cụ thể hóa trong các vãn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Nhà nước ban hành và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, do đó pháp luật là những quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọi người

Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ

xã hội Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Do đó, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị Như vậy, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp

Từ sự phân tích ở trên, ta có thể rút ra định nghĩa : Pháp luật là tập hợp các quy phạm p h áp luật d o các c ơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và được đảm bả o thực hiện bằng sự cưỡng c h ế của Nhà nước, nhằm điều chỉnh cấc quan hệ

x ã hội theo một trật tự nhất định.

Như vậy, pháp luật là công cụ hữu hiệu điều chỉnh các quan hệ xã hội của Nhà nước Do đó, để điều chỉnh các qụan hệ xã hội đạt hiệu quả thì việc xác định phạm vi của sự điều chỉnh này là rất cần thiết

Theo cuốn từ điển tiếng Việt của Giáo sư Hoàng Phê : " Phạm vi là khoảng được giới hạn của một hoạt động, một vấn đ ề hay một cái gì " [tr 93 ( số 28, tr 738)]

Như vậy, phạm vi điều chỉnh của pháp luật được hiểu là giới hạn, ranh giới giữa các quan hệ x ã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật với các quan hệ

x ã hội khác.

Đối tượnơ điều chỉnh của pháp luật là các quan hệ xã hội nhưng không phải

là tất cả những quan hệ xã hội mà chỉ là những quan hệ xã hội cơ bản, điển hình,

Trang 18

phổ biến có liên quan tới đời sống cộng đồng xã hội Còn những quan hệ xã hội không cơ bản, chưa phổ biến có thể được điều chỉnh bằng các quy phạm khác.

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật còn có thể là những quan hệ xã hội phái sinh, chúng chỉ xuất hiện khi có các quy phạm pháp luật Ví dụ, các quan hệ bảo hiểm, các quan hệ tố tụng,

Nhà nước dùng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập một trật tự, trong đó các quan hệ xã hội phát triển theo những hướng xác định nhằm đạt được mục đích đề ra Mối liên hệ giữa các quan hệ xã hội và pháp luật là mối liên hệ biện chứng Sự tác động qua lại giữa pháp luật và các quan hệ xã hội rất đa dạng, phức tạp Một mặt, các quan hệ xã hội có vai trò quyết định đối với pháp luật, mặt khác chính bản thân các quan hệ xã hội lại là đối tượng tác động có mục đích của pháp luật Pháp luật tác động lên các quan hệ xã hội thông qua các quy phạm pháp luật Việc dùng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội đã làm cho các quan hệ ấy có tính chất pháp lý, nghĩa là quy định cho các bên tham gia các quan hệ đó một số quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, đổng thời pháp luật cũng xác định cả những điều kiện để đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý

đó được thực hiện Sự tác động của pháp luật lên các quan hệ xã hội thường xảy ra theo hai hướng :

Hướng thứ nhất, đối với những quan hệ xã hội phù hợp với tiến trình phát triển xã hội, đáp ứng lợi ích của nhân dân thì pháp luật bảo vệ, củng cố và tạo điều kiện cho chúng phát triển

Hướng thứ hai, đối với những quan hệ xã hội không đáp ứng được lợi ích của nhân dân, không phù hợp với quy luật phát triển của xã hội thì pháp luật ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của chúng và từng bước loại trừ chúng ra khỏi đời sống xã hội

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của pháp luật ỉà những quan hệ x ã hội cơ bản, điển hình.

Phạm vi điều chỉnh của pháp luật có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể, Phạm vi và mức độ điều chỉnh cúa pháp luật chịu ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản như : tính chất của các quan hệ xã hội, mối liên hệ giữa các quan hệ xã hội, ý thức

Trang 19

pháp luật của con người, điều kiện kinh tế vãn hóa xã hội, sự hoàn thiện của hệ thống pháp lu ậ t

Phạm vi và mức độ điều chỉnh của pháp luật trước hết phụ thuộc vàơ loại quan hệ x ã hội. Chẳng hạn, trong lĩnh vực các quan hệ chính trị, việc thể chế hóa chỉ cần ở mức chung nhất ít có trường hợp điều chỉnh cụ thể Do đó, ở những lĩnh vực này pháp luật không đi sâu vào những quy định cụ thể Hiến pháp chỉ quy định

rõ các quyền cơ bản của công dân như quyền tham gia quản lý các công việc của Nhà nước và của xã hội ( điều 53 Hiến pháp 1992), bảo đảm các quyền lập hội, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp ( điều 69 Hiến pháp 1992), Trong khi đó, trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, sự điều chỉnh của pháp luật có mức độ

cụ thể hơn

Như vậy, phạm vi điều chỉnh của pháp luật phụ thuộc vào bản thân đối tượng điều chỉnh là quan hệ chính trị hay quan hệ kinh tế hay quan hệ cá nhân và bản thân loại đối tượng điều chỉnh, khi nó ở trạng thái này, đòi hỏi một mức độ điều chỉnh này, nhưng khi nó ở trạng thái khác, đòi hỏi một mức độ điều chỉnh khác

Bên cạnh đó, tính chất thống nhất và liên quan, tác động lẫn nhau của các quan h ệ x ã hội cũng ảnh hưởng đến phạm vi và mức độ điều chỉnh của pháp luật Mối liên hệ bên trong của các quan hệ, đó là yếu tố tạo nên sự mềm dẻo và linh hoạt trong quan hệ, đó là yếu tố tạo nên sự mềm dẻo và linh hoạt trong nhu cầu điều chỉnh chúng, trong việc đòi hỏi sử dụng các mức độ và khả nãng điều chỉnh Một quan hệ xã hội có thể cần được điều chỉnh, nhưng mức độ và phạm vi điều chỉnh là khác nhau Nó có thể trở thành đối tượng điều chỉnh của đạo đức mà nó vẫn có thể tồn tại bình thường và phát triển được Nhưng nó cũng có thể trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật và nó có thể chỉ cần đến sự điều chỉnh trong phạm vi của luật dân sự, mà không cần điều chỉnh bằng luật hành chính hoặc bằng luật hình sự

Phạm vi và mức độ điều chỉnh của pháp luật còn phụ thuộc vào ý thức pháp luật của con â g iềể bao gồm : ý thức pháp luật của nhân dân, của các cán bộ, công chức Nhà nước, của những nhà chính trị, Sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội có nghĩa là quy định hành vi của con người, chứ không thể là hành

Trang 20

vi trừu tượng, chung chung Để quy định của pháp luật có hiệu lực, đạt được mục đích, thì ngay từ khi quy định nó đã phải tìm hiểu kỹ khả năng tiếp nhận của chủ thể hành vi do luật quy định Khả năng chấp nhận quy định của pháp luật ở chủ thể phụ thuộc vào ý thức pháp luật của chủ thể đó.

1.3 Khái niệm nội hàm về phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thuê thu

x ã hội phát sinh trong lĩnh vực thu ế thu nhập doanh nghiệp.

Quy phạm pháp luật thuế được hiểu là những quy tắc xử sự chung do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thuế phát triển theo một định hướng nhất định

Căn cứ vào nội dung các quan hệ xã hội mà các quy phạm đó điều chỉnh, có thể phân chia quy phạm pháp luật về thuế thành 3 nhóm sau :

Nhóm 1 : bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ

xã hội phát sinh trong quá trình các đối tượng nộp thuế nộp thuế vào ngân sách nhà nước Đó là các quy phạm quy định đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế, cách thức, thời hạn và thủ tục nộp thuế Đây là bộ phận quy phạm chủ yếu, giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong pháp luật thuế

Nhóm 2 : bao gồm các quy phạm pháp luật qui định về khen thưởng,

xử phạt, giải quyết các khiếu nại, tranh chấp phát sinh

Nhóm 3 : bao gồm các qui phạm pháp luật xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức của các cơ quan thuế

Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ hĩru hiệu của Nhà nước

để huy động nguồn thu cho ngân sách Bên cạnh đó, pháp luật về thuế tha nhập doanh nghiệp còn đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước

I T H Ư V I Ẹ N

I Ĩ S Ư Ờ N G P Ạ : H O C l Ọ à ĩ H À ũ ỘI

Trang 21

Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hóa và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng của xã hội Đối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyên khích ngoài các quy định chung, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn có các quy định về ưu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự

ổn định và phát triển của các doanh nghiệp Việc điều tiết thu nhập của các đối tượng nộp thuế nhằm thực hiện việc phân phối một cách công bằng, hợp lý nguồn thu nhập nhận được trong nền kinh tế thị trường

Để phát huy tốt vai trò của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với nền kinh tế cần phải xác định rõ phạm vi điều chỉnh của nó

Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải tất cả các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp đều được pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp điều chỉnh mà pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ điều chỉnh những quan hệ về thuế thu nhập doanh nghiệp khi thấy cần định hướng nhất định cho sự phát triển của các quan hệ đó Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp đã sử dụng các quy phạm pháp luật thuế để điều chỉnh các quan

hệ đó

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của p h áp luật về th u ế thu nhập doanh nghiệp

là những quan hệ x ã hội phát sinh trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp và được quy phạm p h áp luật thu ế điều chỉnh ( được gọi là c á c quan hệ về thu ế thu nhập cloanh nghiệp).

Các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm quan hệ về nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và các quan hệ khác có liên quan

về thuế thu nhập doanh nghiệp Trong đó, quan hệ về nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp là chính ( quan hệ về nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của các thể nhân và pháp nhân cũng như quan hệ về nghĩa vụ thu thuế của các cơ quan thuế, cán bộ thuế) Bên cạnh đó, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn điều chính các quan hệ khác có liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp như : quan hệ về đăng

ký thuế, quan hệ về kê khai thuế thu nhâp doanh nghiệp, quan hệ về quyết toán thuế

Trang 22

thu nhập doanh nghiệp, quan hệ về thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, quan hệ về

xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp

Là một quan hệ pháp luật về thuế, cho nên trong quan hệ pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bao giờ một bên chủ thổ cũng là Nhà nước, còn bên kia

là các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ( đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp)

N hà nước tham gia vào quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể đặc biệt, chủ thể quyền lực, có quyền qui định nghĩa vụ, mức

độ, phương pháp thu thuế, chế tài xử lý vi phạm, Nhà nước thực hiện quyền chủ thể của mình thông qua các cơ quan thuế, các cán bộ thuế đồng thời tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động thu, nộp thuế Hệ thống cơ quan thuế của Nhà nước bao gồm : ở trung ương có Tổng cục thuế trực thuộc Bộ Tài chính, Tổng cục thuế do một Tổng cục trưởng phụ trách và có một số Phó tổng cục trưởng giúp việc; ở các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có các Cục thuế trực thuộc Tổng cục thuế đổng thời chịu sự chỉ đạo của Ưỷ ban nhân dân cùng cấp, Cục thuế do một Cục trưởng phụ trách và có một số Phó cục trưởng giúp việc; các quận, huyện và cấp tương đương có Chi cục thuế thuộc Cục thuế, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, Chi cục thuế do một Chi cục trưởng phụ trách và có một số Phó chi cục trưởng giúp việc Các cán bộ thuế bao gồm : các viên chức lãnh đạo, các nhân viên thuế, các kiểm soát viên thuế và các thanh tra viên thuế

Đối tượng nộp th u ế thu nhập doanh nghiệp là các thể nhân hoặc pháp nhân

có thu nhập, có trách nhiệm phải nộp thuế cho Nhà nước theo pháp luật quy định

Do đó, các chủ thể này tham gia vào quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp với nghĩa vụ chính là nộp thuế

Theo quan điểm của một số luật gia, quan hệ pháp luật về thuế là quan hệ pháp luật chung Quan hệ pháp luật thuế là quan hệ phát sinh trực tiếp từ Hiến pháp, các luật thuế và là cơ sở của sự hình thành các quan hệ pháp luật cụ thể V í dụ, quan hệ giữa nhà nước và công dân trong lĩnh vực thuế là cơ sở làm phát sinh quan

hệ pháp luật giữa công dân A nào đó với các cơ quan thuế hoặc với cơ quan khác

Như vậy, pháp luật về thuế thu nhập doanh điều chỉnh các quan hộ về nghĩa

Trang 23

vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và các quan hệ khác có liên quan Cụ thể, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hay Luật thuế thu nhập cồng ty của các nước trên thế giới điều chỉnh các vấn đề chính ; đôì tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, thuế suất, chế độ kê khai, nộp thuế, thu thuế; chế độ ưu đãi thuế; chế độ xử lý vi phạm, khen thưởng và giải quyết tranh chấp,

a) Đòi tượng nộp thuê thu nhập doanh nghiệp :

Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước theo các điều kiện mà luật đã dự liệu

Đối tượng không thuộc diện chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là trường hợp các pháp nhân và thể nhân có các hoạt động tương tự các điều kiện được dự liệu nhưng luật quy định không thuộc phạm vi điều chỉnh thì các hoạt động đó không thuộc diện chịu thuế theo quy định trong luật

Việc quy định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thường phân biệt đôì tượng thường trú và không thường trú Nói chung đối tượng được coi là thường trú có nghĩa vụ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản thu nhập

mà không phân biệt thu nhập đó phát sinh ở nước sở tại hay ở nước ngoài Còn đối tượng được coi là không thường trú chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh ở nước sở tại V í dụ, Bộ luật thu của Thái Lan quy định : Các công ty, tổ chức có tư cách pháp nhân thành lập theo Luật Thái Lan nếu có thu nhập từ nguồn Thái Lan hay từ nguồn ngoài nước đều phải kê khai và nộp thuế thu nhập cho Chính phủ Thái Lan, không phân biệt thu nhập đó được mang vào lãnh thổ Thái Lan hay để ở nước ngoài

Tuy nhiên, căn cứ quy định trong luật để xác định đối tượng thường trú hay không thường trú ở các nước có khác nhau V í dụ, ở các nước Mỹ, Nhật, Thái Lan, Indonesia quy định đối tượng thường trú là đối tượng được thành lập hay hợp nhất tại nước đó Ở một số nước khác như Malaysia, Singapore, căn cứ để xác định đối tượng thường trú là vai trò quản lý, điều hành của cơ sở đặt ở nước sở tại đối với toàn bộ hoạt động của đối tượng nộp thuế

Theo quy định của pháp luật Việt Nam các tổ chức kinh doanh được coi là đối tượng thường trú theo các tiêu chuẩn : hoặc thành lập hoặc đăng ký kinh doanh

Trang 24

tại Việt Nam hoặc cơ sở đặt tại Việt Nam đóng vai trò thực tế điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

b) Đối tượng chịu thuê thu nhập doanh nghiệp :

Đối tượng chịu thuế là căn cứ quan trọng nhất để tính thuế, thể hiện nguồn gốc của bộ phận của cải được tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước

Đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập, được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản thu nhập và chi phí

Để xác định được thu nhập chịu thuế ở các nước trên thế giới đều xem xét các vấn đề sau :

+ Nguồn gốc của thu nhập : Thu nhập từ hoạt động kinh doanh của các công ty là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí để tạo ra doanh thu

+ Địa điểm phát sinh thu nhập : Đối với đối tượng nộp thuế được COI là cư trú tại một nước, thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập phát sinh tại nước sở tại lẫn thu nhập phát sinh ở ngoài nước Đối với đối tượng được coi là không cư trú tại một nước, thu nhập chịu thuế chỉ gồm thu nhập phát sinh tại nước sở tại

Thuế thu nhập doanh nghiệp về thực chất đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp, mà phần lợi nhuận chủ yếu chịu sự ảnh hưởng rất lớn của các khoản chi phí

Đa số các nước trên thế giới, khi xác định các khoản chi phí này thường tuân thủ 4 nguyên tắc sau:

Các khoản chi phí được khấu trừ phải là những khoản chi phí có liên quan tới việc tạo ra thu nhập của doanh nghiệp

Các khoản chi phí được khấu trừ phải là những khoản chi phí thực cóchi ra

Các khoản chi phí được khấu trừ phải là những khoản chi phí có mứctrả hợp lý

Chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có tính thu nhập hơn

là tính vốn Những khoản chi phí có tính vốn được hiểu là những khoản chi phí có liên quan đến cơ cấu vốn

Trang 25

Trên thực tế, có nhiều khoản chi phí không nằm trong phạm vi các nguyên

tắc kể trên, nhưng với xu hướng phát triển cần xem xét khi đánh thuế thu nhập doanh nghiệp, đó là :

+ Các khoản lợi tức cổ phần phải trả Lợi tức cổ phần mà các cổ đông nhận được là một phần được chia từ lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi đã chịu thuế Nếu cổ đông bị đánh thuế trên lợi tức cổ phần thì họ đã phải chịu thuế hai lần cho cùng một thu nhập của họ Ở nhiều nước áp dụng chính sách cho phép lợi tức cổ phần được hưởng mức thuế đặc biệt để loại bỏ hay giảm đi yếu tố đánh thuế hai lần

Phương án đơn giản nhất là miễn thuế lợi tức cổ phần Như vậy công ty sẽ phải trả thuế trên lợi nhuận của công ty, khi công ty chia lợi nhuận đã chịu thuế ra thành cổ tức và các cổ đông sẽ không phải trả thêm thuế nữa Đây là phương pháp đang được sử dụng ở Hồng Kông nhưng ít được các quốc gia khác áp dụng

Một số quốc gia khác áp dụng chế độ miễn thuế từng phần ( Nghĩa là một phần cổ tức phải chịu thuế và phần còn lại không chịu thuế) V í dụ, ở Đài Loan 80% lợi tức cổ phần một công ty nhận được từ các cổ phần của họ trong một công

ty khác được miễn thuế, 20% còn lại phải chịu thuế Phương pháp này trên lý thuyết không được hợp lý lắm so với phương pháp hoàn toàn miễn thuế, nhưng ít nhất nó cũng giảm được yếu tố đánh thuế hai lần

Phương án thứ ba là sử dụng phương pháp “ gán ép” Trong trường hợp này, lợi tức cổ phần trên nguyên tắc phải chịu thuế nhưng thuế đánh trên lợi tức cổ phần

đó coi như đã được thanh toán ( toàn bộ hay một phần bằng thuế do công ty chia lợi tức trả) Lý thuyết của phương án này là đưa ra mối liên hệ giữa thuế công ty của doanh nghiệp và thuế cá nhân của từng cá nhân đó làm chủ Thường thì kết quả của phương pháp này tương tự như kết quả của phương pháp miễn thuế ( mà theo đó cổ đông nhận cổ tức không phải trả thêm bất cứ thuế gì mặc dầu cổ tức thực sự là lợi tức chịu thuế), nhưng toàn bộ cách tính toán thì phức tạp hơn nhiều Phương pháp gán ép được sử dụng ở Anh, ú c , Tây Tây Lan, Singapore và Ma-lai-xia

+ Các thuê phải trả thông thường: Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp thì không được coi là khoán chi phí khấu trừ Đối với thuế đánh trên hàng hóa thì được

Trang 26

coi là chi phí và được phép khấu trừ, vì thực chất đây là một khoản chi phí mà doanh nghiệp phải trả khi mua hàng hoá và nó được coi như là một chi phí tạo ra lợi nhuận.

+ Đối với khoản chi phí cho liên hiệp công ty, chi phí trả cho quyền sở hữu công nghiệp

+ Đối với khoản chi phí dự phòng của doanh nghiệp Tuy nhiên các khoản

dự phòng phải hợp lý, khách quan, phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp

+ Đối với khoản nợ khó đòi, nếu thực sự đã xảy ra, thì hầu hết các quốc gia đều cho phép khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, người ta coi đây

là chi phí rủi ro trong quá trình kinh doanh

+ Đôì với khoản chi phí trả lãi tiền vay

c) Thuê suất thuế thu nhập doanh nghiệp :

Thuế suất là mức thuế phải thu được xác định theo tỷ lệ phần trăm của đối tượng tính thuế

Thông thường các nước thường áp dụng một thuế suất cố định đối với thuế thu nhập công ty V í dụ, Singapore 27% , Đài Loan 25% , Hàn Quốc 30% , Hồng Kông 18,5%

Tuy nhiên, ở Mỹ các công ty và tất cả các đơn vị kinh tế bắt buộc phải đóng thuế lợi tức theo thuế suất lũy tiến từng phần với mức khởi điểm tính thuế, cụ thể : 15% đối với khoản lãi 50 ngàn USD, 25 % đối với 25 ngàn USD tiếp theo, 34% đối với khoản lãi nằm trong khoảng từ 75 đến 100 ngàn USD và từ 335 ngàn USD trở lên, 39% áp dụng đối với khoản lãi từ 100 đến 335 ngàn USD

Cá biệt có một sô' nước áp dụng biểu thuế lũy thoái, chẳng hạn Luật thuế lợi tức công ty của Hà Lan quy định áp dụng thuế suất giảm dần tương ứng với sự tăng lên của thu nhập công ty

Việt Nam áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp chung đối với các doanh nghiệp trong nước là 32% , đôi với các doanh nghiệp nước ngoài là 25% Ngoài ra các doanh nghiệp trone nước còn phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung

Trang 27

Xu hướng chung của đa số các nước trên thế giới là giảm thuế xuất Khi nền

kinh tế ngày càng có tính chất quốc tế hóa, những yếu tô' của quá trình sản xuất ngày càng trở nên linh hoạt hơn và có thể dễ dàng di chuyển qua giới hạn quốc gia của một nước ( chẳng hạn vốn, lao động và công nghệ ) việc duy trì mức thuế suất thuế thu nhập công ty cao sẽ trở nên bất lợi cho chính bản thân quốc gia đó bởi nguy cơ “ biến mất của các đối tượng nộp thuế” Vì vậy, trào lưu cắt giảm thuế thu nhập công ty nhanh chóng trở thành một hiện tượng domino diễn ra giữa các nước phát triển và theo sau là các nước đang phát triển Bảng 2 cho thấy sự cắt giảm thuế suất thuế thu nhập công ty ở một số nước phát triển diễn ra vào cuối những năm 80

Nguồn OCED tax D atabase

d) Chê độ thuê chuyên thu nhập ra nước n g o à i:

Đây là loại thuế chỉ áp dụng đối VỚI các nhà đầu tư nước ngoài Đối tượng chịu thuế là thu nhập mà nhà đầu tư nước ngoài thu được do đầu tư tại nước sở tại,

kể cả số thuế thu nhập được hoàn lại và số thu nhập được do chuyển nhượng vốn

Thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài ở Inđônêxia là 10%, Thái Lan là 15%, Philippine là 10%, Việt Nam áp dụng mức cao nhất là 7%

Trang 28

e) Chê độ đãng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuê thu nhập doanh

nghiệp:

Công tác đăng ký về thuế là thủ tục đầu tiên mà cơ sở kinh doanh phải thực hiện theo luật thuế, để cơ quan thuế ghi vào sổ theo dõi Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ các loại chí được coi là hoạt động hợp pháp về mặt thuế sau khi đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm kê khai, đăng ký về thuế

Chế độ kê khai thuế trong luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định quyền

và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế trong việc chấp hành chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn và cung cấp tài liệu, sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn liên quan đến việc tính và thu thuế thu nhập doanh nghiệp

Chế độ thu, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thu, nộp thuê và phương thức thu nộp

Hành vi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế được thể hiện

ở việc nộp đủ, nộp đúng thời hạn số thuế phải nộp Thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam là ngày cuối cùng của tháng cuối quý

Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện hoạt động thu thuế thu nhập doanh nghiệp

f) C h ế độ miễn giảm thuê :

Để chiếu cố đến hoàn cảnh khách quan mang lại khó khăn làm giảm thu nhập của đối tượng nộp thuế hoặc có chiếu cố riêng đối với một số hoạt động ngành nghề cần khuyến khích, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định chế độ miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với các pháp nhân và thể nhân là đối tượng nộp thuế nhưng có các dấu hiệu và sự kiện được dự liệu trong luật được giảm một phần hoặc được miễn trừ nghĩa vụ nộp thuế theo thời hạn nhất định

g) X ử lý vi phạm và khen thuỏng :

Để bảo đảm sự tuân thủ nghiêm minh pháp luật thuế, tập trung đúng, đủ, kịp thời nguồn thu từ thuế vào ngân sách Nhà nước, pháp luật thuế thu nhập doanh

Trang 29

nghiệp quy định các biện pháp cưỡng chế đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thu thuế và đối với người có công phát hiện các vụ vi phạm Luật thuế thu nhâp doanh nghiệp.

Các biện pháp cưỡng chế được áp dụng để bảo đảm sự tuân thủ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm các biện pháp cưỡng chế hành chính và cưỡng chế tư pháp Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định cụ thể cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về áp dụng Luật thuế này

Trang 30

C H Ư Ơ N G I I :

PHẠM VI Đ IỂU CHỈNH CỦA PHÁP LU Ậ T HIỆN HÀNH V Ể TH U Ế

THU NHẬP DOANH NG H IỆP Ở NƯỚC TA.

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội khóa IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 10/5/1997 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp điều chỉnh quan hệ giữa các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với Nhà nước phát sinh trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp Các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm quan hệ về nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và các quan hệ khác có liên quan về thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài quan hệ về nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn điều chỉnh các quan hệ khác có liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp như : quan hệ về đăng ký thuế, quan hệ

về kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp, quan hệ về quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, quan hệ về thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, quan hệ về xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp , Như vậy, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có phạm vi điều chỉnh về các vấn đề sau :

2.1 Đối tượng nộp thuê :

Trước đây, theo Luật thuế lợi tức, đối tượng nộp thuế lợi tức gồm các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế nên bước đầu đã tạo được sự bình đẳng tương đối giữa các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần cùng phát triển, cùng cạnh tranh lành mạnh về năng suất, chất lượng, hiệu quả; nâng cao tính nâng động sáng tạo của các doanh nghiệp; góp phần thúc đẩy sản xuất, phát triển mở rộng lưu thông hàng hóa, từng bước đưa nền kinh tế đất nước phát triển mạnh mẽ và bền vững

Tuy nhiên, thực tế nhiều loại hình mới hình thức mới của cơ sở kinh doanh hiện đang tồn tại và phát triển trong nền kinh tế ở nước ta nhưng chưa được Luật thuế lợi tức quy định là đối tượng nộp thuế Chẳng hạn như : một số tổ chức và cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư; một số cơ sở thường trú của công ty nước ngoài ở Việt Nam; các hô gia đình và cá nhân nông

Trang 31

dân sản xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao, Do đó chưa bao quát hết các đối tượng nộp thuế.

Khắc phục nhược điểm trên của Luật thuế lợi tức, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã mở rộng quy định phạm vi đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp: Theo quy định tại điều 1 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp gồm các tổ chức và cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ( được gọi chung là cơ sở kinh doanh)

Các tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ bao gồm các loại hình doanh nghiệp như : Doanh nghiệp Nhà nước; Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty

cổ phần; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Ngoài ra còn có các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các đơn vị hành chính sự nghiệp có tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; hợp tác xã, tổ hợp tác

Công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại Việt Nam cũng thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm : Cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh; Hộ cá thể; Cá nhân hành nghề độc lập : bác sĩ, luật sư, kế toán, kiểm toán, hoạ sĩ, kiến trúc sư, nhạc sĩ ; Cá'nhân cho thuê tài sản như : Nhà, đất, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị và các loại tài sản khác; Hộ gia đình, cá nhân nông dân trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trổng thuỷ sản, có thu nhập cao ; Cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam có thu nhập phát sinh tại Việt Nam như : cho thuê tài sản, cho vay vốn, chuyển giao công nghệ, góp vốn cổ phần, mua cổ phiếu, trái p hiếu,

Như vậy, toàn bộ các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ thuộc đối tượng nộp thuế theo Luật thuế lợi tức được chuyển sang áp dụng theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài ra Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn

mở rộng thêm đối tượng điều chỉnh đến các hộ gia đình, cá nhân nông dân trồng trọt, chan nuôi, nuôi trồng thủy sản có thu nhập cao

Trang 32

Việc quv định cơ sở thường trú của công ty nước ngoài tại Việt Nam là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp biểu hiện sự hòa nhập của pháp luật thuế thu nhập của nước ta vào hệ thống thuế thu nhập của các nước trong khu vực và phù hợp VỚI thông lệ quốc tế Điều này đã tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia để phân chia quyền đánh thuế và tránh hiện tượng đánh thuế trùng trên một khoản thu nhập, nhằm bảo đảm quyền lợi của các nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích họ đầu tư vào Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã bao quát tương đối đầy đủ các đối tượng nộp thuế đã và đang phát sinh, phát triển trong cơ chế thị trường, tránh thất thu thuế

và từng bước thực hiện sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp

Hộ gia đình, cá nhân sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao là đối tượng nộp thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Cụ thể hóa điều này, trong Nghị định số 30/CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ đã quy định : " Hộ gia đình, cá nhân nông dân trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản có giá trị sản phẩm hàng hóa trên 90 triệu đổng/ năm và thu nhập trên 36 triệu đổng/ năm phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập trên 36 triệu đồng/ năm" Như vậy, hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp cùng một lúc đạt được cả hai tiêu chuẩn : giá trị hàng hóa bán ra trên 90 triệu đồng/ năm và thu nhập trên 36 triệu đồng/ năm Nếu chỉ đạt một tiêu chuẩn về doanh thu hay về thu nhập đều không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo Thông tư số 96/1999ATT-BTC ngày 12/8/1999 của Bộ Tài chính thì thu nhập chịu thuế của hộ gia đình là số tiền chênh lệch giữa tiền bán hàng hóa nông sản, được trừ hết các khoản chi phí và thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ tính trên số tiền thu nhập hàng năm vượt quá 36 triệu đồng/ năm ( 2 triệu đồng/ tháng) tương đương với mức khởi điểm tính thuế thu nhập cá nhân cùng thời gian cũng là 2 triệu đổng

Trong khoảng i vạn trang trại hiện có, số cơ sở có doanh thu và thu nhập cao theo đúng tiêu chuẩn không nhiều Do đó trong một số năm trước mắt, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp có thu nhập cao sẽ

Trang 33

không lớn so với tổng thu ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, với chế độ miễn giảm thuế thì nếu có thu được thuế thu nhập doanh nghiệp của các đối tượng này thì cũng không đáng kể.

Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ gia đình sản xuất nông nghiệp là vấn

đề hoàn toàn mới đối với cả cán bộ thuế và người nộp thuế Đây lại là chính sách có liên quan đến bà con nông dân, đến lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

Do đó, khi mức thu nhập khởi điểm tính thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được nâng từ 2 triệu đồng lên 3 triệu đồng thì tại Mục A, Điểm III Thông

tư số 18/TT-BTC ngày 20/2/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định

số 26/CP ngày 4/6/2001 của Chính phủ và Nghị định số 30/CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ có quy định hộ gia đình và cá nhân nông dân trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản có giá trị sản lượng hàng hóa trên 90 triệu đồng/ năm và thu nhập trên 36 triệu đồng/ năm là đối tượng tạm thời chưa thu thuế thu nhập doanh nghiệp

2.2 Đối tượng chịu thuê ( thu nhập chịu thuế) :

Trước đây, Luật thuế lợi tức sử dụng khái niệm “ lợi tức” Lợi tức thường được hiểu là lợi tức kinh doanh Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, các khoản thu nhập của doanh nghiệp rất đa dạng, phong phú, bao gồm lợi tức từ kinh doanh, các khoản thu nhập không phải từ hoạt động kinh doanh như các khoản thu về chuyển nhượng vốn, tài sản, chuyển giao công nghệ, bản quyền, thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá nợ nay đòi được, thu các khoản nợ phải trả nhưng không xác định được chủ nợ Do vậy, khái niệm lợi tức không bao quát hết được các khoản thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Trong Luật thuế lợi tức tuy đã có quy định lợi tức chịu thuế gồm : lợi tức kinh doanh cùng các khoản lợi tức khác, nhưng trong thực tế việc giải thích về các khoản lợi tức khác chưa có tính thuyết phục cao, nhất là đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Khắc phục nhược điểm trên của Luật thuế lợi tức, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sử dụng khái niệm “ thu nhập” thay cho khái niệm “ lợi tức”, do đó Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có một phạm vi đối tượng chịu thuế rộng hơn Điều 6 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định : Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập

từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nước ngoài và thu nhập chịu thuế khác

Trang 34

Thu nhập chịu thu ế - Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh + Thu nhập khác

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã khắc phục được nhược điểm cơ bản của Luật thuế lợi tức là chưa bao quát hết nguồn thu, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

có khả năng điều chỉnh tất cả các nguồn thu nhập, đặc biệt là những nguồn thu mới phát sinh, phát triển trong cơ chế thị trường như : thu nhập từ chênh lệch mua bán chứng khoán, quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản

Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các thu nhập phát sinh

do hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp ở trong nước và nước ngoài Thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh = Doanh thu tính thuế- Các chi phí hợp lý

2.2.1 Doanh thu để tính thu nhập chịu thuê :

Theo Điều 8 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp : Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ ( không có thuế giá trị gia tăng đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ và có thuế giá trị gia tăng đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp) bao gồm cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng

Các khoản trợ giá thông thường là các khoản do Nhà nước trợ cấp bổ sung cho các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ, khuyến khích thực hiện các chính sách của Nhà nước như trợ giá mua lúa, trợ giá hàng xuất khẩu Đây là các khoản thu mà doanh nghiệp được hưởng vì vậy việc đưa các khoản trợ giá vào doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là hoàn toàn hợp lý

Trong trường hợp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua, bán thực tế bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thu ngoại tệ

Để việc tính doanh thu chịu thuế được thống nhất, Nghị định số 26/CP ngày 4/6/2001 của Chính phủ quy định thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là thời điểm hàng hóa, dịch vụ đã được tiêu thụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa Ihu được tiền

Trang 35

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp cụ thể được xác định như sau :

1 ĐỐI với hàng hóa bán theo phương thức trả góp hoặc trả chậm :

Nghị định số 30/CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ chỉ quy định chung : doanh thu để tính thuế là doanh thu của hàng hóa tính theo giá bán trả một lần, không bao gồm lãi trả chậm

Nghị định số 26/CP ngày 4/6/2001 của Chính phủ quy định cụ thể hai trường hợp : quyền sở hữu hàng hoá chưa chuyển cho người mua và quyền sở hữu hàng hoá đã chuyển cho người mua

Trường hợp quyền sở hữu hàng hoá chưa chuyển cho người mua thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là sô' tiền phải thu khi người mua trả tiền theo thời hạn quy định của hợp đồng Việc xác định doanh thu, chi phí được thực hiện theo nguyên tắc chi phí phải phù hợp với doanh thu

Trường hợp quyền sở hữu hàng hoá đã chuyển cho người mua thì doanh thu

để tính thu nhập chịu thuế được tính theo giá bán trả một lần kể từ khi giao hàng hoặc khi xuất hoá đơn giá trị gia tăng hoặc hoá đơn bán hàng, không bao gồm lãi trả góp hoặc lãi trả chậm

2 Đối với hàng hóa, dịch vụ đùng để trao đổi, biếu, tặng : Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi, biếu tặng

3 Đối với sản phẩm tự dùng : Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế làchi phí để sản xuất ra sản phẩm đó

4 Đối với gia công hàng hóa : Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế làtiền thu về gia công bao gồm cả tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hóa Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định khi bên nhận gia công đã viết hoá đơn, đồng thời với việc chuyển trả hàng hoá đã gia công cho bên đưa gia công

5 Đối với hoạt động cho thuê tài sản : Theo Điểm 6, Điều 3 Nghị định

số 30/CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ thì: Doanh thu đê tính thu nhập chịu thuế

là số tiền thu từng kỳ theo hợp đồng thuê Trường hợp bên thuê trả trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền thu được

Trang 36

Việc tính thuế một lần trên toàn bộ số tiền khách hàng tạm ứng thuê tài sản dài hạn có phần chưa hợp lý Do đó, tại Điểm b, Khoản 1, Điều 1 Nghị định số 26/CP ngày 4/6/2001 của Chính phủ đã được sửa thành : Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là số tiền phải thu từng kỳ theo hợp đồng Trường hợp bên thuê trả trước cho nhiều năm thì doanh thu được tính để phân bổ theo sô năm trả trước tương ứng.

6 Đối VỚI hoạt động tín dụng :

Tại Điểm 7, Điều 3, Chương II Nghị định số 30/CP ngày 15/3/1998 của Chính phủ có ghi : Doanh thu để tính thuế đối với hoạt động tín dụng là lãi tiền cho vay thực thu trong kỳ tính thuế Nhưng ngay trong Thông tư số 99/TT-BTC ngày 14/7/1998 của Bộ Tài chính tại Điểm 6, Phần II, Mục B có ghi : Doanh thu tính thuế đối với hoạt động tín dụng là lãi tiền cho vay phải thu trong kỳ tính thuế

Đến ngày 19/11/1999, khi ban hành Nghị định số 166/CP của Chính phủ về chế độ tài chính đối với các tổ chức tín dụng thì Điều 16 có ghi rõ : Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng là số tiền p h ải thu phát sinh trong kỳ

Tại Điểm c , Khoản 1, Điều 1 Nghị định số 26/ CP ngày 4/6/2001 của Chính phủ cũng ghi : Doanh thu tính thuế đối với hoạt động tín dụng là lãi cho vay p h ải thu p hát sinh trong kỳ tính thuế

Giữa lãi cho vay thực thu và lãi cho vay p h ải thu trong kỳ tính thuế có một khoảng cách khá lớn Thực thu hiểu theo ngôn ngữ thường sử dụng trong kế toán tài chính là số tiền đã thu được, ở đây là số lãi đã thu được từ người vay Nếu hiểu như vậy, thì các cơ sở hoạt động tín dụng chỉ kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với các khoản lãi cho vay mà cơ sở tín dụng đã thu được của khách hàng trong kỳ tính thuế Còn sô' phải thu lại bao gồm cả số lãi trong kỳ mà cơ sở tín dụng vì lý do

gì đó chưa thu được từ nguồn vay trong kỳ tính thuế Như vậy, ngay trong hai văn bản cùng hướng dẫn việc thực hiện thuế thu nhập doanh nghiệp đã không nhất quán

Quan hệ về thuế giữa người nộp thuế với Nhà nước không phải là quan hệ dân sự, nó nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước trong quá trình quản lý điều hành đất

Trang 37

nước Trong khi đó, quan hệ cho vay và đi vay là quan hệ dân sự giữa hai chủ thể Một trong những nguyên tắc cơ bản trong giao dịch dân sự được Bộ luật Dân sự hiện hành quy định tại Điểu 2 là : " Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước ." Do vậy, không thể nói là có lãi nhưng không thu được tiền thì không phải kê khai nộp thuế, bởi vì, nếu để quan hệ dân sự ( đòi nợ được hay không) ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước ( tính theo lãi thực thu) là trái với nguyên tắc của Luật Dân sự đã quy định.

Chính vì những lẽ trên, việc xác định doanh thu từ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng phải là số tiền p h ải thu phát sinh trong kỳ chứ không thể là số tiền thực thu phát sinh trong kỳ

Theo Thông tư số 18 ngày 20/2/2002 của Bộ Tài chính đã xác định cụ thể các nguyên tắc tính doanh thu từ hoạt động cho vay, thu lãi tiền gửi, thu nghiệp vụ cho thuê tài chính

7 Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm : Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là sô' tiền phải thu về phí bảo hiểm gốc, phí đại lý giám định, phí nhận tái bảo hiểm, thu hoa hồng tái bảo hiểm và các khoản thu khác

Thông tư số 18/2002/TT-BTC ngày 20/2/2002 của Bộ Tài chính có bổ sung quy định doanh thu tính thuế đối với các hoạt động sau:

8 Trường hợp bán hàng qua đại lý : Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định khi đại lý giao hàng cho người mua hoặc khi bên nhận đại lý chuyển quyền sở hữu cho người mua và xuất hoá đơn Đổng thời phải có hợp đồng đại lý bằng văn bản giữa bên giao và bên nhận đại lý, nếu không có hợp đồng thì việc giao hàng cho đại lý sẽ coi như hoạt động bán hàng thông thường

9 Đối với hoạt động vận tải hàng không : Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền doanh nghiệp vận tải hàng không được hưởng từ việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá sau khi đã hoàn thành quá trình vận chuyển, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là dịch vụ vận chuyển đã hoàn thành

10 Doanh thu bán điện, nước, bưu điện : Doanh thu để tính thu nhập chịu thuê là số tiền ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế căn cứ vào ngày cuối cùng ghi chỉ số công tơ trên hoá đơn

Trang 38

tính tiền điện không phân biệt đầu tháng hay cuối tháng Ngày cuối cùng ghi chỉ số công tơ thuộc tháng nào thì tính vào doanh thu của tháng đó.

2.2.2 C ác chi phí hợp lý :

a C ác khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế :

Luật thuế lợi tức trước đây quy định các chi phí hợp lý, hợp lệ được trừ để tính thu nhập chịu thuế Chi phí hợp lý được hiểu là chi phí mà doanh nghiệp đã thực chi phù hợp với mức độ và yêu cầu của hoạt động thực tế của doanh nghiệp, với các định mức kinh tế kỹ thuật và với giá cả của thị trường Hợp lệ được hiểu là phù hợp VỚI thể lệ quy định, nghĩa là phải có chứng từ hợp pháp chứng minh Một

sô các chi phí hợp lý, hợp lệ được quy định trong Luật thuế lợi tức còn mang dấu ấn của thời kỳ bao cấp cũ tỏ ra không còn phù hợp với thực trạng nền kinh tế thị trường

mở cửa với bên ngoài hiện nay và trên những mặt nào đó còn có tác dụng kìm hãm sản xuất, kinh doanh phát triển Chẳng hạn như các quy định thuộc về lĩnh vực tiền công, tiền lương, khấu hao tài sản cố định

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp một mặt đã kế thừa những quy định phù hợp của Luật thuế lợi tức, mặt khác có điều chỉnh, bổ sung, mở rộng các chi phí hợp

lý cho phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Luật thuế thu nhập doanh nghiệp bỏ tiêu chuẩn chi phí “ họp lệ”, chỉ quy định là “ chi phí hợp lý”

Chi phí để tính thu nhập chịu thuế là những tiêu hao hợp lý mà đối tượng nộp thuế bỏ ra để tạo ra thu nhập, được trừ để tính thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Các chi phí hợp lý trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo các nguyên tắc sau :

Khoản chi phải liên quan đến doanh thu để tính thuế và thu nhập chịuthuế

Khoản chi thực tế, có chứng từ hợp pháp

Mức chi phải hợp lý

Tính hợp lý của chi phí thể hiện ở các tiêu chuẩn sau :

+ Các khoản chi phí được trừ để tính thu nhập chịu thuế là những tiêu hao thực tế các nguồn lực gắn liền với việc tạo ra thu nhập

+ Các khoản chi phí được trừ để tính thu nhâp chịu thuế là những tiêu hao

Trang 39

nguồn lực ở mức độ hợp lý và phát sinh từ hành vi xử sự phù hợp với pháp luật.

Theo quy định tại điều 9 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì các khoản chi phí hợp lý liên quan đến thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế được hướng dẫn nhưsau :

1 Khấu hao tài sản cố định :

Khấu hao tài sản cố định là khoản chi phí bắt buộc phải có nhằm thu hồi vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định qua từng chu kỳ sản xuất, kinh doanh

Theo Luật thuế lợi tức, việc khấu hao tài sản cố định được quy định theo

“ Chế độ quản lý, khấu hao tài sản cố định và định mức khấu hao tài sản cố định” ban hành kèm theo Quyết định số 507/TC/DTXD ngày 22/7/1986 Thời gian khấu hao dài, tỷ lệ khấu hao chủ yếu tính trên mức độ hao mòn hữu hình không lưu ý tới hao mòn vô hình và áp dụng cứng nhắc cho từng loại máy móc, thiết bị đối với mọi doanh nghiệp Chế độ khấu hao tài sản cố định lạc hậu thu hồi vốn chậm, nhiều tài sản không thu hổi đủ vốn Do đó, không khuyến khích được các doanh nghiệp đổi mới thiết bị tiên tiến, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm

Đến Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, việc khấu hao tài sản cố định được áp dụng theo “ Chế độ quản lý, sử dụng và khấu hao tài sản cố định” ban hành kèm theo Quyết định số 1062/TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Theo quy định này, mọi tài sản cố định của doanh nghiệp phải được tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng Thời gian sử dụng tài sản cố định được doanh nghiệp xác định dựa vào khung thời gian sử dụng quy định của Nhà nước Nếu đơn vị muốn xác định thời gian sử dụng tài sản cố định khác với khung thòi gian sử dụng quy định thì phải có sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính Số năm sử dụng của tài sản cố định có hai mức : mức tối thiểu và mức tối đa Nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có lãi thì được tính khấu hao theo mức tối thiểu, ngược lại thì phải tính khấu hao theo mức tối đa

Trường hợp bên Việt Nam tham gia góp vốn pháp định hoậc góp vốn hợp doanh với bên nước ngoài bằng giá trị quyền sử dụng đất thì việc trích khấu hao phải bảo đảm tính đủ giá trị quyền sử dụng đất và tính từ thời điểm doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài hoặc hợp doanh bắt đầu đi vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

Trang 40

cho đến khi kết thúc dự án.

Theo Quyết định số 1062/TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì các chi phí về đất sử dụng; chi phí thành lập doanh nghiệp; chi phí nghiên cứu phát triển; chi phí về bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, mua bản quyền tác giả; nhận chuyển giao công nghệ; chi phí về lợi thế cạnh tranh; tài sản cố định thuê tài chính được COI là tài sản cố định vồ hình và được trích khấu hao Điều này khiến cho chi phí khấu hao tài sản cố định được mở rộng hơn

Thời gian khấu hao tài sản cô' định được rút ngắn và việc mở rộng các chi phí khấu hao tài sản cố định đã tạo điều kiện, khuyến khích các doanh nghiệp thay thế, đổi mới máy móc thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Thông tư số 18/TT-BTC ngày 20/2/2002 của Bộ Tài chính thì việc khấu hao tài sản cố định phải tuân theo “ Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định” ban hành kèm theo Quyết định số 166/1999/Q Đ-BTC ngày 30/12/1999 của

Bộ tài chính Tài sản cố định được trích khấu hao tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, về nguyên tắc phải đảm bảo hai yêu cầu sau :

Tài sản cố định phải đầy đủ hóa đơn chứng từ hợp pháp chứng minh tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh

Tài sản cố định phải được sử dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ tạo ra thu nhập chịu thuế

2 Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, nàng lượng, hàng hóa sử dụng vào sản xuất, kinh doanh dịch vụ liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế trong

kỳ, được tính theo định mức tiêu hao vật tư hợp lý và giá thực tế xuất kho

a Mức tiêu hao vật tư hợp lý :

- Giám đốc doanh nghiệp phải xây dựng và duyệt định mức tiêu hao vật tư

do cấp có thẩm quyền ban hành và tình hình cụ thể của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có hội đồng quản trị thì Tổng giám đốc xây dựng định mức tiêu hao vật tư để trình Hội đổng quản trị phê duyệt

- Kết thúc năm doanh nghiệp phải thực hiện việc quyết toán vật tư bảo đảm không được vượt định mức tiêu hao vật tư đã được duyệt và thông báo cho cơ quan thuế biết

Ngày đăng: 16/02/2021, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm