kiểm soát độc quyền ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2005… Về hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh PLCT, có một số
Trang 1PHẠM NHƯ NGỌC
ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT THỎA THUẬN ĐỘC QUYỀN TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG VŨ HUÂN
Hà Nội - 2017
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Phạm Như Ngọc
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN
ĐỘC QUYỀN TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI
7
1.1 Khái quát về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại
7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại 7
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại 7
1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại 13
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của thỏa thuận độc quyền trong hợp
đồng nhượng quyền thương mại
17
1.1.2.1 Khái niệm thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại
17
1.1.2.2 Đặc điểm của thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại
18
1.2 Lý luận pháp luật về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại
21
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với thỏa thuận
độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
21
1.2.2 Nội dung pháp luật về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại
23
Trang 5THỰC HIỆN, XỬ LÝ HÀNH VI THỎA THUẬN ĐỘC QUYỀN
TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
2.1 Thực trạng pháp luật về thỏa thuận độc quyền trong hợp
đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
29
2.1.1 Khái quát quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận
độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại dưới góc nhìn so sánh với pháp luật một số quốc gia
29
2.1.1.1 Thỏa thuận liên quan đến duy trì tính đặc trưng và uy tín của
mạng lưới nhượng quyền thương mại
29
2.1.1.2 Thỏa thuận về li-xăng (license) 33
2.1.1.3 Thỏa thuận độc quyền lãnh thổ 35
2.1.1.4 Thỏa thuận phân phối và cung ứng độc quyền 40
2.1.1.5 Thỏa thuận ấn định giá bán lại 44
2.1.2 Hậu quả pháp lý và việc xử lý các thỏa thuận độc quyền
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt
2.1.2.2 Xử lý các thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại
52
2.2 Thực tiễn thực hiện và xử lý các hành vi thỏa thuận độc
quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
55
2.2.2 Những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân 56
2.2.2.1 Một số bất cập trong xử lý hành vi 56
2.2.2.2 Bất cập trong quy định về thỏa thuận nhằm duy trì tính đặc
trưng và uy tín của mạng lưới nhượng quyền thương mại
Trang 6Chương 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT THỎA THUẬN ĐỘC QUYỀN
TRONG HỢP ĐỒNG
63
3.1 Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận độc
quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
63
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật trên cơ sở ghi nhận quy luật khách
quan của cạnh tranh và tính đặc thù của hợp đồng nhượng quyền
thương mại
63
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật trên cơ sở ghi nhận thỏa thuận độc
quyền như một “ngoại lệ hợp lý” của pháp luật cạnh tranh theo
hướng phù hợp với bản chất của hợp đồng nhượng quyền thương
mại
63
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật phải đảm bảo tính phù hợp giữa pháp
luật cạnh tranh và pháp luật về nhượng quyền thương mại
65
3.1.4 Xây dựng hành lang pháp lý thống nhất để điều chỉnh thỏa
thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
66
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao cơ chế thực
thi pháp luật để kiếm soát thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng
nhượng quyền thương mại
69
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận độc quyền
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
69
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao cơ chế thực thi pháp luật
để kiểm soát thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại
77
KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với vai trò tích cực của mình, nhượng quyền thương mại đã và đang được xem là cách thức hiệu quả để các bên mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh bằng cách khai thác các thương hiệu thành công thông qua việc chuyển giao quyền sử dụng quyền thương mại của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền Khi thực hiện kinh doanh theo phương thức nhượng quyền, bên nhượng quyền phải chuyển giao toàn bộ “quyền thương mại” (bao gồm tất cả các yếu tố tạo nên thương hiệu của bên nhượng quyền như nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết kinh doanh…) cho bên nhận quyền sử dụng Ngược lại,
về phía bên nhận quyền, sau khi đã bỏ ra một chi phí rất lớn để nhận quyền kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền cũng mong muốn sẽ được đảm bảo một tỷ lệ thành công Tuy nhiên, sẽ khó thực hiện dễ dàng khi mà việc kinh doanh của bên nhận quyền sẽ phải thực hiện theo một phương thức để duy trì tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống Vì vậy, khi thiết lập quan hệ nhượng quyền thương mại các bên thường
có xu hướng thực hiện những hành vi nhằm kiểm soát lẫn nhau do bản chất vốn có của quan hệ nhượng quyền Những hành vi này thường chứa đựng yếu
tố hạn chế cạnh tranh như buộc bên nhận quyền phải mua hàng hóa/nguyên liệu từ một nguồn nhất định do bên nhượng quyền chỉ định, thỏa thuận bên nhận quyền được phép kinh doanh độc quyền trong một khu vực nhất định (độc quyền lãnh thổ)… Dưới cách nhìn của pháp luật cạnh tranh hiện nay, những hành vi này sẽ bị cấm khi hội tụ đủ một số điều kiện nhất định Tuy nhiên, dưới góc nhìn của một hành vi thương mại, những thỏa thuận này lại không thể không tồn tại trong một quan hệ nhượng quyền vốn có nhiều tiềm năng cũng như rủi ro phải đối mặt với các bên Đặc thù này đòi hỏi pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động nhượng quyền thương mại phải được đặt trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh Bởi lẽ, những thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh này có thể gây ra những hệ quả nhất định đối với môi trường cạnh
Trang 8tranh lành mạnh, cho nên, các bên phải hết sức cẩn thận khi đưa các điều kiện này vào trong hợp đồng, vì nếu một điều khoản nào đó trái với pháp luật về cạnh tranh thì hợp đồng có thể vô hiệu Luật Thương mại và Luật Cạnh tranh của Việt Nam không có những quy định cụ thể điều chỉnh các thỏa thuận độc quyền trong hoạt động thương mại nói chung và hoạt động nhượng quyền thương mại nói riêng Điều này dẫn đến những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế từ các hành vi thỏa thuận độc quyền không được kiểm soát trên mọi phương diện và trong từng hoạt động thương mại riêng biệt
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu để tìm hiểu rõ hơn về các hành vi thỏa thuận độc quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
và việc điều chỉnh, kiểm soát nó bằng pháp luật hiện nay như thế nào là yêu
cầu có tính cần thiết Với cách tiếp cận như trên, tác giả lựa chon đề tài “Pháp luật thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Luận Thạc sĩ luật học – chuyên ngành Luật
Kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, pháp luật cạnh tranh và pháp luật về nhượng quyền thương mại đều là hai mảng pháp luật được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Mặc dù cùng nằm trong tổng thể pháp luật thương mại nói chung, song hai lĩnh vực này vẫn có những điểm đặc thù và được quy định cũng như điều chỉnh bởi hai hệ thống pháp luật riêng Do vậy, khi đề cập đến vấn đề thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại thì đây được coi là một vấn đề tương đối mới mẻ và có nhiều nội dung cần nghiên cứu, phân tích Cho đến nay, nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh các thỏa thuận độc quyền và hợp đồng nhượng quyền thương mại đã có các công trình như:
(i) Đặng Vũ Huân, “Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh
không lành mạnh ở Việt Nam” Luận văn Tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà
Nội, 2002; (ii) Nguyễn Duy Thành, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong
việc kiểm soát giá độc quyền ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại
học Luật Hà Nội, 2003; (iii) Phan Thị Vân Hồng, “Độc quyền và pháp luật về
Trang 9kiểm soát độc quyền ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại
học Luật Hà Nội, 2005…
Về hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh (PLCT), có một số công trình đã đề cập đến như: (i) Đào Đặng
Thu Hường, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại trong pháp luật Việt
Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2007; (ii) Vũ Đặng
Hải Yến, “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng
quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ
luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2008; (iii) Nguyễn Thị Như Nguyên, “Pháp
luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2012; (iv)
Trần Thị Hồng Thúy, “Kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương mại theo
quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ”, Luận văn
Thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012…
Nhìn chung, các công trình này về cơ bản mới chỉ tiếp cận từng mảng nội dung pháp luật cạnh tranh về hành vi độc quyền nói chung hoặc pháp luật
về nhượng quyền thương mại, một số tác phẩm khác thì có phạm vi bao quát rộng nhưng cũng chỉ phân tích ở các khía cạnh chung nhất và cơ bản về vấn
đề độc quyền và việc kiểm soát độc quyền ở Việt Nam mà chưa gắn cụ thể thỏa thuận độc quyền trong Hợp đồng nhượng quyền thương mại
Bên cạnh đó, còn có công trình phân tích và nhận diện rõ hơn các dấu hiệu của các thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
như: “Các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại”
của TS Bùi Ngọc Cường, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Viện nhà nước và pháp luật, Số 7/2007, song tác phẩm này mới chỉ tập trung phân tích các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại mà chưa đi sâu vào nghiên cứu lý luận, phương thức kiểm soát và lấy dẫn chứng về những vấn đề thực tiễn của các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Trang 10Tuy nhiên, dựa trên cơ sở tình hình nghiên cứu này, Luận văn sẽ kế thừa một số luận điểm nghiên cứu, phân tích chuyên sâu pháp luật về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung và thực tiễn thi hành, kiểm soát các thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, từ đó, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu ở trên, Luận văn đã đặt ra các nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Thực hiện nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập, tồn tại của hệ thống pháp luật cũng như thực tiễn quá trình áp dụng
- Đề xuất, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hành vi thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại được quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Thương mại 2005 và các văn bản liên quan như: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng nhượng quyền thương mại (sau đây viết tắt là Nghị định số 35/2006/NĐ-CP), Thông tư số 09/2006/NĐ-CP của Bộ Thương mại về hướng dẫn đăng ký hợp đồng nhượng quyền thương mại (sau đây viết tắt là Thông tư
Trang 11số 09/2006/BTM) và các văn bản, quy định pháp luật liên quan của các quốc gia khác trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, xử lý hành vi thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam từ khi Luật Cạnh tranh 2004, Luật Thương mại 2005 được ban hành cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra, tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm sảng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và những khó khăn từ phía bên nhận quyền và bên nhượng quyền; phương pháp so sánh giữa các quy định của pháp luật về thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại giữa các văn bản pháp luật liên quan như Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, giữa pháp luật Việt Nam với các quốc gia trên thế giới
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tập trung và có hệ thống về pháp luật thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về vấn đề này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự vận hành phương thức kinh doanh của nhượng quyền thương mại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập về pháp luật thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Trang 12Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về thuận độc quyền trong
hợp đồng nhượng quyền thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện, xử
lý thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm
soát thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN ĐỘC QUYỀN TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại
Ở Việt Nam, nhắc đến hình thức kinh doanh nhượng quyền thương mại (franchise) không phải là xa lạ Hình thức này được du nhập từ những năm
1990, nhiều thương hiệu nổi tiếng toàn cầu chuyên về đồ ăn nhanh và đồ uống như MCDonald’s, Kentucky Fried Chicken (KFC), Qualitea, Dilmah… đã nhanh chóng thâm nhập thị trường Việt Nam trong những năm qua, trở thành phổ biến và quen thuộc với người tiêu dùng Mặc dù, hiện nay ở nước ta có rất nhiều hệ thống kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại (NQTM) đang hoạt động, tuy nhiên, nói về thuật ngữ NQTM thì vẫn được xem là mới mẻ trong khoa học pháp lý Việt Nam Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về NQTM
Theo Hiệp hội NQTM Quốc tế (IFA) - Hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã định nghĩa NQTM: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng giữa bên nhượng quyền với bên nhận quyền, theo đó bên nhượng quyền đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận quyền trên các khía cạnh như: Bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên Bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát; và bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng nguồn lực của mình” Theo đó, vai trò của bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp được đặc biệt nhấn mạnh so với trách nhiệm của bên giao quyền Trong khi đó, Cộng đồng chung Châu
Âu EC (nay là Liên minh Châu Âu EU) lại định nghĩa nhượng quyền kinh
Trang 14doanh theo hướng nhấn mạnh tới quyền của bên nhận, khi sử dụng một tập hợp quyền SHTT Mặc dù ghi nhận vai trò của thương hiệu và hệ thống, bí quyết kinh doanh của bên giao quyền, định nghĩa này không đề cập tới những đặc điểm khác của việc nhượng quyền kinh doanh Cụ thể, EC định nghĩa nhượng quyền kinh doanh là một “tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) và SHTT liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng” Nhượng quyền kinh doanh có nghĩa là việc chuyển nhượng quyền kinh doanh được định nghĩa ở trên1 Chương 54 Bộ luật Dân sự của Liên bang Nga định nghĩa bản chất pháp lý của NQTM như sau: “Theo hợp đồng NQTM, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ…” Định nghĩa này tương tự như định nghĩa của EU đều nhấn mạnh tới việc Bên giao quyền giao một số quyền SHTT độc quyền cho bên nhận để đổi lấy những khoản chi phí nhất định, mà không đề cập đến vai trò, nghĩa vụ của bên nhận2
Ở Việt Nam, Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra khái niệm về NQTM như sau: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo
đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: (i) Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng
1 Nguyễn Thị Như Nguyễn (2011), Pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại –
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.6
2 Bộ Công thương, Cục Quản lý Cạnh tranh, Báo cáo Rà soát các quy định của Luật cạnh tranh
Việt Nam, ngày 8/10/2012
Trang 15hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; (ii) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh” 3 Với khái niệm này, pháp luật thương mại Việt Nam khẳng định hoạt động NQTM là một hoạt động thương mại, vì vậy, hoạt động này phải do thương nhân thực hiện và có mục đích kinh doanh Ngoài ra, khái niệm này cũng chỉ rõ tính chất ràng buộc qua lại giữa các bên có liên quan, nhất là khẳng định sự giám sát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền thương mại
Như vậy, mặc dù quan điểm của các nhà làm luật tại mỗi nước đưa ra định nghĩa khác nhau về NQTM, tuy nhiên, dựa trên bản chất được rút ra trong các định nghĩa, có thể đưa định nghĩa chung nhất về NQTM như sau:
“NQTM là một quan hệ pháp luật được thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa các bên, trong đó, bên NQTM cho phép bên nhận quyền thương mại sử dụng một nhóm các quyền thương mại của mình mà chủ yếu là các quyền liên quan đến đối tượng của quyền SHTT để tiến hành kinh doanh với tư cách pháp lý độc lập Đổi lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền cho bên NQTM, phí này có thể bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí nhượng quyền định kỳ trả dựa trên doanh thu hàng tháng, hàng năm của bên nhận quyền thương mại Ngoài ra, bên NQTM có thể ràng buộc bên nhận quyền thương mại bởi các thỏa thuận nhằm duy trì tính hệ thống hoặc để kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền thương mại trên cơ sở có hỗ trợ về mặt kỹ thuật và đào tạo nhân lực cũng như các cơ sở vật chất cần thiết cho bên nhận quyền thương mại”
Nhận quyền thương mại, có nghĩa là bên nhận quyền mua quyền sử dụng của một thương hiệu hoặc một mô hình kinh doanh cụ thể Doanh nghiệp nhận quyền điều hành về cơ bản cũng giống như mọi doanh nghiệp khác được vận hành dưới cùng một quyền thương mại Để làm được điều này,
3 Điều 284, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 14/6/2005
Trang 16bên nhận quyền thường phải mua nhiều thứ từ bên nhượng quyền thương mại như các sản phẩm, công cụ trợ giúp về quảng cáo, dịch vụ đào tạo
Từ sự phân tích khái niệm nhượng quyền thương mại nêu trên, xuất phát từ góc độ kinh tế và góc độ pháp lý của hoạt động NQTM, có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng NQTM như sau:
“ Hợp đồng NQTM là thỏa thuận giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền về các nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ này Bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sử dụng “quyền thương mại” thuộc sở hữu của mình theo cùng một kế hoạch hệ thống tiếp thị của bên nhượng quyền và được nhận lại khoản phí hoặc % doanh thu của bên nhận quyền tùy theo thỏa thuận Trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, bên nhượng quyền
có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn và đào tạo cũng như có quyền kiểm soát đối với việc sử dụng “quyền thương mại” đã được chuyển giao Và hợp đồng NQTM sẽ là căn cứ để phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, cũng như là căn cứ giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện thỏa thuận giữa các bên”
Ở Việt Nam, pháp luật không đưa ra định nghĩa về hợp đồng NQTM
mà chỉ quy định về hình thức của loại hợp đồng này tại Điều 285 Luật Thương mại 2005 Như vậy, có thể hiểu, trên phương diện pháp luật, hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại, mà cụ thể ở đây là hoạt động nhượng quyền thương mại Vì vậy, hợp đồng này cũng phải có những đặc điểm chung của hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự và đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật dân sự đặt ra dưới góc độ của một loại giao dịch dân sự Thêm vào đó, về cơ bản, nó phải thể hiện được bản chất của giao dịch NQTM
đã được định nghĩa tại Điều 284 Luật Thương mại
Không đưa ra định nghĩa cụ thể về hợp đồng NQTM nói chung nhưng Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ lại nêu định nghĩa về các dạng đặc biệt của hợp đồng NQTM như “hợp đồng phát triển
Trang 17quyền thương mại” 4 hoặc “hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp”5 Đây là các dạng biến thể của hợp đồng NQTM, thể hiện sự đa dạng về hình thức và phương thức nhượng quyền nên việc đưa ra định nghĩa cụ thể về những loại hợp đồng này trong luật là hợp lý Tuy nhiên, khi giải thích về nghĩa của cả hai loại hợp đồng nói trên, các nhà làm luật vẫn sử dụng thuật ngữ “hợp đồng nhượng quyền thương mại” để làm cầu nối Như vậy, việc pháp luật thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng NQTM mà lại dùng chính thuật ngữ này để giải thích cho các thuật ngữ khác có liên quan là chưa đảm bảo tính hệ thống và tính chính xác cần phải có đối với các quy định pháp luật hiện nay
Mặc dù không có một khái niệm cụ thể nào cho hợp đồng NQTM, tuy nhiên hợp đồng NQTM luôn được xác định với những đặc trưng cơ bản trong các vấn đề cụ thể sau:
Một là, hợp đồng NQTM thường có tính “mẫu” nhằm đảm bảo được
tính ổn định của một hệ thống nhượng quyền và bảo vệ quyền lợi của bên nhượng quyền6 Tính “mẫu” của hợp đồng NQTM được hiểu là sự giống nhau
về nội dung của hợp đồng NQTM mà bên nhượng quyền đã đưa ra để các bên nhận quyền xem xét, cân nhắc từ đó tiến đến giao kết hợp đồng Thực tế là, bên nhượng qyền khi quyết định giao kết hợp đồng với bên nhận quyền mới phải đối mặt trước tất cả các bên nhận quyền còn lại khi có một bên nhận quyền không trung thành với hệ thống nhượng quyền làm ảnh hưởng tới lợi ích của cả hệ thống Do đó, với bất kỳ một hệ thống NQTM lớn nào trên thế giới, bên nhượng quyền bao giờ cũng xây dựng cho hệ thống quyền thương mại của mình một bản hợp đồng NQTM vững chắc theo hướng có lợi cho mình Bản hợp đồng này được coi là hợp đồng NQTM của cả hệ thống và
4 Khoản 8, Điều 3 Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại
5 Khoản 10, Điều 3 Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại
6 Đinh Thị Ngọc Châm (2015), Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội, tr.13.
Trang 18được áp dụng cho tất cả các chủ thể muốn tham gia nhận quyền Như vậy, hợp đồng giữa bên nhận quyền với các đối tác nhận quyền khác nhau sẽ có cấu trúc, nội dung, các quyền lợi, nghĩa vụ, mức phí và các thỏa thuận khác tương tự nhau Tuy yếu tố này hạn chế sự thể hiện ý chí của bên nhận quyền trong hợp đồng NQTM nhưng đây cũng chính là yếu tố mang tính cam kết cao, đảm bảo cho sự phát triển đồng bộ của hệ thống nhượng quyền, là yếu tố
cơ bản mang lại thành công cho hệ thống nhượng quyền
Hai là, hợp đồng NQTM bảo vệ tính đồng bộ của hệ thống nhượng
quyền Trước hết, dưới góc độ kinh tế, thương hiệu là một tài sản trí tuệ Đây
là tài sản cốt lõi của doanh nghiệp được xây dựng bằng nhiều yếu tố gồm nhãn hiệu hàng hóa/dịch vụ bảo hành…Trong một mối quan hệ NQTM, bên nhượng quyền đã cấp phép cho bên nhận quyền được cùng sử dụng tên thương hiệu và mô hình kinh doanh gồm: nhãn hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, tiêu chí quảng cáo, bí quyết kinh doanh và những biểu tượng thương mại khác
đã được khách hàng và thị trường công nhận Do vậy, khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ được NQTM, rất khó để phân biệt đâu là sản phẩm của bên nhượng quyền và bên nhận quyền Hợp đồng NQTM được bên nhượng quyền soạn thảo Trong đó nội dung hợp đồng bao gồm các điều khoản khác nhau và đều hướng đén mục tiêu duy trì tính đồng bộ, thống nhất và lợi ích của cả hệ thống
Ba là, hợp đồng NQTM quy định việc kiểm soát và hỗ trợ vừa là quyền
và nghĩa vụ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền Điều 284 và Điều
287 Luật Thương mại có quy định bên nhượng quyền có nghĩa vụ hướng dẫn, đào tạo bên nhận quyền có thể vận hành và phát triển mô hình kinh doanh của bên nhượng quyền Nghĩa vụ này phải được bên nhượng quyền thực hiện trước khi khai trương cửa hàng hoặc thành lập doanh nghiệp và cả trong quá trình bên nhận quyền tiến hành kinh doanh trong thời hạn hợp đồng Bên cạnh
đó, pháp luật việt nam cũng quy định cho bên nhượng quyền quyền kiểm soát việc sử dụng “quyền thương mại” của bên nhận quyền có thể đột xuất hoặc định kỳ Và ngược lại đối với bên nhận quyền, nghĩa vụ của họ là tuân thủ
Trang 19nghiêm túc tất cả những điều kiện, yêu cầu về sự đồng bộ của hệ thống nhượng quyền do bên nhượng quyền đưa ra
1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Có thể hiểu, trên phương diện pháp luật, hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng được các thương nhân thực hiện Do vậy, nó mang những đặc điểm
cơ bản của một hợp đồng thương mại nói chung như chủ thể của hợp đồng phải có ít nhất một bên là thương nhân và phải chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại Bên cạnh đó, dựa vào bản chất đã được phân tích qua khái niệm nêu trên, hợp đồng NQTM còn có những đặc điểm nhất định, phân biệt hợp đồng này với một số hợp đồng thương mại khác cùng chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại:
Thứ nhất, về chủ thể hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng NQTM bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền Trong đó, bên nhượng quyền trong hoạt động NQTM là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả bên nhượng quyền thứ nhất và bên nhượng lại quyền; Bên nhận quyền là thương nhân nhận quyền thương mại để khai thác, kinh doanh, bao gồm cả bên nhận quyền thứ nhất (bên nhận quyền
sơ cấp) và bên nhận quyền thứ hai (bên nhận quyền thứ cấp) Như vậy, một đặc trưng nổi bật về chủ thể của hợp đồng NQTM đó là cả hai bên chủ thể tham gia vào thỏa thuận bắt buộc đều phải là thương nhân theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 Sở dĩ có đặc điểm này là bởi để đáp ứng điều kiện thực tế nhằm làm cho việc nhượng quyền có tính khả thi, bên nhượng quyền bắt buộc phải có một hệ thống, cơ sở kinh doanh có lợi thế cạnh tranh trên thị trường Hệ thống kinh doanh này phải có sự trải nghiệm thị trường đủ
để tạo ra một giá trị “quyền thương mại” hợp lý và tạo niềm tin cho bên nhận quyền Mặt khác, dưới góc độ pháp luật, để đáp ứng yêu cầu của pháp luật, bên nhận quyền là một doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý, tài chính và đầu
tư, đồng thời chấp nhận rủi ro đối với vốn bỏ ra để thực hiện việc tham gia vào hệ thống nhượng quyền của bên nhượng quyền Hơn nữa, NQTM là một
Trang 20hoạt động đặc trưng của thương mại, vì vậy, hầu như hoạt động này chỉ dành riêng cho các thương nhân
Pháp luật thương mại Việt Nam chỉ ra các đối tượng có thể trở thành chủ thể của một quan hệ NQTM, bao gồm: Bên nhượng quyền, bên nhận quyền, bên nhượng quyền thứ cấp, bên nhận quyền sơ cấp và bên nhận quyền thứ cấp7 Theo đó, hoạt động NQTM có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức Hình thức cơ bản nhất, tồn tại các bên nhượng quyền và bên nhận quyền; hình thức phức tạp hơn, các bên nhận quyền sơ cấp có thể được thực hiện việc nhượng lại quyền thương mại cho các bên nhận quyền thứ cấp và trở thành bên nhượng quyền thứ cấp Quy định này đáp ứng được tính đa dạng với nhiều biến thể mà hoạt động NQTM chứa đựng
Thứ hai, về hình thức của hợp đồng
Điều 285 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại 2005 cũng quy định: “Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, hợp đồng nhượng quyền thương mại bắt buộc phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức tương đương như điện báo, telex, fax, thông điệp
dữ liệu khác
Thứ ba, về đối tượng của hợp đồng
Đối tượng của hợp đồng NQTM là “quyền thương mại” Đối tượng của hoạt động NQTM phát triển rất phong phú, bao gồm hàng tiêu dùng, công việc kinh doanh, dịch vụ, dịch vụ chuyên môn, dịch vụ đặc biệt (thuộc Chính phủ), các phương thức kinh doanh Do vậy, nội dung của khái niệm “quyền thương mại” này cũng hết sức phong phú, gắn với các hoạt động cụ thể trên
“Quyền thương mại” là đối tượng của hoạt động NQTM là một thuật ngữ mở,
7 Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại
Trang 21cho phép các chủ thể của quan hệ nhượng quyền cụ thể hóa từng nội dung bao gồm trong đó “Quyền thương mại” có thể chỉ đơn giản là bí quyết kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, công nghệ sản xuất nhất định hoặc là tổng hợp tất cả những quyền đối với hầu hết các đối tượng của quyền
sở hữu trí tuệ (SHTT) để bên nhận quyền có thể sử dụng để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ giống với những sản phẩm hoặc dịch vụ mà bên nhượng quyền tạo ra Sự phức tạp của nội dung khái niệm “quyền thương mại” làm cho đối tượng của hoạt động NQTM khác biệt so với đối tượng của các hợp đồng khác trong các hoạt động cùng liên quan tới quyền SHTT Trong bối cảnh chung là chưa có một khái niệm chính thức nào về “quyền thương mại” thì nội dung của “quyền thương mại” sẽ phụ thuộc vào sự giải thích và thỏa thuận của các bên trong từng quan hệ NQTM cụ thể Tóm lại, đối tượng của hợp đồng NQTM là một chỉnh thể thống nhất bao gồm nhiều yếu tố kết hợp liên quan đến quyền SHTT, đặc biệt đối với tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ thuộc sở hữu của thương nhân nhượng quyền Tuy nhiên, tất cả những đối tượng kể trên là những tài sản vô hình Vì vậy, rất khó để kiểm tra chất lượng cũng như giá trị trên thực tế Có thể yêu cầu bên nhượng quyền cung cấp thông tin để bên nhận quyền đánh giá, song cũng không có cách gì kiểm soát được hành vi của bên nhượng quyền hay các bên nhận quyền khác sau khi ký hợp đồng NQTM khi những hành vi này ảnh hưởng đến uy tín của cả hệ thống nhượng quyền Việc nhượng quyền thành công hay không phụ thuộc vào việc bên nhượng quyền có quảng cáo hay phát triển hệ thống nhượng quyền hay không
Thứ tư, về nội dung của hợp đồng
Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, “trong trường hợp các bên lựa chọn áp dụng luật Việt Nam”, thì hợp đồng nhượng quyền thương mại bao gồm các nội dung chính sau:
+ Điều khoản về đối tượng hợp đồng: Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại chính là quyền thương mại - là tập hợp tất cả các quyền năng của chủ thương hiệu đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp như nhãn
Trang 22hiệu, hàng hóa, bí quyết kinh doanh, tên thương mại Ngoài ra, để giá trị quyền thương mại được nâng lên thì đối tượng nhượng quyền thương mại còn
có thể chứa đựng thêm một số quyền năng khác như quyền được cấp quyền thương mại chung, quyền phát triển hệ thống NQTM (theo khoản 6, Điều 3, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP)
+ Điều khoản quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên: Quyền và nghĩa vụ cụ thể của bên nhượng quyền và bên nhận quyền do các bên thỏa thuận Nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo điều 286, 287, 288, và 289 Luật Thương mại
2005 Theo đó,
+ Điều khoản quy định về giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán: Điều khoản này do các bên thỏa thuận Pháp luật không quy định mức giá cố định cho từng hàng hóa mà các bên căn cứ vào uy tín của hàng hóa, khu vực nhượng quyền và nhu cầu của thị trường, … để quyết định giá, phí thanh toán Đồng thời lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp với điều kiện của các bên Pháp luật quy định như vậy đảm bảo quản lý ở tầm
vĩ mô không can thiệp quá sâu vào quan hệ giữa các bên
+ Điều khoản thời hạn hiệu lực của hợp đồng: Pháp luật Việt Nam không quy định một thời hạn cố định mà thời hạn của hợp đồng do các bên tự quyết định Bên cạnh đó tại Điều 13 Nghị định 35/2006/NĐ-CP cũng quy định: “ Hợp đồng có thể chấm dứt trước thời hạn trong trường hợp quy định tại điều 16 của Nghị định, đó là các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng” Nghị định 35/2006/NĐ-CP cũng quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tại điều 14 theo hướng tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, nếu không có sự thỏa thuận khác thì hợp đồng NQTM có hiệu lực tức thời tại thời điểm giao kết Ngoài ra, có thể xác định thời điểm giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 388 Bộ luật Dân sự 2015
+ Điều khoản gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp: Khi hợp đồng hết thời hạn các bên có thể thỏa thuận gia hạn hợp đồng Đồng thời
Trang 23các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hết hiệu lực của hợp đồng
Thông thường hợp đồng NQTM sẽ chấm dứt trong các trường hợp sau: (i) Hết thời hạn thực hiện hợp đồng mà các bên không có thỏa thuận gia hạn; (ii) Hợp đồng chưa hết thời hạn thực hiện nhưng các bên có thỏa thuận chấm dứt; (iii) Một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn Việc quy định quyền năng này để bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm và hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra cho bên bị vi phạm.8
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
1.1.2.1 Khái niệm thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Thỏa thuận độc quyền (TTĐQ) là sự thống nhất ý chí giữa các bên trong một giao dịch, thỏa thuận này có thể được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, dưới góc độ của hoạt động kinh doanh NQTM thì TTĐQ trong hợp đồng NQTM là một dạng của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, theo đó, nó là sự thỏa thuận, thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hoạt động một cách độc lập giữa các đối thủ
Khác với những dạng TTĐQ khác, TTĐQ trong hợp đồng NQTM được xác lập thông qua giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền về các đối tượng “quyền thương mại” được chuyển giao Xét về bản chất, TTĐQ là một dạng hợp đồng, bởi nội dung của nó là sự thống nhất ý chí giữa các bên Song hợp đồng này được xác lập thông qua sự thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, do vậy, nó được xác định là vô hiệu nếu sự thỏa thuận ấy vượt qua giới hạn mà pháp luật cho phép
8 Theo điều 16 Nghị định 35/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại
Trang 241.1.2.2 Đặc điểm của thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Các TTĐQ trong hợp đồng NQTM trên thực tế có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Một trong những hình thức phổ biến thường được các bên trong thỏa thuận lựa chọn đó là hợp đồng cung ứng hàng hóa hay dịch vụ với điều khoản độc quyền, trong đó yêu cầu:
Một là, về chủ thể: TTĐQ diễn ra giữa bên nhượng quyền và bên nhận
quyền và là các doanh nghiệp hoạt động độc lập trên thị trường Vậy hiểu thế nào là một doanh nghiệp được coi là chủ thể thực hiện hành vi TTĐQ trong hợp đồng NQTM? Theo Điều 2, Luật Cạnh tranh 2004, doanh nghiệp bao gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh, quy định này có phần khác biệt với quan niệm về doanh nghiệp theo Luật thương mại 2005, khi Luật này quy định doanh nghiệp chỉ có thể là tổ chức, không công nhận cá nhân có thể được gọi
là doanh nghiệp
Theo pháp luật cạnh tranh (PLCT), các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau hoặc không phải là đối thủ cạnh tranh của nhau tùy thuộc vào thỏa thuận dọc hoặc thỏa thuận ngang Ngoài ra, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải hoạt động độc lập với nhau (về tài chính, về ý chí) và không phải là những người liên quan đến nhau về mặt pháp luật Những hoạt động thống nhất của các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong một công ty không được PLCT coi là thỏa thuận bởi thực chất các công ty nói trên cho dù bao gồm nhiều thành viên hạch toán phụ thuộc cũng chỉ là một chủ thể thống nhất Mặt khác, ý chí của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải là ý chí độc lập của riêng doanh nghiệp mà không phụ thuộc và không chịu tác động của bất kì ai
Hai là, về hình thức: Sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh
nghiệp tham gia thỏa thuận được thể hiện công khai hoặc không công khai (ngầm định, ngầm hiểu, ngầm thực hiện giữa các thành viên tham gia thỏa thuận) hoặc nửa kín, nửa công khai Cũng giống như bản chất của các thỏa thuận khác thì dấu hiệu quan trọng của TTĐQ là có sự thống nhất ý chí cùng
Trang 25hành động của các bên tham gia thỏa thuận để gây hạn chế cạnh tranh (HCCT) với những nội dung theo quy định của pháp luật Các hành vi giống nhau của các doanh nghiệp chưa đủ để chứng minh có thỏa thuận giữa họ Để xác định hành vi hoặc tập hợp các hành vi của nhóm doanh nghiệp độc lập cấu thành TTĐQ nằm trong quy định về các thỏa thuận HCCT bị cấm hoặc các quy định về cấm các hành vi lạm dụng vị trí thống nhất, vị trí độc quyền,
cơ quan có thẩm quyền phải có đủ bằng chứng kết luận giữa họ đã tồn tại thỏa thuận chính thức bằng văn bản hay đã có cam kết đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia mà không thể hiện bằng văn bản (thể hiện thông qua sự bàn bạc trong các cuộc gặp mặt giữa các bên hoặc các tài liệu có liên quan) Vì vậy,
cơ quan có thẩm quyền dễ dàng tìm ra được những bằng chứng về TTĐQ đối với các thỏa thuận công khai, nhưng vấn đề này lại khá phức tạp đối với những thỏa thuận không công khai Đặc biệt, hiện nay trên thực tế, tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và kể cả ở Việt Nam có xu hướng phổ biến những thỏa thuận độc quyền không công khai (hay còn gọi là những thỏa thuận ngầm) Đối với những thỏa thuận này, dấu hiệu đầu tiên đặt ra nghi vấn về sự tồn tại các thỏa thuận là các doanh nghiệp đã có sự phối hợp cùng thực hiện một hành vi HCCT, từ đó, các cơ quan chức năng cần tìm thêm các bằng chứng kết luận rằng họ đã tồn tại hợp đồng, bản ghi nhớ, các cuộc gặp mặt cho thấy đã có thỏa thuận ngầm về giá, về hạn chế sản phẩm hay phân chia thị trường… Tuy nhiên, quá trình tìm và chứng minh này trên thực tế còn
bế tắc và gặp nhiều khó khăn Như vậy, hình thức biểu hiện của những TTĐQ
là vô cùng phong phú có thể là văn bản, bằng lời nói, bằng hành động, có khi chỉ là những “cái gật đầu” cũng đã hình thành nên một thỏa thuận có thể làm triệt tiêu cạnh tranh vốn là động lực của nền kinh tế Do đó, việc phát hiện và
xử lý các TTĐQ hiện nay khá phức tạp Thực tiễn kiểm soát các TTĐQ tại Việt Nam còn nghèo nàn, chưa có nhiều vụ việc được xử lý công khai, triệt
để Điều này được kiểm chứng rất rõ thông qua các vụ việc xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trang 26Ba là, về nội dung: Nội dung của thỏa thuận thường tập trung vào các
yếu tố cơ bản của quan hệ thị trường mà các doanh nghiệp đáp ứng cạnh tranh với nhau Chẳng hạn như giá cả, thị trường, sản phẩm, công nghệ, trang thiết
bị, điều kiện ký kết hợp đồng,… Theo đó, các bên tham gia có thể thỏa thuận các hành vi cụ thể là ấn định giá bán lại, thỏa thuận về sản phẩm cung cấp, thỏa thuận thị trường tiêu thụ… Pháp luật Việt Nam không đưa ra các dấu hiệu để nhận biết TTĐQ cũng như không quy định TTĐQ nào là bị cấm Tuy nhiên, qua những quy định về hành vi thỏa thuận HCCT có thể liệt kê các TTĐQ gây hạn chế cạnh tranh bao gồm: (i) TTĐQ lãnh thổ; (ii) Thỏa thuận cung ứng và phân phối độc quyền; (iii) Thỏa thuận ấn định giá bán lại
Bốn là, về hậu quả: TTĐQ làm giảm sức ép cạnh tranh, cản trở cạnh
tranh trên thị trường TTĐQ cũng có thể có tác động hoặc có nguy cơ gây tác động phản cạnh tranh theo một số phương thức nhất định9 Cụ thể:
(i) TTĐQ có thể làm gia tăng chi phí hoạt động đối với các doanh nghiệp đối thủ trên thị trường Khi có sự hiện diện của một bên có vị trí thống lĩnh hay sức mạnh thị trường đáng kể, TTĐQ có thể gây tác động ngăn cản hay cản trở các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thống lĩnh tiếp cận hoặc cung ứng hàng hóa hay dịch vụ tới những đối tượng khách hàng cụ thể trên thị trường liên quan thông qua những kênh phân phối mong muốn (kênh phân phối hiệu quả cao với chi phí thấp) TTĐQ cũng có thể gây khó khăn cho những doanh nghiệp đối thủ trong việc tiếp cận hay có được những yếu tố đầu vào quan trọng cho sản xuất với chi phí thấp Những khó khăn và trở ngại gây
ra bởi TTĐQ như vậy có thể làm phát sinh hoặc tăng thêm chi phí dẫn tới việc các doanh nghiệp đối thủ phải định giá các sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ ở mức cao hơn Vì vậy, trong dài hạn những doanh nghiệp này hoạt động sẽ kém hiệu quả và phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ
(ii) TTĐQ có thể ngăn cản việc gia nhập thị trường hoặc cản trở việc
mở rộng kinh doanh phát triển thị trường của đối thủ cạnh tranh Nếu mức độ
9 Bùi Ngọc Cường (2007), “Các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 7), tr 38 -45
Trang 27của các TTĐQ trong một ngành, lĩnh vực kinh tế lớn sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý của các nhà đầu tư, làm cho các nhà đầu tư sẽ phải cân nhắc và trong nhiều trường hợp phải từ bỏ dự định đầu tư bởi mức độ rủi
ro cao, khả năng tiếp cận được với các yếu tố đầu vào hoặc các kênh phân phối hiệu quả thấp TTĐQ còn có thể ngăn cản những doanh nghiệp mới cung ứng hàng hoá hay dịch vụ trên thị trường tiếp cận được với những kênh phân phối hay bán hàng hiệu quả tới khách hàng, và do vậy làm giảm mức độ thành công của những doanh nghiệp này trong việc gia nhập thị trường Trong những trường hợp khác, TTĐQ có thể cản trở việc mở rộng kinh doanh hay phát triển thị trường của các doanh nghiệp trên thị trường Trong các trường hợp này, TTĐQ đều mang tác động cản trở cạnh tranh bởi về dài hạn, sẽ có nhiều doanh nghiệp đối thủ bị loại khỏi cuộc cạnh tranh không phải vì hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, mà gặp phải những cản trở khi tiếp cận thị trường
(iii) Từ việc làm gia tăng chi phí hoạt động; việc ngăn cản quá trình gia nhập thị trường và cản trở quá trình phát triển kinh doanh mở rộng thị trường của doanh nghiệp đối thủ như đã đề cập, TTĐQ sẽ trực tiếp xâm hại đến quyền và lợi ích của người tiêu dùng bởi người tiêu dùng sẽ gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận được với các loại hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt, mẫu
mã đẹp và giá cả cạnh tranh Bên cạnh đó, người tiêu dùng còn có thể bị hạn chế quyền lựa chọn đối với các loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường
1.2 Lý luận pháp luật về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Mục đích của NQTM là nhân rộng mô hình kinh doanh đã được bên nhượng quyền thực hiện thành công trên một phạm vi địa lý nhất định Vì vậy, việc tạo ra và duy trì tính độc đáo và đồng nhất của mô hình kinh doanh đóng vai trò then chốt Các yếu tố liên quan trực tiếp đến mô hình kinh doanh
Trang 28là chất lượng hàng hoá, dịch vụ (gọi chung là sản phẩm); nhãn hiệu hàng hoá, biểu tượng kinh doanh, tên thương mại của bên nhượng quyền; hoạt động quảng cáo, khuyến mại; phương thức phục vụ; cách thức bài trí cơ sở kinh doanh… Tính đồng nhất trong các mắt xích của chuỗi NQTM chỉ có thể được bảo đảm khi các bên nhận quyền tuân thủ trung thành mô hình kinh doanh, khai thác bí quyết kinh doanh một cách nhất quán trong toàn mạng lưới NQTM Để đạt được mục đích này, bên nhượng quyền thường đưa vào hợp đồng các điều khoản độc quyền về lãnh thổ, độc quyền cung cấp sản phẩm, và trong một số trường hợp còn ấn định giá bán lại sản phẩm Nếu như các thỏa thuận có bản chất hạn chế cạnh tranh này là cần thiết để duy trì sự ổn định của
hệ thống, bảo vệ bí quyết kinh doanh, uy tín của thương hiệu, thì mặt khác, chúng có thể ảnh hưởng tới lợi ích của bên nhận quyền, người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác trên thị trường liên quan Trong một số trường hợp, bên nhận quyền - về nguyên tắc là thương nhân độc lập - trở thành người làm thuê cho bên nhượng quyền, hoặc trở thành bàn đạp để nhà cung cấp nước ngoài chiếm lĩnh thị trường Việt Nam Vậy phải điều hòa như thế nào lợi ích riêng của các bên trong hợp đồng và lợi ích chung của thị trường?
Xuất phát từ tính chất đặc thù của quan hệ NQTM Pháp luật cần thừa nhận và bảo vệ một số các thỏa thuận nhằm bảo vệ lợi ích các bên trong quan
hệ nhượng quyền Pháp luật cần cho phép các bên được thỏa thuận, ghi nhận một số điều khoản độc quyền ràng buộc mang tính hạn chế cạnh tranh khi điều khoản đó được coi là cần thiết nhằm duy trì tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền và quyền kiểm soát hợp lý của bên nhượng quyền đối với các quyền SHTT của mình Nếu pháp luật “gạt bỏ” và ngăn cấm toàn bộ những TTĐQ đó thì bên nhượng quyền sẽ không muốn chuyển giao quyền thương mại của mình, đồng thời, bên nhận quyền cũng không dám bỏ vốn đầu tư ban đầu để kinh doanh hệ thống NQTM Điều này vô hình chung sẽ làm hạn chế
sự phát triển của hoạt động NQTM
Pháp luật điều chỉnh đối với TTĐQ trong hợp đồng NQTM cũng là để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh Về nguyên tắc, các điều khoản
Trang 29độc quyền trong hợp đồng NQTM được coi là quyền và nghĩa vụ của các bên Tuy nhiên, sự thừa nhận đối với các thỏa thuận NQTM có tác động làm hạn chế cạnh tranh như các TTĐQ chỉ dừng lại ở một giới hạn nhất định Vì vậy, pháp luật phải đạt được sự cân bằng, hợp lý giữa các quy định về TTĐQ tồn tại dưới các dạng thức thỏa thuận HCCT để có thể bảo vệ được quyền lợi của bên nhượng quyền đối với các tài sản sở hữu trí tuệ (SHTT), đồng thời, cũng cân nhắc đến các trường hợp bên nhượng quyền lạm dụng quyền này để thực hiện các hành vi xâm hại đến môi trường cạnh tranh
1.2.2 Nội dung pháp luật về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Xuất phát từ những yêu cầu mang tính khách quan, NQTM thường dẫn tới một cơ chế không cạnh tranh trong nội bộ, nghĩa là thông qua các thỏa thuận có tác động phản cạnh tranh của các bên, yếu tố cạnh tranh dường như không còn tồn tại hoặc có khả năng bị triệt tiêu trong quan hệ nhượng quyền Các hành vi này về nguyên tắc đã tạo ra một cơ chế đi ngược lại với quy luật chung của nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, những thỏa thuận gây hậu quả
“triệt tiêu” cạnh tranh nói trên cần phải được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo thị trường vận hành đúng theo quy luật Pháp luật TTĐQ trong hợp đồng NQTM bao gồm hệ thống các quy phạm điều chỉnh TTĐQ:
Thứ nhất, các quy định chung của pháp luật hợp đồng
Trên thực tế, hợp đồng NQTM chủ yếu thực hiện thông qua các hợp đồng và điều khoản TTĐQ là một thỏa thuận hợp đồng nên nó phải tuân thủ tất cả các điều kiện do pháp luật về hợp đồng quy định Tức là, phải có nội dung và mục đích hợp pháp và tuân thủ các quy định về hợp đồng thương mại, hợp đồng NQTM theo Luật Thương mại
Thứ hai, các quy định của pháp luật thương mại
Gồm các quy định điều chỉnh trực tiếp việc ký kết và thực hiện hợp đồng NQTM được quy định trong Luật Thương mại 2005, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn như Nghị định số 35/2006/NĐ-CP; Thông tư số 09/2006… kiểm soát về việc đăng ký hợp đồng NQTM, nội dung các điều
Trang 30khoản thỏa thuận trong hợp đồng…, cho phép các bên trong hợp đồng NQTM thỏa thuận một số điều khoản khá đặc biệt có nội dung hạn chế cạnh tranh
Thứ ba, các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ
“Quyền thương mại” là đối tượng của hợp đồng NQTM, đồng thời là đối tượng bảo hộ của SHTT, các đối tượng đó kết hợp thành một “gói” các quyền có thể chuyển giao Vấn đề chuyển giao quyền SHTT và yêu cầu về việc bảo hộ trọn vẹn, thống nhất các yếu tố tạo nên quyền thương mại là đặc điểm nổi bật trong hợp đồng NQTM Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ Do đó, pháp luật điều chỉnh hợp đồng NQTM không thể thoát ly được các chế định pháp luật về SHTT Luật Sở hữu trí tuệ là cơ sở để các bên định dạng các yếu tố cấu thành của quyền thương mại; nhận biết tính hợp pháp khi chuyển giao các yếu tố đó
Thứ tư, các quy định của pháp luật về cạnh tranh
Bao gồm Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành Đây là công cụ chủ yếu được sử dụng, thông qua các chế tài áp dụng đối với các hành vi cản trở tự do cạnh tranh, pháp luật canh tranh có tác dụng gián tiếp điều hòa hợp đồng, trực tiếp điều chỉnh TTĐQ tồn tại dưới dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT) Các điều khoản, thỏa thuận trong hợp đồng NQTM chứa đựng những nội dung có thể cản trở tự do cạnh tranh, nên phải tuân theo các điều kiện do pháp luật cạnh tranh quy định Cụ thể, pháp luật cạnh tranh là công cụ vạch ra giới hạn được phép mà trong giới hạn ấy mọi sự sáng tạo của các bên trong hợp đồng NQTM đều được chấp nhận Điều chỉnh cụ thể các TTĐQ tồn tại dưới dạng hành vi TTHCCT, đưa ra các quy định cấm, miễn trừ, và các chế tài, thủ tục xử lý các hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, do thực tế có nhiều công cụ pháp lý hiện nay được sử dụng
để kiểm soát TTĐQ trong hợp đồng NQTM, trong khi đó, giữa chúng lại chưa
có sự thống nhất và cũng chưa có cơ chế phối hợp kiểm soát hiệu quả, dẫn đến việc kiểm soát hành vi này tương đối phức tạp, thiếu thống nhất, thậm chí chưa có giải pháp kiểm soát triệt để Việc tồn tại những xung đột giữa các quy phạm pháp luật điều chỉnh TTĐQ trong Luật Cạnh tranh và các luật chuyên
Trang 31ngành khác là điều hoàn toàn có thể xảy ra Bởi những thỏa thuận mang tính chất HCCT hoặc tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả HCCT xuất hiện rải rác ở một số văn bản pháp luật khác nhau Ngoài ra mỗi hoạt động đều có đặc thù riêng có thể sẽ dẫn đến trái với các quy định theo Luật Cạnh tranh
Nội dung pháp luật về TTĐQ trong hợp đồng NQTM được thể hiện ở
hệ thống các quy định nhằm kiểm soát các TTĐQ tồn tại dưới các hình thức thỏa thuận HCCT Theo pháp luật quốc tế và một số quốc gia thì các TTHCCT trong hợp đồng NQTM được pháp luật điều chỉnh theo hướng:
Thứ nhất, các TTHCCT không trái với pháp luật về cạnh tranh và các
bên có thể đưa vào hợp đồng 10Theo quy định Điều 2 Nghị quyết số 4087/88 của EU, các điều kiện về hạn chế cạnh tranh sau đây được coi là không trái với pháp luật về cạnh tranh của EU: (i) Các điều kiện quy định bên nhận quyền được độc quyền sử dụng trên lãnh thổ được quy định trong hợp đồng; (ii) Các điều kiện cấm bên nhận quyền chuyển giao các quyền được giao cho bên thứ ba ngoài lãnh thổ quy định; (iii) Các điều kiện, theo đó bên nhận quyền có quyền sử dụng các quyền được giao chỉ trên lãnh thổ mà các bên quy định trong hợp đồng; (iv) Hạn chế bên nhận quyền bán hàng ra ngoài lãnh thổ quy định; (v) Trong quá trình cung cấp dịch vụ hay sản xuất, bên nhận quyền không được bán hay sử dụng hàng hóa của đối thủ cạnh tranh của nhượng quyền hay của những người nhận quyền khác, ngoại trừ các thiết bị
dự trữ hay các linh kiện thay thế
Thứ hai, những điều kiện hạn chế mà các bên có thể đưa vào hợp đồng,
tuy nhiên chúng có thể được coi là không có hiệu lực theo yêu cầu của cơ quan quản lý cạnh tranh hay các cơ quan chức năng khác nếu những thỏa thuận hạn chế này xuất phát từ đặc điểm thị trường tương ứng và điều kiện kinh tế của các bên, trái với pháp luật quốc gia hay quốc tế về cạnh tranh Những hạn chế này chỉ được cho phép ở một chừng mực nhất định mà chúng
10Trần Thị Phương Thảo (2013), Kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại, Luận văn Thạc sỹ luật học, Hà Nội, tr 29
Trang 32liên quan đến sự cần thiết để bảo vệ quyền SHTT và công nghiệp của bên nhựợng quyền thương mại Các bên có thể đưa vào trong hợp đồng các điều kiện, theo đó bên nhận quyền có các nghĩa vụ sau: (i) Bán hàng hay sử dụng các đối tượng của hợp đồng phù hợp với chất lượng bên nhượng quyền quy định; (ii) Chỉ được bán loại hàng hóa do bên nhượng quyền sản xuất, nếu bên nhượng quyền không có hàng thì bán loại hàng hóa được mua ở những người khác do bên nhượng quyền chỉ định, có tính đến những tiêu chuẩn khách quan
về chất lượng hàng hóa; (iii) Không được cạnh tranh với thị trường của những người nhận quyền khác trong cùng lĩnh vực, ngay cả trong thời hạn hợp lý được các bên thỏa thuận trong hợp đồng sau khi hợp đồng hết hiệu lực, thời hạn này thường là không quá một năm; (iv) Không được phép đầu tư tài chính vào xí nghiệp của đối thủ cạnh tranh của bên nhượng quyền, nếu sự tham gia này làm cho sản phẩm của họ có tính cạnh tranh hơn; (v) Chỉ được phép bán hàng hay cung cấp dịch vụ là đối tượng của hợp đồng NQTM cho người tiêu dùng cuối cùng, cho mạng lưới tiêu thụ khác do bên nhượng quyền tổ chức hay được sự đồng ý của bên nhượng quyền; (vi) Phải áp dụng những biện pháp để cho việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ là đối tượng của hợp đồng tốt hơn, thỏa mãn những yêu cầu khác của bên nhượng quyền, trong đó có yêu cầu theo đó bên nhận quyền luôn phải có một lượng hàng tối thiểu trong lưu thông cũng như bảo hành cho khách hàng; (vii) Phải trả những khoản phí có liên quan đến quảng cáo hay một số khoản khác co mục đích
Thứ ba, những TTHCCT mà các bên khi tham gia vào hợp đồng
NQTM không thể đưa vào trong hợp đồng bao gồm: (i) Thỏa thuận về phân chia thị trường giữa các xí nghiệp sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ giống nhau hay người tiêu dùng coi hàng hóa họ sản xuất giống nhau hay giữa nhượng quyền và bên nhận quyền; (ii) Cấm bên nhận quyền có khả năng mua hàng hóa thay thế của người khác trong một số trường hợp ngoại lệ, ví dụ, trong trường hợp bên nhận quyền hết hàng dự trữ, tuy nhiên bên nhượng quyền không có hàng hóa để cung cấp cho họ; (iii) Không cho phép bên nhận quyền mua nguyên liệu của người thứ ba do bên nhận quyền chỉ định vì
Trang 33những nguyên nhân không liên quan đến việc bảo vệ quyền SHTT hay giữ uy tín của bên nhượng quyền; (iv) Nghiêm cấm sử dụng know-how sau khi hợp đồng hết hiệu lực, nếu know-how đã được mọi người biết hay có thể tiếp cận chúng một cách dễ dàng; (v) Cho phép bên giao đặc quyền quy định giá hàng hóa (hoặc giá tối thiểu, giá tối đa) nếu giá không được các bên thỏa thuận; (vi) Cấm giao hàng cho người tiêu dùng ngoài lãnh thổ được quy định trong hợp đồng; (vii) Ngăn cấm bên nhận quyền bán hay sản xuất hàng tốt hơn so với hàng được bên nhượng quyền tự sản xuất
Việc xác định cụ thể những thỏa thuận mang tính HCCT nào của các bên chủ thể NQTM là vi phạm PLCT, những thỏa thuận nào không vi phạm PLCT và những thỏa thuận nào mà sự vi phạm hay không vi phạm PLCT còn tùy từng trường hợp? Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn còn mơ hồ và không
có quy định rõ ràng, ngay cả trong pháp luật thương mại, pháp luật cạnh tranh hay các văn bản pháp luật chuyên ngành, do đó gây khó khăn trong hoạt động quản lý của cơ quan có thẩm quyền và thiếu thống nhất, minh bạch trong hoạt động NQTM của các chủ thể kinh doanh
Kết luận Chương 1
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của thị trường, nó tồn tại và phát triển tự nhiên ngay cả khi pháp luật không thừa nhận nó Sự tồn tại của các TTĐQ trong hợp đồng NQTM cũng là điều tất yếu Thậm chí, để tạo ra sự cân xứng về lợi ích giữa các bên trong quan hệ nhượng quyền, chúng ta cần thừa nhận một số TTĐQ trong một giới hạn nhất định để duy trì và bảo vệ tính đồng bộ, thống nhất trong quan hệ NQTM
Nghiên cứu những vấn đề lý luận của TTĐQ trong hợp đồng NQTM,
có thể thấy rõ khái niệm, các đặc trưng cơ bản của hợp đồng NQTM, từ đó làm cơ sở cho việc điều chỉnh các TTĐQ trong hợp đồng NQTM; làm rõ khái niệm, đặc điểm của TTĐQ trong hợp đồng NQTM và khái quát được những vấn đề lý luận chung nhất của pháp luật điều chỉnh TTĐQ trong hợp đồng NQTM
Trang 34Từ những phân tích khái quát nhất về TTĐQ trong hợp đồng NQTM Với những vấn đề cơ bản mang tính lý luận về hai lĩnh vực vốn được điều chỉnh bởi hai ngành luật khác nhau này sẽ là nền tảng giúp có cái nhìn chính xác nhất, dễ dàng đi sâu tìm hiểu về các khía cạnh nội dung mà luận văn đề cập liên quan tới các TTĐQ trong hợp đồng NQT
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN HÀNH VI THỎA THUẬN ĐỘC QUYỀN TRONG HỢP ĐỒNG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
2.1 Thực trạng pháp luật về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
2.1.1 Khái quát quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại dưới góc nhìn so sánh với pháp luật một số quốc gia
Dưới góc độ pháp luật, TTĐQ cũng được coi là một dạng quan hệ pháp
lý cần được điều chỉnh Luật cạnh tranh của Việt Nam không dành những quy định riêng biệt để điều chỉnh và kiểm soát các TTĐQ Tuy nhiên, giống với nhiều nước trên thế giới, Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng có các chế định riêng để điều chỉnh và kiểm soát đối với các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Thông qua những quy định này, có thể nhận diện được những TTĐQ
cơ bản trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Như đã phân tích ở Chương 1, mỗi đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ có khả năng dẫn đến HCCT khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh kinh tế và nội dung cụ thể của hợp đồng Do đó, các TTĐQ trong hợp đồng NQTM cũng vì thế mà sẽ có các dạng tồn tại và hậu quả pháp lý khác nhau Các thỏa thuận này đặc biệt ở chỗ, vẫn mang tính chất hạn chế cạnh tranh của các nhóm hoặc của các chủ thể khác ngoài các bên của thỏa thuận nhưng có những thỏa thuận bị coi là bất hợp pháp và lại có những thỏa thuận được coi là hợp pháp Từ thực tiễn Việt Nam, các dạng tồn tại của TTĐQ trong hợp đồng NQTM có thể được xác định như sau:
2.1.1.1 Thỏa thuận liên quan đến duy trì tính đặc trưng và uy tín của mạng lưới nhượng quyền thương mại
Trang 36Trong hợp đồng NQTM, ở lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn thường có các điều khoản mà theo đó, một mặt bên nhượng quyền có trách nhiệm cung cấp cho bên nhận quyền các kỹ thuật nấu ăn, các hướng dẫn chuẩn bị món ăn, thậm chí còn phải mua thức ăn, nguyên liệu chế biến từ nguồn cung cấp do bên nhượng quyền chỉ định bởi điều này được coi là cần thiết cho việc duy trì chất lượng kinh doanh của các nhà hàng nhượng quyền; mặt khác bên nhận quyền có nghĩa vụ sử dụng các bí quyết trên Vấn đề đặt ra
là điều khoản trên có thừa nhận độc quyền của bên nhượng quyền hay không? Nếu có thì điều khoản này có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không?
Theo pháp luật về SHTT (điểm c khoản 2 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006) không cấm việc các bên trong hợp đồng ký kết điều khoản về duy trì tính đặc trưng và uy tín của mạng lưới NQTM Tuy nhiên, điều khoản này
có thể bị coi là một trong các TTHCCT theo quy định tại khoản 5 Điều 8 Luật Cạnh tranh năm 2004 Điều khoản mà thỏa thuận này có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của nó là: “Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng” Tương ứng với quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Cạnh tranh năm 2004 thì thỏa thuận này sẽ bị cấm, nếu “các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên” Như vậy, theo PLCT Việt Nam, nếu các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan dưới 30% thì thỏa thuận về duy trì tính đặc trưng và uy tín của mạng lưới NQTM mặc dù có thể bị coi là một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhưng vẫn được phép thực hiện
So sánh với pháp luật chống độc quyền của của Hoa Kỳ, Điều 1 Đạo luật Sherman11, một thoả thuận “ràng buộc bán kèm” sẽ bị coi là vi phạm Luật Cạnh tranh nếu người bán có năng lực thị trường mạnh trên thị trường sản phẩm chính và nếu thoả thuận ràng buộc đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động
11 Trần Thị Phương Thảo, tlđd chú thích 10, tr.42
Trang 37thương mại trên thị trường sản phẩm được bán kèm Đây là thỏa thuận mà theo đó bên bán sẽ chỉ đồng ý bán một sản phẩm với điều kiện bên mua phải mua một sản phẩm thứ hai Thỏa thuận ràng buộc này thực chất là sự thừa nhận độc quyền của người bán Việc chứng minh một thoả thuận ràng buộc gây HCCT phải thoả mãn các điều kiện: (i) Sản phẩm chính và sản phẩm được bán kèm là hai sản phẩm riêng biệt; (ii) Bên bán đã thực sự ép buộc bên mua Trong Án lệ Siegel v Chicken Delight, Inc, chuỗi nhà hàng bán thức ăn nhanh Chicken Delight quy định bên nhận quyền phải mua các bếp nấu hoặc chảo rán, sản phẩm bao bì, và các gia vị đặc biệt và những vật liệu đi kèm khác từ bên nhượng quyền, và với thỏa thuận này, Tòa án vùng 9 Hoa Kỳ đã đưa ra phán quyết rằng các điều kiện trong hợp đồng NQTM đã cấu thành một “thỏa thuận ràng buộc”, do đó vi phạm pháp luật chống độc quyền của Hoa Kỳ và hợp đồng NQTM bị tuyên vô hiệu12
Dấu hiệu phân biệt sự bán kèm đó là việc cấm các đối thủ cạnh tranh tiếp cận thị trường sản phẩm bị ràng buộc, không phải vì bên áp đặt thoả thuận có một sản phẩm siêu hạng trong thị trường đó, mà vì quyền lực hoặc ảnh hưởng được áp dụng bởi sản phẩm ràng buộc Các nguyên tắc điều chỉnh thoả thuận ràng buộc được thiết kế để nhắm vào không chỉ là sự kết hợp của các đồ vật có thể chia tách về mặt vật chất mà còn vào việc sử dụng một sản phẩm mong muốn chi phối để bắt ép mua một mặt hàng riêng biệt thứ hai Trong thực tế, việc bị ép buộc mua một sản phẩm bị ràng buộc thứ hai là một điều kiện để được áp dụng cho việc mua một sản phẩm ràng buộc chi phối Bằng việc ngăn cản các đối thủ cạnh tranh xâm nhập thị trường sản phẩm bị ràng buộc, các thoả thuận ràng buộc hầu như không thể sử dụng cho bất kỳ mục đích nào không phải là sự triệt tiêu cạnh tranh Một thoả thuận bán hàng có ràng buộc bán kèm được coi là vi phạm PLCT phải được xem xét trong ngữ cảnh chung “người bán có năng lực thị trường mạnh trên thị trường sản phẩm chính và nếu thoả thuận ràng buộc đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động
12 Bùi Ngọc Cường, tlđd chú thích 9, tr.39
Trang 38thương mại trên thị trường sản phẩm được bán kèm” và nội dung thoả thuận
cụ thể của hợp đồng
Pháp luật cạnh tranh của EU lại cho thấy một kinh nghiệm khác Điều khoản về duy trì tính đặc trưng và uy tín của mạng lưới NQTM được thể hiện bằng những quy định đa dạng tại từng Hợp đồng cụ thể Theo án lệ cơ bản của Tòa án Châu Âu về NQTM (Vụ Pronupotia năm 1985), việc hợp đồng NQTM có quy định bên nhận quyền có nghĩa vụ chỉ được bán hàng hóa được quy định theo hợp đồng ở các địa điểm bán hàng được bố trí và trang trí theo hướng dẫn của bên nhượng quyền là điều khoản được chấp nhận Bởi lẽ, nó được đánh giá là cần thiết để thiết lập sự kiểm soát nhằm mục đích duy trì tính đặc trưng và uy tín của mạng lưới NQTM Do vậy, pháp luật cạnh tranh của EU đã miễn trừ cho các thỏa thuận này khỏi phạm vi cấm của PLCT13
Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng có những quy định một số trường hợp miễn trừ có thời hạn đối với thỏa thuận liên quan đến duy trì tính đặc trưng và mạng lưới của NQTM14 Các quy định này chỉ có thể phát huy hết tính tích cực của nó nếu các bên tham gia hợp đồng NQTM (mà chủ yếu là bên nhượng quyền) thực hiện nghiêm túc và tôn trọng pháp luật Bởi theo Điều 10 Luật Cạnh tranh năm 2004, ràng buộc bán kèm trong NQTM thường sẽ được quy về là có mục đích hợp lý hóa mô hình kinh doanh hoặc thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP còn cho phép bên nhượng quyền có quyền từ chối chuyển giao quyền thương mại nếu bên dự kiến nhận quyền: (i) Chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn lựa chọn của bên nhượng quyền trực tiếp; hay (ii) Bên dự kiến nhận quyền không đồng
ý bằng văn bản rằng sẽ tuân thủ các nghĩa vụ của bên nhận quyền theo hợp đồng NQTM Như vậy, có thể dẫn đến khả năng khi bên nhượng quyền có thị phần lớn, có khả năng chi phối bên nhận quyền (bên nhận quyền ở vào vị thế yếu hơn so với bên nhượng quyền khi giao kết hợp đồng NQTM) thì bên
13 Bùi Ngọc Cường, tlđd chú thích 9, tr40
14 Khoản 1, Điều 10 Luật Cạnh tranh 2004
Trang 39nhượng quyền có thể áp đặt các điều kiện ràng buộc bán kèm dù bất hợp lý, trong khi bên nhận quyền không có sự lựa chọn khả thi nào khác Và các ràng buộc bán kèm bất hợp lý đó vẫn có thể không vi phạm chế định về các thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh năm 2004, bởi bên nhượng quyền sẽ viện dẫn đến điểm a, c khoản 1 Điều 10 của luật này để biện minh cho hành vi đó
2.1.1.2 Thỏa thuận về li-xăng (license)
Trong hợp đồng NQTM luôn có điều khoản về quyền thương mại được chuyển nhượng, trong đó quy định nghĩa vụ của bên nhượng quyền phải chuyển giao cho bên nhận quyền quyền sử dụng (license) một số đối tượng sở hữu công nghiệp và một số đối tượng khác như: bí quyết, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, tên thương mại, uy tín đối với khách hàng… Điều khoản này dẫn đến một trong các nghĩa vụ cơ bản của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền là đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng SHTT được chuyển giao và bảo vệ quyền lợi của bên nhận quyền trước bên thứ ba, nghĩa là loại bỏ sự cạnh tranh của bên thứ ba đối với các đối tượng SHTT và các dấu hiệu thương mại Hợp đồng thương mại mẫu trong lĩnh vực nhà hàng ăn nhanh của Hoa Kỳ có các điều khoản quy định15 như sau: “Bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền, trong thời hạn hợp đồng quyền sử dụng, tại các địa điểm bán hàng và trong hoạt động của nhà hàng này, các tên thương mại (được liệt kê) cùng với các dấu hiệu khác, các biểu tượng và nhãn hiệu gắn liền với các nhà hàng nhượng quyền, mà có thể đôi khi chúng được bên nhượng quyền cho phép, và uy tín đối với khách hàng
có được từ việc sử dụng trước của bên nhượng quyền” “Bên nhận quyền thừa nhận quyền độc nhất (sole right) và độc quyền (exclusive) của bên nhượng quyền trong việc sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại và bí mật thương mại được nêu trong hợp đồng này; bên nhận quyền đồng ý và đảm bảo rằng: bên nhận quyền sẽ không trực tiếp hoặc gián tiếp phản đối hoặc hỗ trợ việc phản
15 Bùi Ngọc Cường, tlđd chú thích 9, trích trong FOLSOM, GORDON,SPANOGLE, International Business Transactions, 6 th Edition, Thomson West Publisher, 2003, Page 772-805
Trang 40đối, giá trị hoặc quyền sở hữu nhãn hiệu, hoặc không thực hiện bất cứ hành động nào để bác bỏ quyền khiếu nại của bên nhượng quyền, cả trong thời hạn hợp đồng lẫn sau khi hết hạn hợp đồng” Có thể thấy, pháp luật Hoa Kỳ về license có phân biệt “quyền độc nhất” và “độc quyền” “Quyền độc nhất được phát sinh theo “license độc nhất”, theo đó bên chuyển quyền đồng ý chỉ cấp license cho bên được chuyển quyền và không cấp license cho bất cứ ai khác
“Độc quyền” được phát sinh theo “license độc quyền”, theo đó, bên được chuyển quyền được trao độc quyền sử dụng nhãn hiệu, thậm chí độc quyền với cả bên chuyển quyền Điểm giống nhau của hai loại license này là theo
“license độc nhất”, bên chuyển quyền vẫn được sử dụng nhãn hiệu, còn theo
“license độc quyền”, bên chuyển quyền có thể không được sử dụng nhãn hiệu
Theo pháp luật Việt Nam, khoản 1 Điều 143 Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005 không phân biệt thành hai loại license này mà đều gọi chung là hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp dưới dạng hợp đồng độc quyền Việc các bên ký kết hợp đồng NQTM thừa nhận TTĐQ của bên nhượng quyền trong việc sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại và bí mật thương mại, có thể dẫn đến vi phạm LCT và các quy định của Luật SHTT trong khi các bên không nhất thiết phải ký điều khoản này Bên nhượng quyền và bên nhận quyền có thể cùng kinh doanh và sử dụng các đối tượng SHTT và các dấu hiệu thương mại Theo Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, hợp đồng có
sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp không được có các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền, trong đó có điều khoản theo đó
“cấm bên được chuyển quyền khiếu kiện về hiệu lực của quyền sở hữu công nghiệp…”16 Nếu các bên thỏa thuận về điều khoản này thì hợp đồng sẽ mặc nhiên vô hiệu 17 Trên thực tế, việc các bên quy định về thỏa thuận license độc quyền này trong hợp đồng NQTM có thể dẫn đến hậu quả là loại bỏ các đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường Điều này có thể bị coi là “thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận” -
16 Điểm d, Khoản 2 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005
17 Khoản 3 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005