Cũng cần lưu ý trong quan hệ đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất một mặt do pháp luật quy định sẵn như: quyền được cấp giấy chứng nhận, được Nhà nước bồi thường khi thu hồi
Trang 1Tễ THỊ THANH HƯƠNG
Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của ng-ời sử dụng đất khi nhà n-ớc thu hồi đất cho các mục đích quốc gia, công cộng và thực tiễn thi hành tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Tễ THỊ THANH HƯƠNG
Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của ng-ời sử dụng đất khi nhà n-ớc thu hồi đất cho các mục đích quốc gia, công cộng và thực tiễn thi hành tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyờn ngành : Luật kinh tế
Mó số : 8 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Nga
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tô Thị Thanh Hương
Trang 4
Trang
ĐÌNH, CÁ NHÂN KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 5
1.2 Lý luận pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình khi Nhà
GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI TẠI THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 23 2.1 Thực trạng pháp luật về các quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hộ gia
đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thực thi tại thành
2.3 Đánh giá chung công tác thu hồi đất và việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ của hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố
CÓ HIỆU QUẢ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
3.1 Yêu cầu về công tác thu hồi đất và đảm bảo quyền, nghĩa vụ của hộ
gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Lạng Sơn 64 3.2 Giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền, nghĩa vụ của
hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Lạng Sơn 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GPMB : Giải phóng mặt bằng GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất QSDĐ : Quyền sử dụng đất
TĐC : Tái định cư UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống của con người, ngoài chức năng vốn có của nó là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng thì trong thời
kỳ phát triển kinh tế mới, đất đai còn có thêm chức năng tạo nguồn vốn và thu hút cho đầu tư phát triển mang ý nghĩa rất quan trọng Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để đưa đất đai thực sự trở thành nguồn vốn, nguồn thu hút cho các nhà đầu tư phát triển thì hàng loạt những khu đô thị mới quy mô hiện đại đã
ra đời, các khu đô thị cũ được cải tạo nâng cấp và phát triển ngày càng mở rộng
Thành phố Lạng Sơn là thành phố công nghiệp trẻ, có ưu thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thuận lợi phát triển giao thông vận tải, du lịch Kết cấu hạ tầng của thành phố đang ngày càng hoàn thiện, công tác chỉnh trang, đô thị hóa diễn ra nhanh, nhiều dự án lớn của thành phố và Trung ương đã và đang triển khai trên địa bàn làm cho công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị được thực hiện đều khắp và đồng bộ, tạo ra diện mạo đô thị trẻ ngày càng sầm uất, hấp dẫn Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng thì thu hồi đất là khâu đầu tiên không thể thiếu được và nó ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ dự án
Trong thời gian qua, vấn đề thu hồi đất và giải phóng mặt bằng (GPMB) để thực hiện các dự án là lĩnh vực hết sức nhạy cảm, phức tạp vì nó liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều đối tượng khác nhau, có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành Muốn vấn đề GPMB được thuận lợi để các dự án phát triển nhanh thì cần đảm bảo quyền lợi cho hộ gia đình bị thu hồi đất trong vùng quy hoạch, có chính sách bồi thường hợp lý đem lại lợi ích cho Nhà nước, chủ đầu tư và những người bị thu hồi đất
Từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài về "Pháp luật về quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất cho các mục đích quốc gia, công cộng và thực tiễn thi hành tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn" làm đề tài của
luận văn nhằm đi sâu tìm hiểu xem trong công tác thu hồi đất thì hộ gia đình sử dụng đất được hưởng những quyền lợi gì và nghĩa vụ của họ ra sao, đồng thời qua
Trang 7đó người dân đã ý thức được vai trò của mình như thế nào góp phần thúc đẩy việc hoàn thành sớm các dự án
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề tài, luận văn đề cập đến công tác thu hồi đất GPMB Thành quả của những công trình đó đã cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn cho việc xây dựng, triển khai công tác công tác GPMB ở từng địa phương nói riêng và của cả nước nói chung
Có thể lược khảo một số công trình như: Đánh giá thực trạng công tác thu
hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số dự án trên địa bàn thị xã Từ Sơn - tỉnh Bắc Ninh, của Nguyễn Thị Minh Tâm, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp chuyên
ngành Quản lý đất đai, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2010; Đo lường sự
ảnh hưởng về kinh tế của chính sách giải tỏa đền bù đến các hộ dân tái định cư trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, của Phạm Quang Tín, đăng trên Tạp chí Khoa học và
Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 4(39), 2010; Giải pháp hoàn thiện công tác bồi
thường giải phóng mặt bằng của các dự án trên địa bàn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, của Nguyễn Hùng Cường, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội, 2011; Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn
Trà, của Huỳnh Hạnh, Luận văn Thạc sĩ - Học viện Hành chính Quốc gia, 2015; Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn, của TS Phạm Mộng
Hoa - TS Lâm Mai Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000); GS.TSKH Đặng
Hùng Võ, Giải phóng mặt bằng, còn nhiều khiếu kiện, Báo Kinh tế và Đô thị, số ra ngày 09/10/2006; TS Trần Quang Huy, Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất, Tạp chí Luật học, số 10/2010; TS Nguyễn Quang Tuyến, Công khai minh bạch
để bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất, Tạp chí Luật học, số 3/2012; TS
Doãn Hồng Nhung (Chủ biên), Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, giải
phóng mặt bằng ở Việt Nam, sách chuyên khảo, Nxb Tư pháp, 2013
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu đã nêu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu về vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (TĐC) khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận ở khía cạnh quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi mà trong đó vấn đề bồi thường, hỗ trợ, TĐC chỉ là một quyền trong một chuỗi các quyền, còn nghĩa vụ của người có đất bị thu hồi lại chưa được các công trình nghiên cứu, đề cập Đề tài luận văn sẽ nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Nhằm nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất, bên cạnh đó giúp ta hiểu thêm về các chế định
về khiếu nại, khiếu kiện và tố cáo trong thu hồi đất, công tác đền bù, GPMB, những kết quả đạt được cũng như những vướng mắc trong vấn đề này so với thực tiễn, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người dân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về GPMB của các dự án trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình bị thu hồi đất theo pháp luật đất đai hiện hành và đặt vấn đề nghiên cứu các quyền và nghĩa vụ cụ thể trong một số dự án theo Luật đất đai 2013 qua thực tiễn thành phố Lạng Sơn
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình bị thu hồi đất tại các dự án trên địa bàn thành phố Lạng Sơn Cụ thể như quyền được đảm bảo lợi ích hợp pháp, quyền được đền bù khi giải tỏa, quyền được biết về quy hoạch, cũng như quyền khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo khi quyền lợi của
họ bị xâm phạm do công tác thu hồi đất, GPMB của nhà nước Từ đó nhìn thấy được thực trạng khiếu nại, khiếu kiện và thực tiễn triển khai quyền và nghĩa vụ của người dân trong việc thu hồi đất, GPMB
- Về thời gian: Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu đánh giá thực hiện từ sau khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực
5 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài, có thể sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp Trong
đó được sử dụng như là phương pháp luận để xem xét toàn bộ vấn đề của đề tài,
Trang 9phương pháp sưu tầm và tổng hợp những bài nghiên cứu, ý kiến của các luật gia, dự thảo luật, kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật nhằm tìm ra những điểm mới, những điểm hạn chế để từ đó có một bài nghiên cứu hoàn chỉnh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa lý luận
Thông qua việc nghiên cứu, phân tích việc thực hiện các quy định pháp luật
về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình bị thu hồi đất qua thực tiễn thành phố Lạng Sơn để thấy được những mặt tích cực cũng như vướng mắc, bất cập trong các quy định của Nhà nước về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình bị thu hồi đất và rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai thực thi những quy định đó trong thực tiễn nhằm góp phần hạn chế những khiếu nại, khiếu kiện và công tác thu hồi đất nói riêng và công tác GPMB nói chung
- Áp dụng một vài giải pháp phù hợp vào chính hoạt động thu hồi đất trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân
khi Nhà nước thu hồi đất
Chương 2: Thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân
bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ
của hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
Trang 10Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1 Lý luận chung về thu hồi đất
1.1.1 Khái niệm thu hồi đất
Thu hồi đất là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật đất đai Nếu như giao đất, cho thuê đất là cơ sở để làm phát sinh quan hệ pháp luật đất đai, phát sinh quyền sử dụng đất (QSDĐ) của người được Nhà nước trao quyền sử dụng; thì thu hồi đất là một biện pháp làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai bằng một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thông qua những hoạt động này, Nhà nước thể hiện rất rõ quyền định đoạt đất đai, với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: "Thu hồi: Lấy lại cái đã đưa ra, đã cấp phát ra hoặc bị người khác lấy"1
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thu hồi đất được hiểu là: "Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ
sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng"2 Khái niệm này thực ra cũng chưa hẳn là một định nghĩa rõ ràng về thu hồi đất, mặc dù có đề cập các trường hợp thu hồi đất nhưng nội hàm của khái niệm này chưa bao quát hết các trường hợp thu hồi đất của Nhà nước Nhà nước không chỉ thu hồi đất của người có hành vi vi phạm về sử dụng đất hay thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mà còn thu hồi đất khi có vi phạm từ phía cơ quan quản lý như đất được giao không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền hoặc thu hồi khi người sử dụng đất chết mà không có người thừa kế,…
Trong các văn bản luật đất đai ở từng thời kỳ cũng không đưa ra khái niệm
cụ thể về thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 và Điều 26 Luật Đất đai năm 1993)
1 Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (2012), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 759
2 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (Luật Đất đai, Luật Lao động,
Tư pháp quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
Trang 11Luật Đất đai năm 2003 giải thích thuật ngữ thu hồi đất tại Khoản 5 Điều 4:
"Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản
lý theo quy định của Luật này"
Dù đã có sự điều chỉnh và mở rộng nội hàm của vấn đề thu hồi đất, song cách giải thích này là chưa thật sự chính xác, bởi nó dẫn đến cách hiểu, người sử dụng đất bị thu hồi chỉ là tổ chức hay Ủy ban nhân dân UBND xã, phường thị trấn, trong khi theo quy định pháp luật, người sử dụng đất bị thu hồi còn có thể là hộ gia đình,
cá nhân sử dụng đất, không những thế đây còn là chủ thể phổ biến bị thu hồi đất
Điều chỉnh hợp lý hơn, đối tượng bao quát hơn và nội dung phủ rộng hơn
về vấn đề thu hồi đất là Luật Đất đai 2013 Theo đó tại Khoản 11 Điều 3 quy định:
"Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất
vi phạm pháp luật về đất đai" Như vậy, thu hồi đất là một biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, hoặc xử lý vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất Hình thức pháp lý của thu hồi đất được thể hiện bằng một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Với khái niệm nêu trên cho thấy, việc thu hồi đất chỉ được thực hiện một cách hợp pháp khi chúng được thực hiện bởi Nhà nước (thông qua một hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền) được phân cấp, phân quyền một cách cụ thể, rõ ràng theo quy định của pháp luật Ngoài Nhà nước ra thì không ai có thể tùy tiện thu hồi đất của những người đang khai thác và sử dụng đất Bên cạnh đó, khái niệm thu hồi đất nêu trên cũng chỉ rõ, thu hồi đất được đặt ra đối với những QSDĐ của người sử dụng đất mà Nhà nước đã trao quyền sử dụng hoặc thu hồi đất do người sử dụng đất
có hành vi vi phạm pháp luật đất đai So với Luật Đất đai 2003 trước đây định nghĩa
về khái niệm thu hồi đất như đã đề cập ở trên thì khái niệm thu hồi đất trong Luật Đất đai 2013 thể hiện tính khái quát và khoa học hơn, phạm vi thu hồi đất cũng được mở rộng hơn Theo đó, nếu trước đây, thu hồi đất chỉ đặt ra đối với đất được Nhà nước giao thì nay thuật ngữ "giao" được thay thế bằng thuật ngữ "trao" nghĩa là Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà Nhà nước đã trao QSDĐ cho họ trước đó Với sự thay đổi thuật ngữ này, chúng sẽ bao quát đầy đủ cơ sở phát sinh QSDĐ của các chủ thể, và theo đó, khi Nhà nước với vai trò chủ sở hữu đại diện
Trang 12toàn dân về đất đai có quyền xác lập - làm phát sinh QSDĐ đối với người sử dụng thì Nhà nước bằng quyền lực của mình cũng có quyền làm chấm dứt QSDĐ của họ,
lẽ dĩ nhiên là việc chấm dứt đó phải có cơ sở và căn cứ pháp lý xác đáng
Thu hồi đất là biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai Hình thức pháp lý này là một quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất Biện pháp này thể hiện quyền lực nhà nước trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lặp lại trật tự kỷ cương trong quản lý nhà nước về đất đai Để đảm bảo hiểu đúng và đầy đủ thì nội hàm của vấn đề thu hồi đất phải được hiểu ở khía cạnh sau đây:
- Là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng;
- Quyết định hành chính thể hiện quyền lực nhà nước nhằm thực thi nội dung của quản lý nhà nước về đất đai;
- Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng hoặc vì những lý do tự nhiên, khách quan khác mà theo quy định của pháp luật buộc phải chấm dứt QSDĐ của một chủ thể
1.1.2 Sự cần thiết thu hồi đất
"Đất là mẹ, sức lao động là cha đã sản sinh ra mọi của cải vật chất", C Mác
đã khẳng định như vậy Đúng là như thế, cha ông ta đã từng nói "tấc đất, tấc vàng" Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của dân tộc ta, nó còn là tư liệu sản xuất không gì có thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp
Tính đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2016, tổng diện tích đất tự nhiên của nước ta là 33.123.078 ha, bao gồm: Diện tích nhóm đất nông nghiệp: 27.284.906 ha; diện tích nhóm đất phi nông nghiệp: 3.725.374 ha; diện tích đất chưa sử dụng: 2.112.798 ha
Qua đó ta thấy diện tích đất chưa sử dụng còn khá nhiều mà chỉ tập trung vào khu vực có điều kiện khó khăn Mặt khác, dân số nước ta hiện nay khoảng 93,7 triệu người, đứng thứ 14 trên thế giới Nhưng dân cư phân bố không đồng đều, phần lớn
là tập trung vào các khu đô thị, các thành phố lớn Theo số liệu đến năm 2015 của Tổng cục Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích 2.095,5 km2, dân số
Trang 138.136,3 nghìn Như vậy, mật độ dân số ở thành phố này là 3.888 người/km2
, cao nhất cả nước Hà Nội có tổng diện tích 3.324,5 km2, dân số 7.216 nghìn Mật độ dân số của Hà Nội là 2.171 người/km2, cao thứ hai Dân cư chủ yếu tập trung đông
ở những nơi kinh tế phát triển, có điều kiện tự nhiên thuận lợi Trong khi những khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, điều kiện khó khăn thì dân cư ít sinh sống và đây cũng là những vùng mà có diện tích đất bỏ hoang chưa đưa vào sử dụng còn rất lớn
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chúng ta
đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, đã và đang tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới cho nhà đầu tư trong và ngoài nước Khi nắm được thông tin Việt Nam sẽ gia nhập WTO, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã "đón đầu" sự kiện, tích cực đầu tư vào Việt Nam Chính vì vậy, từ năm
2006 nguồn vốn FDI vào Việt Nam đã tăng mạnh Theo báo cáo của Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 5 năm 2017, cả nước có
325 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 94,9 nghìn ha Diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 64 nghìn ha, chiếm khoảng 67% tổng diện tích đất tự nhiên Các khu công nghiệp được thành lập trên 60 tỉnh, thành phố, chủ yếu tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm nhằm phát huy lợi thế về vị trí địa
lý và tiềm năng phát triển kinh tế của các vùng Chính vì vậy, nhu cầu về đất đai cho các dự án đầu tư trong và ngoài nước là một vấn đề rất cần thiết và quan trọng
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nên việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, triển khai các dự án lớn để phát triển kinh tế - xã hội diễn ra mang tính quy luật Vì vậy, Nhà nước cần lấy đi một phần đất để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị mới và xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước Tuy nhiên, việc lấy đất đã giao cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài để chuyển thành đất xây dựng là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, cần cân nhắc và đòi hỏi có sự giải quyết thấu tình, đạt lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thu hồi đất
Các quy định của Luật Đất đai về thu hồi đất đã phần nào phù hợp với điều kiện mới của đất nước và đã được thực thi trong cuộc sống, thúc đẩy phát triển kinh
tế góp phần ổn định chính trị xã hội Việc sử dụng đất có hiệu quả hơn trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ và xây dựng đô thị hóa
làm thay đổi bộ mặt đô thị theo hướng văn minh hiện đại
Trang 141.1.3 Những tác động, ảnh hưởng của việc thu hồi đất tới đời sống, sinh hoạt của các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất
Đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là môi trường sống của người dân Do
đó mất đất, đồng nghĩa với mất chỗ ở, mất nơi tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh Nói cách khác, việc thu hồi đất của Nhà nước đã ảnh hưởng bất lợi đến người dân bị mất đất trên các phương diện sau đây
nề Nhiều người chưa được chuẩn bị sẵn cho việc di chuyển như vậy nên tương lai của họ sẽ khó khăn hơn Hơn nữa, khi chuyển nhà, các chi phí phát sinh do cần xây dựng lại nhà cửa, vườn tược, tạo dựng hạ tầng sinh hoạt, dịch vụ chung khá lớn, nếu không có sự hỗ trợ bên ngoài, nhiều người dân mất đất không thể tự giải quyết được Đặc biệt, khi di dời bất đắc dĩ chỗ ở do đất bị thu hồi, nhiều người dân có tâm
lý không thoải mái, tâm lý bị thua thiệt Nếu không có sự đả thông tư tưởng và một
số hình thức bồi thường thích hợp, những người dân mất chỗ ở có thể bị kích động, phản ứng tiêu cực với chính sách thu hồi đất của Nhà nước
1.1.3.2 Mất tư liệu sản xuất
Đất bị thu hồi là đất nông nghiệp hay phi nông nghiệp đều là tư liệu sản xuất quan trọng của người sử dụng đất cũ Khi Nhà nước thu hồi có bồi thường bằng diện tích đất khác đi chăng nữa cũng làm cho người bị mất đất thua thiệt trên các phương diện: mất địa thế của địa điểm đã quen dùng; mất một phần thành quả đầu tư vào đất Chính vì vậy, người sử dụng đất không muốn giao đất cho Nhà nước nếu không được bồi thường xứng đáng
Sự mất mát, thua thiệt, tâm lý lo sợ tương lai không rõ ràng khiến nhiều người tìm mọi cách để không phải giao đất cho Nhà nước, từ vận động hành lang quy hoạch đến chây ì, phản đối tập thể Muốn thu hồi đất hiệu quả, Nhà nước phải
có phương án giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn này
Trang 151.1.3.3 Bất ổn định về tâm lý, tình cảm, nếp sống và sinh hoạt của người bị thu hồi đất
Với mỗi người dân, đất đai không chỉ đơn thuần là nơi ăn chốn ở, nguồn sống, việc làm mà cao hơn ý nghĩa đó - đất đai là biểu tượng của "nơi chôn rau, cắt rốn", là nơi cội nguồn của gia đình, dòng tộc "quê cha, đất tổ", nơi mà mỗi thành viên trong gia đình, làng xóm, thôn bản được sinh ra, lớn lên, tồn tại đều gắn bó, hòa quyện Vì lẽ đó, sự rời xa là vấn đề không phải dễ dàng đối với họ Chính vì vậy, thu hồi đất, chấm dứt cuộc sống trên những mảnh đất mà họ đã gắn bó cần phải được nhìn nhận một cách thấu đáo, cần chú trọng không chỉ sự bù đắp về những thiệt hại dưới khía cạnh vật chất, mà còn dành sự quan tâm thích đáng đến khía cạnh tâm lý, tình cảm và các yếu tố văn hóa, tâm linh Chỉ như vậy thì việc thu hồi đất của những người đang sử dụng đất sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đặt ra mới thấu tình đạt lý, mới tìm được sự đồng thuận lớn của nhà nước, người dân và nhà đầu tư
1.1.3.4 Bức xúc vì phân chia lợi ích không công bằng
Do chuyển mục đích sử dụng đất hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng trên đất thu hồi sẽ làm cho một số chủ thể kinh tế có lợi ích tăng lên (ví dụ như doanh nghiệp nhận đất xây khu đô thị, người có đất hai bên đường mới làm ) đi đôi với thua thiệt trông thấy của người mất đất dẫn đến các xung đột lợi ích gay gắt Người mất đất sẽ càng cảm thấy mình bị đối xử bất công hơn khi hàng xóm của mình giàu lên không nhờ công sức của họ mà nhờ đất của mình bỏ ra làm đường, hoặc sẽ phẫn nộ khi giá bồi thường cho họ thấp hơn nhiều giá đất doanh nghiệp bán cho họ
Công tác TĐC khó khăn cũng làm cho người dân bị mất đất thua thiệt Do nhiều địa phương thiếu quỹ đất nông nghiệp để bồi thường thích đáng cho nông dân, nên nhiều nông dân, sau khi nhận tiền đền bù, đã không có công ăn việc làm, không có kinh nghiệm kinh doanh nên tiền bồi thường nhanh chóng tiêu hao Nơi ở mới nhiều khi không được xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn thiện làm cho cuộc sống của họ càng khó khăn hơn Chính vì thế, nhiều người dân mất đất, hoặc rơi vào nghèo khó, hoặc rơi vào tệ nạn xã hội, trở thành gánh nặng cho chính họ và cho xã hội
Ngoài ra, việc thu hồi đất không chỉ gây tác động bất lợi cho người mất đất
mà còn tạo thêm sức ép cho Nhà nước về phương diện tài chính, quản lý và điều hành Chính vì thu hồi đất có nhiều tác động không mong muốn như vậy nên Nhà nước, một mặt phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý, dài hạn, ổn định,
Trang 16nhằm hạn chế xáo trộn; mặt khác, phải xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC đối với người dân bị mất đất một cách hợp lý
1.2 Lý luận pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Theo Từ điển Luật học thì khái niệm quyền công dân được hiểu "là khả năng tự do lựa chọn hành vi của công dân mà Nhà nước phải bảo đảm khi công dân yêu cầu"3, còn nghĩa vụ công dân "là việc Nhà nước đòi hỏi công dân phải thực hiện những hành vi cần thiết khi Nhà nước yêu cầu, nếu không thực hiện thì Nhà nước buộc phải áp dụng bằng mọi biện pháp từ giáo dục, thuyết phục đến cưỡng chế"4
Theo giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật 2000, quyền và nghĩa vụ của chủ thể được hiểu như sau: Quyền chủ thể "là cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến hành Nói cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép Nói là khả năng có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiến hành hoặc không xử sự như vậy"5; còn nghĩa vụ chủ thể được quan niệm "là cách xử sự mà Nhà nước bắt buộc chủ thể phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác Nghĩa vụ pháp lý tự nó không phải là hành vi mà chỉ là sự cần thiết phải xử sự như vậy Nếu sự cần thiết ấy được thể hiện trong hoạt động thực tiễn thì nghĩa vụ pháp lý đó đã được thực hiện"6
Như vậy, có thể thấy quyền và nghĩa vụ là hai mặt thống nhất không thể tách rời, bất cứ khi nào một chủ thể tham gia vào một quan hệ pháp luật thì chủ thể
đó luôn luôn được hưởng các quyền do pháp luật quy định và được Nhà nước bảo
hộ các quyền này Nhưng đồng thời, họ cũng phải gánh vác các nghĩa vụ, trách nhiệm nhằm đáp ứng các quyền của chủ thể khác và Nhà nước cũng có trách nhiệm đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ trên thực tế Không thể có chuyện một chủ thể
3 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 649
4 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 561
5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 448
6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 449
Trang 17chỉ được hưởng quyền mà không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ pháp lý nào và ngược lại khi tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể
Trong quan hệ đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất có thể được hiểu như sau: "Quyền của người sử dụng đất là khả năng mà pháp luật cho phép người sử dụng đất được thực hiện những hành vi nhất định trong quá trình sử dụng đất nhằm sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao" Nghĩa vụ của người sử dụng đất "là cách xử sự mà pháp luật bắt buộc người sử dụng đất phải tiến hành trong quá trình sử dụng đất nhằm không làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của các chủ thể sử dụng đất khác"7 Cũng cần lưu ý trong quan hệ đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất một mặt do pháp luật quy định sẵn như: quyền được cấp giấy chứng nhận, được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất, quyền được Nhà nước bảo vệ khi người khác xâm hại hay người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước khi sử dụng đất, có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, giao lại đất khi có quyết định thu hồi; mặt khác, các quyền và nghĩa vụ có thể do chính người sử dụng đất tạo ra (như khi khai thác sử dụng đất phát hiện được tài nguyên, khoáng sản…) hoặc lựa chọn khi bắt đầu tham gia quan hệ pháp luật đất đai, trong suốt quá trình sử dụng đất và cho đến khi kết thúc quan hệ pháp luật đất đai (thông qua việc lựa chọn hình thức sử dụng đất) hay lựa chọn phương thức trả tiền thuê đất hàng năm hay thuê đất trả tiền một lần cho toàn bộ thời gian thuê
Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai, không phân biệt chủ thể đó là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, chủ thể đó là trong nước hay nước ngoài, chủ thể đó sử dụng đất cho mục đích nông nghiệp hay phi nông nghiệp họ đều được hưởng các quyền chung theo quy định tại Điều 166 Luật Đất đai 2013 và đều phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 170 Luật Đất đai 2013 Đối với hộ gia đình, cá nhân, tùy thuộc vào hình thức sử dụng đất khác nhau, nguồn gốc hình thành QSDĐ khác nhau, họ còn được hưởng các quyền tương ứng được quy định tại Điều 179 Luật Đất đai
2013 Nghiên cứu các quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu các
cơ sở tiền đề và những đảm bảo của Nhà nước đối với các quyền của người sử dụng đất nói chung và những đảm bảo đối với các quyền của người đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi nói riêng
7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tTr 191
Trang 18Cùng với việc được hưởng các quyền, người sử dụng đất phải thực hiện các nghĩa vụ như: Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định
về độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện
và kê khai đăng ký đất đai; làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ, thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; thực hiện các biện pháp bảo vệ đất; tuân theo các quy định về việc tìm thấy vật trong lòng đất; giao lại đất khi có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng Khi có quyết định thu hồi, người sử dụng đất phải tuyệt đối chấp hành, người nào vi phạm sẽ bị Nhà nước cưỡng chế thu hồi
Nghiên cứu các nghĩa vụ của người sử dụng đất cho phép người nghiên cứu rút ra nhận định rằng, với bổn phận và trách nhiệm của người sử dụng đất được Nhà nước trao QSDĐ, được hưởng các quyền trong quá trình sử dụng đất thì họ cũng đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, với cộng đồng và toàn xã hội trong quá trình sử dụng đất, trong đó có nghĩa vụ phải thực hiện khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng
1.2.1.2 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất
Bên cạnh các quyền và nghĩa vụ chung nêu trên, tùy thuộc vào từng mối quan hệ đất đai được xác lập giữa người sử dụng đất với Nhà nước hoặc giữa những người sử dụng đất với nhau, với tính chất và đặc điểm khác nhau, Nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ riêng tương ứng Các quyền và nghĩa vụ riêng này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trong mối quan hệ ấy được đảm bảo duy trì, bảo vệ và có cơ chế đảm bảo cho quyền đó được thực hiện có hiệu quả Cùng với đó, người sử dụng đất cũng phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng cho phù hợp với tính chất của quan hệ mà mình đang thiết lập thể hiện nghĩa vụ
cơ bản của công dân, tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; mặt khác, thực hiện nghĩa vụ của mình trước Nhà nước hay đối với chủ thể khác cũng chính là
cơ hội để thúc đẩy các quyền của mình được thực hiện và đảm bảo
Trong quan hệ về thu hồi đất, mối quan hệ được thiết lập giữa một bên là Nhà nước, một bên là người có đất bị thu hồi, ở mối quan hệ này, Nhà nước với tư
Trang 19cách là đại diện chủ sở hữu luôn ở vị thế là bên có quyền, còn người sử dụng đất với
tư cách là bên có nghĩa vụ phải thực hiện Tuy nhiên, do hệ quả bởi các quy định thu hồi đất tác động và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, việc làm, tâm lý của người dân như đã đề cập ở phần trên nên Nhà nước phải có trách nhiệm bù đắp những thiệt hại, tổn thất cả về vật chất và tinh thần cho người có đất bị thu hồi bởi những thiệt hại đó không do người sử dụng đất gây ra mà do tác động của quyết định thu hồi đất của Nhà nước Việc bù đắp này đối với người sử dụng đất của Nhà nước được biểu hiện dưới dạng "Quyền" - đó là quyền được bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất Bên cạnh đó, để đảm bảo quyền này được thực hiện trên cơ
sở của sự công bằng, minh bạch và khách quan, có cơ chế thiết thực để hiện thực hóa trên thực tế, người có đất bị thu hồi còn được yêu cầu Nhà nước phải minh bạch, công khai hóa từ quy trình, thủ tục thu hồi đất, đến cơ sở, căn cứ phê duyệt phương án bồi thường, GPMB, nhằm đảm bảo sự công bằng, dân chủ và chính xác, tuân thủ đúng pháp luật đối với công tác này Hơn nữa, nếu người có đất bị thu hồi thấy việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC mà Nhà nước áp dụng cho mình chưa thỏa đáng, chưa công bằng, thì Nhà nước còn cho phép người có đất bị thu hồi thực hiện quyền công dân của mình - khiếu nại về quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình cho rằng không thỏa đáng, hoặc được tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC
Với các quyền nêu trên của người có đất bị thu hồi trên thực tế được đảm bảo, quyền và lợi ích của người bị thu hồi được bù đắp, thì quay trở lại họ cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước Nhà nước, nhà đầu tư và trước xã hội bởi người sử dụng đất phải ý thức được rằng, quyết định thu hồi đất của Nhà nước không phải phục vụ cho những mục đích cá nhân riêng lẻ, của nhóm lợi ích nào
mà là vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, lợi ích chung của xã hội - đó là thu hồi đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Như vậy, với phân tích nêu trên có thể hiểu: Quyền và nghĩa vụ của hộ gia
đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất là khả năng của hộ gia đình, cá nhân được hưởng các quyền và lợi ích khi Nhà nước thu hồi đất và trách nhiệm của người có đất bị thu hồi phải thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm đảm bảo cho việc thu hồi đất của Nhà nước được thực hiện
Trang 201.2.2 Lý luận pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.2.1 Cơ sở của việc xây dựng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hộ gia
đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất
Với tư cách đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nước trao QSDĐ cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng, đồng thời họ có quyền được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao Như vậy, QSDĐ đã được đại diện chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất, nó trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất Khẳng định như vậy bởi lẽ, người sử dụng đất được pháp luật trao cho các quyền năng mở rộng trong quá trình thực hiện QSDĐ của mình như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế QSDĐ, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị QSDĐ Với những quyền năng được ghi nhận và bảo hộ như vậy, dường như người sử dụng đất ở Việt Nam đã là người được "sở hữu" một loại quyền về tài sản đó là "quyền sử dụng đất" Mặt khác, quyền sở hữu tài sản của công dân là một quyền năng được pháp luật ghi nhận và bảo hộ, điều này đã được khẳng định tại đạo luật gốc đó là Hiến pháp Thật vậy, Điều 12 Hiến pháp 1946 quy định: "Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm" Tiếp đó, tại Hiến pháp 1992, Điều 58 cũng ghi nhận: "Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân"; Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định: "Mọi người có quyền sở hữu
về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất,…Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ" (Khoản 1, 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013) Như vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức được Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc gia, công cộng thì giá trị QSDĐ bị thu hồi và toàn bộ tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thu hồi của người đang sử dụng đất sẽ được bồi thường theo thời giá thị trường
Căn cứ vào bản chất ưu việt của nhà nước ta Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Điều này đã được ghi nhận trong Hiến pháp, các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước và các văn kiện của Đảng Nhà nước theo đuổi sứ mạng cao cả và mang đầy tính nhân văn đó là phục vụ và chăm lo cho
Trang 21lợi ích, sự phồn vinh của nhân dân, của xã hội Về cơ bản, lợi ích của Nhà nước là đồng nhất với lợi ích của nhân dân Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm và nghĩa
vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Mặt khác, để phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết dân tộc và khơi dậy lòng yêu nước, sự tin tưởng đồng thuận của người dân vào Đảng, vào Nhà nước, đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp chấn hưng đất nước, thì điều quan trọng là Nhà nước phải biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng của người dân Khi quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất bị thiệt hại do việc thu hồi đất của Nhà nước gây ra thì Nhà nước phải có nghĩa vụ bồi thường Việc làm này xuất phát từ lợi ích của người dân và cũng chính
là xuất phát từ nhu cầu tồn tại, sự phát triển kinh tế, xã hội của bản thân Nhà nước Hơn nữa, chủ thể được hưởng lợi từ việc Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc gia, công cộng là toàn thể mọi thành viên trong xã hội Vì vậy, các thành viên này phải có nghĩa vụ bù đắp thiệt hại cho người bị thu hồi đất thông qua Nhà nước - tổ chức đại diện cho xã hội Rõ ràng, khi Nhà nước thu hồi đất mà làm phương hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ Đối với đất ở khi thu hồi, Nhà nước có thể bồi thường bằng tiền (tiền bồi thường đối với đất ở cao hơn gấp nhiều lần tiền bồi thường đối với đất nông nghiệp), hoặc bồi thường bằng một mảnh đất ở khác hoặc nhà ở tại khu TĐC Nhưng đối với đất nông nghiệp việc bồi thường không đơn giản, phương thức bồi thường bằng đất đã không phát huy tác dụng, bởi chúng ta đâu còn đất nông nghiệp để bồi thường; việc bồi thường bằng tiền cũng không được người dân đồng thuận trong nhiều trường hợp bởi sự chênh lệch quá lớn giữa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp Hơn thế nữa, vấn đề đặt ra không đơn giản là tiền bồi thường nhiều hay ít, mà là nhu cầu sống còn của người nông dân cần có đất nông nghiệp để sản xuất, để duy trì cuộc sống đã không thể là hiện thực Đây là vấn
đề lớn của xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải giải quyết
nó một cách hài hòa để đảm bảo ổn định xã hội Bên cạnh đó do tâm lý bẩn ổn của người dân trong quá trình Nhà nước thu hồi đất như đã phân tích ở phần khái niệm thu hồi đất cũng là yếu tố ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện các dự án Xét thấy, Nhà nước cần phải quan tâm đến việc xây dựng chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất để đảm bảo được quyền của người sử dụng đất hài hòa với việc thực hiện các nghĩa vụ về thu hồi đất (như tuân thủ phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC, bàn giao mặt bằng theo đúng tiến độ )
Trang 221.2.2.2 Khái niệm pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân
khi Nhà nước thu hồi đất
Bất cứ một lĩnh vực nào, một quan hệ xã hội nào phát sinh trong đời sống
xã hội cũng rất cần đến sự điều chỉnh của pháp luật, nhằm định hướng các quan hệ này đi theo một trật tự chung thống nhất, phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của các bên tham gia quan hệ và vì lợi ích chung của toàn xã hội
Trong lĩnh vực đất đai, cùng với quá trình thu hồi đất là hàng loạt các quy phạm pháp luật được ban hành quy định về nguyên tắc, điều kiện, nội dung và phương thức bồi thường, trình tự, thủ tục cũng như việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Qua đó, pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân khi Nhà
nước thu hồi đất có thể được hiểu như sau: Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hộ gia
đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc gia, lợi ích công cộng, nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị thu hồi đất
Cơ chế điều chỉnh của pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất được thể hiện bằng việc Nhà nước sử dụng pháp luật tác động vào hành vi xử sự của các chủ thể
quan hệ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo hướng: Một là, đối với những
hành vi xử sự của các chủ thể phù hợp với quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất, như hành vi thu hồi đất đúng thẩm quyền, thực hiện đúng trình tự, thủ tục thu hồi đất, v.v thì pháp luật bảo vệ, tạo điều kiện khuyến khích để nó phát triển;
Hai là, đối với những hành vi xử sự của các chủ thể trái hoặc không phù hợp với
quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất như thu hồi đất không đúng thẩm quyền, áp dụng giá đất bồi thường không đúng pháp luật v.v thì pháp luật xử lý, ngăn ngừa và tiến tới loại bỏ dần khỏi đời sống xã hội; qua đó, việc tuân thủ pháp luật về khi Nhà nước thu hồi đất được xác lập và thực hiện triệt để
Mặt khác, tác động của cơ chế điều chỉnh pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất thể hiện trên hai phương diện:
- Phương diện tích cực: Nếu nội dung các quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất phù hợp với thực tiễn khách quan, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước thì sẽ điều chỉnh, hướng dẫn hành vi xử sự của các chủ thể quan hệ tuân thủ đúng pháp luật và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế
Trang 23- Phương diện tiêu cực: Nếu nội dung các quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn khách quan và chậm sửa đổi,
bổ sung sẽ trở thành rào cản hành vi xử sự của các chủ thể
Có thể thấy, việc ban hành hệ thống pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ khi Nhà nước thu hồi đất gắn với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, được quy định cụ thể tại Chương 6 về Thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC của Luật Đất đai 2013
1.2.3.3 Cơ cấu pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất
Nội dung điều chỉnh của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất nằm trong các quy định của pháp luật khi Nhà nước thực hiện các trình tự về thu hồi đất bao gồm: hoạt động GPMB; bồi thường và chính sách bồi thường; hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và TĐC
* Nhóm các quyền mà Nhà nước cần bảo đảm đối với hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất
Trong quá trình thu hồi đất thì trước hết là phải chú trọng đặt lợi ích của người dân lên trên hết vì suy cho cùng đều nhằm phục vụ cho người dân có điều kiện sống tốt hơn Quyền của công dân khi bị thu hồi đất phải được xem xét một cách đầy đủ nhất vì đây là việc thiết yếu tác động trực tiếp đến lợi ích của người dân nên đòi hỏi phải có mục đích cụ thể và phù hợp với thực tiễn nhằm không làm cho người dân bức xúc
Đầu tiên là quyền được biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ, TĐC, quyền được phổ biến và lấy ý kiến
về phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC về quy hoạch của Nhà nước phải thu hồi đất của mình, điều này thể hiện sự làm chủ của nhân dân và tôn trọng ý kiến của người dân Tiếp đến là được bồi thường đất, tài sản, hoa màu, cây cối và công trình trên đất Hơn nữa, quyền của người dân trong bồi thường, hỗ trợ, TĐC còn thể hiện ở việc Nhà nước thực hiện pháp luật hỗ trợ để người dân ổn định cuộc sống sau thu hồi đất, hỗ trợ việc làm và TĐC Bên cạnh đó, người dân có quyền khiếu nại, khiếu kiện đến cơ quan chức năng để yêu cầu xem xét và bảo vệ lợi ích chính đáng cho họ nếu trường hợp lợi ích của họ bị xâm hại hoặc bị người khác xâm hại trong bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi bị thu hồi đất
Trang 24Luật đất đai 2013 đã quy định theo hướng tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân trong việc đo đạc , kiểm đếm đất đai , tài sản gắn liền với đất và xây dựng phương án bồi thường , hỗ trợ và tái định cư ; trách nhiệm đối thoại và giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuận
Quyền được bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, Luật Đất đai sửa đổi đã quy định khá chi tiết và bổ sung những quy định rất quan trọng như: Quy định giá đất bồi thường không áp dụng theo bảng giá đất mà áp dụng giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất; quy định cụ thể điều kiện được bồi thường về đất, bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, bồi thường tài sản gắn liền với đất; bồi thường khi thu hồi đối với từng loại đất và từng đối tượng cụ thể Đặc biệt, yêu cầu đảm bảo sinh kế cho người có đất thu hồi đã được quy định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ hơn trong Luật sửa đổi thông qua quy định về các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất như: Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tạo việc làm; hỗ trợ TĐC đối với trường hợp thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở và một số khoản hỗ trợ khác Luật giao UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người có đất thu hồi là đất nông nghiệp, đất
ở kết hợp kinh doanh dịch vụ và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái cư Đồng thời, quy định khi thu hồi đất mà phải bố trí TĐC thì UBND cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và tổ chức thực hiện dự án TĐC trước khi thu hồi đất Khu TĐC tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng; phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu TĐC Luật cũng quy định cụ thể hơn về quyền tham gia của người dân trong quá trình lập và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ TĐC; thẩm quyền
* Nhóm các quy phạm quy định về nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân phải thực hiện khi Nhà nước thu hồi đất
Khoản 1, Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân" Thông thường bên cạnh quyền được hưởng thì kèm theo vẫn là nghĩa vụ phải thực hiện, nhằm đảm bảo sự công bằng về mặt lợi ích nói chung và trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, TĐC nói riêng Các nghĩa vụ của người dân khi bị thu hồi đất được tổng quan như sau:
Trang 25Trước hết, người dân phải tuân thủ các nghĩa vụ của mình, tuân thủ quy hoạch chung của cả nước và mục tiêu phát triển đã vạch ra Trong một số trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì bắt buộc Nhà nước phải GPMB các công trình xây dựng, nhà ở, hoa màu trên đất đó, người dân phải tính tới lợi ích lâu dài mà tuân thủ theo hướng quy hoạch chung của xã hội Phải đảm bảo di dời theo đúng pháp luật, không gây cản trở cho việc thực hiện thu hồi đất "Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, khiếu kiện người bị thu hồi đất vẫn phải chấp hành di chuyển GPMB và giao đất đúng kế hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định" Bên cạnh tuân thủ vì lợi ích chung, thì người dân khi được bồi thường thỏa đáng phải thực hiện tốt pháp luật trong vấn đề này, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước
Ngoài ra, để được bồi thường bắt buộc người dân phải có đầy đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 và tuân thủ đầy đủ những nội dung quy định những trường hợp không được thực hiện sau quy hoạch tại khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai năm 2013
Đặc biệt, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 là nếu người dân vi phạm các nghĩa vụ trong thu hồi đất thì phải chịu trách nhiệm hành chính và có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Ngoài ra, nếu vi phạm nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự trong bộ luật hình sự tại Điều 206 Luật Đất đai năm 2013
Việc quy định nghĩa vụ của người bị thu hồi đất nhằm góp phần người có đất bị thu hồi ý thức được trách nhiệm bàn giao mặt bằng đúng thời gian quy định đảm bảo tiến độ thực hiện dự án, góp phần chỉnh trang hoặc xây dựng mới các công trình khu đô thị ngày một tốt đẹp hơn, đưa cuộc sống của người dân được nâng cao hơn
* Nhóm quy phạm quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất và GPMB
Ngoài các quy định về quyền và nghĩa vụ mà hộ gia đình, cá nhân được hưởng hoặc phải tuân tủ, chấp hành khi Nhà nước thu hồi đất thì việc quy định trình
tự, thủ tục trong quá trình thực hiện thu hồi đất, bồi thường và GPMB cũng là những quy phạm không thể thiếu nhằm đảm bảo các quyền của người có đất bị thu hồi được tuân thủ đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về minh bạch, dân chủ, công bằng và công khai trong công tác này
- Việc thực hiện trình tự, thủ tục trong thu hồi đất, đó là: "Người có đất thu
hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng
Trang 26phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư… Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất" (Điều 69 Luật Đất đai 2013) "Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư" (Điều 69, Luật Đất đai 2013);
- Về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Căn cứ theo Điều 75 Luật Đất
đai 2013 thì điều kiện để được hưởng đền bù về đất đai bị thu hồi phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), quyền sở hữu nhà ở hoặc thuộc trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận mà chưa cấp
Có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính để được hưởng chế độ bồi thường theo quy định tại Điều 30 Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, TĐC, Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất:
"1 Việc trừ khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi thường quy định tại Khoản 4 Điều 93 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước nhưng đến thời điểm thu hồi đất vẫn chưa nộp;
b) Số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao đất
ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó;
c) Tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có) Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi
Trang 27thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai"
Kết luận chương 1
Với đặc thù về quan hệ sở hữu, sử dụng và quản lý đất đai nói chung ở Việt Nam buộc Nhà nước phải có sự điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi và các chủ đầu tư để đảm bảo sự công bằng xã hội, sự ổn định về chính trị - kinh tế cũng như đời sống của người nông dân trong quá trình thu hồi đất Chính vì vậy, các quy định về thu hồi, bồi thường đất, hỗ trợ, TĐC đã trở thành một nội dung quan trọng, mang tính tất yếu trong pháp luật đất đai và đặc biệt, đây là vấn đề đã được Hiến pháp Việt Nam quy định nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan của đời sống thực tiễn, gắn với quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân trong quá trình sử dụng đất và khi Nhà nước thu hồi đất
Tại Chương 1, bên cạnh việc làm rõ nội hàm những khái niệm cơ bản về thu hồi đất, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất và pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, cơ bản làm rõ cấu trúc về nội dung của chế định này bao gồm: nhóm quy phạm quy định về nguyên tắc và điều kiện đảm bảo thực hiện các quyền của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất; nhóm quy phạm quy định về nghĩa vụ của người bị thu hồi đất nội trong việc quy định về trình tự, thủ tục thu hồi và bồi thường, hỗ trợ, TĐC; nhóm quy phạm quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Đây là những vấn đề lý luận mang tính nền tảng, xuyên suốt cho toàn bộ nội dung của luận văn
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI
Đối với luật đất đai 2003, chỉ dừng lại ở việc được biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ, TĐC, thì đối với luật đất đai 2013: "trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết"8
Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm: "Lý do thu hồi đất; diện tích, vị trí khu đất thu hồi trên cơ sở hồ sơ địa chính hiện có hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; trường hợp thu hồi đất theo tiến
độ thực hiện dự án thì ghi rõ tiến độ thu hồi đất; kế hoạch điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; dự kiến về kế hoạch di chuyển và bố trí tái định cư"9
Sau khi thông báo thu hồi đất theo đúng thủ tục nói trên, nếu người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý thì UBND cấp có thẩm quyền có thể ra quyết
8 Khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai 2013
9 khoản 2, Điều 17, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều thi hành của Luật Đất đai 2013
Trang 29định thu hồi đất và thực hiện các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, TĐC mà không cần chờ hết thời hạn thông báo Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì UBND cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện Việc vận động, thuyết phục người dân trong trình tự thu hồi đất được quy định trong luật là một điểm mới,
đề cao phương pháp thuyết phục người dân chưa phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường Phương pháp thuyết phục được quy định trước khi áp dụng cưỡng chế
sẽ giảm thiểu được thủ tục và chi phí cho việc cưỡng chế khi thu hồi đất và cũng là
sự phổ biến pháp luật đất đai đến người dân khi nhà nước thu hồi đất Như vậy luật mới đã cụ thể hóa hơn và có sự tham gia của người dân vào kế hoạch khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, tránh các trường hợp không đồng ý về phương án đền bù khi thu hồi
Quy định nêu trên không chỉ đảm bảo quyền dân chủ, linh hoạt và chủ động cho người dân trước các quyết định thu hồi đất của Nhà nước, đảm bảo quyền cho người sử dụng đất quyền được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra các công việc quản lý đất đai của Nhà nước, trong đó có hoạt động thu hồi đất Quyền nêu trên còn là một trong những công cụ hữu hiệu để người dân có đất bị thu hồi theo dõi, kiểm tra và giám sát hoạt động của Nhà nước trong việc thu hồi đất nhằm đảm bảo việc thu hồi đất phải tuân thủ đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, đảm bảo lý do thu hồi đất phải chính đáng, xuất phát từ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, không vì lợi ích nhóm, vì tư lợi
cá nhân Đây cũng là quyền mà trên thực tế nếu được triển khai nghiêm túc, chúng sẽ là công cụ hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực trong thu hồi đất
2.1.1.2 Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Tại khoản 12, điều 4 Luật đất đai 2013 có nêu: "Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất" Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất là có sự thiệt hại cho người có đất bị thu hồi, đồng nghĩa với việc chủ thể thực hiện việc thu hồi đất là Nhà nước phải thực hiện trách nhiệm bồi thường nhằm bù đắp tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp của
người sử dụng đất do hành vi thu hồi đất gây ra
Khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất để phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và cho mục tiêu phát triển kinh tế thì điều đầu tiên và tiên quyết nhất ảnh
Trang 30hưởng rất lớn đến dự án quy hoạch chung là vấn đề bồi thường, hỗ trợ, TĐC cho người dân Đặc biệt là vấn đề bồi thường được Nhà nước ta trong những năm gần đây đặc biệt chú trọng Vì một mặt, tác động của việc thu hồi đất đã đem lại những thay đổi tích cực cho đất nước và mang lại nhiều lợi ích cho người dân Khi thu hồi đất "Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại
thời điểm quyết định thu hồi đất" Điều này tạo nên một nền tảng cho người dân tái
sản xuất theo nghề nghiệp cũ và không phải khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp Nếu không thì người dân có thể sử dụng số tiền bồi thường đó mà chuyển sang sản xuất kinh doanh hoặc vào mục đích đầu tư khác sinh lợi cho mình hơn Hơn nữa, trong trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc đất ở TĐC hoặc nhà TĐC người dân còn được bồi thường phần giá trị chênh lệch nếu có Như vậy, đặt ra những trường hợp thuận lợi hơn là người dân có khi nhờ vào quy hoạch mà
"phất lên" hoặc trở nên thuận tiện hơn trước, thay đổi môi trường sống tốt hơn trước
Luật đất đai 2013 quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước thu hồi đất Luật Đất đai 2013 bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường
về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 75), cụ thể:
- Bổ sung bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người được giao đất có thu tiền sử dụng đất (có cùng nghĩa vụ tài chính như nhau)
Ngoài ra, thể chế hóa quy định của Luật Đất đai năm 2013, các văn bản quy phạm pháp luật khác trong lĩnh vực đất đai cũng quy định hướng dẫn chi tiết phương pháp bồi thường, hướng dẫn bồi thường đối với từng loại đất, từng công trình, hoa màu của người dân, chủ yếu hiện nay là Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất Cùng với đó, thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, hộ gia đình, cá nhân Theo đó, quyền của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm các nội dung cụ thể như:
Trang 31- Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp: Hộ gia đình,
cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường về đất, tài sản có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất (Điều 77, Luật Đất đai 2013)
- Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở): Đất phi nông nghiệp (trừ đất ở) là đất chuyên dùng sử dụng chủ yếu vào mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng nơi sản xuất - kinh doanh… hộ gia đình, cá nhân Việc thu hồi loại đất này, người có đất được bồi thường về đất (Điều 80, Luật Đất đai 2013)
- Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở (Điều 79, Luật Đất đai 2013)
- Ngoài các quy định trên, người sử dụng đất còn quyền được bồi thường về đất trong các trường hợp sau: Bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ (Điều 10 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014); bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đối với đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng đã nộp tiền để được sử dụng đất mà chưa được cấp GCNQSDĐ (Điều 11,, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014); bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về QSDĐ (Điều 12, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/05/2014); bồi thường về đất cho người đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về QSDĐ (Điều 13, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/05/2014); bồi thường nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (Điều 14, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/05/2014); bồi thường về đất đối với những người đang đồng QSDĐ (Điều 15, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/05/2014)
- Quyền được bồi thường về tải sản, sản xuất và kinh doanh: trong đó được bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất (Điều 89, Luật Đất đai 2013); bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi (Điều 90, Luật Đất đai 2013); bồi thường chi phí di chuyển (Điều 91, Luật Đất đai 2013); bồi thường thiệt hại đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ an toàn (Điều 94, Luật Đất đai; điều 10, Nghị định 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014); bồi thường di chuyển mồ mả (Điều 18, Nghị định 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014)
Pháp luật về bồi thường quy định việc người bị thu hồi đất được bồi thường, hỗ trợ về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, quy định này nhằm bảo hộ một
Trang 32trong những quyền cơ bản của người sử dụng đất được ghi nhận ở Điều 166, Luật Đất đai 2013 đó là: "Người sử dụng đất được quyền hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất" Với mục đích và ý nghĩa nêu trên, đối chiếu các quy định của pháp luật hiện hành về quyền được bồi thường cho thấy một cách tổng quan rằng, chúng ta có cơ sở pháp lý khá đầy đủ trong pháp luật bồi thường này, vấn đề là ở chỗ những quy định trên có thật sự phát huy hết tác dụng khi triển khai trên thực tế hay không, nhằm mang lại lợi ích một cách xứng đáng nhất cho người dân Mặt khác thực hiện một cách tối ưu pháp luật của Nhà nước ta trong vấn đề này và là cơ
sở cho họ ổn định cuộc sống mới, giảm thiểu thiệt hại do thu hồi đất và đền trả xứng đáng với những gì người dân mất đi, dù là cây cối hay hoa màu nhỏ nhất của người dân Lợi ích của người dân là có thể tái sản xuất lại, thuận lợi như trước mà không phải lo thiệt hại về những công trình, tài sản, hoa màu của mình Từ đó tạo tâm lý
an tâm và tin tưởng, sẵn sàng hợp tác cho sự phát triển chung của cộng đồng
Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường còn nảy sinh một
số bất cập như:
Về giá đất để tính bồi thường thấp hơn so với "giá thị trường" dẫn đến sự không thỏa mãn trong dân Bên cạnh đó, việc áp dụng nguyên tắc, phương pháp định giá đất để xây dựng bảng giá đất còn nhiều điểm chưa phù hợp Thực tế cho thấy, mức giá đất nông nghiệp tại khu vực có điều chỉnh quy hoạch mặc dù quy hoạch chưa thực hiện lại cao hơn so với lúc chưa quy hoạch
Về việc chênh lệch giá đất trước và sau khi thu hồi, đơn cử cho thấy đối với những hộ gia đình bị mất đất, mất nhà mặt đường thiệt thòi hơn so với các hộ gia đình, cá nhân được hưởng lợi từ việc GPMB ra mặt đường, họ phải di chuyển đến nơi ở khác chưa thể thuận tiện như vị trí đất đã bị thu hồi, dẫn tới nhiều tình trạng tiêu cực, gây mâu thuẫn trong dân
Về vấn đề liên quan tới trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tổ chức bồi thường, nhiều dự án đã được quy hoạch nhưng không được thực hiện vì thiếu tiền bồi thường, đất của dự án bị sử dụng sai mục đích và do đã nằm trong quy hoạch nên người dân mất đất cũng không thể sử dụng vào mục đích
cá nhân
2.1.1.3 Quyền được bố trí tái định cư
Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu
Trang 33nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó Quyền được TĐC cũng là một trong những quyền được pháp luật ghi nhận khi người dân bị Nhà nước thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2013 đã có những quy định hết sức cụ thể và chặt chẽ với nhiều nội dung mang chiều hướng tiến bộ, quan tâm sâu sắc tới sự ổn định cuộc sống ở nơi ở mới của người có đất bị thu hồi Cụ thể, Điều 73, Luật Đất đai 2013 và Khoản 1, Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở như sau:
"Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:
Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;
Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở"
Điều 85, 86 Luật Đất đai 2013 quy định việc lập và thực hiện dự án bố trí TĐC cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở, theo đó trong trường hợp người này, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở có quyền được thông báo về dự kiến phương án bố trí TĐC và được bố trí TĐC trong các trường hợp:
- Người có đất thu hồi được bố trí TĐC tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất
có dự án TĐC hoặc có điều kiện bố trí TĐC Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng
- Người có đất thu hồi được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất TĐC tối thiểu trong trường hợp được bố trí TĐC mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất TĐC tối thiểu (quy định tại Điều 27 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014)
Các quy định về quyền được TĐC của người có đất bị thu hồi nêu trên cho thấy chính sách TĐC đã tạo điều kiện cho việc thực hiện chủ trương thu hồi đất, tạo
Trang 34điều kiện cho người dân có đất bị thu hồi được đảm bảo về quyền và những lợi ích nhất định trong từng trường hợp cụ thể của hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất, cũng
từ đó tránh phát sinh những khiếu kiện không đáng có khi có sự so sánh giữa các hộ gia đình bị ảnh hưởng trong quá trình GPMB và bố trí TĐC Tuy nhiên, cần phải xác định rõ, TĐC không chỉ tác động đến cuộc sống và sinh kế của các hộ phải di chuyển nơi ở, mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư cạnh nơi thu hồi đất và cả nơi tiếp nhận người TĐC, do các xáo trộn về xã hội, tài sản, thu nhập, sinh kế và cả
về cung ứng các dịch vụ cơ bản Đặc biệt, hướng tới lợi ích thiết thực của người dân, đảm bảo tâm lý yên tâm khi di chuyển đến nơi ở mới, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước và của chủ đầu tư, Luật Đất đai 2013 có những quy định mới hết sức tiến bộ mà trên thực tế nếu nghiêm túc thực hiện thì quyền và lợi ích của người dân được đảm bảo rất tốt Cụ thể: Luật Đất đai 2013 bổ sung quy định cụ thể về lập và thực hiện dự án TĐC (Điều 85) theo hướng: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án TĐC trước khi thu hồi đất Quy định khu TĐC tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền Cùng với đó, sự thay đổi được đánh giá là khá thiết thực và quan trọng đối với người dân nói chung và đặc biệt là đối với người có đất bị thu hồi nói riêng
đó là: Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở
hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư (khoản 3 Điều 85 Luật đất đai 2013) Đây là
quy định tiến bộ và nhận được sự đồng thuận, nhất trí cao của đại đa số người dân, thể hiện sự quan tâm tới việc ổn định cuộc sống của người dân sau khi thu hồi đất,
không đẩy người có đất bị thu hồi rơi vào tình cảnh màn trời chiếu đất hoặc nhà ở TĐC cho người có đất bị thu hồi ở tình trạng không điện, không nước, không có
điểm sinh hoạt dân cư chung, tình trạng nhà xuống cấp nghiêm trọng đã từng xảy ra
trong thời gian qua tại nhiều địa phương trong cả nước Đồng thời quy định này cũng nhằm gắn trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc xây dựng nhà ở TĐC cho người dân Quy định mới này trong Luật Đất đai 2013 giúp cho người dân có cơ hội được biết, được bàn và được kiểm tra chất lượng công trình TĐC của họ trước khi thu hồi đất, đảm bảo tâm lý yên tâm để ổn định cuộc sống sau khi thu hồi Trong trường hợp chất lượng nhà ở, khu TĐC không đảm bảo thì người dân có quyền kiến nghị các cơ quan chức năng, thậm chí có quyền từ chối nhận nhà ở TĐC nếu chúng không đảm bảo an toàn và ổn định cuộc sống cho người dân
Trang 35Bên cạnh đó, Luật Đất đai 2013 quy định rõ hơn về quy trình bố trí TĐC
cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở như: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt có trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người
có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp
xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định
cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định
cư Nội dung thông báo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư; dự kiến bố trí tái định cư cho người có đất thu hồi Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư (Khoản 1 và 2 Điều 86 Luật Đất đai 2013)
Quy định tiến bộ là vậy, song quan sát trên thực tế cho thấy, áp dụng pháp luật về TĐC chưa được như mong muốn đặt ra Quyền lợi của người dân chưa thực
sự đảm bảo ở nơi TĐC mới Ví như trong đô thị, khi thực hiện TĐC thì hầu hết là thu hồi đất cho các dự án xây dựng công trình sự nghiệp công, khu đô thị mới, khu nhà ở, cầu đường và công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu văn hóa thể thao, vui chơi giải trí, siêu thị và ngay cả cho dự án TĐC Các khu TĐC thường ở ven nội, thậm chí ra cả ngoại thành để có đất rẻ, khiến người đến ở bị tách xa địa bàn mưu sinh, sống trong mô hình nhà ở "công nghiệp" không gắn với phương thức kiếm sống quen thuộc nên vẫn còn tình trạng người dân dời bỏ khu TĐC, dẫn đến hoang hóa lãng phí nguồn sinh lực đầu tư Còn TĐC nông thôn và miền núi được thực hiện khi thu hồi đất cho các dự án hạ tầng cấp quốc gia cũng như cấp địa phương như cầu, đường, cảng, sân bay, đặc biệt là các công trình hồ chứa nước cho thủy lợi, thủy điện; bảo vệ và phát triển rừng; khu công nghiệp; khu dân cư nông thôn mới; bệnh viện, trường học, chợ, nghĩa địa, công trình tôn giáo Các nhà ở được bố trí tập trung như khu đô thị, vừa không phù hợp thói quen sinh sống của người dân, vừa xa nơi sản xuất; quy hoạch chưa tính các yếu tố đặc điểm quần cư đặc thù, đặc biệt với các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và văn hóa truyền thống đặc trưng riêng
Trang 362.1.1.4 Quyền được hỗ trợ
Khoản 14, Điều 4 Luật Đất đai 2013 có nêu "Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất
và phát triển"
Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 83 Luật Đất đai năm 2013 thì
"Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ" Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:
a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất
Chính phủ ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành
từ ngày 1-7-2014, việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo quy định sau đây:
Đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất gồm các trường hợp sau: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại Điểm a khoản này nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được UBND cấp
xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ ổn định sản xuất
Điều kiện để được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất thực hiện theo quy định sau đây: Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn
Trang 37đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất thuộc đối tượng quy định đã được cấp GCNQSDĐ hoặc đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông trường, lâm trường thì phải có hợp đồng giao khoán sử dụng đất
Việc hỗ trợ ổn định đời sống cho các đối tượng được thực hiện theo quy định sau: Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng
Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng Diện tích đất thu hồi quy định tại Điểm
a Khoản này được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của UBND cấp có thẩm quyền Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 1 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương
Việc hỗ trợ ổn định sản xuất thực hiện theo quy định sau: Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, bao gồm: Hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp Đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì được hỗ trợ ổn định sản xuất bằng tiền với mức cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 3 năm liền kề trước đó Thu nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính
đã được kiểm toán hoặc được cơ quan thuế chấp thuận; trường hợp chưa được kiểm toán hoặc chưa được cơ quan thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế
Trang 38Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản của các nông, lâm trường quốc doanh thì được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo hình thức bằng tiền Người lao động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng thời gian trợ cấp không quá 6 tháng
b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;
Theo Điều 84 Luật đất đai 2013, quy định:
"1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm
Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh
2 Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ
mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm
3 Căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người có đất thu hồi là đất nông nghiệp, đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm được lập và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải tổ chức lấy ý kiến và có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến của người có đất thu hồi"
Trang 39c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở
Điều 86 của Luật đất đai 2013 quy định:
- Người có đất ở bị thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở phải thông báo về dự kiến phương án bố trí TĐC và thông báo được niêm yết công khai
ít nhất là 15 ngày tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi TĐC trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí TĐC.Nội dung thông báo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà TĐC, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà TĐC; dự kiến
bố trí TĐC cho người có đất thu hồi
- Người có đất thu hồi được bố trí TĐC tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất
có dự án TĐC hoặc có điều kiện bố trí TĐC Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.Phương án bố trí TĐC đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ
sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi TĐC
- Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi TĐC, giá bán nhà ở TĐC
do UBND cấp tỉnh quyết định
- Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí TĐC mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất TĐC tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất TĐC tối thiểu
Và theo điểm c Khoản 2 Điều 83 của Luật đất đai năm 2013 được thực hiện như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà ở TĐC mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất TĐC tối thiểu quy định tại Điều 27 của Nghị định này thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất TĐC tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất quy định tại Điều 27 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, suất TĐC tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền để phù hợp với việc lựa chọn của người được bố trí TĐC
- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ TĐC UBND cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hồi, số nhân khẩu của hộ gia đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ cho phù hợp
Trang 40Có thể nhận thấy rằng, bên cạnh các quy định về bồi thường thì hỗ trợ đối với người có đất bị thu hồi trong từng trường hợp cũng được quy định khá cụ thể, chi tiết Tuy nhiên trong thực tế, khi áp dụng những quy định này vẫn còn có những bất cập như: Chính sách hỗ trợ cho người dân để xác định, lựa chọn việc làm, lựa chọn hướng chuyển đổi nghề nghiệp, việc tổ chức đào tạo, cho học nghề đối với người dân bị thu hồi đất là rất khó, đặc biệt là mỗi vùng miền, địa phương lại có những phương thức và hình thức sản xuất khác nhau Bên cạnh đó, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn hạn chế tiếp nhận, tuyển dụng số lao động địa phương, những người có đất bị thu hồi Chính sách hỗ trợ không đủ, đặc biết người có đất bị thu hồi hết đất nông nghiệp, thu hồi hết đất, không biết làm gì, vì không có tay nghề, chuyên môn kĩ thuật để xin vào làm các doanh nghiệp…
2.1.1.5 Quyền khiếu nại trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo
thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Luật khiếu nại, 2011)
Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan, tổ chức, công dân đề nghị cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính đó xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Trường Đại học Luật Hà Nội 2008)
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Luật tố cáo, 2011)
Tố cáo về đất đai là sự phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những
hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộc các cơ quan, đơn vị đó hoặc của những người khác gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích của người sử dụng đất