Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là xây dựng, hoàn thiện pháp luật về phiên tòa phúc thẩm dân sự khoa học, hợp lý, bảo đảm tranh tụng đáp ứng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
NGUYỄN THỊ THU TRÀ
PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
NGUYỄN THỊ THU TRÀ
PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380103
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI THỊ HUYỀN
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ
ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Thu Trà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Ban giám hiệu và các thầy cô giáo Khoa Pháp luật Dân sự, Khoa Đào tạo sau đại học trường Đại học Luật Hà Nội, sau một thời gian nghiên cứu, thực hiện tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ: “ Phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn”
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học và toàn thể quý Thầy Cô trong Khoa Pháp luật Dân sự đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Bùi Thị Huyền người trực tiếp hướng dẫn, dành nhiều tâm huyết, thời gian, công sức để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban cán sự đảng, Lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã quan tâm, hỗ trợ cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã luôn đồng hành, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
Tuy nhiên do kiến thức của bản thân còn hạn chế, đề tài luận văn thạc
sĩ chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy Cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Lạng Sơn, ngày 08 tháng 8 năm 2018
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Trà
Trang 5TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ 6
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ 6
1.1.1 Khái niệm phiên tòa phúc thẩm dân sự 6
1.1.2 Đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm dân sự 9
1.1.3 Ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm dân sự 11
1.2 NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ 14
1.2.1 Quy định chung về phiên tòa phúc thẩm dân sự 14
1.2.2 Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự 18
1.2.3 Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm dân sự 37
Kết luận Chương 1 43
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN VÀ KIẾN NGHỊ 44
2.1 SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI CỦA TỈNH LẠNG SƠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN 44
2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN 46
2.2.1 Tình hình xét xử phúc thẩm các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn 46
Trang 72.2.2 Những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về phiên tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn và nguyên nhân 49
2.3 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN 64
2.3.1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật về phiên tòa phúc thẩm dân sự 642.3.2 Kiến nghị nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật về phiên tòa phúc thẩm dân
sự 69
Kết luận chương 2 73 KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển nhanh và mạnh của nền kinh
tế, Việt Nam đang dần trở thành một trong những nước có nhiều thành tựu về văn hóa, xã hội trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên việc phát triển nhanh cũng đồng nghĩa với các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động nảy sinh đa dạng và phức tạp Để giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động đòi hỏi phải tiến hành cải cách tư pháp triệt để, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện, thống nhất, đặc biệt là xây dựng thủ tục tố tụng ổn định, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội
Trước những yêu cầu của việc đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực, để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung cũng như đổi mới thủ tục tố tụng dân sự nói riêng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, ngày 24/5/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020 Tiếp đó, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Cả hai nghị quyết này đều xác định nhiều định hướng quan trọng, toàn diện cho việc xây dựng hệ thống pháp luật và chương trình cải cách tư pháp đến năm 2020
Ngày 25/11/2015, Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016
So với BLTTDS năm 2004, BLTTDS năm 2015 có nhiều điểm mới cơ bản về thủ tục tố tụng dân sự tại Việt Nam, trong đó có nhiều quy định thể hiện việc tiếp thu kinh nghiệm của các nước và tinh thần hội nhập quốc tế, đặc biệt là thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm dân sự
Phúc thẩm dân sự là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Thủ tục phúc thẩm được tiến hành sau thủ tục sơ thẩm,
Trang 9đây cũng là nội dung của nguyên tắc xét xử hai cấp mà hệ thống Tòa án của Việt Nam cũng như của nhiều nước trên thế giới áp dụng, nhằm đảm bảo tính thận trọng cho các phán quyết nhân danh Nhà nước Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều sửa đổi, bổ sung liên quan đến việc thực hiện thủ tục này nhưng trên thực
tế áp dụng vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc chưa được hướng dẫn rõ ràng, một
số nơi có nhiều vi phạm trong thực hiện các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm gây ảnh hưởng đến hiệu quả công tác xét xử phúc thẩm, không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và Nhà nước
Với mục đích nghiên cứu sâu kỹ hơn các quy định về phiên tòa phúc thẩm, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong thủ tục tố tụng phúc thẩm đồng thời tìm ra nguyên nhân, đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về phiên tòa phúc thẩm, tôi đã chọn đề tài nghiên
cứu:"Phiên tòa phúc thẩm dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân
dân tỉnh Lạng Sơn" làm luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Sau khi BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung
năm 2011 (gọi tắt là BLTTDS năm 2011) được ban hành, đã có nhiều công
trình nghiên cứu pháp lý đề cập đến phiên tòa phúc thẩm như đề tài "Thực
trạng hoạt động xét xử phúc thẩm và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao" của Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC) năm 2006; bài viết “Toà án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án như
thế nào khi Tòa cấp sơ thẩm triệu tập sai tư cách người tham gia tố tụng” của
tác giả Nguyễn Đình Huề đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND) năm
2005; bài viết “Một số vấn đề về thủ tục phúc thẩm dân sự” của tác giả
Vương Thanh Thúy đăng trên Tạp chí Luật học, đặc san góp ý dự thảo BLTTDS năm 2004 các bài viết của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà như bài
viết "Chế định phúc thẩm vụ án dân sự" đăng trên đặc san Tạp chí Luật học năm 2005, bài viết “Đình chỉ xét xử phúc thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm”, đăng trên Tạp chí Luật học năm 2010, bài
Trang 10viết “Việc rút yêu cầu của đương sự ở giai đoạn phúc thẩm” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp năm 2010, bài viết "Bàn về phạm vi xét xử phúc
thẩm vụ án dân sự” đăng trên Tạp chí Kiểm sát năm 2010, bài viết "Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự” đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật năm 9/2010, bài viết
"Người có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm dân sự và trách nhiệm
của người kháng cáo” đăng trên Tạp chí Luật học năm 2014; tác giả Nguyễn
Duy Kiên có bài viết “Một số vấn đề về chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo Bộ
luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011” đăng trên Tạp chí TAND
năm 2012 Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Bích Hải về "Phiên tòa
phúc thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS Việt Nam" năm 2009, bảo vệ tại
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận án tiến sĩ luật học“Phúc thẩm dân sự
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, bảo vệ
tại Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2011; bài viết về "Thủ tục tố tụng dân
sự của một số nước châu Âu và so sánh với thủ tục tố tụng dân sự Việt Nam”
của tác giả Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Luật học năm 2015
Tuy nhiên BLTTDS năm 2015 được Quốc hội ban hành với nhiều quy định mới về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự nên cần được tiếp tục nghiên cứu một cách đầy đủ về phiên tòa phúc thẩm dân sự theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự (TTDS) hiện hành
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là xây dựng, hoàn thiện pháp luật
về phiên tòa phúc thẩm dân sự khoa học, hợp lý, bảo đảm tranh tụng đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” nhằm bảo đảm các phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên tòa xét xử, coi đây là một khâu đột phá của hoạt động tư pháp, nhằm đảm bảo đánh giá đúng bản án, quyết định sơ thẩm, khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 11của các đương sự Bên cạnh đó nhằm nâng cao chất lượng phiên tòa phúc thẩm của TAND tỉnh Lạng Sơn
Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề cơ bản:
- Nghiên cứu những vấn đề chung về phiên tòa phúc thẩm dân sự như khái niệm, đặc điểm phiên tòa phúc thẩm dân sự, phân tích, đánh giá các quy định của BLTTDS năm 2015 về phiên tòa phúc thẩm dân sự
- Đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về phiên tòa phúc thẩm dân sự tại TAND tỉnh Lạng Sơn, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về phiên tòa phúc thẩm dân sự tại TAND tỉnh Lạng Sơn và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó Từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phiên tòa phúc thẩm dân sự của TAND tỉnh Lạng Sơn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề chung về phiên tòa phúc thẩm dân sự; các quy định của BLTTDS năm 2015 về phiên tòa phúc thẩm dân sự
và thực tiễn xét xử phúc thẩm của TAND tỉnh Lạng Sơn từ năm 2013 đến nay
Phiên tòa phúc thẩm là một đề tài rộng, bao gồm nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn Tuy nhiên trong khuôn khổ phạm vi luận văn thạc sĩ Luật, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung các quy định của BLTTDS năm 2015 về một số quy định chung về phiên tòa phúc thẩm (người tiến hành tố tụng và người tham gia phiên tòa phúc thẩm dân sự, phạm vi xét xử phúc thẩm), thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm, quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm; thực tiễn áp dụng phiên tòa phúc thẩm tại TAND tỉnh Lạng Sơn Luận văn không nghiên cứu về phiên tòa phúc thẩm dân sự theo thủ tục rút gọn và phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự
Luận văn cũng chỉ nghiên cứu về phiên tòa xét xử phúc thẩm dân sự đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà không nghiên cứu về phiên
Trang 12tòa xét xử phúc thẩm dân sự đối với các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự chưa có hiệu lực pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Quá trình nghiên cứu đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp lịch sử
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Những đóng góp của Luận văn thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây: + Làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm dân sự + Phân tích, đánh giá đúng thực trạng pháp luật hiện hành về phiên tòa phúc thẩm dân sự, chỉ ra những hạn chế, bất cập của BLTTDS năm 2015 về vấn đề này
+ Phân tích, đánh giá đúng thực tiễn áp dụng quy định của BLTTDS về phiên tòa phúc thẩm tại TAND tỉnh Lạng Sơn, chỉ rõ các bất cập trong quá trình áp dụng
+ Đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện và bảo đảm áp dụng pháp luật tố tụng về phiên tòa phúc thẩm dân sự tại TAND tỉnh Lạng Sơn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về phiên tòa phúc thẩm dân sự
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về
phiên tòa phúc thẩm dân sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn và kiến nghị
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm phiên tòa phúc thẩm dân sự
Để làm rõ khái niệm phiên tòa phúc thẩm dân sự, cần làm rõ ba khái
niệm: “phiên tòa”, “vụ án dân sự”,“phúc thẩm”
“Phiên tòa” là một khái niệm đến nay chưa được định nghĩa cụ thể
trong các văn bản pháp luật Theo từ điển Tiếng Việt “Phiên tòa” được giải
thích là lần họp để xét xử của Tòa án (1) Tuy nhiên có thể hiểu đây là lần họp đặc biệt và các trình tự, thủ tục của lần họp này do pháp luật về tố tụng quy định chặt chẽ mà ở đó HĐXX vụ án không thể tùy tiện thêm bớt các bước trong quá trình xét xử hoặc làm sai các trình tự này Nếu vi phạm các quy định sẽ ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án
Hiện nay, pháp luật TTDS Việt Nam quy định ba loại thủ tục để giải quyết các vụ việc dân sự: Thủ tục giải quyết VADS, thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả nghiên cứu phiên tòa phúc thẩm để giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục thông thường Do đó, cần làm rõ khái niệm vụ án dân sự
để phân biệt phiên tòa phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự và phiên tòa phúc thẩm giải quyết việc dân sự Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, trong các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động tồn tại ba khái niệm: vụ án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án lao động và không có sự phân biệt giữa khái niệm vụ án dân sự và việc dân sự Theo đó, vụ án dân sự bao gồm những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân và gia đình BLTTDS năm 2004 ra đời đã thống nhất ba loại thủ tục
(1) Trung tâm Từ điển học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, , tr 779
Trang 14TTDS, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động thành thủ tục TTDS Theo đó, thủ tục
tố tụng dân sự là thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa hẹp, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại và lao động Khái niệm "vụ việc dân sự" bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự Khái niệm "vụ án dân sự" dùng để chỉ các tranh chấp dân sự theo
nghĩa hẹp, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động mà
được Tòa án thụ lý, giải quyết Khái niệm "việc dân sự" dùng để chỉ các yêu
cầu dân sự theo nghĩa hẹp, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động mà được Tòa án thụ lý, giải quyết Có thể thấy, về bản chất vụ án dân sự là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Các tranh chấp dân sự (theo nghĩa rộng) này được các cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục TTDS nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức Do
đó, có thể hiểu vụ án dân sự là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ
thể trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục TTDS để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và được Tòa
án thụ lý để giải quyết
“Phúc thẩm” theo Từ điển thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật
Hà Nội thì phúc thẩm là việc “xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định dân sự
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, bị kháng nghị” (2)
Tuy nhiên có thể hiểu khái niệm “Phúc thẩm” theo các góc độ khác nhau (3)
Dưới góc độ là một giai đoạn trong TTDS, phúc thẩm là giai đoạn được tiến hành sau giai đoạn xét xử sơ thẩm So với các giai đoạn khác, phúc thẩm dân sự có các đặc trưng sau đây:
- Phúc thẩm là việc xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định của
(2) Từ điển Thuật ngữ luật học của trường Đại học Luật Hà Nội , Nxb Công an nhân dân, năm 1999, tr 221
bảo vệ tại trường đại học Luật Hà Nội, năm 2011
Trang 15Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
- Nhiệm vụ trực tiếp của phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và có căn
cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
- Chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm bao gồm: Tòa án cấp phúc thẩm, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm; người kháng cáo, đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; những người tham gia tố tụng khác nếu Tòa án xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị
- Giai đoạn phúc thẩm là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn sơ thẩm, được bắt đầu ngay sau khi bản án sơ thẩm được tuyên và kết thúc khi bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc được thay thế bằng bản án, quyết định phúc thẩm Song, không phải vụ án nào cũng phải trải qua giai đoạn xét
xử phúc thẩm mà giai đoạn này chỉ diễn ra khi có kháng cáo của các đương
sự, người đại diện của đương sự hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát Giai đoạn phúc thẩm có thể dài, ngắn khác nhau tùy thuộc vào việc kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể và quá trình giải quyết đối với từng vụ án cụ thể Giai đoạn xét xử phúc thẩm sẽ kết thúc sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản
án hoặc quyết định về vụ án dân sự đó
Dưới góc độ là một thủ tục tố tụng, phúc thẩm dân sự bao gồm các thủ tục: kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm
và phiên tòa phúc thẩm Như vậy, phiên tòa phúc thẩm là một trong những thủ
tục của thủ tục phúc thẩm dân sự Như đã phân tích ở trên, không phải tất cả
các vụ án sau khi xét xử sơ thẩm đều được xem xét theo thủ tục này, thủ tục xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Bên cạnh đó, không phải vụ án dân sự nào được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đều phải trải qua thủ tục xét xử tại phiên tòa phúc thẩm mà việc giải quyết vụ án có thể dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm khi có căn cứ và Tòa án ra quyết định đình chỉ xét
Trang 16xử phúc thẩm
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm phiên tòa phúc thẩm dân sự như sau:
Phiên tòa phúc thẩm dân sự là phiên họp của Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự đã được Tòa án cấp dưới giải quyết bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm xác định tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đó”
1.1.2 Đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm dân sự
Trong TTDS có phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm và phiên tòa tái thẩm Mỗi phiên tòa có những đặc điểm, nhiệm vụ
và ý nghĩa riêng Qua việc nghiên cứu đề tài cho thấy phiên tòa phúc thẩm dân sự có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, phiên tòa phúc thẩm dân sự là một thủ tục quan trọng của thủ
tục phúc thẩm dân sự để Tòa án xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Theo nguyên tắc
“chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” (hay còn gọi là nguyên tắc
hai cấp xét xử) thì khi đương sự, người đại diện của đương sự thực hiện quyền kháng cáo, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại vụ án sẽ là cơ sở làm phát sinh thủ tục phúc thẩm Quyền kháng cáo của đương sự là biểu hiện cụ thể của quyền dân chủ công dân được pháp luật bảo vệ, do đó dù bản án, quyết định dân sự sơ thẩm được coi là xét xử đúng nhưng nếu có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp trên vẫn phải tiến hành thủ tục phúc thẩm dân sự để kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm
Thứ hai, phiên tòa phúc thẩm trong TTDS là việc Tòa án xét xử lần thứ
hai vụ án dân sự khi bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Nếu như phiên tòa sơ thẩm là việc Tòa án xét xử lần đầu vụ án dân sự thì phiên tòa phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên xét xử lần thứ hai đối với vụ án Khác với phiên tòa sơ thẩm xuất phát từ yêu cầu khởi kiện vụ án dân sự của nguyên đơn; phiên tòa phúc thẩm trong TTDS được tiến hành trên cơ sở đơn
Trang 17kháng cáo của các đương sự hoặc quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát trong thời hạn pháp luật quy định
Thứ ba, phiên tòa phúc thẩm trong TTDS do Tòa án cấp trên trực tiếp
của Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án tiến hành Theo pháp luật TTDS Việt Nam, thành phần HĐXX phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng thông thường gồm ba Thẩm phán - đó là những người có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm xét xử Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức TAND năm 2014 thì TAND cấp tỉnh xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện và TAND cấp cao xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh Do đó Tòa án thực hiện việc xét xử phúc thẩm luôn là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm bản
án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật
Thứ tư, nội dung của việc xét xử phúc thẩm là HĐXX phúc thẩm kiểm
tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm trên cơ sở phạm vi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Đây là đặc điểm rất khác biệt của phiên tòa phúc thẩm với phiên tòa sơ thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm dân sự Nếu nội dung của việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nội dung của của việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực bị kháng nghị thì nội dung của việc xét xử tại phiên tòa phúc thẩm lại nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm Nghĩa là xem xét xem bản án, quyết định sơ thẩm có căn cứ thực tế hay không? Có đúng quy định của pháp luật nội dung hay không? Bản án, quyết định có đáp ứng đúng thủ tục pháp luật không?
Thứ năm, phiên tòa phúc thẩm được tiến hành công khai với sự có mặt
của người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị
Trang 18Khác với phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa sơ thẩm dân sự được tiến hành công khai với sự có mặt của tất cả những người tham gia tố tụng Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị nên không nhất thiết tất
cả các đương sự đều phải tham gia phiên tòa phúc thẩm Để đảm bảo cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị được chính xác, khách quan và đúng pháp luật thì phiên tòa phúc thẩm được tiến hành công khai với sự có mặt của người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Còn phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm không được tiến hành công khai và các đương sự cũng như những người tham gia tố tụng chỉ được triệu tập khi cần thiết
1.1.3 Ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm dân sự
Trong quan hệ dân sự, khi một chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm mà không thể tự mình bảo vệ được thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ Hành vi khởi kiện tại Tòa án của cá nhân, cơ quan, tổ chức là
sự kiện pháp lý tiền đề phát sinh vụ án dân sự Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND quy định Tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét xử, có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp dân sự, đảm bảo các phán quyết được ban hành phải công bằng, trả lại cho các chủ thể tham gia quyền và lợi ích hợp pháp của họ Tòa án thực hiện các quy định của pháp luật TTDS thông qua các giai đoạn khác nhau như nhận đơn khởi kiện, thụ lý
vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Mỗi giai đoạn đều có tính độc lập tương đối, có mục đích, đặc điểm và
ý nghĩa riêng Với quy định bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (4) thì việc áp dụng các quy định của TTDS trong xét xử tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa đặc biệt cả về chính trị, xã hội và pháp lý
- Ý nghĩa về mặt chính trị
Trang 19
Trong xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, của cộng đồng được bảo vệ thì trật tự chính trị, trật tự xã hội mới có cơ sở được
ổn định Một quốc gia có pháp luật ở vị trí thượng tôn sẽ là tiền đề để xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh, đảm bảo duy trì được hai vấn đề cơ bản là dân chủ và quyền lực Nhà nước
Qua xét xử vụ án dân sự tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm khắc phục những vấn đề còn sai sót, thiếu chính xác có thể có trong bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được thực hiện trong thực
tế, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Mặt khác trên cơ sở quy định pháp luật, HĐXX phúc thẩm có thể phán quyết giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực nếu quyết định đó đúng pháp luật, một lần nữa khẳng định tính đúng đắn, nghiêm túc của bản án, quyết định sơ thẩm
- Ý nghĩa về mặt xã hội
Phiên tòa phúc thẩm dân sự vẫn đảm bảo áp dụng nghiêm túc nguyên tắc xét xử công khai như phiên tòa sơ thẩm dân sự Trong trường hợp xét xử kín, bản án vẫn được tuyên công khai nhằm đảm bảo tính minh bạch của các phán quyết Thành phần HĐXX phúc thẩm gồm 03 Thẩm phán là những người có khả năng chuyên môn cao, đủ kiến thức pháp luật cần thiết để thực hiện việc kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ trong các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới Do đó các phán quyết của HĐXX phúc thẩm đảm bảo tính chính xác, đúng pháp luật và độ tin cậy cao
Pháp luật TTDS Việt Nam quy định “ … mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần
xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án” (5)
và Tòa án có trách nhiệm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong thực hiện quyền
Trang 20và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong TTDS Phiên tòa phúc thẩm xem xét lại vụ án một cách công khai, mọi người dân có quyền tham dự, các phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị đều được đưa ra xem xét, tranh luận công khai, các chủ thể có liên quan đều có quyền đưa ra quan điểm của mình về các phán quyết đó Thông qua các ý kiến tranh luận công khai, xem xét chứng cứ, giải thích pháp luật của HĐXX phúc thẩm, những người tham dự phiên tòa, người tham gia tố tụng hiểu biết thêm về pháp luật, nhận thức đầy đủ hơn về đường lối, chính sách của Đảng, nâng cao ý thức trong chấp hành pháp luật cho người dân, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Luật Tổ chức TAND năm 2014, quy định: “Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao có nhiệm vụ lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án quyết định pháp luật đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu và áp dụng trong xét xử”.Ngày 28/10/2015, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP “Về quy trình lựa chọn, công bố và
áp dụng án lệ” Như vậy bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật nếu đáp ứng
đủ các tiêu chuẩn là nguồn phát triển án lệ, là cơ sở để Tòa án cấp dưới áp dụng pháp luật một cách thống nhất Để ý nghĩa này được thực hiện tốt yêu
Trang 21cầu được đặt ra đối với Tòa án cấp trên là chất lượng xét xử phúc thẩm phải được nâng cao, bản án phúc thẩm phải thật sự công bằng, đúng pháp luật
1.2 NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ
1.2.1 Quy định chung về phiên tòa phúc thẩm dân sự
1.2.1.1 Những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm dân sự
Theo quy định tại Điều 64 BLTTDS năm 2015, thành phần những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm gồm 03 Thẩm phán, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp (trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa) và Thư ký Tòa án
So với HĐXX sơ thẩm, HĐXX phúc thẩm không có Hội thẩm nhân dân tham gia, HĐXX phúc thẩm gồm ba Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán giữ vai trò là chủ tọa phiên tòa Đây là điểm khác biệt lớn nhất về thành phần những người tiến hành tố tụng của phiên tòa phúc thẩm so với phiên tòa sơ thẩm Xuất phát từ tính chất, đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị nên HĐXX phúc thẩm phải bao gồm những người có khả năng chuyên môn cao, đủ kiến thức pháp luật cần thiết để thực hiện mục đích này Ngoài ra BLTTDS năm 2015 cũng quy định thêm về sự có mặt của Thẩm phán dự khuyết (6) Theo đó trong quá trình xét xử, nếu có thành viên nào của HĐXX vì lý do bất khả kháng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa được nữa nhưng có Thẩm phán dự khuyết và
họ có mặt tại phiên tòa ngay từ đầu thì những người này được tham gia xét xử tiếp vụ án Quy định về việc thay thế thành viên trong trường hợp đặc biệt này nhằm mục đích tránh phải hoãn phiên tòa, gây ảnh hưởng đến tiến độ xét xử
vụ án
Ngoài ra, để đảm bảo cho việc xét xử được đúng pháp luật, khách quan, khoản 2 Điều 294 BLTTDS năm 2015 vẫn quy định Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia tất cả phiên tòa phúc thẩm Tuy nhiên BLTTDS cũng
Trang 22quy định, đối với trường hợp Kiểm sát viên được Viện trưởng phân công tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm mà vắng mặt thì HĐXX vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm Quy định này nhằm bảo đảm cho việc xét xử, giải quyết vụ
án dân sự được nhanh chóng, kịp thời, đề cao trách nhiệm của Kiểm sát viên và của Viện kiểm sát
Để đảm bảo sự vô tư, khách quan của các chủ thể tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án Pháp luật TTDS đã quy định những trường hợp người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp có thể dẫn đến sự không vô tư của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 52 BLTTDS năm 2015 Tuy vậy, mỗi người tiến hành tố tụng có những nhiệm vụ, quyền hạn riêng nên căn cứ thay đổi những người tiến hành tố tụng được pháp luật quy định có những điểm không giống nhau: Nếu là Thẩm phán, ngoài những trường hợp quy định chung như trên thì còn phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong các trường hợp được quy định tại Điều 53 BLTTDS năm 2015 Nếu là Thư ký Tòa án, ngoài những trường hợp quy định chung như trên thì còn phải
từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong các trường hợp được quy định tại Điều 54 BLTTDS năm 2015 Nếu là Kiểm sát viên, ngoài những trường hợp quy định chung như trên thì cũng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên (7)
Thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 55, 56, 61, 62 BLTTDS năm
2015 Để đảm bảo tính minh bạch của các hoạt động TTDS, việc thay đổi người tiến hành tố tụng phải được thực hiện bằng văn bản
1.2.1.2.Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm dân sự
Để đảm bảo phán quyết của Tòa án chính xác, đúng pháp luật cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì những người có liên quan
Trang 23đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm cần phải được đảm bảo quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự Những người kháng cáo, kháng nghị đều phải được trực tiếp trình bày các yêu cầu kháng cáo, kháng nghị, bổ sung các chứng cứ, căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo quy định tại khoản 1 Điều 294 BLTTDS thì
những người tham gia phiên tòa phúc thẩm gồm: "Người kháng cáo, đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia phiên tòa Tòa án có thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị"
Người kháng cáo là người có quyền kháng cáo và có đơn kháng cáo hợp
lệ theo quy định tại Điều 271 và Điều 272 BLTTDS năm 2015 Theo đó người có quyền kháng cáo là đương sự, người đại diện hợp pháp của đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là các đương sự có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm Những người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án dân sự nhưng không được Tòa án sơ thẩm triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự thì không có quyền kháng cáo phúc thẩm Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 bổ sung thêm quyền kháng cáo của cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khác cũng có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm (8) Đơn kháng cáo hợp lệ là đơn kháng cáo do người có quyền kháng cáo thực hiện đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hình thức, nội dung và thời hạn thực hiện kháng cáo theo quy định của pháp luật
Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị là trường hợp kháng cáo, kháng nghị có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ mặc dù họ không kháng cáo, kháng nghị Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người giúp đương sự
(8) Bùi Thị Huyền (Chủ biên, năm 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Lao động.
Trang 24về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ, được Tòa
án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được triệu tập đến phiên tòa
Đối với những người tham gia tố tụng khác, Tòa án thực hiện triệu tập
họ đến phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp sự có mặt của họ cần thiết để làm sáng tỏ nội dung vụ án hoặc hỗ trợ việc làm sáng tỏ nội dung vụ án, ví dụ như người làm chứng, người phiên dịch, người giám định
1.2.1.3 Phạm vi xét xử phúc thẩm dân sự
Phạm vi xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 293, Mục 1, Chương
XVII của BLTTDS năm 2015, cụ thể: "Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại
phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị" Điều này có nghĩa là người có quyền kháng cáo chỉ có quyền kháng
cáo, Viện kiểm sát chỉ có quyền kháng nghị về những nội dung đã được giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết trong phạm vi những nội dung đã được giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm và trong nội dung của kháng cáo, kháng nghị hoặc những phần có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Quy định này nhằm đảm bảo tính ổn định của phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị cũng như tôn trọng quyền kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể Bên cạnh đó, để đảm bảo bản án, quyết định sơ thẩm trước khi được đưa ra thi hành là các bản án, quyết định đúng đắn, chính xác và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự thì Tòa án cấp phúc thẩm vẫn có thể xem xét phần khác của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị Có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị là trường hợp việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với phần này của bản án, quyết định sơ thẩm đòi hỏi phải xem xét, giải quyết đồng thời phần khác của bản án, quyết định sơ thẩm đó mặc dù phần này không bị kháng cáo, kháng nghị (9)
(9) Bùi Thị Huyền (Chủ biên, năm 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Lao động.
Trang 25Cần lưu ý về phạm vi xét xử phúc thẩm đó là Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét đối với kháng cáo, kháng nghị liên quan đến bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Nếu kháng cáo, kháng nghị về những nội dung chưa được xét xử tại cấp sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có thẩm quyền giải quyết Việc quy định phạm vi xét xử phúc thẩm có ý nghĩa cả về lý luận cũng như thực tiễn để giải quyết vụ án đúng
pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
1.2.2 Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự
Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành theo quy định tại Chương VII
BLTTDS năm 2015, từ Điều 293 đến Điều 315 BLTTDS, theo đó thủ tục phiên tòa phúc thẩm được tiến hành theo các bước: Thủ tục bắt đầu phiên tòa; thủ tục tranh tụng tại phiên tòa; thủ tục nghị án và tuyên án
1.2.2.1 Thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm dân sự
Chuẩn bị khai mạc và bắt đầu phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại các Điều 237, 239, 240, 241 và 242 của BLTTDS Điều đó có nghĩa thủ tục chuẩn bị khai mạc và bắt đầu phiên tòa phúc thẩm được thực hiện tương tự như thủ tục chuẩn bị khai mạc và bắt đầu phiên tòa sơ thẩm, gồm những công việc như chuẩn bị khai mạc phiên tòa, khai mạc phiên tòa và thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm
* Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Thư ký phiên tòa là người thực hiện các bước chuẩn bị khai mạc phiên tòa, đây là thủ tục bắt buộc, đảm bảo cho phiên tòa diễn ra có sự tham dự đầy
đủ của những người tham gia tố tụng, kịp thời phát hiện các trường hợp phải hoãn phiên tòa đồng thời đảm bảo trật tự của phòng xử án Theo Điều 237 BLTTDS năm 2015, trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký phiên tòa phải thực hiện các công việc sau:
- Phổ biến nội quy phiên tòa
- Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do
Trang 26- Ổn định trật tự trong phòng xử án
- Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi HĐXX vào phòng xử án
* Khai mạc phiên tòa
Khai mạc phiên tòa cũng là một trong những thủ tục bắt buộc tại phiên tòa phúc thẩm Theo quy định tại Điều 239 BLTTDS năm 2015, phần khai mạc phiên tòa phải thực hiện các nội dung sau:
- Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử Theo quy định của BLTTDS năm 2015, khi HĐXX vào phòng xử án,
Thư ký phiên tòa phải yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy, chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc Quyết định đưa vụ án ra xét xử Đối với trường hợp HĐXX quyết định hoãn phiên tòa thì khi mở lại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa không đọc lại Quyết định đưa vụ án ra xét xử Ngoài ra, thủ tục khai mạc phiên tòa phúc thẩm có điểm khác với phiên tòa sơ thẩm ở nội dung chủ tọa phiên tòa sau khi khai mạc phiên tòa phúc thẩm phải tuyên bố Tòa án xét xử lại vụ án nào, theo kháng cáo, kháng nghị của ai đối với bản án, quyết định của Tòa án nào
- Thư ký phiên tòa báo cáo HĐXX về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt (nếu có)
- Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng khác
Việc kiểm tra căn cước của đương sự và người tham gia tố tụng khác nhằm mục đích xác thực các thông tin về căn cước qua lời khai trực tiếp của những người kiểm tra và giúp Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện được những sai sót, nhầm lẫn có thể có trong các tài liệu của hồ sơ vụ án, góp phần xét xử đúng người, đúng việc Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của việc kiểm tra sự
có mặt của người tham gia phiên tòa và kiểm tra căn cước của đương sự nên
Trang 27nếu tại phiên tòa chủ tọa phiên tòa bỏ qua hoạt động này sẽ bị coi là vi phạm thủ tục tố tụng
- Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương sự và của người tham gia tố tụng khác
- Chủ toạ phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
- Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không
- Yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo đúng sự thật, nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên
- Yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch
So với BLTTDS năm 2004, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định liên quan đến việc yêu cầu người làm chứng, người giám định, người phiên dịch cam kết khai báo đúng sự thật, cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch và ngoài việc kiểm tra căn cước của đương sự, thì chủ tọa phiên tòa cũng có trách nhiệm kiểm tra căn cước của người tham gia tố tụng khác (10)
* Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
Sau khi phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự và người tham gia
tố tụng khác tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định và hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định xem họ có yêu cầu thay đổi ai không Trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì HĐXX phải
(10) Bùi Thị Huyền (Chủ biên, năm 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Lao động.
Trang 28xem xét, quyết định theo thủ tục do BLTTDS quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do (11)
Việc yêu cầu và giải quyết yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch được thực hiện theo quy định tại các Điều 52, 53, 54, 55, 56, 60, 61, 62, 83 và 84 BLTTDS năm 2015 Theo đó, yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch phải được ghi vào biên bản phiên tòa, HĐXX sau khi nghe ý kiến của người yêu cầu thay đổi sẽ thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số Trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc thay đổi người tiến hành tố tụng
được thực hiện theo như phần trình bày tại mục 1.2.3.1 của luận văn
Ngoài ra theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP ngày 16/3/2017 của Tòa án nhân dân tối cao, khi phổ biến quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong quá trình xét xử, giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, chủ tọa phiên tòa, phiên họp phải giải thích cho những người tham gia tố tụng biết về những bản án, quyết định được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và quyền của họ về việc yêu cầu Tòa
án không công bố những nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh
* Xem xét các trường hợp hoãn phiên tòa
BLTTDS năm 2015 cũng quy định về các trường hợp hoãn phiên tòa phúc thẩm, theo đó HĐXX phúc thẩm phải hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau đây (12)
:
Thứ nhất, Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm
vắng mặt thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm Đây là một quy định mới và hợp
lý của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS năm 2011, góp phần giải quyết những vướng mắc cho HĐXX trong trường hợp phải hoãn phiên tòa do Kiểm sát viên vắng mặt Bởi lẽ phiên tòa phúc thẩm được tiến hành nhằm giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên đương sự - những người có quyền và lợi
Trang 29ích liên quan đến vụ án Trong khi đó, Viện kiểm sát - người không có lợi ích nào liên quan đến vụ án tham gia phiên tòa chỉ để kiểm sát việc tuân theo pháp luật mà sự vắng mặt của họ lại quyết định đến việc hoãn phiên tòa là không công bằng với những người có liên quan đến giải quyết kháng cáo, kháng nghị(13)
Do đó, BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi Điều 266 của BLTTDS năm
2011 theo hướng nếu Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm vắng mặt thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa Tuy nhiên, trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì HĐXX sẽ hoãn phiên tòa nếu Kiểm sát viên vắng mặt, đảm bảo Viện kiểm sát được tham gia phiên tòa
để chứng minh kháng nghị của mình là có căn cứ và hợp pháp
Thứ hai, HĐXX phúc thẩm hoãn phiên tòa khi người kháng cáo, người
không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt Trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ
Thứ ba, người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà
vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người đó, trừ trường hợp người đó đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ
Trường hợp người kháng cáo vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa Đây là trường hợp mà người kháng cáo đã chuẩn bị tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan xảy ra đối với họ ngay tại thời điểm trước ngày Tòa án mở phiên tòa hoặc ngay trong thời điểm họ đang trên đường tới Tòa án để tham gia phiên tòa (do thiên tai, tai nạn, ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, gia đình có người thân chết…) nên họ không thể có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án
Trường hợp có nhiều người kháng cáo trong đó có người kháng cáo
(13) Bùi Thị Huyền (Chủ biên, năm 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Lao động.
Trang 30được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt nhưng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì coi như người đó từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án đưa vụ án ra xét xử Trong phần quyết định của bản án, Tòa án đình chỉ xét
xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt đó
Người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án tiến hành xét
xử vụ án
Thực tế xét xử cho thấy, việc xác định lý do vắng mặt là chính đáng hay không chính đáng là việc rất khó khăn cho HĐXX, do đó BLTTDS quy định trừ các trường hợp có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt thì việc người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì coi như từ bỏ quyền kháng cáo và Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án Đối với người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (không kể có lý do chính đáng hay không) thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án Quy định này của BLTTDS rất phù hợp với thực tế, giúp cho công tác xét xử được diễn ra thuận lợi và giảm
áp lực cho Thẩm phán về thời gian tiến hành tố tụng
Việc hoãn phiên tòa hay không sẽ do HĐXX thảo luận tại phòng nghị
án và quyết định Nếu phải hoãn phiên tòa, HĐXX phải ra quyết định bằng văn bản, thời hạn hoãn phiên tòa không quá 01 tháng, đối với phiên tòa xét xử
vụ án theo thủ tục rút gọn là 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa Trong quyết định hoãn phiên tòa phải nêu đầy đủ các nội dung về ngày, tháng năm ra quyết định; tên Toà án và họ, tên những người tiến hành tố tụng; vụ án được đưa ra xét xử; lý do của việc hoãn phiên toà; thời gian, địa điểm mở lại phiên toà Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết;
Trang 31đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp (14)
Khoản 2 Điều 298 BLTTDS năm 2015 cũng quy định nội dung chủ tọa phiên tòa tiến hành hỏi đương sự về các vấn đề:
(i) Hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay không
Để tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự thì tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự có quyền rút đơn khởi kiện, thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị và tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Vì vậy, BLTTDS năm 2015 giữ nguyên quy định của BLTTDS năm 2004 về việc rút đơn khởi kiện, thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị và tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án
Rút đơn khởi kiện là một trong các quyền tự định đoạt của nguyên đơn nên ở bất kì thời điểm nào của quá trình tố tụng nguyên đơn đều có quyền rút đơn khởi kiện của mình Khi việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Tòa án sẽ chấp nhận Vì vậy, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn có quyền rút đơn khởi kiện Tuy nhiên, việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn chỉ được chấp nhận nếu được sự đồng ý của bị đơn Bởi vì, khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết một hay nhiều quan hệ pháp luật thì đương sự phía bên kia phải bỏ thời gian, công sức và các chi phí cho việc theo kiện ở tại Tòa án cũng như họ muốn
Trang 32giải quyết dứt điểm quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự, xác định
cụ thể quyền và nghĩa vụ của mình để họ thực hiện cho xong nghĩa vụ (15)
Khoản 1 Điều 299 BLTTDS năm 2015 quy định trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì HĐXX phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:
- Trường hợp bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn
- Trường hợp bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn HĐXX phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật
(ii) Hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng
cáo, kháng nghị hay không
Để xử lý việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm,
khoản 3 Điều 298 BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định: “Trường hợp người
kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Tòa án chấp nhận việc rút kháng cáo, kháng nghị Trường hợp người kháng cáo, Viện kiểm sát bổ sung nội dung mới vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu thì Tòa án không xem xét nội dung đó”
Quy định này vừa bảo đảm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương
sự trong việc giải quyết vụ án dân sự nhưng cũng góp phần tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự khi người kháng cáo, kháng nghị thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị
Nếu người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Kiểm sát viên rút toàn bộ kháng nghị thì HĐXX phúc thẩm sẽ căn cứ vào Điều 312 BLTTDS năm 2015
để ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm và trong trường hợp này, bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật BLTTDS năm 2015 không quy định
(15) Bùi Thị Huyền (Chủ biên, năm 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Lao động
Trang 33về hậu quả pháp lý trong trường hợp các đương sự rút một phần kháng cáo, Kiểm sát viên rút một phần kháng nghị
(iii) Hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án hay không
Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì HĐXX phúc thẩm ra bản
án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Đồng thời các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật(16)
Tuy nhiên, việc thỏa thuận của các đương sự ở phúc thẩm khác với sơ thẩm ở chỗ là Tòa án cấp phúc thẩm phải giải quyết số phận pháp lý của bản
án, quyết định sơ thẩm, theo đó khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án có nghĩa là họ đã đạt được sự thống nhất chung về các vấn đề giải quyết trong vụ án Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm phải công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự và sửa bản án sơ thẩm (17)
Tuy nhiên cần hiểu đây không phải là việc HĐXX hòa giải tại phiên tòa mà chỉ là việc HĐXX ghi nhận tự nguyện thỏa thuận của đương sự
1.2.2.2 Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm dân sự
“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” là nguyên tắc
tranh tụng lần đầu tiên được ghi nhận tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm
2013, đây là quy định mang tính chất bản lề cho việc xây dựng và hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong các luật tố tụng nói chung và trong luật TTDS nói riêng (18) Theo đó các quy định về phiên tòa phúc thẩm phải đảm bảo thực sự
là phiên tòa tranh tụng, cần phát huy quyền tranh tụng của đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự cũng như bảo
thông tin điện tử Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tại địa chỉ: dung-phap-luat ngày truy cập 31/7/2018
Trang 34http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-đảm Tòa án thực hiện đúng chức năng xét xử và vai trò “trọng tài” của mình trong tố tụng dân sự để đạt được mục đích xác định sự thật khách quan của
vụ án dân sự Để thực hiện điều này, BLTTDS năm 2015 đã quy định một điều luật mới về nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như đối với phiên tòa sơ thẩm (19), cụ thể:
- Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án
- Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa
- Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không có liên quan đến vụ án dân sự
Theo quy định của BLTTDS năm 2015, việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như sau:
* Trình bày của đương sự, Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm
Trường hợp đương sự vẫn giữ kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị thì việc trình bày tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như sau (20)
:
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày nội dung kháng cáo, căn cứ của việc kháng cáo Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến Trường hợp tất cả đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày được thực hiện theo thứ tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo và nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn kháng cáo và bị đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
(20) Điều 302 BLTTDS năm 2015
Trang 35Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo và đề nghị của mình
- Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị, căn cứ của việc kháng nghị Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị Đương sự có quyền bổ sung ý kiến
Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, Kiểm sát viên có quyền xuất trình
bổ sung tài liệu, chứng cứ
Các quy định về việc trình bày của đương sự, Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm trong BLTTDS năm 2015 tương tự như trong BLTTDS năm
2011, song được sắp xếp lại hợp lý và logic hơn giữa các phần trình bày của đương sự, Viện kiểm sát
* Hỏi những người tham gia tố tụng và công bố tài liệu, chứng cứ, xem xét vật chứng
Sau khi nghe xong đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương
sự trình bày nội dung kháng cáo, Viện kiểm sát trình bày nội dung kháng nghị, theo quy định tại Điều 303 BLTTDS năm 2015 thứ tự hỏi của từng người tại phiên tòa phúc thẩm sẽ được thực hiện như tại thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên việc hỏi tại phiên tòa phúc thẩm chỉ giới hạn trong các vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 BLTTDS năm
2015 Tại phiên tòa theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa thứ tự hỏi từng người được thực hiện như sau:
- Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
Trang 36- Những người tham gia tố tụng khác;
- Chủ tọa phiên tòa, thành viên HĐXX;
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
BLTTDS năm 2015 cũng quy định chi tiết các nội dung cần hỏi đối với người tham gia tố tụng, tùy thuộc vào tư cách của họ Đối với trường hợp hỏi nguyên đơn, nếu có nhiều nguyên đơn thì phải hỏi riêng từng nguyên đơn Chỉ hỏi nguyên đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này Nguyên đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trả lời thay cho nguyên đơn và sau đó nguyên đơn trả lời bổ sung Đối với hỏi bị đơn, trường hợp có nhiều bị đơn thì phải hỏi riêng từng bị đơn Chỉ hỏi bị đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước
đó, mâu thuẫn với yêu cầu, lời trình bày của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này Bị đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trả lời thay cho bị đơn và sau đó bị đơn trả lời bổ sung Nếu vụ án có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phải hỏi riêng từng người một Chỉ hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về những vấn
đề mà họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày chưa rõ,
có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu cầu, đề nghị, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trả lời thay cho họ và sau đó họ trả lời bổ sung
Việc hỏi người làm chứng cũng diễn ra như vậy, nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải hỏi riêng từng người một Tuy nhiên khác với việc
Trang 37hỏi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người có lợi ích trực tiếp trong vụ án, để xác định tính trung thực trong việc tham gia tố tụng của người làm chứng, chủ tọa phiên tòa phải hỏi rõ về quan
hệ giữa họ với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi Sau đó, chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của vụ án mà họ biết; sau khi người làm chứng trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người làm chứng về những điểm
mà họ trình bày chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
So với BLTTDS năm 2004, để thể hiện đầy đủ nội dung nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử thì BLTTDS năm 2015 đã bổ sung nhiều nội dung về thủ tục hỏi Trước đây, quy định tại Điều 222 BLTTDS năm 2004 về thủ tục hỏi tại phiên tòa vẫn còn quá đề cao vai trò của HĐXX, HĐXX vẫn còn can thiệp quá nhiều vào quá trình tranh tụng Việc hỏi các đương sự, người làm chứng về những vấn đề chưa rõ, còn mâu thuẫn lại không do các đương sự, luật sư của đương sự hỏi trước mà quyền hỏi trước này lại thuộc về các thành viên của HĐXX Hiện nay, theo quy định tại Điều 249 BLTTDS năm 2015 thì thứ tự người hỏi đã có sự thay đổi đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự được hỏi trước tiên, HĐXX hỏi sau đương sự và những người tham gia tố tụng khác Đây là một quy định mới, rất tiến bộ của BLTTDS năm 2015 nhằm đề cao vai trò chủ động, tích cực của đương sự, người bảo vệ đối với việc xác định sự thật của vụ án dân sự (21)
Xuất phát từ nguyên tắc xét xử công khai, mọi tài liệu, chứng cứ, lời khai của các đương sự đều phải được đưa ra xem xét công khai tại phiên tòa Do vậy giống như phiên tòa sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX phải công bố công khai các tài liệu chứng cứ của vụ án trong các trường hợp người tham gia
tố tụng không có mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong giai đoạn chuẩn
(21) Bùi Thị Huyền (Chủ biên, năm 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Lao động.
Trang 38bị xét xử; lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai trước đó Ngoài ra trong các trường hợp khác mà HĐXX thấy cần thiết hoặc có yêu cầu của Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác thì HĐXX thực hiện công
bố tài liệu, chứng cứ Nếu không thực hiện sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật
cá nhân, bí mật gia đình, bảo vệ người chưa thành niên theo yêu cầu của đương
sự thì HĐXX không công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
Điều 255 BLTTDS năm 2015 quy định theo yêu cầu của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác, Kiểm sát viên hoặc khi xét thấy cần thiết, HĐXX cho nghe băng ghi
âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh tại phiên tòa, trừ trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bảo vệ người chưa thành niên theo yêu cầu của đương sự Các vật chứng hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa
ra xem xét tại phiên tòa Trong trường hợp cần thiết, HĐXX có thể cùng đương sự đến xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được Sau khi hỏi các đương sự, công bố tài liệu có trong hồ sơ và xem xét tài liệu, vật chứng, HĐXX tiến hành hỏi người giám định nếu người giám định được mời đến phiên tòa phúc thẩm Theo Điều 257 BLTTDS năm 2015, chủ tọa phiên tòa yêu cầu người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được yêu cầu giám định Khi trình bày, người giám định có quyền giải thích
về kết luận giám định, các căn cứ để đưa ra kết luận giám định Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận giám định; hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án sau khi được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa Trường hợp người giám định không có mặt tại phiên
Trang 39tòa thì chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định Khi có đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên tòa và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì HĐXX quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này, HĐXX quyết định tạm ngừng phiên tòa
Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không; trường hợp có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó
là có căn cứ thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc hỏi (22)
* Tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm dân sự
Theo Điều 304 BLTTDS năm 2015, tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm được thực hiện giống tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm HĐXX phúc thẩm có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 259 BLTTDS năm 2015 (23)
Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng, kể từ ngày HĐXX quyết định tạm ngừng phiên tòa Hết thời hạn này, nếu lý do để ngừng phiên tòa không còn thì Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu lý do để tạm ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì HĐXX ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự HĐXX phải thông báo bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian tiếp tục phiên tòa
Do là một quy định mới được áp dụng trong BLTTDS năm 2015 nên trong quá trình thực hiện cũng có nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến áp dụng biện pháp tạm ngưng phiên tòa phúc thẩm
Ý kiến thứ nhất cho rằng, việc tạm ngừng phiên tòa chỉ được áp dụng
khi phiên tòa đã bước sang thủ tục tranh tụng do điều luật quy định về việc
Trang 40tạm ngưng phiên tòa nằm trong mục 2 về phần tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm Nếu trong trường hợp tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa xuất hiện các căn cứ để tạm ngừng phiên tòa thì cũng phải khi phiên tòa đến phần thủ tục tranh tụng thì HĐXX mới quyết định tạm ngừng phiên tòa
Ý kiến thứ hai cho rằng, việc tạm ngừng phiên tòa có thể áp dụng vào bất
cứ phần thủ tục nào trong suốt quá trình xét xử, không nhất thiết phải đến phần tranh tụng mới được thực hiện tạm ngừng phiên tòa
Mặc dù chưa có nghị quyết hướng dẫn cụ thể về vấn đề này nhưng qua thực tiễn xét xử, tác giả nhất trí với ý kiến thứ hai Bởi lẽ mặc dù nhà làm luật có sắp xếp điều luật về việc tạm ngừng phiên tòa tại phần thủ tục tranh
tụng tại phiên tòa nhưng trong điều luật cũng đã ghi rõ: "Trong quá trình xét
xử HĐXX có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ " Mặt khác căn cứ tạm ngừng phiên tòa khác căn cứ hoãn phiên tòa
nên không nên hiểu rằng tại thủ tục bắt đầu phiên tòa thì HĐXX mới được hoãn phiên tòa, còn khi phiên tòa đã sang phần tranh tụng thì HĐXX tạm ngừng phiên tòa Trong thực tế xét xử nhiều trường hợp khi mới bước vào thủ tục bắt đầu phiên tòa, thành viên HĐXX hoặc đương sự có vấn đề về sức khỏe không thể tiếp tục tham gia phiên tòa hoặc đương sự đề nghị được tạm ngừng phiên tòa để tự hòa giải Trong trường hợp này HĐXX không thể hoãn phiên tòa vì đó không phải là căn cứ hoãn phiên tòa theo Điều 296 BLTTDS năm 2015 mà HĐXX phải tạm ngừng phiên tòa để xử lý các vấn
đề phát sinh tại phiên tòa
* Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm
Trước đây, Điều 273 BLTTDS năm 2004 quy định việc tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên, xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo, kháng nghị nên những người có liên quan đến giải quyết kháng cáo, kháng nghị sẽ tranh luận, đối đáp về kháng cáo, kháng nghị để chứng minh kháng cáo, kháng nghị là có căn cứ và hợp pháp qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Vì vậy, Điều 305 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định về trình tự tranh luận đối với kháng