ĐÈ TÀI KHOA HỌC PHÁP LÝ CÁP TRƯỜNGPHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI CÁC NHÀ ĐẦU T ư NHẶT BẢN PHẢN I BÁO CÁO PHÚC TRÌNH Trong những năm gần đây Việt Nam đang trở thành một địa điểm thu hút và rất cầ
Trang 2Chủ nhiệm đề tài: TS Lưu Bình Nhưỡng
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỤC HIỆN ĐÊ TÀI
PHÁP LƯẬT VIỆT NAM VỚI CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NHẬT BẢN • • •
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội
4 PGS-TS Saito Yoshihisa
Đại học Kobe, Nhật Bản
5 TS Nguyễn Thị Vân Anh
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trường Đại học Luật Hà Nội
7 TS Nguyễn Văn Tuyến
Trường Đại học Luật Hà Nội
8 TS Trần Quang Huy
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trường Đại bọc Luật Hà Nội
Thanh tra Nhà nước
13 TS Nguyễn Văn Quang
Trường Đại học Luật Hà Nội
14 ThS Hoàng Minh Chiến
Trường Đại học Luật Hà Nội
15 ThS LS Mai Đức Tân
Công ty Luật INCIP
16 Các doanh nghiệp Nhật Bản: Công ty
TNHH Honda Việt Nam; Công ty TNHH
Muto Hà Nội; Công ty TNHH Toyota
Boshoku Hà Nội
SỐ CHUYÊN ĐỀ/ TIÊU CHUYÊN ĐỀ Chuyên đề 1
Chuyên đề 2Chuyên đề 3Chuyên đề 4Chuyên đề 5Chuyên đề 6Chuyên đề 7, 8Chuyên đề 9Chuyên đề 10Chuyên đề 11Chuyên đề 12Chuyên đề 13Chuyên đề 14Chuyên đề 15Chuyên đề 16Phụ lục
Trang 4MỤC LỤC
trường pháp lý đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Chuyên đệ 2 Vài nét về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam 55
Chuyên đê 4 Những nét văn hoá của Nhật Bản - yếu tố chi phối hoạt 74động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp Nhật Bản
Chuỵên đề 5 Pháp luật về thành lập doanh nghiệp để thực hiện dự 88
Chuyên đề 10 Pháp luật về kinh doanh bất động sản với vấn đề đầu 153
tư nước ngoài tại Việt Nam
Chuyên đề 11 Nội dung cơ bản của luật môi trường Việt Nam và 160một số lưu ý với các nhà đầu tư nước ngoài
Chuyên đề 12 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 169Chuyên đề 13 Pháp luật hải quan vói việc tạo môi trường thuận lợi cho 180hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam
Chuyên đề 14 Pháp luật hành chính và giải quyết tranh chấp hành chính 187liên qiuan tới hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Chuyên đề 15 Pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại 194liên quan tới hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Chuyên đề 17 Pháp luật về hỗ trợ pháp lý đối với doanh nghiệp có 217vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
PHỤ LỤC: Ý kiến của một số doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam 229
Trang 5ĐÈ TÀI KHOA HỌC PHÁP LÝ CÁP TRƯỜNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI CÁC NHÀ ĐẦU T ư NHẶT BẢN
PHẢN I
BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
Trong những năm gần đây Việt Nam đang trở thành một địa điểm thu hút và rất cần thu hút đầu tư nước ngoài nhằm phát triển nền kinh tế xã hội theo định hướng thị trường và hội nhập quốc tế theo đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật của đảng
và nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội được nhiều Đại hội đảng như Đại hội lần thứ VII, VIII, IX, X đã đề ra
Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ về đầu tư với nhiều quốc gia, trong đó đã ký hiệp định bảo hộ đầu tư với 49 quốc gia trên thế giới Hệ thống chính sách, pháp luật
về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung nhằm tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành lần đầu tiên vào năm 1987 là cơ sở pháp lý có tính chất mở đường cho việc tạo môi trường pháp lý đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nhưng bản thân Luật đầu tư không thể tự nó tạo ra được môi trường pháp luật hoàn chỉnh cho hoạt động đầu tư Đầu tư nước ngoài liên quan và chịu sự chi phối của nhiều hệ thống pháp luật khác như: luật về doanh nghiệp, luật tài chính và thuế, luật
về ngân hàng và tín dụng, luật lao động, luật dân sự, luật hành chính Các hệ thống pháp luật tạo nên một hệ thống pháp luật lớn và có tính bao trùm phục vụ đồng thời bảo đảm, bảo vệ cho hoạt động đầu tư và cho các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Để có được cách nhìn đầy đủ, toàn diện, khoa học và đúng đắn hệ thống các quy phạm, văn bản pháp luật dày đặc, thuộc nhiều lĩnh vực cũng như giải thích đúng đan các quy phạm nhằm tạo cơ sở cho việc áp dụng vào các quan hệ kinh tế, xã hội về đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam là không dễ dàng Đối với các luật gia, nhà nghiên cứu, người thực thi pháp luật Việt Nam thì đó đã là một việc khó khăn Còn đối với những nhà đầu tư nước ngoài và các luật sư của họ thì đó là điều khó khăn hơn nhiều
Việc hiểu không đúng đắn hoặc chưa hết ý nghĩa sẽ có thể gây nên những hậu quả nhất định Một mặt nó có thể làm các nhà đầu tư nước ngoài nghi hoặc về chính sách
Trang 6đầu tư cùa Việt Nam Mặt khác, việc đó có thể gây nên sự hiểu sai về chính sách đầu
tư, đặc biệt là trong các chính sách ưu đãi, áp dụng quyền sử dụng đất đai, nhân công, thuế, bảc hộ quyền sở hữu trí tuệ, tố tụng, khiếu nại Sự do dự hoặc chuyển hướng đầu tư sang quốc gia khác có thể bắt đầu từ việc không hiểu, hiểu không đầy đủ hoặc hiểu sai các quy định của pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực liên quan đến đầu tư
Trong những năm qua, quan hệ nhiều mặt giữa Việt Nam và Nhật Bản có những tiến
bộ lớn Nhật Bản và Việt Nam đã có những thoả thuận cơ bản về quan hệ kinh tế, xã hội Nhật Bản trước hêt là quôc gia tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam Trong hoạt động đâu tư, Nhật Bản thường đâu tư vào các dự án lớn, có tâm cỡ và ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế quốc dân Việt Nam như các dự án về giao thông vận tải, khu công nghiệp, các dự án liên quan đến công nghệ cao và có sức cạnh tranh lớn trên trường quôc tê Các tập đoàn, công ty lớn của Nhật Bản đã lần lượt xuất hiện và có chỗ đứng vững chềc tại Việt Nam như Toyota, Honda, Panasonic, Misubishi, Canon, Inu,
M uto , Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đã được vận dụng để phát triển công ty thì các dcanh nghiệp đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam có những khó khăn nhất định khi tiếp cận với các quy định của pháp luật Việt Nam mặc dù đã có sự chú trọng nghiên cúu hoặc tìm kiếm các lời khuyên của các nhà tư vấn hoặc sử dụng các dịch vụ pháp lý, dặc biệt khi đã vướng vào các tranh chấp thương mại, lao động, đình công, giải quyếl các vấn đề khác liên quan đến công tác nhân sự, tiền lương, trợ cấp
Đe giúp các nhà đầu tư Nhật Bản đã có mặt tại Việt Nam và các nhà đầu tư Nhật Bản đang tìm ;ách tiếp cận với thị trường Việt Nam, đề tài “Pháp luật Việt Nam với các nhà đầu tư Nhật Bản” được nghiên cứu nhằm giải quyết yêu cầu đó với mục đích tạo
ra mối quin tâm và lợi ích chung giữa Việt Nam và Nhật Bản, cả ở phương diện quốc gia và phirơng diện công ty, đồng thời đảm bảo quyền lợi của những người tiêu dùng Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu và đưa ra những quan điểm cơ bản, nội dung chím sách và tập hợp các quy định cơ bản của các ngành luật thuộc các lĩnh vực pháp lý cơ bản nhất tạo nên “cẩm nang chính sách, pháp luật” phục vụ cho các nhà đầu tư cùa Nhật Bản tại Việt Nam
Bên cạnh đó, đề tài cũng nghiên cứu một số vấn đề liên quan như vấn đề văn hoá, quan điểrr chung của các nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam nhằm chỉ ra những mong muốn trên phương diện chính sách để điều chỉnh quan điểm tiếp nhận và hỗ trợ đối với các nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam
Đe đạt đư*c mục đích trên, đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống chính sách, pháp luật, truyền thốig văn hoá của Việt Nam và Nhật Bản, trong đó tập trung vào việc nghiên cứu các qiy định pháp luật thuộc những ngành luật liên quan mật thiết tới hoạt động đầu tư nhi- pháp luật doanh nghiệp, pháp luật lao động - xã hội, phá luật hành chính, pháp luật tài chính, pháp luật sở hữu trí tuệ
Trang 7III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
- Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phép duy vật biện chứng của chủ nghiã Mác - Lênin và vận dụng quan điểm, đường lối của đảng về phát triển kinh
tế thị trướng định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng chủ yếu gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp xã hội, lịch sử, so sánh
Các cộng tác viên tham gia nghiên cứu đề tài là những giảng viên, nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia, người làm công tác kinh doanh thuộc Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Kobe Nhật Bản, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, Tổng cục Hải quan, công ty Luật, một số doanh nghiệp của Nhật Bản tại Việt Nam có quan tâm tới lĩnh vực đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam (Có danh sách kèm theo)
Sau khi cò quyết định của Hiệt trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài
đã tiến hành chỉnh sửa đề cương theo góp ý của Hội đồng đánh giá đề cương
Chủ nhiệm đề tài đề nghị các cộng tác viên nghiên cứu đề tài theo các nội dung đã được xác định Trong đó có việc thoả thuận nghiên các chuyên đề cụ thể về từng lĩnh vực
Chủ nhiệm đề tài đã liên hệ với cộng tác viên từ Nhật Bản và một số doaiứi nghiệp Trong quí trình thực hiện đề tài có một số doanh nghiệp đồng ý viết bài nhưng đến giai đoạn cuối có 3 doanh nghiệp Nhật Bản đồng ý chuyển ý kiến của họ cho Chủ nhiệm đề tài Một Phó giáo sư Đại học Kobe Nhật Bản đã chuyển bài viết bằng tiếng Anh và tièng Nhật về vấn đề văn hoá kinh doanh của người Nhật Do cách viết bài của
họ và của ta không giống nhau cho nên khi dịch phải biên soạn Do đó mất khá nhiều thời gian Việc tham gia của một số doanh nghiệp đầu tư của Nhật Bản và nhà khoa học Nhật Bản là rất hữu ích Nhưng đó cũng là lý do gây nên sự chậm trễ của đề tài
mà khi nghiên cứu đề tài này chưa dự liệu được Đây cũng là một bài học kinh nghiệm cho các đề tài khác
Trong qua trình nghiên cứu, hầu hết các cộng tác viên gửi bài đúng tiến độ Tuy nhiên,
có một sổ cộng tác viên do tham gia giảng dạy và thực hiện các đề tài khác nên đã chậm trễ, gây khó khăn cho Chủ nhiệm đề tài Mặc dù đã có sự đôn đốc thường xuyên nhưng vẫn không thay đổi được tình hình Cuối cùng các chuyên đề và tiểu chuyên đề
đã được hoàn thành và được tập trung Báo cáo phúc trình và đề tài được hoàn thiện vào quý Ĩ2009 theo đề nghị gia hạn và sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường và Phòng Quản lý Khoa học Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 8VI KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Việc thực hiện đề tài chú trọng tới các yếu tố tác động đến đầu tư và nhấn mạnh ở hai khía canh: Văn hoá và Pháp luật
Đối vơi các nhà đầu tư Nhật Bản, có lẽ văn hoá là một trong những vấn đề khá đặc thù Bần cạnh đó, pháp luật là vấn đề người Nhật rất tôn trọng Do đó, vấn đề văn hoá được coi như thông điệp về góc cho chính sách còn pháp luật được nghiên cứu coi như “cẩm nang” cho các nhà đầu tư Trong đó, Pháp luật quốc gia của Việt Nam liên quan trực tiếp tới đầu tư được nghiên cứu có tính ưu tiên
1 Những vấn để chung về đẩu tư và những yếu tố văn hoá tác động đến đầu
tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam
1.1 Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) tại Việt Nam Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 2008 (World Investment Report 2008) của UNCTAD, FDI của thế giới năm 2007 đạt mức 1.833 tỉ USD Các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi thu hút FDI ở mức cao nhất từ trước tới nay, đạt gần 600 tỉ USD, tăng 25% so với năm 2006, đứng thứ ba thế giới Trong bối cảnh FDI toàn cầu năm 2308 giảm sút, FDI của các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi được hy vọng lì sẽ ít bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính và tín dụng đang diễn ra FDI giữa cíc nước phát triển đạt 1.248 tỉ USD Hoa Kỳ giữ vị trí là nước tiếp nhận đầu tư lớn nhất, tiếp đến là Anh, Pháp, Canada và Hà Lan EƯ là khu vực tiếp nhận đầu tư lớn nhất, thu hút gần 2/3 tổng FDI vào các nước phát triển Các nước chậm phát triển (LDCs) cũng thu hút được 13 tỉ USD năm 2007 Đây cũng là con số khá cao Đồng thời, các nước đang phát triển cũng đầu tư ra nước ngoài với mức 253 tỉ USD, chủ yếu nhờ sụ lớn mạnh của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) châu á FDI vào các nước Đông Mam Âu cũng tăng 50%, đạt 86 tỉ USD năm 2007 Khu vực này đã tăng trưởng liên tụ: 7 năm Đầu tư ra từ khu vực này cũng tăng gấp đôi, đạt 51 tỉ USD Trong số các nềi kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, ba nước tiếp nhận đầu tư lớn nhất là Trung Quốc, Hongkong (Trung Quốc) và Liên bang Nga Các giao dịch sáp nhập doanh nghiệp (M&A) xuyên biên giới tiếp tục diễn ra Năm 2007, giá trị của các giao dịch my đạt 1.637 tỉ USD, tăng 21% so với năm 2000 về tổng thể, cuộc khủng hoảng tài chính - bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng ở Hoa Kỳ - không gây tác động bất lợi rõ rệt đối với các giao dịch M&A xuyên biên giới trong năm 2007 Ngược lại, cuối năm
2007, hế giới có cơ hội chứng kiến một số vụ sáp nhập rất lớn, như: các vụ sáp nhập ABNAMRO Holding NV và Consortium o f Royal Bank o f Scotland, Fortis và Santarder, Alcan và Rio Tinto Mạng lưới các TNCs trên toàn cầu, bao gồm khoảng 79.00C công ty với 790.000 chi nhánh ờ nước ngoài, đang tiếp tục phát triển, với nguồn FDI trên 15.000 tỉ USD năm 2007 UNCTAD ước tính: tổng giá trị các giao dịch thrơng mại của các TNCs đạt khoảng 31.000 tỉ USD, tăng 21% so với năm 2006 Giá tri gia tăng (của tổng sản phẩm) của các chi nhánh trên thế giới chiếm khoảng 11% CDP toàn cầu năm 2007, sử dụng khoảng 82 triệu người lao động Hệ thông các
Trang 9TNCs đang được mở rộng Các công ty chế tạo và dầu lửa, như: General Electric (GE), British Petroleum (BP), Shell, Toyota và Ford Motor, vẫn giữ được vị trí hàng đầu trong số 25 TNCs lớn nhất thế giới được xếp hạng trong lĩnh vực phi tài chính Tuy nhiên, các TNCs trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, kể cả cơ sở hạ tầng, đã gia tăng m ột cách ấn tượng trong suốt thập kỷ trước: 20 TNCs đứng vào top 100 năm
2006, trong khi đó chỉ có 7 TNCs đứng vào top 100 năm 1997 Các hoạt động của 100 TNCs lớn nhất đã phát triển đáng kể năm 2006, trong đó hoạt động mua bán ngoại thương tăng gần 9%, và hoạt động sử dụng lao động nước ngoài tăng 7% so với năm
2005 Đối với 100 TNCs lớn nhất của các nước đang phát triển, sự tăng trưởng thể hiện ở con số rất cao: năm 2006, tài sản ở nước ngoài của TNCs đạt khoảng 570 tỉ USD, tăng 21% so với năm 2005
- Vài nét về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Do ảnh hưởng một phần của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, ở Việt Nam
đã và đang có tình trạng lạm phát cao, thâm hụt thương mại, tỉ giá VNĐ/USD biến động mạnh làm các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại Theo Goldman Sachs, trong thời gian ngắn sắp tới, lạm phát tiếp tục là mối đe dọa lớn đối với sự bền vững của nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam Trong 5 tháng đầu năm 2008, thâm hụt thương mại của Việt Nam đạt 14,4 tỉ USD, tăng 70% so với cùng kỳ năm trước Sự lo ngại ở đây là liệu có đủ VNĐ để nhập khẩu, trong khi dòng USD vào Việt Nam đang giảm Cũng theo Goldman Sachs, đối mặt với tình hình này, Việt Nam đã áp dụng hàng loạt các biện pháp liểm soát lạm phát, kể cả cắt chi tiêu công, kiểm soát giá, tăng lãi suất, kiểm soát tín dụng Tuy nhiên, không rõ rằng các biện pháp này có hiệu quả hay không Có thể là trong thời gian tới, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam sẽ siết chặt chính sách tiền tệ và gây áp lực đối với thị trường chứng khoán để kiềm chế lạm phát,
v ề VNĐ, có thể là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tăng tỉ giá hối đoái VNĐ/USD trong ngắn hạn Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần làm gấp việc tăng tỉ giá để VNĐ không bị ấn định giá cao hơn so với giá trị thực của nó
Giới chuyên gia nhận định rằng: khủng hoảng về cán cân thanh toán sẽ không diễn ra ở Việt Nam
Thứ nhất: dòng vốn FDI, ODA, dòng vốn đầu tư vào thị trường khoán và tiền
gửi tiếp tục đổ vào Việt Nam Do đó, thâm hụt thương mại của Việt Nam có thể được
bù đắp từ các nguồn này
Trong 5 tháng đầu năm 2008, dòng FDI đổ vào Việt Nam tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước, đạt 14,7 tỉ USD Hơn nữa, việc chi tiêu cũng đang hoàn thiện Dự kiến FDI sẽ tiếp tục đổ vào Việt Nam cho đến hết năm 2008, bởi vì các dự án đâu tư lớn đã được khởi công Bên cạnh đó, vốn đầu tư vào lĩnh vực khí đốt và công nghệ thông tin rất ổn định Đồng thời, mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam giảm sút, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục mua cố phần
Thứ hai: không giống tình hình của Thailand khi nước này rơi vào khủng hoảng
năm 1997, vay nợ ngắn hạn nước ngoài của Việt Nam không đáng kể Các số liệu thống kê cho thấy rằng các khoản nợ ngắn hạn của Việt Nam chiêm 8,6% GDP, trong khi
Trang 10đó con số này của Thailand năm 1996 là 26,3% Hơn nữa, Việt Nam chưa bao giờ phụ thuộc vào các khoản nợ này để bù đắp thâm hụt thương mại.
- Tinh hình thu hút FDI ở Việt Nam năm 2007 - 2008 C)
FDI vào Việt Nam năm 2007 đạt 21,3 tỉ USD; 6 tháng đầu năm 2008 đạt 31,6 tỉ USD, tăng gấp ba so với cùng kỳ năm trước Dòng FDI tiếp tục đổ vào Việt Nam chứng tỏ răng các nhà đầu tư nước ngoài đã đặt niềm tin vào nền kinh tế và môi trường đầu tư của Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ 8,5% năm 2007 - tốc độ cao nhất từ trước tới nay Chính phủ dự đoán rằng tăng trưởng kinh
tê sẽ đạt 7% năm 2008, do phải tăng lãi suất gấp ba lần để kìm hãm lạm phát Phần lớn FDI của nửa đầu năm 2008 tập trung vào các dự án công nghiệp và xây dựng Đài Loan là vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất trong số 31 vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, với 64 dự án trị giá 8,2 tỉ USD Theo nhận định được đưa ra trong Hội nghị “Đầu tư quốc tế tại Việt Nam” diễn ra chiều ngày 11-11-2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009, Việt Nam vân là tâm điểm của FDI Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư gián tiếp (FPI) sẽ giảm sút mạnh (2) Theo dự báo rất lạc quan của Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, đến cuối năm 2009, vốn FDI đăng ký sẽ khoảng 60 tỉ USD,
và giải ngân được khoảng 12 tỉ USD Chứng khoán Việt Nam đã sụt giảm mạnh, nhưng Hãng tin Bloomberg vẫn cho rằng “Việt Nam tiếp tục là một trong số ít các nền kinh tế mới nổi nhận được dòng vốn đầu tư ròng vào danh mục đầu tư chứng khoán năm nay (năm 2008)” Theo nhận định của ông Alain Cany - Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Châu Âu, nguyên Chủ tịch Ngân hàng HSBC, Việt Nam chỉ bị ảnh hường gián tiếp bởi cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ, vì “hệ thống tài chính Việt Nam chưa thực sự kết nối với thị trường tài chính và dòng vốn quốc tế” Báo cáo gần đây của T0 chức giám sát doanh nghiệp quốc tế (Business Monitor International Ltd - BMI) đánh giá tích cực về triển vọng tăng trưởng của Việt Nam trong 10 năm tới BMI nhận định: khu vực sản xuất công nghiệp được đầu tư mạnh mẽ sẽ vẫn là động lực chính cho tăng trưởng của Việt Nam Khu vực sản xuất công nghiệp hiện đóng góp khoảng 25% GDP, nhưng con số này sẽ tăng lên 34% vào năm 2013 và 40% vào năm 2017 Sự hạn chế về cảng biển, đường sắt và đường bộ của Việt Nam vẫn đang gây bất lợi so với Trung Quốc khi thu hút FDI vào lĩnh vực sản xuất phục vụ xuất khẩu (3) Báo cáo môi trường kinh doanh 2008 do Ngân hàng Thế giới công bố xếp Việt Nam đứng thứ 91/178 về mức độ thuận lợi trong môi trường kinh doanh, tăng 3 bậc so với năm 2007 và 13 bậc so với năm 2006 (4) Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Việt Nam vẫn được
1 Vietnam's Foreign Investm ent T ripled to $31.6 B illion (U pdate ]), By Nguyen Dieu Tu Uyen, June 30
(Bloomberg.com) Last Updated: June 30, 2008 07:01 ED T.
2 www.inpi.gov.org, Năm 2009: Việt Nam vẫn là tâm điểm thu hút FDỈ, Nguồn: Báo Lao động.
3 www.mpi.gọy.yn, BM I lạc quan về triền vọng phát triền cùa Việt Nam Nguồn: Thông tắn xã Việt Nam (TTXVN).
4 ww\v mpi.gov vn, Thị trường Việt Nam tiếp tục hấp dẫn doanh nghiệp nước ngoài Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam
(TTXVN)
Trang 11đánh giá là địa điểm sản xuất tốt nhất ở châu Á về dài hạn và đang tiếp tục thu hút mạnh nguồn vốn FDI Riêng 10 tháng đầu năm 2008, đã có thêm 58,3 tỷ USD của 953
dự án được cấp phép, trong đó có ngày càng nhiều dự án quy mô vốn lớn Sự cải thiện tích cực ừong môi trường đầu tư, kinh doanh là kết quả của những nồ lực từ phía Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực thi pháp luật, cải cách hành chính, thường xuyên đối thoại nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp Tuy nhiên, thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt để tiếp tục thu hút FDI là sự yếu kém về
cơ sờ hạ tầng, sự thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao và thủ tục hành chính còn phức tạp
- Vài nét về đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam
Nhật Bản là một đối tác đầu tư có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, ngay sau khi có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Hai mươi năm qua, dù nền kinh tế khu vực, thế giới và bản thân nền kinh tế Nhật Bản có nhiều biến động, các nhà đầu tư Nhật Bản luôn thể hiện sự quan tâm tới Việt Nam Đen hết 12/2008, theo thống kê sơ bộ của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thì Nhật Bản hiện có 1.052 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký còn hiệu lực là 17,35
tỷ USD, chiếm 56% tổng vốn đăng kỵ của Nhật Bản tại Việt Nam Theo thống kê sơ
bộ, cho đến nay đã có 28 tập đoàn xếp hạng “Global 500” của Nhật Bản đầu tư vào hơn 100 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 3,2 tỷ USD, trong đó
đã giải ngân được khoảng 2,3 tỷ USD
Nhìn chung, đầu tư của Nhật Bản tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chế biến với 83,8% vốn đăng ký vào lĩnh vực này Lĩnh vực kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn chiếm 7% vốn đãng ký, vận tải, kho bãi, thông tin chiếm 2,9% vốn đăng ký và các lĩnh vực khác chiếm gần 7% vốn đăng ký
Theo địa bàn, đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam trải rộng ở 42/63 tỉnh, thành phố, là một trong số ít các nhà đầu tư có hoạt động đầu tư rộng khắp trên lãnh thổ Việt Nam Nếu như FDI tại Việt Nam nói chung có xu hướng tập trung vào khu vực miên Nam thì các nhà đầu tư Nhật Bản lại quan tâm hơn tới khu vực miền Trung với 7,1 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 41% tổng vốn đăng ký của Nhật Bản tại Việt Nam và chiếm 22% tông FDI đăng ký vào khu vực miền Trung
Dòng vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tuy biến động qua các
thời kỳ, nhưng có xu hướng không ngừng gia tăng qua các năm FDI của Nhật Bản
luôn chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng FDI vào Việt Nam Việt Nam đang chủ động hội nhập ngày một sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và quốc tế dân tới sô lượng các
Trang 12đối tác đầu tư vào Việt Nam ngày một gia tăng Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng không ngừng gia tăng theo thời gian Có xu hướng biến động cùng chiều với dòng vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, đầu tư của Nhật vào Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong tổng FDI vào Việt Nam.
Các nhà đầu tư Nhật có xu hướng ngày càng mở rộng hoạt động đầu tư đối với các dự án đã có tại Việt Nam Nếu như năm 1993 đầu tư mở rộng chỉ chiếm 3% tổng vôn đăng ký của Nhật tại Việt Nam thì đến năm 1997, năm khủng hoảng tài chính khu vực, vôn tăng thêm đã chiếm tới 16% tổng vốn đăng ký của các nhà đầu tư Nhật Bản Chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực, dòng vốn đăng ký của Nhật giảm đáng kê trong năm 1998 (chỉ bằng 24% so với năm 1997) nhưng tỷ trọng vốn tăng thêm trong tổng vốn đăng ký lại giảm không đáng kể Năm 2004, tỷ trọng vốn tăng thêm/tổng vốn đăng ký đạt mức cao nhất, 52% và ở mức trên 20% vào 2 năm tiếp theo Năm 2008, theo thống kê sơ bộ của Cục Đầu tư nước ngoài, vốn tăng thêm của các nhà đầu tư Nhật Bản đạt gần 320 triệu USD, mức cao nhất trong 20 năm qua Do quy mô vốn đăng ký mới từ Nhật đạt mức kỷ lục, khoảng 7,6 tỷ USD nên tỷ trọng vốn tăng thêm/tổng FDI của Nhật trong năm 2008 đã suy giảm, v ố n bổ sung gia tăng chứng tỏ các nhà đầu tư Nhật Bản có nhìn nhận tích cực về triển vọng kinh doanh tại Việt Nam trong trung và dài hạn Điều tra các doanh nghiệp Nhật Bản tại nước ngoài
về triến vọng kinh doanh trung và dài hạn do Tổ chức xúc tiến đầu tư và thương mại Nhật Bản (JETRO) cho thấy Việt Nam đứng thứ 3 trong khu vực Châu Á về triển vọng đầu tư trung và dài hạn, sau Trung Quốc và Ẩn Độ
Theo thông tin gần đây, sau khi Nhật Bản đồng ý nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam, sẽ có khoảng 80 nhà đầu tư Nhật Bản sẽ vào Việt Nam tìm hiểu và tiến hành
đầu tư Các công trình quan trọng tại Hà Nội và thành phố Hỗ Chí Minh sẽ có khả
năng được tiến hành trong thời gian tới
1.2 Môi trường pháp lý phục vụ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Năm 1987, Điều lệ Đầu tư 1977 được “nâng cấp” thành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đã khẳng định sự đúng đắn của chủ trương, đường lối mở cửa nền kinh tế của Đảng, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới trong chặng đường vừa qua Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 đã tạo cơ sở pháp lý cao hơn để thu hút vốn FDI vào Việt Nam, theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế Ke từ năm 1987 đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000, cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế Pháp luật đầu tư nước ngoài và các văn bản pháp luật liên quan đến đẩu tư nước ngoài được ban hành đã tạo môi trường pháp lý cho các hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong
Trang 13nước, Việt Nam cũng tăng cường ký kết các hiệp định đầu tư song phương và đa phương Việt Nam đã ký kêt hàng chục Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước và vùng lãnh thổ Vì vậy, ngay trong điều kiện cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có cơ hội tiến hành các hoạt động đầu tư thuận lợi ở Việt Nam mà không có sự khác biệt đáng kể so với một số nước có nên kinh tê thị trường Nhăm cải thiện môi trường pháp lý cho đầu tư, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo “một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiẹn thuận lợi đê thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư, năm
2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư, có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 Luật này thay thê Luật Đâu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Thực tế đã chứng minh việc ban hành Luật Đầu tư 2005 đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những chuyên biến tích cực của tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam kể từ năm
2006 tới nay Từ thực tiễn thu hút FDI trong 20 năm qua cho thấy việc tạo dựng môi trường pháp lý cho FDI trong thời gian qua là rất cần thiết, trong bối cảnh cạnh tranh gay găt thu hút vôn FDI ở khu vực và trên thê giới
Đe gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết tuân thủ những nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế như nguyên tắc MFN, nguyên tắc NT, Những cam kết này được thể hiện trong pháp luật hiện hành của Việt Nam, như: Pháp lệnh về MFN
và NT ngày 25-05-2002 Các ngoại lệ của nguyên tắc MFN và nguyên tắc NT được thê hiện trong biêu cam kêt của Việt Nam về thương mại dịch vụ khi gia nhập WTO,
và trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) Việt Nam đã tích cực ký kết các hiệp định đầu tư song phương (Bilateral Investment Treaties - BITs), nhằm tạo
thuận lợi cho hoạt động FDI Cho tới nay, Việt Nam đã ký kết trên 50 hiệp định loại
này, trong đó có Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản (Japan - Vietnam Investment Protection Agreement) ngày 14-11-2003
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, đã có nhiều văn bản pháp luật
về FDI và liên quan đến FDI, như: Luật Đầu tư 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22-09-2006); Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Chuyển giao Công nghệ 2006, Luật Cạnh tranh 2004, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008, Luật Đất đai 2003, .Theo pháp luật hiện hành, Việt Nam đã loại bỏ chế độ hai giá trong nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử về giá vẫn tiếp tục áp dụng đối với giá thuê đất của Nhà nước (Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 về thuê đất và thu tiền thuê đất), về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs), Việt Nam cam kết loại bỏ TRIMs khi gia nhập WTO (Điều 8 Khoản 2 Luật Đầu tư 2005) v ề giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế: Theo quy định của BTA, Việt Nam phải chấp nhận cho các nhà đầu tư nước ngoài giải quyết tranh chấp tại tòa
án Việt Nam, hoặc theo thủ tục giải quyết tranh chấp đã thỏa thuận từ trước, hoặc trọng tài quốc tế, bao gồm ICSID sau khi Việt Nam gia nhập Công ước Washington
Trang 141965 về ICSID Hiện nay, Việt Nam chưa phải là thành viên ICSID Tuy nhiên, theo Điều 12 Luật Đầu tư 2005, về mặt lý thuyết, cơ chế giải quyết tranh chấp đã được quy định khá đầy đủ Ngoài ra, các hoạt động đầu tư được điều chỉnh bằng quy định đặc biệt, như trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, không thuộc đối tượng điêu chỉnh của Luật Đầu tư 2005, và không cần phải có giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của luật này Theo cam kết gia nhập WTO, các khuyến khích đầu tư trên cơ
sở thành tích xuât khâu và yêu cầu về hàm lượng nội địa bị xóa bỏ Pháp luật Việt Nam dành khuyến khích đầu tư cho Khu Công nghệ cao, Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất phù hợp với cam kết gia nhập WTO Theo Luật Đầu tư 2005, Chính phủ dành hàng loạt các bảo đảm để hỗ trợ các dự án đầu tư quan trọng, như: bảo đảm các khoản vay, cung câp nguyên liệu, bán sản phâm, thanh toán và thực hiện các nghĩa vụ hợp đông Hoạt động chuyên giao công nghệ được điều chỉnh bằng quy định của Bộ luật Dân sự 2005, Phần 6, Chương 36 (có hiệu lực ngày 01-01-2006), Luật Sở hữu trí tuệ
2005, Luật Thương mại 2005, Luật Cạnh tranh 2004, Luật Chuyển giao Công nghệ
2006 Pháp luật Việt Nam hiện hành không quy định về giới hạn góp vốn bầng giá trị công nghệ Các hợp đông chuyên giao công nghệ phải được đăng ký về quyền sử dụng đât: Theo Luật Đât đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004), Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài quyền sử dụng đất bằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Các tổ chức và cá nhân trong nước được trao quyền sử dụng đất bằng cách được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, và có quyền chuyển giao, cho thuê, cho thuê lại, để lại thừa kế/thừa kế hoặc thế chấp quyền sử dụng đất Quyền
sử dụng đât của cá nhân, tổ chức nước ngoài bị hạn chê hơn Các đối tượng này chỉ được trao quyên sử dụng đất bằng cách thuê đất của Nhà nước Quyền chuyển giao
hoặc cho thuê lại quyền sử dụng đất bị hạn chế về thế chấp quyền sử dụng đat: Ke từ
tháng 11-2002, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép thế chấp giá trị quyền sử dụng đất tại các ngân hàng Việt Nam, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tín dụng khác tại Việt Nam Bên cho vay và bên vay được phép thỏa thuận thế chấp tài sản cố định gắn liền với đất v ề gía đất: Gía thuê đất được điều chỉnh bằng Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14-11-2005 Nghị định này áp dụng cho tất cả các cá nhân, tổ chức kinh tế trực tiếp thuê đất của Nhà nước, kể
cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Mặc dù các tổ chức và cá nhân nước ngoài không có quyền sở hữu đất, chỉ có quyền thuê quyền sử dụng đất, nhưng lại được phép
sở hữu nhà và các công trình xây dựng gắn liền với đất tai Việt Nam Việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thuộc thẩm quyền của Bộ Xây dựng
Bên cạnh các luật liên quan trực tiếp như Luật đầu tư, Luật thương mại, Việt Nam cũng đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng khác phục vụ cho quá trình đầu tư như Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật lao động 1994-2002-2006-2007, Luật bảo hiểm xã hội
2006, Luật dạy nghề 2006 Các đạo luật đó đã tạo nên cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động đấu tư nước ngoài tại Việt Nam nói riêng và các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung
Trang 151.3 Những vấn đề văn hoá tác động tới đầu tư nước ngoài và đầu tư của Nhật
Bản tại Việt Nam
1.3.1 Vài nét về văn hoá Việt Nam ảnh hưởng tới đầu tư Nhật Bản
Việt Nam là quốc gia nằm ở Đông - Nam châu Á với đặc trưng là nền lúa nước được thâm canh lâu đời trên những đồng bằng châu thổ gần các con sông lớn (sông Hồng và sông Cửu Long) và các thung lũng, mộng bậc thang Khí hậu của Việt Nam chia bốn mùa rõ rệt Tuy nhiên, khí hậu giữa hai miền Bắc và Nam là không đồng nhất Bờ biển dài, với những đời khí hậu khác nhau đã tạo cho Việt Nam một sự phong phú trong đời sống và trong hoạt động sản xuất Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia thường xuyên phải chống chọi với giặc ngoại xâm Do đó, kiểu sản xuất thời chiến và
sự phí tổn tài nguyên phần nào đã làm cho nền kinh tế xã hội Việt Nam bị ảnh hường
và chậm phát triển trong một thời gian dài
Bù lại với những thiệt thòi do phải chống lại giặc ngoại xâm, người dân Việt Nam rất kiên cường, dũng cảm, cần cù, chịu thương chịu khó và cũng rất nhân hậu Truyền thống đó được đúc kết không chỉ trong những loại hình chính thống mà còn được biểu đạt trong cả tục ngữ, ca dao, dân ca
Người dân Việt Nam có truyền thống thời tổ tiên, thờ Phật, thánh thần Đa số người dân Việt Nam đều có truyền thống đi chùa, đặc biệt là vào các dịp lễ tết của dân tộc Nhưng có lẽ thờ Mầu là một trong những nét khá đặc trưng của người Việt Nam Trong các đình, chùa đều thờ cũng những bậc danh tướng, danh sỳ, danh nhân và những người có công lao đối với đất nước Đạo thiên chúa vào Việt Nam từ thế kỷ IXX nhưng hiện tại cũng đã trở thành một loại tôn giáo có sự ảnh hưởng lớn tới đời sống cư dân
1.3.2 Vài nét về văn hoá Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia có lịch sử phát triển lâu đời thuộc khu vực Đông Á Với dân
số trên 100 triệu người, Nhật Bản thuộc hàng những quốc gia đông dân và có mật độ dân số dày trên thế giới
Một trong những đặc điểm của Nhật Bản làm cho người nước ngoài đặc biệt ấn tượng
là sự biệt lập với lục địa Người Nhật Bản luôn hiểu rằng đất nước của họ không có nhiều tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh đó, có vùng của Nhật Bản khí hậu khắc nghiệt, không hề thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Do đó, ngay trong cách triển khai nền giáo dục, Nhật Bản đã khuyến khích tính hợp tác, tự cường của môi người nhăm hướng ra thế giới để tiến hành các hoạt động kinh doanh làm giàu
Mặc dù là quốc gia có nền nông nghiệp khá phát triển với trình độ thâm canh tiên tiên nhưng Nhật Bản không đảm bảo được đủ lương thực cho chính các cư dân của mình Quá nửa phần lương thực của Nhật Bản được nhập khẩu từ các quốc gia khác
Để đảm bảo những nhu cầu lương thực, thực phẩm và phát triển thành quốc gia có nền kinh tế thứ hai trên thế giới (chỉ sau Mỹ), Nhật Bản đã từng bước trở thành nhà đâu tư lớn bậc nhất trên thế giới Các công ty của Nhật Bản thâm nhập nhiều thị trường với
Trang 16những chiến lược kinh doanh đặc sắc và áp dụng những phương pháp kinh doanh và quản lý đặc thù, trờ thành một trường phái đại diện cho đặc điếm Á Đông trên thế giới.
Tuy là quốc gia phát triển nhưng xã hội Nhật Bản vẫn giữ được những nét truyền thống “rất châu Á” Sự tồn tại của hoàng gia với sự ngưỡng mộ; sự sùng bái các tôn giáo phương Đông; sự bảo tồn các dòng văn hoá cổ của đạo Phật và đạo Shinto; các thức cúng lê, tổ chức các hoạt động văn hoá cộng đồng lâu đời theo kiểu cư dân nông nghiệp; tinh thần làng xã; làm cho nước Nhật trở thành một nhà bảo tàng gìn giữ những giá trị văn hoá cổ tốt nhất, kể cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể Nhắc tới Nhật Bản, người ta thường nghĩ đến các mặt hàng điện tử tinh vi, có độ bền và chất lượng cao Nhưng khi nói về lối sống và văn hoá Nhật Bản không thể không nghĩ tới truyền thống võ sỹ Samurai, phong cách trà đạo, trang phục kimono đặc trưng trong
xã hội Nhật Bản Những khu bảo tồn đạo Phật tại Nara, các đền thờ với đèn lồng và tín ngưỡng cầu may khi lễ chùa được người Nhật Bản gìn giữ rất tỷ mỉ, công phu Người Nhật Bản rất yêu thiên nhiên và phong cách sống gần gũi thiên nhiên và đã phát triển nghệ thuật bonsai đến một tầm mức cao đáng phải học tập Bên cạnh sự sầm uất, đắt đỏ trong các nhà hàng sang trọng với những món đồ chế tác bằng vàng ròng người Nhật Bản rất ưa dùng các đồ ăn bằng tre, gỗ và sử dụng những món ăn đậm chất tự nhiên
v ề văn hoá, người Nhật Bản tự hào vì họ có nền văn hoá đa dạng và có tính hiện đại Cách giáo dục của người Nhật Bản tạo cho các công dân của họ sớm bước vào con đường lao động và sự nghiệp và không quá câu nệ về việc theo đuổi các bậc học vì nó
sẽ làm mất thời gian và mất cơ hội tham gia thị trường
Trong quan hệ xã hội, người Nhật Bản duy trì quan hệ gia trưởng và áp dụng lối gia
trưởng trong quản lý doanh nghiệp Người ta thường nói đến khái niệm “công ty gia
đình” của người Nhật Bản như là một đặc thù của phong cách quản lý, phương thức quản lý có tính Á Đông
Người Nhật Bản tôn trong tính cách của các cá nhân, phát triển mạnh mẽ vai trò của
cá nhân trong hệ thống
Nhưng bên cạnh đó người Nhật tôn sùng “chủ nghĩa tập thể” Có một vài điều cần nói
về quan điểm cho rằng, sức mạnh của các công ty Nhật Bản chính là chủ nghĩa tập thể Mặc dù các vấn đề liên quan đến vấn đề này như hệ thống quản lý và nhân sự gồm chế độ làm việc suốt đời, cất nhắc những người có kinh nghiệm làm việc và chế
độ nghiệp đoàn của công ty, hoặc chế độ quản lý sản xuất và chất lượng như vòng quay kiểm tra chất lượng V V là nền tảng cơ bản của hệ thống Nhật Bản sẽ được chúng ta xem xét cụ thể hơn ở phần sau, có thể khẳng định rằng chủ nghĩa tập thể tồn tại như là một nền tảng căn bản của hệ thống Nhật Bản Mỗi thành viên tham gia đã xây dựng một mối quan hệ lâu dài, ổn định và sự thành công của tổ chức được tạo dựng hiệu quả thông qua liên kết và hợp tác Có nhiều quan điểm cho rằng trong hệ thống quản lý và sản xuất của Nhật Bản, người lao động đã thể hiện sự trung thành với công ty của mình và chống chọi được với điều kiện làm việc khắc nghiệt trong đó
Trang 17có việc lao động nhiều giờ trong ngày; chính vi vậy, những công việc của công ty luôn được hoàn thiện và Nhật Bản có được sự tăng trưởng kinh tế được coi là thần kỳ sau mất mát, thất bại của chiến tranh thế giới lần thứ II Nói cách khác, chủ nghĩa tập thể
đã mang lại những tác động tích cực cho hệ thống quản lý và sản xuất của Nhật Bản, mang lại sự tăng trưởng kinh tế cao.5 Trong nền kinh tê thế giới, tăng trưởng và đổi mới thường được cho là sẽ đạt được thông qua cạnh tranh trong thị trường mở
Trong các công ty Nhật Bản vân duy trì một truyền thống đặc biệt, đó là chế độ tuyển dụng bên vững, lâu dài (suôt đời) Người có thâm niên tại công ty rất được trọng vọng Nó dường như tương đương với chế độ biên chế nhà nước ở Việt Nam
Giữa các công ty Nhật Bản có một mối quan hệ cực kỳ tin cậy và khăng khít Các nhà đâu tư của Nhật Bản tôn trọng và đặt chữ “tín” lên hàng đầu Vì thế họ đã tạo ra sự đoàn kêt khi tham gia thị trường và đối xử ngang nhau đối với người khác (kể cả người lao động) trong quá trình kinh doanh
Các công ty Nhật Bản luôn có tính toàn cầu Người Nhật Bản chuyển hướng đầu tư ra nước ngoài với sự giải thích về sự thiếu hụt các nguồn tài nguyên trong nước Bên cạnh đó, Người Nhật Bản rât thực tế trong cách kinh doanh Việc sản xuất và bán hàng với các nguồn nguyên liệu, lao động sẵn có sẽ là một lợi thế đáng kể trong cách
tư duy kinh doanh Đó chính là nét văn hoá lớn của các nhà đầu tư Nhật Bản
Quan hệ Chủ - Thợ trong các công ty Nhật Bản và các doanh nghiệp của Nhật Bản đâu tư ra nước ngoài là khá rõ ràng Người Nhật Bản luôn duy trì tôt quan hệ này và coi là một nét truyền thống trong quản lý doanh nghiệp mà người được ca tụng và coi trọng chính là Matsushita Conosuke, Chủ tịch của Tập đoàn Matsushita Denki với nhãn hiệu thương phẩm Panasonisc nổi tiếng toàn cầu Quan hệ con người - quan hệ lao động là những nét cần được quán triệt trong toàn bộ hệ thống kinh doanh Và đầu
tư không phải là một ngoại lệ.
1.3.3 Những nét tương đồng và dị biệt trong văn hoá tác động tới đầu tư của Nhật
Bàn tại Việt Nam
Nghiên cứu về văn hoá trong đầu tư nói chung và trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) là rất quan trọng Một quốc gia muốn đầu tư ra nước ngoài hoặc muốn thu hút dòng vốn đầu tư từ nước ngoài vào nước mình cần hết sức lưu ý đến vấn đề văn hoá Vãn hoá có tác động rất lớn, thậm chí trực tiếp tới đầu tư Việc chấp nhận hay từ chối một nền văn hoá, việc phản ứng trước một hành vi của một người không cùng quốc tịch là những điểm dễ thấy khi tiếp cận với văn hoá Vì vậy, trong đề tài này văn hoá đầu tư được coi là yểu tố liên quan có tính mở đường cho các vấn đề pháp luật Bởi vì,
5 Nghiên cứu sớm nhất phân tích “ Hệ thống quàn lý Nhật Bàn” với các yếu tố đặc biệt Nhật Bàn là nghiên cứu cùa Abegglen, J.c Và một ví dụ về nghiên cứu xem xét ưu điềm của chủ nghĩa tập thể ưong công ty của Nhật Bản là cuốn sách của Ezra F Vogel do Nhà xuất bản đại học Havard xuất bàn 1980 “Nhật Bản là số một: bài học kinh nghiệm cho Hoa K ỳ”.
Trang 18văn hoá có mối liên hệ vô cùng mật thiết tới đường lối, chính sách và pháp luật đầu tư, đến hành động đầu tư.
Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia thuộc khu vực châu Á, Nhật Bản thuộc vùng Đông Á, Việt Nam thuộc vùng Đông Nam Á Cả hai đều là quốc gia có biển (Nhật Bản có biển bao quanh, Việt Nam có bờ biển dài) và đều thuộc Thái Bình Dương, v ề nhân chủng học (anthropology), dân tộc Nhật Bản và Việt Nam đều thuộc chủng da vàng Người dân Việt Nam và Nhật Bản đều phát triển từ nông nghiệp, trong đó có điểm đặc trưng là trồng lúa gạo Vì vậy, cả hai dân tộc Nhật Bản và Việt Nam đều có những nét văn hoá tương đồng
- Người Việt Nam và Nhật Bản đều coi trọng văn hoá ôn hoà (dĩ hoà vi quý) Người Nhật Bản cũng như người Việt Nam không ưa sự gắt gao Sự tôn kính, trọng đãi những tầng lớp bề trên, người cao tuổi, người có công lao trong cộng đồng, làng xã,
cơ quan, trường học như là nét văn hoá đặc trưng của hai dân tộc Mặc dù là một nước công nghiệp phát triển nhưng Nhật Bản vẫn giữ được những truyền thống đặc biệt Á Đông, như là một đặc trưng để phân biệt với truyền thống phương Tây
- về khía cạnh tôn giáo, Việt Nam và Nhật Bản đều theo đạo Phật Nhật Bản có khoảng 96 triệu tín đồ đạo Phật Phong tục đốt nhang (hương thơm) trong đền, nơi thờ
tự, đứng chắp tay hay quỳ một cách trang nghiêm để tỏ lòng tôn kính thánh thần; việc
đi lễ cầu may, cúng tiền cầu phúc là những nết văn hoá rất gần gũi với người Việt Nam
- Truyền thống thờ ông bà tổ tiên là một nét văn hoá rất phương Đông của người Việt Nam và Nhật Bản
- Việt Nam và Nhật Bản đều có nét chung là chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa Những ảnh hưởng rõ nét là văn hoá Nho giáo và Đạo giáo, cung cách lễ hội, ẩm thực Các món ăn dân dã vẫn là nét chủ đạo của thực đơn của người Nhật Bản
- Người Việt Nam và người Nhật Bản đều rất yêu thiên nhiên, gần gũi với thiên nhiên Nghệ thuật sinh vật cảnh là những nét tương đồng khá lý thú của hai dân tộc
Bên canh những nét tương đồng, nền văn hoá của hai nước Việt Nam và Nhật Bản cũng có những nét dị biệt tiêu biểu, đó là:
- Nhìn chung, trong quan hệ xã hội hay gia đình, người Nhật Bản có thái độ kính trọng người có địa vị, cao tuổi hơn
- Người Nhật Bản có thái độ thâm trầm hơn trong các giao tiêp xã hội Họ không dành nhiều quá thì giờ cho các hoạt động vui chơi lãng phí thời gian, tiên bạc
- Ý thức pháp luật và thái độ tôn trọng các quy tắc của người Nhật rât cao Họ là những người đã được rèn luyện trong môi trường của một nên công nghiệp lớn thứ hai trên thế giới
- Người Nhật Bản thường là những nhà đầu tư thận trọng và thông minh, rât có chiến lược Họ là những người ưa thích đầu tư dài hạn
- Các nhà đầu tư Nhật bản quan tâm đầu tư ở những vùng, miên có bôi cảnh tự nhiên, xã hội tương đồng với họ Theo quan điểm này, và trong thực tiên (theo
ý kiến của một số quan chức Việt Nam) các nhà đầu tư Nhật Bản dường như
Trang 19thích đầu tư ở phía Bắc Việt Nam hơn là ở phía Nam bởi văn hoá của Nhật có
vẻ như tương đồng hơn do lối sống và tính cách của người dân miền Bắc không quá mạnh
Sự tương đồng hay dị biệt về văn hoá là vấn đề khách quan Nó được hỉnh thành và chi phối bởi những yếu tố của đời sống xã hội, yếu tố con người, thiên nhiên, những giá trị truyền thống lâu đời của người dân Văn hoá là sản phẩm của xã hội nhưng khi
đã hình thành thì nó có vai trò tác động mạnh mẽ đến đời sống của cá nhân và cộng đồng Trong thời đại ngày nay, khi mà quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế đang diễn
ra mạnh mẽ thì yếu tố văn hoá càng được xem trọng
Nghiên cứu về những vấn đề văn hoá có thể thấy, về tâm lý, tình cảm, người Nhật Bản không ưa những mánh lới làm ăn xô bồ, mạo hiểm Các nhà đầu tư Nhật Bản rất ưa một môi trường ổn định chính trị, xã hội có tôn ti, kỷ cương, người dân lao động cần
cù, chất phác Người Nhật Bản không ưa những biến động chính trị xã hội thường xuyên, những tư tưởng và hành vi chống đối, thiếu thật thà, ngay thẳng Bởi vì đó là những yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững của những thương hiệu lớn
Có thể nói, sự tương đồng văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản là vấn đề rất đáng lưu
ý trong quá trình thiết lập quan hệ giữa hai quốc gia Không chỉ có vậy, trong chính sách thu hút đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam, cần phải tính đến những yếu tố của văn hoá có thể ảnh hưởng hoặc tích cực, hoặc tiêu cực đối với quá trình đầu tư
Một nền chính trị ổn định là điều quan tâm của các nhà đầu tư Nhật Bản bởi nó liên quan tới vận mệnh và sở hữu của họ Nhưng văn hoá cũng là vấn đề mang lại thành bại cho các nhà đầu tư Và điều này là bài học lớn cho việc xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
1.4 Bài học về thu hút đầu tư nước ngoài qua kiiih nghiệm của thành phố Hà Nội
Hà Nội là một trong hai thành phổ quan trọng nhất của Việt Nam, có vị trí rất quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội Những năm qua Hà Nội là một trong những tỉnh bị đánh giá thấp về sự hấp dẫn đầu tư của Việt Nam (theo đánh giá của VCCI) Do đó vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài nói chung của thành phố Hà Nội là một tmg những vấn đề cần đánh giá và rút ra bài học cho tương lai, không chỉ đối với Hà Nội mà còn
là bài học cho các tỉnh khác Trên địa bàn thành phố Hà Nội, một số doanh nghiệp đã tiến hành các dự án đầu tư Song so với tiềm năng của một thành phố lớn, có lợi thế về mọi mặt nhưng các doanh nghiệp nước ngoài không mấy “mặn mà” Trong tình hình hiện tại, với sự mở rộng thành phố Hà Nội, với một địa thê mới, thành phô Hà Nội cân
có sự tổng kết, rút ra những bài học để có thể thu hút mạnh đầu tư, cải thiện bộ mặt kinh tế của thành phố
Bài học rút ra của thành phố Hà Nội là từ việc thiết kế chính sách thu hút đầu tư, chính sách đào tạo nghề cho người lao động, việc tổ chức các hoạt động thẩm định, cấp phép, giải quyết các vướng mắc về hành chính xung quanh quá trình triển khai thu hút và giải quyết tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài Hà Nội thực sự chưa có chính
Trang 20sách riêng đối với các doanh nghiệp Nhật Bản đó cũng là một vấn đề cần có sự nghiên cứu, đánh giá.
2 Những quy định pháp luật cơ bản điều chỉnh hoạt động đầu tư phục vụ cho các nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam
Các quy định pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạt động đầu tư phục vụ cho các nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam bao gồm: hệ thống các quy định cơ bản của pháp luật phục vụ cho việc thành lập và vận hành doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các quy định về đảm bảo và bảo vệ các nhà đầu tư
2.1 Pháp luật yề thành lập doanh nghiệp
Một trong những biểu hiện quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) về đâu tư nước ngoài là việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư Việc thành lập các doanh nghiệp đâu tư đảm bảo cho tính hiện thực của đầu tư Vì thế, các quy định về thành ỉập doanh nghiệp là điều kiện để các nhà đầu tư triển khai đưa tiền vốn vào sản xuất, kinh doanh
Theo quy định của pháp luật Việt Nam các nhà đầu tư nói chung, các nhà đầu tư Nhật Bản cân phải hiếu rõ và có toàn quyền lựa chọn loại hỉnh đầu tư và loại hình doanh nghiệp để thực hiện việc đầu tư
Khi thực hiện hình thức đầu tư gắn với thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam, nhà đầu
tư Nhật Bản có thể thực hiện theo hai cách:
- Nhà đầu tư Nhật Bản độc lập, các nhà đầu tư Nhật Bản hợp tác với nhau hoặc hợp tác với các nhà đầu tư nước khác đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nglũệp và pháp luật có liên quan
- Nhà đầu tư Nhật Bản liên doanh với tổ chức, cá nhân Việt Nam để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan
Các loại hình doanh nghiệp có thể thành lập phục vụ cho hoạt động đầu tư, tái đầu tư gồm: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên, công ty TNHH một thành viên, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, loại hình được nhà đầu tư Nhật Bản chọn sử dụng nhiều là công ty cổ phần và công ty TNHH
Quá trình đầu tư cần thực hiện qua các bước: đăng ký đầu tư (kể cả loại hình và vốn đầu tư); thẩm tra đầu tư (đối với một số dự án) Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp
và tiến hành các hoạt động đầu tư phải tuân thủ các quy dịnh của Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp Việt Nam
2.2 Pháp luật lao động
Pháp luật lao động đảm bảo cho doanh nghiệp đầu tư được quyền tuyển chọn, sử dụng lao động phục vụ cho hoạt động đầu tư
Trang 21Theo pháp luật lao động Việt Nam, các nhà đầu tư nói chung, các nhà đầu tư Nhật Bản nói riêng có quyền tuyển chọn người lao động Việt Nam hoặc người lao động là người nước ngoài để tiến hành sản xuất kinh doanh Đó là một trong những lợi thế có tính mở của pháp luật lao động Việt Nam dành cho các nhà đầu tư.
Quan hệ lao động trong các doanh nghiệp đầu tư Nhật Bản phải được thiết lập thông qua giao kết hợp đồng lao động với những hình thức và chủng loại do pháp luật quy định Nhà đầu tư Nhật Bản phải tuân thủ pháp luật lao động trong việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, trả lương, đóng bảo hiểm xã hội, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động, tôn trọng quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn
và quyền đình công của người lao động Doanh nghiệp đầu tư Nhật Bản được quyền quản lý lao động trên cơ sở các quy định của pháp luật lao động và thông qua việc ban hành nội quy lao động và hợp tác với tổ chức công đoàn Xung quanh các quy định của luật lao động, các nhà đầu tư Nhật Bản cần lưu ý một số điểm sau:
- Một là: Mau hợp đồng lao động còn đơn giản, mới chỉ bao gồm những nội dung cơ bản Do đó cần thiết kế riêng mẫu hợp đồng lao động chi tiết cho riêng doanh nghiệp Nên ký hợp đồng lao động bằng hình thức văn bản để thuận lợi khi áp dụng xác định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên
- Hai là: Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được quyền tuyển chọn lao động theo nhu cầu nhân lực của mình trực tiếp hoặc qua các tổ chức giới thiệu việc làm Việc tuyển chọn người lao động là người nước ngoài phải tuân theo những quy định riêng Bên cạnh đó, vấn đề đào tạo nghề cho người lao động để tiếp nhận công nghệ mới vẫn
là việc luôn được đề cập nhưng chưa được tiến hành mạnh mẽ
- Ba là: Các doanh nghiệp đầu tư cần hợp tác với công đoàn để ký kết thoả ước lao động tập thể một cách chi tiết và xác định rõ các điều kiện lao động Muốn vậy, trong doanh nghiệp nên tạo điều kiện để người lao động thành lập và hoạt động công đoàn, bời vỉ nếu không có công đoàn thi không có chủ thể nào có thể đại diện cho tập thế lao động để ký kết thoả ước Việc ký kết thỏa ước lao động tập thể sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư, người sử dụng lao động có được cơ sở pháp lý vững chắc để điều chỉnh môi quan hệ lao động và sử dụng thỏa ước lao động tập thể làm công cụ quản lý lao động
- Bốn là: về vấn đề đại diện: Người lao động có thể thông qua đại diện là tố chức công đoàn để liên hệ với người sử dụng lao động nhằm xúc tiến các vấn đê vê quyên lợi cho người lao động Nhưng ở Việt Nam chỉ có một loại công đoàn duy nhất Đôi với người sử dụng lao động: hiện nay chưa có chủ thể đại diện do người sử dụng lao động bầu ra (không có tổ chức của giới chủ) Những tổ chức hiện đang là đại diện của người sử dụng lao động được Thủ tướng chính phủ chỉ định gôm Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
- Năm là: Việc sa thải người lao động vi phạm kỷ luật lao động phải tuân theo một quy trình rành mạch, gồm trình tự theo quy định Các đơn vị có sử dụng từ 10 người lao động trở lên đều phải có Nội quy lao động, nếu không sẽ mât quyên xử lý kỷ luật lao động Do đó, doanh nghiệp đầu tư cần ban hành Nội quy lao động chi tiêt và đăng
ký Nội quy tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Các doanh nghiệp thuộc khu
17
Trang 22chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao (gọi chung là khu công nghiệp) sẽ đăng
ký tại Ban quản lý khu công nghiệp
- Sáu là: Người lao động có quyền đình công Người sử dụng lao động không có quyên giải công hoặc đóng cửa doanh nghiệp (bê xưởng) Ở Việt Nam pháp luật cho người lao động được quyên đình công với cả các tranh chấp lao động về quyền và các tranh chấp lao động về lợi ích
- Bẩy là: Việc giải quyết các tranh chấp lao động được phân chia thành hai cơ chế rõ rệt: cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thê Do đó, khi có tranh chấp lao động xảy ra cần vận dụng đúng các quy định đó cho phù hợp
2.3 Pháp luật về thuế
Pháp luật thuể là bộ phận rất quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản cũng như các nhà đầu tư trên thế giới Chính sách, pháp luật thuế trực tiếp tác động tới túi tiền của các nhà đầu tư Mỗi sự tăng giảm, thay đổi sẽ dẫn đến những phản đáp tương ứng của các nhà đầu tư
Pháp luật thuế gồn hai bộ phận chính:
- Các săc thuế: gồm: thuế xuất - nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân Môi sắc thuế sẽ có tác dụng và ảnh hưởng nhất định đến các nhà đầu tư
- Các quy định về quản lý thuế Các quy định về quản lý thuế được thể hiện tập trung trong một đạo luật riêng, gọi là Luật quản lý thuế Đạo luật này được Quốc Hội thông qua năm 2006 và bắt đầu có hiệu lực kể từ 1 tháng 7 năm 2007 trên toàn lãnh thổ Việt Nam Đây là lần đầu tiên các quy định mang tính thủ tục
về thuê được tách riêng khỏi các sắc thuế và được quy định trong một đạo luật riêng, độc lập với các quy định mang tính nội dung của từng sắc thuế Luật quản lý thuế tập trung vào các nội dung cơ bản như: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, tiền phạt, quản lý thông tin về người nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định về thuế, xử lý vi phạp pháp luật thuế, giải quyết khiếu nại về thuế
Nhìn chung pháp luật thuế của Việt Nam hiện tại đang tạo ra khá nhiều thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình đầu tư vào Việt Nam Tuy nhiên, một số hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thuế cũng như hệ thống thực thi pháp luật thuế
là không thể tránh khỏi và đó là điều mà các nhà đầu tư nước ngoài cần lưu ý đe phòng tránh các ảnh hưởng bất lợi của nó khi quyết định đầu tư vào Việt Nam
Trang 23Theo pháp luật Việt Nam việc mở ra các hình thức dịch vụ tài chính, trong đó quan trọng nhất là dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm Những hình thức dịch vụ tài chính tạo ra những điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài khi tổ chức sản xuất, luân chuyển tiền vốn và đảm bảo an toàn về sở hữu khi đầu tư tại Việt Nam.
Pháp luật về dịch vụ tài chính tập trung vào ba nhóm chính: các dịch vụ ngân hàng, các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ chứng khoán Các nhà đầu tư được quyền tham gia các dịch vụ tài chính và được quyền vay tín dụng phục vụ cho hoạt động đầu tư Việc
mở cửa đối với hoạt động ngân hàng, việc tăng cường các loại hình tín dụng, chiết khấu, việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm và thị trường chứng khoán là những chính sách thông thoáng và khá quan trọng đáp ứng cho hoạt động đầu tư đa dạng
Tuy nhiên, theo đánh giá chung, pháp luật về các dịch vụ tài chính của Việt Nam chưa đảm bảo tính khoa học, còn gây cản trở cho hoạt động của các nhà đầu tư Nhật Bản Các văn bản pháp luật còn chồng chéo không thể khắc phục; nhiều quy định còn bó buộc các nhà đầu tư, hơn nữa lại hay thay đổi như về tỷ lệ nội địa hoá, tỷ lệ bắt buộc xuất khẩu, về chi phí quảng cáo, tiếp thị Chính sách thuế chậm cải tiến như thuế GTGT phức tạp, thiếu rõ ràng; thuế thu nhập cá nhân quá cao Chi phí dịch vụ đầu vào như cước điện thoại quốc tế gấp 7 lần Singapore; 2,5 lần Malaysia và 2 lần Indonesia; giá thuê đất các khu công nghiệp tương đương các nước trong khu vực nhưng phí sử dụng cơ sở hạ tầng lại cao hơn
2.5 Pháp luật đất đai
Vai trò của pháp luật đất đai là tạo điều kiện cho các nhà đầu tư về vị trí, địa điểm đầu tư Nhà đầu tư là người thuê sử dụng đất để xây dựng nhà máy, văn phòng, chi nhánh, cửa hàng, mua nhà để ở trong quá trình thực hiện dự án đầu tư
Các nhà đầu tư Nhật Bản khi thuê đất để thực hiện dự án đầu tư cần lun ý các thủ tục sau:
- Nhà đầu tư nước ngoài nộp 2 bộ hồ sơ xin thuê đất đến Sở Tài nguyên và Môi trường nơi thực hiện dự án đầu tư Theo quy định tại điều 122 Luật đất đai năm 2003,
bộ hồ sơ xin thuê đất gồm: (i) Đơn xin thuê đất theo mẫu (do Sở Tài nguyên và Môi trường cung cấp); (ii) Bản sao giấy chứng nhận đầu tư có chứng thực của công chửng nhà nước; (iii) Dự án đầu tư
- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hô sơ, trích lục hồ sơ địa chính hoặc trích đo địa chính khu đất xin thuê, xác định mức thu tiền thuê đất và các thủ tục để trình ƯBND cấp tỉnh quyết định việc cho thuê đất cho nhà đầu tư
- Trao quyết định cho thuê đất cho nhà đầu tư, đại diện Sở Tài nguyên và môi trường
ký hợp đồng thuê đất với nhà đầu tư nước ngoài ( hợp đồng thuê đất theo mâu do phía
Sở Tài nguyên và Môi trường cung cấp) Thời gian bàn giao đât cho nhà đâu tư nhanh hay chậm phụ thuộc vào đất đã được giải phóng mặt băng hay chưa được giải phóng mặt bằng Theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 122 Luật đất đai, tông thời gian thực hiện các thủ tục hành chính trong trường hợp đât đã giải phóng mặt
Trang 24bằng là 20 ngày (đất đã giải phóng mặt bằng được hiểu là đất không còn bất cứ ai đang sử dụng có thể gây khó khăn cho nhà đầu tư, sẵn sàng chuyển giao từ nhà nước Việt Nam cho nhà đâu tư) Đôi với đất chưa được giải phóng mặt bằng thì có thêm thời gian và thủ tục thu hôi đất từ phía nhà nước Việt Nam Do đó, theo quy định tại điêm a, điêm b và điêm c khoản 3 điều 122 Luật đất đai thì tổng thời gian cho các thủ tục về xin thuê đất ít nhất là 40 ngày.
- Nhà đầu tư nước ngoài không phải trả tiền bồi thường khi thu hồi đất Trách nhiệm bồi thường thuộc về phía Việt Nam
- Nhà đầu tư nước ngoài được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được phép thực hiện các quyền của mình theo đúng các quy định của pháp luật đất đai (Điều 118- Điều 120 Luật đất đai)
Nếu muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các nhà đầu tư Nhật Bản cần lưu ý: Các
dự án mà nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có thể là: + Dự án đâu tư kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp và khu công nghiệp tập trung khác có cùng chế độ sử dụng;
+ Dự án đầu tư thuộc khu công nghệ cao, khu kinh tế;
+ Dự án đầu tư kết cấu hạ tầng khu đô thị, khu dân cư nông thôn;
+ Dự án đầu tư sản xuất kinh doanh;
+ dự án đầu tư xây dựng nhà ở đã hoàn thành đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng dung chung của dự án
Các nhà đầu tư Nhật Bản có quyền mua nhà theo pháp luật Việt Nam Theo đó, có 5 nhóm đối tượng sau được phép mua nhà:
+ Thứ nhất, cá nhân người nước ngoài có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam;
+ Thứ hai, cá nhân người nước ngoài có công đóng góp cho Việt Nam được nhà nước tặng thường Huân chương, Huy chương, cá nhân nước ngoài có đóng góp đặc biệt cho Việt Nam theo quy định của Chính phủ
+ Thứ ba, cá nhân nước ngoài đang làm việc trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có trình
độ từ đại học hoặc tương đương trở lên và người có kiến thức, kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu;
+ Thứ tư, cá nhân người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam;
+ Thứ năm, là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, không có chức năng kinh doanh bất động sản, có nhu cầu về nhà ở cho những người đang làm việc tại doanh nghiệp đó
2.6 Pháp luật về kinh doanh bất động sản
Hoạt động kinh doanh bất động sản là khá mới mẻ ở Việt Nam Tuy nhiên, nó là một trong những hoạt động thu hút đầu tư quan trọng trong quá trình thúc đẩy nền kinh tế,
xã hội Việt Nam Theo pháp luật Việt Nam, các nhà đầu tư Nhật Bản có thể đầu tư vào lĩnh vực bất động sản hoặc tham gia thị trường bất động sản với các loại hình dịch
vụ BĐS, bao gồm: (i) Dịch vụ môi giới BĐS; (ii) Dịch vụ định giá BĐS; (iii) Dịch vụ sàn giao dịch BĐS; (iv) Dịch vụ tư vấn BĐS; (v) Dịch vụ đấu giá BĐS; (vi) Dịch vụ
Trang 25quảng cáo BĐS; (vii) Dịch vụ quản lý BĐS Những loại BĐS được đưa vào kinh doanh bao gồm:
- Các loại nhà, công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng;
- Quyền sử dụng đất (QSDĐ) được tham gia thị trường BĐS theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Các loại BĐS khác theo quy định của pháp luật
Nhà nước Việt Nam có chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh bất động sản; các chính sách ưu đãi này bao gồm:
- Nhà nước Việt Nam miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất xây dựng công trình có chuyển giao cho Nhà nước, công trình hạ tầng không kinh doanh, nhà chung cư phục vụ cho các đối tượng chính sách;
- Tố chức tín dụng nhà nước cho vay ưu đãi đầu tư đối với các dự án xây dựng nhà ở để cho thuê, cho thuê mua, bán cho người có công, người nghèo, người có thu nhập thấp, sinh viên, công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất;
- Nhà nước khuyến khích và có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân kinh doanh BĐS đầu tư tạo lập quỹ nhà ở để bán trả chậm, trả dần, cho thuê, cho thuê mua đối với người có công, người nghèo, người có thu nhập thấp; đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp để cho thuê mặt bằng phục vụ sản xuất;
4 Nhà đầu tư nước ngoài được phép hoạt động đầu tư trong kinh doanh nhà, công trình xây dựng trong phạm vi và theo các hình thức cụ thể sau:
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được kinh doanh BĐS trong đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh BĐS được đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo các hình thức sau đây: (i) Đầu tư xây dựng mới Iihà, công trình xây dựng; (ii) Đầu tư cải tạo, sửa chữa nhà, công trình xây dựng có sẵn;
- Tổ chức, cá nhân đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để kinh doanh phải phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
- Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng khu đô thị mới, khu nhà ở, hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp phải có dự án đầu tư Việc lựa chọn chủ đầu tư dự án khu đô thị mới,
dự án khu nhà ở, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp phải được thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng và pháp luật về đấu thầu Chủ đầu tư dự án phải
có năng lực tài chính để thực hiện dự án;
Trên cơ sở các quy định của luật kinh doanh BĐS 2006 các nhà đâu tư Nhật Bản có thể lựa chọn các loại hình và lĩnh vực đầu tư về bất động sản theo quy định của pháp luật nhằm thu được lợi ích cao nhất và được hưởng những ưu đãi từ phía nhà nước Việt Nam
2.7 Pháp luật môi trường
Việc tuân thủ phap luật môi trường là trách nhiệm trong quá trình đầu tư vào Việt Nam Điều này có thể làm tăng chi phí và các nguồn lực khác trong quá trình đầu tư
Trang 26Nhưng mặt khác, nó sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh về sản xuất sạch và thanh danh của doanh nghiệp nước ngoài Các doanh nghiệp của Nhật Bản được biết đến như là những mâu hình vê tôn trọng môi trường và giữ gìn vệ sinh, an toàn.
Các nhà đâu tư Nhật Bản khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam cần lun ý những vấn đề liên quan đến việc thực hiện pháp luật môi trường như sau:
- Một là: thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia của Việt Nam Trong đó: (i) Quy chuân kỹ thuật vê chât lượng môi trường xung quanh quy định giá trị giới hạn cho phép của các thông sô môi trường phù hợp với mục đích sử dụng thành phần môi trường, bao gôm: i) Giá trị tôi thiểu của các thông số môi trường bảo đảm sự sống
và phát triên bình thường của con người, sinh vật; và ii) Giá trị tối đa cho phép của các thông sô môi trường có hại đê không gây ảnh hưởng xấu đến sự sống và phát triển bình thường của con người, sinh vật (ii) Quy chuẩn kỹ thuật về chất thải quy định cụ thể giá trị tối đa các thông số ô nhiễm của chất thải bảo đảm không gây hại cho con người
và sinh vật Thông sô ô nhiêm của chất thải được xác định căn cứ vào tính chất độc hại, khối lượng chất thải phát sinh và sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải
- Hai là: tuân thủ công tác đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kêt bảo vệ môi trường Trong đó: (i) Đánh giá môi trường chiến lược (viêt tắt là ĐMC) là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiên lược, quy hoạch, kê hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm đảm bảo phát triên bền vững Hoạt động này dành riêng cho các dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triên kinh tê xã hội mang tính vĩ mô, tính định hướng cao, mức độ ảnh hưởng tới môi trường khi triển khai thực hiện là rất đa dạng, phức tạp và chưa thể xác định cụ thê (ii) Đánh giá tác động môi trường (viết tắt là ĐTM) là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo
vệ môi trường khi triển khai dự án đó Hoạt động này áp dụng đối với các dự án đầu
tư cụ thê có mức độ ảnh hưởng tới môi trường tương đôi lớn và khá cụ thể cho nên việc phân tích, dự báo các tác động tới môi trường trong trường hợp này đòi hỏi phải
cụ thê, rõ ràng và mang tính khoa học kỹ thuật cao đê có thê ứng dụng trực tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm bảo vệ môi trường Ví dụ phân tích cụ thể về mức độ xả thải chất thải, mức độ ảnh hưởng của chất thải tới sức khoẻ con người, năng suất cây trồng, vật nuôi (iii) Cam kết bảo vệ môi trường (viết tắt là CBM) là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của các dự án đầu tư cụ thê, các cơ sở sản xuât, kinh doanh, dịch vụ quy mô nhỏ (không thuộc diện phải đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường) để tim ra các giải pháp bảo
vệ môi trường phù hợp trong quá trình hoạt động của các đối tượng này Hoạt động này áp dụng với các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các dự án quy mô nhỏ, mức
độ ảnh hưởng tới môi trường không lớn nên việc phân tích, dự báo mức độ ảnh hưởng tới môi trường tuy cần có sự cụ thể, rõ ràng, mang tính khoa học kĩ thuật cao song không phức tạp và chi tiết như ĐTM, trong đó các giải pháp bảo vệ môi trường cũng gần giống như trong hoạt động ĐTM tức là cũng đòi hỏi phải cụ thể, chi tiết, mang tính khoa học kỹ thuật và có thể ứng dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh để bảo vệ môi
Trang 27trường song các giải pháp này đơn giản hơn so VỚI ĐTM vì các đối tượng phải thực hiện CBM là các cơ sở, các dự án có mức độ ảnh hưởng tới môi trường không lớn.
- Ba là: Thực hiện các quy định về quản lý chất thải: Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chât thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng để hạn chế đến mức thập nhât lượng chât thải phải tiêu huỷ, thải bỏ Doanh nghiệp có hoạt động phát sinh chât thải nguy hại phải lập hồ sơ, đăng ký với cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường câp tỉnh
- Bốn là: Thực hiện các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý (nếu có) của nhà nước trong lĩnh vực môi trường
2.8 Pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là một bộ phận rất quan trọng Bởi vì, trong quá trình đâu tư ra nước ngoài các doanh nghiệp thường chuyển sang địa điểm đầu tư các máy móc, thiêt bị, bí quyết công nghệ, bí quyết kinh doanh, thanh danh để tạo quyên và tính độc đáo nhăm thu hút khách hàng và giành lợi thê kinh doanh Trong thời đại ngày nay, pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ càng trở nên cần thiết Sự cần thiết đó thể hiện ở các vai trò sau:
Thứ nhất, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là sự ghi nhận của Nhà nước đối với các
biện pháp pháp lý đê đảm bảo quyền của các chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ
Thứ hai, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đảm bảo cho tác giả, chủ sở hữu các đối tượng
của quyền sở hữu trí tuệ hường quyền nhân thân và quyền tài sản một cách trọn vẹn
Thứ ba, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ góp phần khuyến khích hoạt động sáng tạo của
các chủ thể đối với đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
Thứ tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ góp phần làm lành mạnh hoá hoạt động ứng
dụng các đối tượng của quyền sở hừu trí tuệ trên thực tế
Thứ năm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong
bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó; sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả; cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm; sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của m ình C ó thể thấy, các quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp đầu tư cũng có thể bị xâm phạm
Trang 28Đe bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có thể sử dụng các biện pháp khác nhau, gồm:
+ Sử dụng các biện pháp tự thân, tự bảo vệ: được sử dụng nhằm ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm Chủ the có thể trực tiếp yêu cầu người xâm phạm hoặc có thể sử dụng các biện pháp khác, nhờ các chủ thể khác bảo vệ quyền của mình
+ Sử dụng biện pháp dân sự: khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự, Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hừu trí tuệ:
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại;
Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu
để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
+ Sử dụng biện pháp hành chính: Các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử phạt hành chính được áp dụng theo qui định tại Điều 215 Luật Sở hữu trí tuệ v ề các hình thức
xừ phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả, Luật Sở hữu trí tuê xác định: Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sờ hữu trí tuệ bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:
* Cảnh cáo;
* Phạt tiền
Bên cạnh hình thức xử phạt chính, tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
(a) Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ;
(b) Đình chỉ có thòi hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm
Ngoài các hình thức xử phạt chính và bổ sung trên đây, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:
(a) Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo vê sở
Trang 29hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;
(b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối vợi hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyên sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuât đôi với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ
phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo vê sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá
+ Sử dụng biện pháp hình sự: cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yêu tô câu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Đôi với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm khi hành vi đó xâm hại tới quyên tác giả, quyền liên quan, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định tội xâm phạm quyên tác giả (Điều 131) và tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác (Điều 271)
+ Sử dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất, nhập khẩu: Cơ quan hải quan có quyên áp dụng các Biện pháp kiêm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến
sở hữu trí tuệ Các biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến
sở hữu trí tuệ bao gồm:
(a) Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
(b) Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Nói chung, để đảm bảo quyền sờ hữu trí tuệ, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thể
sử dụng các cơ chế khác nhau, tuỳ vào tình trạng cụ thể và khả năng thực hiện các biện pháp do pháp luật quy định
2.9 Pháp luật hải quan
Pháp luật hải quan là bộ phận pháp luật rất quan trọng và liên quan trực tiếp tới quá trình đầu tư của các nhà đầu tư Nhật Bản Việc thực hiện pháp luật hải quan đảm bảo cho các hoạt động đầu tư nước ngoài do cơ quan hải quan đảm nhiệm với những chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ công tác xuất, nhập khẩu
Các hoạt động đầu tư liên quan tới việc xuất, nhập khẩu máy móc, thiết bị, mẫu mã hàng hoá, ngoại hối vào và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Chính vì vậy, hoạt động đầu tư chịu sự kiểm tra, giám sát, thực hiện đánh thuế của hải quan theo pháp luật hải quan
Theo quy định của pháp luật hải quan, Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hay quá cảnh qua lãnh thổ hải quan đều có quy định cụ thể về thời hạn khai báo và nộp tờ khai hải
quan, đồng thời cũng quy định rõ thời hạn công chức thực hiện tại các bước, như tiếp nhận, đăng ký, kiểm tra hồ sơ hải quan; kiểm tra thực tế hàng hoá; kiểm tra thuế;
thông quan hàng hoá Cụ thể là:
Trang 30- Tờ khai hải quan phải đảm bảo về hình thức và nội dung, trên cơ sở tham khảo mẫu của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) Tờ khai hải quan là văn bản chi tiết
về khai báo của người khai hải quan, ghi nhận kết quả kiếm tra hàng hoá, kiểm tra thuế của công chức hải quan và thông quan lô hàng của cơ quan hải quan Khai báo hải quan điện tử đã được thực thi trên diện rộng tại các khu công nghiệp, cửa khẩu quốc tế, các địa điểm thông quan nội địa, là tiền đề quan trọng cho việc bãi bỏ tờ khai hải quan bằng giấy và thông quan điện tử sau này
- Kiểm tra hải quan bao gồm kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa Kiểm tra hải quan hiện nay được thực hiện trên cơ sở đánh giá quá trình chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng, các thông tin về lô hàng tại thời điểm xuất khẩu hay nhập khẩu, việc đánh giá trên được thực hiện bằng kỹ thuật quản lý rủi ro thông qua hệ thống mô - đun tích hợp dữ liệu điện tử, xử lý tự động việc phân luồng hàng hóa để quyết định hình thức, mức độ kiểm tra đối với từng lô hàng cụ thể mà không bị phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người
- Trên cơ sở pháp luật hải quan, pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, chủ hàng tự tính thuế, tự nộp thuế xuất khẩu hay thuế nhập khẩu cho hàng hóa của mình vào kho bạc nhà nước thông qua tài khoản mở tại ngân hàng Cơ quan hải quan thực hiện việc kiểm soát thu thuế quy định tại Luật Quản lý thuế 2006, đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách nhà nước và hoàn trả tiền thuế cho các trường hợp theo quy định được hoàn trả nhanh gọn, chính xác
Khai báo hải quan và thủ tục hải quan có thể được thực hiện thông qua đại lý hải quan (Điều 21 Luật Hải quan) Đại lý hải quan là người khai hải quan, làm thủ tục hải quan theo hợp đồng công việc được ký kết với chủ hàng hóa có quyền và nghĩa vụ trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Luật Hải quan quy định “người” này phải hiểu biết pháp luật hải quan, nghiệp vụ khai báo hải quan
và chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi được uỷ quyên Đăng ký và hoạt động của “người” này ngoài việc tuân thủ theo quy định của pháp luật doanh nghiệp
và thương mại, thì còn phải đảm bảo theo những điều kiện riêng về ngành nghề do hải quan quy định, như phải được đào tạo và được cơ quan hải quan cấp chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ có thể bị thu hồi nếu có căn cứ xác định hành vi vi phạm pháp luật hải quan là do người này trực tiếp hay gián tiếp gây nên, như thông đồng hay tiếp tay cho chủ hàng buôn lậu, gian lận thuế hoặc có hành vi gian dôi, gây thât thu cho ngân sách nhà nước
Hiện nay, một trong những vấn đề thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan tuy được Luật Hải quan trù liệu nhưng cần phải được bô sung, hoàn thiện
để đáp úng với yêu cầu hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư trong bối cảnh thực hiện các câm kết trong WTO, như cơ chế chuyển cửa khẩu và việc thiết lập trụ sở hải quan ngoài cửa khẩu, địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khâu (Điêu 17), hay sự bât cập của chế độ “đại lý hải quan” quy định tại Nghị định số 79/2005/NĐ-CP ngày 16 tháng 6 năm 2005 của Chính phủ, Thông tư số 73/2005/TT-BTC ngày 5 tháng 9 năm
2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định trên, hay sự thiêu đông bộ của
Trang 31cơ chế “hải quan điện tử” (Quyết định 1699/QĐ-TCHQ về việc ban hành quy trình và thủ tục hải quan điện tử ngày 25 tháng 9 năm 2007 của Tổng cục Hải quan) Bên cạnh đó, vấn đề quy định điều kiện như thế nào để trờ thành “người” vận tải, chuyên chở hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cũng cần được nghiên cứu, hoàn thiện phù hợp với thông lệ và pháp luật quốc tế về vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu, cần sớm ban hành chế độ pháp lý cho “người” vận tải này để xác định cụ the quyền và trách nhiệm pháp lý cũng như chế tài khi có vi phạm.
Theo pháp luật hải quan Việt Nam, việc tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các nhà đầu tư nói chung, các nhà đầu tư Nhật Bản nói riêng tập trung vào những vấn đề sau:
- Một là: Nhằm thu hút đầu tư và khuyến khích phát triển kinh tế, nhà nước đã có chính sách ưu đãi về thuế, kể cả ưu đãi về thuế nhập khẩu và un đãi gián tiếp qua thuế nhập khẩu đã được đưa ra
- Hai là: Thực hiện chế độ miễn thuế hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự
án khuyến khích đầu tư Theo đó lĩnh vực ưu đãi đầu tư hay địa bàn ưu đãi đầu tư được xác định tại phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư Hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án khuyến khích đầu tư bao gồm: thiết bị, máy móc; phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ được Bộ Khoa học và Công nghệ xác nhận, phương tiện vận chuyển đưa đón công nhân gồm xe ôtô từ 24 chỗ ngồi trở lên và phương tiện thủy; linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ hoặc sừ dụng đồng bộ với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng đó; nguyên liệu, vật tư dùng để chế tạo thiết bị, máy móc nằm trong dây chuyền công nghệ hoặc để chế tạo linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng gá lắp, khuôn mâu, phụ tùng đi kèm; vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được
- Ba là: thực hiện chính sách đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam để gia công cho nước ngoài; chế độ đối với các loại nguyên liệu nhập khẩu của các khu chế xuất
và nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khấu
Bên cạnh đó, việc cải tiến thủ tục hải quan, minh bạch hoá hải quan, chông buôn lậu cững là những động thái quan trọng góp phần tạo ra tâm lý tin cậy của các nhà đầu tư Nhật Bản khi đầu tư vào Việt Nam
2.10 Pháp luật hành chính
Quản lý nhà nước về đầu tư bao gồm việc đăng ký, phê duyệt, thẩm định, câp giây chứng nhận, quản lý các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài Thẩm quyền đó thuộc cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương, liên quan tới chức năng quản lý của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, các Bộ, ngành (đặc biệt là
Bộ Kế hoạch - Đầu tư) và Uỷ ban nhân dân câp tỉnh, Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất Các nhà đầu tư Nhật Bản phải tiến hành các hoạt động đăng
ky, lập hồ sơ và chịu sự thẩm định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được
Trang 32phép đầu tư vào Việt Nam Đối V Ớ I các dự án chưa có quy hoạch phải có sự phê duyệt của Thủ tướng chính phủ mới có hiệu lực.
Đối với khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, thủ tục khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo được pháp luật hiện hành quy định tương đối đầy đủ, chi tiết Các nhà đầu tư Nhật Bản khi khiếu nại, tố cáo các quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến hoạt động đầu tư tuân theo các quy định pháp luật chung liên quan đến vấn đề này.về khiếu nại, tố cáo Chẳng hạn, khi có căn cứ cho rằng đã có các quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong lĩnh vực đầu tư, các nhà đầu tư Nhật Bản có thể thực hiện việc khiếu nại đến các cấp có thẩm quyền Tuỳ từng quyết định và hành vi, cấp
có thấm quyền giải quyết khiếu nại hành chính của nhà đầu tư được xác định cụ thể
Ví dụ, trong lĩnh vực đầu tư, ở địa phương, theo quy định của pháp luật hiện hành, thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đầu tư thông thường có thể
là Giám đốc sở kế hoạch và đầu tư, Trưởng ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu chế xuất, chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; các khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đầu tư còn có thể được giải quyết bởi Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng thanh tra và trong trường hợp đặc biệt có thể có xử lý của Thủ tướng Chính phủ
Khi đã thực hiện quyền khiếu nại hành chính của mình mà các nhà đầu tư vẫn
có căn cứ để cho rằng việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại bằng con đường hành chính không đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, họ có thể khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Căn cứ vào Điều 11 khoản 13 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, các nhà đầu tư
có thể “khiếu kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về đầu tư” tại cơ quan toà án nhân dân Con đường giải quyết tranh chấp bằng
cơ quan tư pháp này sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư có cơ hội được tranh luận bình đẳng, công khai với các cấp quản lý có thẩm quyền tại toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên để sử dụng quyền khởi kiện vụ án hành chính tại toà án, các nhà đâu tư phải tuân thủ một cách chặt chẽ các quy định của pháp luật tô tụng hành chính có liên quan, đặc biệt là các quy định về điều kiện khởi kiện Theo
đó, để khới kiện hành chính tại toà án, các nhà đầu tư trước hết phải thực hiện việc khiếu nại hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước và nếu không thoả mãn với cách giải quyết này mới có quyền khởi kiện tại toà án Đồng thời, việc khởi kiện này phải tuân thủ một cách chặt chẽ các quy định về thời hạn, thời hiệu khởi kiện
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, pháp luật đâu tư hiện hành dù đảm bảo việc khiêu nại, tố cáo và khởi kiện hành chính cho các nhà đâu tư nhưng cũng cô găng đảm bảo trật tự hoạt động và sự thông suốt của bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư Vì vậy, Luật Đầu tư 2005 quy định rõ “Trong thời hạn khiếu nại, tô cáo hoặc khởi kiện, tô chức, cá nhân vẫn phải thi hành quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền về đầu tư”
Trang 332.11 Pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại liên quan đến hoạt
động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Theo Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự (2004), tranh chấp về kinh doanh, thương mại lên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, gồm có:
(1) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm: (a) Mua bán hàng hóa; (b) Cung ứng dịch vụ; (c) Phân phối; (d) Đại diện, đại lí; (đ) Kýgửi; (e) Thuê, cho thuê, thuê mua; (g) Xây dựng; (h) Tư vấn, kỹ thuật; (i) Vận chuyểnhàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; (k) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; (1) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; (m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng; (n) Bảo hiểm; (o) Thăm dò, khai thác
(2) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
(3) Tranh chấp giữa công ti với các thành viên của công ti, giữa các thành viên của công ti với nhau liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ti
(4) Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định
Theo luật Việt Nam, việc giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại nói trên có thể tiến hành trên cơ sờ bốn phương thức cơ bản sau đây:
- Một là: thông qua thương lượng;
- Hai là: thông qua hoà giải;
- Ba là: thông qua trọng tài thương mại; và
- Bốn là: thông qua tòa án nhân dân
Việc giải quyêt qua thương lượng hoàn toàn do sự chủ động của các bên tranh châp Các bên tranh chấp có toàn quyền quyết định vê việc đưa ra nội dung tranh châp, chương trình, nguyên tắc giải quyết, thậm chí kể cả việc lựa chọn địa điêm giải quyêt nhằm đảm bảo sự thuận lợi cho các thỏa thuận
Hoà giải là phương thức giải quyết có sự tham gia của bên thứ ba trung lập Trong các tranh chấp dân sự, thương mại liên quan đến hoạt động đầu tư, “người hoà giải” tham gia giải quyết thường là Trọng tài viên (khi vụ việc đã được đưa ra trọng tài) hoặc Thẩm phan (khi vụ việc đã được đưa ra tòa án nhân dân) Thương lượng, hoà giải có thể giúp các bên giữ gìn mối quan hệ làm ăn, đảm bảo sự bí mật ở mức độ cần thiết có thể .nhưng có nhược điểm là thiếu tính cưỡng chế (trừ phi được hoà giải theo thủ tục
tố tụng tại toà án nhân dân)
Việc đưa ra trọng tài thương mại chỉ có thể là các tranh chấp thương mại mà không gồm các tranh chấp dân sự như hôn nhân, gia đình, chia thừa kê, mua bán hàng hoá tiêu dùng Tranh chấp thương mại được hiểu là các tranh chấp phát sinh từ việc
Trang 34thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phoi; đại diện, đại lí thương mại; kí gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỳ thuật; li xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.
Ở Việt Nam, pháp luật quy định về việc tổ chức và hoạt động của các trung tâm trọng tài Mỗi trung tâm trọng tài thương mại đều độc lập với nhau, có điều lệ riêng Bên cạnh việc lựa chọn giải quyết tranh chấp thương mại tại các trung tâm trọng tài thương mại, các nhà đầu tư có thể đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài vụ việc do các bên lựa chọn theo quy định của pháp luật trọng tài
Điều kiện để đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài thương mại:
(i) Đó phải là một tranh chấp thương mại;
(ii) Giữa các bên phải có thoả thuận trọng tài và thuận đó phải có hiệu
lực
Thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản Thỏa thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài được coi là thỏa thuận trọng tài bằng văn bản Thỏa thuận trọng tài có thể là một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc là một thỏa thuận riêng Trường hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng Việc thay đổi, gia hạn, huỷ
bỏ hợp đồng hay sự vô hiệu của hợp đồn g không ảnh hưởng đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Trên cơ sở các quy tắc tố tụng trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài sẽ tiến hành giải quyết vụ tranh chấp Trong trường hợp không hoà giải được tranh chấp giữa các bên, trọng tài sẽ ra phán quyết về vụ tranh chấp đó và phán quyết trọng tài là chung thẩm Việc giải quyết tranh chấp tại toà án nhân dân tuân theo các quy định của bộ luật tố tụng dân sự, trong đó:
- Các hoạt động xét xử sơ thẩm chủ yếu được thực hiện bởi tòa án nhân dân cấp huyện (trừ các vụ việc: vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiêm; thăm dò, khai thác; tranh châp vê quyên sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty)
và các tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác
tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài là thuộc thẩm quyền sở thẩm của tòa án nhân dân cấp tỉnh
- Các hoạt động xét xử phúc thẩm được thực hiện bởi toà án nhân dân câp tỉnh (nếu vụ tranh chấp được xét xử sơ thẩm tại tòa án nhân dân câp huyện), hoặc
Trang 35xét xử phúc thẩm tại toà phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao (nếu vụ tranh chấp được xét xử sơ thẩm tại tòa án nhân dân cấp tỉnh);
- Các hoạt động xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm được tiến hành với các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật do toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc toà án nhân dân tối cao thực hiện
Các doanh nghiệp đầu tư của Nhật Bản khi có tranh chấp cần lưu ý các quy định nói trên và quyết định lựa chọn phương thức, thời điểm để tiến hành các hoạt động yêu cầu giải quyết tranh chấp để tránh việc hết thời hiệu hoặc tham gia giải quyết tranh chấp có hiệu quả
2.12 Pháp luật về hỗ trợ pháp lý
Hô trợ pháp lý là việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến pháp lý được pháp luật quy định chủ yếu có thu phí nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, nâng cao hiếu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật
Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đều có thể yêu cầu các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ pháp lý nhằm đảm bảo sự an toàn, tính hợp pháp trong quá trình sản xuất, kinh doanh
Theo pháp luật hiện hành việc hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài gồm nhiều hoạt động khác nhau, có thể được thực hiện qua các cơ quan Nhà nước, các
tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các công ty luật hoặc văn phòng luật sư
Theo quy định tại Nghị định số 66/2005/NĐ-CP ngày 28/5/2005, Luật Luật sư ngày 29/6/2006, Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008, việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đầu tư được tiến hành với các hình thức sau đây:
- Xây dựng và khai thác các cơ sở dữ liệu pháp luật phục vụ hoạt động của doanh nghiệp
- Xây dựng tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật
- Bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp
- Giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp
- Tiếp nhận kiến nghị của doanh nghiệp và hoàn thiện pháp luật
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanhnghiệp
- Tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp
- Tham gia tranh tụng
- Đại diện ngoài tố tụng
Trang 36- Các dịch vụ pháp lý khác.
Hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thể được thực hiện bởi các tố chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam hoặc luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam Tuy nhiên, cần lưu ý những vấn đề sau:
+ v ề hình thức hành nghề: Chỉ được tổ chức hoạt động dưới hình thức là Chi nhánh
và Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một trăm phần trăm vốn nước ngoài hoặc công ty luật trách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh (gọi chung là “công ty luật nước ngoài”) mà không được tổ chức dưới hình thức Công ty luật hợp danh hoặc Văn phòng Luật sư (Điều 69- Luật Luật sư)
+ v ề phạm vi hành nghề: Các tổ chức luật sư nước ngoài chỉ được thực hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác, không được cử luật sư nước ngoài tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam, không được cử Luật sư Việt Nam tham gia các vụ án hình sự (Điều 70 - Luật luật sư)
+ v ề điều kiện của Luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam: Có Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam và phải làm việc cho tổ chức hành nghề luật sư tại Viêt Nam với tư các là thành việc hoặc theo hợp đồng lao động (Điều 74- Luật Luật sư).+ v ề phạm vi hành nghề của Luật sư nước ngoài tại Việt Nam: Chỉ được tư vấn về pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế; thực hiện các dịch vụ pháp lý khác liên quan đến pháp luật nước ngoài; chỉ được tư vấn pháp luật Việt Nam trong trường hợp
có bằng cử nhân luật của Việt Nam và đáp ứng đây đủ các yêu câu tương tự như đôi với một luật sư Việt Nam; không được tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam (Điều 76- Luật luật sư) Ở Việt Nam hiện nay, với việc cho phép thành lập và hoạt động của những công
ty luật, vãn phòng luật sư, trung tâm tư vấn pháp luật thi việc hô trợ pháp luật đã trở nên phong phú và khá thuận lợi
1 Thu hút đầu tư nước ngoài nói chung, thu hút đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam là một vấn đề quan trọng để phát triển nền kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Thu hút đầu tư của Nhật Bản là việc làm có tính chất
ưu tiên vì nhiều lý do: Nhật Bản là quôc gia trong khu vực Châu A (Đông A),
có nhiều nét tương đồng về khía cạnh xã hội, văn hoá, phong tục, quan niệm sống Nhật Bản và Việt Nam có mối quan hệ lâu đời, đã từng có những bang giao về kinh tế và triển khai các hoạt động xã hội mà hiện nay dâu tích vân hiện tồn; Nhật Bản là một cường quốc về kinh tế với những thế mạnh đặc thù về
Trang 37công nghệ, chất lượng hàng hoá, mức độ phù hợp về giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá, tính kinh tế của chi phí sản xuất, phong cách quản lý mà từ đó
có thể rút ra những bài học lớn cho Việt Nam; Nhật Bản là quốc gia cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam nhằm phát triển các dự án kinh tế lớn trong lĩnh vực giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, phát triển công nghệ mới, công nghệ hiện đại, công nghệ sạch, sản xuất hàng xuất khẩu Và hơn nữa, đầu tư nước ngoài của Nhật Bản tại Việt Nam sẽ góp phần tạo ra khả năng rất lớn về sử dụng lao động, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống người lao động và giáo dục tác phong công nghiệp, văn hoá công nghiệp cho người lao động Việt
N am Đó là những lợi ích to lớn đã có sự khẳng định trong nhiều năm qua
2 Nhật Bản và Việt Nam là hai quốc gia nằm tại châu Á (cùng thuộc khu vực Đông Á) có những nét tương đồng về văn hoá, có thể dễ dàng hoà nhập và bổ sung cho nhau, dễ dàng giải quyết các vấn đề liên quan đến khía cạnh văn hoá
để thúc đẩy quá trình đầu tư tại Việt Nam
3 Trong những năm qua Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa và thu hút đầu
tư, trong đó có việc thu hút đầu tư của Nhật Bản Tuy nhiên, số vốn đầu tư vào Việt Nam chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản (Theo tổ chức xúc tiến đầu tư và thương mại Nhật Bản - JETRO, tính đến cuối năm 2007 vốn đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam chiếm 1,29% trên tổng so vốn đầu tư tại châu Á; trong khi đó số vốn đầu tư của Nhật Bản tại châu
Á chỉ chiếm 0,31% trên tổng số vốn đầu tư trên thế giới, riêng ở Mỹ là 31,86%
và châu Âu là 26,68%) Điều đó cho thấy việc đầu tư của Nhật Bản chưa tương xứng với tiềm năng
4 Hệ thống pháp luật của Việt Nam đã có những đổi mới quan trọng, đặc biệt là các quy định thu hút, khuyến khích và đảm bảo đầu tư nhằm hấp dẫn đầu tư của Nhật Bản Các đạo luật quan trọng như: Bộ luật dân sự, Bộ luật Lao động, Luật doanh nghiệp, Luật đất đai, Luật dạy nghề, Luật kinh doanh bất động sản, Luật
tổ chức tín dụng; Luật thuế đã được ban hành và hướng dẫn thi hành tạo ra những điều kiện căn bản cho hoạt động đầu tư nước ngoài nói chung và phục
vụ cho đầu tư Nhật Bản nói riêng Nhưng hệ thống pháp luật phục vụ cho đầu
tư nước ngoài vẫn chưa đảm bảo sự đồng bộ, có những quy định chất lượng chưa cao, ví dụ như: sự không thống nhất trong việc quy định hành vi thương mại, tranh chấp thương mại; sự thiếu đồng bộ trong thủ tục xin đầu tư với yêu cầu về quyền thuê đất; việc chưa quy định về tổ chức của người sử dụng lao động; việc chưa có chính sách hợp lý về miễn thuế cho các loại hàng hoá khuyến khích nhập khẩu đầu tư Điều đó đã tạo ra tâm lý không thoải mái, thậm chí nghi ngờ trong các nhà đầu tư Nhật Bản khi vào Việt Nam
5 Theo đánh giá của một số công ty của Nhật Bản (xem phụ lục) hiện đang thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam thì xung quanh việc tạo môi trường pháp lý vẫn cón có những vấn đề cần khắc phục Theo các doanh nghiệp Nhật Bản thì bên cạnh những lợi thế như: chính trị ổn định, một số chính sách đã được thông
Trang 38thoáng; chính phủ có quyết tâm phát triển nền kinh tế theo định hướng thị trường, nguồn nguyên vật liệu rẻ nhưng vẫn còn quá nhiều hạn chế trong chính sách, pháp luật ảnh hưởng tới đầu tư của Nhật Bản, đó là: người lao động Việt Nam chưa đáp ứng về trình độ tiên tiến để sản xuất theo công nghệ tiến tiên; ý thức kỷ luật của người lao động Việt Nam chưa cao; tiêu cực trong quản
lý còn tồn tại; thủ tục rườm rà; pháp luật vẫn còn chồng chéo; không có sự thông nhất cao giữa các địa phương trong việc áp dụng chính sách đầu tư Một trong những vụ điển hình liên quan đến chính sách thiếu nhất quán là vụ đình nhập linh kiện của công ty Honda Việt Nam đã làm xôn xao dư luận Nhật Bản Hoặc vụ việc đang điều tra về quan chức dự án Đông - Tây ăn hối lộ đã làm cho chính phủ Nhật Bản tạm dừng cấp vốn ODA cho Việt Nam trong thời gian qua
6 Đê thu hút mạnh các nhà đầu tư Nhật Bản, cần phải tiến hành các biện pháp cơ bản sau đây:
(i) v ề việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật:
Việt Nam cần rà soát các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài để khắc phục những nhược điểm nhằm tạo tính đồng bộ trong cả hệ thống và trong từng văn bản Không thể để tồn tại những điểm “vênh” giữa luật Đầu tư với Luật Xây dựng, Luật Đất đai mặt khác, cần hạn chế đến mức huỷ bỏ những quy định không có giá trị hoặc làm cản trở quá trình thực thi như quy định về việc bắt buộc Liên đoàn lao động cấp tỉnh phải thành lập công đoàn trong các doanh nghiệp mới thành lập, việc thiếu cơ chế tài chính cho việc kinh doanh bất động sản, việc kéo dài thời hạn giao đất đến 2, 3 năm cho dự án đầu tư kinh doanh bất động sản Đối với các nhà đầu tư Nhật Bản, việc minh bạch hoá pháp luật là điều họ rất quan tâm
Bên cạnh đó, cần có thái độ kiên quyết trong việc xử lý các cá nhân, tổ chức, quan chức gây cản trở, có hành vi tiêu cực, tham nhũng khi thực thi nhiệm vụ liên quan đến các doanh nghiệp đầu tư Nhật Bản để tạo lòng tin vào sử nghiêm minh của pháp luật trong lĩnh vực đầu tư
(ii) về Ngoại giao:
Chính phủ Việt Nam tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ đối tác thân thiện với Nhật Bản nhằm thu hút nguồn vốn ODA vốn đã rất quan trọng đối với Việt Nam Những thoả thuận, cam kết với Nhật Bản cần tập trung vào việc thu hút vốn đầu tư của Nhật Bản vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, thu hút nhiều lao động như công nghệ cao, công nghệ chính xác và thu hút vốn đầu tư Nhật Bản vào các khu công nghiệp trọng điểm Chính sách ngoại giao cần tạo nên mối quan tâm đến tính tương đồng nhằm tạo ra tâm lý tốt trong mối quan hệ Việt - Nhật, mà điều này Thái Lan đã làm được từ lâu
(iii) về sự đảm bảo tính minh bạch và trong sạch của môi trường thi hành pháp luật: Việt Nam cần xúc tiến các biện pháp tổ chức hiệu quả chống tham nhũng Bài học về tham nhũng tại dự án đường đại lộ Đông Tây (PCI) làm cho hình ảnh về các quan chức Việt Nam rất xấu trong con mắt người Nhật Sự cương quyết xử lý các quan
Trang 39chức tham nhũng của chính phủ Nhật và việc ngừng tạm thời cấp vốn ODA chứng tỏ một thông điệp quan trọng: cần phải có thái độ đúng đắn, cần có một môi trường trong sạch trong lĩnh vực làm ăn, trong tiếp nhận vốn, trong đầu tư
(iv) v ề chính sách đào tạo lao động Việt Nam:
Việt Nam hiện đang thiếu lao động có trình độ cao và trình độ lành nghề để có thể tiếp nhận đầu tư của Nhật Bản Theo quan điểm của một số công ty Nhật Bản, kể cả Panasonic, người lao động Việt Nam có những ưu điểm về tính cần cù, sáng dạ nhưng vân chưa đủ kỳ năng để tiếp cận với công nghệ hiện đại Với lực lượng lao động hiện nay, để đáp ứng với nhu cầu thu hút đầu tư tại các khu công nghệ cao do Nhật Bản đầu tư, cẩn phải có chính sách đào tạo nghề cho người lao động theo hướng hiện đại hoá
Đi kèm với đào tạo tay nghề, một trong những yêu cầu về lao động đe đáp ứng cho các doanh nghiệp đầu tư Nhật Bản là thái độ, tác phong của người lao động Một số công ty Nhật Bản vẫn lo ngại về thái độ thiếu hợp tác của người lao động Việt Nam và một số công nhân cá biệt gây rối làm cản trở hoạt động của doanh nghiệp
Chính sách đào tạo nghề cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nhật Bản tiến hành
mở các trường dạy nghề tại Việt Nam hoặc liên kết với các trường nghề Việt Nam để đào tạo lao động tại chỗ phục vụ cho các dự án đầu tư
(v) Các biện pháp bổ trợ:
Cần xúc tiến mạnh mẽ quan hệ với tổ chức xúc tiến đầu tư Nhật Bản (JETRO) và tổ chức hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA) nhằm tăng cường trao đổi, hợp tác trong lĩnh vực pháp luật - thương mại - đầu tư Việt Nam cũng cần thâm nhập vào nền giáo giục (rất ưu việt) của Nhật Bản để tăng cường hợp tác văn hoá và giáo dục, tạo điều kiện để người Việt Nam sang học tập, tu nghiệp tại Nhật Bản
Bên cạnh đó, cần tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá (đã có những khởi động tốt tại Nhật Bản và tại Việt Nam thông qua lễ hội hoa anh đào, giao lưu văn hoá Việt - Nhật) Việc giao lưu văn hoá là một trong những phương pháp mà Thái Lan đã sử dụng thành công trong quan hệ với Nhật Bản (tổ chức Tết Songkran tại Tokyo)
Trang 40PHẦN II
CÁC CHUYÊN ĐÈ
Chuyên đề 1
NHỮNG VẨN ĐÊ LÝ LUẬN VỀ ĐÀỤ T ư NƯỚC NGOÀI
VÀ MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ ĐẢƯ T ư NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
I NHỮNG VẨN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ ĐẢƯ T ư NƯỚC NGOÀI (FDI)
1.1 Tác động tích cực và tiêu cực của FDI đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam (6)
1.1.1 Tác động tích cực
(i) về mặt kinh tế
Thứ nhất' FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu
cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trường kinh tế Đóng góp của FDI trong tổng vốn đâu tư xã hội của Việt Nam có biên động lớn, từ tỷ trọng chiêm 13,1% vào năm 1990
đã tăng lên mức 32,3% trong năm 1995 Tỷ lệ này đã giảm dần trong giai đoạn 1996 -
2000, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực (năm 2000 chiếm 18,6%) Trong 5 năm 2001 - 2005, tỉ lệ này khoảng 16% tổng vốn đầu tư xã hội; hai năm 2006
- 2007 chiếm khoảng 16% Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tuỳ theo từng thời kỳ, vốn FDI chiếm tỉ trọng 16,2% - 29,9% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 16% - 24,2% GDP của Việt Nam Tính đến cuối năm 2008, FDI chiếm khoảng 45% kim ngạch xuất nhập khâu Từ năm 1987 đên cuôi năm 2008, có 82 quôc gia và vùng lãnh thổ đâu tư trực tiếp vào Việt Nam, với gần 10.000 dự án còn hiệu lực và tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 144,5 tỉ USD
Thứ hai: FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao
năng lực sản xuất công nghiệp FDI đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may, Hiện nay, FDI đóng góp 100% sản lượng cùa một số sản phẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60% cán thép, 33% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giày, 55% sản lượng sợi, 25% hàng may mặc
Thứ ba: FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
6 w w \y ;mpL£Ov vn , 20 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1988 - 2007).