1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phiên tòa sơ thẩm dân sự từ thực tiễn thực hiện tại tòa án nhân dân quận bắc từ liêm, thành phố hà nội

86 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 4,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên các tạp chí khoa học pháp lý, một số tác giả cũng đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của pháp luật về PTSTDS như:Công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác tron

Trang 1

NGUYỄN THỊ THÙY LIÊN

PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM,

Trang 2

nêu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu và vụ án nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thùy Liên

Trang 3

Nguyễn Hải An, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện Luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, khoa sau đại học cùng toàn thể các thầy cô giáo Trường đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy lớp cao học ứng học khóa 24 trong suốt thời gian vừa qua

Đồng thời tôi cũng xin được cảm ơn chân thành tới tập thể lãnh đạo Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội và các đồng nghiệp luôn ở bên, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những người thân trong gia đình tôi, những người luôn động viên, chia sẻ với tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn

Trong quá trình hoàn thiện luận văn, mặc dù đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện Luận văn nhưng vẫn không tránh khỏi có những thiếu sót nhất định và có thể có những vấn đề mới chỉ được đề cập mà chưa được phân tích, đánh giá, chứng minh một cách thuyết phục Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các Thầy, cô giáo để Luận văn được hoàn thiện hơn

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thùy Liên

Trang 4

BLTTDS năm 2004 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 BLTTDS năm 2015 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Trang 5

SỰ 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự 8

1.1.1 Khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sự 8

1.1.2 Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm dân sự 10

1.1.3 Ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự 14

1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về phiên tòa sơ thẩm dân sự 15

1.2.1 Những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm dân sự 15

1.2.2 Thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 44 2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 44

2.1.1 Tình hình xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 44

2.1.2 Những khó khăn, vướng mắc khi tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 50

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 59

2.2.1 Kiến nghị xây dựng pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự 59

2.2.2 Kiến nghị bảo đảm thực hiện pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) nói riêng là một nhu cầu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình giải quyết các

vụ án dân sự đang ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp của từng loại vụ án Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTDS nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án, đảm bảo cho việc giải quyết các

vụ án dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật

Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 ra đời thay thế BLTTDS năm 2004 là bước ngoặt đối với sự phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam

Bộ luật này quy định khá đầy đủ và toàn diện các nguyên tắc cơ bản trong TTDS; trình tự thủ tục khởi kiện các vụ án dân sự; trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành tố tụng cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng Phiên tòa sơ thẩm trong tố tụng dân sự được quy định tại Chương XIV BLTTDS năm 2015 Phiên tòa sơ thẩm là hoạt động tố tụng điển hình, đặc trưng nhất của TTDS Trường hợp hòa giải không thành, Tòa

án sẽ mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử giải quyết tranh chấp Phiên tòa sơ thẩm

là hoạt động tố tụng điển hình, thể hiện tập trung nhất đặc trưng của hình thức

tố tụng Tòa án Phiên tòa sơ thẩm được tiến hành với các thủ tục sau: Chuẩn

bị khai mạc phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm, tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm

Mặc dù là Bộ luật mới ra đời, có sự kế thừa các quy định trước đó và được Quốc hội thông qua, song một số quy định về PTSTDS trong thực tiễn

áp dụng còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập và chưa hợp lý, làm cho quá trình xét xử sơ thẩm gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ

án cũng như kéo dài thời gian giải quyết, chưa đáp ứng được tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TƯ ngày 02/01/2002 về một

Trang 7

số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết NQ/TƯ ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và kết luận 92/KL-TW ngày 12//2014 tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 do Bộ Chính trị ban

49-hành Nghị quyết đã chỉ rõ cần: “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác

định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTDS

cho thấy vẫn còn nhiều bất cập, trong đó có các quy định liên quan đến PTSTDS Một số quy định về phiên tòa sơ thẩm chưa cụ thể, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn xét xử dẫn đến việc hiểu và áp dụng tại các Tòa án là không thống nhất, đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng rõ Mặt khác, do pháp luật về PTSTDS còn nhiều điểm mới nên việc tuân thủ các quy định của BLTTDS về vấn đề này ở một số Tòa án chưa thật sự triệt để… Chính điều này là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng: Các vụ án tranh chấp về dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình để quá thời hạn luật định vẫn diễn ra nhiều; tỷ lệ các bản án về kinh doanh thương mại, dân sự bị hủy, sửa vẫn còn rất nhiều; một số bản án kinh doanh thương mại, dân sự tuyên không rõ ràng gây khó khăn cho công tác thi hành án

Chính vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu các quy định về PTSTDS nhằm phân tích, đánh giá đúng các điều luật, tạo điều kiện cho việc nhận thức và áp dụng trên thực tế một cách thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả cao Đồng thời, việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật

về PTSTDS tại một Tòa án địa phương cụ thể, qua đó tìm ra những tồn tại, bất cập của các quy định trên, đưa ra những giải pháp hữu hiệu đóng góp vào quá trình xây dựng pháp luật cũng như áp dụng pháp luật là hết sức cần thiết

Với nhận thức như vậy, học viên đã lựa chọn đề tài “Phiên tòa sơ thẩm dân

Trang 8

sự từ thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Kế thừa BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011, BLTTDS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi căn bản, toàn diện nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; khắc phục những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn công tác giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, nên chưa

có một hội nghị tổng kết hay hội thảo khoa học nhằm nêu ra những tồn tại, vướng mắc trong quá trình áp dụng Trong quá trình xây dựng BLTTDS, thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu giải quyết cơ sở lý luận, thực tiễn cho những vấn đề của TTDS liên quan đến PTSTDS Sách chuyên khảo: Bình luận Khoa học BLTTDS năm 2015 do PGS.TS Trần Anh Tuấn chủ biên; Bình luận khoa học BLTTDS năm 2015 do TS Bùi Thị Huyền chủ biên

Một số công trình nghiên cứu của một số tác giả đề cập đến các vấn đề liên quan đến PTSTDS như: Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2008 “Phiên tòa dân sự sơ thẩm – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Bùi Thị Huyền; Luận án nghiên cứu đến những vấn đề về lý luận, thực tiễn của phiên tòa dân sự sơ thẩm Trên các tạp chí khoa học pháp lý, một số tác giả cũng đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của pháp luật về PTSTDS như:Công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác trong phần thủ tục tranh luận thuộc phần tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, tác giả Nguyễn Trung Tín (TANDTC, số 14/2017); Một vài trao đổi về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm theo quy định của BLTTDS năm 2015, tác giả Bùi Văn Kim (Kiểm sát Số 5/2016), Bản chất

Trang 9

của tranh tụng tại phiên tòa, tác giả PGS.TS Trần Văn Độ (Báo Lịch sử pháp luật, tháng 8/2008) Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ được những vấn

đề lý luận cơ bản, quy định của BLTTDS năm 2004 về PTSTDS nói chung hoặc tập trung phần thủ tục hỏi, tranh luận và đánh giá được thực tiễn áp dụng các quy định về PTSTDS Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của học viên

về PTSTDS, hi vọng rằng trên cơ sở tham khảo những tài liệu có liên quan được viết trong thời gian qua, đề tài sẽ có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTDS, đáp ứng yêu cầu của hoạt động cải cách tư pháp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu các quy định về PTSTDS nhằm phân tích, đánh giá các điều luật tạo điều kiện cho việc nhận thức và áp dụng trên thực tế một cách thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả Qua đó, tìm ra những tồn tại, bất cập các quy định của pháp luật từ thực tiễn thực hiện tại địa phương, đưa ra những giải pháp hữu ích đóng góp vào quá trình xây dựng hoàn thiện quy định của pháp luật về PTSTDS Đồng thời nêu thực tiễn thực hiện quy định

về PTSTDS tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, qua đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về PTSTDS

3.2 Mục đích cụ thể

Việc nghiên cứu đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định của pháp luật về PTSTDS theo tinh thần cải cach tư pháp Từ đó mục đích cụ thể của đề tài là giải quyết về mặt lý luận các khái niệm thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như các vấn đề có liên quan Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành, nêu lên thực trạng của việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự tại PTSTDS Trên cơ sở đó, từ thực tiễn áp dụng pháp luật tại địa phương đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật TTDS

về PTSTDS

Trang 10

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về PTSTDS;

- Phân tích làm rõ các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về PTSTDS và thực tiễn thực hiện Từ đó, chỉ ra những điểm mới, tiến bộ của pháp luật Việt Nam về PTSTDS

- Phân tích và đánh giá về thực tiễn thực hiện về PTSTDS để chỉ ra những hạn chế, bất cập cần được hoàn thiện

- Luận giải về những yêu cầu hoàn thiện và thực hiện pháp luật Việt Nam về PTSTDS và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về PTSTDS

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng là những vấn đề lý luận chung PTSTDS, các quy định của pháp luật TTDS về PTSTDS và thực tiễn thực hiện của Tòa án PTSTDS là một đề tài có nhiều nghiên cứu, do giới hạn của luận văn thạc sỹ, đề tài nghiên cứu phạm vi về một số vấn đề lý luận PTSTDS như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của PTSTDS Các quy định của BLTTDS về PTSTDS và thực tiễn thực hiện chúng tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giải quyết các năm gần đây Pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành đang hiện hữu các quy định về: Hoãn phiên tòa, sự có mặt của Kiểm sát viên và thủ tục tiến hành PTSTSDS Với cách tiếp cận này, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình diễn ra PTSTDS

Trang 11

phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự, trong đó tập trung nghiên cứu những vấn đề như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của PTSTDS, những quy định chung về PTSTDS và thủ tục tiến hành PTSTDS Luận văn cũng nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật về PTSTDS tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 5 năm 2018

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, chứng minh, phương pháp thống kê, sử dụng các kết quả thống kê của ngành Tòa án và Viện kiểm sát để hoàn thành chương 2 của luận văn

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về PTSTDS

Luận văn cũng có thể sử dụng như là một tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy Luật TTDS tại các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật

và trong công tác xét xử của các cán bộ Tòa án

Luận văn góp phần nâng cao chất lượng tiến hành PTSTDS của TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

8 Bố cục của luận văn

Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 mục

Chương 1: Những vấn đề chung về phiên tòa sơ thẩm dân sự

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự

1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về phiên tòa sơ thẩm dân sự

Trang 12

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự

Trong toàn bộ các thủ tục được Tòa án tiến hành trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án dân sự thì thủ tục tiến hành PTSTDS có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định đến kết quả giải quyết các vụ án dân sự Vì vậy, việc xác định

và làm rõ được khái niệm PTSTDS là cơ sở quan trọng để tìm hiểu các vấn đề

lý luận về phiên tòa, từ đó giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về PTSTDS, PTSTDS có thể được xem xét ở những góc độ khác nhau, có thể là một thủ tục tố tụng hoặc là một giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án dân

sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

1.1.1 Khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sự

“Phiên tòa”, theo Từ điển tiếng Việt, là lần họp để xét xử của Tòa

người trước và sau mình để bảo đảm sự liên tục, còn “Tòa” được hiểu là Tòa

nghĩa chung nhất thì phiên tòa là một phiên xét xử của Tòa án Dưới góc độ

pháp lý, “phiên tòa” đã được giải thích trong các từ điển luật học của nhiều

quốc gia cũng có những nét tương đồng

Trong Từ điển luật học Việt Nam, phiên tòa được hiểu “là hình thức

hoạt động xét xử của Tòa án”3 hoặc theo từ điển Pháp – Việt, pháp luật –

hành chính, phiên tòa là phiên xét xử của Tòa án xét xử các tội phạm, các tranh chấp Thành phần có Chủ tọa phiên tòa là Thẩm phán chuyên nghiệp, có các HTND Phiên tòa xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự

1Viện ngôn ngữ học (2005): Từ điển tiếng Việt, NXb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội –

Đà Nẵng, tr 779

2Nguyễn Như Ý (2008), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

3 Viện Khoa học pháp lý, bộ tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa – Nxb Tư

pháp, Hà Nội, tr 620

Trang 14

Trong trường hợp đặc biệt cần giữ gìn bí mật nhà nước hoặc giữ gìn đạo đức

xã hội thì Tòa án xét xử kín nhưng khi tuyên án phải công khai Trong từ điển luật học Anh, phiên tòa có nghĩa là “Trial” “Trial” có nghĩa là sự xét xử một

vụ án dân sự hoặc hình sự trước Tòa án có thẩm quyền Các phiên tòa phải được tiến hành công khai Theo một cách giải thích khác, “trial” có nghĩa là phiên xử tại Tòa án với sự tham gia của Thẩm phán hoặc Hội đồng hội thẩm

Theo thạc sĩ Ngô Thị Minh Ngọc thì phiên tòa được hiểu “là một phiên

họp đặc biệt và các trình tự của phiên họp này do pháp luật về tố tụng quy định chặt chẽ, mà ở đó HĐXX sơ thẩm vụ án không thể tùy tiện thêm, bớt các

Luật TTDS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “Phiên tòa sơ

Sau khi hòa giải không thành hoặc đối với những vụ án dân sự pháp luật quy định không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được, Tòa

án phải tiến hành phiên xét xử vụ án dân sự Phiên xét xử này được gọi là PTSTDS

Tất cả các vụ án dân sự nếu đã phải đưa ra xét xử thì đều phải trải qua việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm PTSTDS được tiến hành trong một thời điểm, thời gian nhất định Tại phiên tòa sơ thẩm tập trung các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như Thẩm phán, HTND, Thư ký Tòa án, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của đương sự v.v… HĐXX thực hiện việc xét xử qua việc nghe các bên đương sự

4Bùi Thị Huyền (2013), Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb

Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, tr 16

5 Ngô Thị Minh Ngọc (2000), Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm, Luận văn thạc

sĩ Luật học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr 11

6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an

nhân dân, Hà Nội, tr 277

Trang 15

trình bày, tranh luận; kiểm tra, xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện và khách quan; áp dụng đúng pháp luật quyết định giải quyết

vụ án Khác với việc hòa giải vụ án Tòa án chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản, ở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án Theo Điều 15 BLTTDS năm 2015, việc xét xử của Tòa án được tiến hành kịp thời, công bằng và công khai Vì vậy, mọi hoạt động tố tụng ở phiên tòa của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải được công khai hóa, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ

bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai

Từ phân tích nêu trên, tác giả xin đưa ra khái niệm PTSTDS là phiên xét xử công khai lần đầu của Tòa án với sự tham gia của những người tham gia tố tụng theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định do pháp luật quy định nhằm giải quyết tranh chấp vụ án dân sự

1.1.2 Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm dân sự

PTSTDS là hoạt động của cơ quan xét xử được điều chỉnh bởi Luật tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) và pháp luật TTDS Chính vì vậy, nó cũng có những đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm nói chung như: Thành phần HĐXX có

sự tham gia của HTND; trình tự, thủ tục xét xử tuân theo trình tự xét xử sơ thẩm; đối tượng xét xử thuộc thẩm quyền xem xét lần đầu tiên của Tòa án cấp

sơ thẩm; sự có mặt đầy đủ của các bên đương sự và những người có liên quan đến việc giải quyết vụ án (phiên tòa phúc thẩm chỉ có mặt những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị); bản án, quyết định tại phiên tòa sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị…

Ngoài ra, PTSTDS có đặc điểm sau:

Trang 16

Đặc điểm thứ nhất, PTSTDS là phiên xét xử của Tòa án để xét xử lần đầu một vụ án dân sự

Các hoạt động tố tụng trong các giai đoạn như khởi kiện, thụ lý, chuẩn

bị xét xử sơ thẩm là tiền đề và chuẩn bị tất cả các điều kiện cần để bảo đảm cho việc xét xử vụ án được khách quan, công bằng Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm bị Tòa án cấp trên hủy để xét xử lại theo thủ tục chung thì toàn bộ các hoạt động tố tụng trước đó bị hủy và việc giải quyết vụ

án dân sự sẽ được chuẩn bị và xét xử lại từ giai đoạn thụ lý vụ án

PTSTDS là nơi diễn ra các hoạt động tố tụng của riêng cơ quan xét xử trên cơ sở đơn khởi kiện của đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự Nếu như việc mở phiên tòa sơ thẩm hình sự là kết quả của quá trình điều tra, truy tố thì việc mở PTSTDS lại xuất phát từ ý chí của các bên đương

sự sau khi vụ án không giải quyết được thông qua việc hòa giải

Đặc điểm thứ hai, PTSTDS được tiến hành công khai với sự có mặt của tất cả những người tham gia tố tụng

Để đảm bảo cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương

sự và việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan và đúng pháp luật thì PTSTDS phải được tiến hành với sự có mặt của tất cả những người tham gia

tố tụng Vì vậy, tất cả những người tham gia tố tụng đều được Tòa án triệu tập tham gia PTSTDS Tòa án chỉ xét xử vắng mặt họ trong trường hợp có căn cứ

do pháp luật quy định, lúc đó lời khai hay tài liệu do người vắng mặt cung cấp cho Tòa án phải được công bố công khai tại phiên tòa Điều này nhằm giúp cho tất cả các đương sự đều có cơ hội trình bày yêu cầu, đưa ra lý lẽ, lập luận của mình và đảm bảo quyền được tranh tụng tại phiên tòa một cách công khai

Đặc điểm thứ ba, tại PTSTDS, trên cơ sở kết quả tranh tụng hoặc giải quyết công khai yêu cầu của các bên đương sự, Tòa án ra phán quyết về vụ

án dân sự

Trang 17

Vị trí, vai trò của các đương sự tại phiên tòa thể hiện xu hướng dân chủ trong hoạt động tư pháp, tôn trọng quyền yêu cầu và tự định đoạt của họ trong quá trình xét xử, ý chí và sự tự nguyện của các đương sự luôn được tôn trọng

và xem xét trước tiên Quyết định tại phiên tòa là sự phán xét của Tòa án nhưng có thể đơn giản là ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự Kết quả của PTSTDS không nhất thiết phải bằng một bản án được tuyên tại phiên tòa

mà có thể là Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa Tại PTSTDS, trên cơ sở kết quả tranh tụng hoặc giải quyết công khai yêu cầu của các bên đương sự, Tòa án ra phán quyết về giải quyết toàn bộ vụ án dân sự hoặc những vấn đề còn tranh chấp giữa các bên đương sự

Ngoài những đặc điểm chung của phiên tòa sơ thẩm trên, PTSTDS còn

có những đặc điểm riêng khác với phiên tòa sơ thẩm hình sự, phiên tòa sơ thẩm hành chính Để làm rõ những đặc điểm riêng này, chúng ta cần phân biệt một số nội dung sau:

* PTSTDS được tiến hành trên cơ sở việc thực hiện quyền yêu cầu Tòa

án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và để giải quyết những yêu cầu của đương sự

Việc xét xử của Tòa án là một trong những biện pháp Nhà nước thực hiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp của các chủ thể Đối với việc giải quyết

vụ án hình sự là giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi phạm tội, do đó phiên tòa sơ thẩm hình sự được tiến hành trên cơ sở các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng Còn việc giải quyết vụ án dân

sự là giải quyết các quyền và nghĩa vụ dân sự thường liên quan đến cá nhân đương sự và trong một số trường hợp có liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, nên để có việc giải quyết vụ án và có PTSTDS thì trước hết

là phải có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của đương sự Trong suốt quá trình tố tụng nếu đương sự không rút yêu cầu, không có căn

Trang 18

cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ án và các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án thì PTSTDS phải được mở Vì vậy, đặc điểm của PTSTDS nói riêng là được tiến hành trên cơ sở việc thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự

* Phạm vi xét xử và diễn biến của PTSTDS phụ thuộc vào quyền tự quyết định và định đoạt của đương sự

Khi các đương sự đã thực hiện quyền khởi kiện, họ có quyền tự quyết định về việc tự tham gia tố tụng hay ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng, họ tự quyết định về phạm vi, nội dung, mực độ yêu cầu khởi kiện Trách nhiệm của Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương

sự, trừ một số trường hợp ngoại lệ Do đó, Tòa án không thể tự xác định phạm

vi xét xử tại PTSTDS mà dựa vào yêu cầu được đưa ra tại phiên tòa của đương sự Còn đối với lĩnh vực hình sự, phạm vi xét xử tại phiên tòa sơ thẩm dựa trên nội dun quyết định truy tố của Viện kiếm sát cùng cấp đối với các bị can về tội danh và khung hình phạt

*Tại PTSTDS, các bên đương sự có quyền bình đẳng trong việc cung

cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu của mình

Trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các

cơ quan tiến hành tố tụng; bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình là vô tội Vì vậy, tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Tuy nhiên, trong TTDS, các đương sự là người trong cuộc nên hơn ai hết, họ là người hiểu rõ nhất sự việc, đưa ra yêu cầu và liên quan đến lợi ích của chính họ nên họ phải cung cấp cho Tòa án các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình Vì vậy, hoạt động chứng minh tại PTSTDS trước hết thuộc trách nhiệm của các đương sự; các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án

và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Trang 19

Về cơ bản, PTSTDS có những đặc điểm giống với phiên tòa sơ thẩm hành chính Tuy nhiên, do bản chất của phiên tòa sơ thẩm hành chính là giải quyết các tranh chấp giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức với các cơ quan Nhà nước về các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan Nhà nước nên tính chất bình đẳng giữa các đương sự trong phiên tòa sơ thẩm hành chính không được triệt để như PTSTDS

1.1.3 Ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự

PTSTDS trước hết phản ánh rõ chức năng xét xử của Tòa án Kết quả của PTSTDS là sự thể hiện cụ thể vai trò, nhiệm vụ của Tòa án trong việc duy trì trật tự pháp luật XHCN, bảo vệ công lý, giúp cho các quan hệ dân sự phát triển ổn định và lành mạnh, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các

cá nhân, tổ chức

Bản án, quyết định tại phiên tòa sơ thẩm khi có hiệu lực pháp luật phải được mọi chủ thể trong xã hội tôn trọng, các cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành phải nghiêm chỉnh chấp hành Nội dung bản án, quyết định xác định quyền và nghĩa vụ cho các bên đương sự và có giá trị pháp lý làm cơ sở cho việc thi hành án, từ đó khôi phục lại các quyền và lợi ích của các đương

sự

Hoạt động xét xử của Tòa án ở tại phiên tòa sơ thẩm là để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan xét xử, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Nếu hoạt động này được tiến hành tốt sẽ làm tăng thêm tác dụng của công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật Ngược lại, nếu phiên tòa sơ thẩm tiến hành không tốt, có nhiều sai sót thì kết quả của công tác giáo dục sẽ bị hạn chế, gây ảnh hưởng xấu, làm cho mọi người thiếu tin

7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 277

Trang 20

Thông qua hoạt động xét xử tại PTSTDS, những người tham gia phiên tòa nói riêng và quần chúng nhân dân nói chung có điều kiện nắm bắt những kiến thức pháp luật, nhận thức được vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự, qua đó giúp cho họ khi tham gia các quan hệ pháp luật có những xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật

PTSTDS còn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động lập pháp Tại PTSTDS, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng kiểm tra, phân tích đánh giá toàn diện các yêu cầu, chứng cứ, tài liệu, đồng thời, phân tích các quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng để ra phán quyết về giải quyết vụ án Do đó, thực chất hoạt động xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là hoạt động của những người tiến hành tố tụng về đánh giá các tình tiết, chứng

Ngoài ra, PTSTDS là nơi công dân thực hiện quyền tự do dân chủ nói chung cũng như các quyền và nghĩa vụ trong pháp luật tố tụng nói riêng, thể hiện sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, quyền được bào chữa, biện hộ, quyền được dùng chữ viết tiếng nói của dân tộc mình… khẳng định quyền dân chủ của công dân trong lĩnh vực tư pháp, khẳng định bản chất dân

chủ của Nhà nước ta

1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về phiên tòa sơ thẩm dân sự

1.2.1 Những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm dân sự

Quá trình giải quyết vụ án dân sự có thể trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau, trong đó xét xử sơ thẩm tại phiên tòa là giai đoạn quan trọng nhất Theo quy định của luật TTDS, phiên tòa sơ thẩm sẽ được tiến hành với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo đúng thời gian, địa điểm được xác định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử Tuy

8Bùi Thị Huyền (2013), Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb

Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, tr 37 - 38

Trang 21

nhiên, tác giả không nghiên cứu về tất cả các quy định chung về PTSTDS mà chỉ nghiên cứu một số vấn đề sau

1.2.1.1 Sự có mặt của Kiểm sát viên

Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tổ tụng thực hiện kiểm sát các hoạt động TTDS theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Viện kiểm sát sẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự và thi hành

án để đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án dân sự và thi hành án dân sự kịp thời, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 21 BLTTDS năm 2015, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS như sau: Viện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật; Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp

là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự

là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì Viện Kiểm sát cùng cấp tham gia phiên tòa

Tại Điều 232 BLTTDS năm 2015 quy định: “1 Kiểm sát viên được

Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa

2 Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại phiên tòa hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết thì người này

Trang 22

được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu”

Như vậy, BLTTDS năm 2015 quy định Viện kiểm sát tham gia PTSTDS trong trường hợp pháp luật cho phép Tại khoản 1 Điều 232 BLTTDS hiện hành quy định những vụ án vắng mặt Kiểm sát viên thì Tòa án không phải hoãn phiên tòa Đây là điểm mới của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, quy định này hoàn toàn hợp

lý bởi theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2014 thì Viện kiểm sát vừa có quyền giám sát trực tiếp, vừa có quyền giám sát gián tiếp Trong TTDS, Viện kiểm sát có mặt tại phiên tòa sơ thẩm trước hết là trách nhiệm, nghĩa vụ để giám sát việc tuân theo pháp luật, tuy nhiên chỉ bắt buộc có mặt trong một số trường hợp Vì vậy, việc quy định mới tại BLTTDS năm 2015 nhằm nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát cũng như việc hạn chế việc hoãn phiên tòa, tránh việc kéo dài thời hạn tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử của Tòa án

Từ các quy định trên tác giả nhận thấy: Về cơ bản BLTTDS năm 2015 vẫn giữ nguyên các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định của BLTTDS năm 2004, song mở rộng thêm các trường hợp cụ thể quy định tại Điều 21 BLTTDS năm 2015 Với ý nghĩa đảm bảo cho các quy định của pháp luật dân sự và TTDS được chấp hành một cách nghiêm chỉnh

và thống nhất, thiết nghĩ việc BLTTDS hiện hành quy định theo hướng mở rộng về sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm trong giai đoạn hiện nay là thực sự cần thiết, khẳng định ngày một rõ nét hơn về vai trò của Viện kiểm sát trong công cuộc đấu tranh bảo vệ công lý, công bằng và lẽ phải

1.2.1.2 Hoãn phiên tòa sơ thẩm dân sự

Thứ nhất, về căn cứ hoãn phiên tòa

Trang 23

BLTTDS 2015 không quy định các trường hợp hoãn phiên tòa thành một điều luật mà quy định rải rác tại các điều luật tại khoản 2 Điều 56, khoản

2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230, khoản 2 Điều 231 và Điều 241 của BLTTDS 2015 Cụ thể như sau:

Tại phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa Chánh án Tòa án quyết định cử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thay thế người bị thay đổi Nếu người bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền quyết định được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này

Tại phiên tòa, việc thay đổi Kiểm sát viên do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số

Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa Việc cử Kiểm sát viên thay thế Kiểm sát viên bị thay đổi

do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định Nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định

Tại phiên tòa, phiên họp, việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa

số

Trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết định hoãn phiên tòa, phiên họp Việc trưng cầu người giám định khác hoặc thay người

Trang 24

phiên dịch khác được thực hiện theo quy định tại Điều 79 và Điều 81 của Bộ luật này

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của

họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên tòa

Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử trong trường hợp người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó họ đã có lời khai trực tiếp với Tòa án hoặc gửi lời khai cho Tòa án Chủ toạ phiên tòa công bố lời khai đó

Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa nếu việc vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án

Trường hợp người giám định vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên tòa

Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa

Khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có

ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét

xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý

do

Như vậy, so với BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, BLTTDS năm 2015 đã bỏ căn cứ vắng mặt Kiểm sát viên nhằm hạn chế việc hoãn phiên tòa, tránh trường hợp kéo dài thời hạn tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử của Tòa án

Trang 25

Thứ hai, về thời điểm “hoãn phiên tòa”

“Hoãn phiên tòa” phát sinh vào thời điểm trước khi bắt đầu phiên tòa sơ thẩm Tòa án chỉ có thể hoãn phiên tòa khi có những căn cứ được quy định tại Điều 233 BLTTDS năm 2015 như đã nêu ở phần căn cứ nói trên Theo khoản

2 Điều 235 và 239 BLTTDS năm 2015, khi tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa, nếu có các căn cứ hoãn phiên tòa, HĐXX sẽ thảo luận, thông qua theo đa

số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản Do đó, việc hoãn phiên tòa được diễn ra tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, khi đó nội dung vụ án chưa được xem xét giải quyết và thuộc thẩm quyền của HĐXX

Thứ ba, về thời hạn “hoãn phiên tòa”

Thời hạn “hoãn phiên tòa” sơ thẩm không được quá 1 tháng, kể từ ngày

ra quyết định hoãn phiên tòa Đối với phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn thì thời hạn hoãn hiên tòa không quá 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa (khoản 1 Điều 233 BLTTDS năm 2015) Tuy nhiên để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đảm bảo việc mở lại phiên tòa theo đúng quy định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích cho các đương sự thì sau khi quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án cần có kế hoạch mở lại phiên tòa trong thời gian sớm nhất mà không nhất thiết phải để đến 01 tháng như Luật

đã quy định

Thứ tư, về hình thức “hoãn phiên tòa”

Việc “hoãn phiên tòa” phải ra Quyết định hoãn phiên tòa bằng văn bản

và Quyết định hoãn phiên tòa phải được Chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX

ký tên và thông báo công khai tại phiên tòa; đối với người vắng mặt thì Tòa

án gửi ngay cho họ quyết dịnh đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp (khoản 3 Điều 233)

Quyết định hoãn phiên tòa có các nội dung chính sau: Ngày, tháng, năm ra quyết định; Tên Tòa án và họ tên những người tiến hành tố tụng; vụ án

Trang 26

được đưa ra xét xử; lý do của việc hoãn phiên tòa; thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa (khoản 2 Điều 233 BLTTDS năm2015) Tuy nhiên, do người vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án phải tống đạt, thông báo trực tiếp hoặc niêm yết quyết định hoãn phiên tòa cho họ theo thủ tục được quy định tại các điều, từ Điều 170 đến Điều 181 BLTTDS năm 2015 Nếu không tống đạt, thông báo trực tiếp được thì Tòa án phải niêm yết công khai quyết định hoãn theo quy định tại Điều 179 BLTTDS hiện hành, thời hạn niêm yết các văn bản tố tụng

là mười lăm ngày kể từ ngày niêm yết

Từ phân tích nêu trên, Tác giả đưa ra đánh giá như sau: Việc quy định

về thẩm quyền hoãn phiên tòa thuộc thẩm quyền của HĐXX có tác dụng tránh việc hoãn phiên tòa tùy tiện, không đúng các căn cứ do pháp luật quy định Thời hạn hoãn phiên tòa tối đa không quá 01 tháng, đối với phiên toà xét xử thông thường, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa Vì vậy, thời gian để tống đạt, niêm yết quyết định hoãn phiên tòa cho người vắng mặt có thể kéo dài 01 tháng Do đó, thời hạn hoãn phiên tòa theo quy định của Điều 233 BLTTDS năm 2015 nhằm đảm bảo cho Tòa án có đủ thời gian cần thiết để triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa tiếp theo

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, đa số trường hợp việc hoãn phiên tòa không được thực hiện tại phiên tòa mà Thẩm phán tự quyết định hoãn trước khi mở phiên tòa Các lý do hoãn trong trường hợp này thường là đương

sự thông báo trước sẽ không đến phiên tòa vào ngày, giờ theo quyết định đưa

vụ án ra xét xử hoặc theo giấy triệu tập, HTND có việc đột xuất không tham gia xét xử được Thực tế này đang được TAND quận Bắc Từ Liêm cũng như các Tòa án địa phương khác áp dụng và để hợp thức hóa việc hoãn phiên tòa, Tòa án không ra quyết định mà chỉ thông báo miệng, không phản ánh trong

hồ sơ nên Tòa án cấp trên có kiểm tra hay Viện kiểm sát có kiểm sát hồ sơ cũng khó có thể phát hiện ra việc vi phạm pháp luật tố tụng Cách giải quyết

Trang 27

này là có lợi cho đương sự có yêu cầu, thuận tiện cho Tòa án và tiết kiệm được chi phí tố tụng Tuy nhiên, cách giải quyết này lại không bảo đảm được quyền lợi của những người tham gia tố tụng khác, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thủ tục tố tụng

1.2.2 Thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự

1.2.2.1 Bắt đầu phiên tòa

Khai mạc phiên tòa

Sau khi các bước chuẩn bị khai mạc phiên tòa được tiến hành Thẩm

phán– Chủ tọa phiên tòa tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa "Đây là thủ tục

mang tính chất hành chính nhưng bắt buộc phải thực hiện trước khi HĐXX

Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử Trước khi Chủ tọa khai mạc phiên tòa, Thư ký Tòa án ổn định trật tự trong phòng xử án; kiểm tra và xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án, nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do; sắp xếp chỗ ngồi cho các đương sự, nếu

có người làm chứng thì sắp xếp chỗ ngồi cho người làm chứng; phổ biến nội quy phiên tòa Thủ tục này có mục đích nhằm kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng theo giấy triệu tập của Tòa án và ổn định trật tự của phiên tòa, thể hiện tính trang nghiêm của phiên tòa Khi HĐXX bước vào phòng xử án, Thư ký Tòa án yêu cầu tất cả mọi người trong phòng xử án đứng dậy, sau đó Chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa Sau khi khai mạc, Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử Theo nguyên tắc, thì kể từ thời điểm Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử thì việc giải quyết vụ án thuộc quyền hạn của HĐXX

9Vụ Công tác lập pháp (2004), Những vấn đề cơ bản của Bộ luật dân sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội

Trang 28

Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng khác Trên cơ sở kết quả báo cáo của Thư

ký Tòa án về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng thì Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của họ và kiểm tra căn cước của đương

sự Để đảm bảo cho việc giải quyết được đúng đắn, xét xử đúng đối tượng thì Chủ tọa phiên tòa kiểm tra căn cước của các đương sự thông qua việc hỏi để đương sự trả lời trực tiếp về họ tên, tuổi, địa chỉ nơi cư trú của mình Việc kiểm tra căn cước của đương sự nhằm đối chiếu lại lời trình bày của họ với tài liệu có trong hồ sơ vụ án

Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác Theo BLTTDS hiện hành, quyền và nghĩa vụ nói chung của đương sự được quy định từ điều 70 đến điều 74 Đây

là quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng ở tất cả các giai đoạn tố tụng, vì vậy, Chủ tọa chỉ lựa chọn, phổ biến những quyền và nghĩa vụ của đương sự tại PTSTDS và các quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo thi hành bản án, quyết định sơ thẩm Quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng là cơ sở để họ tham gia vào quá trình giải quyết vụ án và bảo

vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất Việc Chủ tọa phổ biến quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng giúp họ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa

Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch Trong quyết định đưa vụ án ra xét xử đã ghi rõ họ tên của những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nhưng tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa vẫn phải giới thiệu về họ tên của họ Bởi lẽ, hoạt động xét xử của những chủ thể này có tính chất quyết định đến tính chính xác, khách quan của bản án, quyết định cho nên đối với

Trang 29

họ ngoài yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ thì yêu cầu về sự vô tư, khách quan khi làm nhiệm vụ là rất quan trọng BLTTDS hiện hành cũng đã quy định rất rõ những trường hợp mà người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu có người yêu cầu thay đổi họ tại các Điều 52,53, 54, 55, 60 và 61 Đây là những trường hợp có nhiều khả năng làm ảnh hưởng đến sự vô tư, khách quan khi giải quyết

vụ án Do đó, thủ tục nhằm đảm bảo cho những người tham gia tố tụng và Kiểm sát viên thực hiện quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định và người phiên dịch

Để đảm bảo tính khách quan của người làm chứng và ràng buộc trách nhiệm của người làm chứng, người giám định, người phiên dịch thì BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định: Yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo đúng

sự thật, nếu không khai đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên; Yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch Trong TTDS, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch là những người tham gia tố tụng khác, họ không

có quyền và lợi ích trực tiếp trong vụ án Tuy nhiên, họ lại có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ Tòa án và các đương sự xác định sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp Vì vậy, họ cần ý thức rõ trách nhiệm của mình trước pháp luật, trước Tòa án khi tham gia tố tụng

Như vậy, các quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa của BLTTDS năm

2015 rất chi tiết và cụ thể Với quy định của BLTTDS năm 2015 về thủ tục bắt đầu phiên tòa thì vai trò của Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa là rất lớn Tất

cả các hoạt động của Thẩm phán tại thủ tục này nhằm đảm bảo cho việc quản

lý vụ án của Tòa án được chặt chẽ, đảm bảo cho việc xét xử được đúng đối

Trang 30

tượng, đúng thủ tục tố tụng và những người tham gia tố tụng được biết rõ các quyền và nghĩa vụ của mình tại PTSTDS Do tính chất quan trọng của việc khai mạc phiên tòa nên không cho phép tiến hành khai mạc nhiều phiên tòa một lần, làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự

Về cơ bản, TAND quận Bắc Từ Liêm đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật về thủ tục bắt đầu phiên tòa Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, thì thực tế, thì thực tế “do có nhiều vụ án phức tạp, đương sự gây khó khăn nên có tình trạng phải hoãn phiên tòa nhiều lần, kéo theo việc bổ sung phiên tòa ngoài kế hoạch… Việc xét xử vắng mặt đương sự tại phiên tòa nhiều

Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch

Hoạt động xét xử của những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch có tính chất quyết định đến tính chính xác, khách quan của bản án, quyết định dân sự sơ thẩm cho nên đối với họ ngoài yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ thì yêu cầu về sự vô tư, khách quan khi làm nhiệm vụ

là rất quan trọng.Trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến hành

tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì HĐXX phải xem xét, quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi HĐXX thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số Trong trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì HĐXX ra quyết định hoãn phiên tòa Quyết định hoãn phiên tòa được Chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết Trường hợp không chấp nhận thì phải nêu lý do (Điều 240 BLTTDS năm 2015)

10 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội: Báo cáo rút kinh nghiệm giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân quận, huyện do Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hủy theo thủ tục phúc thẩm, Hà Nội, 2005, tr.4

Trang 31

Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt

Theo quy định tại Điều 241 BLTTDS hiện hành, khi có người tham gia

tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa thì HĐXX xem xét và quyết định hoãn phiên tòa Nếu những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án buộc phải hoãn phiên tòa (như vắng mặt người làm chứng, người phiên dịch, người giám định) thì Chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì HĐXX xem xét quyết định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu

rõ lý do Quyết định hoãn phiên tòa phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản Ngoài ra, trước khi bắt đầu thủ tục hỏi tại phiên tòa Trong trường hợp cần thiết, Chủ tọa phiên tòa có thể cách ly những người làm chứng với nhau hoặc người làm chứng với các bên đương sự để đảm bảo tính khách quan trong quá trình xét

xử (Điều 242)

Xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu

Thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự là một nội dung của nguyên tắc quyền định đoạt và tự định đoạt của đương sự Khoản 1 Điều 244

BLTTDS năm 2015 quy định: “HĐXX chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu

cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”

Tuy nhiên BLTTDS năm 2015 chưa có quy định cụ thể như thế nào là

“yêu cầu ban đầu” cũng không quy định các trường hợp được coi là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu Nội dungquy định của điều luật chưa rõ ràng, cụ thể cho nên dẫn đến việc một điều luật có nhiều cách hiểu, quan điểm khác nhau nên việc áp dụng pháp luật không được thống nhất, tùy nghi, đồng

Trang 32

thời giữa các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát cũng chưa

có sự thống nhất quan điểm giải quyết

Về vấn đề yêu cầu ban đầu thì có quan điểm cho rằng, yêu cầu ban đầu

là yêu cầu được thể hiện ở đơn khởi kiện, đơn phản tố hoặc đơn yêu cầu độc lập Quan điểm khác thì cho rằng, yêu cầu ban đầu cùng quan hệ pháp luật tranh chấp được đưa ra trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Để

áp dụng pháp luật một cách thống nhất, thì cần có văn bản hướng dẫn chi tiết quy định xác định “yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu” tại khoản 1 Điều 244 BLTTDS năm 2015 là yêu cầu được xác định công khai tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cuối cùng được thể hiện ở phần quyết định trong biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giảicủa Tòa án về việc

Về việc nhận thức đối với cụm từ “không vượt quá phạm vi” yêu cầu ban đầu cũng còn nhiều quan điểm khác nhau Có ý kiến cho rằng, “không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu nếu không làm xuất hiện thêm đương sự mới, không làm phát sinh thêm quan

hệ tranh chấp” Quan điểm khác lại cho rằng, “không bị coi là vượt quá phạm

vi yêu cầu ban đầu nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa được thực hiện trong giới hạn quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu mà không làm phát sinh quan hệ pháp luật mới Trường hợp thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa mặc dù vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu nhưng

11 Cao Xuân Long (2018), “Một số bất cập trong xem xét việc đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu

tại phiên tòa dân sự sơ thẩm và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Tòa án nhân dân,(11), tr 19 – 20

12 Cao Xuân Long (2018), “Một số bất cập trong xem xét việc đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu

tại phiên tòa dân sự sơ thẩm và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Tòa án nhân dân,(11), tr 19 – 20

Trang 33

phục vấn đề này, để không còn nhiều quan điểm khác nhau về điều luật này thì Hội đồng Thẩm phán TANDTC sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015, khoản 1 Điều 244 để bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Hòa giải là sự thỏa thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết vụ

án dân sự Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn của quá trình TTDS luôn được nhà nước khuyến khích Bởi khi các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án thì mâu thuẫn của các đương sự cũng được giải quyết triệt để và thi hành án thuận lợi Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hòa giải

là trách nhiệm bắt buộc của Tòa án đối với hầu hết các vụ án dân sự, trừ trường hợp không được hòa giải quy định tại Điều 206 BLTTDS năm 2015 và trường hợp không hòa giải được quy định tại Điều 207 BLTTDS năm 2015

Đối với các giai đoạn tiếp theo, Tòa án không hòa giải mà chỉ tạo điểu kiện để các bên tự hòa giải bằng cách hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án hay không Vì vậy, Điều 246 BLTTDS năm

2015 quy định tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hay không Việc Tòa án hỏi các đương sự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thực chất là Tòa án kiểm tra xem các đương sự có tự hòa giải được với nhau hay không Nếu các

đương sự tự thỏa thuận được với nhau và thỏa thuận đó là tự nguyện, không vi

phạm điều pháp luật cấm và đạo đức xã hội thì Tòa án sẽ công nhận sự thỏa

thuận đó BLTTDS năm 2004 quy định nếu các đương sự tự thỏa thuận với

nhau và thỏa thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

thì Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận đó Bản chất thỏa thuận của đương sự

về việc giải quyết vụ án là một dạng giao dịch dân sự Vì thế, Tòa án chỉ công

Trang 34

nhận giao dịch đó nếu thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự nên nội dung của thỏa thuận đó phải thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

thuận của các đương sự” tại Điều 246 BLTTDS năm 2015 là điểm mới nhằm bảo đảm sự tương thích với các quy định của pháp luật dân sự về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 không quy định cách giải quyết trong trường hợp các đương sự chỉ thỏa thuận giải quyết được một phần nội dung vụ án nên sẽ dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn xét xử Ngoài ra, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau

về việc giải quyết vụ án khi tranh tụng thì HĐXX có được áp dụng Điều 246 BLTTDS năm 2015 để ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương

sự không hay vẫn phải tiếp tục ra bản án để công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là vấn đề mà BLTTDS năm 2015 không quy định cụ thể

1.2.2.2 Tranh tụng tại phiên tòa

Thủ tục tranh tụng tại PTSTDS được quy định từ Điều 247 đến Điều

263 BLTTDS hiện hành Thủ tục tranh tụng được tiến hành tuần tự theo các bước sau: Trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; hỏi để xác định yêu cầu của đương sự và về sự thỏa thuận của đương sự; các bên đương sự trình bày về nội dung vụ án và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; hỏi để làm rõ những vấn đề mà đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn, công bố tài liệu của vụ án, xem xét vật chứng.Mục đích của tranh tụng là nhằm bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia TTDS, bên cạnh đó nhờ có hệ thống những quy định về tranh tụng hết sức chặt chẽ mà các chủ thể có thể tự mình hoặc thông qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trình bày ý kiến, đưa ra những chứng cứ, tài liệu, lập luận để chứng minh cho yêu cầu của

Trang 35

mình là có căn cứ Trên cơ sở của tranh tụng sẽ giúp cho HĐXX giải quyết vụ

án được khách quan, toàn diện và chính xác

Điều 247 BLTTDS năm 2015 quy định như sau: “1 Tranh tụng tại

phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan

hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án

2 Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa

3 Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không có liên quan đến vụ án dân sự”

Như vậy, BLTTDS năm 2015 đã quy định rất chi tiết nội dung của tranh tụng từ việc trình bày chứng cứ cho đến việc phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Đồng thời, quy định rất rõ nội dung, trình tự thủ tục tranh tụng đều phải tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa Trong quá trình tranh tụng thì các chủ thể của TTDS phải tranh tụng trên cơ sở dân chủ, bởi đã tranh tụng là phải bình đẳng và trình tự, thủ tục phải rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đương sự khi tham gia TTDS

Thứ nhất, việc trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 248 BLTTDS):

Về cơ bản, kết cấu và nội dung của Điều này được kế thừa từ quy định

cũ của BLTTDS năm 2004 Tuy nhiên, quy định tại khoản 3 Điều 248

BLTTDS năm 2015 có sự thay đổi đáng kể như sau: “Tại phiên tòa, đương

sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ có quyền bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 96 của Bộ luật này để chứng

Trang 36

minh cho yêu cầu, đề nghị của mình” Đối chiếu với quy định tại khoản 4

Điều 96 BLTTDS năm 2015 thì những chứng cứ, tài liệu mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương

sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự Quy định như vậy, thực sự hợp lý bởi những chứng cứ, tài liệu nêu trên là hoàn toàn khách quan, đương sự không biết hoặc không nhận thức được nên không kịp thời giao nộp cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án Việc quy định như vậy là phù hợp và bảo đảm được quyền lợi của các đương sự khi tham gia tố tụng mà không gây cản trở cho hoạt động xét xử của Tòa án

Thứ hai, về việc hỏi tại phiên tòa (từ Điều 249 đến Điều 253 BLTTDS):

Điều 249 BLTTDS năm 2015 quy định rất rõ ràng về thứ tự và nguyên tắc hỏi tại phiên tòa, trong đó nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước, sau đó đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người tham gia tố tụng khác, Chủ tọa phiên tòa, HTND, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Nội dung các câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lặp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng

Về nội dung hỏi của các đương sự cơ bản được kế thừa từ quy định của BLTTDS năm 2004 Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 253 BLTTDS năm 2015 đã

bổ sung quy định “Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

đương sự hỏi người làm chứng sau khi được sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa” Việc bổ sung quy định này cũng là hợp lý, bởi nguyên tắc của tranh

tụng là bình đẳng, trong đó các đương sự có quyền hỏi người làm chứng để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án

Trang 37

Đánh giá chung về thực tiễn áp dụng thủ tục hỏi tại PTSTDS có thể thấy các Thẩm phán của TAND quận Bắc Từ Liêm đã thực hiện tốt việc hỏi tại phiên tòa nên chất lượng xét xử các loại vụ án được bảo đảm Tuy nhiên vẫn còn một số phiên tòa thủ tục hỏi vẫn được tiến hành theo thói quen nên không có phần các đương sự tự trình bày Có một số trường hợp, “HĐXX thực hiện việc hỏi còn nặng nề, mang tính chất mệnh lệnh như xét hỏi tại phiên tòa hình sự, nhiều khi lại tỏ thái độ lộng quyền, thiếu tôn trọng các bên đương sự, đưa ra các câu hỏi đã hàm ý mớm câu trả lời Một số trường hợp khác thì ngược lại, HĐXX lại tạo không khí dân chủ quá trớn như các đương

sự tranh nhau trả lời, đương sự nhiều khi cướp lời của HĐXX, Luật sư và

bày, Thẩm phán vừa hỏi xen vào Đa số các trường hợp, ngoài Chủ tọa phiên tòa ra, các HTND hầu như không tham gia vào việc hỏi hoặc không nắm rõ các tình tiết và chứng cứ của vụ án nên câu hỏi không đi đúng vào nội dung cần hỏi, không làm sáng tỏ được tình tiết, chứng cứ quan trọng trong vụ án, hỏi lặp lại những vấn đề mà đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp của đương sự đã trình bày… Bên cạnh đó, do trình độ của một số HTND còn hạn chế về kiến thức pháp lý nên có trường hợp các câu hỏi của HTND chủ yếu mang tính giáo dục đạo đức, tuyên truyền pháp luật Có trường hợp thì HĐXX không xem xét chứng cứ cũng như khai thác lời khai của các nhân chứng một cách khách quan, không cách ly người làm chứng theo Điều 242 BLTTDS 2015 dẫn đến làm sai lệch việc đánh giá chứng cứ của vụ án

Thứ ba, việc tạm ngừng phiên tòa (Điều 259 BLTTDS):

những người tham gia tố tụng dễ dàng theo dõi được diễn biến cũng như các

13Nguyễn Hải An: “Thực tiễn tranh tụng các phiên tòa dân sự và một số vấn đề đặt ra”, Kỷ yếu hội

thảo: Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự, do Viện Khoa học pháp lý – Bộ tư pháp tổ chức, Hà Nội, 2004, tr.4

Trang 38

tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ án thì việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, phải xét xử xong dứt điểm từng vụ án một rồi mới được chuyển sang xét xử vụ án khác, không được phép làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án Tuy nhiên, có những trường hợp sau khi kết thúc bước thủ tục khai mạc phiên tòa, chuyển sang thủ tục hỏi, rồi bắt đầu đi vào giải quyết phần nội dung vụ án có những lý do khác nhau dẫn đến phiên tòa không thể tiếp tục được, trong trường hợp đó HĐXX phải tạm ngừng phiên tòa

Căn cứ tạm ngừng phiên tòa: HĐXX có quyền quyết định tạm ngừng

phiên tòa khi có một trong sáu căn cứ sau được quy định tại Khoản 1 Điều

259 BLTTDS năm 2015

Hình thức và thủ tục tạm ngừng phiên tòa: Việc tạm ngừng phiên tòa

phải được ghi vào biên bản phiên tòa

Thời hạn tạm ngừng phiên tòa: Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không

quá 01 tháng, kể từ ngày HĐXX quyết định tạm ngừng phiên tòa Hết thời hạn này, nếu lý do để tạm ngừng phiên tòa không còn thì HĐXX tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu lý do để tạm ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì HĐXX ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự HĐXX phải thông báo bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp

Đối với việc gia hạn thời gian tạm ngừng phiên tòa, nội dung này cũng

đã được quy định hướng dẫn tại khoản 2 Điều 13 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016: “2 Trường hợp HĐXX đã quyết định tạm ngừng phiên tòa và thời hạn tạm ngừng dưới 01 tháng; hết thời hạn này mà Tòa án quyết định tiếp tục tạm ngừng phiên tòa vì

Trang 39

lý do tạm ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Tòa án thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc tiếp tục tạm ngừng phiên tòa Thời hạn tối đa của việc tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng kể từ

Thứ tư, việc phát biểu, tranh luận, đối đáp (Từ Điều 260 đến Điều 263 BLTTDS năm 2015):

Khoản 1 Điều 260 BLTTDS năm 2015 đã quy định rất chi tiết về trình

tự phát biểu khi tranh luận, về cơ bản không có nhiều thay đổi so với quy định

tại Điều 232 BLTTDS năm 2004, chỉ bổ sung quy định “Các đương sự khi

đối đáp phải tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa và khi xét thấy cần thiết, HĐXX có thể yêu cầu các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án” Việc bổ sung quy định này là

cần thiết, tuy nhiên về kết cấu điều luật nên xây dựng trong khoản khác riêng biệt cho phù hợp Bản chất của tranh luận là sự đối đáp giữa các bên đương sự

về chứng cứ, lý lẽ và quan điểm về việc giải quyết vụ án dân sự Do đó, Điều

260 BLTTDS năm 2015 quy định, khi tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phát biểu trước, sau đó đương sự bổ sung ý kiến Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ tự mình trình bày khi tranh luận Quy định này nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của tranh luận

và đề cao vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Trong trường hợp, các bên đương sự có ý kiến khác nhau về yêu cầu, đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án thì theo

sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa các đương sự đối đáp với nhau Nội dung tranh luận là những vấn đề còn mâu thuẫn giữa các bên đương sự Vì vậy, Chủ tọa phiên tòa điều khiển việc đối đáp của các bên đương sự chỉ tập trung vào những vấn đề mâu thuẫn và giải quyết nội dung vụ án

Trang 40

Cũng tại khoản 3 của Điều này quy định: “Trường hợp vắng mặt một

trong các đương sự và người tham gia tố tụng khác thì Chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp” Đây là quy định mới, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng

triệt để, trong đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật Đồng thời, mọi chứng

cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều phải được xem xét một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và công khai tại phiên tòa Tuy nhiên, điều luật này lại không quy định rõ thời điểm công bố lời khai nên vẫn còn có nhiều quan điểm, cách hiểu về thời điểm công bố lời khai

Phát biểu của các bên khi tranh luận chính là việc các bên thể hiện quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, đánh giá yêu cầu, từ đó đưa ra phương

án giải quyết vụ án được quy định tại Điều 261 BLTTDS năm 2015 Để HĐXX có thể chấp nhận yêu cầu của mình thì các bên đương sự phải chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng đắn, có cơ sở Do đó, khi khởi kiện và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các đương sự phải thu thập, cung cấp choTòa án các chứng cứ, tài liệu và các chứng cứ này đã được làm rõ tại phần hỏi của phiên tòa Trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra và hỏi tại phiên tòa, tại phần tranh luận, thông qua các quy định của pháp luật, các đương sự đưa ra những lý lẽ, lập luận chứng minh cho HĐXX, đương sự phía còn lại và những người tham gia tố tụng thấy yêu cầu và sự phản đối yêu cầu của mình

là đúng đắn và đương sự phía bên kia phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình, nghĩa vụ cụ thể là như thế nào

Tại Điều 262 BLTTDS năm 2015 quy định về việc phát biểu của Kiểm sát viên, quy định này có sự thay đổi đáng kể so với quy định của BLTTDS năm 2004 Trước đây, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa chỉ được phát biểu về

tố tụng của vụ án nhưng theo quy định hiện nay Kiểm sát viên phát biểu ý

Ngày đăng: 16/02/2021, 15:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w