- Nhiệm vụ cơ bản của việc nghiên cứu đề tài: + Phân tích, đánh giá thực trạng và diễn biến của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian 5 năm từ năm 2013 đến năm
Trang 1TRẦN THỊ THÚY NGA
PHÒNG NGỪA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Trang 2bạn bè, tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sỹ Luật học Qua đây tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu cùng các thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Cảm ơn Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân tối cao đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn
Cảm ơn Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và các đồng nghiệp đã quan tâm, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến GS TS Lê Thị Sơn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Thúy Nga
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi và được sự hướng dẫn khoa học của GS TS Lê Thị Sơn
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Thúy Nga
Trang 4TAND Tòa án nhân dân TAND TC Tòa án nhân dân tối cao
Trang 5Bảng 1.1 Số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Bảng 1.2 Số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ, số người
phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Bảng 1.3 Số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ, số người
phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Bảng 1.4 Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Bảng 1.5 So sánh chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm của tội trộm cắp tài
sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với tỉnh Nghệ An và hà Tĩnh giai đoạn 2013 – 2017
Bảng 1.6 Số vụ trộm cắp tài sản bị khởi tố, xét xử trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa giai đoạn 2013 - 2017
Bảng 1.7 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tội phạm
Bảng 1.8 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo mức hình phạt đã áp dụng
Bảng 1.9 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo hình thức thực hiện tội phạm
Bảng 1.10 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo địa điểm phạm tội
Bảng 1.11 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thời gian phạm tội
Bảng 1.12 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thủ đoạn phạm tội
Bảng 1.13 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo công cụ, phương tiện phạm
tội
Bảng 1.14 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tài sản bị chiếm đoạt
Bảng 1.15 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo động cơ phạm tội
Bảng 1.16 Cơ cấu theo độ tuổi người phạm tội trộm cắp tài sản
Trang 6Bảng 1.19 Cơ cấu của theo đặc điểm nghề nghiệp của người phạm tội trộm
cắp tài sản
Bảng 1.20 Cơ cấu theo đặc điểm phạm tội lần đầu hay tái phạm, tái phạm
nguy hiểm của người phạm tội trộm cắp tài sản
Bảng 1.21 Cơ cấu theo đặc điểm có hay không nghiện ma túy của người
Bảng 1.24 Cơ cấu tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm mối quan hệ của nạn
nhân và người phạm tội
Bảng 1.25 Mức độ tăng, giảm hàng năm của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Bảng 1.26 Mức độ tăng, giảm hàng năm của tội trộm cắp tài sản so với các
tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Bảng 1.27 Diễn biến về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm độ
tuổi của người phạm tội
Bảng 1.28 Diễn biến về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm giới
tính của người phạm tội
Bảng 1.29 Diễn biến về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm phạm
tội lần đầu hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm của người phạm tội
Bảng 1.30 Diễn biến về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm có hay
không nghiện ma túy của người phạm tội
Trang 7Biểu đồ 1.2 Số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ, số người
phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Biểu đồ 1.3 So sánh chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội trộm cắp tài
sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và cả nước giai đoạn
2013 – 2017
Biểu đồ 1.4 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tội phạm
Biểu đồ 1.5 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo mức hình phạt đã áp dụng
Biểu đồ 1.6 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo hình thức thực hiện tội
phạm
Biểu đồ 1.7 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo địa điểm phạm tội
Biểu đồ 1.8 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thời gian phạm tội
Biểu đồ 1.9 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thủ đoạn phạm tội
Biểu đồ 1.10 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo công cụ, phương tiện
phạm tội
Biểu đồ 1.11 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tài sản bị chiếm đoạt
Biểu đồ 1.12 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo động cơ phạm tội
Biểu đồ 1.13 Cơ cấu theo độ tuổi người phạm tội trộm cắp tài sản
Biểu đồ 1.14 Cơ cấu theo giới tính người phạm tội trộm cắp tài sản
Biểu đồ 1.15 Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội trộm cắp tài
sản
Biểu đồ 1.16 Cơ cấu theo đặc điểm nghề nghiệp của người phạm tội trộm
cắp tài sản
Trang 8phạm tội trộm cắp tài sản
Biểu đồ 1.19 Cơ cấu tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm mối quan hệ của nạn
nhân và người phạm tội
Biểu đồ 1.20 Diến biến về số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Biểu đồ 1.21 Diến biến về số vụ phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ
nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Biểu đồ 1.22 Diễn biến về số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ
nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Biểu đồ 1.23 Diễn biến về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm độ
tuổi của người phạm tội
Biểu đồ 1.24 Diễn biến về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm giới
tính của người phạm tội
Biểu đồ 1.25 Diến biến về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm
phạm tội lần đầu hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm của người phạm tội
Biểu đồ 1.26 Diễn biến về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm có
hay không nghiện ma túy của người phạm tội
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn: 4
7 Cơ cấu luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 6
TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2013 – 2017 6
1.1 Thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 6
1.1.1 Thực trạng về mức độ của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 6
1.2 Diễn biến của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 31
1.2.1 Diễn biến về mức độ của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 31
1.2.2 Diễn biến về tính chất của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 34
Kết luận chương 1 39
Chương 2 40
NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM VÀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA 40
Trang 102.1.2 Nguyên nhân về giáo dục và tuyên truyền, phổ biến pháp luật 43
2.1.3 Nguyên nhân liên quan đến hạn chế về hoạt động quản lý về trật tự, an ninh xã hội 46
2.1.4 Nguyên nhân liên quan đến hạn chế của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án 48
2.1.5 Nguyên nhân từ phía người phạm tội 51
2.1.6 Nguyên nhân từ phía nạn nhân 52
2.2 Dự báo tình hình tội phạm và các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 53
2.2.1 Dự báo tình hình tội phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới 53
2.2.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 54
2.2.2.1 Biện pháp về kinh tế- xã hội 55
2.2.2.2 Biện pháp về giáo dục và tuyên truyền, phổ biến pháp luật 58
2.2.2.3 Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trật tự, an ninh xã hội 59
2.2.2.4 Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và thi hành án 60
2.2.2.5 Biện pháp phòng ngừa liên quan đến người phạm tội 61
2.2.2.6 Biện pháp phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm 63
Kết luận chương 2 63
PHẦN KẾT LUẬN 66
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thanh Hóa là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam Phía Bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào) với đường biên giới dài
192 km; phía Đông Thanh Hóa giáp biển với chiều dài bờ biển 102 km Thanh Hóa với diện tích tự nhiên là 11.106km2 gồm: 01 thành phố trực thuộc tỉnh, 02 thị xã và
24 huyện với số dân là 3.457.000 người với 7 dân tộc Kinh, Mường, Thái, H’Mông, Dao, Thổ, Khơ-mú
Thanh Hóa có 01 sân bay (Sao Vàng); 01 cảng nước sâu (Nghi Sơn) là điểm huyết mạch của các tuyến đường sắt, đường bộ, đường biển, đường không, xuyên Việt; là một trong những cửa ngõ đường biển của CHDCND Lào với thế giới nên
có một vị trí thuận lợi trong giao lưu với các tỉnh, thành phố trong cả nước và quốc
tế
Thanh Hóa từ một tỉnh nghèo chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, đến nay đã có sự tăng trưởng kinh tế vững vàng, đóng góp vào sự phát triển của đất nước, là một trong điểm của vùng kinh tế Bắc Bộ Thành phố Thanh Hóa sau 20 năm thành lập đã hội tụ nhiều tiềm năng và đạt được kết quả đáng khích lệ, tương đối toàn diện trên các lĩnh vực, cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Cơ sở hạ tầng
đô thị được đầu tư và phát triển mạnh mẽ, cảnh quan thay đổi hơn hẳn nhiều lần trước đây, góp phần làm bộ mặt của toàn tỉnh thay đổi theo hướng phát triển hơn về mọi mặt
Tuy nhiên, do đặc điểm về vị trí địa lý cùng với các điều kiện về kinh tế - xã hội nêu trên, cùng với những tác động mặt trái của nên kinh tế thị trường đã làm nảy sinh thêm những vấn đề phức tạp như các tệ nạn xã hội gia tăng; sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội; tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm khiến cho người lao động phải kiếm sống bằng mọi cách và dễ bị lôi kéo vào con đường phạm tội Đồng thời, những người đã từng có tiền án lợi dụng sự phát triển chung của xã hội nên càng lười nhác, không chịu kiếm sống bằng những nghề chân chính Tình hình
an ninh, trật tự trên địa bàn toàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay vẫn chưa ổn định, các loại tội phạm vẫn còn xảy ra nhiều, đặc biệt là tội trộm cắp tài sản
Trong vòng 05 năm từ năm 2013 đến năm 2017, theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, toàn tỉnh đã xảy ra 6952 vụ phạm tội nói chung
Trang 12với 13262người phạm tội Trong đó có 2103 vụ trộm cắp tài sản với 3123 người phạm tội Như vậy,trung bình 1 năm, Tòa án nhân dân các cấp ở tỉnh đã xét xử sơ thẩm khoảng 420 vụ án, chiếm 30,2% so với tổng số các loại tội phạm trên toàn tỉnh Tội phạm tội trộm cắp tài sản không chỉ chiếm tỷ lệ cao trong tổng số tội phạm nói chung xảy ra trên địa bàn tỉnh mà diễn biến của tội phạm tội trộm cắp tài sản cũng ngày càng phức tạp, hành vi của người phạm tội ngày càng tinh vi, đa dạng, giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày càng lớn Tội trộm cắp tài sản đã gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân và gây ra nhiều tác động xấu đến tình hình trật tự, an ninh trên toàn tỉnh
Trước tình hình đó, các cơ quan chức năng của toàn tỉnh đã tiến hành nhiều biện pháp đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, nhưng kết quả thực hiện vẫn chưa đạt được như mong muốn Các tội phạm nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa vẫn diễn biến phức tạp Điều này không chỉ gây
ra nhiều thiệt hại cho tài sản của cá nhân, tổ chức mà còn gây ra tâm lý lo lắng, hoang mang, bất an trong cộng đồng dân cư, tác động tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự chung của địa phương Nguyên nhân của tình trạng đó một phần là do chưa có biện pháp phòng ngừa tội trộm cắp tài sản phù hợp, đồng bộ và hiệu quả
Do đó, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa để xác định chính xác các nguyên nhân, từ đó đề ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh
là yêu cầu cấp bách đặt ra trong giai đoạn hiện nay Từ những lý do trên, tác giả
chọn đề tài “Phòng ngừa tội phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học Những kết quả nghiên cứu của luận văn
sẽ là những đóng góp cho các cơ quan chức năng tỉnh Thanh Hóa tham khảo trong xây dựng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu tình hình trộm cắp tài sản, tìm ra nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa loại tội phạm này đã và đang được các
cơ quan ban ngành, các tổ chức đoàn thể và các cá nhân quan tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản dưới góc độ tội phạm học:
Ở cấp độ luận án tiến sỹ có công trình sau: “Tội trộm cắp tài sản và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Văn Hùng,
Trường đại học Luật Hà Nội, năm 2007
Trang 13Ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học có các công trình sau:
- “Đấu tranh phòng ngừa và chống tội trộm cắp tài sản trong quân đội” của
tác giả Nguyễn Gia Hoàn, Trường đại học Luật Hà Nội, năm 2000
- “Đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương – Tình hình, nguyên nhân và giải pháp”, tác giả Nguyễn Ngọc Thập, Trường đại
học Luật Hà Nội, năm 2001
- “Đấu tranh phòng và chống tội trộm cắp tài sản do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Đặng Thị Xuân, Trường đại học Luật
Hà Nội, năm 2003
- “Đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, Trường đại học Luật Hà Nội, 2007
- “Đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”
của tác giả Đinh Thị Lan Hương, Trường đại học Luật Hà Nội, 2007
- “Phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” của tác giả
Nguyễn Xuân Minh, Trường đại học Luật Hà Nội, 2011
- “Phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của
tác giả Nguyễn Thanh Huyền, Trường đại học Luật Hà Nội, 2011
- “Phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang” của tác
giả Hà Thị Nhung, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013
- “Phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương” của tác
giả Trương Thị Hiền Lương, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2016
Ngoài ra, còn có bài báo khoa học “Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản do người nước ngoài thực hiện” của tác giả Lê
Quang Thành, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 năm 2012
Các công trình nêu trên nghiên cứu từ góc độ tội phạm học- tội trộm cắp tài sản trên địa bàn cả nước hoặc trên địa bàn của các tỉnh khác nhau và trong khoảng thời gian khác nhau trước năm 2013 Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa dưới góc độ tội
phạm học Do vậy nên việc nghiên cứu đề tài “Phòng ngừa tội trộm cắp tài sản
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” là hết sức cần thiết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình tội phạm ,
nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa tội phạm của tội trộm cắp tài sản
Trang 14- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu dưới góc độ Tội phạm học tội phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 5 năm 2013
- 2017
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài: Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới
- Nhiệm vụ cơ bản của việc nghiên cứu đề tài:
+ Phân tích, đánh giá thực trạng và diễn biến của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian 5 năm từ năm 2013 đến năm 2017;
+ Giải thích nguyên nhân của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian 5 năm từ năm 2013 đến năm 2017;
+ Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới;
+ Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu đề tài: Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp tiếp cận định lượng; phương pháp tiếp cận tổng thể, phương pháp tiếp cận bộ phận, phương pháp chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên đơn giản, phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu, phương pháp thống kê, phương pháp chứng minh, phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn:
Luận văn có một số đóng góp chủ yếu sau:
- Đánh giá được tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2013 – 2017
- Xác định được nguyên nhân của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2013 – 2017
- Dự báo được tình hình trộm cắp tài sản trong thời gian tới và đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Trang 157 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, cơ cấu của luận văn gồm 02 chương:
Chương 1: Tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013- 2017
Chương 2: Nguyên nhân tội phạm và các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Trang 16PHẦN NỘI DUNG Chương 1 TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH
HÓA GIAI ĐOẠN 2013 – 2017
“Tình hình tội phạm là thực trạng và diễn biến của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian nhất định” 1
Nghiên cứu tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 chính là nghiên cứu về thực trạng và diễn biến của tội trộm cắp tài sản đã xảy ra trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 Đó là bức tranh toàn cảnh về tội trộm cắp tài sản địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 –
2017 mà trên cơ sở đó có thể rút ra được nguyên nhân của tội phạm này và đề ra những biện pháp tối ưu để phòng ngừa tội phạm này trong thời gian tới
1.1 Thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
“Thực trạng của tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của các loại tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc một loại tội phạm) đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và về tính chất”.2
Nghiên cứu thực trạng của tội phạm là nghiên cứu hai đặc điểm của thực trạng, đặc điểm về mức độ được phản ánh qua số tội phạm cũng như số người phạm tội và đặc điểm về tính chất được phản ánh qua cơ cấu của tội phạm
1.1.1 Thực trạng về mức độ của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
1 Trường đại học Luật Hà nội (2015), Giáo trình tội phạm học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội trang 100
2 Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Tội phạm học và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội trang 203
3 Dương Tuyết Miên (2013), Tội phạm học nhập môn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội trang 102
Trang 17Năm Số vụ Số người phạm tội
(Nguồn: TAND tỉnh Thanh Hóa)
Bảng thống kê trên cho thấy, từ 2013 – 2017 Tòa án các cấp của tỉnh Thanh Hóa đã xét xử sơ thẩm 2103 vụ và 3123 người phạm tội trộm cắp tài sản Bình quân mỗi năm có khoảng 420,6 vụ và 624,6 người phạm tội bị xét xử về tội trộm cắp tài sản
Để làm rõ hơn thực trạng về mức độ của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017, xét thấy cần thiết phải đặt các thông số này
so sánh với các thông số có liên quan, cụ thể là:
Trước hết, để thấy rõ hơn thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 ta so sánh số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản với số vụ, số người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Bảng 1.2 Số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ, số người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn
(Nguồn: TAND tỉnh Thanh Hóa)
Từ bảng số liệu trên, ta có thể thấy được số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ đa số trong các tội phạm sở hữu nói chung xảy ra trên địa bàn
Trang 18tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 Cụ thể, tỷ lệ số vụ trộm cắp tài sản chiếm 65,2% tổng số các vụ phạm tội sở hữu và số người phạm tội trộm cắp tài sản chiếm 66% tổng số người phạm các tội sở hữu
Tỷ lệ này được minh họa bằng biểu đồ sau:
Biểu đồ 1.1 Số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ, số người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn
2013 – 2017
- Thứ hai, so sánh số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản với số vụ, số
người phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Bảng 1.3 Số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ, số người phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Số vụ (1) Số người
phạm tội (2) Số vụ (3)
Số người phạm tội (4) (1)/(3) (2)/(4)
(Nguồn: TAND tỉnh Thanh Hóa)
Qua bảng số liệu ta có thể thấy, trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã xảy ra 6952 vụ phạm tội nói chung với số người phạm tội là 13262 Trong đó có 3123 vụ phạm tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ 30,2% tổng số các vụ phạm tội và 6952 người phạm tội trộm cắp tài sản chiếm 23,5% tổng
số người phạm tội nói chung
Trang 19Đây là tỷ lệ khá đáng kể của số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản trong cơ cấu tội phạm nói chung xảy ra trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 Tỷ lệ này được minh họa bằng biểu đồ sau:
Biểu đồ 1.2 Số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ, số người phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
- Thứ ba, so sánh số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa
bản tỉnh Thanh Hóa với số vụ, số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 – 2017
“Chỉ số tội phạm được xác định để tìm hiểu mức độ phổ biến của tội phạm trong dân cư” 4 Do vậy, khi đánh giá thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa không thể bỏ qua chỉ số tội phạm
Bảng 1.4 Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Năm Số vụ Số người
phạm tội Số dân
Chỉ số tội phạm tính trên 100.000
dân
Chỉ số người phạm tội tính trên 100.000 dân
Trang 202016 434 595 3.528.300 12,3 16,9
(Nguồn: TAND tỉnh Thanh Hóa và Tổng cục thống kê)
Ở tỉnh Thanh Hóa, cứ trên 100.000 dân thì có khoảng 11 vụ phạm tội và 17 người phạm tội trộm cắp tài sản, cho thấy số người phạm tội gấp khoảng 1,54 lần
số vụ bị xét xử sơ thẩm
Để đánh giá thực trạng về mức độ của tội trộm cắp tài sản trên địa bản tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017, tác giả so sánh chỉ số tội phạm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với một số địa phương khác là Nghệ An, Hà Tĩnh và của cả nước
Bảng 1.5 So sánh chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và cả nước giai đoạn 2013 – 2017
Chỉ số tội phạm
Chỉ số người phạm tội
Chỉ số tội phạm
Chỉ số người phạm tội
Chỉ số tội phạm
Chỉ số người phạm tội 11,9 17,8 15,2 24,2 14,4 25,5 17,7 26,5
(Nguồn: TAND tỉnh tối cao và Tổng cục thống kê)
Biểu đồ 1.3.So sánh chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và cả nước giai đoạn 2013 – 2017
11.9
17.8 15.2
Hà Tĩnh
Cả nước
Trang 21Qua bảng số liệu và biểu đồ có thể nhận thấy trong khoảng thời gian từ năm
2013 – 2017, mặc dù có dân số nhiều hơn Nghệ An, tuy nhiên mức độ phổ biến của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa vẫn thấp hơn Nghệ An (Nghệ An
có chỉ số tội phạm là 15,5; chỉ số người phạm tội là 25,54) So với Hà Tĩnh - tỉnh
có diện tích và dân số chỉ bằng nửa Thanh Hóa, mức độ phổ biến của tội trộm cắp tài sản vẫn thấp hơn Hà Tĩnh, cụ thể Hà Tĩnh có chỉ số tội phạm là 14,4 và chỉ số người phạm tội là 25,5 Cả nước có mức phổ biến của tội trộm cắp tài sản cao nhất (chỉ số tội phạm là 17,7; chỉ số người phạm tội là 26.5) Do vậy so với cả nước, Thanh Hóa có mức độ phổ biến tội trộm cắp tài sản thấp hơn, thể hiện ở chỉ số tội phạm là 11,9 và chỉ số người phạm tội là 17,8
* Về tội phạm ẩn
Nghiên cứu thực trạng của tội phạm không thể không nghiên cứu về tội phạm ẩn bởi vì tội phạm rõ mới chỉ phản ánh một phần về thực trạng tội phạm.Bên cạnh tội phạm rõ, vẫn còn một số lượng tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng chưa bị
phát hiện và xử lý hình sự gọi là tội phạm ẩn.“Tội phạm ẩn là các tội phạm đã thực
tế xảy ra nhưng không được trong thống kê tội phạm, vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm” 5
Tội phạm ẩn được đề cập ở đây là một bộ phận của tổng số các tội phạm trộm cắp tài sản đã xảy ra trên thực tế Không phải mọi tội phạm xảy ra trên thực tế đều bị phát hiện và xử lý hình sự, mà có những tội phạm xảy ra nhưng do nhiều lý
do khác nhau mà không bị phát hiện và xử lý hình sự, do vậy không có trong thống
kê hình sự Tội phạm ẩn có hai hình thái là tội phạm ẩn chủ quan và tội phạm ẩn khách quan Việc đánh giá về mức độ của tội phạm ẩn chỉ có thể là tương đối, tội trộm cắp tài sản bản thân đã có dấu hiệu “lén lút”, khuynh hướng ẩn rất lớn và tâm
lý người phạm tội lúc nào cũng muốn che giấu cho hành vi mà mình đã gây ra, hơn nữa trong một số trường hợp nạn nhân không muốn khai báo hoặc những người biết về vụ phạm tội nhưng do sợ bị trả thù nên không khai báo Để xác định tội phạm ẩn của tội trộm cắp tài sản, tác giả đã tiến hành thu thập: Số liệu khởi tố của
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa và số liệu xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Bảng 1.6 Số vụ trộm cắp tài sản bị khởi tố, xét xử trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 - 2017
5 Dương Tuyết Miên (2013), Tội phạm học nhập môn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội trang 103
Trang 22số vụ bị khởi tố và xét xử, đầu tiên phải kể đến là, do đã hết thời hạn điều tra mà vẫn chưa xác định được bị can hoặc bị can đã bỏ trốn, không biết bị can ở đâu, hoặc
có trường hợp chờ kết quả giám định tâm thần của bị can; kết quả định giá tài sản nhưng chưa có mà đã hết thời hạn điều tra nên phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Dựa vào số liệu thống kê của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa cho thấy, trong 5 năm (2013 – 2017), Thanh Hóa có 1292 vụ bị tạm đình chỉ tính đến cuối kỳ thống kê, chiếm tỷ lệ 35,6% số vụ bị khởi tố; và có
19 vụ bị đình chỉ tính đến cuối kỳ thống kê, chiếm tỷ lệ 0,5% số vụ bị khởi tố (19/3626) Do có một số trường hợp là do bị can đã chết, bên cạnh đó, nguyên nhân dẫn đến việc tội phạm này bị khởi tố nhưng không được đưa ra xét xử còn bắt nguồn từ phía cơ quan bảo vệ pháp luật: có thể do trình độ hạn chế hoặc do thông đồng, bao che tội phạm…
Tội phạm trộm cắp tài sản có tỷ lệ ẩn khá cao, một phần là do các trường hợp các vụ án trộm cắp tài sản có số lượng tạm đình chỉ (chiếm tỷ lệ 35,6% số vụ
bị khởi tố) và đình chỉ (chiếm tỷ lệ 0,5% số vụ bị khởi tố) khá đáng kể vì không tìm
ra đối tượng gây án, đối tượng gây án bỏ trốn hoặc người bị hại không trình báo Cơ quan điều tra Đặc biệt là các trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, và có thể ẩn cả
từ phía người bị hại cũng như từ phía cơ quan chức năng Việc phát hiện tội phạm
ẩn có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tội trộm
Trang 23cắp tài sản nói riêng và tội phạm nói chung Mặc dù số liệu về tội phạm ẩn của tội trộm cắp tài sản chỉ mang tính chất tương đối nhưng thông qua những số liệu này cùng với số liệu về tội phạm rõ đã phần nào cho chúng ta thấy rõ hơn “bức tranh toàn cảnh” của thực trạng tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
1.1.2 Thực trạng về tính chất của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017
Trước hết, tác giả nghiên cứu về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 “Xem xét cơ cấu là xem xét tỷ trọng của từng bộ phận của mỗi cơ cấu để từ đó chúng ta rút ra được những nhận xét nhất định về tính chất của tội phạm” 6
Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu 150 bản án hình sự sơ thẩm với 183 bị cáo
bị xét xử về tội trộm cắp tài sản trên địa bản tỉnh Thanh Hóa, tác giả xác định cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo những tiêu chí sau:
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tội phạm
Căn cứ vào các bản án hình sự sơ thẩm xét xử về tội trộm cắp tài sản mà tác giả đã khảo sát ở Thanh Hóa trong giai đoạn nghiên cứu thì không có trường hợp nào phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, mà chỉ có tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng Tác giả có bảng thống kê sau:
Bảng 1.7 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tội phạm
Tội rất nghiêm trọng
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.4.Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tội phạm
6 Dương Tuyết Miên (2013), Tội phạm học nhập môn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội trang 117
Trang 24(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 - 2017 chủ yếu là tội ít nghiêm trọng (chiếm 85.2%), tội phạm nghiêm trọng chiếm tỷ lệ nhỏ (chiếm 10.9%) và tội phạm rất nghiêm trọng chiếm tỷ
lệ không đáng kể (chiếm 3.9%)
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại và mức hình phạt đã áp dụng
Bảng 1.8 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo mức hình phạt đã áp dụng
Tổng
Cải tạo không giam giữ
Tù có thời hạn
Dưới 3 năm
Từ 3 năm- dưới 7 năm
Từ 7 năm - dưới 15 năm
Tù từ 15 năm – 20 năm
3123
người
phạm tội
170 người phạm tội
2744 người phạm tội
173 người phạm tội
30 người phạm tội
6 người phạm tội
(Nguồn: TAND tỉnh Thanh Hóa)
Theo thống kê chính thức của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, loại chế tài
đã áp dụng với 3123 bị cáo bị xét xử về tội trộm cắp tài sản hầu hết là hình phạt tù
có thời hạn Cụ thể, trong tổng số 3123 bị cáo, thì có 2744 bị cáo áp dụng hình phạt
tù có thời hạn dưới 3 năm, chiếm tỷ lệ chủ yếu (chiếm 87,9%), trong đó có 832 bị cáo bị áp dụng hình phạt tù là án treo chiếm tỷ lệ khá đáng kể (chiếm 26,6%); hình phạt tù từ 3 năm đến dưới 7 năm tù là 173 bị cáo (chiếm 5,5%); hình phạt tù từ dưới 7 năm tù đến 15 năm tù có 30 bị cáo (chiếm tỷ lệ 1%) Hình phạt tù từ 15 năm
85.20%
10.90% 3.90%
Tội ít nghiêm trọng Tội nghiêm trọng Tội rất nghiêm trọng
Trang 25đến 20 năm chiếm tỷ lệ không đáng kể (0,2%) Hình phạt cải tạo không giam giữ chiếm tỷ lệ ít với 170 bị cáo (chiếm tỷ lệ 5,5%)
Ta có thể hình dung rõ hơn qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 1.5 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo mức hình phạt đã áp dụng
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo hình thức thực hiện tội phạm
Bảng 1.9 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo hình thức thực hiện tội phạm
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.6.Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo hình thức thực hiện tội phạm
Tù từ 7 năm đến dưới 15 năm
Tù từ 15 năm đến 20 năm
Trang 26Căn cứ vào biểu đồ 1.6, số vụ trộm cắp tài sản dưới hình thức phạm tội riêng
lẻ chiếm tỷ lệ 76.6%, sốvụ đồng phạm chiếm tỷ lệ 23.4% Theo khảo sát 150 bản
án HSST thì cả 35 vụ đồng phạm đều là đồng phạm giản đơn, tất cả các bị cáo đều thực hiện tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau Phần lớn các vụ
án phạm tội theo hình thức riêng lẻ, người phạm tội thường thường trộm cắp những tài sản nhỏ gọn, dễ cất giấu và dễ tẩu thoát
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo địa điểm phạm tội:
Bảng 1.10 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo địa điểm phạm tội
Tổng Nhà trọ
Nhà riêng
Cửa hàng, nhà máy, công trường xây dựng
Nơi công cộng
Bệnh viện Các địa
điểm khác
150 vụ 15 vụ 75 vụ 31 vụ 5 vụ 6 vụ 18 vụ
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Qua bảng số liệu trên có thể nhận thấy số vụ trộm cắp tài sản xảy ra ở nhiều địa điểm khác nhau, nhưng xảy ra chủ yếu là tại nhà riêng, cụ thể là chiếm tới 50% Sở dĩ như vậy là vì tài sản ở nhà riêng thường có giá trị lớn Đó có thể là xe máy, tiền, vàng, laptop, tivi Bên cạnh đó, người phạm tội còn thực hiện hành vi trộm cắp là ở các cửa hàng, công trường xây dựng hoặc nhà máy là tương đối nhiều (chiếm tỷ lệ 20,6%) Còn lại là các vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại nhà trọ chiếm 10%, tại các nơi công cộng, có đông người qua lại là 3,4% và tại các bệnh viện là 4% Các địa điểm khác là 12%
76.60%
23.40%
Phạm tội riêng lẻ Đồng phạm
Trang 27Biểu đồ 1.7 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo địa điểm phạm tội
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thời gian phạm tội
Bảng 1.11 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thời gian phạm tội
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.8 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thời gian phạm tội
Thống kê trên 150 vụ trộm cắp tài sản xảy ra trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 - 2017, có thể chia thành 3 khoảng thời gian trong ngày mà tội trộm cắp tài sản xảy ra Trong đó có thể nhận thấy rõ rệt là khoảng thời gian từ 6 giờ đến
Trang 2818 giờ là khoảng thời gian tội trộm cắp tài sản xảy ra nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 51.3%
Do đây là khoảng thời gian các gia đình đang đi làm, không có người trông coi hay
là thời gian nghỉ trưa, khoảng thời gian mọi người đang trong giờ làm việc Thêm
đó, cũng là khoảng thời gian mọi người trở về nhà nghỉ ngơi sau một ngày làm việc
và với tâm lý ở nhà nên thường lơ là, mất cảnh giác tạo điều kiện cho tội phạm được thực hiện Và tài sản bị chiếm đoạt thường là xe máy Khoảng thời gian từ 22 giờ đến 6 giờ là ban đêm, là thời gian mọi người nghỉ ngơi sau một ngày và ít hoạt động cũng là thời điểm mà tội trộm cắp tài sản xảy ra nhiều thứ hai, chiếm tỷ lệ 38% Còn lại là 10,7% các vụ trộm cắp, là số tương đối ít xảy ra trong khoảng từ 18 giờ đến 22 giờ
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thủ đoạn phạm tội
Bảng 1.12 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thủ đoạn phạm tội
Tổng
Móc túi, lợi dụng sự sơ
hở cả nạn nhân
Mở, cạy, phá khóa
xe
Đột nhập vào nhà riêng, công
ty, cơ quan nhà nước
Lợi dụng
sự tin tưởng của nạn nhân
để trộm cắp tài sản
Các thủ đoạn phạm tội khác
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.9 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thủ đoạn phạm tội
Các thủ đoạn phạm tội khác
Trang 29Qua bảng số liệu và biểu đồ trên có thể thấy được, phần lớn người phạm tội trộm cắp tài sản có sự quan sát và sau đó lén lút đột nhập vào nhà riêng, công ty hay các cơ quan nhà nước với 62 vụ trộm cắp tài sản (chiếm tỷ lệ 41,3%) Bên cạnh
đó, chiếm tỷ lệ tương đối nhiều là 41 vụ trộm cắp lợi dụng sự tin tưởng của nạn nhân do là người quen biết để chiếm đoạt tài sản (chiếm 27,3%) Còn lại, thủ đoạn móc túi, lợi dụng sự sơ hở của nạn nhân để trộm cắp chiếm 18%; và chỉ có 10% số
vụ trộm cắp tài sản là mở hoặc cạy, phá khóa xe
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo công cụ, phương tiện phạm tội
Bảng 1.13 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo công cụ, phương tiện phạm tội
Không sử dụng công cụ, phương tiện
150 vụ
Vam phá khóa
Kìm cộng lực, tua vít
Công cụ, phương tiện
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.10 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo công cụ, phương tiện phạm tội
Công cụ, phương tiện khác
Không sử dụng công cụ, phương tiện
Trang 30Khảo sát 150 bản án cho thấy có đến 74.8% các vụ trộm không hề sử dụng phương tiện, công cụ phạm tội Lý do là vì đối với phần lớn các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 - 2017, các vụ phạm tội xảy ra phần lớn
là do chủ sở hữu tài sản lơ là trong việc bảo quan tài sản, như: không khóa xe, không khóa cửa nhà nên người phạm tội lén lút trộm cắp rất dễ dàng Còn lại, có 11.3% các vụ trộm cắp sử dụng vam phá khóa để phá khóa xe máy; 5.3% sử dụng kìm cộng lực, tua vít phá cửa để đột nhập vào nhà riêng hoặc cơ quan Có 8,6% các
vụ sử dụng một số loại phương tiện, công cụ phạm tội khác như: thanh sắt cài cửa, liềm cắt lúa để phá cửa đột nhập vào nhà
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tài sản bị chiếm đoạt
Tài sản bị trộm cắp trong những vụ trộm cắp tài sản ngày càng đa dạng, gồm nhiều loại khác nhau Trong số 150 bản án, tác giả thấy tập trung trong một số loại tài sản thường bị người phạm tội chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản bao gồm: xe máy, điện thoại di động, tiền, vàng và một số loại tài sản khác
Bảng 1.14 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tài sản bị chiếm đoạt
vàng
Điện thoại di động
Máy tính
và các loại đồ điện tử khác
Xe máy
Gia súc, vật nuôi
Tài sản khác
150 vụ 19 vụ 27 vụ 18 vụ 48 vụ 9 vụ 29 vụ
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.11 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tài sản bị chiếm đoạt
Trang 31Theo kết quả nghiên cứu 150 bản án HSST thể hiện qua biểu đồ và bảng số liệu trên ta thấy, tài sản bị trộm cắp nhiều nhất là xe máy và xảy ra ở cả khu vực thành phố lẫn các huyện nông thôn (chiếm 32%) Do đây là tài sản dễ trộm cắp vì
sơ hở của chủ sở hữu, xe máy thường dựng ngoài sân, ngoài đường nhưng không khóa hoặc không có người trông coi thường xuyên, dễ dang trở thành đối tượng trộm cắp của tội phạm.Thông thường, người phạm tội khi trộm cắp tài sản mong muốn chiếm đoạt tài sản có giá trị cao, dễ cất giấu và dễ tiêu thụ Do vậy lựa chọn của tội phạm thường là tiền, vàng (chiếm 12,6%), điện thoại di động (chiếm 18%) hoặc laptop (chiếm 12%) Đối với những vùng nông thôn, đối tượng trộm cắp của tội phạm lại là những tài sản khác như gia cầm là gà nuôi hay chó của hàng xóm (chiếm 6%) hoặc là những tài sản khác là những vật dụng trong gia đình như lò nướng hay máy giặt (chiếm 19,4%)
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo động cơ phạm tội
Bảng 1.15 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo động cơ phạm tội
Tổng Tiêu xài cá
nhân
Mua ma túy
Do có sở thích trộm cắp tài sản
Kiếm tiền
lo cho gia đình và bản thân
Động cơ khác
183 người
phạm tội
125 người phạm tội
45 người phạm tội
4 người phạm tội
3 người phạm tội
6 người phạm tội
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.12 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo động cơ phạm tội
Máy tính và các loại
đồ điện tử khác
Xe máy Gia súc, vật nuôi Tài sản khác
Trang 32Trong số 150 vụ án trộm cắp tài sản với 183 bị cáo thì động cơ trộm cắp tài sản chiếm phần nhiều là trộm cắp để lấy tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân là 125 người phạm tội (chiếm 68,3%) Ngoài ra, số người phạm tội do thiếu tiền mua ma túy để sử dụng dẫn đến hành vi trộm cắp là 45 người (chiếm 24,6%) Bên cạnh đó,
số người trộm cắp để lấy tiền lo cho gia đình chiếm 1,6%; do có sở thích trộm cắp
vì lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ và xem thường pháp luật cho dù đã bị xét xử
về tội trộm cắp nhiều lần chiếm 2,2% Và do các động cơ khác như trả nợ chiếm 3.3%
* Cơ cấu theo đặc điểm nhân thân của người phạm tội
- Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội trộm cắp tài sản
Bảng 1.16 Cơ cấu theo độ tuổi người phạm tội trộm cắp tài sản
đến dưới 18 tuổi
Từ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi
Từ 30 tuổi trở lên
183 người phạm
tội 6 người phạm tội 102 người phạm
tội
102 người phạm tội75 người phạm
tội
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.13 Cơ cấu theo độ tuổi người phạm tội trộm cắp tài sản
Kiếm tiền lo cho gia đình
và bản thân Động cơ khác
Trang 33Khảo sát 150 bản án HSST trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2017 tác giả nhận thấy: Số người phạm tội trộm cắp tài sản phần nhiều
là người từ đủ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi, chiếm tỷ lệ 55,7% Tiếp đến, số người từ
30 tuổi trở lên cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ (41%) Tỷ lệ người chưa thành niên phạm tội không đáng kể, chỉ chiếm 3,3%,và người phạm tội chủ yếu là những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, không có người phạm tội nàotừ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cơ cấu theo giới tính của người phạm tội trộm cắp tài sản
Bảng 1.17 Cơ cấu theo giới tính người phạm tội trộm cắp tài sản
183 người phạm tội 167 người phạm tội 16 người phạm tội
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.14 Cơ cấu theo giới tính người phạm tội trộm cắp tài sản
Từ 30 tuổi trở lên
Trang 34Theo số liệu thống kê 150 bản án với 183 người phạm tội trộm cắp tài sản bị đưa ra xét xử giai đoạn 2013 - 2017, thì số người phạm tội là nam chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối, với 91,3% Số nữ phạm tội chỉ có 16 người, chiếm tỷ lệ 8,8%
- Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội trộm cắp tài sản
Bảng 1.18 Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội trộm cắp tài sản
Hết lớp 12 trở lên
183 người
phạm tội
6 người phạm tội
24 người phạm tội
89 người phạm tội
63 người phạm tội
1 người phạm tội
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.15 Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội trộm cắp tài sản
Cấp 2 Cấp 3 Hết lớp 12 trở lên
Trang 35Theo kết quả nghiên cứu 150 bản án HSST xét xử về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 - 2017, tác giả nhận thấy đa số các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản đều có trình độ học vấn thấp Cụ thể, trong số 183 người bị kết án phạm tội trộm cắp tài sản thì có 6 bị cáo không biết chữ (chiếm 3,3%), 24 bị cáo có trình độ văn hóa cấp 1(chiếm 13,1%), 89 bị cáo có trình độ văn hóa cấp 2, chiếm tỷ lệ nhiều nhất (48,6%); 63 bị cáo có trình độ văn hóa cấp 3, chiếm tỷ lệ nhiều thứ 2(chiếm 34,4%) Và có 01 bị cáo có trình độ văn hóa từ lớp
12 trở lên, chiếm 0,6%
- Cơ cấu theo đặc điểm nghề nghiệp của người phạm tội trộm cắp tài sản
Bảng 1.19 Cơ cấu của theo đặc điểm nghềnghiệpcủa người phạm tội trộm cắp tài sản
nghiệp
Có nghề nghiệp
Học sinh, sinh viên Làm
ruộng
Công nhân
9 người phạm tội
7 người phạm tội
120 người phạm tội
10 người phạm tội
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.16 Cơ cấu theo đặc điểm nghề nghiệp của người phạm tội trộm cắp tài sản
Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy, người phạm tội trộm cắp tài sản chủ yếu là người không có nghề nghiệp ổn định, là lao động tự do (chiếm tỷ lệ 65,5%), tiếp đến là những người thất nghiệp (chiếm 20,2%) Còn lại là học sinh,
Trang 36sinh viên chiếm 5,5%; người làm ruộng chiếm 4,9%; ít nhất là công nhân chiếm 3,8%
- Cơ cấu theo đặc điểm phạm tội lần đầu hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm của người phạm tội trộm cắp tài sản
Bảng 1.20 Cơ cấu theo đặc điểm phạm tội lần đầu hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm của người phạm tội trộm cắp tài sản
nguy hiểm
183 người phạm tội 127 người phạm tội 56 người phạm tội
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.17 Cơ cấu của theo đặc điểm phạm tội lần đầu hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm của người phạm tội trộm cắp tài sản
Số liệu bảng thống kê và biểu đồ cho thấy, trong năm năm 2013 - 2017, số
vụ trộm cắp tài sản mà người phạm tội có đặc điểm tái phạm, tái phạm nguy hiểm chiếm tỷ lệ đáng kể, 30,6% Đây là con số đáng báo động về tình trạng tái phạm của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Cơ cấu theo đặc điểm có hay không nghiện ma túy của người phạm tội trộm cắp tài sản
Bảng 1.21 Cơ cấu theo đặc điểm có hay không nghiện ma túy của người phạm tội trộm cắp tài sản
69.40%
30.60%
Phạm tội lần đầu Tái phạm, Tái phạm nguy hiểm
Trang 37Tổng Số người phạm tội
nghiện ma túy
Số người phạm tội không nghiện ma túy
183 người phạm tội 66 người phạm tội 117 người phạm tội
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.18 Cơ cấu theo đặc điểm có hay không nghiện ma túy của người phạm tội trộm cắp tài sản
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, số người phạm tội trộm cắp tài sản là người nghiện
ma túy, chiếm tỷ lệ đang kể (36,1%) trong tổng số các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản Từ con số này có thể thấy rằng do nghiện ma túy, cần tiền mua ma túy là một trong những động cơ thúc đẩy thực hiện hành vi phạm tội
- Cơ cấu theo hoàn cảnh gia đình của người phạm tội trộm cắp tài sản
Bảng 1.22 Cơ cấu theo đặc điểm hoàn cảnh gia đình của người phạm tội trộm cắp tài sản
đình bình thường
Gia đình có bố mẹ
ly hôn; bố mẹ chết, vợ chồng ly hôn
Hoàn cảnh gia đình phức tạp, khó khăn
Trang 38Biểu đồ 1.17 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm hoàn cảnh gia đình của người phạm tội trộm cắp tài sản
Qua việc nghiên cứu 150 bản án HSST xét xử về tội trộm cắp tài sản thì đa
số những người phạm tội đều có hoàn cảnh gia đình bình thương, chiếm 70,5%, có
45 người có hoàn cảnh gia đình là có bố mẹ ly hôn, bố mẹ chết hoặc vợ, chồng ly hôn chiếm tỷ lệ 24,4% Chỉ só 4,9% số người phạm tội có hoàn cảnh gia đình khó khăn như vợ hoặc chồng đi làm xa, vợ bị bệnh hoặc gia đình nợ nần không có khả năng chi trả
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo tình huống trở thành nạn nhân
Bảng 1.23 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm tình huống trở thành nạn nhân
Tổng
Chủ nhà sơ
hở trong quản lý tài sản
Chủ nhà đi
người nơi công cộng
Quen biết người phạm tội
Bị cậy phá, đột nhập vào nhà
150 vụ 54 vụ 17 vụ 11 vụ 36 vụ 32 vụ
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.18 Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm tình huống trở thành nạn nhân
70.50%
24.60%
4.90%
Hoàn cảnh gia đình bình thường
Gia đình có bố mẹ ly hôn, vợ chồng ly hôn, bố mẹ chết Hoàn cảnh gia đình phức tạp, khó khăn
Trang 39Căn cứ vào bảng 1.23 và biểu đồ 1.18 cho thấy, tình huống trở thành nạn nhân của tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa chủ yếu là do chủ nhà sơ hở trong quản lý tài sản, như không khóa xe, không trông coi thường xuyên
để người lạ vào nhà, chiếm tỷ lệ 36% Tiếp theo là do quen biết người phạm tội nên nạn nhân không cảnh giác chiếm 24% Và các trường hợp mà người phạm tội dùng thủ đoạn cũng như công cụ, phương tiện để phá khóa, đột nhập vào nhà để trộm cắp chiếm 21.4%
* Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo mối quan hệ của nạn nhân và người phạm tội
Bảng 1.24 Cơ cấu tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm mối quan hệ của nạn nhân và người phạm tội
Tổng số Không quen biết Quan hệ họ hàng,
bạn bè, hàng xóm Quan hệ lao động
(Nguồn: 150 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.19 Cơ cấu tội trộm cắp tài sản theo đặc điểm mối quan hệ của nạn nhân và người phạm tội
Trang 40Qua bảng và biểu đồ trên cho thấy, phần lớn các vụ trộm cắp tài sản xảy ra, người phạm tội và nạn nhân không quen biết nhau, chỉ lợi dụng nạn nhân sơ hở nên thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm tới 74%; có 32 vụ lợi dụng sự quen biết nên nạn nhân lơ là, không cảnh giác như quan hệ bạn bè, hàng xóm, hay thậm chí là anh em ruột chiếm 21.3% Còn lại là quan hệ người sử dụng lao động và người lao động chiếm 4,7%
Trên cơ sở nghiên cứu về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 - 2017, tác giả rút ra tính chất của tội phạm như sau:
Thứ nhất, tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 -
2017 chủ yếu là tội phạm ít nghiêm trọng, chiếm tỷ lệ 85,2%
Thứ hai, loại chế tài đã áp dụng với các bị cáo bị xét xử về tội trộm cắp tài
sản hầu hết là hình phạt tù có thời hạn dưới 3 năm tù với 2744 bị cáo, chiếm 87,9%
Thứ ba, số vụ trộm cắp tài sản dưới hình thức phạm tội riêng lẻ với 76,7%
và phạm tội dưới hình thức đồng phạm cũng chiếm tỷ lệ đáng kể với 23,4%
Thứ tư, tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ trộm cắp tài sản đa số là xe máy
và điện thoại di động Phần nhiều người phạm tội khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản không sử dụng các công cụ, phương tiện phạm tội (chiếm 74,8%) Chỉ có 38 vụ trong 150 vụ trộm cắp tài sản, người phạm tội khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sảncó sử dụng các công cụ, phương tiện như vam phá khóa, kìm cộng lực, tua vít
để việc trộm cắp tài sản dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi hơn
Thứ năm, thời gian xảy ra nhiều vụ trộm cắp tài sản nhất là khoảng thời gian
từ 6 giờ đến 18 giờ (chiếm tỷ lệ 51,3%) khi chủ sở hữu tài sản đang bận làm việc, nên sơ hở, lơ là trong việc quản lý tài sản; khoảng thời gian từ 22 giờ đến 6 giờ
Quan hệ lao động