Tình trạng trẻ em không có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, không được đến trường, trẻ em lang thang, trẻ em phạm tội, dính líu tới các hành vi tệ nạn, trẻ em bị xâm hại, lao động trẻ em gia
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Mọi trích dẫn từ các tài liệu khác tôi đều ghi rõ thông tin đầy
đủ về nguồn gốc Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những gì tôi viết trong luận văn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẠM QUANG HOÀNG VIỆT
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRẺ EM VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM 4
1.1 Khái niệm trẻ em, một số vấn đề về bảo vệ và chăm sóc trẻ em 4
1.1.1 Trẻ em 4
1.1.2 Bảo vệ và chăm sóc trẻ em 5
1.1.3 Sự cần thiết của việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em 6
1.1.4 Hậu quả của việc trẻ em thiếu được chăm sóc và bảo vệ 8
1.2 Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em 10
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em 10 1.2.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em 10
1.3 Chủ thể quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở Việt Nam 11
1.3.1 Chính phủ 11
1.3.2 Các Bộ 12
1.3.3 Chính quyền địa phương 15
1.4 Pháp luật về bảo vệ và chăm sóc trẻ em 15
1.4.1 Pháp luật quốc tế về bảo vệ và chăm sóc trẻ em 16
1.4.2 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ và chăm sóc trẻ em 17
CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM 22
2.1 Những kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em 22
2.1.1 Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được sinh tồn và chăm sóc sức khỏe của trẻ em 22
Trang 42.1.2 Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được học tập và phát triển
của trẻ em 27
2.1.3 Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được tôn trọng và bảo vệ của trẻ em 35
2.1.4 Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được tham gia của trẻ em 41 2.2 Những tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 46
2.2.1 Hạn chế trong quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe trẻ em 46
2.2.2 Hạn chế trong quản lý nhà nước về giáo dục và phát triển trẻ em 48
2.2.3 Hạn chế trong quản lý nhà nước về bảo vệ trẻ em 49
2.2.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 52
CHƯƠNG 3 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM 56
3.1 Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước 56
3.2 Giải pháp cụ thể 58
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em 59
3.2.2 Nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 60
3.2.3 Tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ trẻ em 62
3.2.4 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức người dân 62
3.2.5 Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc học tập, trao đổi kinh nghiệm về BVCSTE, tạo điều kiện cho các tổ chức phi chính phủ quốc tế tham gia vào công tác BVCSTE ở Việt Nam 63
3.2.6 Các giải pháp xã hội 64
KẾT LUẬN CHUNG 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 73
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVCSTE Bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Bộ LĐ-TB&XH Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ VH-TT&DL Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là đối tượng quan tâm đặc biệt của xã hội, là đối tượng cần nhận được sự cưu mang, chăm sóc của gia đình và toàn thể cộng đồng Đối với hầu hết
các quốc gia trên thế giới, trẻ em luôn được coi là mục tiêu phát triển quan trọng
Tiến trình toàn cầu hóa với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã đem lại những thay đổi to lớn đối với mọi mặt của đời sống xã hội, theo đó cuộc sống vật chất và tinh thần của con người cũng được nâng lên đáng kể Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên trái đất, vẫn còn đó những trẻ em hằng ngày thiếu ăn, thiếu mặc; những trẻ em bị bóc lột nặng nề, phải chôn vùi tuổi thơ trên những công trường, hầm mỏ; những đứa trẻ hằng ngày phải trốn chạy làn đạn của những cuộc chiến tranh… Đó đã và đang là những thách thức cho toàn nhân loại trong việc bảo
vệ và chăm sóc trẻ em – thế hệ tương lai của mỗi quốc gia nói riêng và cả thế giới nói chung
Toàn cầu hóa đã đem các quốc gia đến gần với nhau hơn, trong xu hướng vừa hợp tác, vừa đấu tranh, các quốc gia trên thế giới đã cùng nhau giải quyết nhiều vấn đề lớn Một trong số ấy là việc nâng quyền con người nói chung và quyền trẻ
em nói riêng lên tầm toàn cầu Liên Hợp Quốc đã coi trẻ em là một đối tượng thuộc nhóm người dễ bị tổn thương (vulnerable groups) Tuyên ngôn về quyền của trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1959 đã ghi nhận “Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất”; Công ước quốc tế về quyền chính trị - dân sự năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) chỉ ra rằng: "Mọi trẻ em… đều có quyền được hưởng sự bảo hộ của gia đình, xã hội và của nhà nước" (Điều 24); Công ước quốc tế về quyền kinh tế - xã hội và văn hoá năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) khẳng định: "Thanh thiếu niên cần được bảo vệ và không
bị bóc lột về kinh tế - xã hội, cấm bóc lột lao động trẻ em" (Điều 10) Năm 1989, Công ước quốc tế về quyền trẻ em được thông qua, Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới và đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước Ngay ở phần lời mở đầu, Công ước đã khẳng định “Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ
Trang 7em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông”
Là quốc gia tham gia vào Công ước quốc tế về quyền trẻ em từ rất sớm, Việt Nam nhận thức được vai trò của mình trong hoạt động bảo vệ và chăm sóc trẻ em Cho đến nay, Việt Nam đã có hệ thống tương đối hoàn chỉnh các chính sách, pháp luật về vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế trong quy định của luật, việc thực thi pháp luật còn yếu, việc tổ chức kiểm tra, giám sát,
xử lý các vi phạm vẫn chưa được sát sao Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận
và thực tiễn quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em để điều chỉnh, sửa đổi
và áp dụng vào thực tế nhằm đáp ứng với tình hình thực tiễn đất nước là hết sức cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước đây, đã có một số công trình nghiên cứu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em (nay là Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), công trình nghiên cứu của các cá nhân về vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em như: công trình nghiên cứu của tác giả
Vũ Ngọc Bình về “Vấn đề lao động trẻ em”, công trình nghiên cứu của tác giả Trần Văn Thắng về “Quyền trẻ em”, công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Phương về "Các công ước quốc tế về lao động trẻ em và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam" Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ tập trung vào một nhóm vấn
đề, chưa nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, chưa đưa ra các giải pháp khả thi, phù hợp nhằm bảo vệ
và chăm sóc trẻ em
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là đề tài tương đối rộng, trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ không thể nghiên cứu được hết các vấn đề liên quan Bởi vậy, đề tài tập trung nghiên cứu vào các nhóm vấn đề lớn là: khái quát chung về trẻ em và vấn
đề BVCSTE; thực trạng quản lý nhà nước đối với việc thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em như: quyền được sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được học
Trang 8tập, quyền được vui chơi, quyền tham gia… Luận văn đưa ra những nhận định, đánh giá dựa trên các quy định về quyền trẻ em tại Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989 và các quy định của pháp luật Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, có đối chiếu, so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định của pháp luật quốc tế để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt
5 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn có mục đích làm sáng tỏ:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về trẻ em, về bảo vệ và chăm sóc trẻ em
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở Việt Nam từ khi phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ trẻ em trong điều kiện hội nhập quốc tế
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương: Chương 1 – Khái quát chung về trẻ em và quản lý nhà nước trong lĩnh vực
bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Chương 2 – Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc
trẻ em
Chương 3 – Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ và
chăm sóc trẻ em
Trang 9CHƯƠNG 1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRẺ EM VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM
1.1 Khái niệm trẻ em, một số vấn đề về bảo vệ và chăm sóc trẻ em
1.1.1 Trẻ em
Trẻ em là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, tùy theo nội dung, góc độ tiếp cận hay cấp độ đánh giá mà khái niệm trẻ em được hiểu khác nhau Trẻ em được nhìn nhận dưới góc nhìn sinh học, tâm lý học, xã hội học, y học… Tuy nhiên trong các cách hiểu đó đều có điểm chung là căn cứ vào tuổi đời Theo đó, trẻ em được xác định là nhóm đối tượng có tuổi đời nhỏ, chưa phát triển hoàn thiện cả về mặt ngoại hình và tâm sinh lý, là đối tượng cần được quan tâm, chăm sóc của toàn xã hội
Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em cũng được hiểu không thống nhất
Độ tuổi để được xác định là trẻ em ở mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế hay mỗi nền văn hóa khác nhau là khác nhau Các tổ chức của Liên Hợp Quốc, như Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi Điều 1 Công ước Liên hợp
quốc về quyền trẻ em 1989 xác định: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Điều 2 Công ước số 182 của Tổ chức Lao động
quốc tế ban hành năm 1999 (Việt Nam gia nhập ngày 19/12/2000) quy định:
“Trong Công ước này, thuật ngữ “trẻ em” sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới
18 tuổi”
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, hầu như chưa có một định nghĩa nào về trẻ em cũng như về sự điều chỉnh pháp luật đối với trẻ em mà chỉ có một số đạo luật nhắc đến các khái niệm trẻ em, người chưa thành niên và các quy định này hiện nay không thống nhất Điều l, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy
định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ
Trang 1014 tuổi đến dưới 18 tuổi Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người lao động là
người từ đủ 15 tuổi trở lên (Khoản 1 Điều 3), và người lao động dưới 18 tuổi được coi là người lao động chưa thành niên (Điều 161) Bên cạnh đó, Luật Xử lý vi phạm
hành chính năm 2012 lại quy định tuổi bị xử phạt hành chính “là người từ đủ 14 tuổi trở lên” (Điều 5) Từ đó, có thể hiểu khái niệm trẻ em bao gồm cả người chưa
thành niên hay cũng có thể hiểu rằng người chưa thành niên cũng bao gồm cả trẻ em
và đều là những người ở độ tuổi dưới thành niên (dưới 18 tuổi)
Như vậy, trẻ em trước hết được hiểu là một con người được hưởng mọi quyền tự do được quy định trong Công ước quốc tế về quyền con người mà không phải chịu bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, nguồn gốc, dân tộc, tài sản, dòng dõi hay các mối tương quan khác Đồng thời, trẻ em là người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, bảo vệ, phát triển
và bày tỏ ý kiến Bởi vậy, nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm đảm bảo cho trẻ em những quyền cơ bản nhất
2 mặt vật chất và tinh thần Trong điều kiện có thể, mỗi gia đình về cơ bản đều dành
sự chăm sóc tốt nhất nhằm cho con em mình có sự phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn trí tuệ Trẻ em không phân biệt trai hay gái cần được tạo điều kiện học tập phát triển theo khả năng của mình Việc chăm sóc phát triển trí tuệ cho trẻ em có quan hệ chặt chẽ với việc giáo dục trẻ em Quan điểm giáo dục hiện nay coi gia đình là một
Trang 11trong ba môi trường giáo dục trẻ em, gia đình là trường học đầu tiên và suốt đời của mỗi con người
Khi thực hiện chức năng chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em, gia đình không thể tách rời khỏi những thiết chế khác là nhà trường và cộng đồng xã hội Nhà nước luôn coi trọng vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em Thông qua các chính sách pháp luật của nhà nước, các chương trình giáo dục của nhà trường, các chương trình vui chơi giải trí của cộng đồng dân cư, trẻ em được tiếp cận với một chế độ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đầy đủ, toàn diện Có thể nói, cả ba môi trường gia đình, nhà trường và xã hội đều đóng vai trò hết sức quan trọng trong trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, trong đó, gia đình là nơi định hướng, khởi đầu còn nhà trường và
xã hội là môi trường phát triển toàn diện cho trẻ em
1.1.3 Sự cần thiết của việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Bảo vệ và chăm sóc trẻ em chính là đầu tư cho thế hệ tương lai của đất nước Trong những năm gần đây, sự nghiệp chăm sóc trẻ em ở nước ta đã được đẩy mạnh hơn, nhà nước ta đã có nhiều cố gắng giải quyết những nhu cầu chủ yếu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho trẻ em Việc ban hành Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã huy động được sức mạnh tổng hợp của nhà nước, gia đình và xã hội vì sự nghiệp to lớn đối với thế hệ tương lai của đất nước Tuy nhiên, thực trạng trẻ em Việt Nam hiện nay còn nhiều điều đáng lo ngại, nhu cầu phát triển của trẻ em trong thời đại mới đòi hỏi sự nỗ lực của toàn thể nhân dân, sự chỉ đạo tập trung có hiệu quả của Nhà nước, sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng thế giới Theo đó, bảo vệ và chăm sóc trẻ em là nhiệm vụ quan trọng bởi những yếu tố sau đây
Thứ nhất, về điều kiện đất nước
Ở nước ta hiện nay, phát triển con người, chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội, là sự nghiệp của toàn Đảng, nhà nước
và toàn dân Trên thực tế, quá trình vận động của nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn hội nhập ở nước ta một mặt đem lại những thay đổi tích cực cho đất nước, cuộc sống ấm no cho người dân, nhưng cũng đồng thời tạo ra những vấn đề xã hội
Trang 12có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới trẻ em Nhiều vấn đề bức xúc liên quan tới trẻ em có chiều hướng gia tăng như trẻ em bị lạm dụng và bóc lột, trẻ em nghiện hút, trẻ em phạm pháp, trẻ em bị tai nạn lao động… thực sự là điều đáng lo ngại
Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng của chiến tranh Những hậu quả do chất độc da cam, bom mìn để lại vẫn đang hằng ngày tác động hết sức nặng nề tới nhiều người, trong đó có rất nhiều trẻ em Điều đó không chỉ gây nên những khó khăn về vật chất mà còn là những nỗi đau tinh thần ghê gớm cho mỗi gia đình có người bị bệnh Do vậy, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em ngày càng trở nên cấp thiết và cần được coi trọng trong bối cảnh hiện nay Nhà nước cần thể hiện vai trò cân đối và điều tiết vĩ mô, đặt trọng tâm và
ưu tiên nguồn lực hợp lý để thực hiện tốt công tác BVCSTE, đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho đối tượng này
Thứ hai, về yếu tố văn hóa, tập quán
Dân tộc ta vốn có truyền thống nhân ái, yêu thương con người, luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em Mỗi đứa trẻ sinh ra là niềm hạnh phúc của cha mẹ,
là niềm hy vọng của gia đình và tương lai của đất nước Ý thức sâu sắc truyền thống
ấy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc đầu tư cho thế hệ trẻ Ba tháng trước lúc đi xa, nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài
trên Báo Nhân dân khẳng định “chăm sóc và giáo dục các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ” và kêu gọi “Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc, giáo dục các cháu bé cho tốt”[24]
Thấm nhuần truyền thống đạo lý của dân tộc và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chăm lo việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, coi đó là vấn đề then chốt trong chiến lược con người, điều đó đòi hỏi nhiều ở sự quản lý chặt chẽ của các cấp, các ngành liên quan
Thứ ba, về yếu tố hội nhập quốc tế
Hiện nay, công cuộc toàn cầu hóa với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ đã và đang làm thế giới thay đổi từng ngày Việt Nam cũng không nằm
Trang 13ngoài guồng quay đó Sự xuất hiện và du nhập các lối sống, các biểu hiện văn hóa
và chuẩn mực đạo đức mới thông qua sức mạnh của hệ thống truyền thông làm cho đời sống tinh thần của con người ngày càng đa dạng, phong phú, nhưng cũng đồng thời ẩn chứa nhiều cạm bẫy cho giới trẻ Nhà nước phải thể hiện được vai trò chỉ đạo, định hướng đúng đắn đối với sự phát triển của trẻ em, để qua đó hạn chế những luồng văn hóa xấu, những tư tưởng lệch lạc, giảm nguy cơ nảy sinh các vấn đề tiêu cực trong xã hội, trong đó có các vấn đề về trẻ em Có thể thấy, Nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành nhân cách và định hướng phát triển đối với trẻ
em nói chung, đặc biệt phải làm sao để có sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại nhưng vẫn giữ gìn được những bản sắc tốt đẹp của dân tộc Việt trong quá trình hội nhập ngày nay
1.1.4 Hậu quả của việc trẻ em thiếu đƣợc chăm sóc và bảo vệ
Trẻ em là đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt, bởi chưa có khả năng tự bảo
vệ và chăm sóc bản thân một cách toàn diện Việc nhận được sự chăm sóc và bảo vệ như thế nào khi còn nhỏ có ảnh hưởng lớn tới nhân cách khi trẻ em đó trở thành người trưởng thành Vì thế, việc trẻ em thiếu sự chăm sóc và bảo vệ có thể dẫn đến những hệ lụy cho chính bản thân trẻ em và gia đình, xã hội
Một là, hậu quả đối với bản thân trẻ em
Việc thiếu được chăm sóc và bảo vệ có thể gây nên những hậu quả nặng nề
cả về mặt thể chất và tinh thần, trí tuệ của trẻ em
Về mặt thể chất: điều kiện sống thấp, môi trường kém vệ sinh, nguồn nước ô nhiễm và thiếu sự chăm sóc về mặt dinh dưỡng của gia đình là nguyên nhân của các bệnh như còi xương, suy dinh dưỡng, tiêu chảy, suy hô hấp, thiếu máu, và nhiều loại bệnh khác Ví dụ, đối với một loại bệnh phổ biến là suy dinh dưỡng Theo số liệu thống kê của Viện Dinh dưỡng quốc gia năm 2009, tỷ lệ suy dinh dưỡng do thiếu cân (vừa và nặng kết hợp) ở trẻ dưới 5 tuổi năm 2008 vẫn ở mức 20% (đã giảm từ 34% năm 2000) Tỷ lệ này cao nhất ở vùng Tây bắc và thấp nhất ở vùng Đông Nam (29% so với 11%) Suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi (hay còi cọc) gần đây đã được coi là một chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng sống của trẻ Số
Trang 14liệu của Viện Dinh dưỡng quốc gia năm 2008 cho thấy có 32,6% trẻ dưới 5 tuổi ở Việt Nam bị còi cọc, đến năm 2014, con số này được cải thiện nhưng vẫn ở mức cao, đạt 24,9% [28] Như vậy, có thể nói điều kiện chăm sóc và bảo vệ kém là nguyên nhân đầu tiên của tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, gây ảnh hưởng rất xấu tới việc phát triển thể chất của trẻ, chưa nói đến khả năng hoàn thiện về mặt tinh thần, trí tuệ và tư duy
Về mặt tinh thần, trí tuệ: Một điều không thể phủ nhận là khi một đứa trẻ thiếu sự chăm sóc, bảo vệ của gia đình và cộng đồng thì sẽ không có điều kiện được tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí, học tập, ít có khả năng được tiếp cận với các dịch vụ xã hội tiên tiến để tiếp thu, nâng cao kĩ năng sống Cùng với đó, các nguy cơ phải đối mặt với sự phân biệt đối xử, sự xâm phạm về thể chất, tinh thần đối với nhóm trẻ em này cũng cao hơn so với các em được chăm sóc và bảo vệ đầy
đủ Trong khi các em còn non nớt về trí tuệ, hạn chế về kinh nghiệm sống, hạn chế
về khả năng chống chọi thì những yếu tố nêu trên tác động dễ làm cho các em sa ngã, hoặc bị khủng hoảng về tinh thần, tha hoá về đạo đức, lối sống
Hai là, hậu quả đối với gia đình và xã hội
Việc trẻ em thiếu sự chăm sóc và bảo vệ không chỉ tác động tiêu cực đến bản thân các em như đã nêu ở trên mà còn gây ra những hậu quả bất lợi cho cả trước mắt và lâu dài đối với sự phát triển của mỗi gia đình và toàn xã hội Tình trạng trẻ
em không có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, không được đến trường, trẻ em lang thang, trẻ em phạm tội, dính líu tới các hành vi tệ nạn, trẻ em bị xâm hại, lao động trẻ em gia tăng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới hệ thống an sinh xã hội, là gánh nặng đối với hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật… Bởi vậy, việc nâng cao nhận thức của người dân và cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay
Trang 151.2 Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVCSTE chính là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em diễn ra thông suốt, hiệu quả, đúng pháp luật Quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVCSTE là một phần của hoạt động quản lý nhà nước nói chung, hiện nay được thực hiện đồng thời bởi nhiều cơ quan như Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Ủy ban Dân tộc… dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ Hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVCSTE thể hiện ở việc thực hiện một số nhiệm vụ chính sau đây:
- Nhà nước ban hành hệ thống chính sách, pháp luật phù hợp về BVCSTE và triển khai việc thực hiện những chính sách, pháp luật ấy trên thực tế
- Nhà nước đầu tư nguồn lực vào việc xây dựng hệ thống trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, cơ sở vui chơi giải trí nhằm đảm bảo trẻ em được học hành, chữa bệnh, vui chơi
- Nhà nước thực hiện chính sách tuyên truyền, vận động, giáo dục tới mọi tầng lớp nhân dân về tầm quan trọng của công tác BVCSTE; biểu dương, khuyến khích các phong trào tốt, chương trình hay về BVCSTE; xử lý nghiêm minh các trường hợp ngược đãi, đối xử tàn tệ với trẻ em
- Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần đối với các trường hợp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em có gia đình nghèo, trẻ em mồ côi, tàn tật, trẻ em lang thang, trẻ em không được đến trường…
1.2.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVCSTE có một số đặc điểm như sau:
- Mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước;
Trang 16- Mang tính khoa học, tính kế hoạch Theo đó, nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng quản lý theo chương trình nhất quán, cụ thể và theo kế hoạch đã vạch ra trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học
- Hoạt động quản lý này là những tác động mang tính liên tục và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội Hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn
- Hoạt động quản lý này là sự phối kết hợp của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như ngành Lao động, thương binh và xã hội, ngành Y tế, ngành Giáo dục, Công an,…cùng chính quyền địa phương và gia đình Bên cạnh đó, các cơ quan khác trong hệ thống chính trị như Quốc hội (chủ yếu thông qua Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên và nhi đồng; Hội đồng dân tộc), Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
xã hội… cũng tham gia vào quá trình quản lý ở các khâu khác nhau
- Hoạt động quản lý này nhận được sự quan tâm của toàn xã hội, bởi nó liên quan mật thiết tới trẻ em – tương lai của mỗi gia đình và của đất nước
1.3 Chủ thể quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam có hệ thống các cơ quan thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVCSTE từ trung ương đến địa phương Các cơ quan này nằm dưới
sự quản lý thống nhất của Chính phủ, có nhiệm vụ xây dựng các chương trình BVCSTE, tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các chương trình ấy
1.3.1 Chính phủ
Điều 94 Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Trong lĩnh vực BVCSTE, Chính phủ quản lý thống nhất hoạt động của các bộ, ngành và địa phương trong việc bảo đảm cho trẻ em có môi trường phát triển đầy đủ và an toàn; ban hành các văn bản pháp luật về BVCSTE, ví dụ như: Nghị định số 71/2011 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Nghị định
Trang 17số 144/2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo
vệ, chăm sóc trẻ em…
Thủ tướng Chính phủ, với vai trò là người đứng đầu Chính phủ, cũng ban hành các quyết định quan trọng trong lĩnh vực BVCSTE như: Quyết định số 267/2011 Phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015, Quyết định số 1555/2012 Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020… Căn cứ vào các quy định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện thông qua việc ban hành các văn bản hướng dẫn và chương trình hành động cụ thể
1.3.2 Các Bộ
1.3.2.1 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Trước đây, cơ quan quản lý nhà nước về BVCSTE là Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thuộc Chính phủ Từ năm 2007, nhiệm vụ quản lý nhà nước về BVCSTE thuộc về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) Bộ LĐ-TB&XH có cơ quan trực tiếp thực hiện công tác BVCSTE là Cục Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Cơ quan này có trách nhiệm giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về lĩnh vực BVCSTE theo quy định của pháp luật Trong phạm vi thẩm quyền của mình, Cục Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em thực hiện một số chức năng chính như: Nghiên cứu, xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực BVCSTE; nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách, giải pháp về BVCSTE, chính sách, giải pháp phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, trẻ
em có nguy cơ bị tổn thương; phòng chống tai nạn, thương tích cho trẻ em…
1.3.2.2 Bộ Y tế
Bộ Y tế có các chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế, y tế điều trị
và dự phòng và tất cả các dịch vụ công do bộ quản lý Đối với trẻ em, Bộ Y tế chịu trách nhiệm đảm bảo trẻ em được chăm sóc đầy đủ về mặt sức khỏe, dành sự quan tâm lớn tới trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em khuyết tật, trẻ em chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Bộ Y tế phối hợp với các cơ quan khác thực hiện các
Trang 18chương trình chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em, chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em, chương trình phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật…
1.3.2.3 Bộ Giáo dục và Đào tạo
Hiện nay, giáo dục-đào tạo là ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định mục tiêu tổng quát của giáo dục trong giai đoạn mới là: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” Nhiệm vụ chính của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là xây dựng các chương trình và chính sách nhằm đảm bảo quyền được học tập của trẻ em, tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, toàn diện; xác định
rõ công tác cải cách chương trình giáo dục, sách giáo khoa, chương trình học, đào tạo cho trẻ em giúp trẻ em phát triển nhân cách và trí tuệ một cách đầy đủ
1.3.2.4 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Xét cả từ góc độ pháp lý lẫn khía cạnh đạo đức, truyền thống thì trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ trẻ em trước hết thuộc về gia đình Có thể nói, mặc dù điều kiện, mức độ đầu tư chăm sóc con cái của các gia đình còn chênh lệch nhau, song hầu hết các gia đình đều ưu tiên đến mức cao nhất cho việc chăm lo cho trẻ em được ăn, mặc, học hành, khám chữa bệnh Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VH-TT&DL) chịu trách nhiệm xây dựng chính sách và chương trình nhằm ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình; xây dựng và phát triển “gia đình văn hóa”, cũng như giáo dục cộng đồng về phong cách sống và cách ứng xử trong gia đình truyền thống của Việt Nam Tất cả các nhiệm vụ đó nhằm đảm bảo cho mỗi trẻ em được chăm sóc và lớn lên ở môi trường gia đình an toàn, đầm ấm, giàu tình thương Bộ cũng là
cơ quan quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí cho trẻ em
Bên cạnh một số cơ quan có nhiệm vụ chủ đạo trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em như trên, các cơ quan khác cũng tham gia vào quá trình quản lý ấy ở các lĩnh vực khác nhau, như:
Trang 19Bộ Công an: chịu trách nhiệm áp dụng các biện pháp ngăn chặn các hành vi
vi phạm quyền trẻ em, giáo dục và cải tạo thanh thiếu niên có hành vi trái pháp luật
Bộ Tư pháp: theo Nghị định 22/2013/NĐ-CP, Bộ Tư pháp có chức năng
quản lý nhà nước trong lĩnh vực phổ biến giáo dục pháp luật; cung cấp trợ giúp pháp lý cho trẻ em; quản l ý hoạt động cho nhận con nuôi (trong nước và nước ngoài); định hướng nhận thức và giáo dục về pháp luật bảo vệ trẻ em
Bộ Tài chính: chịu trách nhiệm hướng dẫn các Bộ ngành khác và các Ủy ban
nhân dân lập dự toán ngân sách hàng năm và dài hạn dành cho trẻ em, đề xuất các chính sách huy động nguồn lực tài chính để phục vụ các hoạt động vì quyền trẻ em
Ủy ban Dân tộc: thực hiện công tác tham mưu về các vấn đề dân tộc thiểu
số, phối hợp với các Bộ ngành và các cơ quan khác xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch và chương trình hành động liên quan tới các vấn đề dân tộc thiểu số, trong đó có công tác BVCSTE Theo đó, Ủy ban Dân tộc phối hợp với Bộ GD&ĐT
và chính quyền các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện các chương trình hỗ trợ trẻ em đến trường, nâng cao cơ hội học tập của trẻ em người dân tộc thiểu số; tuyên truyền, vận động người dân tộc thiểu số cho con em đi học; cải thiện nhận thức của người dân về tình trạng phân biệt trẻ em trai với trẻ em gái; nâng cao
tỉ lệ trẻ em gái, nhất là trẻ em gái người dân tộc thiểu số được đến trường; phối hợp với Bộ Y tế thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe cho người dân tộc thiểu
số nói chung và bà mẹ, trẻ sơ sinh nói riêng; tuyên truyền giáo dục sức khỏe, vệ sinh phòng bệnh, kế hoạch hóa gia đình cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa…
Tổng cục Thống kê: có chức năng thống kê quốc gia và quản lý hoạt động
thống kê của các bộ ngành Ngoài hệ thống báo cáo của các bộ ngành và của địa phương, Tổng cục thống kê còn tiến hành các cuộc Tổng điều tra và các khảo sát, điều tra chọn mẫu như Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở (các năm 1989, 1999 và 2009), các cuộc khảo sát hộ gia đình quan trọng như Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (KSMS), Điều tra các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (MICS), Điều tra Y tế
và Nhân khẩu học (DHS), Điều tra Gia đình, Điều tra về Thanh thiếu niên Việt Nam
Trang 20(SAVY), Điều tra Biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình, nhằm cung cấp các thông tin cơ bản về tình hình của trẻ em và phụ nữ Việt Nam…
1.3.3 Chính quyền địa phương
Hội đồng Nhân dân các cấp có nhiệm vụ thông qua các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và giám sát việc thực hiện các kế hoạch ấy, trong đó
có vấn đề BVCSTE như: quyết định chủ trương, biện pháp, quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động giáo dục, đào tạo ở địa phương; quyết định biện pháp giáo dục, bảo vệ, chăm sóc thanh niên, thiếu niên và nhi đồng xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh; biện pháp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo vệ và chăm sóc, bà mẹ, trẻ em, trẻ mồ côi không nơi nương tựa… Thông thường, ở các địa phương, một số chỉ tiêu liên quan đến trẻ em được đưa vào Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, hoặc được đề cập đến trong các hoạt động giám sát về các nội dung như giáo dục, y tế, văn hóa nói chung, hoặc trong các hội nghị tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp
Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã chịu trách nhiệm thực hiện quyền trẻ em trong địa phương của mình theo quyền hạn được Chính phủ giao phó Cụ thể là UBND sẽ chịu trách nhiệm phân bổ nguồn tài chính tới các trường học, trạm y tế, trung tâm thể thao, các nhà văn hóa, các khu vui chơi giải trí… dành cho trẻ em Tất cả các Bộ đều có các sở ngành tương ứng tại địa phương hoạt động dưới sự quản lý của UBND Các sở ngành tại địa phương chính là những đơn vị thực hiện các chính sách và qui định về quyền trẻ em tại địa bàn Ngoài ra, UBND các cấp phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Nhân dân trong việc xây dựng và thực hiện công tác lập kế hoạch hoạt động và kế hoạch ngân sách phát triển xã hội
tại địa phương, trong đó có các chương trình, kế hoạch về BVCSTE
1.4 Pháp luật về bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Trẻ em là một đối tượng quan trọng của xã hội, đây là đối tượng được xếp vào diện nhóm người dễ bị tổn thương (vulnerable groups) nên luôn được ưu tiên
Trang 21bảo vệ trong chính sách pháp luật của mỗi quốc gia và pháp luật quốc tế Lý luận chung về nhà nước và pháp luật chưa có khái niệm thống nhất về sự điều chỉnh
pháp luật đối với trẻ em Xét một cách phổ quát nhất, có thể hiểu sự điều chỉnh pháp luật về trẻ em là một bộ phận của sự điều chỉnh pháp luật nói chung, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến trẻ em Sự điều chỉnh pháp
luật ấy xác định địa vị pháp lý của trẻ em trong mối tương quan với các đối tượng khác trong xã hội Địa vị pháp lý này được hiểu là tổng thể những quyền và nghĩa
vụ pháp lý của trẻ em cùng với những đảm bảo pháp lý cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ này
1.4.1 Pháp luật quốc tế về bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Pháp luật quốc tế có những quan tâm đặc biệt đối với trẻ em Cho đến đầu thế kỉ XX, thế giới vẫn chưa có sự nhìn nhận đúng mức về vấn đề bảo vệ trẻ em Chỉ đến năm 1924, khái niệm “quyền trẻ em” mới chính thức được đề cập trong luật pháp quốc tế, khi Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ về quyền trẻ em được Hội Quốc liên thông qua Năm 1948, Liên Hợp quốc thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, trong đó khẳng định trẻ em cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con người Năm 1959, LHQ thông qua bản Tuyên ngôn (thứ hai) về quyền trẻ em, phát triển nội dung của Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924 Từ năm 1959 đến những năm 80 của thế kỷ XX, một loạt văn kiện quốc tế khác cũng được thông qua, trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến các quyền của trẻ em Song, các văn kiện này hoặc không có tính ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý hoặc chưa tiếp cận từ vị thế đặc biệt và chú trọng đến những nhu cầu đặc thù của trẻ em nên tác động trên thực tế rất hạn chế Trẻ em cần phải được sống trong hòa bình, trong xã hội thân ái; cần phải được sự chăm sóc của Nhà nước, xã hội, gia đình và cần có sự bảo vệ về mặt pháp lý Điều này đặc biệt có ý nghĩa ở những quốc gia đang phát triển Vì vậy, cần phải có điều ước quốc tế đa phương ghi nhận và điều chỉnh lĩnh vực này
Với sự nỗ lực của các quốc gia, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em đã được thông qua và ký kết ngày 20/11/1989 và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990, hiện
Trang 22nay đã có 197 quốc gia thành viên tham gia Công ước để ngỏ cho các quốc gia tham gia ký kết, phê chuẩn và gia nhập Ngoài lời nói đầu, nội dung của Công ước gồm 3 phần với 54 điều khoản, bao quát được tất cả những khía cạnh liên quan đến quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc đảm bảo quyền của trẻ em, mối quan hệ giữa trẻ em và quyền con người nói chung [21] Khoản 1
Điều 2 của Công ước khẳng định: " Các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm những quyền được nêu ra trong Công ước này đối với mọi trẻ em thuộc quyền tài phán của họ mà không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc, sắc tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, thành phần xuất thân hay địa vị khác của trẻ em hoặc cha mẹ hay người giám hộ hợp pháp của trẻ em đó”
Năm 1990, tại New York đã diễn ra hội nghị thượng đỉnh thế giới về trẻ em Năm 2000 Liên Hợp Quốc thông qua hai nghị định bổ sung Công ước quyền trẻ em,
đó là Nghị định thư không bắt buộc về việc sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang
và Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em Từ ngày 8/5 đến 10/5/2002, một khóa họp đặc biệt về trẻ
em được Liên Hợp Quốc tổ chức tại New York Hội nghị đã xác định những mục tiêu toàn cầu về trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 nhằm “Xây dựng một thế giới phù hợp với trẻ em”
Như vậy, thông qua quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia đã có những sự thỏa thuận và cam kết mạnh mẽ trong việc tạo ra những khung pháp lý về việc thực hiện các chính sách đối với vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em Điều đó tạo
cơ sở vững chắc cho việc đảm bảo thực hiện các quyền trẻ em trên toàn cầu
1.4.2 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, với phạm vi điều chỉnh rất rộng bao gồm nhiều đối tượng, nhiều hành vi Trẻ em với tư cách là một chủ thể pháp luật, các quan hệ xã hội về trẻ em cũng là một trong những đối tượng điều chỉnh của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật nước ta
Trang 23Ngay từ thế kỷ thứ XV, Bộ luật Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông ban hành
đã có nhiều điều khoản quy định trách nhiệm của quan lại và dân chúng địa phương phải giúp đỡ trẻ em tàn tật, trẻ mồ côi; đặc biệt, bộ luật này còn thể hiện tinh thần nhân văn rất cao với việc quy định rõ các hình thức xét xử độ lượng đối với trẻ em phạm tội Ví dụ, nhà lập pháp triều Lê đã quy định việc áp dụng hồi tố đối với
người chưa thành niên phạm tội tại điều 17 Bộ luật Hồng Đức: “Người nào khi phạm tội chưa già cả, tàn tật đến khi già cả, tàn tật mới phát hiện thì xử tội theo luật khi già cả, tàn tật và khi nhỏ mà phạm tội đến khi lớn mới phát giác thì xử tội theo luật khi còn nhỏ” Để xử lý người chưa thành niên phạm tội, nhà làm luật đã
phân biệt khả năng và mức độ trách nhiệm hình sự của họ Điều 16 Bộ luật Hồng
Đức quy định: “Những người từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những người
bị phế tật phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc tội bằng tiền…10 tuổi trở xuống… phạm tội phản nghịch, giết người, đáng phải tội chết thì cũng tâu vua để xét định; ăn trộm và đánh người bị thương thì cho chuộc, còn ngoài ra không bắt tội; 7 tuổi trở xuống dầu có bị tội chết cũng không hành hình…” [10] Điều này
càng cho thấy ý nghĩa nhân đạo sâu sắc trong bối cảnh phong kiến với hệ tư tưởng Nho giáo bấy giờ Rõ ràng, những quy định này có nhiều điểm tương đồng với hệ thống luật của nước ta hiện nay trong việc bảo vệ quyền đối với đối tượng chưa thành niên phạm tội
Hiện nay, pháp luật về trẻ em có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều nhóm quan hệ xã hội, nhiều ngành luật khác nhau Các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Dân sự đều bảo vệ quyền trẻ em theo một đặc thù riêng của ngành luật mình Quan điểm nhân văn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn coi trẻ em là tương lai của đất nước, cần nhận được sự quan tâm, chăm sóc của toàn thể xã hội Bởi vậy, tất cả các quy định pháp luật đều hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, đảm bảo cho trẻ em có môi trường phát triển lành mạnh, đầy đủ
Trang 24Theo thông tin được nêu trong Báo cáo quốc gia về việc thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 2008, Chính phủ Việt Nam tiếp tục áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo các quyền của trẻ em thông qua:
- Tăng cường sự giám sát và lãnh đạo của Nhà nước và chính quyền các cấp đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đồng thời khuyến khích sự tham gia của tất cả các tổ chức, đoàn thể xã hội, chính trị, kinh tế, gia đình và trường học;
- Thực hiện hiệu quả pháp luật và chính sách hiện hành của Việt Nam liên quan đến trẻ em; tiếp tục củng cố hệ thống luật pháp và các chính sách để thực hiện
và bảo vệ các quyền của trẻ em, tuân thủ các qui định của pháp luật quốc tế Đồng thời tập trung vào việc lồng ghép một cách hiệu quả các vấn đề trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước và từng địa phương;
- Tăng nguồn lực hiện có cho bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em từ ngân sách nhà nước và các nguồn được đóng góp bởi các tổ chức trong nước, quốc tế và
cá nhân; tăng cường và củng cố cơ cấu tổ chức các cơ quan Chính phủ chịu trách nhiệm về lĩnh vực trẻ em và giáo dục, đào tạo cán bộ và cộng tác viên, tình nguyện viên
- Nâng cấp cơ sở dữ liệu, thu thập và chia sẻ thông tin liên quan đến trẻ em; tăng cường đánh giá, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các quyền của trẻ em; chú trọng hơn nữa nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em [26, tr 51]
Hiện nay, quy định về BVCSTE ở Việt Nam được thể hiện trong một số văn bản pháp luật chính như sau:
Hiến pháp 2013: Quy định các quyền cơ bản của công dân Việt nam bao gồm trẻ
em
Bộ luật Dân sự 2005: Quy định nguyên tắc đối xử bình đẳng đối với công dân Việt Nam không phân biệt đối xử trên cơ sở dân tộc, giới tính, vị trí xã hội và kinh tế, tôn giáo, công nhận các quyền của cá nhân
Trang 25 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em 2004: Các nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ em; công nhận nhiều quyền và một số nghĩa vụ của trẻ em; trách nhiệm của các bên khác nhau, các nguồn tài chính và hợp tác quốc tế để bảo vệ quyền trẻ em
Luật Thanh niên 2005: Quy định các trách nhiệm của những đối tượng có trách nhiệm như Nhà nước, gia đình, và xã hội trong việc bảo vệ quyền của trẻ em trong độ tuổi từ 16 đến 18
Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi năm 2009): Một số qui định liên quan tới các biện pháp xử lý đối với người phạm tội là trẻ em, với nạn nhân và nhân chứng là trẻ
Luật Giáo dục 2005: Quy định các nguyên tắc giáo dục trẻ em, định hướng đầu
tư cho giáo dục
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004: Quy định các thủ tục trong kháng án dân sự; các thủ tục xem xét vụ việc liên quan tới quyền trẻ em và phụ nữ
Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007: Quy định bạo lực gia đình (bao gồm cả bạo lực đối với trẻ em) là hành vi phạm pháp
Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Khuyến khích bình đẳng giới trong hôn nhân, đối xử bình đẳng với con trai và con gái, trẻ em được sinh ra trong và ngoài giá thú, con nuôi và con đẻ
Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012: Quy định đối với xử phạt vị thành niên vi phạm pháp luật
Luật Nghĩa vụ quân sự 1981 (sửa đổi năm 2005): Quy định độ tuổi nhập ngũ là
18 tuổi và đưa ra các biện pháp nhằm đảm bảo không tuyển trẻ em ít hơn 18 tuổi
Trang 26 Luật Phòng chống HIV/AIDS 2006: Quy định các biện pháp phòng chống HIV/AIDS, bao gồm chăm sóc, điều trị và hỗ trợ người nhiễm HIV nói chung và trẻ em nói riêng
Kết luận chương 1
Trẻ em là một khái niệm rộng, có nhiều cách hiểu ở các góc độ khác nhau, nhưng về cơ bản, trẻ em được hiểu là những người có độ tuổi nhỏ (thường là dưới
18 tuổi), chưa phát triển hoàn thiện về cơ thể cũng như tâm sinh lý, là đối tượng dễ
bị tổn thương, cần sự che chở, bao bọc của gia đình và toàn thể xã hội Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em chính là hoạt động của nhà nước trong việc đảm bảo cho trẻ em có được môi trường phát triển đầy đủ, toàn diện, bảo
vệ trẻ em tránh khỏi những tác động xấu từ bên ngoài Trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em dựa trên hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về trẻ em nói riêng Việc thực hiện ấy phải được nhận thức đầy đủ và tiến hành đồng bộ bởi gia đình, nhà trường, nhà nước và toàn thể xã hội
Trang 27CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM
2.1 Những kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ
em
2.1.1 Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được sinh tồn và chăm sóc sức khỏe của trẻ em
Quyền được sinh tồn là một trong những quyền đầu tiên và quan trọng nhất
mà mỗi trẻ em được hưởng khi sinh ra Điều 6 Công ước về Quyền trẻ em quy định:
“1 Các quốc gia thành viên thừa nhận rằng mọi trẻ em đều có quyền vốn có là được sống 2 Các quốc gia thành viên phải bảo đảm đến mức tối đa có thể được sự sống còn và phát triển của trẻ em” Quyền được sống gắn liền với quyền được
chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, bởi mỗi người đều có quyền được hưởng những tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe cao nhất có thể Nhà nước phải công nhận quyền được hưởng “tiêu chuẩn chăm sóc sức khoẻ cao nhất có thể” của mọi trẻ em mà không có
sự phân biệt đối xử nào Bằng mọi nguồn lực sẵn có, Nhà nước phải phấn đấu để đảm bảo không một trẻ em nào bị tước quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Điều này có nghĩa là mọi trẻ em dù sống ở đâu cũng đều được tiếp cận các cơ
sở y tế, đặc biệt là những trẻ em có điều kiện khó khăn như trẻ dân tộc thiểu số, trẻ
em lang thang, trẻ em khuyết tật Nhà nước phải áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm đảm bảo quyền được sống cho trẻ em, như thực hiện tiêm chủng cho trẻ, giảm
tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi và trẻ em nói chung, tăng cường công tác y tế phòng bệnh, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và nước sạch…
Điều 38 Hiến pháp 2013 quy định: “1 Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh.”
Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được sinh tồn và chăm sóc sức khỏe của trẻ em được thực hiện chủ yếu bởi Bộ Y tế Nghị định số 63/2012/NĐ-CP quy định vai trò và chức năng của Bộ Y Tế là “cơ quan của Chính phủ, thực hiện
Trang 28quản lý nhà nước về y tế” Mỗi tỉnh có một Sở y tế thuộc sự quản lý của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Sở Y tế có nhiệm vụ hỗ trợ UBND tỉnh trong quản lý công tác chăm sóc sức khoẻ ở địa phương Mỗi huyện có một Phòng Y tế huyện và một Trung tâm y tế huyện thực hiện cả hai chức năng như một bệnh viện và một trung tâm y tế dự phòng Trạm Y tế xã có chức năng thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở tuyến xã, bao gồm chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, kế hoạch hoá gia đình, tiêm chủng và điều trị các bệnh thông thường Ở tuyến thôn bản cũng có một mạng lưới nhân viên y tế, cộng tác viên dân số và cộng tác viên dinh dưỡng để đưa công tác y tế đến từng hộ gia đình Có thể thấy, mạng lưới các cơ sở y tế ở Việt Nam là tương đối lớn, về cơ bản bảo đảm nhu cầu khám chữa bệnh cho trẻ em nói riêng và người dân nói chung Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được sinh tồn và chăm sóc sức khỏe của trẻ em bao gồm một số vấn đề chính đó là: đảm bảo sức khỏe trẻ em; sức khỏe vị thành niên; thương tích ở trẻ em
2.1.1.1 Sức khỏe trẻ em
Thứ nhất, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ em và bà mẹ
Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong việc giảm tử vong trẻ dưới 1 tuổi và trẻ em nói chung Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi đã giảm từ 16/1.000 trẻ từ năm 2006 xuống còn 15,5/1000 vào năm 2011 Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi cũng đã giảm đáng kể trong những năm gần đây, từ 58/1,000 trẻ năm 1999 xuống 23,3/1000 vào năm 2011 (chỉ tính các trường hợp trẻ được sinh ra vẫn còn sống) [9,
tr 16]
Cùng với đó, tỉ lệ tử vong ở bà mẹ cũng giảm đáng kể Theo Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, tỷ lệ tử vong bà mẹ đã giảm từ 233/100.000 trẻ đẻ sống (1990) xuống còn 69/100.000 (2009) và 67/100.000 (2011) [9, tr 17] Kết quả này là nhờ có những nỗ lực lớn trong việc triển khai nhiều chương trình, chính sách
và luật pháp về sức khỏe sinh sản trong toàn quốc
Thứ hai, thực hiện chương trình tiêm chủng cho trẻ em
Bộ Y tế đã triển khai chương trình tiêm chủng mở rộng rất thành công Xuất phát với tỷ lệ tiêm chủng ban đầu chỉ có 39% năm 1986, mục tiêu phổ cập tiêm
Trang 29chủng đã đạt được và tỷ lệ bao phủ tiêm chủng toàn quốc hiện nay là trên 95% Lúc đầu, Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia phòng chống 6 bệnh cơ bản (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi và bại liệt) Từ năm 1997, vắc xin phòng viêm não Nhật Bản, tả và thương hàn cũng đã được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng và được cung cấp cho những vùng nguy cơ cao Năm 2003, 3 mũi tiêm vắc xin viêm gan B được thực hiện ở tất cả 64 tỉnh thành Kế hoạch loại trừ bệnh sởi quốc gia được bắt đầu từ năm 2006, nhờ đó vắcxin sởi mũi hai đã được tổ chức tiêm ở các trường học, đạt độ bao phủ tiêm phòng là 97% vào năm 2008 Nhờ thành công của chương trình tiêm chủng nên đã thanh toán được bệnh bại liệt vào năm 2000 và loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm 2005 Đến năm 2008, chương trình báo cáo tỷ lệ bao phủ là 95% đối với 6 loại vắc xin trên phạm vi toàn quốc [26, tr 93-94]
Thứ ba, cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em và bà mẹ
Bộ Y tế chỉ đạo Viện Dinh dưỡng quốc gia xây dựng Chiến lược dinh dưỡng giai đoạn 2001-2010 nhằm cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em và tình trạng thiếu chất ở bà mẹ khi sinh Những kết quả đem lại từ chương trình này là rất tích cực, cụ thể như sau:
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm mạnh, tính chung cả nước mỗi năm trung bình giảm khoảng 1,5%, từ 31,9% năm
2001 xuống còn 25,2% vào năm 2005 và 14,5% vào năm 2014 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao/tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể từ 34,8% năm 2001 xuống còn 29,3% vào năm 2010 và 24,9% năm 2014 [28] Những chương trình cải thiện dinh dưỡng cho trẻ nhỏ cũng đã góp phần làm giảm tỉ lệ thiếu
i ốt, thiếu máu do thiếu sắt và thiếu vitamin A ở trẻ em Tuy vậy Việt Nam vẫn còn nằm trong số 36 quốc gia có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi cao trên phạm vi toàn cầu
Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ phản ánh những hạn chế trong chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho phụ nữ, đồng thời có liên quan đến tỷ
lệ suy dinh dưỡng bào thai Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ tuổi sinh
đẻ tính chung toàn quốc mỗi năm giảm 1% Theo kết quả điều tra dinh dưỡng năm
Trang 302005 và 2009 được Tổng cục Thống kê công bố cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ tuổi sinh đẻ được thể hiện bằng chỉ số khối cơ thể thấp (BMI
<18,5) giảm từ 28,5% năm 2000 xuống còn 21,9 % vào năm 2005 và 19,6% vào năm 2009 Tính chung từ năm 2000 đến năm 2009 tốc độ giảm là 0,98%/năm (mục tiêu đề ra là 1%) [27] Hiện nay Viện Dinh dưỡng quốc gia đang tiếp tục triển khai Chiến lược dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và hứa hẹn sẽ có nhiều kết quả khả quan hơn so với giai đoạn đầu
2.1.1.2 Sức khỏe vị thành niên
Bên cạnh đối tượng là trẻ nhỏ và bà mẹ, vị thành niên cũng là đối tượng trẻ
em cần có sự quan tâm đặc biệt về sức khỏe, bởi đây là giai đoạn phát triển cơ thể của trẻ em Liên hợp quốc định nghĩa vị thành niên là người từ 10-19 tuổi
Tuy sức khoẻ vị thành niên là một lĩnh vực khá mới ở Việt Nam nhưng vẫn được coi là một trong những ưu tiên trong Chiến lược quốc gia về sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010 Dựa trên các kết quả chính từ Điều tra đánh giá về thanh thiếu niên Việt Nam năm 2003, Kế hoạch tổng thể quốc gia về Bảo vệ, Chăm sóc và Tăng cường chăm sóc sức khoẻ vị thành niên và thanh niên giai đoạn 2006-2010 (và Tầm nhìn tới 2020) đã được xây dựng và đưa vào thực hiện từ năm 2006
Qua quá trình thực hiện, cơ quan quản lý nhà nước đã đạt được những kết quả khá tích cực cho vị thành niên trong tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, nâng cao sức khỏe trong giai đoạn tuổi dậy thì, phát triển thể chất một cách toàn diện Đặc biệt, vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên được cơ quan quản lý nhà nước đặt làm trung tâm Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 bao gồm chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên và cung cấp các dịch vụ cho thanh thiếu niên đã được triển khai Chiến lược này nhấn mạnh nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo về dân số, kế hoạch hoá gia đình, sức khoẻ sinh sản và giới tính cả trong và ngoài trường học Các chương trình nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng cho vị thành niên được triển khai bằng nhiều hình thức như giáo dục, lồng ghép vào chương trình học, tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng, qua các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ… đã có
Trang 31những tác động nhất định và góp phần đáng kể vào nâng cao sức khỏe cho đối tượng vị thành niên ở Việt Nam
2.1.1.3 Thương tích ở trẻ em
Thương tích ở trẻ em là nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ tử vong Theo thống
kê, ở Việt Nam, tử vong trẻ em và vị thành niên do tai nạn thương tích trung bình mỗi năm có trên 7.250 trường hợp, trong đó tử vong do đuối nước chiếm tới 45%, sau đó là tai nạn giao thông, ngã, nhiễm độc, bỏng, và các nguyên nhân khác [25]
Để hạn chế thương tích ở trẻ em, Chính phủ đã triển khai thực hiện nhiều chương trình cụ thể và đã đạt được một số kết quả bước đầu
Năm 2001, Chính phủ ban hành Chính sách quốc gia về Phòng chống tai nạn, thương tích, coi thương tích là một trong những vấn đề xã hội ưu tiên trong kế hoạch phát triển 5 năm Giảm gánh nặng thương tích ở trẻ em là một trong những mục tiêu của Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em 2001-2010, cũng như một trong các mục tiêu trong chương trình Thế giới phù hợp cho Trẻ em Đã có những hoạt động nâng cao năng lực trong xây dựng, triển khai kế hoạch hành động về phòng chống thương tích và đã xây dựng, triển khai được các mô hình phòng chống thương tích cho trẻ em ở một số tỉnh thành Thực hiện các chương trình phòng chống thương tích cho trẻ em, các chuyên gia từ các đơn vị trung ương đã tổ chức tập huấn cho các bác sỹ nòng cốt tuyến tỉnh về dự phòng và điều trị sơ cứu bỏng (Viện bỏng quốc gia), ngộ độc (Trung tâm chống độc) và kỹ thuật chăm sóc chấn thương cơ bản (Bệnh viện Việt Đức) Các đoàn thể quần chúng như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân cũng lồng ghép các vấn đề về phòng chống thương tích trẻ em vào các hoạt động của mình Năm 2006, Bộ Y tế ban hành quyết định đề
ra các tiêu chí an toàn cộng đồng áp dụng trên toàn quốc, kết quả là tính đến 2009
đã có 8 xã đã được đánh giá và công nhận là “cộng đồng an toàn cấp quốc tế” và 34 xã/phường được công nhận là “cộng đồng an toàn cấp quốc gia” Năm 2008, Bộ Y
tế thông qua Kế hoạch Hành động phòng chống thương tích đến năm 2010 và định hướng đến 2020 Bộ GD&ĐT cũng ban hành Quyết định về An toàn học đường năm 2007 nhằm tăng cường an toàn môi trường học đường cho học sinh Kể từ
Trang 32ngày 15/12/2007, Chính phủ đã quy định đội mũ bảo hiểm bắt buộc đối với tất cả mọi người (trừ trẻ em dưới 6 tuổi) khi đi xe máy
Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định Phê duyệt Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2013-2015 (Quyết định 2158/QĐ-TTg), theo đó thể hiện quyết tâm giảm tỷ suất trẻ em bị tai nạn, thương tích và trẻ em bị tử vong do tai nạn, thương tích; nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc phòng chống tai nạn, thương tích trẻ em
Với các hành động quyết liệt của Chính phủ và các Bộ, ngành, tình hình thương tích nói chung và thương tích ở trẻ em nói riêng đã có xu hướng giảm, cho thấy những nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc giảm thiểu thương tích ở trẻ em
và hứa hẹn về những kết quả khả quan trong thời gian tới
2.1.2 Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được học tập và phát triển của trẻ em
Giáo dục là quyền căn bản đối với mọi trẻ em Công ước về Quyền trẻ em
khắng định tại Điều 28: “1 Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em được học hành, và để từng bước thực hiện quyền này trên cơ sở bình đẳng về cơ hội, phải:
a Thực hiện chính sách giáo dục tiểu học bắt buộc, sẵn có và miễn phí cho tất cả mọi người;
b Khuyến khích phát triển nhiều hình thức giáo dục trung học khác nhau, kể
cả giáo dục phổ thông và dạy nghề, làm cho những hình thức giáo dục này có sẵn
và mọi trẻ em đều có thể tiếp cận;”
Công ước cũng ghi nhận việc tạo điều kiện để trẻ em được “phát triển tối đa nhân cách, tài năng, các khả năng về trí tuệ và thể chất” (Điều 29) và quyền được
tham gia những hoạt động văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí phù hợp với lứa tuổi (Điều 31) Bên cạnh Công ước về Quyền trẻ em, quyền được giáo dục cũng được hỗ trợ bởi các cam kết quốc tế, trong đó đáng kể nhất là Mục tiêu Phát triển Thiên niên
kỷ và phong trào Giáo dục cho mọi người “Giáo dục cho mọi người” đã được 155
Trang 33nước ký kết trong đó có Việt Nam và đại diện của khoảng 150 tổ chức chính phủ và phi chính phủ tại hội nghị thế giới tại Jomtien, Thái Lan, năm 1990
2.1.2.1 Nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được học tập và phát triển của trẻ em
Khoản 2 Điều 61 Hiến pháp 2013 Việt Nam khẳng định:“Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học ph ; từng bước phổ cập giáo dục trung học…” Cụ thể hơn, luật Giáo dục 2005 có quy định về hệ thống
giáo dục quốc dân, quản lý nhà nước trong giáo dục; luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 cũng đề cập đến trách nhiệm của Chính phủ, Bộ ngành và các tổ chức có liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Cam kết của Chính phủ Việt Nam trong giáo dục được thể hiện qua việc coi giáo dục là một bộ phận căn bản trong các chiến lược và kế hoạch phát triển quốc gia như Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo; Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2001-2010 và Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm giai đoạn 2006-2010 Các chiến lược và kế hoạch cụ thể về giáo dục gồm có Kế hoạch Chiến lược Phát triển Giáo dục giai đoạn 2001-2010 và Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Giáo dục và Đào tạo 2008
Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2001-2010 kêu gọi sự thay đổi căn bản trong giáo dục nhằm đáp ứng các yêu cầu về nguồn nhân lực trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa Để đáp ứng được yêu cầu này, Chiến lược Phát triển Giáo dục giai đoạn 2001-2010 đề ra 3 mục tiêu chính: hiện đại hóa giáo dục; đào tạo nhân lực có trình độ chuyên môn cũng như đào tạo công nhân lành nghề; đổi mới ở tất cả các cấp giáo dục, cải thiện quản lý giáo dục và xây dựng một khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ hơn cho giáo dục
Năm 2003, Chính phủ đã thông qua Kế hoạch hành động Giáo dục cho mọi người (EFA) giai đoạn 2003-2015, nhằm đảm bảo rằng đến năm 2015 tất cả trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái và trẻ em thuộc các nhóm dân tộc thiểu số) được tiếp cận với giáo dục có chất lượng Sự cam kết của Việt Nam trong việc xóa bỏ bất bình đẳng
Trang 34giới trong giáo dục cũng được thể hiện trong EFA và Mục tiêu 3 của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) nhằm xóa bỏ khoảng cách giới trong giáo dục tiểu học
và trung học vào năm 2015 Kế hoạch EFA khẳng định ngân sách Nhà nước giữ vai trò là nguồn ngân sách chủ yếu thực hiện kế hoạch và các khoản chi của Chính phủ cho giáo dục dự kiến sẽ tăng từ 3,7% GDP năm 2002 lên 4,2% GDP vào năm 2015 Năm 2008, Bộ GD&ĐT phát động phong trào thi đua toàn quốc “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, với mục tiêu hình thành một môi trường giáo dục an toàn, thân thiện và hiệu quả, phù hợp với các điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội, nhằm thúc đẩy tính năng động và sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội
Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giai đoạn 2012 - 2015, nhằm thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở; hỗ trợ học sinh người dân tộc thiểu số, học sinh ở vùng khó khăn có điều kiện đến trường và tăng cường dạy và học ngoại ngữ trong trường học Hiện nay chương trình đang đi vào giai đoạn kết thúc
2.1.2.2 Giáo dục mầm non
“Mầm non” được hiểu là giai đoạn của trẻ từ khi sinh ra đến trước khi vào bậc tiểu học Giáo dục mầm non được Chính phủ đặc biệt quan tâm, bởi đây là giai đoạn trẻ em còn rất nhỏ, cần nhận được sự bảo vệ và chăm sóc chu đáo nhất
Theo báo cáo năm của Vụ Giáo dục mầm non năm 2008/09, tỷ lệ nhập học chung của các em dưới 3 tuổi là 20%, từ 3-5 tuổi là 79% và 5 tuổi là 99% Đây là con số phản ánh rất chính xác tình hình trẻ mầm non được đến trường ở Việt Nam, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam Theo đó, trẻ em dưới 3 tuổi thường được chăm sóc và nuôi dưỡng ở nhà bởi cha mẹ, ông bà, từ 3 đến 5 tuổi là giai đoạn trẻ đã biết đi, biết nói và cũng là thời điểm cha mẹ, người nuôi dưỡng trẻ quay trở lại làm việc sau thời gian nghỉ sinh, nên tỉ lệ trẻ đi học đã tăng lên 79%, và 5 tuổi là thời điểm trẻ đã hoàn thiện các kĩ năng đi, nói, biết làm một số công việc đơn giản
và chuẩn bị bước vào bậc tiểu học nên hầu hết đều được cha mẹ cho đến trường
Trang 35Năm 1999, ngân sách giáo dục mầm non chỉ chiếm 5,4% tổng ngân sách giáo dục của nhà nước Tuy nhiên, tỉ trọng ngân sách nhà nước dành cho giáo dục mầm non liên tục tăng, và đạt 8,5% trong năm 2008 [26, tr 171] Bên cạnh đó, Chính phủ đã nỗ lực nâng cao số phòng học mầm non để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng Trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2008, tổng số phòng học kiên
cố tăng lên hơn 10.000 phòng (xem Phụ lục 1)
Điều này khẳng định nỗ lực rất lớn của Chính phủ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non Để làm được điều đó, Chính phủ một mặt tăng cường quản lý nhà nước trong giáo dục mầm non, giao Bộ GD-ĐT mà cụ thể là Vụ Giáo dục mầm non xây dựng quy chế đào tạo mầm non, điều kiện thành lập trường mẫu giáo, xây dựng mục tiêu giáo dục mầm non dài hạn, mặt khác Chính phủ chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục mầm non, coi đây là công việc của toàn xã hội, kêu gọi các tổ chức xã hội và khu vực tư nhân đầu tư, tài trợ kinh phí cho lĩnh vực này 2.1.2.3 Giáo dục phổ thông
Giáo dục phổ thông là hệ thống giáo dục cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 Trong đó, từ lớp 1 đến lớp 5 là cấp tiểu học, từ lớp 6 đến lớp 9 là cấp trung học cơ
sở, từ lớp 10 đến lớp 12 là cấp trung học phổ thông Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông và đã đạt được nhiều kết quả lớn
Thứ nhất, nâng cao tỷ lệ nhập học tiểu học đúng tuổi và tỷ lệ hoàn thành tiểu học
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học được xem là nền tảng, nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản Mục tiêu chính của giáo dục tiểu học là giúp tất cả học sinh biết đọc, biết viết và biết tính toán với những con số ở mức độ căn bản, cũng như thiết lập những hiểu biết căn bản về khoa học, toán, địa lý, lịch sử và các môn khoa học xã hội khác
Trong năm học 2006-2007, tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc tiểu học là 96% trong đó tỷ lệ học sinh nữ chiếm gần một nửa (49%), đến năm 2009, con số này là
95,5% Đây là con số khá cao nếu so với một số nước ở khu vực Đông Nam Á (xem
Trang 36Phụ lục 2) Tỷ lệ hoàn thành tiểu học cũng được giữ ở mức cao, đạt 88,2% năm
2009, tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng trong cả nước Điều này cũng phản ánh đúng thực tế về điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện học tập và nhận thức của người dân vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long đối với vấn đề học tập của trẻ em là chưa cao, tình trạng trẻ em bỏ học cũng chủ yếu diễn ra ở các khu vực này dẫn đến tỷ lệ hoàn thành tiểu học của 3 khu vực
này cũng thấp hơn trung bình cả nước (xem Phụ lục 3)
Thứ hai, duy trì tỷ lệ học sinh trung học ở mức cao
Ở Việt Nam, giáo dục trung học được chia ra làm hai bậc: trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) Giáo dục THCS kéo dài từ lớp 6 đến lớp
9, nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động Giáo dục THPT từ lớp 10 đến lớp 12 nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường để tiếp tục học đại học, cao đẳng, học nghề, hoặc đi lao động phổ thông Với sự nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước, tỷ lệ trẻ em nhập học và hoàn thành THCS đúng độ tuổi được duy trì ở mức khá cao
Báo cáo Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ năm 2008 cho thấy tỉ lệ nhập học đúng tuổi bậc THCS là 79% trong năm học 2006-2007, với 83% ở khu vực thành thị và 78% ở khu vực nông thôn Đến năm 2011, con số này là 81% trên cả nước Vùng Đồng bằng sông Hồng có tỉ lệ cao nhất với 87% còn vùng Tây Bắc có tỉ lệ thấp nhất, chỉ với 61% Báo cáo này cũng chỉ ra rằng tỉ lệ hoàn thành THCS trong năm 2004-2005 là 81% và tăng lên một chút trong năm 2005-2006 (lên 82%) nhưng lại giảm xuống còn 77% vào năm học 2006-2007 Trong năm học 2006-2007, vùng Đồng bằng sông Hồng có tỉ lệ cao nhất (92%) còn vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì có tỉ lệ thấp nhất (59%) Ngoài ra, báo cáo này cũng cho thấy số trẻ em dân tộc thiểu số theo học THCS tiếp tục tăng Trong năm học 2005-2006, trẻ em dân tộc thiểu số chiếm 14,2% tổng số học sinh và có tăng lên tới 15% trong năm học 2006-
Trang 372007 Tỉ lệ này khác nhau đáng kể giữa các vùng miền trên cả nước: 45% ở khu vực Đông Bắc, 80% ở khu vực Tây Bắc và 30% ở khu vực Tây Nguyên [26, tr 184] Dù rằng tỷ lệ ở khu vực có nhiều dân tộc thiểu số là Tây Nguyên còn chưa cao, nhưng
số liệu trên cũng phản ánh nỗ lực của Chính phủ trong việc tạo điều kiện cho trẻ em người dân tộc thiểu số được đến trường và tiếp cận với các dịch vụ giáo dục Dự kiến khi hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giai đoạn
2012 - 2015, con số này sẽ được cải thiện đáng kể
Đối với cấp THPT, do sau khi hoàn thành THCS, nhiều học sinh căn cứ vào khả năng và điều kiện của mình đã có những lựa chọn khác ngoài việc học tiếp lên THPT như học nghề, tham gia lao động kiếm sống (người từ đủ 15 tuổi được coi là người lao động hợp pháp ở Việt Nam - Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động 2012) nên
tỷ lệ học sinh hoàn thành THCS đi học THPT có chiều hướng giảm, đặc biệt ở các khu vực khó khăn về điều kiện kinh tế như Trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long Đây là vấn đề không mới nhưng để khắc phục thì gặp rất nhiều khó khăn, bởi nó liên quan đến nhận thức, điều kiện của không chỉ bản thân học sinh mà cả phụ huynh học sinh
Chính phủ, Bộ GD-ĐT đã có nhiều cố gắng trong việc giảm tỷ lệ học sinh bỏ học như: đẩy mạnh tuyên truyền để toàn xã hội quan tâm đến giáo dục; thực hiện xã hội hóa giáo dục nhằm tìm thêm nguồn đầu tư cho giáo dục và tìm kiếm nguồn học bổng cho học sinh nghèo; tổ chức phụ đạo học sinh yếu kém; đẩy mạnh công tác khuyến học khuyến tài, trong đó giải pháp căn cơ nhất vẫn là phải tuyên truyền cho người dân hiểu được tầm quan trọng của học tập Nhờ đó, tỷ lệ học sinh đi học
THPT có chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần, thể hiện trong Phụ lục 4
Thứ ba, nâng cao số lượng và chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông ở Việt Nam
Nhờ nỗ lực của cơ quan quản lý, quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục cấp THCS và THPT ngày càng phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của
xã hội Sự đa dạng các loại hình trường học đã làm cho mạng lưới trường lớp được phát triển rộng khắp trong toàn quốc, trường THCS có ở xã hoặc cụm liên xã,
Trang 38trường THPT có ở tất cả các huyện Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội trú và bán trú cho con em các dân tộc thiểu số, số lượng các trường ghép (trường tiểu học ghép với trường THCS thành trường phổ thông cơ sở, trường THCS ghép với trường THPT thành trường trung học) ngày càng giảm, chất lượng
giáo dục cũng vì thế được cải thiện (xem Phụ lục 5)
2.1.2.4 Xã hội hóa giáo dục
Hiện nay, tư duy giáo dục là sản phẩm của nhà nước như truyền thống đang dần thay đổi, nhà nước ta đang đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục
và đã đạt được những kết quả quan trọng Xã hội hoá giáo dục thể hiện ở hai nội dung chính: Một là giáo dục phát triển quy mô, đa dạng loại hình trường lớp, đa dạng hình thức học để đáp ứng nhu cầu học tập của tất cả trẻ em, của mọi người lao động và mọi người dân, với nội dung và phương pháp giáo dục đáp ứng những đòi hỏi phát triển kinh tế xã hội và phục vụ đời sống; hai là huy động mọi lực lượng xã hội, mọi người dân tham gia vào quá trình giáo dục đồng thời đóng góp công sức, vật chất và tiền của cùng nhà nước chăm lo xây dựng cơ sở vật chất và các điều kiện cho hoạt động giáo dục
Xã hội hóa giáo dục là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, hiện nay chủ trương này đã cho thấy sự hiệu quả rõ rệt Ban đầu chỉ tồn tại
hệ thống các trường công lập trong tất cả các bậc học, trong khi kinh phí cho giáo dục bị hạn chế, dẫn đến quy mô, cơ cấu và chất lượng của cả hệ thống không đảm bảo, vừa không đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực, vừa gây ra những bức xúc của người dân vì thiếu trường, thiếu lớp, thiếu cơ sở đào tạo cho con em Từ khi thực hiện xã hội hoá giáo dục, nhà nước cho phép các thành phần kinh tế đầu tư vào giáo dục, khuyến khích huy động mọi nguồn lực phát triển giáo dục, tình hình đã được cải thiện: hệ thống các trường bán công, dân lập, tư thục đã được hình thành và phát
triển rất nhanh để đáp ứng nhu cầu người dân ở tất cả các bậc học (xem Phụ lục 6)
Hiện nay, những nhu cầu về chỗ học ở các bậc học phổ thông từ tiểu học, THCS đến THPT về cơ bản đều được đáp ứng, đã có các trường ngoài công lập, các trường
tư thục ngày càng khẳng định vị thế của mình trong hệ thống giáo dục Việt Nam
Trang 39Điều này càng có ý nghĩa trong điều kiện quy mô ngân sách mỏng, nhà nước đã tiết kiệm được một lượng vốn rất lớn để tập trung đầu tư cho các trường công lập, hoặc
sử dụng cho những nhu cầu bức thiết khác Mặt khác, do tự chủ về mặt quản lý và kinh phí, các trường học khu vực tư nhân cũng phát huy được sự năng động, sáng tạo của mình, góp phần đẩy nhanh hiệu quả cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học, trở thành động lực cho khu vực công thay đổi
2.1.2.5 Tạo cơ hội phát triển toàn diện về trí tuệ và thể chất cho trẻ em
Tính đến cuối năm 2008, cả nước có trên 220 nhà văn hóa thiếu nhi, nhà thiếu nhi; 3.673/8.895 xã có nhà văn hóa; 37.124/73.793 thôn có nhà văn hóa; 7.854
xã và 34.303 thôn có sân thể thao; 148 điểm vui chơi dành cho trẻ em cấp tỉnh và tương đương; 773 điểm vui chơi cấp huyện và tương đương; 8.654 điểm vui chơi cấp xã, phường Có gần 20 tờ báo dành cho trẻ em như: Hoa học trò, Mực tím, Thiếu niên Tiền phong, Nhi đồng và có trên 10 tờ báo, tạp chí với những chuyên trang phục vụ trẻ em như: Gia đình và Xã hội, Gia đình và Trẻ em, Thanh niên, Tiền phong Trung bình hằng năm có 15% số xuất bản phẩm phục vụ trẻ em Hệ thống thư viện, trong đó có phòng đọc, sách báo dành riêng cho trẻ em được hình thành và phát triển nhằm thu hút đông đảo trẻ em Đến nay, 100% số thư viện cấp tỉnh và 30% số thư viện cấp huyện, xã và nhiều khu dân cư đã có các đầu sách, túi sách lưu động dành cho trẻ em Sự tham gia hoạt động của trẻ em cũng được quan tâm và đẩy mạnh Tính đến cuối năm 2008, có 18 triệu trẻ em tham gia Đội Thiếu niên Tiền phong, Sao Nhi đồng, 17.000 câu lạc bộ quyền trẻ em, 44 câu lạc bộ Phóng viên nhỏ với 2.500 thành viên chính thức đang hoạt động ở 22/63 tỉnh, thành phố và hàng chục ngàn trẻ em tham gia, đối thoại, diễn đàn ở cấp tỉnh, thành phố, cấp quốc gia và quốc tế về nhiều chủ đề và lĩnh vực trẻ em quan tâm [20]
Những sân chơi như vậy là cơ hội để trẻ em được tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí tập thể, phát triển toàn diện về cả trí tuệ lẫn thể chất, tăng cường kỹ năng sống và sự tự tin, năng động ở trẻ em, là một kênh giáo dục hữu ích cho trẻ em bên cạnh môi trường nhà trường
Trang 402.1.3 Quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền được tôn trọng và bảo vệ của trẻ em
Mọi hành vi xâm hại, bạo hành và bóc lột trẻ em đều phải bị lên án và xử lý nghiêm minh Có nhiều lý do khiến trẻ em lâm vào những hoàn cảnh cần được bảo vệ: các yếu tố kinh tế như nghèo đói, chênh lệch về thu nhập, các trào lưu xã hội như di cư, các giá trị gia đình đang bị băng hoại và tình trạng phân biệt đối xử về giới, các vấn đề bất cập mang tính hệ thống như thiếu một khung pháp lý toàn diện, việc thực thi pháp luật còn yếu và nhận thức về vấn đề bảo vệ trẻ em còn hạn chế cũng đe dọa ảnh hưởng tới trẻ em Trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng, những cơ hội mở ra đồng thời kéo theo những nguy cơ với trẻ nhỏ cũng hiển hiện rõ hơn Do vậy, bảo vệ trẻ em phải được coi là hành động của toàn nhân loại
Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em quy định về vấn đề này ở một số nội dung chính đó là: không phân biệt đối xử (Điều 2), lợi ích tốt nhất của trẻ em là mối quan tâm hàng đầu (Điều 3), quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo hành, xâm hại, sao nhãng và bóc lột về thể chất và tinh thần (Điều 19), quyền và nhu cầu đặc biệt của trẻ em khuyết tật (Điều 23), quyền được bảo vệ không bị bóc lột về kinh tế (Điều 32), quyền được bảo vệ chống lại việc sử dụng trái phép các chất ma túy (Điều 33), quyền được bảo vệ chống lại mọi hình thức bóc lột tình dục và xâm hại tình dục (Điều 34), quyền được bảo vệ chống lại việc bắt cóc, mua bán và buôn bán trẻ em (Điều 35), quyền được bảo vệ chống lại tất cả các hình thức bóc lột (Điều 36), quyền được bảo vệ khỏi nhục hình, đối xử hoặc trừng phạt vô nhân đạo, hình phạt tử hình và việc tước quyền tự do (Điều 37), quyền của nạn nhân trẻ em được hỗ trợ phục hồi về thể chất, tâm lý và tái hòa nhập xã hội (Điều 39), quyền của mọi trẻ em những người bị coi là, bị tố cáo hay bị công nhận là đã vi phạm luật hình
sự được đối xử sao cho tăng cường ý thức của trẻ em về phẩm cách và phẩm giá vốn có, tôn trọng ý thức bản thân và phẩm giá của trẻ (Điều 40)