1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về đầu tư theo luật đầu tư 2005 những vấn đề lý luận và thực tiễn

96 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 9,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

N hà nước và xã hội cũng như đời sống kinh tế đòi hỏi có các công trình của khoa học pháp lý xem xét và nghiên cứu hệ thống các quy định trong lĩnh vực quan lý nhà nước về đầu tư để làm

Trang 2

TRUỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 3

trong suốt quả trình làm luận vãn của mình X in gử i lời cảm ơn đến

cô giáo chủ nhiệm cùng toàn thê các thầy cô giáo đã trang bị cho tôi những kiến thức thiết thực trong suốt quả trình học tập tại Trường Đ ại học Luật H à nội.

Trang 4

Số TT Nội dung

01 LỜI NÓI ĐẦU

02 CHƯ ƠNG I : N H Ữ N G VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÊ QUẢN LÝ

NHÀ NƯ ỚC VÊ ĐẦU T ư TRONG NÉN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG Ở V IỆT N AM

03 1.1 Khái niệm, bản chất của quản lý nhà nước về đầu tư

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

04 1.2 Mục đích, vai trò của pháp luật về quản lý nhà nước về

đầu tư trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

05 1.3 Nội dung của pháp luật quản lý nhà nước về đầu tư

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

06 1.4 Quá trình hình thành và phát triển của chế định quản lý

nhà nước về đấu tư ở Việt Nam

07 1.5 Kinh nghiệm của một số nước trong quản lý nhà nước

đôi với đầu tư

08 CHƯƠNG 2: T H ự C TRẠNG PHÁP LUẬT TRONG

LĨNH Vực QU Ả N LÝ NHÀ NƯỚC VÈ ĐẦU T Ư Ở

VIÊT NẮM

09 2.1 Các quy định về nội dung quản lý nhà nước về đầu tư

10 2.2 Các quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu

11 2.3 Các quy định về quản lý đầu tư theo quy hoạch

12 2.4 Các quy định về theo dõi, đánh giá hoạt động đầu tư

13 2.5 Các quy định về thanh tra hoạt động đầu tư

14 2.6 Các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện

về đầu tư

15 CHƯƠNG 3: PHƯ Ơ NG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN

THIỆN PHÁP LUẬ T VÈ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ

ĐẦU T Ư

Trang01

63

66

68

70

Trang 5

17 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực quản 78

lý nhà nướ c về đầu tư

18 3.3 Các biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật 83

trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư

20 D A N H M Ụ C T À I L IỆ U T H A M K H Ả O 87

Trang 6

B O T Xây dựng- K inh doanh-C huyển giao

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

H ơn hai mươi năm qua, sự nghiệp “mở cửa” , đổi mới toàn diện của Việt N am đã đạt được khá nhiều thành công to lớn Nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của N hà nước, đã tạo ra cho các nhà đầu tư trong nước cũng như ngoài nước nhiều cơ hội thuận lợi, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, v ề cơ bản, các nhà đầu tư đã có quyền bình đẳng trên một “sân chơi” chung

Trong cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp trước đây, N hà nước đã can thiệp quá sâu rộng vào việc tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước N hưng trong cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường hiện nay, N hà nước không còn can thiệp sâu rộng vào việc tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp N hà nước đã và đang tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp có các quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm , để họ phát huy được sự chủ động, năng động, sáng tạo trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao

N ha nước hiện nay chỉ quản lý nền kinh tế quốc dân ở tầm vĩ mô, như xây dựng quy hoạch, kế hoạch và đề ra những chủ trương, chính sách lớn, xây dựng hệ thống pháp luật quản lý kinh tế nói chung, quản lý đầu tư nói riêng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư phát huy mạnh

mẽ các tiềm năng, khả năng, kinh nghiệm cũng như lòng say mê kinh doanh của họ

Chính vì vậy, trong hơn hai mươi năm đổi mới vừa qua, hàng chục nghìn dự án sản xuất, kinh doanh với 98 tỷ USD của các nhà đầu tư nước

Trang 8

ngoài và hàng trăm nghìn tỷ đồng của các nhà đầu tư trong nước đã được đầu

tư trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

T uy vậy, các quy định pháp lý trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu

tư cũng như thực tiễn thi hành các quy định này vẫn còn có m ột số nhược điểm, hạn chế, bất cập nhất định N hững điều đó đã gây ra những ảnh hưởng bất lợi đến quá trình thu hút các nguồn vốn đầu tư từ trong nước và từ nước ngoài

N hà nước và xã hội cũng như đời sống kinh tế đòi hỏi có các công trình của khoa học pháp lý xem xét và nghiên cứu hệ thống các quy định trong lĩnh vực quan lý nhà nước về đầu tư để làm rõ các thành công và ưu điểm cũng như chỉ rõ các nhược điểm và khiếm khuyết của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư trong nền kinh tế thị trường ở V iệt Nam

N hững công trình nghiên cứu khoa học này cũng cần vạch ra những phương hướng cũng như những giải phap cần phai tiến hành nhằm hoàn thiện chế định quản lý nhà nước vồ đàu tư cũng như thực thi với hiệu qua cao các quy định này trong thực tiễn

Đe đáp ứng yêu cầu nói trên, tôi đã chọn vấn đề “Quản lý nhà nước về đầu tư theo L uật Đ ầu tư 2005 - N hững vẩn đề lỷ luận và thực tiễn ” làm đềtài luận văn tốt nghiệp cao học Luật của mình với mong m uốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư nói riêng và hoàn thiện pháp luật kinh tế ở nước ta nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

^ 1 r 1 \ r à 4 A 1 \ A , /\ 4 /N A J /y ' 1 Ạ 1 ' Ạ 4 ^

Q uản lý nhà nước vê đâu tư là một vân đê rât rộng và luôn là vân đe thời sự Trong những năm qua đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu pháp

luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư ở Việt Nam, thí dụ như: “Quản

ìỷ nhà nước về đăng kỷ kỉnh doanh và thuế đối với công ty TNHH, công ty cổ

Trang 9

phần và doanh nghiệp tư nhân' ’ - Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Tô Hoa (1996);

"Một số vấn đề quản lý nhà nước đổi với hoạt động kinh doanh ” - Luận văn

thạc sĩ của N guyễn Quốc Khánh (1997); “Quản lý nhà nước về đầu tư trực

tiếp nước ngoài tại Việt Nam ” - Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Kim Hoàn

(1997); “Quản lỷ nhà nước đổi với hoạt động đăng ký kinh doanh đoi với

doanh nghiệp ở Việt Nam ” - Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Kim Tiên (2002);

“Pháp luật về quản lỷ nhà nước đối với đầu tư nước ngoài- Thực trạng và phươ ng hướng hoàn thiện ” - Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Kim Oanh (2005)

Việc nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố này cho thấy, với những mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau, những công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc ở một vài khía cạnh của quản lý nhà nước về đầu tư Có thể nói rằng: chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đi sâu nghiên cứu m ột cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc chế định quản lý nhà nước đối với cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài

Chính vì thế, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc chế định quản lý nhà nước về đầu tư đối với cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, bên cạnh đó, trình bày cả những phương hướng và giải pháp hoàn thiện cũng như thi hành các quy định về quản lý nhà nước về đầu tư là một đòi hỏi rất cấp bách đối với khoa học pháp lý ở nước ta

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi của việc nghiên cứu đề tài đã chọn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoặc liên quan đến sự quản lý nhà nước về đầu tư ở nước ta Đe tài này sẽ nghiên cứu về các vấn đề sau đây: Nội dung của sự quản lý nhà nước về đầu tư, Trách nhiệm của sự quản lý nhà nước về đầu tư, Quản lý đầu

tư theo quy hoạch, Theo dõi, đánh giá các hoạt động đầu tư, Thanh tra các hoạt động đầu tư, Giải quyết việc khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về đầu tư

Trang 10

Đ ông thòi, tác giả sẽ dành m ột phân cẩn thiẽt nghiên cứu các quy định pháp luật trong lĩnh vực quan lý nhà nước về đầu tư cua m ột số nước trên thế giới cũng như trong khu vực nhăm rút ra những bài học kinh nghiệm cho nước ta trong quá trình hoàn thiện pháp luật đầu tư nói chung, hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư nói riêng ở Việt

N am trong những năm sắp tới

4 P h ư on g pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam khi nghiên cứu đề tài đã chọn Tác giả luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cún cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp chứng minh, phương pháp diễn giải, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp quy nạp, v.v

5 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu• • • o

5.1 Tác giả xác định mục đích của việc nghiên cứu đề tài là lập luận

m ột cách có sức thuyết phục về việc cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực quản lý nhà nưoc về đầu tư; đồng thời, luận văn cũng đề ra các giải pháp cụ thể, sát thực tế để thi h Jih một cách có hiệu quả hệ thống các quy định pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư

5.2 Tác giả xác định nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài này là trình bày m ột cách có hệ thống và phân tích, chứng minh m ột cách có căn cứ các quy định pháp luật trước đây cũng như trong hiện tại trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư, để thấy được quá trình hình thành, phát triển và được hoàn thiện từng bước của chế định quản lý nhà nước về đầu tư ở nước ta

Tác giả luận văn cũng trình bày những thành công và ưu điểm của chế định pháp luật quản lý nhà nước về đầu tư; đồng thời, cũng cố gắng trình bày

Trang 11

đầy đủ những nhược điểm, khiếm khuyết và bất cập cúa các quy định pháp lý trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư.

T ừ đó, tác giả luận văn nêu ra các phương hướng và giải pháp cụ thể nhàm hoàn thiện chế định pháp luật quản lý nhà nước về đầu tư cũng như các giải pháp để thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật trong lĩnh vực quản

lý nhà nước về đầu tư trong thực tiễn

6 N hững điểm móì của luận văn

- Luật đầu tư (2005) thể hiện khá nhiều điểm mới có tính bước ngoặt

Đó là việc các chế định, chính sách không còn thể hiện sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài Do vậy, sau khi giải quyết thành công những nhiệm vụ đã đề ra, luận văn sẽ là m ột trong những công trình N C K H nghiên cứu sớm nhất các quy định pháp lý trong lĩnh vực quản lý nhà nướ c về đầu tư sau khi Nhà nước ban hành Luật Đầu tư (2005)

- Luận văn thể hiện sự phân tích sâu sắc một số chế định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về đàu tư với kết quả là chỉ rõ những ưu điểm và thành công cũng như nêu rõ những nhược điểm, bất cập của các quy định hiện hành về quản lý nhà nước về đầu tư

- Luận văn nghiên cứu và phân tích một số quy định pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư của m ột số nước ASEAN cũng như trun thế giới; Từ đó, tác giả luận văn rút ra những kinh nghiệm phù hợp cho việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư trong điều kiện và hoàn cảnh của nước ta

- Luận văn trình bày, đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản i) nhà nước về đầu tư ở Việt Nam

- Luận văn cũng đề xuất một số biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật về quản lý nhà nước về đầu tư trong thực tiễn

Trang 12

7 Kết cấu của luận văn

Tác giả luận văn lựa chọn một kết cấu truyền thống của các luận văn, luận án trong lĩnh vực khoa học xã hội như sau:

L ờ i nói đầu

C h ư ơ n g 1 N hững vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về đầu tư trong

nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

C h ư ơ n g 2 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước về đầu tư ở Việt

Nam

C h ư ơ n g 3 N hững phương hưưng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp

luật về quản lý nhà nước về đầu tư cũng như các biện pháp thi hành pháp luật

về quản lý nhà nước về đầu tư

K ết luận

D anh m ụ c các tài liệu tham khảo.

Trang 13

CHƯƠNG 1

N HỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ ĐẦU TƯ

TRO NG NÊN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ỏ VIỆT NAM

1.1 K H ÁI NIỆM, BẢN CHẤT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ ĐẦU

T ư T R O N G NÊN KINH TẾ THỊ TRƯỜ NG Ở VIỆT NAM

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư

QLN N là sự tác động và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước đối với các quá trình phát triển xã hội để điều chinh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người QLNN là một hoạt động cơ bản của bất kỳ một quốc gia nào QLNN ở bất cứ lĩnh vực nào, suy cho cùng, cũng là một hoạt động của N hà nước Chủ thể của QLNN là một tập hợp các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và viên chức nhà nước trong cơ quan đó

N hư vậy, nói ỌLNN là nói tới hoạt động của N hà nước, nói tới các quá trình tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước bằng pháp luật đến các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước QLNN ở đây không phải là quản lý tổ chức chính trị mà là hoạt động chấp hành và điều hành của N hà nước, được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các

cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện m ột cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh

tế, văn hóa, xã hội và chính trị của nhà nước

QLNN luôn mang tính chủ động, sáng tạo, thể hiện rõ nét trong quá trình chủ thể của QLNN, trên cơ sở phân tích tình hình từng địa điểm, thời gian, đối tượng cụ thể, đề ra các chủ trương, biện pháp quản lý thích họp đê hoàn thành các nhiệm vụ mà N hà nước giao phó

Trang 14

Trong các chức năng quản lý chính của Nhà nước, quản lý kinh tế đóng vai trò chủ đạo, bởi lẽ bất cứ Nhà nước nào muốn duy trì, tồn tại và phát triển đều phải xây dựng và củng cố nền kinh tế của mình N hà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tể thông qua các hoạt động có có to chức như: xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; hoạch định và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, thực hiện việc kiểm soát Nhà nước, quản lý và kiểm soát sử dụng tài sản quốc g ia [13,11]

Với tư cách là một yếu tố quan trọng của nền kinh tế, các hoạt động đầu

tư cũng chịu tác động của QLNN thông qua các cơ chế quản lý kinh tế Có thể hiểu m ột cách đơn giản, QLNN về đầu tư là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh quá trình đầu tư tại Việt Nam bằng quyền lực nhà nước để đảm bảo trật

tự pháp luật, quyền và lợi ích họp pháp của nhà đầu tư cũng như lợi ích của dất nước

N hà nước quản lý đầu tư bằng pháp luật Quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và quản lý về hoạt động đ u tư nói riêng đã thay đổi căn bản so với trước đây N hà nước chuyển dần từ quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp bằng công cụ pháp luật, kế hoạch và các chính sách với các chức năng như: xây dựng hành lang pháp lý, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các chủ thể hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật; định hướng phát triển kinh tế thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô; xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư có trọng điểm, xây dựng m ột số ngành nghề mũi n h ọ n

X ét dưới góc độ pháp lý, pháp luật đầu tư được tạo thành bởi ba bộ phận là Luật Đầu tư và các văn ban hướng dẫn thi hành; các quy phạm có liên quan được quy định trong các đạo luật khác; các quy phạm có liên quan đến đầu tư được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia

Trang 15

Pháp luật vê đầu tư là hệ thống những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động đầu tư tại Việt N am như: quan hệ giữa nhà đầu tư với N hà nước V iệt Nam, mà đại diện

là các cơ quan có thẩm quyền; quan hệ hợp tác kinh doanh, liên doanh giữa các nhà đầu tư, quan hệ giữa các doanh nghiệp, nhà đầu tư với người lao động, với các cơ quan tài phán trong nước và quốc t ế

Trong bối cảnh của một nền kinh tế đang từng bước theo xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế như ở nước ta hiện nay thì hoạt động đầu tư diễn ra ngày m ột sôi động và phức tạp trở thành một hiện tượng tất yếu Điều

đó đòi hỏi N hà nước phải có một chuấn mực pháp lý đế hướng các quan hệ đầu tư phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc H oạt động đầu tư có tác động m ạnh mẽ tới công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, vì thế QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư là vấn đề m ang tính tất yếu khách quan Cơ chế QLNN càng chặt chẽ, phù hợp thì các hoạt động đầu tư trong nền kinh tế quốc dân càng được phát huy hết tiềm năng, tác dụng Các hoạt động đầu tư cần phải được quy định rõ ràng trong các văn bản phap luật Để đảm bảo cho việc tác động bằng pháp luật của Nhà nước đến các hoạt động đầu tư có hiệu quả, vận động theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì cần phải có phương tiện, biện pháp quản lý cụ thể nhằm thực hiện và áp dụng đúng pháp luật Đây cũng là điều kiện tiên quyết để hoạt động đầu tư được thực hiện bảo đảm lợi ích của xã hội, của N hà nước Cộng hoà XHCN V iệt Nam và của nhà đầu tư trong điều kiện nền kinh tế thị trường và đổi mới quan hệ quốc tế

1.1.2 Bản chất của quản lý nhà nước về đầu tư

B ản chất của N hà nước được thể hiện rõ nét qua những hoạt động, qua các chức năng quản lý xã hội, quản lý kinh tế của n ó Bản chất của quản lý nhà nước về đầu tư là việc Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý, chủ yếu là pháp luật, để điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ thể quản lý là N hà nước và đối

Trang 16

tượng quản lý là nhà đâu tư Đây là môi quan hệ thê hiện tính chât hành chính, rất nhạy cảm trong môi trường đầu tư.

Các quan hệ pháp luật chủ yếu do pháp luật về đầu tư điều chỉnh baogồm:

- Q uan hệ giữa Nhà nước, mà đại diện là các cơ quan có thẩm quyền, với các nhà đầu tư trong việc cho phép đầu tư và quản lý các mặt hoạt động liên quan đến thực hiện dự án đầu tư ở V iệt Nam

- Quan hệ hợp tác, kinh doanh, liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước

- Quan hệ giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước với N hà nước Việt Nam thông qua các cơ quan có thâm quyền trong quá trình hoạt động của dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư

N hư vậy, thực chất của QLNN về đầu tư là quá trình tác động có mục đích của N hà nước đến các chủ thể cua hoạt động đầu tư thông qua hệ thống công cụ mà quan trọng nhất chính là hệ thống các văn bản pháp luật Nói cách khác, QLNN về đầu tư là việc N hà nước sử dụng các công cụ để định hướng, quản lý, tạo môi trường cho hoạt động đầu tư chứ không đơn thuần chỉ là quản lý về mặt hành chính, thủ tục

1.2 MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VẺ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ ĐẦU T Ư TRONG NỀN KINH TÉ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 1.2.1 Mục đích của pháp luật về quản lý nhà nước về đầu tư

Pháp luật về đầu tư là công cụ hữu hiệu nhất của N hà nước trong việc quản lý các hoạt động đầu tư Chức năng QLNN trong lĩnh vực đầu tư có phạm vi rộng, gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần được xác lập như: hoạch định chính sách thu hút đầu tư, xác định các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, các chế độ thuế, tài chính, ngân hàng Toàn bộ quá trình quản

Trang 17

lý hoạt động đầu tư đòi hỏi sự tích cực của N hà nước nhăm tạo ra một cơ chế đồng bộ, thuc đẩy quá trình đầu tư phát triển đúng hướng của nền kinh tế, mang lại hiệu quả thiết thực cho đất nước Do tính chất phức tạp và phạm vi rộng của các quan hệ đầu tư, N hà nước không thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động đầu tư cụ thể mà chỉ thực hiện quản ]ý ở tầm vĩ mô, mang tính chất hành chính - kinh tế Quá trình quản lý hoạt động đầu tư không thể thực hiện nếu không có pháp luật về đầu tư.

Ở nước ta, trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, việc thu hút các nguồn lực đầu tư là vấn đề cấp bách nhằm thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 mà Đại hội Đ ảng IX đã đề ra là biến nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Yêu cầu phát triển kinh tế đất nước trong nhũng năm gần đây đã đặt ra những thách thức đối với Chính phủ

V iệt Nam, đặc biệt khi chúng ta bước vào thời kỳ đổi mới với một trình độ kinh tế còn thấp, kỹ năng quan lý còn nhiều hạn chế Trong bối cảnh đó, một mặt, để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế- xã hội, mặt khác nhằm tạo ra cơ hội đưa đất nước theo kịp đà phát triển kinh tế của khu vực và thế giới, ngay từ khi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VI, Nhà nước đã có chủ trương: cung với việc mở rộng xuất khẩu, tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn, cần vận dụng nhiều hình thức đa dạng đê phát triển kinh

tế Tiếp đó, mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, kêu gọi các nguồn lực đầu tư còn được tiếp tục khẳng định và ngày càng được đẩy m ạnh trong những năm gần đây Nó đã trở thành mục đích cốt lõi của hoạt động QLNN về kinh tế nói chung và Q LNN về đầu tư nói riêng

Trong bối cảnh đó, một môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn là điều hết sức quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư Môi trường đầu tư

là sự tổng họp của rất nhiều yếu tố, trong đó có thể chia thành 2 nhóm chính: nhóm yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan, trong đó, hệ thống chính sách, pháp luật, năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước là những nhân tố chủ

Trang 18

quan, có vai trò quan trọng trong việc tạo nên sức hấp dân của môi trường đâu

tư N hững năm qua, theo nhiều nhà nghiên cứu, nhiều chuyên gia đánh giá, bằng sự nỗ lực của Chính phủ và Nhà nước, môi trường đầu tư ở Việt Nam đã

có sự cải thiện đáng kể Tuy nhiên, với chính sách m ở cửa của chúng ta hiện nay, các quan hệ hợp tác đã được đây mạnh và diễn ra trên nhiều tầng nấc khác nhau: với các nước láng giềng có cùng biên giới; với các nước trong khu vực Đ ông N am Á và mở rộng ra các nước châu Á Thái Binh Dương và tất cả các nước, các trung tâm kinh tế trên thế giới và các tổ chức quốc tế Quá trình đẩy m ạnh thu hút các nguồn lực trong nước được tiến hành dồng thời với quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi khả năng thích ứng cao của các cơ quản QLNN cũng như các doanh nghiêp Đây là một thách thức đòi hỏi phải có sự chuyển biến m ạnh mẽ ở cả tầm quản lý vĩ mô và bộ máy sản xuất kinh doanh ở tầm vi

mô Trong bối cảnh đó, hoạt động đầu tư đòi hỏi phải có m ột môi trường pháp

lý và chính sách quản lý phù hợp với tình hình của đất nước, vừa ngang bằng với điều kiện quốc tế Nói một cách khác, mục đích của Q LNN về đầu tư hiện nay phải hướng tới mục đích tạo ra được m ột “sân chơi” vừa bình đẩng, thống

• nhất, vừa hấp dẫn đối với các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, hòa nhập với quốc tế

1.2.2 Vai trò của pháp luật về quản lý nhà nước về đầu tư

Vai trò của pháp luật về QLNN trong việc thúc đẩy sự phát triển và định hướng cho các hoạt động đầu tư là không thể phủ nhận Nhờ sự thừa nhận cl" -rủi thức của pháp luật mà các quan hệ đầu tư phát sinh và cũng bằng chính pháp luật quy định về hình thức đầu tư, biện pháp đầu tư “hướng” sự phát triển của các quan hệ đầu tư vào những “chỗ” cần thiết Pháp luật QLNN

về đầu tư có vai trò quan trọng, phản ánh mức độ hấp dẫn của môi trương đầu

tư, thu hút các nhà ĐTNN

Trang 19

N hư vậy, có thê thây, vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đâu tư có ý

nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt Điều này, được thể hiện rất rõ nét trong

thực tiễn phát triển của nền kinh tế Việt Nam những năm vừa qua Những

thành tựu của công cuộc đổi mới, nhất là từ khi Nhà nước ta mở cửa, thu hút

vốn đầu tư từ nước ngoài đến nay, đã góp phần quan trọng trong việc nâng

cao tốc độ tăng trưởng kinh tế để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước Đó là chủ trương đúng đắn, cần thiết, phù hợp với xu thế

chung trên thế giới và thực tiễn phát triển ở nước ta N hững kết quả đạt được

trong thời gian qua về thu hút vốn, tiếp nhận công nghệ, học tập kinh nghiệm

quản lý phù hợp với ý đồ và lợi ích lâu dài, phương hướng và cơ cấu kinh

tế của nước ta, đáp ứng được những mục tiêu chủ yếu của việc thực hiện Luật

Đầu tư, tạo dựng được những cơ sở ban đầu quan trọng cho hoạt động đầu tư

trong tình hình mới

N hững kết quả có được là do nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến vai trò

quản lý của N hà nước Có thể nói, QLNN là then chốt, là tiền đề, là điều kiện

để cho các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng được

phát triển Vai trò QLNN đối với hoạt động đầu tư ở nước ta những năm vừa

qua được thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Thông qua các hoạt động QLNN, Nhà nước đã tạo ra môi trưòng chính tri - kinh tế - xã hôi thuân lơi cho hoat đông đầu tư ở Viêt Nam• • • • • • o •

Có thể nói, trong những năm qua, tình hình trong nước và quốc tế có rất

nhiều chuyển biến quan trọng tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế -

xã hội của nước ta, nhất là chủ trương đổi mới toàn diện nền kinh tế và xu

hướng hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam Năm 2007, tình hình chính

trị - xã hội nước ta tiếp tuc ổn định, chính sách đổi mới, thể chế kinh tế thị

trường được hoàn thiện, nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong nhiều năm qua

đã tạo lòng tin cho các nhà đầu tư Thêm vào đó, quan hệ chính trị giữa Việt

Trang 20

Nam và hầu hết các nước đều diễn ra theo chiều hướng tích cực cũng là

những nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến quan hệ kinh tế, đầu tư

Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao hơn

sau khi V iệt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, tổ chức thành công

hội nghị APEC lần thứ 14 và được Quốc hội Hoa kỳ thông qua PNTR vào

năm 2006

- Tạo môi trưòng đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, nâng cao tính cạnh tranh của thị trường

Bằng các công cụ quản lý chủ yếu là hệ thống pháp luật và chính sách,

QLNN đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư ở nước ta trong những năm

vừa qua Trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng lớn và sự cạnh

tranh ngày càng cao giữa các nước trong việc thu hút đầu tư, quốc gia nào có

chính sách đầu tư hấp dẫn, đưa ra được nhiều biện pháp khuyốn khích, hỗ trợ

đầu tư m ột cách hợp lý sẽ là quốc gia dành được nhiều lợi thế trong cuộc đua

giành vốn đầu tư

Trong bối cảnh đó, hầu hết các nước trong khu vực đều đang ra sức sửa

đổi, bổ sung nhiều quy định pháp luật hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài hơn

Ví dụ điển hình phải kể đến Thái Lan N hờ cải thiện tích cực môi trường đầu

tư, thu hút Đ TN N mà nền kinh tế Thái Lan đã nhanh chóng đi vào thế ổn

định Ở V iệt Nam, việc ban hành các văn b n p h jp luật về đầu tư được tiến

hành từ khá sớm và đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho phù hợp với tinh

hình mới N hờ những nỗ lực này mà cho đến nay, môi trường đầu tư ở Việt

N am được các nhà đầu tư đánh giá khá cao so với các nước trong khu vực

Trong m ột báo cáo gần đây của N gân hàng Thế giới ( WB), môi trường đầu tư

ở V iệt Nam đã được đánh giá khá cao, nhất là những thành công trong việc

cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục đầu tư và đưa ra được các biện pháp

đảm bảo và khuyến khích đầu tư klìá hợp lý

Trang 21

Trong bối canh đó, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh của nước ta nhằm cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, tăng cường khả năng cạnh tranh, tạo ra sự bình đăng về mặt pháp lý cho các nhà đầu tư là yếu tố rất quan trọng được cộng đồng quốc tế quan tâm Việc ban hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật

Sở hữu trí tuệ và m ột số đạo luật khác từ năm 2005 đến năm 2007 đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc thể chế hóa nền kinh tế thị trường và đường lối m ở cứa, hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư của Việt Nam

1.3 NỘ I DUNG CỦA PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU

T Ư TR O N G NÈN KINH TÉ THỊ TRƯ Ờ NG Ở VIỆT NAM

1.3.1 Nội dung của việc quản lý nhà nước về đầu tư

Có thể nói, QLNN đổi với hoạt động đầu tư là hoạt động quan trọng, có ảnh hương trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động đầu tư, được thê hiện trên một bình diện rộng, gồm nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, đa dạng và phức tạp Nội dung của quản lý nhà nước về đầu tư bao gồm những vấn đề chủ yếu sau:

- X ây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược và chính sách đầu tư

- Ban hành và tố chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đâu tư

- H ướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư và giai quyết các vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư

- Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư

- H ướng dẫn, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiêm tra, thanh tra và giám sát hoạt động đầu tư; giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư

- Tổ chức xúc tiến đàu tư

Trang 22

Đây là những nội dung quan trọng trong QLNN đổi với đầu tư Đê thực hiện nội dung này, trên cơ sở chiến lược, định hưÓTig phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nền kinh tế, Nhà nước đề ra mục tiêu của hoạt động đầu tư, xác định cơ cấu đầu tư theo ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế và theo thị trường N hà nước khuyến khích đầu tư vào các ngành đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao, quản lý phức tạp và sản phẩm dành nhiều cho xuất khẩu Bên cạnh

đó, N hà nước hướng dẫn, đánh giá hiệu quả đầu tư, thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu tư, giúp cho nhà đầu tư thực hiện các hoạt động đầu tư của m ình đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu

Hệ thống các văn bản pháp luật quy định trực tiếp hoặc có liên quan đến hoạt động đầu tư là công cụ quan trọng nhất để N hà nước quản lý các dự

án đầu tư N hà nước quản lý nền kinh tế ở tầm vĩ mô (bao gồm cả các hoạt động đầu tư) thông qua việc điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật, sử dụng pháp luật để điều tiết, giám sát các hoạt động đầu tư nhằm đảm bảo sự phát triển lâu dài và bền vững của nền kinh tế, giữ vững sự ổn định chính trị, chế độ kinh tế - xã hội và những định hướng phát triển đã lựa chọn

1.3.2 Trách nhiệm của quản lý nhà nưó'c về đầu tư.

Ở nước ta, N hà nước quản lý kinh tế - xã hội theo nguyên tắc tập trung dân chu và nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Trong đó, các cơ quan ở Trung ương có trách nhiệm quản lý những vấn đề then chốt của nền kinh tế quốc dân, còn các cơ quan nhà nước ở địa phương

có nhiệm vụ quản lý kinh tế trong phạm vi địa phương, gắn kinh tế trên địa bàn địa phương với kinh tế chung của từng vùng theo địa giới hành chính

Đối với hoạt động đầu tư, việc quản lý nhà nước cũng được thực hiện trên cơ sở phân cấp quản lý, trong đó, các cơ quan nhà nước ở các cấp khác nhau có những trách nhiệm và thẩm quyền nhất định trong việc quản lý hoạt

Trang 23

động đầu tư Việc phân cấp quan lý nhằm mục đích xác định rõ nội dung và

sự phân công, phân cấp giữa các cơ quan nhà nước, tránh trùng lặp, nhiều khâu, nhiều đầu mối; không gây phiền hà, không buông lỏng, đảm bảo quản

lý chặt chẽ, có hiệu quả

1.3.3 Quản lý đầu tư theo quy hoạch

N hư đã nêu trên, xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phát triển đầu tư là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về đầu tư Các chiến lược phát triển, chương trình quy hoạch thể hiện việc lựa chọn một cách có căn cứ khoa học các mục tiêu dài hạn và cơ bản nhất của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, gắn liền với việc lựa chọn các phương tiện, biện pháp chủ yếu để đạt được mục tiêu đó Chính sách cơ cấu chỉ có thể thực hiện tốt nếu như có một quy hoạch tổng thể tốt Chiến lược chung cân bao quát chiến lược ngành, lĩnh vực và địa bàn thu hút đầu tư, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, gắn với tiến trình hội nhập, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế

Xây dựng quy hoạch đầu tư là một bộ phận hữu cơ trong quy hoạch tổng thể các nguồn lực chung của cả nước, gồm vốn trong nước, vốn ODA, vốn Đ T N N phai gắn với quy hoạch ngành, lãnh thổ, từng sản phẩm chủ yếu

và đặt trong chiến lược chung

Bên cạnh đó, công tác xây dựng quy hoạch ngành, vùng, sản phẩm, dự báo nhu cầu thị trường cũng là những hoạt động quan trọng của quản lý nhà

‘ ‘ ụưĐ*& ĐAI MỌC LŨẬT HÀ NỘI

1.3.4 Theo dõi, đánh giá các hoạt động đầu tư

Sau khi các dự án được cấp phép đầu tư và triển khai hoạt động, Nhà nước không thể buông lỏng quản lý, song cũng không thể can thiệp quá sâu vào hoạt động của nhà đầu tư v ấ n đề đặt ra là N hà nước phải quản lý hoạt động của các dự án như thế nào để vừa có hiệu quả, vừa thúc đẩy hoạt động

Trang 24

đầu tư phát triển, ngăn chặn được những vi phạm có thể xảy ra, đồng thời lại nâng cao hiệu lực của quản lý nhà nước Chính vì vậy, công tác theo dõi, đánh giá các hoạt động đầu tư của N hà nước được đặt ra giúp cho nhà đầu tư thực hiện đúng các cam kết của mình khi tham gia đầu tư.

1.3.5 Thanh tra về hoạt động đầu tư

Thanh tra về hoạt động đầu tư là nội dung hết sức quan trọng của quản

lý nhà nước về đầu tư N hà nước thực hiện chức năng thanh tra đối với hoạt động đầu tư là giúp cho việc thực thi pháp luật về đầu tư của các nhà đầu tư được đúng đắn Thanh tra về hoạt động đầu tư giám sát việc thực hiện góp vốn, thực hiện các qu> định của giấy phép đầu tư và các văn bản pháp luật có liên quan, giám sát thực hiện các quy định về nghĩa vụ tài chính, quan hệ lao động, tiền lương, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và các vấn đề phát sinh cần giải quyết

Đồng thời, việc thanh tra đối với các hoạt động đầu tư còn nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm pháp luật về đầu tư Trong các trường hợp có xảy ra tranh chấp về đầu tư, việc thanh tra sẽ giúp các cơ quan quan lý nhà nước có thẩm quyền xác minh các khiếu nại, tố cáo giúp cho việc giải quyết được công m inh và đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư

1.3.6 Giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về đầu tư

Quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện nói chung là quyền của bất kỳ công dân nào và đã được công nhận bởi Hiến pháp Đối với hoạt động đầu tư, khi

có những tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân với các tổ chức, cá nhân hoặc với cơ quan nhà nước thì đều được giải quyết theo quy định của pháp luật

N hà nước, với chức năng quản lý của mình, thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về đầu tư đúng pháp luật, đảm bảo cho các nhà đầu tư yên tâm đầu tư vốn, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh

Trang 25

1.4 Q UÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIÉN CỦA CHÉ ĐỊNH QUẢN LÝ NHÀ NƯ Ớ C VÈ ĐẦU T Ư Ở VIỆT NAM

V iệc QLNN đối với hoạt động đầu tư ở Việt Nam lần đầu tiên được thể hiện bàng văn bản pháp luật vói sự ra đời của Điều lệ ĐTNN do Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 Đây là văn bản pháp quy đầu tiên của N hà nước quy định các vấn

đề cơ bản về ĐTNN tại Việt Nam với nhũng nội dung chủ yếu sau:

- Q uy định về lĩnh vực đầu tư, đối tác đầu tư

- Q uy định về hình thức đầu tư, thời hạn đầu tư, góp vốn đầu tư

- Quy định về nghĩa vụ thuế áp dụng cho Đ T N N

Với những nội dung trên, Điều lệ ĐTNN (1977) được coi là văn kiện pháp lý đầu tiên hướng vào nền kinh tế thị trường, thể hiện bước đầu quan điểm m ở cửa của Đ ảng và N hà nước Điều lệ khuyến khích ĐTNN vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế, trừ một số ngành nghề bị cấm Điều lệ ĐTNN (1977) chưa quy định chức năng QLNN về đầu tư thành một chế định cụ thể

Đ iều lệ Đ TNN (1977) được xem như là một tín hiệu tích cực được các nhà ĐTNN quan tâm vì đã đưa ra nhiều ưu đãi đối với Đ TNN ở Việt Nam Tuy nhiên, Điều lệ Đ TNN (1977) nói chung vẫn là sự thể chế hoá chính sách quản lý kinh tế thời bao cấp, nên còn thiếu các quy định cụ thể về ngân hàng, quản lý ngoại tệ, đất đai, lao động, sử dụng tài nguyên , do đó, chưa tạo được m ột cơ sở pháp lý đầy đủ, có hiệu lực pháp lý cao và đồng bộ hấp dẫn các nhà Đ IX M M ặt khác, từ năm 1977 đến 1986, do những điều kiện quốc tế

và trong nước như sự cấm vận, bao vây kinh tế của Mỹ, những khó khăn về kinh tế - xã hội của đất nước, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh và thiếu đồng bộ đã làm cho hoạt động ĐTNN không có điều kiện thuận lợi để phát triển

Trang 26

Đại hội lán thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đê ra đường lối đổi mới quản lý kinh tế với nội dung chủ yếu là xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Chính sách ĐTNN đứng trước đòi hỏi phải thay đổi để đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới Đe đáp ứng yêu cầu cùa tình hình mới, ngày 29/12/1987, Quốc hội đã ban hành Luật ĐTNN tại Việt Nam Theo luật Đ TNN (1987), để quy tụ các hoạt động quản lý ĐTNN vào một mối, đồng thời để thống nhất quản lý các hoạt động đầu tư trên phạm vi cả nước,

cơ quan nhà nước quản lý ĐTNN là Uỷ ban N hà nước về hợp tác và đầu tư -

là cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ, chỉ đạo, quản lý thống nhất mọi hình thức ĐTNN tại V iệt Nam

đoạn “vừa học, vừa làm ” của Nhà nước Việt Nam, là giai đoạn thu hút nguồn

Đ TN N vào V iệt Nam , thử nghiệm cơ chế quản lý mới trong lĩnh vực ĐTNN ở nước ta Luật Đ TNN (1987) cũng đã có nhiều quy định thể hiện tính cởi mở cao, hấp dẫn, tạo ra những lợi thế so sánh trong cạnh tranh với các nước trong khu vực Ví dụ: cho phép nhà ĐTNN được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (điều này khac với quy định của một số nước trong khu vực)

C ùng với nhiều quy định thông thoáng về đối tác đầu tư, các ưu tiên về

th u ế Luật Đ TNN (1987) có ý nghĩa như là một công cụ “mở” thực hiện chính sách thu hút Đ TNN vào Việt Nam

N hư vậy, so với Điều lệ ĐTNN (1977), Luật ĐTNN (1987) đã có một bước tiến vượt bậc về nội dung, đặc biệt là các quy định về QLNN đối với đầu tư, thực sự là công cụ quản lý hữu hiệu của N hà nước đối với khu vực kinh tế có vốn ĐTNN, góp phần phát huy các tiềm năng dồi dào của đất nước, tạo cơ sở pháp lý thực hiện chính sách đổi mới quản lý kinh tế và mở rộng họp tác với nước ngoài của Đảng và N hà nước

Trang 27

Tuy nhiên, do ra đời trong khung cảnh pháp luật hiện hành chưa có đầy

đủ các quy định về nền kinh tế thị trường, các quy định pháp lý liên quan đến QLNN về Đ TN N chưa phản ánh hết những quy luật của nền kinh tế thị trường nên chưa đảm bảo yếu tố cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các nhà đầu tư

Để thực hiện yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật

về đầu tư, ngày 30/6/1990, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật ĐTNN năm 1987 Tiếp đó, năm 1992, Luật này lại tiếp tục được sửa đổi và bổ sung một lần nữa Luật ĐTNN năm 1990 và 1992 đã thể hiện một số nguyên tắc chủ yếu của nền kinh tế thị trường, thể hiện sự nỗ lực của N hà nước trong việc quản lý các hoạt động kinh tế theo đúng cơ chế vận động khách quan của nền kinh tế

So với pháp luật về ĐTNN, pháp luật dành cho việc quản lý ĐTTN ra đời m uộn hơn Tuy nhiên, nó đã phản ánh rõ chính sách huy động vốn ĐTTN

và sư dụng hiệu quả các nguồn lực vào việc phát triển kinh tế Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh quan điểm “huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là phát huy tối đa mọi nguồn lực trong nước, nhằm góp phần phát triển kinh tế, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn m irứT[l 1] Đảng và N hà nước ta đã khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển kinh tế Ngày 22/6/1994, Quốc hội đã thông qua Luật khuyến khích ĐTTN Đây là văn bản pháp lý điều chỉnh việc khuyến khích ĐTTN, tạo động lực thúc đẩy các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh

Trôn phương diện QLNN, sự ra đời của Luật Khuyến khích ĐTTN cho thấy m ột bước tiến trong nhận thức của N hà nước về việc tạo ra sự bình đẳng giữa các nhà Đ TTN và nhà đầu tư ngoài nước Tuy nhiên, do môi trường đầu

Trang 28

tư chưa thông thoáng, thủ tục đầu tư còn nhiều khó khăn, phức tạ p nên hiệu quả trên thực tế của Luật Khuyến khích ĐTTN (1994) còn thấp.

Ngày 12/11/1996, Quốc hội thông qua Luật ĐTNN tại Việt Nam trên

cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản Luật ĐTNN (1987), Luật ĐTNN (sửa đổi) năm 1990, Luật ĐTNN (sửa đổi) 1992, tiếp tục tạo môi trường pháp lý hấp dẫn, thể hiện chính sách nhất quán thu hút ĐTNN vào Việt Nam theo chính sách của Đảng và N hà nước ta

Điều 54 Luật ĐTNN (1996) quy định nội dung QLNN về ĐTNN baogồm:

1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách ĐTNN

2 Ban hành các văn bản pháp luật về hoạt động ĐTNN

3 H ướng dẫn các ngành, địa phương thực hiện các hoạt động liênquan tới hợp tác ĐTNN

4 Cấp, thu hồi giấy phép đầu tư

5 Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan nha nước trong việc quản

lý hoạt động ĐTNN

6 K iểm tra, thanh tra và giám sát các hoạt động ĐTNN

So với Luật ĐTNN (1987) thì Luật ĐTNN (1996) quy định rõ hơn thẩm quyền, chức năng và sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan QLNN về ĐTNN với các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh; quy định các biện pháp tăng cường QLNN đối với ĐTNN như giám định, nghiệm thu, quyết toán công trình, đấu thầu, kiểm toán, giao cho Chính phủ quy định việc cấp Giấy phép đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quyết định việc phân cấp cấp Giấy phép đầu tư cho U BN D cấp tỉnh nếu xét thấy có đủ điều kiện; quy định việc cấp Giấy phép đầu tư đổi với các sự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất

Trang 29

Đôi với ĐTTN, đê thúc đây các thành phân kinh tê phát triên sản xuât, đẩy m ạnh xuất khẩu, đổi mới công nghệ, thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng cường hội nhập kinh tế giữa nước ta và các nước trong khu vực và trên thế giới Quốc hội đã thông qua Luật Khuyến khích Đ TTN (sửa đổi) vào ngày 20/5/1998 Ưu điểm của Luật Khuyến khích

Đ TTN (1998) là sự bảo hộ của N hà nước, khuyến khích, đối xử bình đẳng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà ĐTTN N hà ĐTTN có quyền được “bảo lưu” quyền lợi trong các trường hợp có thay đổi về pháp luật không có lợi cho nhà đầu tư

Luật ĐTNN (sửa đổi) năm 2000 và Nghị định sổ 24/2000/NĐ - CP ngày 31/7/2000 của Chính phu quy định chi tiết thi thành Luật ĐTNN tại Việt Nam, đã quy định rõ hơn về hoạt động QLNN đối với ĐTNN, cụ thể là: quy định rõ trách nhiệm và thẩm quyền QLNN của các Bộ, ngành, địa phương; cơ chế phối hợp, báo cáo giữa các cơ quan cấp Giấy phép đầu tư với nhau và với các Bộ, ngành trong việc thực hiện chức năng QLNN đối với ĐTNN

Luật ĐTNN (sưa đổi) năm 2000 là một bước tiến quan trọng của nhận thức về QLNN đối với ĐTNN Đạo luật này có các quy định mới như giảm bớt các vấn đề được quyết định theo nguyên tắc nhất trí trong Hội đồng quản trị, trừ việc bổ nhiệm Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc thứ nhất và sửa đổi,

bổ sung Điều lệ doanh nghiệp (Điều 14); cho phép các doanh nghiệp có vốn

Đ TN N, các bên tham gia hợp đồng hợp tác liên doanh trong quá trình hoạt động được phép chuyển đổi hình thức đầu tư, chia, tách, sát nhập, hợp nhất doanh n g h iệp (Điều 19a); cho phép các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được mua ngoại tệ tại ngân hàng thương m ạ i Chính phủ bảo đảm hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng và một số dự án quan trọng khác (Điều 33); các bên trong liên doanh có quyền chuyển nhượng giá trị phần vốn của

m ìn h nhưng phải ưu tiên cho các bên trong doanh nghiệp (Điêu 34); các

Trang 30

doanh nghiệp sau khi đã làm nghĩa vụ thuế với N hà nước mà bị lồ thì được chuyển lỗ sang năm sau (Điều 40); doanh nghiệp có vốn ĐTNN được thế chấp tài sản gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất khi vay vốn tín dụng (Điều 46) và các quy định việc thanh tra khá rõ ràng như: việc thanh tra thưòng niên không quá m ột lần trong một năm đối với các doanh nghiệp; thanh tra bất thường chỉ được thực hiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật (Điều 64) Luật Đ TN N (sửa đổi) năm 2000 đã thực sự tạo ra sự thông thoáng, hấp dẫn đối với các nhà ĐTNN.

Trong bối cảnh cua việc mở rộng hội nhập quốc tế và tăng cường thu hút các nguồn lực nhằm đẩy mạnh việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong những năm qua, hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư của

V iệt N am đã góp phần điều chỉnh khá toàn diện hoạt động đầu tư trong và ngoài nước So với pháp luật hiện hành về đầu tư, nhất là ĐTNN, pháp luật của V iệt Nam được đánh giá là khá thỏng thoáng, cởi mở và có tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư

Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng cương hội nhập kinh tế khu vực và thế giới m à trực tiếp nhất là thực hiện các thoả thuận trong Hiệp định đầu tư khu vực ASEA N, H iệp định thương mại Việt N am - Hoa Kỳ, pháp luật về đầu tư

ở V iệt Nam đã bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục Sự chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nói chung chính là trở ngại lớn nhất cho các nhà đầu tư tại Việt Nam

Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu về việc phải không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý về đầu tư Trong nhiều nỗ lực nhằm cải thiện môi trường đầu

tư của V iệt N am thời gian qua, tâm điổm phải kể đến việc Quốc hội thông qua Luật Đầu tư ngày 29/11/2005 Việc ban hành Luật Đầu tư (2005) là một bước tiến lớn trong sự phát triển của pháp luật đầu tư hướng vào việc tạo cơ sỏ'

Trang 31

pháp lý bình đẳng, thống nhất trong khuyến khích và đảm bảo đầu tư trong và ngoài nước.

Trong Luật Đầu tư (2005), chế định QLNN về đầu tư được quy định rất

rõ ràng và cụ thể So với các các văn bản pháp luật về đầu tư trước đây, có thể nói đây là đạo luật có những quy định chi tiết nhất về nội dung, trách nhiệm của QLNN về đầu tư

1.5 KINH N G H IỆM CỦA MỘT SÓ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ NHÀ

N Ư Ớ C Đ Ố I VỚI Đ ẦU T Ư

V iệt Nam là một trong những nước trong khu vực ban hành Luật Đầu

tư muộn Do đó, việc tham khảo kinh nghiệm của m ột số nước có điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, lịch sử tương đồng với Việt Nam trong lĩnh vực đầu

tư là việc cần thiết trong quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật

về đầu tư của mình

1.5.1 Kinh nghiệm của Thái Lan trong quản lý nhà nước về đầu tư

Thái Lan là m ột trong những nước có nhiều điểm tương đồng với Việt

N am về điều kiện tự nhiên, xã hội, dân số phần lớn sống ở nông thôn và về trình độ phát triển kinh tế

Tuy vậy, những năm gần đây, nền kinh tế Thái Lan đã có sự phát triển vượt bậc, trở thành m ột trong những ngôi sao trong khu vực Đông Nam Á Đí đạt được điều đó Chính phủ Thái Lan đã khéo léo kết hợp chính sách của từng thời kỳ phù họp với mục tiêu của từng dự án đầu tư Thái Lan duy trì chính sách thương mại tự do, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài và không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sau khủng hoảng tài chính (1997), Thái Lan đã điều chỉnh chính sách trong việc thu hứt đầu tư Năm 1999, Luật Kinh doanh nước ngoài mới được ban hành thay thế cho Luật năm 1972 Luật Kinh doanh nước ngoài mới có hiệu lực từ năm 2000 Bên cạnh đó còn có các luật điều chỉnh các

Trang 32

quan hệ về đất đai và các hoạt động chuyên ngành, như luật vê ngân hàng, tài chính và vận tải đường th u ỷ

Đe thực hiện chiến lược thu hút đầu tư trên đây, Thái Lan đã thành lập CO' quan chuyên trách v ề đầu tư (Hội đồng đầu tư) của Chính phủ do Thủ tưởng đứng đầu, có trách nhiệm thúc đẩy việc thực thi Bộ luật Khuyến khích đầu tư và định hướng chính sách tổng thế phù họp với nội dung của chiến lược thu hút đầu tư v ề quản lý ngoại tệ, ngân hàng Thái Lan giao cho các ngân hàng thương mại có thẩm quyền xem xét, giải quyết các thanh toán bằng ngoại tệ Phần lớn các giao dịch thương mại, bao gồm cả việc mua bán ngoại

tệ đều được phép nhanh chóng [3]

1.5.2 Kinh nghiệm của Malaysia trong quản lý nhà nước về đầu tư

Tại M alaysia, Luật Khuyến khích ĐTTN được ban hành năm 1986, bên cạnh đó còn có các Luật như Luật Thuế Thu nhập (1967), Luật Hải quan (1967), Luật Thuế hàng hoá (1972), Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt (1976), Luật Các khu tự do (1990) Các Luật này quy định các hoạt động đầu tư trong các lĩnh vực: sản xuất, nông nghiệp, du lịch (bao gồm cả khách sạn), dịch vụ, nghièn cứu phát triển, giáo dục đào tạo và bảo vệ môi trường Theo đó, Nhà nước áp dụng ưu đãi đầu tư đối với m ột số ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao; đầu tư vào các địa bàn có điều kiện khó khăn; sử dụng nhiều lao động; hoạt động nghiên cứu và phát triển; tái đầu tư Các biện pháp khuyến khích đầu tư chủ yếu là miễn thuế nhập khẩu, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt

M alaysia cũng quy định chế độ khuyến khích và ưu đãi cho từng lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Ngoài các ưu đãi cơ bản như trên, doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất còn được hưởng một số

ưu đãi đặc thù theo ngành như: (i) Ưu đãi dành cho việc chuyển các hoạt động sản xuất vào địa bàn ưu đãi đầu tư; (ii) Ưu đãi dành cho doanh nghiệp công

Trang 33

nghệ cao; (iii) ư u đãi dành cho các dự án chiến lược có tầm quan trọng quốc gia; (iv) Ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; (v) Ưu đãi đối vói các dự án có tính chất liên kết công nghiệp; (vi) Ưu đãi cho công nghiệp sản xuất máy móc

và thiết bị; (vi) Ưu đãi dành cho công nghiệp chế biến vùng cọ nguyên liệu Ngoài ra, còn có m ột số ưu đãi khác dành cho lĩnh vực sản xuất như hỗ trợ tái đầu tư, hỗ trợ mua sắm trang thiết bị để duy trì chất lượng nguồn điện (nhằm giảm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp do sự cố mất điện gây ra)

Đe thu hút dòng vốn đầu tư trong thời gian tới, Chính phủ M alaysia vừa công bố dự án lớn với tên gọi là Hành lang kinh tế miền Bắc hướng tới tầm nhìn 2020 Dự án với số vốn đầu tư ban đầu 177 tỷ ringhit (51,2 tỷ USD) nhằm mục đích trong vòng 18 năm biến một vùng đất thuần nông thành một hành lang kinh tế với các lĩnh vực sinh học, chế biến thực phẩm và du lịch

Dự án Hành lang kinh tế miền Bắc là biến bốn bang nằm giáp Thái-lan gồm Penang, Perak, Pelit và Keda thành m ột khu vực kinh tế đa năng Bốn bang này có số dân khoang 4,3 triệu người, chủ yếu là người Mã-lai có thu nhập bình quân 717 U SD/hộ gia đình, được coi là thấp nhất trong sáu khu vực của

cả nước H iện nay, vốn đàu tư cho khu vực chế tạo được huy động vào khu vực này chỉ chiếm 20% tổng vốn đầu tư của cả quốc gia

H ướng tới tầm nhìn 2020, những dự án phát triển của M alaysia tiếp tục hấp dẫn các nhà đầu tư Các lợi thế trong việc thu hút vốn đầu tư của

M alaysia chủ yếu tập trung vào: xây dựng hệ thống chính trị ổn định và đoàn kết dân tộc; hệ thống giáo dục vững mạnh; hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại; có

kế hoạch phát triển kinh tế ngắn hạn và dài hạn với mục tiêu rõ ràng; và có chương trình khuyến khích đầu tư tích cực cho cả người đầu tư trong và ngoài nước

Nhìn chung, các quy định pháp luật của M alaysia luôn được điều chỉnh

để đảm bảo lợi thế môi trường đầu tư so với các nước trong khu vực Chính

Trang 34

phủ M alaysia cũng có những chính sách thu hút đầu tư thống nhất dành cho

cả nhà Đ TN N và ĐTTN, tạo ra sự bình đẳng và mang tính cạnh tranh cao cho các nhà đầu tư

1.5.3 Kinh nghiệm của Cộng hoà Singapore trong quản lý nhà nước về đầu tư

Là một quốc gia nhỏ bé với diện tích xấp xỉ 650 km3 nhưng Singapore

đã đạt được những thành tựu đầy ấn tượng về phát triển kinh tế Điều đó một phần là do quốc gia này đã xây dựng được m ột khung pháp luật về đầu tư được đánh giá là thông thoáng nhất trên thế giới Singapore khuyến khích ĐTNN, nhất là đối với những dự án đầu tư vào các ngành công nghiệp mũi nhọn với mục tiêu cải tạo cơ sở công nghệ trong nước và nâng cao hơn nữa chất lượng nhân công Singapore không giới hạn liên kết giữa các công ty của các nước khác nhau, trái lại, nước này công nhận và khuyến khích sự phát triển của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Singapore

C ơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu tư là I lội đồng Phát triển kinh tế Singapore (EDB) được thành lập từ năm 1961 trực thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore Hội đồng này hoạt động theo cơ chế

“m ột cửa” cho hoạt động đầu tư, chịu trách nhiệm cung cấp thông tin, hỗ trợ thuê đất, cơ sở hoạt động và lao động có tay nghề cho nhà đầu tư Cơ cấu của EDB được chia thành các bộ phận dịch vụ và bộ phận quản lý chuyên ngành hẹp

Đ iểm khác biệt của pháp luật đầu tư tại Singapore là nước này không

có m ột đạo luật đầu tư riêng để điều chỉnh các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài m à các quan hệ ĐTNN được điều chỉnh trong cùng một hệ thống pháp luật kinh doanh với các quan hệ ĐTTN Điều này chứng tỏ Singapore không chủ trương phân biệt giữa ĐTTN và ĐTNN, thể hiện sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư

Trang 35

Singapore là m ột trong những nước đi đầu và thành công trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế đất nước

Hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về đầu tư nói riêng là rất phát triển

và khá hoàn thiện, có hiệu quả cao trong việc thu hút vốn đầu tư Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư được thiết lập và hoạt động rất hiệu quả Chính những điều này tạo nên một Singapore cạnh tranh cao vào bậc nhất trên thế giới

1.5.4 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong quản lý nhà nước về đầu tư

Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách và mở cửa nền kinh tế từ năm

1978 N hững thành tựu mà Trung Quốc thu được là vô cùng to lớn và làm kinh ngạc thế giới

Các đạo luật chủ yếu quy định về ĐTNN tại Trung Quốc là Luật Liên doanh góp vốn giữa Trung Quốc và nước ngoài, Luật Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Luật Liên doanh theo hợp đồng giữa Trung Quốc với nước ngoài, Luật Thuế thư nhập liên quan đến ĐTNN và doanh nghiệp có vốn nước ngoài Đe cụ thể hoá các đạo luật này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Trung Quốc đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành

Trong số các nội dung quan trọng được đề cập đến trong luật pháp về đầu tư của Trung Quốc phải kể đến những quy định cụ thể về chính sách đối với Đ TN N trong nghành công nghiệp được ban hành năm 1995, bao gồm 3 loại danh mục: danh mục các ngành công nghiệp khuyến khích ĐTNN; danh mục các ngành công nghiệp cấm đầu tư; danh mục các ngành công nghiệp hạn chế đầu tư Theo đó, phạm vi các ngành công nghiệp khuyến khích

Đ TN N đã được mở rộng hơn trước M ục đích của việc ban hành các loại danh mục nói trên là nhằm xác định cơ chế và định hướng thu hút ĐTNN vào một

số ngành công nghiệp nhất định, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu

Trang 36

lư trong việc cập nhật thông tin vê chính sách thu hút ĐTNN của Trung Quôc trong tùng thời kỳ.

Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc cũng kịp thời ban hành các chính sách mới hấp dẫn nhằm tăng cường thu hút FDI như: mở cửa cho FDI vào các lĩnh vực nhạy cảm (bưu chính, viễn thông, bảo hiểm, tài ch ín h ); bổ sung, sửa đổi kịp thời các cơ chế, chính sách ưu đãi; giảm nhanh chi phí đầu tư, cải tiến thủ tục hành chính nhằm tạo sự hấp dẫn cho nhà đầu tư; đa dạng hoá các hình thức đầu tư, các đối tác đầu tư

Từ những phân tích trên có thể nhận thấy, hầu hết các nước đều xây dựng cơ quan Q LN N về đầu tư để thực hiện chức năng QLNN nhằm tạo ra môi trường thông thoáng cho các hoạt động đầu tư, các nước đã vận dụng tốt nhiều chính sách và biện pháp Đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong đó là các thể chế pháp luật, tiếp đó là hệ thống các cơ quan dịch vụ tư vấn đầu tư nhằm hỗ trợ và cung cấp những thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư nói chung

Trang 37

CHƯƠNG 2

T H ự C TRẠNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH • « • vực •

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU T Ư Ở VIỆT NAM

2.1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÊ ĐẦU TƯ

N ội dung quản lý nhà nước về đầu tư được quy định tại Điều 80 Luật

đầu tư (2005) và được cụ thế hoá tại Điều 71 Nghị định số 108/2006/CP-NĐ

của Chính phủ (ngày 22 tháng 9 năm 2006) quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành m ột số điều của Luật Đầu tư Các nội dung cơ bản của quản lý nhà nước

về đầu tư bao gồm:

* X â y dụng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kể hoạch, chỉnh sách về đầu tư p h á t triển

N hà nước xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội cho cả nền kinh tế, trong đó có quy hoạch, kế hoạch cho khu vực có

huy dộng vốn đầu tư N hà nước xác định rõ địa bàn, lĩnh vực, ngành nghề

khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư để nhà đầu tư quyết định phương án đầu tư

của m ình sao cho an toàn và đạt hiệu quả cao nhất

Song song với việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, Nhà

nước còn xây dựng chính sách thu hút vốn đầu tư Ở đây, Nhà nước ta từng

bước đảm bảo cho hệ thống chính sách được mềm dẻo, hấp dẫn, đồng bộ và

ổn định trong việc khuyến khích đầu tư N hà nước xây dựng chính sách

thương mại ngày càng thông thoáng theo xu hướng tự do hoá để đảm bảo khả

năng xuất, nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, sản phẩm Đồng

thời, hàng loạt các chính sách khuyến khích đầu tư cũng được soạn thảo và

ban hành trong nhiều lĩnh vực khác nhau như chính sách ưu đãi thuế, tiền thuê

đất, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, chính sách tiền tệ, thu nhập, chính sách hỗ trợ

phát triển nguồn nhân lực, đào tạo tay n g h ề

Trang 38

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 được xác định tại Đại hội IX của Đảng với các mục tiêu: “Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000 Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế; đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu Ôn định kinh

tế v ĩ mô; cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh và tăng dự trữ ngoại tệ; bội chi ngân sách, lạm phát, nợ nước ngoài được kiểm soát trong giới hạn an toàn

và tác động tích cực đến tăng trưởng Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP N hịp độ xuất khẩu tăng gấp trên 2 lần nhịp độ tăng GDP Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 16 - 17%, công nghiệp 40 - 41%, dịch vụ 42 - 43% Tỷ lệ lao động nòng nghiệp còn khoảng 50% ” [8]

V iệc thực hiện những mục tiêu kể trên đòi hỏi chúng ta phải huy động được những nguồn lực cả trong và ngoài nước Tức là phải xây dựng được

m ột chiến lược đầu tư phù hợp Chiến lược thu hút đầu tư của Việt Nam đã được xác định với nhiệm vụ cụ thể nhằm kết hợp hài hòa việc phát huy nội lực với khai thác, sử dụng các nguồn lực bên ngoài để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Chiến lược đầu tư được coi là một

bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Chiến lược đầu tư cũng chính là cơ sở để xây dựng các quy hoạch, kế hoạch thu hút vốn đầu tư theo ngành, lĩnh vực kinh tế và vùng lãnh thổ nhằm tạo điều kiện, phấn đấu động viên cao nhất mọi nguồn lực trong nước, phát huy tối đa nội lực, khuyến khích kinh tế tư nhân, đồng thời khuyến khích Đ TN N nhằm bổ sung nguồn vốn, thu hút kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả kinh tế, tạo nhiều việc làm và có sức tăng trưởng bình quân cao hơn hiện nay

Cho đến nay, ở Việt Nam đã hình thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh những quan điểm chỉ đạo chính sách đầu tư qua thực tiễn đổi mới Ý nghĩa quan trọng của những quan điểm này thể hiện ở chỗ chúng đưa ra

Trang 39

những cơ sở, căn cứ khoa học và thực tiên đê xác lập trật tự ưu tiên đâu tư cho phù hợp với giai đoạn hiện tại, đảm bảo đầu tư đúng hướng và có tác động thực sự tới tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội v ề cơ bản, chính sách đầu

tư của V iệt N am được thực hiện theo những quan điểm chỉ đạo sau đây: “Mọi công dân có quyền tự do đầu tư, kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn mà pháp luật không cấm; có quyền bất khả xâm phạm về quyền

sở hữu tài sản họp pháp; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội và các nguồn lực phát triển, trong cung cấp và tiếp nhận thông tin Việc hình thành và phát triển một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam lớn

m ạnh, có sức cạnh tranh cao, có uy tín lớn là một nhiệm vụ chiến lược của

N hà nước và toàn xã hội

N hà nước định hướng, tạo môi trường để các doanh nghiệp phát triển

v à hoạt động có hiệu quả theo cơ chế thị trường Hỗ trợ sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Xây dựng một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn, đa sở hữu, tạo sức mạnh cho đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tể Thu hút ngày càng nhiều tập đoàn kinh tế lớn của các nước đến đầu tư, kinh doanh tại Việt

N am ” [7]

X uất phát từ mục tiêu của chiến lược phát triên kinh tế - xã hội đã được

Đ ảng và Chính phủ xác định, chính sách đầu tư của nước ta có tác dụng hướng các nhà đầu tư, các dự án đầu tư vào đúng trọng điêm bằng việc đưa ra danh mục các địa bàn và lĩnh vực ưu đãi đầu tư Bên cạnh việc xác định các địa bàn, lĩnh vực trọng điểm thu hút vốn đầu tư, Luật Đầu tư còn thể hiện các quy định cụ thể về chinh sách đầu tư của Việt Nam, đặc biệt là các chính sách đảm bảo và ưu đãi đầu tư nhằm tạo nên sức hấp dẫn cho môi trưòng đầu tư

N ội dung chính của các biện pháp, quy định liên quan đến bảo đảm đầu

tư theo quy định của pháp luật V iệt Nam bao gồm:

- Bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của nhà đầu tư

Trang 40

- Bảo đảm đôi xử bình đăng giữa các nhà đâu tư.

- Bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động đầu tư

- Bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp khác của nhà đầu tư ra nước ngoài

- Bảo đảm quyền lợi của các nhà đầu tư khi có thay đổi về chính sách, pháp luật

- N hững biện pháp bảo đảm đàu tư khác: bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; bảo đam lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam

Ngoài ra, bằng các biện pháp bảo đảm cụ thể, nhà nước Việt Nam dã dành cho các nhà đầu tư, không phân biệt quốc tịch, các dự án đàu tư không phân biệt nguồn vốn một quyền rất quan trọng trong kinh doanh - đó chính là quyền tự do kinh doanh Quyền tự do kinh doanh là m ột quyền quan trọng đối với các nhà đầu tư, đây chính là một trong nhũng tiêu chí cơ bản để các nhà đầu tư quyết định lựa chọn nước tiếp nhận đầu tư Các quy định tại Điều 8 Luật Đ ầu tư (2005) đã thể hiện rõ nét sự đảm bảo này t»i phía nhà nước Việt Nam

N hận thức rõ vai trò của hoạt động đầu tư đối với sự phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước cho nên ngay từ những văn bản pháp lý đầu tiên về đầu

tư, V iệt N am đã có những quy định về khuyến khích đầu tư Hiến pháp (1992) của V iệt Nam đã có nhiều quy định liên quan đến việc N hà nước khuvến khích hoạt động đầu tư vốn vào nền kinh tế, không phân biệt vốn trong nước

và nước ngoài Đối với đầu tư trong nước, Hiến pháp (1992) công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế Đây chính là nền tảng để các hoạt động đầu

tư vốn trong nước có cơ sở để phát triển Điều 19, 20, 21 của Hiến pháp (1992) khẳng định vai trò của từng thành phần kinh tế Việt Nam, đặc biệt,

Ngày đăng: 16/02/2021, 15:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w