1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định pháp luật về tổng công ty nhà nước và thực tiễn thi hành tại tổng công ty quản lý bay việt nam

92 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 12,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba,tổng công ty được tổ chức dưới hình thức TCTNN hoặc tổng công ty tư nhân, trong đó: TCTNN là nhóm công ty được tổ chức dưới hình thức mô hình công ty mẹ - công ty con và các hình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

NGUYỄN THỊ LOAN

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỔNG CÔNG TY QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

NGUYỄN THỊ LOAN

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỔNG CÔNG TY QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Dung

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trọng Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và thông tin nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Loan

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn 3

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5

7 Bố cục của luận văn 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm của tổng công ty và tổng công ty nhà nước 6

1.1.1 Khái niệm tổng công ty 6

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tổng công ty nhà nước 8

1.2 Lịch sử hình thành tổng công ty nhà nước ở Việt Nam và Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 15

1.2.1 Lịch sử hình thành, phát triển tổng công ty nhà nước ở Việt Nam 15

1.2.2 Các con đường hình thành tổng công ty nhà nước 18

1.2.3 Khái quát sự hình thành Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 19

1.3 Vai trò của tổng công ty nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 22

1.3.1 Mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước: 23

1.3.2 Đầu tư, phát triển một số ngành trọng điểm 24 1.3.3 Bảo vệ sản xuất trong nước, cạnh tranh với các công ty đa quốc gia 25

Trang 6

1.3.4 Khắc phục hạn chế vốn của các công ty riêng lẻ 25

1.3.5.Điều tiết vĩ mô, bình ổn thị trường, bình ổn nền kinh tế 26

1.3.6 Ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại và phát huy ưu thế về kỹ thuật tiến bộ, đầu tư vào công nghiệp quốc phòng, những lĩnh vực đóng vai trò lớn đối với an ninh quốc gia 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM 28

2.1 Quy định về công ty mẹ và công ty con trong tổng công ty 28

2.1.1 Quy định nhận diện công ty mẹ, công ty con 28

2.1.2 Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các doanh nghiệp trong tổng công ty nhà nước 31

2.2 Quy định về thành lập, tổ chức lại tổng công ty nhà nước 35

2.2.1 Quy định về thành lập tổng công ty nhà nước 35

2.2.2 Quy định về tổ chức lại tổng công ty nhà nước 38

2.3 Quy định pháp luật về quản lý, điều hành tổng công ty nhà nước 42

2.3.1 Nguyên tắc quản lý, điều hành tổng công ty nhà nước: 42

2.3.2 Quản lý điều hành tổng công ty nhà nước: 43

2.3.3 Thẩm quyền quản lý điều hành của công ty mẹ 43

2.4 Quan hệ giữa tổng công ty nhà nước với Bộ, Ngành trực thuộc Chính phủ 46

2.4.1.Mối quan hệ với Bộ, Ngành trực thuộc Chính phủ 46

2.4.2.Một số nhận xét 47

2.5 Quy định pháp luật về giám sát trong tổng công ty nhà nước 48

2.5.1 Chủ thể giám sát 48

2.5.2 Phương thức giám sát, nội dung giám sát và kết quả giám sát 50

2.6 Thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 52

Trang 7

2.6.1 Con đường hình thành Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 52

2.6.2 Cơ cấu, tổ chức, hình thức pháp lý của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 53

2.6.3 Công tác quản lý, điều hành trong Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 54

2.6.4 Mối quan hệ giữa Hội đồng thành viên và Tổng giám đốc 55

2.6.5 Mối quan hệ với các Bộ, Ngành trực thuộc Chính phủ 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC 59

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về tổng công ty nhà nước 59

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về tổng công ty nhà nước 60

3.2.1 Kịp thời thể chế hóa Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X “Tách bạch vai trò Nhà nước với tư cách là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế - xã hội với vai trò chủ sở hữu tài sản vốn của Nhà nước” 60

3.2.2 Hoàn thiện quy định phân biệt tập đoàn và tổng công ty nhà nước 61

3.2.3.Đề nghị sửa đổi Nghị định 69/2014/NĐ-CP theo hướng công ty mẹ trong tổng công ty nhà nước là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước để phù hợp với với Luật Doanh nghiệp năm 2014 và phù hợp với bối cảnh kinh tế của Việt Nam hiện nay 62

3.2.4 Đề nghị xây dựng cơ chế bắt buộc thi tuyển chức danh Chủ tịch HĐTV, Tổng giám đốc các tổng công ty nhà nước 64

3.2.5 Bổ sung quy định về quy trình chia, tách, sáp nhập, giải thể, bán, chuyển đổi doah nghiệp nhà nước thành công ty TNHH hai thành viên trở lên và chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp 64

Trang 8

3.2.6 Đề nghị bổ sung quy phạm quy định về nguyên tắc hợp nhất, sáp nhập vào Luật Doanh nghiệp năm 2014 65 3.2.7 Một số kiến nghị đối với Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 65

KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” các tổng công ty đã được cơ cấu lại, đổi mới, phát triển, phần nào đã nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp của các tổng công ty nhà nước qua các thời kỳ còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư Cơ chế quản lý, điều hành doanh nghiệp tổng công ty nhà nước chậm đổi mới, kém hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế quốc tế

Mặt khác, sau khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, các tổng công ty nhà nước sẽ phải đối mặt với môi trường cạnh tranh, bình đẳng với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới, đặc biệt là sau khi gia nhập

tổ chức thương mại quốc tế WTO và bắt đầu với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Vậy chủ sở hữu nhà nước cần phải làm gì để các tổng công ty có thể đứng vững và làm tốt vai trò lực lượng nòng cốt của kinh

tế nước nhà, dẫn dắt nền kinh tế nước nhà dẫn dắt tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế?

Trước yêu cầu của thực tiễn, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, tổng công ty nhà nước Đây là những đạo luật đánh dấu sự quyết tâm cải cách pháp luật đối với doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và tổng công ty nhà nước, những thay đổi mang tính đột phá, tạo tiền đề cho doanh nghiệp có

đủ quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp năm 2013 Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn còn tồn tại một số ít yếu tố chưa đảm bảo tính khoa học, chưa

Trang 10

thực sự khách quan, chưa công khai, minh bạch trong quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổng công ty nhà nước

Chính vì những lý do trên nên tác giả chọn đề tài “Quy định pháp luật

về tổng công ty nhà nước và thực tiễn thi hành tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này, trong số đó đáng quan tâm nhất là các công trình sau đây:

“Một số vấn đề về địa vị pháp lý của tổng công ty nhà nước theo pháp luật hiện hành” của tác giả Phạm Minh Châu, Luận văn thạc sĩ luật học năm

1997, Trường Đại học Luật Hà Nội;“Hoàn thiện pháp luật về tổng công ty nhà nước ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa, Luận văn thạc

sĩ luật học năm 1999, Trường Đại học Luật Hà Nội;“Địa vị pháp lý của tổng công ty nhà nước” của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan Luận văn thạc sĩ luật học năm 2003, Trường Đại học Luật Hà Nội Các nghiên cứu trên mới chỉ ra địa vị pháp lý của tổng công ty nhà nước, mối quan hệ giữa tổng công ty nhà nước với đơn vị thành viên các quy chế pháp lý nội bộ trong tổng công ty nhà nước

“Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam” của tác giả

Vũ Phương Đông Luận án tiến sĩ luật học năm 2016, Trường Đại học Luật

Hà Nội Luận án đã làm rõ một số vấn đề liên quan đến tổng công ty nhà nước

“Hướng dẫn môn học Luật Thương mại” tập 1của Bộ môn Thương mại – Trường Đại học Luật Hà Nội doTiến sĩ Nguyễn Thị Dung (Chủ biên) (năm 2014), Nhà xuất bản Lao động Sách hướng dẫn nêu trên đã đề cập đến nội dung tổng công ty nhà nước trong Chương Nhóm công ty

Trang 11

Viện Khoa học tổ chức nhà nước, “Đề xuất mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước”, tại địa chỉ:http://isos.gov.vn/NewsDetail/tabid/ 179/ArticleId/671/language/en-US/Default.aspx;

Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại ở Việt Nam chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về tổng công ty nhà nước theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2014; Luật Quản lý,

sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành

Qua tìm hiểu, độc giả có thể nhận thấy những công trình khoa học chỉ

để cập đến một khía cạnh nhỏ của vấn đề tổng công ty nhà nước như: địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ tổng công ty nhà nước, vai trò của doanh nghiệp nhà nước và một số vấn đề liên quan đến tổng công ty nhà nước …không phải công trình nghiên cứu khoa học toàn diện về vấn đề này Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu toàn diện dưới góc độ lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật

về tổng công ty nhà nước tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam Vì vậy, cầntiếp tục nghiên cứu để tìm ra cơ chế pháp lý để vận dụng vào quá trình quản lý hoạt động các tổng công ty nhà nước đang là điều hết sức cần thiết

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu và làm rõ các quy định pháp luật về tổng công ty nhà nước; thực tiễn áp dụng quy định pháp luật trong công tác tổ chức, quản lý, điều hành tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Pháp luật điều chỉnh tổng công ty nhà nước có nội dung rộng, trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành về tổng công ty nhà nước gồm các nội dung: Nhận diện tổ chức, việc thành lập và tổ chức lại, công tác quản

lý điều hành, mối quan hệ và công tác giám sát các tổng công ty nhà nước

Trang 12

Bên cạnh đó, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật trên tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, từ đó phát hiện những hạn chế trong thực tiễn thi hành và đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế đó

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu đề tài trên đây nhằm mục đích làm sáng tỏ các cơ sở lý luận, thực tiễn của pháp luật về tổng công ty nhà nước Từ đó áp dụng vào thực tiễn hoạt động của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, đồng thời tìm kiếm các giải pháp để từng bước hoàn thiện pháp luật về tổng công ty nhà nước

Thực hiện mục tiêu trên, tác giả luận văn đặt ra cho mình các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Phân tích và làm sáng rõ những vấn đề lý luận về quản lý và hoạt động tổng công ty nhà nước;

- Thực tiễn áp dụng pháp luật tổng công ty nhà nước tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam;

- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tổng công ty nhà nước

5 Phương pháp nghiên cứu

Là một đề tài khoa học xã hội, tác giả sử dụng các phương pháp chính như sau:

Nghiên cứu những vấn đề về lý luận tổng công ty nhà nước, tác giả sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp thu thập thông tin để làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn quá trình hình thành, phát triển tổng công ty nhà nước ở Việt Nam và Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam;

Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành về tổng công ty nhà nước thực tiễn thi hành tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam Với cách tiếp cận này, tác giả đã tìm ra những điểm còn bất cập, mâu thuẫn của Luật Doanh nghiệp năm

2014 với các văn bản pháp luật hiện hành khác

Trang 13

Trên cơ sở những phát hiện bất cập, hạn chế nêu trên, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để kiến nghị hoàn thiện pháp luật pháp luật

về TCTNN, từ đó góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về tổng công

ty nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Ngoài ra trong luận văn còn sử dụng phương pháp tiếp cận từ thực tiễn

để tìm hiểu sự phù hợp giữa quy định của pháp luật hiện hành và đòi hỏi của thực tiễn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về lý luận về tổng công ty nhà nước; trình bày rõ hơn về điều kiện thành lập, tổ chức lại, quản

lý, điều hành tổng công ty nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Luận văn mang đến cho người đọc có thêm hiểu biết về quá trình hình thành và phát triển của TCTNN từ giai đoạn bao cấp sang giai đoạn kinh tế thị trường hội nhập với nền kinh tế thế giới

Từ đó, luận văn đề xuất những nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và việc áp dụng pháp luật tổng công ty nhà nước tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về tổng công ty nhà nước và khái quát

về Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam;

Chương 2 Pháp luật hiện hành về tổng công ty nhà nước và thực tiễn

áp dụng tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam;

Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tổng công ty nhà nước

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm tổng công ty và tổng công ty nhà nước

1.1.1 Khái niệm tổng công ty

Tổng công ty là một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, ở Việt Nam, khái niệm tổng công ty ra đời vào khoảng những năm cuối thế kỷ XX Cùng với thời gian, mô hình tổng công ty có nhiều sự thay đổi về cơ cấu, tổ chức, nguồn vốn đầu tư, chủ thể đầu tư, lĩnh vực hoạt động … như sau:

Dướigóc độ ngôn ngữ học:

Theo Từ điển tiếng Việt “Tổng công ty là một tổ chức kinh doanh gồm nhiều công ty trong cùng một ngành kinh tế”1 Như vậy, tổng công ty có thể được hiểu là một đơn vị kinh tế lớn được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết các đơn vị có cùng một nhóm ngành nghề như kinh tế, tài chính, công nghệ thông tin … nhằm tăng cường tích tụ tập trung, phân công chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất để nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị thành viên

và của tổng công ty, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế

Theo Từ điển Việt- Anh2 và Từ điển Oxford3 thì Tổng công ty được được dịch sang tiếng Anh là “Head offcice” hoặc “Head of Company4” và được hiểu là văn phòng chính và trụ sở chính của nhiều công ty Đây là một khái niệm tương đối đơn giản vì chưa đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định xác định mối quan hệ về vốn và tổ chức của tổng công ty

Dưới góc độ học thuật: Theo quan điểm của các học giả Trung

Quốc5tổng công ty được xác định là một tổ chức kinh tế được hình thành theo

Đại học thương mại, vấn đề địa vị pháp lý của tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, dưới góc độ luật so

sánh, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 2011;

Trang 15

mô hình nhiều cấp liên kết bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác Các doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập nhưng tổng công ty không có tư cách pháp nhân Công ty mẹ là hạt nhân là đầu mối liên kết các thành viên trong tổng công ty Sự liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên thường được sử dụng bằng mối liên kết về chức năng và tài chính Ngoài việc công ty mẹ nắm giữ vốn của các công ty con, mỗi công ty thành viên trong tổng công ty có thể nắm giữ phần vốn củacông ty thành viên khác

Dưới góc độ pháp lý

Theo Khoản 1, Điều 188 Luật Doanh nghiệp số: 68/2014/QH13 ngày

29 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội thìkhái niệm tổng công ty được quy định như sau “Tập đoàn kinh tế, tổng công ty thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác… tổng công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập”

Từ khái niệm đó, chúng ta có thể nhận biết tổng công ty qua các đặc điểm và hình thức nhận dạng như sau:

Thứ nhất, mỗi công ty thành viên trong tổng công ty là một chủ thể với

năng lực pháp lý đầy đủ, nhân danh chính mình thực hiện các quan hệ pháp luật Sự tập hợp của các công ty tạo thành nhóm không hướng đến việc hình thành một tổ chức kinh tế mới tham gia thị trường mà thực hiện quá trình liên kết nhằm tối đa hóa lợi ích của từng công ty kinh doanh độc lập Sự vận hành của nhóm công ty chính là sự vận hành của các công ty thành viên

Thứ hai, tổng công ty hình thành từ sự liên kết nhưng không xuất phát

từ quá trình góp vốn chung, vì vậy nhóm công ty không nhận sự chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn từ các công ty thành viên nên không có tài sản chung Các công ty thành viên thực hiện nghĩa vụ đóng góp tài chính để duy trì hoạt động của bộ máy quản trị nhằm thực hiện các trách nhiệm cần thiết

Trang 16

cho hoạt động chung của tổng công ty.Vì thế, tổng công ty không phải là mộtloại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng

ký thành lập theo quy định của pháp luật

Thứ ba,tổng công ty được tổ chức dưới hình thức TCTNN hoặc tổng

công ty tư nhân, trong đó:

TCTNN là nhóm công ty được tổ chức dưới hình thức mô hình công ty

mẹ - công ty con và các hình thức khác do Bộ quản lý ngành hoặc Ủy ban nhân dân quyết định thành lập thành lập, trong đó công ty mẹ do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc nắm giữ cổ phần chi phối, công ty con là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Bộ quản lý ngành hoặc Ủy ban nhân dân thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Tổng công ty tư nhân là nhóm công ty được tổ chức dưới hình thức dưới hình thức mô hình công ty mẹ - công ty con, trong đó công ty mẹ, công

ty concó thể tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm

hữu hạn theo quy định của luật doanh nghiệp hoặc của pháp luật có liên quan

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tổng công ty nhà nước

1.1.2.1 Khái niệm

Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Bách khoa thì “tổng công ty

nhà nước” được định nghĩa là “một trong các loại hình doanh nghiệp ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”6 Theo định nghĩa này có thể hiểu TCTNN cũng là một tổ chức kinh tế trong hệ thống các thành phần kinh tế của Việt Nam được hoạt động theo Luật DNNN Và TCTNN được ra đời trong công cuộc đối mới toàn diện từ đất nước tại thời điểm Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số Quyết định số 90/TTg về việc tiếp tục sắp xếp DNNN

6

Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2005), Từ điển Bách khoa Việt Nam 4,

Nhà xuất bản từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 491

Trang 17

Dưới góc độ học thuật, theo ý kiến của Trường Đại học Luật Hà nội,

thì: “TCTNN hiện nay được hiểu là hình thức liên kết trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước với các doanh nghiệp khác”7 Theo khái niệm này thì TCTNN được hình thành trên cơ sở sự liên kết, có mối quan hệ gắn bó về hoạt động sản xuất kinh doanh, công nghệ, thị trường để làm tăng hiệu quả kinh tế cho các đơn vị thành viên và tổng công ty

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm TCTNN được ra đời từ năm 1995 và

có nhiều sự thay đổi, phát triển cụ thể như sau:

Theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 43 Luật DNNN số: 39-L/CTN ngày 20 tháng 4 năm 1995 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“1- TCTNN được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết của nhiều đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, nhằm tăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành viên và thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội trong từng thời kỳ

2- TCTNN là tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản và có các quỹ tập trung theo quy định của Chính phủ, được Nhà nước giao quản lý vốn, tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được giao, thực hiện quyền và nghĩa vụ của DNNN như quy định tại Chương II của Luật này.”

Theo Điều 46 Luật DNNN số: 14/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm

2003 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

7

Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật thương mại, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr, 221

Trang 18

“TCTNN là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước với các doanh nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên và toàn tổng công ty.”

Theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định số: 69/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về tập đoàn nhà nước và TCTNN quy định: “Tổng công ty là nhóm công ty, gồm công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên và công ty liên kết”

Các quy định về khái niệm TCTNN qua các văn bản pháp luật trên đây cho thấy:

Thứ nhất, giai đoạn trước năm 2003: Ở giai đoạn này, TCTNN pháp

luật công nhận là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân Đây là sự nhận thức pháp lý sai lầm nghiêm trọng do không phù hợp với nguyên lý kinh

tế và pháp luật dân sự.Bởi, cơ sở để xác định một tổ chức có phải là pháp nhân hay không phải dựa trên quan hệ sở hữu về tài sản hay tư liệu sản xuất

và khả năng tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính mình Nhưngtài sản trong TCTNN thuộc sở hữu các công ty thành viên như công ty mẹ, công ty con Do tổng công ty không có tài sản độc lập, vì thế việc chịu trách nhiệm bằng tài sản của TCTNN được trích từ tài sản của các đơn vị thành viên Quy phạm nêu trên đã thể hiện sự nhận thức thiếu trọn vẹn và không thống nhất giữa các văn bản Luật của nước ta

Thứ hai, giai đoạn năm 2003 đến năm 2005: Ở giai đoạn này, Pháp luật

không thừa nhận TCTNN là tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, mà chỉ ghi nhận TCTNNlà hình thức liên kết giữa các công ty thành viên hạch toán

Trang 19

độc lập có tư cách pháp nhân hoặc giữa công ty nhà nước với các doanh nghiệp khác có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích Việc thừa nhận TCTNN là sự liên kết giữa công ty nhà nước với các doanh nghiệp khác là tiền đề để hình thành TCTNN dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên Đây là một trong những biện pháp Nhà nướctăng cường tiềm lực kinh

tế, tăng khả năng cạnh tranh các TCTNNnhờ sự liên kết đa dạng của các loại hình doanh nghiệp Để quản lý tốt, Nhà nước đã ban hành Luật DNNN 2003 nhằm tạo một sân chơi riêng biệt cho các DNNN và thử nghiệm mô hình mô hình công ty mẹ - công ty con trong TCTNN Tuy nhiên, văn bản luật này đã không tạo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế tại Việt Nam, do vậy việc xây dựng và ban hành một đạo luật để thống nhất điều chỉnh các thành phần kinh tế là một trong những yêu cầu cấp thiết

Thứ ba, giai đoạn 2005 đến nay

Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành Luật doanh nghiệp mới, bãi

bỏ Luật DNNN năm 2003 và thực hiện tổ chức lại các Công ty nhà nước độc lập hoặc TCTNN sang mô hình Tổng ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ công ty con, chấm dứt tình trạng chia cắt pháp luật về doanh nghiệp theo hình thức sở hữu Đồng thời pháp luật khẳng định tổng công ty không phải là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân điều đó được quyết định theo Khoản 1, Điều

188 Luật Doanh nghiệp số: 68/2014/QH13 Theo Khoản 2 Điều 2 Luật Quản

lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số: 69/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội quy định:

“Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm: (i) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty

mẹ của TCTNN, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; (ii)

Trang 20

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.”

Theo Khoản 8 Điều 4 Luật doanh nghiệp số: 68/2014/QH13 quy định:

“DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.”

Từ các khái niệm về TCTNN và DNNN, tác giả xin đưa ra khái niệm rõ

hơn về TCTNN trong giai đoạn hiện nay, cụ thể như sau: “TCTNN là một

nhóm công ty, gồm công ty mẹ, công ty thành viên và công ty liên kết trong đó: Công ty mẹ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” Theo khái niệm này có thể hiểu TCTNN là một nhóm

các công ty được tổ chức theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, trong đó Công ty mẹ được Nhà nước quyết định thành lập, đầu tư 100% vốn, tài sản nhà nước để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh những ngành nghề theo

sự quyết định của Chủ sở hữu Nhà nước

1.1.2.2 Đặc điểmtổng công ty nhà nước

Thứ nhất, Nhà nước chỉ thành lập các tổng công ty nhà nướcđể sản

xuất, kinh doanh những ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân không làm được hoặc không muốn làm hoặc không được làm

Tùy thuộc vào từng thời điểm, Thủ tướng chính phủ sẽ quyết định tỷ lệ nắm giữ vốn nhà nước tại một số ngành lĩnh vực Ví dụ: Tại Quyết định số: 58/2002/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết địnhtiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước và tổng công ty nhà nước Theo quy định đó, Nhà nước nắm giữ 100% vốn 44 ngành, lĩnh vực từ chiếu sáng đường phố đến những ngành nghề có liên quan đến an ninh quốc gia vật liệu nổ Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai thực hiện, đa

số DNNN hoạt động kém hiệu quả, thực hiện đầu tư dàn trải, thua lỗ nặng Do vậy, tại Hội nghị trương ương 3 Khóa XI Đảng ta đã chỉ đạo “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN”và tại Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị Trung ương IV Khóa 12 đã chỉ rõ “Tập trung vào những

Trang 21

ngành, lĩnh vực then chốt”8liên quan đến an ninh quốc gia, huyết mạch, cơ sở của nền kinh tế quốc dân, điều đó được Thủ tướng chính phủ cụ thể hóa bằngQuyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2016 về việc quy định tiêu chí phân loại DNNN, doanh nghiệp có vốn nhà nước và Danh mục DNNN thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 – 2020 Theo quyết định đó, những ngành nghề cung cấp dịch vụ thiết yếu cho xã hội hoặc có ảnh hưởng có tính chất quyết định đến an ninh, quốc phòng hoặc những ngành nghề có sức ảnh hưởng đế các ngành nghề kinh tế, lĩnh vực khác trong nền kinh tế thì phải được giao cho các tập đoàn kinh tế nhà nước hoặc các TCTNN để đảm bảo tính ổn định, trật tự, an toàn nền kinh tế xã hội cũng như an ninh, quốc phòng Hiện nay, chỉ còn có 11 ngành lĩnh vực thuộc Công ty mẹ do Nhà nước nắm giữ 100% gồm: “Đo đạc bản đồ phục vụ quốc phòng, an ninh; Sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp; Truyền tải, điều độ hệ thống điện quốc gia và quản lý lưới điện phân phối; thủy điện đa mục tiêu, điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; Dịch vụ không lưu, dịch vụ thông báo tin tức hàng không, dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn

…”9

Trên cơ sở đó, Chính phủ giao cho Bộ quản lý ngành tiến hành rà soát lại toàn bộ các TCTNN để tiến hành phân loại và công bố rõ ràng mục tiêu của Nhà nước đối với doanh nghiệp, trong đó cần quan tâm đếnhai mục tiêu cơ bản là mưu cầu lợi nhuận (được thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể như tỷ suất lợi nhuận, phân chia lợi nhuận hay chính sách chia cổ tức) và mục tiêu đảm bảo dịch vụ công hoặc lợi ích xã hội Từ đó, các TCTNN mới có thểxác định

rõ ràng sứ mệnh, mục tiêu chiến lược, mục tiêu cụ thể để hướng tớivai trò dẫn dắt phát triển công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh mới cho quốc gia đồng

Trang 22

thời thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong giai đoạn từ năm 2011 đến hết năm 2016, Nhà nước ta đã thực hiện cổ phần hóa 4506 DNNN, trong đó có 01 tập đoàn và 47 TCTNN.10

Thứ hai, vốn của công ty mẹ trong tổng công ty nhà nước luôn thuộc sở

hữu nhà nước

Với tư cách là nhà đầu tư, Nhà nước đã đầu tư, rót vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu

tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng

do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư để thành lập và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh các TCTNN Ngoài ra, nguồn vốn do doanh nghiệp nhà nước huy động

để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng được coi như là nguồn vốn của doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ

Thứ ba,về cơ cấu tổ chức: Kết cấu phổ biến của các TCTNN trong giai

đoạn hiện nay tổ chức theonhóm công ty với mô hình Công ty mẹ - Công ty con được phân làm ba cấp gồm: Công ty mẹ (cấp I); công ty con (cấp II); công ty con của công ty cấp II (cấp III) Trong nhóm công ty này, mỗi công

ty được thành lập và đăng ký theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân độc lập.Công ty mẹ thực hiện kiểm soát hoặc chi phối các công ty con (cấp II) thông qua việc kiểm soát quyền sở hữu vốn cổ phần, vốn góptại doanh nghiệp đó Và cùng với phương thức đó, công ty cấp IIsẽ thực hiện kiểm soát công ty cấp III

Cơ cấu tổ chức công ty mẹ bao gồm: HĐTV/Chủ tịch công ty là cơ quan đại diện trực tiếp của chủ sở hữu nhà nước tại công ty; Tổng giám đốc/giám đốc tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày; Kế toán trưởng tổng công ty, Kiểm soát viên của chủ sở hữu nhà nước; các Phó tổng

10

Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp (2016), Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp đổi mới

DNNN năm 2016 vầ thực hiện NQ số: 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến hết năm 2020

Trang 23

giám đốc và Bộ máy giúp việc công ty mẹ

Cơ cấu tổ chức của Công ty cấp II, Công ty cấp III phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp do Công ty mẹ thành lập

Thẩm quyền quyết định mô hình cơ cấu tổ chức của TCTNN là Thủ tướng chính phủ Thủ tướng chính phủ quyết định mô hình TCTNN thông qua việc phê duyệt đề án thành lập TCTNN hoặc đề án tổng thể sắp xếp đổi mới các TCTNN

Thứ tư, mối quan hệ giữa tổng công ty nhà nước với Bộ, Ngành của

chính phủđược thực hiện theo quy định tại Nghị định số: 99/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 tháng 2012 của Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa cụ của Chủ sở hữu nhà nước; Nghị định 69/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về tập đoàn kinh tế nhà nước và TCTNN; Nghị định số 49/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 5 năm

2014 của Chính phủ về giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với DNNN trong việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu Theo các văn bản này, Chính phủ là cơ quan cao nhất, thống nhất quản lý, thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước đối với các TCTNN Chính phủ thực hiện phân công, phân cấp quyền hạn, trách nhiệm chủ sở hữu nhà nước cho các Bộ quản

lý ngành, Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ lao động thương binh xã hội phù hợp với chức năng của các Bộ

1.2 Lịch sử hình thành tổng công ty nhà nước ở Việt Nam và Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam

1.2.1 Lịch sử hình thành, phát triển tổng công ty nhà nước ở Việt Nam

Ngay từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX ở Việt Nam đã tồn tại những cơ sở kinh tế lớn của Nhà nước có tên gọi là “Liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh”11 Đây là một tổ chức sản xuất kinh doanh bao gồm các xí nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau được liên kết lại một cách bắt buộc

11

Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Thương mại,Nhà xuất bản Công an nhân dân, Tr

220

Trang 24

hoặc tự nguyện theo quyết định hành chính nhà nước nhằm mở rộng hợp tác, phân công sản xuất kinh doanh, tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh

tế cao trong từng xí nghiệp thành viên và toàn liên hiệp

Đến năm 1991, tại Đại hội Đảng lần thứ VII, Đảng ta đã đặt ra nhiệm

vụ sắp xếp lại các liên hiệp các xí nghiệp, phù hợp với yêu cầu mới của thị trường Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Nghị quyết số: 388-HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991để các Bộ, địa phương triển khai thực hiện thành lập, giải thể và phát triển một số công ty hoặc liên hiệp xí nghiệp lớn, có uy tín thành các TCTNN có khả năng hội nhập và cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác trong nước và doanh nghiệp ngoài nước

Đến ngày 07 tháng 3 năm 1994, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số: 90/TTg về việc tiếp tục sắp xếp DNNN theo hướngthành lập và đăng ký lại những DNNNchưa làm trong đợt I Tiến hành kiểm tra, rà soát, phân tích đánh giá hoạt động kinh doanh của DNNN, chấn chỉnh tổ chức quản lý, tiếp tục sắp xếp các DNNN để nâng cao hiệu quả kinh doanh và từng bước tổ chức lại một cách hợp lý các DNNN đang hoạt động cùng ngành nghề trên cùng một điạ bàn theo hướng không phân biệt DNNN do Trung ương hay địa phương quản lý Sắp xếp, thành lập và đăng ký lại các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty Những tổng công ty được xem xét thành lập và đăng ký lại khi

có ít nhất 5 đơn vị thành viên quan hệ với nhau về công nghệ, tài chính, chương trình đầu tư phát triển, dịch vụ về cung ứng, vận chuyển, tiêu thụ, thông tin, đào tạo; toàn tổng công ty có vốn pháp định trên 500 tỷ đồng, đối với một số tổng công ty trong những ngành đặc thù thì vốn pháp định có thể thấp hơn nhưng không được ít hơn 100 tỷ đồng

Giai đoạn từ năm 2002- 2006: Đây là giai đoạn đẩy mạnh chuyển đổi

sở hữu, Luật DNNN năm 2003 thay thế Luật DNNN 1995 đã tạo cơ sở pháp

lý hình thành TCTNN Để đẩy mạnh chuyển đổi sở hữu, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg (ngày 26/4/2002), Quyết định số

Trang 25

155/2004/QĐ-TTg (ngày 24/8/2004) ban hành tiêu chí, danh mục phân loại công ty nhà nước và công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc TCTNN Với

tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có các quyền và nghĩa vụ như các chủ sở hữu khác đầu tư vào doanh nghiệp Theo đó, thu hẹp những ngành, lĩnh vực Nhà nước nắm giữ 100% vốn, nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% vốn điều lệ và quy định những ngành, lĩnh vực đa dạng hóa sở hữu dưới các hình thức cổ phần hóa, giao hoặc bán; quy định phương thức xử lý như sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản đối với những công ty không thuộc lĩnh vực nhà nước nắm giữ 100% vốn, hoạt động thua lỗ kéo dài, không thực hiện được chuyển đổi sở hữu; quy định các điều kiện tồn tại đối với TCTNN và những TCTNN không đáp ứng đủ các điều kiện sẽ được sắp xếp lại theo hướng sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể sau khi sắp xếp lại công ty thànhviên

Từ năm 2007 đến nay: Đây là giai đoạn cải cách DNNN,chủ yếu tập

trung vào hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước, chuyển đổi TCTNN và công ty nhà nước sang mô hình công tymẹ - Công ty con Từ ngày 1/7/2010, toàn bộ các TCTNNphải chuyển thành công ty cổ phần, công ty TNHH hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, chấm dứt tình trạng chia cắt pháp luật về doanh nghiệp theo hình thức sở hữu Đây là sự đổi mới tổ chức quản lý, cơ chế hoạt động, do việc quy định TCTNN không có tư cách pháp nhân Việc tổ chức hoạt động tổng công ty được thực hiện trên mô hình Công ty mẹ - Công ty con, là những thực thể kinh tế độc lập, hoạt động trong cùng một khung pháp

lý với các doanh nghiệpkhác Như vậy, Nhà nước đã trao quyền tự chủ trong kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh cho các chủ thể trực tiếp quản lý vốn nhà nước Đây là bước tiến mới của pháp luật nhằm thúc đẩy các chủ thể kinh tế nhà nước phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đứng vững trong nền thị trường Nhà nước lựa chọn chỉ lựa chọn những công ty hoạt động có hiệu quả, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước để chuyển đổi thành công ty mẹ và tiến hànhhợp nhất, sáp nhập các

Trang 26

công ty nhà nước hoạt động kém hiệu quả

1.2.2 Các con đường hình thành tổng công ty nhà nước

Theo truyền thống các tổng công ty được hình thành trên cơ sở tích tụ, tập trung vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh làm tăng lợi thế doanh nghiệp, tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp Khi đó, sự phát triển nền kinh tế sẽ trở nên vững chắc hơn vì các doanh nghiệp nhỏ, hoạt động thiếu hiệu quả tái cơ cấu bằng nhiều hình thức để hình thành tổng công ty có tiềm lực kinh tế, vật chất, khoa học kỹ thuật Đây cũng là cách thức mà nhiều quốc gia lựa chọn Đối với Việt Nam việc hình thành TCTNN được thực biện bằng các con đường như sau:

Thứ nhất, thành lập tổng công ty nhà nước bằng con đường sáp nhập

hoặc hợp nhất doanh nghiệp, mua lại cổ phần hoặc vốn góp, cụ thể: Nhà nước lựa chọn một công ty nhà nước mạnh làm công ty mẹ và chuyển quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại một số doanh nghệp khác về cho công ty mẹ đó quản lý Qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, làm cho mỗi cá thể doanh nghiệp lớn mạnh hơn, cơ cấu hoạt động tốt hơn, chiến lược phát triển hiệu quả hơn Những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả có cơ hội được vực dậy, những doanh nghiệp mạnh có thêm hướng đi để mở rộng hoạt động, tăng cường ảnh hưởng và vì thế, xét về tổng thể, nguồn đầu tư trong toàn xã hội được sử dụng hiệu quả hơn Ví dụ: Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Quyết định số 238/QĐ-BGTVT hợp nhất ba tổng công ty Cảng hàng không Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam thành Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 250/TTg thành lậpTổng công ty Hàng hải Việt Nam trên cơ sở sắp xếp lại một số doanh nghiệp vận tải biển, bốc xếp và dịch vụ hàng hải do Bộ Giao thông vận tải quản lý

Thứ hai, tổng công ty nhà nước được hình thành bằng hình thức đầu tư,

góp vốn bằng tài sản hữu hình hoặc vô hình.Đây là hình thức Nhà nước thực hiện tham gia góp vốn với các thành phần kinh tế khác để hình thành các

Trang 27

TCTNN trên cơ sở tích lũy vốn của nhiều thành phần kinh tế Trong đó, Nhà nước nắm giữ phần lớn vốn điều lệ của doanh nghiệp Đây cũng là một con đường nhanh chóng để hình thành doanh nghiệpnhà nước Ví dụ: Quyết định số: 1611/QĐ-TTg về việc cổ phần hóa Tổng công ty hàng không Việt Nam Trong đó, Nhà nước chiếm giữ 75% vốn điều lệ, số cổ phần còn lại được bán cho các thành viên khác như tổ chức công đoàn, nhà đầu tư chiến lược…

Thứ ba, tổng công ty nhà nước được hình thành trên cơ sở liên kết khác

do doanh nghiệp tự thỏa thuận là hình thức các công ty nhà nước thực hiện liên kết với các thành phần kinh tế khác và lựa chọn một doanh nghiệp mạnh trở thành công ty mẹ Quá trình đó được diễn ra trên hình thức chuyển sở hữu phần vốn nhà nước tại một số công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên có cùng nhóm ngành nghề kinh doanh để hình thành tổng công

ty nhà nước Ví dụ: Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội là một

DNNNliên kết hợp tác với Tập đoàn bia Carlberg vào năm 2007 Tổng công

ty công nghiệp thực phẩm Đồng Nai (Dofico) hoạt động theo mô hình công ty

mẹ - công ty con được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2005 với 02 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 19 công ty thành viên, 09 công ty liên doanh, liên kết;

1.2.3 Khái quát sự hình thành Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam

Ngành Quản lý bay ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Ngành hàng không Việt Nam, được thành lập ngày 15 tháng 01 năm

1956 Quá trình hình thành và phát triển Ngành Quản lý bay có thể chia ra làm ba giai đoạn

Giai đoạn 1954 – 1975: Cơ quan bảo đảm bay hình thành trong cuộc

chiến tranh giải phóng dân tộc với nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ quốc phòng, phục vụ chiến tranh giải phóng dân tộc Cơ quan bảo đảm bay đã tham mưu cho Cục Hàng không dân dụng Việt Nam phối hợp với Bộ Quốc phòng làm thủ tục, cấp phép bay cho nhiều chuyến bay trong nước và quốc tế, bao gồm:

Trang 28

Các chuyến bay dân dụng, các chuyến bay quân sự và các chuyến bay đưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi công tác trong và ngoài nước tuyệt đối

an toàn góp phần làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

Giai đoạn 1976-1989:Sau khi thống nhất đất nước, Hội đồng Chính

phủ ra Nghị định số 28-CP, ngày 11/02/1976 thành lập Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam trong đó có Cục Quản lý bay (say này đổi tên thành Cục Tham mưu) gồm các phòng: Kế hoạch, Điều phái, Thông tin, Khí tượng và Phòng Nghiên cứu và huấn luyện Giai đoạn này Ngành Quản lý bay là một đơn vị của Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc Phòng

Giai đoạn 1990 đến nay:

Năm 1989, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, ngày 29/8/1989, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 112-HĐBT quyết định điều chuyển Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam từ Bộ Quốc phòng về làm cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Cục Quản lý bay chuyển thành Vụ Quản lý bay, có chức năng, nhiệm vụ và bộ máy tổ chức riêng biệt, độc lập

Tiếp tục kiện toàn đổi mới, ngày 15/10/1990, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải - Bưu điện ký Quyết định 1888-QĐ/TCCB/LĐ thành lập Công ty Quản lý bay Hàng không Việt Nam gọi tắt là Công ty Quản lý bay, trực thuộc Tổng Công ty Hàng không dân dụng Việt Nam Công ty vừa là tổ chức sự nghiệp bảo đảm hàng không, đồng thời là đơn vị kinh tế thực hiện dịch vụ hàng không với cơ cấu thành phần, các tổ chức thành viên trực thuộc bao gồm: Xí nghiệp Quản lý bay Hà Nội, Xí nghiệp Quản lý bay Đà Nẵng, Xí nghiệp Quản lý bay Tân Sơn Nhất và Trung tâm Thông tin Hàng không Sau khi thành lập, Công ty Quản lý bay vừa từng bước ổn định, đưa mọi hoạt động theo cơ chế quản lý mới, vừa nỗ lực thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là chỉ huy an toàn mọi chuyến bay theo chỉ tiêu kế hoạch

Trang 29

Năm 1993, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chuyển đổi tổ chức của Công ty Quản lý bay Hàng không dân dụng Việt Nam thành Trung tâm Quản

lý bay dân dụng Việt Nam Kể từ ngày này Quản lý bay Việt Nam đã chính thức tách khỏi Tổng công ty Hàng không Việt Nam trở thành đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Cục Hàng không Việt Nam Trung tâm Quản lý bay dân dụng Việt Nam có các đơn vị trực thuộc sau: Trung tâm Quản lý bay Hà Nội; Trung tâm Quản lý bay Đà Nẵng; Trung tâm Quản lý bay Hồ Chí Minh; Trung tâm Thông tin hàng không Gia Lâm

Năm 1994, Công ty Quản lý bay Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao phó là giành lại quyền điều hành bay Hồ Chí Minh từ Trung tâm Kiểm soát đường dài Băng Cốc, Singapo, Hồng Kông vào lúc 00 giờ quốc tế ngày 08/12/1994 Đây là một chiến công quan trọng trong việc bảo vệ vùng trời của tổ quốc, cũng như chiến thắng trên các mặt trận kinh tế, kỹ thuật, an ninh quốc phòng và chính trị, xã hội

Ngày 24/01/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1998/QĐTTg chuyển Trung tâm Quản lý bay dân dụng Việt Nam thành DNNN hoạt động theo Luật DNNN số: 39-L/CTN ngày 20 tháng 4 năm 1995 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

15-Ngày 19/6/2008, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ký quyết định số 1789/QĐ-BGTVT thành lập Tổng công ty Bảo đảm hoạt động bay Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Quản lý bay dân dụng Việt Nam Tổng công

ty Quản lý bay Việt Nam được tổ chức theo hình thức TCTNN độc lập có đại diện chủ sở hữu nhà nước là Bộ Giao thông vận tải, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Cục Hàng không Việt Nam về cung ứng dịch vụ bảo đảm hoạt động bay

và chịu sự quản lý của các cơ quan nhà nước các cấp theo quy định của pháp luật

Ngày 25/6/2010, Bộ Giao thông vận tải ban hành Quyết định số 1754/QĐ-BGTV chuyển đổi Tổng công ty Bảo đảm hoạt động bay Việt Nam

Trang 30

từ mô hình DNNN độc lập sang mô hình Công ty mẹ - Công ty con, trong đó Công ty mẹ - Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam là đơn vị trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải, do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, có cơ cấu tổ chức

và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Công ty con là Công ty trách nhiệm hữu hạn kỹ thuật quản lý bay được hình thành từ một đơn vị trực thuộc

Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam có ngành nghề kinh doanh chính

là cung ứng dịch vụ công ích bảo đảm hoạt động bay (bao gồm các dịch vụ: dịch vụ không lưu; dịch vụ thông tin, dẫn đường, giám sát; dịch vụ khí tượng; dịch vụ thông báo tin tức hàng không; dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn)

Trải qua hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, cùng với sự phát triển của đất nước Tổng công ty Quản lý bay không ngừng lớn, mạnh Từ những ngày đầu thành lập, mới chỉ là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Cục Hàng không Việt Nam, trải qua nhiều lần sắp xếp, đối mới đã trở thành một TCTNN có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công ích bảo đảm hoạt động bay “An toàn – điều hòa – hiệu quả” cho tất cả các tầu bay dân dụng và vận tải quân sự trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam Với hệ thống cơ cấu tổ chức vững vàng, Tổng công ty Quản lý bay đã bảo toàn và phát triển vốn của Chủ sở hữu và trở thành một nòng cốt của ngành công nghiệp hàng không Việt Nam có khả năng cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả và bảo đảm an ninh, an toàn hàng không, an ninh – quốc phòng, góp phần vào sự phát triển của đất nước

1.3 Vai trò của tổng công ty nhà nước trong nền kinh tế thị trường

ở Việt Nam

Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam các TCTNNluôn giữvai trò đầu tàu dẫn dắt nển kinh tế nước nhà vượt qua khó khăn, khủng hoảng Trong bối cảnh hiện nay, Đảng ta

đã xác định “tiếp tục cơ cấu lại, đối mới và nâng cao hiệu quả DNNN”8 Điều

Trang 31

đó khẳng định thêm một lần nữa về sự nghi nhận vị trí, vai trò của TCTNNđối với nền kinh tế nước nhà, cụ thể:

1.3.1 Mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước:

Với mục tiêu kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường, các TCTNN phải khai thác nguồn vốn nhà nước nhằm tạo ra lợi nhuận bổ sung cho ngân sách nhà nước, đồng thời, tạo ra việc làm và thu nhập hợp pháp nhằm nâng cao đời sống về mọi mặt của người lao động, điều đó được minh chứng như sau:

Hiện nay, DNNN chỉ chiếm một lượng rất nhỏ (về số lượng trong khu vực doanh nghiệp (khoảng 0,67%), nhưng DNNN vẫn là nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước Tốp 5 doanh nghiệp đóng góp thuế nhiều nhất năm 2015 (năm 2016 chưa được công bố) thì đều là DNNN, hoặc có vốn Nhà nước chi phối, đó là: Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng công ty Khí Việt Nam-Công ty CP, Tổng công ty Viễn thông MobiFone, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) Nếu mở rộng ra tốp 10 doanh nghiệp đóng thuế hàng đầu năm 2015 thì cũng có tới 7 DNNN, hoặc có vốn Nhà nước chi phối DNNN cũng đang đóng góp lớn nhất vào GDP với tỷ lệ 28,8%, so với doanh nghiệp ngoài nhà nước là 11,8% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là 17,9%.12 Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, các DNNN nắm giữ một lượng vốn cùng khối lượng tài sản lớn nhưng chưa phát huy hết hiệu quả Có không ít các tập đoàn, TCTNN làm ăn thua lỗ kéo dài, “Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2015 là 1,23 lần, trong đó có 25 DNNN có tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần, đứng đầu là Tổng công ty Phát thanh truyền

12

Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyễn Minh Phong, Hoàng Gia Minh, Hồ Quang Phương, “Vai trò phù hợp do DNNN,

Quân đội nhân dân Việt Nam tại địa chỉ doanh-nghiep-nha-nuoc-506443, ngày truy cập 24/06/2017

Trang 32

http://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/bai-3-vai-tro-phu-hop-cho-hình thông tin, Tổng công ty Xăng dầu quân đội, Tổng công ty Cơ khí xây dựng….”13Do vậy, vấn đề sắp xếp, đổi mới đầu tư vào một số ngành trọng điểm, để phát huy vai trò đầu tầu, dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam phát triển là hết sức cần thiết

1.3.2 Đầu tư, phát triển một số ngành trọng điểm

Do có nhiều lĩnh vực, ngành nghề không hấp dẫn các nhà đầu tư vì ít lợi nhuận, lâu thu hồi vốn nên các doanh nghiệp tư nhân không muốn tham gia sản xuất, kinh doanh hoặc việc kinh doanh lệ thuộc rất lớn vào điều kiện thiên nhiên và kết cấu hạ tầng nên Nhà nước (Chính phủ, Bộ quản lý ngành) thành lập và giao cho các tập đoàn kinh tế nhà nước nhiệm vụ tiến hành các hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu chính trị - xã hội của Nhà nước

Thực tế ở nước ta cho thấy, các TCTNN chính là lực lượng quan trọng của Nhà nước đảm nhận sản xuất, kinh doanh nhiều mặt hàng thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và khẳng định chủ quyền quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái Ví dụ: Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, cung cấp dịch vụ không lưu cho các tàu bay dân dụng và quân sự; Tập đoàn điện lực Việt Nam cung cấp điện cho các đồng bào vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh của đất nước Đây là những dịch vụ công ích, Nhà nước đảm bảo cung cấp hiệu quả, công bằng không vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên sau một thời gian dài đầu tư lớn, phát triển rộng khắp DNNN cho thấy, việc đầu tư dàn trải không mang lại hiệu quả kinh tế

tương ứng Nên tại Hội nghị lần thứ năm Đại hội XII của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết khẳng định: “Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại DNNN theo hướng: DNNN tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực

mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư”11

13

nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2015, Tr 7;

Trang 33

1.3.3 Bảo vệ sản xuất trong nước, cạnh tranh với các công ty đa quốc gia

Mô hình TCTNN ở nước ta là mô hình liên kết kinh tế tiên tiến, bởi mục đích liên kết, hợp tác là vì lợi ích của nhà nước, lợi ích của Tổng công ty

và cả công ty thành viên.Điều đó mang lạinguồn vốn lớn, lực lượng lao động dồi dào, thị trường và công nghệ vượt trội, làm cho nhiều TCTNN có thể đứng vững trên thị trường Từ đó các TCTNN mới có cơ sở đảm bảo phát triển chính sách “kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực”14nhằm thu lợi nhuận lớn

có khả năng bảo vệ sản xuất trong nước, cạnh tranh với các công ty đa quốc gia, tập đoàn kinh tế nước ngoài như: Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel, Tổng công ty hàng không Việt Nam, Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt, Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam… Các công ty thành viên trong TCTNN luôn được sự hỗ trợ phát triển: hỗ trợ về vốn, công nghệ, hoạt động đào tạo quản

lý, lao động Những hỗ trợ đó sẽ tạo ra điều kiện và động lực, môi trường thuận lợi giúp các doanh nghiệp thành viên của TCTNN phát triển nhanh và bền vững, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của cả TCTNN nhằm tạo ra sức mạnh kinh tế - xã hội của quốc gia

1.3.4 Khắc phục hạn chế vốn của các công ty riêng lẻ

Việc hình thành mô hình TCTNN sẽ khắc phục hạn chế về vốn của các công ty riêng lẻ Bởi công ty mẹ được quyền bảo lãnh cho công ty con vay vốn tương ứng với số vốn đã đầu tư vào công ty con Mặt khác, với mô hình doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lao động dồi dào, công nghệ vượt trội, TCTNNsẽ tổ chức phối hợp kinh doanh giữa TCTNN và công ty con hoặc giữa các công ty con với nhau nhằm tận dụng tối đa lợi thế kinh tế và tạo mốiliên kết bền chặt giữa các công ty thành viên Các công ty thành viên sẽ

Trang 34

luôn được sự hỗ trợ về: Vốn, công nghệ, hoạt động đào tạo quản lý, lao động Những nguồn lực đó sẽ tạo ra điều kiện và động lực, môi trường thuận lợi giúp các công ty thành viên của tổng nhà nước phát triển nhanh và bền vững, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn TCTNN nhằm tạo ra sức mạnh kinh tế - xã hội của quốc gia

1.3.5.Điều tiết vĩ mô, bình ổn thị trường, bình ổn nền kinh tế

Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, nếu muốn quốc gia phát triển với tốc độ nhanh hơn thì cần phải có những công cụ, những cách thức quản lý nền kinh tế phù hợp Trong nền kinh tế nhiều thành phần, các TCTNN nắm giữ các lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nước nhà góp phần mang lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước như: Tạo đà tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, tạo nguồn thu ngoại tệ , đóng góp phần lớn nguồn thu thuế và Ngân sách quốc gia, hạn chế nhập siêu, tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế trong nước, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho nhân dân, góp phần giải quyết vấn đề

an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh

Ví dụ: Để giữ ổn định mặt bằng giá đầu vào cho các ngành sản xuất, trong nhiều năm qua, mặc dù thị trường có nhiều biến động, nhưng giá điện nhìn chung được giữ ổn định ở mức thấp So với nhiều nước trong khu vực, giá điện Việt Nam thấp hơn Cụ thể, giá bán lẻ điện hiện nay của Việt Nam là 1.622 đồng/kWh, tương đương 7,31 cent/kWh Trong khi đó, Trung Quốc là 10,04 cent/kWh, Thái Lan 11,81 cent/kWh 11

1.3.6 Ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại và phát huy ưu thế về

kỹ thuật tiến bộ, đầu tư vào công nghiệp quốc phòng, những lĩnh vực đóng vai trò lớn đối với an ninh quốc gia

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển nhanh như “vũ bão” hiện nay, các TCTNN luôn đầu tư đổi mới ứng dụng khoa học công nghệ, phát huy

Trang 35

ưu thế về kỹ thuật, nguồn vốn để đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại tiến bộ nhất là những lĩnh vực an ninh, quốc phòng để bảo vệ tổ quốc để nắm giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tổng công ty nhà nước được tổ chức theo mô hình Công ty mẹ - Công

ty con, trong đó công ty mẹ do Nhà nước đầu tư toàn bộ vốn để cung cấp các dịch vụ thiết yếu quan trọng cho xã hội

Kể từ khi xuất hiện đến nay, Nhà nước ta đã thực hiện sắp xếp đổi mới không ngừng về cơ cấu tổ chức TCTNN Nhưng dù ở mô hình nào, Nhà nước vẫn giữ vai trò đầu tư vốn và quản lý, điều hành sát sao mọi hoạt động sản xuất kinh doanh

Vì vậy, TCTNN luôn giữ được vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế; điều tiết, bình ổn dẫn dắt nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, khủng hoảng góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giải quyết tốt các vấn đề kinh tế, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh Để tiếp tục làm tốt vai trò đó, các TCTNN cần nghiên cứu, vận dụng đúng chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước đồng thời chủ động tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh hướng tới mục tiêu hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp, Nhà nước và xã hội

Trang 36

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM

Sau hơn mười năm hoàn tất quá trình chuyển đổi tống công ty nhà nước sang mô hình Công ty mẹ - Công ty con, Nhà nước ta luôn quan tâm, hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh để hướng tới mục tiêu quản lý tốt đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các TCTNN Điều đó được thể hiện bằng việc Nhà nước đã ban hành hành hàng loạt các văn bản pháp luật,

có tính chất thay đổi căn bản về tổ chức hoạt động TCTNN, về quản lý điều hành các TCTNN, về việc thành lập, tổ chức lại các TCTNN và việc thực hiện giám sát tổ chức hoạt động các TCTNN Cụ thể: Luật doanh nghiệp số: 68/2014/QH13; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp số: 69/2014/QH13; Nghị định số: 99/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm

2012 về việc phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với các DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; Nghị định số: 69/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2014 về tập đoàn nhà nước và TCTNN; Nghị định số: 91/2015/NĐ-CP về đầu tư vốn nhà nước vào doanh ngiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp; Nghị định số: 97/2014/NĐ-CP về quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Đến nay, hệ thống văn bản pháp luật nói trên đã thể hiện rõ nét những hiệu quả tích cực đáng ghi nhận Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng phát hiện không ít tồn tại hạn chế cần được hoàn thiện tốt hơn về hệ thống chính sách pháp luật TCTNN hoạt động theo mô hình Công

ty mẹ - Công ty con

2.1 Quy định về công ty mẹ và công ty con trong tổng công ty

2.1.1 Quy định nhận diện công ty mẹ, công ty con, công ty liên kết

Trang 37

Quy định nhận diện công ty mẹ, công ty con: Theo Khoản 1 Điều 189

Luật Doanh nghiệp số: 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu:

(i)Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó;

(ii)Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất

cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;

(iii)Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó

So sánh với Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật doanh nghiệp năm

2014 đã kế thừa những ưu điểm như sau:

Thứ nhất, công ty mẹ có quyền chi phối về tài chính đối với công ty con

do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ hoặc sở hữu từ trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần phổ thông của công ty đó Vì bản chất của sự hình thành công

ty mẹ và công ty con được dựa trên mối quan hệ tài chính, quan hệ sở hữu vốn và tư liệu sản xuất Chủ thể nào sở hữu từ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng

số cổ phần phổ thông là có quyền chi phối thông qua những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp như đầu tư tài sản, góp vốn

Thứ hai, công ty mẹ có quyền chi phối bộ máy quản lý thông qua việc

quyết định bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý của công ty con Bởi, đây là

những ngườiquyền quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp đó Việc quyết định bổ nhiệm người quản lý TCTNN đã đánh dấu sự can thiệp của công ty mẹ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quyết sách, điều hành doanh nghiệp Điều đó có tính ảnh hưởng, tác động lớn đến sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp

Thứ ba, Công ty mẹ có quyền chi phối công ty con thông qua việc phê duyệt kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh và quyết định việc sửa đổi, bổ

Trang 38

sung Điều lệ của công ty con Đối với mỗi doanh nghiệp, bản điều lệ củađược xem như là “hiến pháp” của mỗi doanh nghiệp Bởi trong đó quy định các vấn

đề chủ chốt của doanh nghiệp như:Tổ chức sản xuất kinh doanh, thẩm quyền quyết định, quản lý tài chính, phân chia lợi nhuận … và mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được triển khai thực hiện trên cơ sở của Điều lệ của doanh nghiệp đó

Thứ tư, ngoài các yếu tố trên, để nhận diện công ty mẹ - công ty con

trong TCTNN một cách đúng đắn, chúng ta cần lưu ý thêm đặc điểm công ty

mẹ trong TCTNN phải là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và chỉ sản xuất kinh doanh trong những lĩnh vực quan trọng, đặc biệt quan trọng để đáp ứng mục tiêu kinh tế của Nhà nước Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước có thể quyết định hoặc chi phối hoạt động nhóm công ty thông qua công ty mẹ

Nhận diện công ty liên kết: Chúng ta có thể nhận diện loại hình doanh

nghiệp này thông qua cá nội dung cơ bản sau: (i) Chủ thể liên kết có thể là các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, hoặc giữa Công ty nhà nước và công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên tự nguyện liên kết với nhau để hình thành nhóm công ty tổ chức theo mô hình công ty

mẹ - công ty con (ii) Hình thức liên kết, tùy theo tính chất ngành nghề các công ty có thể lựa chọn các hình thứcliên kết theo chiều ngang, liên kết theo chiều dọc, liên kết hỗn hợp trên cơ sở một trong hai phương thức như sau:

“Nhóm công ty liên kết cứng (kết hợp chặt chẽ trong một tổ chức kinh tế); nhóm công ty liên kết mềm (các liên kết kinh tế); nhóm công ty liên kết trên

cơ sở xác lập thống nhất về tài chính và kiểm soát tài chính”15 (iii) Mục tiêu liên kết là nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

15

Vũ Huy Từ (2002), Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, tr 16,17

Trang 39

Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai thực hiện mới nhận thấy Luật Doanh nghiệp 2014chưa khắc phục được những tồn tại, bất cập, chưa hợp lý của Luật Doanh nghiệp năm 2005 ở các điểm như sau:

Thứ nhất, quy định nêu trên đang “đồng nhất quyền chi phối với cách

thức để có được quyền chi phối"16đối với mỗi doanh nghiệp, cụ thể: đối với hai đặc điểm nhận diện đầu tiên là cách thức phương tiện thực hiện quyền chi phối thông qua quyền sở hữu, đầu tư

Thứ hai, Quy định nêu trên chưa có sự thống nhất trong chính Luật

doanh nghiệp 2014, bởi theo Điều 60 quy định đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên và Điều 144 quy định đối với công ty cổ phần có thể khẳng định để nắm quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty con thì tỷ

lệ nắm giữ vốn của công ty mẹ phải từ 65% đối với công ty cổ phần và 75% đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên mới được quyết định các vấn đề quan trọng như việc thay đổi ngành, nghề và lĩnh vực kinh doanh; thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý công ty; tổ chức lại, giải thể công ty … Như vậy, nếu công ty mẹ chỉ sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông thì chưa đủ mức để có quyền chi phối công ty con

Thứ ba, Luật Doanh nghiệp năm 2014, mới chỉ đề cập đến việc hình

thành tổng công ty thông qua hình thức liên kết nhưng chưa có quy phạm quy định khung pháp lý về trình tự, thủ tục thực hiện liên kết Điều này gây khó khăn, lúng túng cho doanh nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện việc

liên kết để hình thành tổng công ty giữa các loại hình doanh nghiệp

2.1.2 Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các doanh nghiệp trong tổng công ty nhà nước

2.1.2.1 Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con

16

Trịnh Văn Hải, “Những bất cập trong quy định về nhóm công ty và tập đoàn kinh tế, tổng công ty, Tạp chí

công thương , tại địa chỉ:

Trang 40

Theo Nghị định số 69/2014/NĐ-CP và Nghị định 99/2012/NĐ-CP thì mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty cấp II được quy định như sau:

Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty condo công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ,HĐTV hoặc Hội đồng quản trị của Công ty mẹ (sau đây gọi

tắt là HĐTV) được giao nhiệm vụ thực hiện quyền nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật và Điều lệ tổ chức hoạt động của doanh nghiệp

đó, cụ thể: (i) Quyết định thành lập, mục tiêu, nhiệm vụ và ngành, nghề kinh doanh; tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể và yêu cầu phá sản sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; (ii) Phê duyệt Điều lệ, sửa đổi và bổ sung Điều lệ; (iii) Quyết định vốn điều lệ khi thành lập và điều chỉnh vốn điều lệ trong quá trình hoạt động của công ty; (iv) Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức, khen thưởng, kỷ luật Chủ tịch và thành viên HĐTV hoặc Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc (Giám đốc), Kiểm soát viên; (v) Phê duyệt chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển

5 năm; (vi) Phê duyệt chủ trương vay, cho vay, mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ của công ty; (vi) Phê duyệt báo cáo tài chính hằng năm, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ

Giữa công ty mẹ và công ty con là hai pháp nhân độc lập, nhưng do mối quan hệ về đầu tư 100% vốn điều lệ, nên Chính phủ quyết định phân công, phân cấp nhiệm vụ Chủ sở hữu nhà nước cho HĐTV công ty mẹ Sự phân công nêu trên là hoàn toàn hợp lý, bởi:

Thứ nhất, Nhà nước đã trao quyền chủ động điều hành tổ chức hoạt

động sản xuất kinh doanh của tổng công ty cho công ty mẹ, mà cụ thể là HĐTVTCTNN Ngoài việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước thì Chính phủ đã làm tốt việc gắn trách nhiệm đại diệnchủ sở hữu nhà nước đối với HĐTV Mối quan hệ này xuất phát quan hệ kinh tế, quan hệ phối hợp tổ chức kinh doanh, do vậy nó sẽ đảm bảo cho việc quản lý hoạt động

Ngày đăng: 16/02/2021, 14:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm