1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân theo quy định trong bộ luật dân sự năm 2005

65 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 6,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là đề tài thường được bàn đến ờ nhiều quốc gia, dưới nhiều góc độ: Luật học, chính trị học, sừ học, triết h ọ c...ở mỗi góc đ khác nhau, các nhà nghiên cứu dựa trên cơ sở về lập trư

Trang 2

LÊ T H Ị H O A

QUYỂN NHÂN THÂN LIÊN QUAN ĐẾN THÂN

THỂ CỦA CÁ NHÂN THEO QUY ĐỊNH TRONG

CHUYÊN NGÀNH: LUÂT DÂN s ư• ♦

MÃ SỐ: 60.38.30

LUÂN VĂN THAC s ĩ LUÂT HOC • • • •

Người hướng dẫn khoa h ọc: TS P H Ạ M V Ă N T U Y Ế T

THƯ VIỆNTRƯỜNG ĐA! H O C L Ũ Â ĩ H À nói

P H Ò N G D Ó C 7,ỹ.9ỹ

Trang 3

tận tình của các Lliầy, cô giáo và bạn bè, ctồíig íighiộp Nhân đậy, tác giẳ gửi lòi cẫm 011 cliâii tiiàiiỉi đếii:

- Tỗ Dliạm Văn Tuyết, Giáo viên hướng dẫn cho tác giả;

- Cô giáo chủ nhiệm lỏp

- Cốc tliầy, cô ỏ thư viện tiưòíig Dại học Luật Hà nội

- Cốc đổng tiglũộp ỏ Khoa Nhà nước và phốp luật HVỈICQG

Trang 4

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ QUYỂN

NHÂN THÂN 5

1.1 Cơ sở hình thành và phát triển quyền nhân thân của cá nhân 5 1.1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.2 Cơ sở pháp lý 8

1.1.2.1 Cơ sở pháp lý quốc tế 8

1.1.2.2 Cơ sỏ pháp lý quốc gia 9

1.2 Khái niệm quyền nhân thân của cá nhân 13

1.2.1 Định nghĩa quyền nhân thân 13

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân của cá nhân 15

1.2.2.1 Quyền nhân thân gắn liền với một chủ thể và nguyên tắc không thể chuyển dịch cho chủ thể khác 15

1.2.2.2 Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền 15

1.2.2.3 Hành vi xâm phạm quyền nhân thân không nhất thiết phải gây ra thiệt hại 16

1.2.2.4 Thiệt hại khi quyền nhân thân bị xâm phạm không có tiêu chí để định lượng 16

1.3 Các nhóm quyền nhân thân của cá nhân 16

1.3.1 Các quyền nhản thân liên quan đến đời sống tình thần của cá nhân 16

1.3.2 Các quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân 19

CHƯƠNG 2 CÁC QUYỂN NHÂN THÂN LIÊN QUAN ĐẾN THẨN THỂ CỦA CÁ NHÂN 21

2.1 Các quyền nhân thân liên quan đến cơ thể sống 21

Trang 5

2.1.1.2 Quyền được bảo đảm an toàn về sức khoẻ 26

2.1.1.3 Quyền được bảo đảm an toàn về thân thể 29

2.1.2 Quyền hiến bộ phận cơ thể người sống; Quyền nhận bộ phận cơ thể. 31

2.1.2.1 Quyền hiến bộ phận cơ thể người sống 31

2.1.2.2 Quyền nhận bộ phận cơ thể 38

2.2 Các quyền liên quan đến thi thể 39

2.2.1 Quyên an toàn tử thi 39

2.2.2 Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (^40

2.3 Quyền xác định lại giới tính 43

2.3.1 Giới tính 43

2.3.2 Chuyển đổi giới tính 47

2.3.3 Xác định lại giới tính 50

CHƯƠNG 3 NHŨNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỂ QUYỂN NHÂN THÂN LIÊN QUAN ĐẾN THÂN THỂ CỦA CÁ 57 NHÂN

3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về quyển nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân 57

3.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thản liên quan đến thân thể của cá nhân 60

3.2.1 Quyền nhân thân nói chung 60

3.2.2 Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân 62

KẾT L U Ậ N 66

Trang 6

M Ở Đ Ẩ U

1 Tính cấp thiết của đề tài

Troiig các vấn đề của xã hội loài người, quyền con người nói chung và qayền công dân nói riêng là những vấn đề có lịch sử lâu đời cả về phương diện

15 luận cũng như thực tiễn Đó luôn là mối quan tâm của nhân loại ở mọi thời

kỳ Mỗi bước phát triển của quyền con người, quyền công dân đều gắn liền và

là thành quả của đấu tranh giái cấp, cách mạng xã hội, phản ánh quá trình

nhân loại tự giải phóng mình Đây là đề tài thường được bàn đến ờ nhiều quốc

gia, dưới nhiều góc độ: Luật học, chính trị học, sừ học, triết h ọ c ở mỗi góc đ) khác nhau, các nhà nghiên cứu dựa trên cơ sở về lập trường chính trị, lợi ích quốc gia, lợi ích giai cấp, lợi ích cộng đồng của từng nước, từng dân tộc để đưa ra những luận giải khác nhau, nhưng xét đến cùng hầu hết các quốc gia đầu thừa nhận vấn đề quyền con người, quyền công dân là một trong những nhân tố cơ bản để hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, tổ chức quản lý

và tác động có hiêu quả đến các quá trình kinh tế, xã hội

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân lao động, mở ra một trang sử mới của dân tộc mà ở đó con người và quyền con người được tôn trọng và bảo vệ Ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946) đã khẳng định vị trí làm chủ của nhân dân ta bằng việc công nhận nhân dân có quyền bầu cử, ứng

cử, C.Ó quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận Và sau này, trong các bản Hiến pháp năm 1959,1980 và Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 các quyền cơ bản của công dân lại được tiếp tục khẳng định, phát triển và mở rộng thành chế định quyền và nghĩa vụ của công dân Đây là chế định thể hiện nội dung quyền con người trong pháp luật Việt Nam Điều 50 Hiến pháp 1992 sửa

đổi, bổ sung năm 2001 quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Trang 7

Nam, các quyền con người vê chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật’ Việc cụ thể hoá quy định này của Hiến pháp thành các quyền

cụ thể trên các lĩnh vực là nhiệm vụ của nhiều ngành luật khác nhau Mỗi ngành luật xuất phát từ tính đặc trưng của đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh để quy định Đến nay, quyền công dân được phân thành năm nhóm sau: Nhóm các quyền chính trị, nhóm các quyền dân sự, nhóm các quyền kinh tế, nhóm các quyền'văn hóa và nhóm các quyền xã hội

Pháp luật dân sự là công cụ để thực hiện quyền dân sự của công dân Đây là những quyền đáp ứng nhu cầu, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các giao dịch dân sự, làm cho mỗi cá nhân được sống và hành động một cách

tự do, dân chủ, bình đẳng với người khác theo quy định của pháp luật; được giải phóng khỏi sự ràng buộc phi lí, vươn lên làm chủ bản thân Mỗi cá nhân đều luồn có nhu cầu bảo đảm sự tồn tại và phát triển của cơ thể, và các nhu cầu về tư tưởng, tinh thần, nó gắn liền với hai dạng quyền là quyền về tài sản

và các quyền thuộc yề nhân thân của cá nhân đó Tuy nhiên, lịch sử phát triển của pháp luật dân sự cho thấy, trong thời gian qua quyền nhân thân của cá nhân chiếm một vị trí không đáng kể trong sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, hầu như bị vấn đề về tài sản làm lu mờ, lấn át Điều này phụ thuộc vào vị trí của con người, sự quan tâm của xã hội đối với con người trong từng chế độ

xã hội nhất định

Quy luật cho thấy khi con người đã phần nào thỏa mãn những lợi ích về mặt vật chất, người ta sẽ bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến những giá trị tinh thần, coi đó là bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống và đòi hỏi những giá trị đó ngày càne, được mở rộng và tôn trọng hơn

Ở nước ta hiện nay, tình trạng quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm và không được bảo vệ thỏa đáng là khá phổ biến và đang ngày một gia tăng.Việc làm cho mỗi cá nhân nhận biết được những giá trị nhân thân của

Trang 8

mình và tôn trọng những giá trị nhân thân của người khác là việc làm không đơn giản.

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi thấy rằng việc nghiên cứu vấn đề quyền nhân thân của cá nhân nói chung, quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân nói riêng là vấn đề mang tính cấp bách, có

ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn Do vậy, tác giả chọn đề tài “Quyền nhân thân

liên quan đến thân thể của cá nhân theo quy định trong Bộ luật dân sự năm

2005” làm đề tài nghiên cứu cửa mình với mong muốn góp một phần nhỏ của mình vào những tri thức cơ bản về quyền nhân thân liên quan đến thân thể của

cá nhân, từ đó đưa ra những giải pháp góp phần làm hoàn thiện cơ sở pháp lý

về quyền nhân thân của cá nhân

1 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua nghiên cứu các công trình về đề tài chúng tôi thấy rằng, quyền nhân thân của cá nhân là một vấn đề được rất ít tác giả lựa chọn để nghiên cứu Các công trình nghiên cứu thông thường chỉ đề cập đến vấn đề quyền con người, quyền công dân trong đó có đề câp đến quyền dân sự của cá nhân nhưng chưa xem xét một cách đẩy đủ và có hệ thống về quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân như một yếu tố không thể tách rời quá trình tồn tại của cá nhân Cho đến nay, mới chỉ có một khoá luận tốt nghiệp của sinh viên về quyền xác định lại giới tính

2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Dựa trên cơ sở Bộ luật dân sự năm 2005, đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản xung quanh quyền nhân thân của cá nhân và tập trung đi sâu vào nhóm quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân, từ đó đưa

ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về quyền nhân thân của cá nhân

3 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài được dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điển của Đảng và nhà nước ta về con người, quyền con người, cụ thể chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử tức là xem xét quyền nhân thân của cá nhân trong trạng thái vận động, phát triển, trong mối liên hệ với những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội ở các thời kỳ lịch sử

- Phương pháp so sánh: Quyền nhân thân của cá nhân được so sánh qua các bản Hiến pháp của Việt nam

- Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng để phân tích, tổng hợp các quan điểm, các quy định của pháp luật và thực tiễn từ đó rút ra những kết luận, đánh giá và giải pháp

4 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm phần mở đầu, nội dung chính gồm 3 chương, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 10

Trong mối quan hệ giữa tự nhiên, xã hội và con người, thì tự nhiên là

cái có trước con người, nhưng con người không chỉ thích ứng với tự nhiên, mà

còn cải tạo tự nhiên Quá trình con người cải tạo tự nhiên cũng là quá trình

con người phát triển và tự hoàn thiện mình Khác với tự nhiên, xã hội không

thể xuất hiện trước con người, mà ra đời cùng với con người Xã hội đóng vai

trò quan trọng trong việc hình thành con người, không thể có con người

sống ngoài xã hội Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm

của xã hội Nói cách khác, con người là một thực thể sinh học - xã hội, vừa là

một cơ thổ sống, vừa mang bản chất xã hội Điều này đã làm cho con người

khác với những thực thể sinh học khác ở chỗ, chỉ con người mới được hưởng

những đặc lợi do địa vị làm người mang lại, đó chính là quyền con người

“Quyền Cỡn người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người

mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất

định” {27}.

Xuất hiên, tồn tại, vận động và phát triển gắn với quá trình tiến hoá của

lịch sử xã hội loại người, quyền con người được coi ià một hiên tượng lịch sử

xã hội, có quá trình phát triển lâu dài, đi từ đơn lẻ đến đa dạng, phong phú về

nội dung

Tư tưởng vể quyền con người manh nha từ thời cổ đại và trung đại, thể

hiện trong quan niệm về sự bình đẳng và tự do giữa những con người trong

Trang 11

xã hội của nhà triết học Prôtagora “Thượng đ ế tạo ra mọi người, đều là người

tự do, tự nhiên không ai biến thành nô lệ Cữ” { 127, 31} Thế kỷ XVII- XVIII

là thời kỳ hình thành và hưng thịnh của các tư tưởng và học thuyết về quyền con người Lần đầu tiên những nguyên tắc cơ bản về quyền con người được thiết lập Một nội dung nổi bật trong các nguyên tắc đó là: Mục đích của nhà nước là bảo đảm quyền con người và tự do cho các công dân Bản thân con người sinh ra vốn là tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn luôn phải được bảo đảm để tự do và bình đẳng Nguyên tắc này đã được hoàn chỉnh dần trở thành tiền đề của quyền con người cơ bản

Trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, quyền con người là một khái niệm rộng lớn, phức tạp, thậm chí đầy mâu thuẫn Mặc dù vậy, khi nói đêh bản chất của quyền con người, bao giờ nó cũng thể hiện tính tự nhiên và tính xã hội Hai thuộc tính này tồn tại tất yếu và có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau Tính tự nhiên cho thấy quyền con người là đặc quyền vốn có của con người (quyền tự nhiên), nhưng những quyền này lại bị chi phối bởi sự phát triển của xã hội, làm cho nội dung của quyền con người chứa đựng tính đặc thù, gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trinh đô phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia Tuy nhiên, có những quyền mà

dù ở quốc gia nào thì nó vẫn luôn luôn được bảo đảm, sự hiện diện của những quyền này là ranh giới khẳng định việc có hay không có quyền con người, đó chính là những quyền con người cơ bản

Quyền con người cơ bản được đề cập đến lần đầu tiên trong Tuyên ngôn

độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 khi cho rằng “Mợi người sinh

ra đều bình đẳng và Đấng tạo hóa dành cho họ một sô' quyền không thể bị tước đoạt, trong các quyền đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Tuyên ngôn đã nhấn mạnh bốn quyền cơ bản nhất của con người

đó là quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc Đây là những quyền quyết định cho sự tồn tại và phát triển của con người

Trang 12

Đổng thời cũng là những quyền mà con người mong muốn được thừa nhận đầu tiên trong những đặc quyền của mình.

Dù là quyền con người hay quyền con người cơ bản thì đều là những khái niệm thể hiện xu hướng, yêu cầu, quan niêm; thể hiện năng lực, khả năng

và ý chí Cuộc sống xã hội hiện tại đòi hỏi quyền con người phải được xác định với những nội dung cụ thể và hiện thực Trong đời sống quốc tế hiện nay, quyền con người được chia thành hai nhóm chính sau: Nhóm các quyền dân

sự và chính trị; Nhóm các quyền về kinh tế- xã hội, văn hoá Mỗi nhóm quyền

là sự thể hiện quyền con người ở một khía cạnh mang đặc trưng riêng Đây chính là nền tảng để các quốc gia nội luật hoá quyền con người trong pháp luật của đất nước mình

Một trong những đặc trưng rất quan trọng của quyền con người đó là

được bảo đảm bởi Nhà Nước và Pháp Luật Nhà Nước và Pháp Luật là công

cụ, là phương tiện đ ể bảo đảm thực hiện quyền con người Thông thường, Nhà

Nước ghi nhận quyền con người dưới dạng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Khi quyền con người trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật, được xác nhận trong hệ thống quyền và nghĩa vụ của công dân thì quyển con người mới được thể hiện thành hiên thực Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm phân biệt nhưng lại có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, không có sự đối lập giữa quyền con người và quyền công dân Không thể có quyền công dân bên ngoài quyền con người, ngược lại, không có quyền con người nào thoát ly khỏi khái niệm quyền công dân, không coi quyền công dân như là một bộ phận, một nội dung cơ bản của nó Một mặt, khái niệm quyền con người không loại trừ khái niệm quyền công dân và cũng không thay thế được nó Mặt khác, khái niệm quyền công dân cũng không bao trùm hết được những nội dung của quyền con người

Quyền công dân tạo nên địa vị pháp lý của công dân trong xã hội, thể hiện mối liên hệ về mặt pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia Mối liên

Trang 13

cơ bản nhất, chung nhất mang tính nguyên tắc, cụ thể hoá nó là nhiệm vụ của các ngành luật, trong đó có Luật dân sự.

Luật dân sự là ngành luật độc lập chứa đựng những quyền công dân ở lĩnh vực dân sự Có thể nói đây là lĩnh vực phổ biến và có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với sự tồn tại của' cá nhân Trong đời sống dân sự, giá trị tài sản

và giá trị nhân thân đóng vai trò quan trọng ngang nhau, là cơ sở hình thành nên những quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân tồn tại như hai mặt của một vấn để trong đó, quan hệ tài sản mang lại những lợi ích vật chất, còn quan hệ nhân thân mang lại những lợi ích tinh thần cho con người Pháp luật dân sự được xây dựng để điều chỉnh hai nhóm quan hệ đó

1.1.2 Cơ sở pháp lý

1.1.2.1 Cơ sở pháp lý quốc tế

Việc trở thành thành viên hoặc gia nhập những điều ước quốc tế về quyền con người là biểu hiện của sự quan tâm đến vấn đề quyền con người nói chung, quyền nhân thân của cá nhân nói riêng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên của Liên hợp quốc đề cập đến vấn đề quyền nhân thân là Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 Trên cơ sở

“thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và bất di bất dịch của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công bằng và hoà bỉnh th ế giới” Tuyên ngôn đã quy định mọi người đều có quyền sống,

quyền tự do và an ninh cá nhân (Điều 3); không ai bị bắt giữ làm nô lộ (Điều 4); không ai bị tra tấn hoặc nhục hình (Điều 4); không ai bị bắt bớ, giam cầm, đày ải một cách vô cớ (Điều 9); không ai phải chịu sự can thiệp vô cớ đến đời

Trang 14

lư, gia đình, nhà cửa, danh dự, uy tín cá nhân (Điều 12), mọi người đều có quyền có một quốc tịch (Điều 15), có quyền kết hôn (Điều 16).

Trên cơ sở nội dung trong Tuyên ngôn nhân quyền, Liên hợp quốc

đã thông qua hai văn bản chuyên biệt đánh dấu sự phát triển về quyền nhân thân của cá nhân Đó là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966

Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quyền nhân

thân được quy định đầu tiên là quyền được sống :”Mơi người đều có quyền

được sống Quyền này được pháp luật bảo vệ Không ai bị tước đoạt mạng sống một cách vô cớ”(Điều 6) Đây là sự khẳng định lại một lần nữa quyền cơ bản nhất của con người Ngoài ra, còn có một số quyền nhân thân khác như

quyền được hưởng tự do và an ninh cá nhân (điều 9); quyền tự do tư tưởng, tín

ngưỡng và tôn giáo (Điều 18); quyền tự do lập hội (Điều 22); quyền kết hôn

và thành lập gia đình của nam và nữ khi đến tuổi (Điều 23)

Thể hiện quyền nhân thân của cá nhân ỏ một khía cạnh khác, trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, quyền nhân thân của cá nhân được thừa nhận như là một đảm bảo cho con người được sống không bị sợ hãi và thiếu thốn Công ước đã ghi nhân các quyền như quyền bình đẳng giữa nam và nữ (Điều 3), quyền có việc làm (Điều 6), đặc biệt Công ước thừa nhận quyền của mọi người được có một mức sống no đủ, quyền được ăn đủ, mặc đủ và có nhà ở, quyền được cải thiên không ngừng điều kiện sống (Điều 11)

Những quy định trong văn bản pháp lý quốc tế là điều kiện ràng buộc các quốc gia trong viộc nội luật hoá pháp luật quốc tế Đây là một đòi hỏi mang tính nguyên tắc, đồng thời cũng là biểu hiện của cơ sở pháp luật quốc gia trong việc bảo vệ quyền con người, quyền nhân thân của cá nhân

1.1.2.2 Cơ sở pháp lý quốc gia

Trang 15

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc, đồng thời cũng là mốc đánh dấu quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người trên lãnh thổ Việt Nam.

* Các bản Hiến pháp

Ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã thừa nhận quyền con người cơ bản, qua đó thể hiện tư tưởng vì nhân quyền và dân quyền của nhà nước ta Tư tưởng ấy đã xuyên suốt trong lịch sử lập hiến và lập pháp

Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta (Hiến pháp năm 1946), việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân đã trở thành một trong ba nguyên tắc cơ bản Với Hiến pháp mới, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, những người dân nô lệ trước đây thực sự trở thành người chủ đất nước, được bảo đảm các quyền tự do, dân chủ

Trong 26 quyền cơ bản của công dân mà Hiến pháp năm 1946 quy định, các quyền dân sự chiếm đa số (12 quyền) Điều đó nói lên rằng Nhà Nước ta rất quan tâm đến đời sống dân sự của người dân Những quyền nhấn thân của

cá nhân lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp bao gồm: Quyền tự do ngôn luận; quyền tự do xuất bản; quyền tự do tín ngưỡng; quyền tự do cư trú trong nước; quyền lự do đi lại trong nước; quyền tự do ra nước ngoài; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền bất khả xâm phạm nhà ở; quyền bất khả xâm phạm về thư tín

Hiến pháp năm 1959 là bước phát triển mới trong việc ghi nhận quyền con người, trong đó có những quyền nhân thân của cá nhân và những bảo đảm pháp lý cho chúng Hiến pháp năm 1959 ra đời trong hoàn cảnh đất nước

đã có những thay đổi lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, theo xu hướng ngày càng mở rộng các quyền con người Bên cạnh việc kế thừa những quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng trong Hiến pháp năm 1946,

Trang 16

Hiến pháp năm 1959 đã xác định quyền nhân thân mới là quyền tự do biểu tình (Điều 17) đổng thời quy định rõ ràng hơn quyền tự do cư trú, quyền tự do

đi lại không phân biệt trong nước hay ngoài nước như Hiến pháp 1946

Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện nước nhà thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, các quyền dân sự của cá nhân được bổ sung và phát triển; đặc biệt riêng đối với quyền nhân thân của cá nhân, đã có những quyền lần đầu tiên xuất hiện đó là: Quyển được pháp luật bảo hộ về tính mạng (Điều 70); quyền được pháp luật bảo hộ về danh dự (Điều 70); quyền được pháp luật bảo hộ về nhân phẩm; 'quyền được bảo đảm brtnật về điện thoại; quyền được bảo đảm bí mật về điện tín; quyền tác giả; quyền sở hữu cống nghiệp (Điều 72)

Đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ quyền nhân thân của cá nhân là sự

ra đời của Hiến pháp năm 1992 Bên cạnh việc kế thừa những quyền nhân thân của Hiến pháp 1980, Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung những quyền nhân thân của cá nhân hoàn toàn mới đó là: Quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe (Điều 13); quyền đi ra nước ngoài theo quy định của pháp luật (Điều 25); quyền từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật (Điều 26); quyển được thông tin theo quy định của pháp luật (Điều 29); quyền được nhà nước bảo hộ quyền tác giả (Điều 36); quyền được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 38)

Năm 2001 khi chúng ta tiến hành sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, chế

t

định quyền và nghĩa vụ của công dân đã được giữ nguyên bên cạnh việc bổ sung thêm quyền học lập (Điều 59)

* Bổ Luât dân sư

Có thể nói rằng, Bộ luật dân sự là văn bản pháp lý chuyên biệt có giá trị pháp lý cao nhất quy định một cách có hệ thống về quyền nhân thân của cá nhân Lần đầu tiên, vấn đề quyền nhân thân của cá nhân được đề cập một cách

rõ ràng, chi tiết và có hệ thống trong BLDS năm 1995

Trang 17

Bộ Luật dân sự năm 1995 đã dành 22 điều luật quy định về quyền nhân

thân của cá nhân, và đã xác định rằng: “Quyền nhân thân của cá nhân là

quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Không ai được lạm dụng quyền nhân thân của mình xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác ” (Điều 26).

Bên cạnh đó, lần đầu tiên cá nhân có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền nhân thân của mình khi bị người khác vi phạm (Điều 27); lần đầu tiên quyền nhân thân của cá nhân được quy định thành một hệ thống các quyền, có 20

quyền được quy định chi tiết trong 20 điều luật

Tính đến thời điểm hiện nay, sau hơn 10 năm thi hành, Bộ Luật dân sự năm 1995 có nhiều thành tựu đã đạt được, Bộ luật dân sự năm 1995 đã góp phần làm ổn định các quan hệ dân sự nói chung, quan hệ nhân thân nói riêng, các chủ thể có được công cụ pháp lý hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy vậy, cùng với sự phát triển của các quan hê xã hội, các quan hệ dân sự cũng ngày càng phức tạp hơn, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi những giá trị thuộc về tinh thần đang dần tìm được chỗ đứng quan trọng trong đời sống của cá nhân Với những quyền nhân thân được quy định trong Bộ Luật dân sự năm 1995 so với thực tiễn đã có sự thiếu hụt rất lớn, việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 1995 đã yêu cầu tất yếu đặt ra

Bô Luật dân sự năm 2005 được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 7 thông

V,

qua và c ó \iệ u lực từ ngày 1/1/2006 đánh dấu một bước phát triển mới trong

v'lịch sử pháp luật dân sự Riêng đối với chế định quyền nhân thân, bên cạnh

việc kế thừa hoàn toàn 20 quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật dân sự

năm 1995, Bộ Luật dân sự năm 2005 đã bổ sung thêm 6 quyền nhân thân mới

đó là: Quyền được khai sinh (Điều 29); Quyền được khai tử (Điều 30); Quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); Quyền hiến xác, bộ phân cơ thể sau khi chết

Trang 18

(Điều 34); Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35); Quyền xác định lại giới tính (Điều 36).

*Các văn bản pháp lý khác

Mặc dù đến khi BLDS năm 1995 được thông qua, khái niệm về quyền nhân thân của cá nhân mới được hình thành nhưng trước đó, những quyền nhân thân cụ thể đã được thừa nhận trong một số văn bản pháp lý khác Cụ thể

là trong Luật Bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân 24/1/1957

Ngay tại điều 1 Luật này đã quy định: “Quyền tự do thân thể và quyền

bất khả xâm phạm đối với nhà ỏ, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm Không ai được xâm phạm các quyền ấy.”

Quyền nhân thân của cá nhân trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình cũng được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình nãm 2000 Thông qua việc quy định về quyền bình đẳng giữa vợ chồng (Điều 19), về việc tôn trọng danh

dự, nhân phẩm uy tín của vợ chồng; Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau (Điều 21)

1.2 Khái niệm quyền nhân thân của cá nhân

1.2.1 Định nghĩa quyền nhân thân của cá nhân

Quyền nhân thân (Personality rights) là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn liền với bản thân của mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân Từ xưa đến nay, nói đến quyền nhân thân người ta thường liên tưởng ngay đến những quyền có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Nói chung, quyền nhân thân là thứ quyền để bảo vệ cái “danh” của mỗi con người bao gồm nhiều khái niệm danh dự, danh vị, danh tiếng, danh hiệu Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ càng được mở rộng bao nhiêu, thì con người ngày càng được tôn trọng bấy nhiêu, và do đó các quyền nhân thân cũng ngày càng được pháp luậl quy định đầy đủ, rõ ràng hơn cùng với những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả

\

Trang 19

Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự gắn liền với đời sông tinh thần của cá nhân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Trong lịch sử lập pháp của nước ta nói chung, và pháp luật dân sự nói riêng, thuật ngữ quyền nhân thân được ra đời khá muộn Bộ luật Dân sự năm

1995 là văn bản pháp lý lần đầu tiên đề cập đến quyền nhân thân, đánh dấu một mốc phát triển quan trọng trong quá trình hiên thực hoá quyền con người Lần đầu pháp luật Việt Nam thừa nhận sự tồn tại tất yếu của những quyền dân

sự gắn liền với mỗi cá nhân Điều đó cũng chứng minh được rằng, pháp luật dân sự không chỉ là công cụ bảo vệ những quan hê tài sản, bảo vệ những giá trị vật chất mà pháp luật dân sự còn là phương tiện hữu hiệu để cá nhân bảo vê những giá trị tinh thần của mình

Kế thừa BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 quy định về quyền nhân

thân của cá nhân tại Điều 24 “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật

này là quyền dân sự gắn liền với mối cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Quyền nhân thân có mối liên quan mật thiết đến tự do cá nhãn, đóng vai trò quan trọng đối với cá nhân, v ề bản chất, quyền nhân thần mang đặc tính quyền cá nhân, chính vì th ế thực hiện và bảo đảm quyền nhân thân tức là thoả mãn quyền, tự do, lợi ích của cá nhăn.

Quyền nhân thân hiểu dưới góc độ pháp luật nói chung đó là một dạng quyền của cá nhân trong lĩnh vực dân sự Dưới góc độ pháp luật dân sự, quyền nhân thân là tiền đề hình thành nên quan hệ nhân thân

Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân, tổ chức Đây cũng đồng thời là nhóm quan hệ xã hội thứ hai

trong hai nhóm quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự

Nếu so sánh với quan hệ tài sản thì quan hệ nhân thân thể hiện những đặc trưng riêng vốn có như: được hình thành từ những giá trị nhân thân nên chúng không có nội dung kinh tế, không gắn với quyền lợi về tài sản của chủ

Trang 20

thể; không áp dụng biện pháp bảo đảm khi thực hiện; Thiệt hại trong quan hệ nhân thân là yếu tố không định lượng được một cách trực tiếp.

1.2.2 Đặc trưng cơ bản quyền nhân thân của cá nhàn

1.2.2.1 Quyền nhân thần luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và về nguyên tắc không thể chuyển dịch được cho các chủ thể khác.

Quyền nhân thân trở thành thuộc tính của chủ thể mà không bị phụ thuộc, chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào như độ tuổi, trình độ, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội Pháp luật quy định cho mọi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân

Quyền nhân thân không thể chuyển nhượng cho người khác, nghĩa là quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch mua bán, trao đổi, tặng cho Tuy nhiên, tính chất không thể chuyển giao của quyền nhân thân chỉ là tương đối, bởi vì trong một số trường hợp, quyền nhân thân có thể được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật Chẳng hạn quyền nhân thân gắn liền với tài sản được phép chuyển giao

Việc chuyển giao quyền nhân thân còn được thể hiện ở một khía cạnh khác đó là trên thực tế, có những người nổi tiếng kí những hợp đồng sử dụng hình ảnh với các cơ quan thông tin, xuất bản Làm thế nào để dung hòa đặc điểm không thể định đoạt của quyền nhân thân với tình trạng giao dịch hợp pháp về hình ảnh ngày càng phát triển Trong nghiên cứu mới đây về quyền nhân thân, có quan điểm phân loại quyền nhân thân thành quyền nhân thân cơ

sở tức là quyền nhân thân gốc với quyền nhân thân pháir sinh Quyền nhân thân cơ sở tức là quyền nhân thân theo đúng bản chất của nó không thể chuyển nhượng như quyền đối với hình ảnh hoặc quyền đối với đời tư Quyền nhân thân phái sinh là quyền khai thác danh tiếng của một cá nhân với mục đích thương mại

1.2.2.2 Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền.

Trang 21

Giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương

và không thể trao đổi ngang giá Chính vì vậy, quyền nhân thân không thể bị

kê biên Chủ nợ không thể kê biên quyền nhân thân của con nợ Có một hệ quả thực tiễn là chủ nợ của một cá nhân không thể đòi nợ gián tiếp bằng cách đặt mình vào vị trí của con nợ Ví dụ: một người nào đó bị xâm phạm bí mật đời tư có thể được bồi thường thiệt hại nhưng chủ nợ của người này không thể đặt mình vào vị trí của con nợ để đòi tiền bồi thường

1.2.2.3 Hành vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân không nhất thiết phải gây ra thiệt hại cho cá nhân đó, nghĩa là thiệt hại không phải là căn

cứ bắt buộc để xác định trách nhiệm pháp lý đối với người thực hiện hành vi xâm phạm Trên thực tế, ngay cả trường hợp người bị xâm phạm không bị thiệt hại gì, thậm chí có khi còn có lợi cho họ, nhưng về nguyên tắc nếu không

có sự đồng ý của cá nhân thì đã bị coi là vi phạm

1.2.2.4 Thiệt hại khi quyền nhân thân bị xâm phạm không có tiêu chí cụ thể đ ể định lượng Quyền nhân thân gắn với những giá trị tinh thần, đối với

mỗi cá nhân giá trị đó không có chuẩn mực chung, cũng không có tiêu chí chung Vì thế, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền nhân thân không thể được

cân đong đo đếm bằng những đại lượng cụ thể Đặc trưng này không loại trừ

nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đã gây ra, việc bồi thường thiệt hại khi xâm phạm quyền nhân thân chỉ mang tính chất “bù đắp” phần nào

1.3 Các nhóm quyền nhân thân

1.3.1 Các quyền nhân thán liên quan đến đòi sống tinh thần của cá nhân

Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hai mặt đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự tồn tại của cá nhân Thiếu một trong hai yếu tô' đó con người khó có thể tồn tại đúng nghĩa được Nhưng có một thực tế là, từ trước đến nay, đời sống tinh thần thường bị đời sống vật chất che lấp và làm lu mờ Chúng ta chỉ chú trọng vào yếu tố vật chất là điều kiện để con người tồn tại

Trang 22

mà thường ít để ý đến yếu tố tinh thần, yếu tô' làm cho đời sống của con ngừoi phong phú, đa dạng hơn.

Đời sống tinh thần chính là toàn bộ những hoạt động nội tâm của con

người như ý nghĩ, tình cảm Quyền nhân thân liên quan đến đời sống tinh

thần của con người là quyền của cá nhân phát sinh trong hoạt động nội tâm của con người.

Một trong những quyền con người cơ bản đã được cộng đồng thừa nhận đó là quyền mưu cầu hạnh phúc Điều này có nghĩa là con người có quyền thoả mãn những mong muốn nội tâm Chính những mong muốn này làm cho đời sống của con người này càng phong phú hơn

Liên quan đến việc thừa nhận và bảo vệ đời sống tinh thần của cá nhân

là nhiệm vụ của nhiều ngành luật khác nhau Mỗi ngành luật dựa trên cơ sở đặc trưng riêng để bảo đảm quyền này ở những khía cạnh khác nhau BLDS cũng là một trong văn bản quy phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền liên quan đến đời sống tinh thần của con người

BLDS là văn bản quy phạm pháp luật duy nhất thừa nhận những quyền liên quan đến đời sống tinh thần là quyền nhân thân của cá nhân Quyền nhân thân liên quan đến đời sống tinh thần của cá nhân luôn chiếm nội dung lớn trong các quyền nhân thân của cá nhân BLDS năm 1995 quy định cá nhân có

20 quyền nhân thân trong đó có 19 quyền nhân thân liên quan đến đời sống tinh thần, đó là những quyền như quyền đối với họ tên, (Điều 28); quyền thay đổi họ, tên (Điều 29); quyền xác định dân tộc (Điều 30); quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31); quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 32); quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 33); quyền đối với bí mật đời tư (Điều 34); quyền kết hôn (Điều 35); quyền bình đẳng của vợ chổng (Điều 36); quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình (Điều 37); quyền ly hôn (Điều 38); quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con (Điều 39); quyền được nuôi con nuôi và quyền được

THƯ V ỉệ N

TRƯỜNG Đ A Ỉ H O C L Ũ Â Ĩ H À NÓI

1 P H Ò N G D O C 1 2 3 T

Trang 23

nhận làm cơn nuôi (Điều 40); quyền đối với quốc tịch (Điều 41); quyền được bảo đảm an toàn về chỗ ở (Điều 42); Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 43); quyền tự do đi lại, cư trú (Điều 44); quyền lao động (Điều 45); quyền tự

do kinh doanh (Điều 46); quyền tự do sáng tạo (Điều 47)

BLDS năm 2005 ra đời, bên cạnh việc kế thừa hoàn toàn 20 quyền nhân thân được quy định trong BLDS năm 1995, đã bổ sung thêm 2 quyền nhân thân liên quan đến đời sống tinh thần mới đó là: quyền được khai sinh (Điều 29); quyền được khai tử (Điều 30)

Đặc trưng của quyền nhân thân liên quan đến đời sống tinh thần của cá nhân đó là quyền dân sự tuyệt đối Việc thực hiện những quyền này luôn mang lại những lợi ích tinh thần cho chính cá nhân Trên thực thế, cá nhân thực hiện quyền này bằng hành vi chủ động của mình, nhưng có những quyền cần có sự tham gia của hệ thống cơ quan nhà nước như quyền thay đổi họ, tên; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền được nuôi con nuôi

Hành vi vi phạm quyền nhân thân liên quan đến đời sống tinh thần của

cá nhân là căn cứ để xác định trách nhiệm dân sự, cụ thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, yếu tố thiệt hại không phải là yếu tố mang tính chất quyết định cho việc có hay không có việc áp dụng trách nhiệm bồi thường đối với người đã thực hiện hành vi vi phạm Khi chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý, cho dù hành vi đó có thể không gây ra thiệt hại, thậm chí còn có lợi cho người bị xâm phạm, nhưng

về nguyên tắc, nếu không có sự đồng ý của cá nhân thì coi như đã thực hiện hành vi xâm phạm

Xuất phát từ sự khác biệt về đời sống tinh thần của mỗi cá nhân, vì thế không có tiêu chí chung để xác định thiệt hại, cũng như không có đại lượng dùng để cân đong, đo đếm thiệt hại đã xảy ra Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở đây được xác định là người thực hiện hành vi vi phạm phải bù đắp phần nào những tổn thất đã gây ra cho người bị thiệt hại

#

Trang 24

Theo Điều 611 BLDS năm 2005 thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy

tín bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý để khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường những thiệt hại nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tỉnh thần mà người đó phải gánh chịu Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà Nước quy định.

1.3.2 Các quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân

Thân thể theo cách hiểu chung nhất là cơ thể của con người Có thể nói rằng, quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân là quyền cơ bản nhất trong những quyền cơ bản Bởi vì, điều đóng vai trò quan trọng đầu tiên đối với con người là con người phải được sống, từ đó mới có những đòi hỏi tiếp theo Sự sống của con người biểu hiện ở sự tồn tại và phát triển bình thường của các bộ phận cơ thể Bất kỳ yếu tố khách quan hay chủ quan nào tác động đến cơ thể của con người đều gây ra những ảnh hưởng nhất định

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh, khi cơ thể con người không được bảo vệ, tôn trọng thì con người không tổn tại với nghĩa là con người Điển hình là những người nô lệ trong chế độ chiếm hữu nô lệ, họ không được coi là con người, mà chỉ là công cụ lao động Họ có thể bị bán, hoặc bị hành hạ về thân thể Chính vì thế, phong trào đấu tranh cách mạng của con người là đòi được tự do, trong đó bao hàm sự tự do về thân thể, có quyền đối với chính thân thể của mình

Quyền nhân thân liên quan đến thân ihể của cá nhân là quyền của cá nhân đối với cấu trúc vật chất hình thành con người được pháp luật quy định

Trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật quốc gia, những quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân luôn chiếm vị trí quan trọng

«

Trang 25

Điều này đã thể hiện sự nhìn nhận và đánh giá đúng đắn vai trò của quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân.

Ngay tại Điều 3 và Điều 4 trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền

đã khẳng định “Mợ/ người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân

Không ai bị giữ làm nô lệ hoặc nô dịch Những quyền này đã tiếp tục được

kế thừa và phát triển hơn trong các văn bản của Bộ luật nhân quyền thế giới

Đối với pháp luật Việt Nam, ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp năm 1946 đã thừa nhận Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân tại Điều 11 Đến Hiến pháp năm 1959 một lần nữa khẳng định quyền này Hiến pháp năm 1980 đã bổ sung thêm quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng (Điều 70) Quyền về thân thể của công dân phát triển hơn một bước và thể hiện tính toàn diện khi trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm

2001) quy định “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được

pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe :’\ Đ iều 71).

BLDS năm 1995 là BLDS đầu tiên của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiệm vụ cụ thể hoá những quyền và nghĩa vụ của công dân trong lĩnh vực dân sự Lần đầu tiên, những quyền liên quan đến thân thể của

cá nhân được BLDS năm 1995 thừa nhận là quyền nhân thân của cá nhân (Điều 32 Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể), đi kèm theo đó là phương thức bảo vệ khi quyền này bị xâm phạm BLDS năm

2005 ra đời, đã kế thừa Điều 32 của BLDS năm 1995, bên cạnh đó, lần đầu tiên đã quy định thêm 4 quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân hoàn toàn mới đó là Quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); quyền hiến xác, bộ

phận cơ thể sau khi chết (Điều 34); quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều

35); quyền xác định lại giới tính (Điều 36)

Trang 26

C H Ư Ơ N G 2 Q U Y Ể N N H Â N T H Â N LIÊN Q UA N ĐẾN THÂN

TH Ể C Ủ A CÁ NH ÂN

2.1 CÁC QUYỂN NHÂN THÂN LIÊN QUAN ĐẾN c ơ THỂ SỐNG

2.1.1 Quyền được bảo đảm an toàn vẽ tính mạng, sức khoẻ, thân thể

2.1.1.1 Quyền đươc bảo đảm an toàn về tính mane

Trong thế giới vật chất jđang tồn tại và phát triển không ngừng có một đặc quyền chỉ giành cho một chủ thể duy nhất là con người đó là quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng Đây được xem là quyền dân sự cốt yếu của con người, đồng thời cũng là ranh giới của việc có hay không có quyền con người

Tính mạng là thuật ngữ dùng để chỉ “sự sống của con người"{31} ,điều

đó có nghĩa là chúng ta thừa nhận con người là một thực thể có sự sống, nó là một thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất của con người Mặc dù vậy, không phải trong mọi giai đoạn phát triển của xã hội, thuộc tính ấy được coi quyền và cũng không phải có ở mọi con người Trong xã hội chiếm hữu nô lệ

và phong kiến, tính mạng được dùng cho giai cấp thống trị chứ không phải mọi cá thể người Chính vì vậy, giai cấp tư sản tiến bộ đã dùng nó làrn mục tiêu để thu hút đông đảo quần chúng nhân dân giương cao ngọn cờ lật đổ giai cấp thống trị nắm đặc quyền

Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng là quyền con người gắn liền

»

với sự ra đời của nhà nước Ở nhũng nhà nước khác nhau việc bảo đảm quyền

ấy cũng khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản khi nói đến quyền được bảo đảm an

toàn về tính mạng thì chúng ta không thể hiểu khác đi được rằng đó là quyền

dân sự của cá nhân, theo đó cá nhân có quyền duy trì sự sống và quyền làm chủ cuộc sống.

Trong pháp luật quốc tế, quyền sống luôn ỉuôn là quyền được nêu lên hàng đầu và xuyên suốt trong nhiều văn bản khác nhau Tuyên ngôn độc lập

Trang 27

của nước Mỹ năm 1776 được coi là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên đề cập đến quyền sống của con người Lần đầu tiên trong đời sống chính trị, tư tưởng của nhân loại có một văn bản chính thức tuyên bố trước toàn thế giới rằng:

‘T ất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những

quyền không ai có thể xâm phạm được Trong những quyên ấy có quyên được sống, quyền được tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc”.

Quyền sống đã được ghi nhận là một trong những quyền cơ bản nhất của con người Sau này, trong Bộ luật nhân quyền thế giới, quyền sống tiếp tục được khẳng định vị trí quan trọng của nó, không những thế, quyền sống còn được phát triển ở mức độ cao hơn khi thừa nhận cá nhân có quyền làm chủ cuộc sống của mình

Ngay tại Điều 3 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948

đã khẳng định lại “Mọi người đều có quyền sống ” và bổ sung thêm là “Không

ai bị giữ làm nô lệ hoặc bị nô dịch; chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm” Điều này có nghĩa là con người không thể bị coi như là

công cụ lao động, là một vật vô tri vô giác như trước nữa Con người có sự sống và có quyền làm chủ tính mạng của mình không bị phụ thuộc vào bất kỳ một chủ thể nào khác

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) của Liên hợp quốc xem quyền sống là một quyền không thể tước đoạt của mỗi con người Tại Điều 6 Công ước đã chỉ rõ'”Mọi người đều có quyền được sống, quyền này

được pháp luật bảo vệ Không ai bị tước đoạt mạng sống một cách vô cớ ”

Công ước còn nêu rõ ‘Việc tước đoạt mạng sống của con người cấu thành tội

diệt chủng ” Một trong những hình thức tước đoạt mạng sống của con người

là việc áp dụng hình phạt tử hình Công ước đã giành nhiều nội dung để nói về hình phạt này Theo Công ước, việc hạn chế áp dụng hình phạt tử hình là điều

cần thiết nên làm, trong trường hợp bất đắc dĩ mới nên áp dụng hình phạt này

Hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với tội ác nghiêm trọng nhất, không

#

Trang 28

được phép tuyên án tử hình đối với người phạm tội dưới 18 tuổi và không được thi hành đối với phụ nữ đang có thai Một điểm đặc biệt tiến bộ thể hiện việc bảo vệ quyền sống ở mọi khía cạnh của Công ước đó là khi một người bị tuyên án tử hình thì có quyền xin ân giảm hoặc xin thay đổi hình phạt Việc ân

xá, ân giảm hoặc chuyển đổi hình phạt tử hình có thể được áp dụng đối với tất

cả mọi trường hợp Điều này có nghĩa là tự bản thân cá nhân, bằng hành động tích cực của mình, có thể tự bảo vệ an toàn tính mạng cho dù hành vi xâm phạm ở đây xuất phát từ một cơ quan có thẩm quyền

Việc là thành viên của các Công ước quốc tế bảo vệ quyền con người là một minh chứng thể hiện sự quan tâm đến vấn đề quyền con người của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tôn trọng quyền con người là một trong những nguyên tắc xác lập và thực hiện các quyền công dân Ngay trong bản tuyên ngôn độc lập do Hổ Chí Minh khởi thảo, khai sinh ra nước Việt

Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã viết: "tất cả vì con người, cho con người”, tư

tưởng này trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử lập hiến, lập pháp của nước ta

Từ những bản Hiến pháp đầu tiên cho đến những Hiến pháp được sửa

đổi, bổ sung sau này, quy định: ‘'pháp luật bảo hộ về tính mạng ” luôn được

ghi nhận ở vị trí trang trọng Trở thành quyền hiến định của công dân trong lĩnh vực dân sự, cụ thể hoá quyền đó là nhiệm vụ của các nghành luật trong đó

có nghành luật dân sự

Pháp luật dân sự quy định quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng là một quyền nhân thân của cá nhân Nội dung của nó thể hiện ở khía cạnh là

quyền được cứu chữa “Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng

bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm đưa đến cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc cứu chữa mà phải tận dụng mọi phương tiện, khả năng hiện có đ ể cứu chữa”(Khoản 2 Điều 32 BLDS năm 2005).

Đây là quyền có nghĩa về mặt thực tế rất lớn, bởi lẽ tình trạng nguy

Trang 29

hiểm đến tính mạng đối với cá nhân là hiện tượng tổn tại khách quan Trong nhiều trường hợp, tính mạng của cá nhân không thể được bảo đảm nếu không được cứu chữa kịp thời Quyền này cũng đồng nghĩa với trách nhiệm, bổn phận của người phát hiện có điều kiện và cơ sở y tế Việc một người có điều kiện nhưng đã không cứu giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng không đương nhiên là căn cứ truy cứu trách nhiệm dân sự.

Quyền bảo đảm an toàn về tính mạng của cá nhân không đơn thuần ở góc độ chúng ta thừa nhận nó như một quyền hiến định hay một quyền nhân

thân Mà còn ở khía cạnh về trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với người có

hành vi vi phạm

Có thể nói rằng, hành vi vi phạm quyền bảo đảm an toàn về tính mạng

là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, có thể áp dụng nhiều trách nhiệm pháp lý khác nhau tiêu biểu là trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân Sự

Đối tượng của các hành vi vi phạm nói trên là sự sống của con người, đây là một loại thiệt hại đặc biệt lớn và không thể khôi phục lại như tình trạng ban đầu Trên phương diện hình sự, chế tài rất nghiêm khắc, mọi hành vi xâm phạm quyền sống của con người bị coi là hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất

và bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật Bộ luật Hình sự Việt Nam năm

1999 đã dành 18 Điều luật quy định những mức án nghiêm khắc đối với các tội trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người

Trên phương diện dán sự, trách nhiệm đặt ra là trách nhiệm bổi thường thiệt hại Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm không có tiêu chí chung để định lượng, chính vì thế người gây ra thiệt hại không thể đền bù toàn bộ những tổn thất đã gây ra Họ chỉ có thể bù đắp một phần cho những tổn thất đó bằng cách bổi thường Nói một cách cụ thể hơn, người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người khác phải bổi thường các thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh

Trang 30

thần cho nạn nhân hay người thân của nạn nhân nhằm một phần nào khắc phục những tổn thất đã gây ra.

Pháp luật dân sự quy định người có hành vi xâm phạm đến tính mạng của người khác phải bổi thường chi phí hợp lí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí hợp lí cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Ngoài ra còn phải bổi thường tổn thất về tinh thần cho những thân thích thuộc hành thừa kế ở hàng thứ nhất eủa người bị thiệt hại Mức bồi thường do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định (Điều 610 BLDS năm 2005)

Một khía cạnh trái ngược cũng thường được đặt ra trong khi chúng ta thực hiện quyền bảo đảm an toàn về tính mạng của cá nhân đó là vấn đề về áp dụng án tử hình và quyền được chết

Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia xoá bỏ hình phạt tử hình xuất phát từ quan điểm cho rằng, quyền sống là quyền tuyệt đối của cá nhân

và không một ai có quyền tước đi sự sống của cá nhân

Trong pháp luật Việt Nam hiện nay, do yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, nước ta vẫn duy trì hình phạt tử hình Tuy nhiên, hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội chưa thành niên phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi Nhà nước Việt Nam đã và đang chủ trường thu hẹp dần phạm vi áp dụng hình phạt

tử hình và tiến tới xóa bỏ hình phạt này trong tương lai Theo hướng đó, Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đã giảm thiểu việc áp dụng án tử hình từ 44 tội danh xuống còri 29 tội danh

Sự sổng là của con người, con người có quyền được bảo đảm sự sống đó vậy con người có quyền tự mình tước đoạt đi sự sống đó không? Đây là một câu hỏi đặt ra khi xuất hiện thuật ngữ quyền được chết

I

Trang 31

Trên thực tế chúng ta thấy có nhiều trường hợp những người bị bệnh

nan y không thể cứu chữa, sự sống của họ được duy trì bằng máy móc, họ sống trong sự đau đớn, dày vò về thể xác Trong trường hợp đó họ có thể yêu cầu bác sĩ kết liễu cuộc sống của mình hay không?, bác sĩ có thể thoả mãn yêu cầu này của họ hay không?

Đã có nhiều quan điểm được đưa ra, nhưng phổ biến là quan điểm không thể thừa nhận cái được gọi là quyền được chết Pháp luật Việt Nam cũng theo quan điểm này Mạng sống là vốn quý giá nhất của con người, còn người không tạo ra tính mạng cho mình, đó là cái có sẵn Con người chỉ có quyền có tính mạng và quyền bảo vệ tính mạng nhưng con người không có quyền huỷ bỏ sự sống của mình

2.1.1.2 Quyền đươc bảo đảm an toàn về sức khoẻ

Từ xưa đến nay, sức khoẻ luôn được coi là vốn quý giá nhất của con người Con người sẽ không thể làm được gì nếu như không có sức khoẻ Đó là yếu tố đảm bảo sự sống của con người tổn tại là có ý nghĩa Sức khoẻ được

hiểu là Tình trạng lành mạnh, không có bệnh tật của cơ thể {31} Thông

thường người ta hay nói rằng một người không có bệnh tật là một người có sức

khoẻ tốt Bệnh tật là thuật ngữ dùng để chỉ sự đau ốm, tàn tật nói chung {31}

Nguồn gốc của bệnh tật có thể là do bẩm sinh hoặc do mắc phải trong quá trình sống Dù là do nguyên nhân nào, thì bệnh tật luôn có ảnh hưởng xấu đến

sự tồn tại bình thường của con người Để đảm bảo con người không có bệnh tật cần đến sự chăm lo ở mọi phương diện, từ việc bảo đảm môi trường sống,

vệ sinh an toàn thực phẩm đến việc đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại Điều này đòi hỏi một chính sách y tế toàn diện của Nhà Nước

Quyền được bảo đảm an toàn về sức khoẻ của cá nhân là Quyền của cá

nhân được chăm sóc sức khoẻ thường xuyên và quyền được khám, chữa bệnh khi đã mắc bệnh Có thể nói rằng, đây là quyền có ý nghĩa đặc biệt thiết thực

đối với cuộc sống của con người Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi ngày

Trang 32

càng xuất hiện nhiều những căn bênh hiểm nghèo, cướp đi sinh mạng của nhiều người trên thế giới Việc bảo đảm quyền này không chỉ cần đến hành động chủ động của chính bản thân cá nhân mà nó còn đòi hỏi sự phối hợp hành động của Nhà Nước và toàn xã hội.

Văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến quyền trên ở nước ta là Hiến pháp năm 1859, thể hiện ở Điều 31 quyền được nghỉ ngơi Mặc dù mới chỉ là một khía cạnh nhỏ của việc bảo đảm sức khoẻ nhưng việc thừa nhận trong Hiến pháp đã cho thấy sự chú trọng trong việc bảo đảm sức khoẻ nhân dân của nhà nước ta Trong nội dung của các bản Hiến pháp sau này của nước ta, quyền được nghỉ ngơi vẫn được kế thừa bên cạnh việc bổ sung thêm những quyền mới

Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên quy định quyền được bảo vệ, chăm

sóc sức khoẻ (Điều 61), đến Hiến pháp năm 1992 sửa đổi đã kế thừa quyền

này, trở thành quyền cơ bản của công dân “Công dân có quyền được hưởng

chế độ bảo vệ sức khoe” Những quy định trong Hiến pháp trở thành nguyên

tắc chung, tạo cơ sở pháp lý cao nhất để các văn bản quy phạm khác chi tiết hoá, cụ thể hoá quyền này trên thực tế

Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày 30/6/1989 là đạo luật riêng đầu tiên của nuớc ta, cụ thể quy định trong Hiến pháp về bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Luật này đã quy định khá đầy đủ những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất về sức

khoẻ của nhân dân Ngay tại Điều 1 đã quy định: “ Công dân có quyền được

bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể, đảm bảo vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống” Nhìn nhận “Bảo vệ sức khoẻ ỉà sự nghiệp của toàn dân ”, trong đó Nhà nước có vai trò đặc biệt

quan trọng Sức khoẻ của nhân dân có thể được bảo đảm hay không phụ thuộc rất lớn vào hệ thống y tế, chất lượng dịch vụ, thuốc chữa bệnh Lần đầu tiên Luật này đã quy định về trách nhiệm của Nhà Nước cũng như các cơ quan, tổ chức xã hội (Điều 3, Điều 4, Điều 5) trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân,

\

Ngày đăng: 16/02/2021, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w