Pháp luật nước ta, cụ thể trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã ghi nhận nhiều phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân như: thương lượng,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
NGUYỄN THỊ QUỲNH
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA THƯƠNG NHÂN VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
NGUYỄN THỊ QUỲNH
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA THƯƠNG NHÂN VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
Chuyên ngành
Mã số
: Luật kinh tế : 8380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Ngọc Cường
HÀ NỘI - 2018
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy tận tình của các Thầy, Cô, cùng sự quan tâm giúp đỡ, động viên từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu cùng toàn thể Quý Thầy, Cô giáo Trường Đại học Luật
Hà Nội, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Đồng thời, chân thành cảm ơn Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật kinh
tế Trường Đại học Luật Hà Nội đã thực hiện quản lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như chương trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này đúng tiến độ
Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sỹ Bùi Ngọc Cường, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn thiện luận văn này
Hà Nội, ngày 14 tháng 01 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Hội BVQLNTD : Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Luật BVQLNTD : Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng 9
1.1.1 Khái niệm tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng 9
1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng 10
1.2 Phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng 13
1.2.1 Phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án 14
1.2.2 Phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
Chương 2 23
2.1 Tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường 23
2.2 Tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 27
2.2.1 Nội dung thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 27
2.2.2 Ý nghĩa của thủ tục tố tụng rút gọn 32
2.3 Thực tiễn giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Tòa án 34
2.3.1 Những kết quả đạt được trong giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Tòa án 34
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế trong giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Tòa án 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46
Trang 7Chương 3 47 3.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Tòa án 48
3.1.1 Bổ sung cơ chế khởi kiện tập thể trong giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng 48 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự
2015 và kiểm soát việc áp dụng thủ tục rút gọn tại Toà án 51 3.1.3 Nghiên cứu xây dựng mô hình Toà án giản lược theo hướng Toà chuyên trách giải quyết vụ việc tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng 54
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Tòa án 56
3.2.1 Chú trọng công tác tổ chức thực thi, nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tiêu dùng 56 3.2.2 Tổ chức các thiết chế xã hội hoá tại từng địa phương, chi tiết tới từng địa bàn dân cư để hỗ trợ người tiêu dùng trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng ……….57 3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhằm nâng cao ý thức tự bảo vệ chính bản thân mình của người tiêu dùng 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 60 KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam thời gian qua đã chứng kiến nhiều sự kiện nổi bật bao gồm cả những mảng tối và sáng giữa bức tranh hội nhập toàn cầu Trong đó, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đang trở thành vấn đề quan trọng và nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Công tác bảo vệ người tiêu dùng trong thời kỳ này đã được tập trung chú trọng Với việc ban hành Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 13/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27 tháng 04 năm
1999 cùng các Nghị định hướng dẫn thi hành pháp lệnh như: Nghị định 69/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2001 và Nghị định 55/2008/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2008, điều này đã đánh dấu bước phát triển mới trong việc thiết lập và hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng Năm 2010, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để góp phần hạn chế một số vấn đề còn tồn tại cũng như nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ người tiêu dùng Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng cũng được đề cập ở các mức độ khác nhau tại các văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ luật tố tụng dân sự (2015), Bộ luật hình sự (2015), Luật thương mại (2005), Luật cạnh tranh (2004), Luật an toàn thực phẩm (2010)… Tuy nhiên, trước sự phát triển ngày càng nhanh chóng và đa dạng của nền kinh tế thị trường, có rất nhiều vấn đề mới đã nảy sinh Thời gian gần đây, tình trạng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng đã và đang diễn ra phổ biến, ngày càng phức tạp với hậu quả để lại nghiêm trọng hơn Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công thương) cho biết, trong năm 2017
đã tiếp nhận và xử lý trên 1.400 khiếu nại, yêu cầu của người tiêu dùng liên quan đến nhiều hành vi vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm quyền lợi người
Trang 9tiêu dùng trong nhiều lĩnh vực của đời sống - xã hội.1 Nhiều vụ đã khiến dư luận phải bàng hoàng vì không ngờ những loại thực phẩm vốn quen thuộc hàng ngày, thậm chí là các món ăn dân dã, cũng đã bị sử dụng chất cấm, chất độc hại Người dân bàng hoàng với việc phát hiện rau muống trồng từ nhớt thải, thịt lợn bị dùng chất cấm salbutamol, thịt bò bơm nước, trái cây ngâm thuốc giục chín, cà phê hóa chất, phát hiện măng ngâm tẩm chất vàng ô để tạo màu2 Người tiêu dùng Việt Nam đang phải sống trong một môi trường không an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm nghiêm trọng Trong khi
đó, các quy định của pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho quá trình phát hiện và xử lý các vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng
Bảo vệ người tiêu dùng trong quan hệ tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân là một trong những yêu cầu cơ bản của pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng do trong quan hệ này, người tiêu dùng có vị trí yếu thế hơn so với thương nhân Pháp luật nước ta, cụ thể trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã ghi nhận nhiều phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân như: thương lượng, hoà giải, trọng tài, Toà án,… Trong đó, phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng tại Toà án là một phương thức giải quyết truyền thống và có nhiều ưu điểm so với các phương thức giải quyết tranh chấp còn lại
Tuy nhiên, hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Toà án trên thực tế còn tồn tại một số hạn chế nhất định và chưa phát huy hết những ưu điểm của phương thức này Do
1
Trân Trân (2018), “Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng xử lý trên 1.400 khiếu
nại”, Công an nhân dân, tại địa chỉ:
http://cand.com.vn/Xa-hoi/Cuc-Canh-tranh-va-Bao-ve-nguoi-tieu-dung-xu-ly-tren-1-400-khieu-nai-482167/, ngày truy cập 15/08/2018
2
Bùi Ai Giôn (2016), “Quyền khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”,
Tạp chí Luật sư Việt Nam, (11), tr 21 - 25
Trang 10đó, việc tìm hiểu đề tài: “Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Tòa án ở Việt Nam” là vấn đề
cần thiết nhằm hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật về việc giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Toà án, từ đó so sánh với thực tiễn áp dụng, tìm ra ưu điểm và hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp này so với các phương thức khác, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và đảm bảo cho phương thức giải quyết tranh chấp này hoạt động có hiệu quả hơn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật tiêu dùng ở nước ta được quan tâm đúng mức và bước đầu
có một số nghiên cứu quy mô và có giá trị tham khảo Hiện nay có một số công trình nghiên cứu liên quan đến phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án như:
- Nguyễn Thị Vân Anh (chủ biên, 2013), Tăng cường năng lực các
thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Hà Nội
- Đinh Thị Mai (chủ biên, 2008), Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp
lý nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Khoa học pháp lý – Bộ
Tư pháp, Hà Nội
- Nguyễn Trọng Điệp (2014), Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu
dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện
Khoa học xã hội, Hà Nội
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu được công bố dưới hình thức các bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật như:
- Phan Thị Thanh Thuỷ (2018), “Từ vụ kiện Apple Inc làm chậm iPhone
ở Việt Nam, Bàn về xu hướng khởi kiện tập thể trong giải quyết tranh chấp
Trang 11tiêu dùng”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, tập 34, (02).
- Phan Thị Thanh Thuỷ (2018), “Kiện tập thể trong giải quyết tranh chấp
tiêu dùng ở một số nước ASEAN và những gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, (01)
- Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Tiến Đạt (2017), “Pháp luật giải quyết
tranh chấp tiêu dùng Việt Nam dưới góc nhìn so sánh với quốc tế”, Tạp chí
Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, 33, (2)
- Bùi Ai Giôn (2016), “Quyền khởi kiện vụ án dân sự bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, (11)
- Nguyễn Trọng Điệp (2015), “Tố tụng rút gọn trong giải quyết tranh
chấp tiêu dùng”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, 31, (2)
- Vũ Thị Lan Anh (2014), “Giải quyết tranh chấp
về quyền lợi người tiêu dùng tại tòa án nhân dân”, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, (09)
- Quách Thúy Quỳnh (2013), “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng các vụ kiện tập thể - kinh nghiệm nước ngoài và các gợi ý hoàn thiện pháp
luật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (16)
- Đặng Thanh Hoa (2013), “Giải quyết tranh chấp của người tiêu
dùng theo thủ tục rút gọn”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (8)
Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, bao quát và có hệ thống về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Toà án Việc tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này là hoàn toàn mới mẻ Với dự định nghiên cứu của mình, tác giả
sẽ làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng và các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng tại Toà án; thực tiễn áp dụng pháp luật và trên cơ sở đó đề xuất các phương
hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 12a Đối tượng nghiên cứu
(i) Các quan điểm, nghiên cứu, lý luận về tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng, phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Toà án
(ii) Hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam cũng như thế giới về giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng tại Toà án (iii) Thực tiễn giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng tại Toà án ở Việt Nam
(iv) Kinh nghiệm pháp lý nước ngoài cho Việt Nam trong việc xây dựng
cơ chế giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Toà
án
b Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những khía cạnh pháp lý của tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng, các phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng, đặc biệt là phương thức giải quyết tranh chấp tại Toà án Luận văn tìm hiểu thực trạng pháp luật hiện hành
và thực tiễn giải quyết tranh chấp tiêu dùng ở Việt Nam cũng như pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quốc gia phát triển nhằm đánh giá quy định pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam về vấn đề này và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Toà án
4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Toà án; phân tích, đánh giá các nội dung lý luận liên quan tới tranh chấp tiêu dùng, các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng của Việt Nam, trọng tâm là phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Toà án, nêu lên thực trạng, bất cập của quy định pháp luật, đề xuất một số giải
Trang 13pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, việc nghiên cứu luận văn có một số nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Toà án;
- Tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích được những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Toà án;
- Chứng minh tính tất yếu của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Toà án Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án
5 Các phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu trong khi thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu truyền thống như: phương pháp phân tích, luận giải và phương pháp nghiên cứu văn bản,… Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả kết hợp các phương pháp cụ thể bao gồm:
Phương pháp tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để khái quát các
quy định của pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp và trọng tâm
là phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Toà án
Phương pháp so sánh: được áp dụng trong quá trình tìm hiểu các quy
định của các văn bản pháp luật khác nhau như: Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Luật thương mại 2005, Luật cạnh tranh 2004…, so
Trang 14sánh giữa các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
Phương pháp tra cứu mạng Internet: nhằm tìm kiếm kiến thức, các
thông tin liên quan, các bài báo, sự việc được đăng tải trên Internet
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm sáng tỏ các quy định pháp
luật hiện hành về tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân và đặc biệt
là phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, lý luận và thực tiễn thành công ở một số nước trên thế giới, góp phần bổ sung vào kho tàng nghiên cứu
về pháp luật tiêu dùng hiện nay ở Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn khai thác tính cấp thiết của việc hoàn thiện
các quy định pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Toà án trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu hơn với thế giới, người tiêu dùng đòi hỏi cao hơn việc được bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng trước những xâm hại lợi ích từ phía thương nhân cung ứng hàng hóa, đồng thời vai trò mờ nhạt của các tổ chức xã hội, cơ quan quản lý Nhà nước trong hoạt động bảo vệ người tiêu dùng khi phát sinh tranh chấp Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách cần sớm có những nghiên cứu một cách tổng thể về hoạt động giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Toà
án, nhằm góp phần làm kim chỉ nam để áp dụng trong công tác xây dựng và áp dụng pháp luật
7 Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp giữa thương
nhân với người tiêu dùng và phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án
Trang 15Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp giữa
thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA THƯƠNG NHÂN VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA THƯƠNG NHÂN VỚI
NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI TÒA ÁN 1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng
1.1.1 Khái niệm tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng
Trong khoa học pháp lý, tranh chấp được hiểu là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12 ngày 17 tháng 11 năm 2010 (Luật BVQLNTD 2010) không đưa ra khái niệm tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng Về mặt học thuật, tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh (hay còn gọi là “thương nhân”) và tranh chấp trong hoạt động tiêu dùng là những khái niệm có nội hàm rộng hẹp khác nhau, mặc dù chúng đều được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia trong các quan hệ tiêu dùng cụ thể.3
Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, song nhiều nhà khoa học đã thống nhất cho rằng tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ tiêu dùng Theo đó, tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân có thể có các dạng cơ bản sau:
- Tranh chấp về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn hàng hoá, dịch vụ được cung ứng;
3
Nguyễn Thị Vân Anh (chủ biên, 2014), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, tr.174
Trang 17- Tranh chấp về thực hiện các nghĩa vụ cung cấp thông tin của tổ chức,
cá nhân kinh doanh trong việc cung cung ứng hàng hoá, dịch vụ của mình;
- Tranh chấp về thực hiện các nghĩa vụ bảo hành, thu đổi hàng hoá, trả lại tiền, thu hồi hàng hoá theo quy định của pháp luật;
- Tranh chấp về các điều kiện giao dịch chung và hợp đồng theo mẫu của
tổ chức, cá nhân cung ứng hàng hoá, dịch vụ;
- Tranh chấp về hành vi lừa dối hoặc gây nhầm lẫn của thương nhân cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác;
- Tranh chấp về hành vi ép buộc, quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp thị hàng hoá, dịch vụ của thương nhân trái với ý muốn của người tiêu dùng;
- Tranh chấp về nghĩa vụ đảm bảo an toàn bí mật thông tin của người tiêu dùng khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hoá, dịch vụ
1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng
Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được
Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân phải đáp ứng được như yêu cầu sau:
Thứ nhất, phải huy động được sức mạnh của toàn xã hội, trong đó có
vai trò tích cực của bản thân mỗi người tiêu dùng Bản chất của bảo vệ người tiêu dùng bắt đầu từ định chuẩn, đăng kí chuẩn, hỗ trợ liên kết sức mạnh của người tiêu dùng cho tới thực thi pháp luật những công việc như vậy thuộc nhiều tổ chức, cơ quan như hiệp hội, truyền thông, báo chí, hành chính công
tố và tòa án Thêm vào đó, sức mạnh này chỉ có thể được củng cố và gây sức
Trang 18ép đối với các doanh nghiệp khi mỗi người tiêu dùng có ý thức chủ động và trách nhiệm xã hội trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa
Thứ hai, khắc phục vị thế bất cân xứng trong mối quan hệ giữa người
tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh cung ứng hàng hóa, dịch vụ Vị thế bất cân xứng của người tiêu dùng là do thiếu thông tin, kinh nghiệm, khả năng đàm phán và tài chính nên thường phải chịu những rủi ro trong giao dịch với
tổ chức, cá nhân kinh doanh cung ứng hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là những rủi
ro về pháp lý
Thứ ba, đảm bảo sự hài hòa lợi ích của người tiêu dùng, doanh nghiệp
và lợi ích chung của toàn xã hội Khắc phục vị thế bất cân xứng của người tiêu dùng không có nghĩa là bảo vệ người tiêu dùng bằng mọi giá, bỏ qua các quyền và lợi ích hợp pháp của thương nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ Trong mọi trường hợp, lợi ích chung của toàn xã hội sẽ là thước đo đánh giá các thể chế bảo vệ người tiêu dùng nói chung, các phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh nói riêng Tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp là người tiêu dùng và thương nhân
Tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân là loại hình tranh chấp phải
có một bên tham gia là người tiêu dùng Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD
2010 quy định: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ
cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức” Như vậy
người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam được xác định bao gồm các cá nhân, gia đình, tổ chức và họ là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ của cá nhân,
tổ chức kinh doanh với mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, tổ chức đó Theo Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại năm 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Cũng như các quốc gia khác, khái
Trang 19niệm thương nhân theo pháp luật Việt Nam cũng bao gồm các chủ thể truyền thống là cá nhân và pháp nhân, ngoài ra còn bao gồm các tổ hợp tác, các hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên (hộ kinh doanh)
Thứ hai, nội dung của các tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương
nhân chủ yếu liên quan đến các nghĩa vụ của thương nhân trong quá trình đưa hàng hoá, dịch vụ của mình vào lưu thông
Mặc dù quan hệ tiêu dùng được xác lập giữa người tiêu dùng và nhà cung ứng trên cơ sở tự nguyện, nhưng người tiêu dùng luôn ở vị thế bất cân xứng do thiếu thông tin, kinh nghiệm và khả năng đàm phán nên thường phải gánh chịu những rủi ro trong giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh Vì vậy, pháp luật luôn phải có những biện pháp nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong quan hệ với thương nhân khi bên thương nhân vì lợi ích của riêng mình
đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
Thứ ba, tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân có thể có sự
tham gia của chủ thể đặc biệt – các tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Tuy nhiên điều đáng lưu ý là không phải tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nào cũng có quyền khởi kiện vụ án dân sự vì lợi ích của người tiêu dùng Chỉ những tổ chức xã hội đáp ứng những tiêu chí nhất định được quy định tại Khoản 2, Điều 28 Luật BVQLNTD 2010 mới được tham gia khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thứ tư, về hệ quả xã hội của các tranh chấp: tranh chấp giữa người tiêu
dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh có thể dẫn đến những phản ứng tiêu cực
từ phía cộng đồng người tiêu dùng và toàn xã hội như: tẩy chay tập thể đối với sản phẩm, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh cung ứng; sản phẩm
có xuất xứ từ quốc gia hoặc vùng lãnh thổ; công khai phổ biến các thông tin trung thực trong quá trình giải quyết tranh chấp luôn là mục tiêu ưu tiên trong chính sách và pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở các quốc gia trên thế giới
Trang 20Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, các tranh chấp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chủ yếu tồn tại dưới dạng tranh chấp về số lượng, chất lượng, nghĩa vụ bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hoá, dịch vụ, phản ánh tính đơn điệu, áp đặt của các tổ chức, cá nhân kinh doanh cung ứng hàng hoá, dịch vụ trong bước chuyển sang kinh tế thị trường
Tuy nhiên, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam trong những năm gần đây
đã làm phát sinh nhiều phương thức bán hàng mới như: bán hàng đa cấp, bán hàng tận cửa, bán hàng trực tuyến… Bên cạnh sự thuận tiện cho thương nhân
và người tiêu dùng, các hình thức bán hàng này còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ có thể gây thiệt hại cho người tiêu dùng Yêu cầu về đảm bảo an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường hiện đại cũng đòi hỏi phát sinh các nghĩa vụ pháp lý mới của thương nhân cung ứng hàng hoá, dịch vụ và tranh chấp với người tiêu dùng như: hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung; trách nhiệm sản phẩm
và nghĩa vụ thu hồi hàng hoá có khuyết tật; nghĩa vụ đảm bảo thông tin an toàn, bí mật thông tin của người tiêu dùng khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hoá, dịch vụ,…
1.2 Phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng
Sự thay đổi về nội dung và hình thức các tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế mới đã và đang đòi hỏi các hình thức giải quyết tranh chấp phải được thực hiện trên cơ sở nền tảng của một nền kinh tế thị trường hiện đại Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp này hay phương thức kia Hoạt động giải quyết tranh chấp trong các quan hệ dân
sự được phân thành các hình thức phổ biến như: thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án Tùy thuộc vào quy mô giá trị và bản chất vụ việc, các bên có tranh chấp sẽ lựa chọn một hoặc tuần tự nhiều phương thức để đạt được mục đích đặt ra ban đầu Đối với các tranh chấp tiêu dùng, Luật BVQLNTD năm 2010
Trang 21cũng đề cập tới bốn hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến này tại Khoản 1 Điều 30 và toàn bộ nội dung Chương 4 của Luật Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, và việc lựa chọn phương thức nào để giải quyết tranh chấp tùy thuộc vào hiệu quả mà phương thức đó có thể đem lại
cho những bên trong cuộc đối với mỗi vụ việc cụ thể
1.2.1 Phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án
BVQLNTD như sau: “Người tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thương lượng khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.” Theo đó, hình thức này chỉ bị hạn chế
khi tranh chấp gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng và lợi ích công cộng quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật BVQLNTD
2010
Khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến thương nhân để thương lượng khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Thương nhân có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hành thương lượng với người tiêu dùng trong thời hạn không quá 07 (bảy) ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được yêu cầu 4
Trang 22Mặc dù, tại Điều 32 Luật BVQLNTD 2010 có quy định: “Kết quả
thương lượng thành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với người tiêu dùng được lập thành văn bản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” Song lại không đề cập đến giá trị pháp lý của kết quả thương
lượng nêu trên Thực tế cho thấy, dù thương lượng có nhiều những ưu điểm nhưng ở Việt Nam hình thức này không được sử dụng rộng rãi Có thể kể đến các nguyên nhân cơ bản như:
- Thương nhân không ý thức được trách nhiệm xã hội của mình và thường lợi dụng vị thế bất cân xứng về thông tin trong quá trình cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng;
- Bản thân người tiêu dùng chưa nhận thức được quyền của mình và sử dụng các quyền đó để bảo vệ lợi ích của chính mình;
- Pháp luật Việt Nam thừa nhận hình thức giải quyết tranh chấp thương lượng song lại không thừa nhận khả năng cưỡng chế thi hành những cam kết của các bên trong biên bản thương lượng Đây là rào cản lớn nhất khi tham gia giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, dễ xảy ra tình trạng thoái thác thực hiện nghĩa vụ đã cam kết của các bên
1.2.1.2 Hòa giải
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp, trong đó các bên trong quá trình thương lượng có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột nhằm chấm dứt các tranh chấp, bất hoà Hòa giải là giải pháp mang tính chất tự nguyện tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên
Luật BVQLNTD 2010 đã quy định khá chi tiết về quyền lựa chọn
phương thức hòa giải tại Điều 33: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ và người tiêu dùng có quyền thỏa thuận lựa chọn bên thứ ba là cá nhân hoặc tổ chức hòa giải để thực hiện việc hòa giải.”
Trang 23Nguyên tắc hòa giải quy định tại Điều 34 của Luật BVQLNTD 2010: “1
Bảo đảm khách quan, trung thực, thiện chí, không được ép buộc, lừa dối 2
Tổ chức, cá nhân tiến hành hòa giải, các bên tham gia hòa giải phải bảo đảm
bí mật thông tin liên quan đến việc hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
Tổ chức hòa giải được pháp luật quy định tại Điều 35: “Tổ chức, cá
nhân có đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ được thành lập tổ chức hòa giải để giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ” Ngoài ra, tổ chức hòa giải các tranh chấp giữa
người tiêu dùng và thương nhân được quy định tại các Điều 31, 32 và 33 của Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVQLNTD
2010 Theo đó, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thành lập, giải thể tổ chức hòa giải bao gồm: cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 31) Hòa giải viên phải đáp ứng các điều kiện làm hòa giải viên được quy định tại Điều 32: Là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, có ít nhất năm (5) năm kinh nghiệm công tác Người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích không được làm hòa giải viên Các bên có trách nhiệm thực hiện kết quả hòa giải thành theo Điều 37 Luật BVQLNTD 2010 trong thời hạn đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải; trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện thì bên kia có quyền khởi kiện
ra Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật
Mặc dù hòa giải là phương thức được sử dụng rộng rãi, chiếm 80% các vụ việc khiếu nại của người tiêu dùng nhưng kết quả hòa giải nhiều khi không được các bên nghiêm túc thực thi do giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành
là không cao Như vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, phương thức hòa giải
Trang 24vẫn có những hạn chế nhất định Ở Việt Nam, giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng hòa giải còn hạn chế do pháp luật Việt Nam không thừa nhận khả năng cưỡng chế thi hành những cam kết của các bên trong biên bản hòa giải thành
1.2.1.3 Trọng tài
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hình thức thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp xuất phát
từ nhu cầu bảo vệ lợi ích của các thương nhân trong kinh doanh
Trong trường hợp người tiêu dùng và tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vẫn chưa tìm được tiếng nói chung thông qua các phương thức như thương lượng hoặc hòa giải thì có thể thỏa thuận lựa chọn phương pháp
là gửi đơn lên Trọng tài Theo Luật BVQLNTD 2010, trọng tài được sử dụng như một cách giải quyết tranh chấp phát sinh khi có điều khoản trọng tài
(Thuật ngữ dùng trong Luật Trọng tài thương mại 2010 là “thỏa thuận trọng
tài”) Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giữa người tiêu dùng với thương
nhân được quy định từ Điều 38 đến Điều 40 Luật BVQLNTD 2010 Bên cạnh
đó, Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 cũng quy định về Thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp của Trọng tài: “1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ
hoạt động thương mại 2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại 3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.”
Như vậy, tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh tuy không thuần tuý là một tranh chấp thương mại song nó vẫn thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại nếu được các bên lựa chọn bằng thoả thuận trọng tài
Trang 25Tuy nhiên, để điều khoản trọng tài có hiệu lực, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải thông báo về điều khoản trọng tài trước khi giao kết hợp đồng và được người tiêu dùng chấp thuận Theo điều 17 của Luật Trọng tài thương mại 2010 về Quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng thì:
Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn trọng tài hoặc tòa án
để giải quyết tranh chấp Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận
Cách thiết kế quy định này đảm bảo tính linh hoạt, theo đó, nếu người tiêu dùng hài lòng với điều khoản trọng tài, tranh chấp vẫn được giải quyết bằng trọng tài như hai bên đã thoả thuận theo điều kiện giao dịch chung Ngược lại, nếu cảm thấy thiệt thòi bởi thỏa thuận đó, người tiêu dùng cần có
cơ hội để xem xét và quyết định, nếu đồng ý với thỏa thuận trọng tài thì xác nhận vào văn bản riêng Đây là một quy định riêng của Luật trọng tài nhằm bảo vệ người tiêu dùng, bổ sung các nguyên tắc chung khác trong pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, bên cạnh những thuận lợi, các doanh nghiệp cũng gặp phải rất nhiều vấn đề phát sinh khi thực hiện các hợp đồng Bởi vậy mà khi xảy ra tranh chấp, phương thức giải quyết bằng trọng tài là phương thức đạt hiệu quả cao nhất Bởi giải quyết bằng phương thức này chỉ giải quyết một lần, bằng một hội đồng trọng tài do các bên lựa chọn nên các bên có thể chọn những chuyên gia giỏi nhất, độc lập, vô tư và khách quan nhất, có thể bảo vệ được các bí mật của thương nhân, thủ tục do các bên tự thỏa thuận và thời gian giải quyết tranh chấp ngắn gọn
Trang 26Có thể thấy, các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng phương thức trọng tài đảm bảo tính linh hoạt, tính mềm dẻo của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2.2 Phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án
Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở khởi kiện của một bên tranh chấp, yêu cầu Toà án có thẩm quyền xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo một trình tự thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và đưa ra bản án hay quyết định về vụ tranh chấp trên cơ sở quy định của pháp luật và được đảm bảo thi hành bản án hoặc quyết định bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Đây là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa
vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế Do đó, các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hoà giải và cũng không muốn vụ tranh chấp giữa hai bên được giải quyết bằng phương thức trọng tài
Giải quyết tranh chấp bằng Toà án luôn được xem là phương thức hữu hiệu để người tiêu dùng sử dụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm hại trái pháp luật của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh Tuy nhiên trước khi có Luật BVQLNTD năm 2010, nhiều vụ việc vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng trong thời gian này vẫn không được giải quyết bằng phương thức này Người tiêu dùng chỉ có thể khởi kiện vụ án dân
sự với tư cách cá nhân và theo trình tự quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự
2004 nên với trình độ nhận thức và khả năng tham gia tố tụng của người tiêu dùng Việt Nam hiện nay sẽ gặp nhiều khó khăn khi giải quyết
Kế thừa những thành tựu lập pháp của các nước trên thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án ở nước ta hiện nay theo Luật BVQLNTD năm 2010 và Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 (BLTTDS 2015) đã bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, thể hiện rõ tại quy định về
Trang 27nghĩa vụ chứng minh, về hoà giải và trình tự xét xử rút gọn BLTTDS 2015
đã quy định chi tiết, cụ thể hơn về thủ tục rút gọn tại Phần thứ tư, gồm 2 Chương 9 Điều, từ Điều 316 đến Điều 324, theo đó BLTTDS 2015 đã khắc phục được hạn chế Luật BVQLNTD năm 2010 chưa quy định cụ thể về thủ tục rút gọn đối với tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng
Như vậy, so với các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Toà án thì giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án có những ưu điểm nhất định, thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, quá trình tố tụng tại Toà án luôn phải tuân theo những nguyên
tắc, những quy định chặt chẽ, nghiêm ngặt của pháp luật tố tụng Do Toà án là
cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của Toà án có tính cưỡng chế cao Việc thi hành bản án của Toà án được đảm bảo được thực thi bằng các biện pháp mang tính quyền lực Nhà nước Nếu bên phải thi hành án không thực hiện thì sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định pháp luật Đây
là một trong những ưu điểm đặc trưng của phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án so với các phương thức còn lại
Thứ hai, người tiêu dùng không phải nộp tạm ứng án phí Đây là quy
định thể hiện rõ sự khuyến khích người tiêu dùng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình từ phía Nhà nước Trên thực tế, người tiêu dùng luôn có tâm lý ngại kiện tụng do quá trình theo đuổi vụ án giải quyết tranh chấp mất nhiều thời gian, chưa biết kết quả đạt được hay không, chưa kể đến vấn đề về tài chính Việc quy định người tiêu dùng không phải nộp tạm ứng án phí khi khởi kiện
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng mạnh dạn khởi kiện bảo vệ quyền lợi của mình
Thứ ba, thông tin về vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải được công bố công khai sau khi thụ lý và sau khi xét xử Để đảm bảo thông tin được
phổ biến rộng rãi đến người tiêu dùng, sau khi thụ lý, Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03
Trang 28(ba) ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án5 Bên cạnh đó, sau khi xét xử, đối với bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và công bố công khai trên một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương trong ba số liên tiếp6 Việc công khai thông tin không chỉ giúp cho người tiêu dùng có liên quan biết để cùng tham gia vụ kiện (nếu có), mà còn góp phần tuyên truyền, phổ biến các vụ án về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để người tiêu dùng nắm rõ hơn về quyền lợi của mình, hiểu được cách thức bảo
vệ quyền lợi của mình và những người tiêu dùng khác khi có hành vi xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp từ thương nhân
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP GIỮA THƯƠNG NHÂN VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI TÒA ÁN
Khi xảy ra tranh chấp với thương nhân, người tiêu dùng có thể liên hệ tới các cơ quan hoặc tổ chức dưới đây để đề nghị hỗ trợ, giải quyết: tổ chức, cá nhân kinh doanh trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng; các Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Hội BVQLNTD); Uỷ ban nhân dân các cấp (chủ yếu là cấp xã và cấp huyện); trọng tài và Tòa án…Trong đó, cơ chế khởi kiện ra Tòa án là công cụ hữu hiệu nhất cho việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Luật BVQLNTD cho phép người tiêu dùng và các tổ chức xã hội (dân sự) thay mặt người tiêu dùng khởi kiện tại Tòa án Phương thức giải quyết bằng Tòa án phải tuân theo các quy định tố tụng của Bộ luật Tố tụng dân sự
Về bản chất, tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tranh chấp dân sự, do đó Tòa án luôn có thẩm quyền xét xử các tranh chấp này Tuy nhiên, do phương thức này được quy định tại pháp luật tố tụng dân sự nên Luật BVQLNTD không thể đưa ra các quy định lại về vấn đề này Luật chỉ có thể có những quy định đặc thù như quyền khởi kiện của tổ chức bảo vệ người tiêu dùng Đối với những vấn đề còn lại, có thể viện dẫn tới quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành Tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng tại Toà án có thể được giải
quyết theo thủ tục tố tụng thông thường hoặc thủ tục rút gọn, cụ thể như sau: 2.1 Tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường
Căn cứ theo Điều 41 Luật BVQLNTD, ngoài các tranh chấp đáp ứng ba điều kiện xét xử theo thủ tục tố tụng rút gọn, các tranh chấp tiêu dùng khác khi được đưa ra xét xử tại Tòa án sẽ áp dụng trình tự tố tụng như đối với giải quyết một vụ án dân sự thông thường Có thể khái quát trình tự giải quyết
Trang 31tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng tại Toà án bao gồm các bước cụ thể như sau:
Bước 1 Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện đến Tòa án 7
Khoản 1 Điều 41 Luật BVQLNTD quy định vụ án dân sự về BVQLNTD: “Vụ án dân sự về BVQLNTD là vụ án mà bên khởi kiện là người
tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD theo quy định của Luật này” Theo đó, những chủ thể có quyền khởi kiện tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ là người tiêu dùng có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD được người tiêu dùng ủy
quyền hoặc khởi kiện vì lợi ích công cộng
Theo Khoản 1 Điều 190 BLTTDS 2015 thì đơn khởi kiện có thể được nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường dịch vụ bưu chính hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Toà án (nếu có) Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện phải nộp các chứng cứ có liên quan đến nội dung khởi kiện như các loại chứng cứ chứng minh mình đã mua hàng của doanh nghiệp bị kiện, các loại chứng cứ chứng minh mình bị thiệt hại, các loại chứng cứ chứng minh doanh nghiệp bị kiện đã có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Tòa án sau khi nhận đơn khởi kiện sẽ ra thông báo nhận đơn gửi cho nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 191 BLTTDS 2015
Bước 2 Xử lý đơn khởi kiện 8
Theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 191 BLTTDS 2015, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phân công một thẩm phán xem xét đơn khởi kiện Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; b)
Trang 32Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn; c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Bước 3 Thụ lý vụ án 9
Trường hợp Toà án thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Đối với các vụ án dân sự tiêu dùng, Khoản 2 Điều 43 Luật BVQLNTD năm 2010 có quy định cho phép người tiêu dùng khi khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình không phải nộp tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án Tuy nhiên, trong trường hợp người tiêu dùng thua kiện thì nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí vẫn phải thực hiện theo quy định của pháp luật Đối với tổ chức BVQLNTD, nếu khởi kiện với tư cách bảo vệ lợi ích công cộng thì cũng không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí, án phí
Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án.10Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa
án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể phải kéo dài thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán
Trang 33dự khuyết để bảo đảm xét xử đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật này.11
Bước 4 Tiến hành hoà giải 12
Khác với các vụ án hình sự, đối với vụ án dân sự tiêu dùng, trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của BLTTDS 2015 hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn13 Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong
vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải, biên bản hòa giải thành có ký tên xác nhận của các bên là căn cứ để chấm dứt vụ án tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng
Bước 5 Xét xử sơ thẩm
Trường hợp các bên hòa giải không thành, Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử
sơ thẩm Trình tự phiên xét xử sơ thẩm được quy định tại Chương XIV BLTTDS 2015 Bản án sơ thẩm sẽ được Toà án chuyển tới các đương sự, cơ quan, tổ chức cá nhân khởi kiện và Viện Kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án Đối với bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và công bố công khai trên một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương trong ba số liên tiếp14
Bản án sẽ có hiệu lực sau 15 ngày
kể từ ngày tuyên án, nếu không có kháng cáo của các đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện và kháng nghị của Viện Kiểm sát cùng
Trang 34cấp; và 30 ngày kể từ ngày tuyên án nếu không có kháng nghị của Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp (Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 BLTTDS
2015 về thời hạn kháng cáo, thời hạn kháng nghị)
Bước 6 Xét xử phúc thẩm
Trường hợp không đồng ý với phán quyết của tòa án sơ thẩm, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm có quyền kháng cáo một phần hoặc toàn bộ bản án (Điều 271 BLTTDS 2015) Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa
án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm (Điều 278 BLTTDS 2015) Toà án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ
án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo cho Toà án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày: hết thời hạn kháng nghị hoặc hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo đã nộp cho Toà án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm Đối với
vụ án dân sự tiêu dùng, bên kháng cáo là người tiêu dùng thì tạm ứng án phí cũng được miễn
2.2 Tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
2.2.1 Nội dung thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
2.2.1.1 Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Hiện nay, trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều xây dựng và áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn (Thủ tục rút gọn) để giải quyết một số loại vụ án dân sự nhất định Xét một cách khái quát thì tuỳ pháp luật mỗi nước có những đặc thù riêng nhưng nhìn chung thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự được hiểu là một thủ tục đơn giản hơn thủ tục tố tụng thông thường
Trang 35về thành phần hội đồng xét xử, về thời gian tiến hành tố tụng… đối với các vụ
án có nội dung tranh chấp tương đối rõ ràng, bị đơn đã thừa nhận hoặc không phản đối yêu cầu của nguyên đơn, các vụ án có giá ngạch thấp hoặc do các bên đương sự lựa chọn giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Trong mối quan hệ giữa xét xử theo thủ tục tố tụng thông thường và thủ tục rút gọn thì thủ tục tố tụng dân sự thông thường là cơ sở cho việc áp dụng giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn và thủ tục rút gọn là sự lược hoá một số bước của thủ tục tố tụng thông thường Tuy nhiên, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn không phải là thủ tục phụ thuộc vào thủ tục tố tụng thông thường mà thủ tục rút gọn là một thủ tục tố tụng độc lập tương đối so với thủ tục tố tụng thông thường Tính độc lập của thủ tục tố tụng rút gọn thể hiện trong trường hợp nếu các điều kiện xét xử theo thủ tục tố tụng rút gọn không còn đáp ứng thì vụ việc vẫn có thể được giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường Chế định thủ tục rút gọn lần đầu tiên được pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định trong BLTTDS 2015 bao gồm các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự kể từ khi Toà án thụ lý vụ án đến lúc ra một phán quyết hoặc quyết định có hiệu lực thi hành đối với các đương sự được giản lược so với thủ tục thông thường Khái niệm thủ tục rút gọn lần đầu tiên được
quy định tại khoản 1 Điều 316 BLTTDS 2015: “Thủ tục rút gọn là thủ tục tố
tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật”
Từ những phân tích trên, trong phạm vi luận văn có thể đưa ra khái niệm
của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự như sau: Thủ tục tố tụng dân sự rút
gọn là loại thủ tục tố tụng giản lược về thủ tục và rút ngắn về thời gian so với
thủ tục tố tụng dân sự thông thường, được áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự có đủ kiều kiện nhất định theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Trang 36nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và quyền lợi hợp pháp của các đương
sự theo quy định của pháp luật
2.2.1.2 Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn đối với tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng
Khoản 2 Luật BVQLNTD 2010 quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cụ thể là
….2 Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết
theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Cá nhân là người tiêu dùng khởi kiện; tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng bị khởi kiện;
b) Vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
c) Giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng
Khoản 2 Điều này quy định, tranh chấp có giá trị từ 100.000.000 đồng
(một trăm triệu đồng) trở lên sẽ được áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết
khi có đủ các điều kiện như trên đồng thời phải được các đương sự đề nghị hoặc đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn; chứng cứ rõ ràng, đủ căn cứ để giải quyết
Dự thảo BLTTDS 2015 trước đây ấn định giá trị tranh chấp được giải quyết theo thủ tục rút gọn ở mức dưới 200 triệu đồng Tuy nhiên khi BLTTDS 2015 được thông qua thì quy định này đã không được giữ lại 15
Điểm này được thể hiện trong quy định tại Khoản 1 Điều 317 BLTTDS 2015
15
Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, tr 694
Trang 37theo hướng Toà án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:
1 Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự
đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự
đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản…
Như vậy, theo quy định của BLTTDS 2015 thì thủ tục rút gọn được áp dụng ngay cả khi tranh chấp có giá trị trên một trăm triệu đồng chứ không phải chỉ áp dụng đối với tranh chấp có giá trị dưới một trăm triệu đồng theo như quy định tại Luật BVQLNTD 2010 Hay nói cách khác, tiêu chí áp dụng thủ tục rút gọn theo BLTTDS 2015 không phân biệt giá trị tranh chấp Đây là một điều hết sức hợp lý bởi giá trị tranh chấp mặc dù lớn hay nhỏ nhưng vụ
án có tính chất đơn giản, đương sự thừa nhận sự việc thì vẫn xét xử theo thủ tục rút gọn, không nên kéo dài việc giải quyết vụ án
2.2.1.3 Về thành phần, trình tự giải quyết thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được thực hiện ở cấp sơ thẩm
và phúc thẩm; Thành phần Hội đồng xét xử sở thẩm và phúc thẩm chỉ do một thẩm phán tiến hành (Điều 65 BLTTDS 2015); tại cấp sơ thẩm, việc xét xử vụ
án dân sự theo thủ tục rút gọn không có Hội thẩm nhân dân tham gia (Điều 11 BLTTDS 2015) Trình tự thủ tục rút gọn được quy định tại Phần thứ tư
Trang 38BLTTDS 2015 từ Điều 316 đến Điều 324; trường hợp không có quy định thì
áp dụng những quy định khác của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án
2.2.1.4 Về thời hạn giải quyết thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Kèm theo các điều kiện nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng thì việc quy định thời hạn ngắn nhất để giải quyết vụ án là điều không thể thiếu, do đó, trong thời gian 01 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án sơ thẩm, thẩm phán phải ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 318) Và ở giai đoạn chuẩn bị xét
xử phúc thẩm thì thời hạn này cũng chỉ 01 tháng (Điều 323) Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử ở cả giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm chỉ là 02 tháng, giảm 04 tháng so với thủ tục thông thường (chưa kể thời gian gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử đối với thủ tục thông thường)
Một điểm đặc biệt hơn là ngay cả việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm cũng không làm mất đi hiệu lực của thủ tục rút gọn, và khi lí do tạm đình chỉ không còn thì vụ án vẫn được tiếp tục xét xử theo thủ tục này (Khoản 3, Điều 323) Chỉ khi xuất hiện tình tiết mới hoặc cần phải tiến hành giám định; cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống nhất về giá; cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập; phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác
tư pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 317 BLTTDS 2015 thì vụ án mới chuyển sang giải quyết theo thủ tục thông thường
2.2.1.5 Về hiệu lực của bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn
Điều 321 BLTTDS 2015 quy định: Bản án quyết định sơ thẩm của Tòa
án theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn cũng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 39Khác với tố tụng hình sự, BLTTDS 2015 quy định vụ án được xét xử rút gọn ở cả giai đoạn phúc thẩm, đây là điểm tiến bộ và cần thiết bởi vì nếu vụ
án được xét xử nhanh chóng ở giai đoạn sơ thẩm nhưng đến giai đoạn xét xử phúc thẩm lại bị kéo dài, điều đó sẽ làm mất đi ý nghĩa của thủ tục rút gọn
2.2.2 Ý nghĩa của thủ tục tố tụng rút gọn
Ý nghĩa to lớn của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn nằm ngay trong chính tên gọi của thủ tục này với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể tiếp cận công lý một cách nhanh chóng Việc xây dựng thủ tục tố tụng dân
sự rút gọn có ý nghĩa không chỉ đối với các đương sự, Toà án mà nó còn có ý nghĩa xã hội rộng lớn và sâu sắc
Thứ nhất, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sẽ giảm đáng kể các chi phí tố tụng cho đương sự trong quá trình giải quyết vụ án
Thông thường pháp luật các nước có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn đều quy định án phí mà đương sự phải chịu là thấp hơn so với thủ tục
tố tụng thông thường Bên cạnh đó, do các vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, xét xử nhanh nên các chi phí đi lại, thuê luật sư không phát sinh Tòa án cũng không phải tiến hành tất cả các trình tự, thủ tục để đưa vụ án ra xét xử mà gần như chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp Vì vậy, các chi phí phát sinh như định giá, thẩm định tại chỗ, thu thập tài liệu, chứng cứ cũng không phát sinh
Thứ hai, trong thủ tục tố tụng dân sự rút gọn, thời gian để tiến hành tố tụng được rút gắn đi rất nhiều lần so với thủ tục tố tụng dân sự thông thường
Do vậy, quyền lợi hợp pháp của đương sự sẽ được bảo vệ một cách nhanh chóng, kịp thời Xét về thực tế thì do các bước về thủ tục được giản lược nên Toà án sẽ giảm được tối đa các công việc không cần thiết, số lần đi lại để triệu tập đương sự, người làm chứng, thu thập chứng cứ cũng theo đó
Trang 40mà giảm đáng kể, thời hạn giải quyết vụ án sẽ không bị kéo dài một cách không cần thiết
Thứ ba, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn đáp ứng yêu cầu về bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án có thể nhanh chóng giải quyết vụ án
Đối với công dân thì thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sẽ tạo điều kiện thuận lợi để họ tiến hành khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Trong các vụ án có nội dung tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì cả nguyên đơn và bị đơn không phải trải qua tất cả các thủ tục tố tụng như trong thủ tục thông thường, mà chỉ tiến hành một số thủ tục luật định cần thiết cho việc giải quyết vụ án
Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là phương tiện để Thẩm phán có thể chủ động và linh hoạt trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự vì họ không phải thực hiện tất cả các trình tự, thủ tục như thủ tục tố tụng dân sự thông thường Ngoài ra, với đặc điểm của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là thời gian giải quyết nhanh chóng, trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng đơn giản nên thủ tục này sẽ là một phương tiện được người dân tin cậy trong việc sử dụng để nhanh chóng bảo vệ quyền lợi của mình Từ đó hạn chế được các hiện tượng tiêu cực hiện nay như khiếu kiện kéo dài hoặc người dân thiếu tin tưởng vào tính hiệu quả của hệ thống Toà án nên đã tự mình hành xử bằng cách bắt nợ, đòi nợ thuê dẫn đến gây mất trật tự xã hội và có thể phát sinh thành các tội phạm hình sự
Thứ tư, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn góp phần giảm áp lực công việc cho cán bộ ngành Toà án, đặc biệt là đối với Thẩm phán
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường thì các tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, lao động phát sinh ngày càng phức tạp với chiều hướng gia tăng Do vậy, số lượng các vụ án tranh chấp về dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình ngày càng nhiều Trong điều kiện