1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính bất hợp pháp của đường lưỡi bò theo quy định của UNCLOS 1982 và phán quyết của tòa trọng tài quốc tế trong vụ philippines kiện trung quốc

92 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích nghiên cứu một cách cụ thể và mong muốn có những đóng góp nhất định trong việc tìm ra giải pháp để giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển liên quan đến “đường lưỡi bò” g

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THANH BÌNH

ĐỀ TÀI

TÍNH BẤT HỢP PHÁP CỦA ĐƯỜNG LƯỠI BÒ THEO QUY ĐỊNH CỦA UNCLOS 1982 VÀ PHÁN QUYẾT CỦA TÒA TRỌNG TÀI QUỐC TẾ TRONG VỤ PHILIPPINES KIỆN

TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THANH BÌNH

ĐỀ TÀI

TÍNH BẤT HỢP PHÁP CỦA ĐƯỜNG LƯỠI BÒ THEO QUY ĐỊNH CỦA UNCLOS 1982 VÀ PHÁN QUYẾT CỦA TÒA TRỌNG TÀI QUỐC TẾ TRONG VỤ PHILIPPINES KIỆN

TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: CH23NC019

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Toàn Thắng

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng

tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình

nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích

dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Bình

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

viết tắt

1 CLCS Commission on the Limits

of the Continental Shelf

Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa

2 DOC Declaration on Conduct of

the Parties in the South China Sea

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông 2002

3 ICJ International Court of

Justice

Tòa án Công lý Quốc tế

4 ITLOS International Tribunal Law

of the Sea

Tòa án Quốc tế về Luật Biển

5 UNCLOS 1982 The 1982 United Nations

Convention on the Law of the Sea

Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1.YÊU SÁCH “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ” CỦA TRUNG QUỐC 7

1.1 Địa chiến lược và tiềm năng kinh tế Biển Đông 7

1.2 Phân tích quá trình hình thành và nội dung “đường lưỡi bò” qua từng thời kỳ 10 1.2.1 Năm 1948 Bộ Nội vụ Trung Quốc xuất bản tấm bản đồ 11 đoạn, xác định vị trí của các đảo trên Biển Đông 10

1.2.2 Năm 1953 12

1.2.3 Năm 2009 12

1.2.4 Từ năm 2012 đến nay 16

1.3 Các hành động của Trung Quốc nhằm hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” 17

1.4 Chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông: các căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử 20

1.4.1 Sử dụng và chiếm hữu lâu đời quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước thời nhà Nguyễn 20

1.4.2 Chiếm hữu thực sự và thực thi chủ quyền một cách liên tục quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dưới thời Nhà Nguyễn 21

1.4.3 Việc nước Pháp nhân danh Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa 23

1.4.4 Việc bảo vệ và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đến nay 24

CHƯƠNG 2 TÍNH BẤT HỢP PHÁP CỦA ĐƯỜNG LƯỠI BÒ DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ 27

2.1 Tính bất hợp pháp của đường lưỡi bò dưới góc độ các quy định của UNCLOS 1982 27

2.1.1 Tính bất hợp pháp của yêu sách đường lưỡi bò dưới danh nghĩa xác lập vùng nước lịch sử 27

Trang 6

2.1.2 Tính bất hợp pháp của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới danh nghĩa xác

lập chủ quyền, quyền chủ quyền đối với đảo và các vùng biển lân cận đảo 31

2.1.3 Tính bất hợp pháp của yêu sách đường lưỡi bò dưới danh nghĩa xác lập “quần đảo” và “quốc gia quần đảo” 34

2.2 Tính bất hợp pháp của đường lưỡi bò dưới góc độ phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế trong vụ Philippines kiện Trung Quốc 35

2.2.1 Giới thiệu tổng quan vụ kiện và quan điểm của Philippines và Trung Quốc 35

2.2.2 Tòa án tuyên bố Trung Quốc không có quyền lịch sử đối với Biển Đông và bác bỏ yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc 39

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TRƯỚC YÊU SÁCH ĐƯỜNG LƯỠI BÒ CỦA TRUNG QUỐC 53

3.1 Lập trường nhất quán của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp qua từng thời kỳ 53

3.2 Phương thức bảo vệ chủ quyền của Việt Nam dưới góc độ pháp lý 56

3.2.1 Chọn cơ chế Tòa án để giải quyết tranh chấp 56

3.2.1.1 Các vấn đề mà Việt Nam sẽ khởi kiện 57

3.2.1.2 Chọn cơ chế tòa án để giải quyết tranh chấp 59

3.2.2 Các vấn đề thủ tục và sự chuẩn bị tham gia tố tụng tại Tòa án 63

3.2.2.1 Xây dựng “ngân hàng” tư liệu 63

3.2.2.2 Chuẩn bị nhân sự 64

3.2.2.3 Xây dựng chiến thuật tranh tụng một cách cụ thể 64

3.2.2.4 Phản biện các lập luận của đối phương 65

3.3 Phương thức bảo vệ chủ quyền của Việt Nam dưới góc độ ngoại giao 66

3.3.1 Nhất quán trong việc chọn phương thức đàm phán đa phương 67

3.3.2 Thông qua ASEAN và ARF như một kênh ngoại giao đa phương 70

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bằng các tuyên bố và hành động thực tiễn mang tính gây hấn, nhiều năm qua Trung Quốc đang ra sức áp đặt yêu sách "đường lưỡi bò”, mặc nhiên cho rằng cộng đồng quốc tế đã thừa nhận "chủ quyền lịch sử lâu đời” của họ trên Biển Đông Sự thật là, yêu sách "đường lưỡi bò” bao chiếm gần trọn Biển Đông của Trung Quốc trong các diễn đàn quốc tế luôn bị phản đối vì xuyên tạc lịch sử, không có cơ sở pháp lý, vi phạm các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (sau đây viết tắt là UNCLOS 1982), xâm phạm chủ quyền, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nhiều quốc gia ven Biển Đông Chính yêu sách “đường lưỡi bò” trên Biển Đông đã tạo ra một “nguy cơ” gây bất ổn trong khu vực Tranh chấp Biển Đông đã trở thành một trong những cuộc tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới Sự phức tạp của tranh chấp Biển Đông đến phần lớn từ sự “ngang ngược” của yêu sách

“đường lưỡi bò” mà Trung Quốc tạo ra, tồn tại bên cạnh các yêu sách phức tạp về chủ quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn Hơn nữa,

nó không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt luật pháp quốc tế về biên giới biển, lãnh thổ trên biển mà nó còn được đan xen với những lợi ích về địa – chính trị, về kiểm soát con đường vận tải biển chiến lược, và về khai thác các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách cụ thể về yêu sách “đường lưỡi bò” là một điều vô cùng cần thiết Ngoài

ra, vào ngày 12/07/2016, Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS 1982 (sau đây gọi tắt là Tòa Trọng tài) đã ra phán quyết cuối cùng trong vụ kiện trọng tài Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc Phán quyết này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cộng đồng quốc tế nói chung

và Việt Nam nói riêng Trong phán quyết ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài đã phủ nhận giá trị của "đường lưỡi bò" và khẳng định Trung Quốc không có cơ

sở pháp lý trong việc tuyên bố quyền lịch sử Trung Quốc đối với các tài nguyên ở Biển Đông bên ngoài giới hạn của các vùng biển mà Trung Quốc được hưởng theo Công ước Phán quyết của Tòa Trọng tài đã đưa ra những

Trang 8

lập luận vô cùng cụ thể và chặt chẽ nhằm bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc Những lập luận này là những căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng mà Việt Nam cần nghiên cứu để áp dụng vào việc giải quyết chính bài toán mà quốc gia mình đang mắc phải trên Biển Đông hiện nay Chính vì vậy, yêu cầu nghiên cứu phán quyết của Tòa Trọng tài là vô cùng cần thiết trong bối cảnh hiện tại

Với mục đích nghiên cứu một cách cụ thể và mong muốn có những đóng góp nhất định trong việc tìm ra giải pháp để giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển liên quan đến “đường lưỡi bò” giữa Việt Nam và Trung Quốc, học viên đã chọn đề tài: “Tính bất hợp pháp của đường lưỡi bò theo quy định của UNCLOS 1982 và phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế trong vụ Philippines kiện Trung Quốc” để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành luật quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đường lưỡi bò mà Trung Quốc xác lập là nguyên nhân chính dẫn đến việc xảy ra các xung đột giữa các nước có liên quan nói chung và Việt Nam nói riêng đối với quốc gia này Chính vì vậy, từ lâu đã có rất nhiều các học giả quốc tế và Việt Nam nghiên cứu để phân tích, chứng minh tính bất hợp pháp của yêu sách đường lưỡi bò cũng như đưa ra các giải pháp ứng phó với các tranh chấp phát sinh từ yêu sách này Ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến “đường lưỡi bò” được nghiên cứu trong một số công trình nghiên cứu tổng thể về biển như các công trình nghiên cứu của Ủy ban Biên giới quốc gia – Bộ Ngoại giao, hay công trình nghiên cứu của tác

giả Nguyễn Bá Diến (2015) – Yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung

Quốc và chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, Nxb Thông tin và Truyền

thông, Hà Nội, vv… Ngoài ra, rất nhiều các bài báo, các bài tham luận, các hội thảo thường niên được tổ chức để các bên đưa ra những nhận định và trao đổi quan điểm về vấn đề này Tuy nhiên, về các lập luận của Tòa Trọng tài liên quan đến việc bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc thì hiện nay vẫn chưa xuất hiện nhiều những nghiên cứu cụ thể Chính vì vậy, bên

Trang 9

cạnh việc đi phân tích và làm rõ yêu sách “đường lưỡi bò”, luận văn cũng đi sâu vào nghiên cứu cụ thể các luận điểm mà Tòa Trọng tài đưa ra để bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các vấn đề sau:

- Các bằng chứng thể hiện quá trình hình thành và hiện thực quá đường lưỡi bò một cách phi pháp của Trung Quốc: từ năm 1948 đến nay

- Các bằng chứng lịch sử thể hiện quá trình hình thành và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: từ trước thời nhà Nguyễn đến nay

- Các quy định của UNCLOS 1982 về các vấn đề liên quan đến vùng nước lịch sử, việc xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các đảo và vùng biển lân cận, quốc gia quần đảo,… Từ việc nghiên cứu các quy định này, luận văn đi vào phân tích sự phi lý về “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc

đã tạo ra

- Các luận điểm mà Tòa Trọng tài đưa ra nhằm tuyên bố Trung Quốc không có quyền lịch sử đối với tài nguyên nằm trong đường lưỡi bò và bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc

- Các quy định của pháp luật quốc tế về cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến các vấn đề trên Biển Đông, từ đó đưa ra những giải pháp để giải quyết các tranh chấp, xung đột trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc

Yêu sách đường lưỡi bò là một vấn đề rất rộng, chính vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, luận văn chỉ làm sáng tỏ tính phi lý của

“đường lưỡi bò” theo quy định của UNCLOS 1982 và theo phán quyết của Tòa Trọng tài

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ nguồn gốc, đặc điểm, phạm vi “đường lưỡi bò” của Trung Quốc và những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông nhằm hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” Sau đó, đưa ra những phân tích dựa trên UNCLOS 1982 và phán quyết của Tòa Trọng

Trang 10

tài nhằm làm sáng tỏ tính phi lý của “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đã tạo

ra Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các kiến nghị, giải pháp mang tính pháp lý

có thể áp dụng trong tranh chấp, nhằm góp phần giúp Việt Nam có hướng giải quyết đúng đắn để đưa Biển Đông trở lại thành một vùng biển hòa bình, an ninh ổn định, cùng nhau hợp tác để phát triển

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Luận văn trả lời 4 câu hỏi chính sau:

Thứ nhất, cơ sở và quá trình hình thành “đường lưỡi bò” là gì?

Thứ hai, tính bất hợp pháp của “đường lưỡi bò” dưới góc độ UNCLOS

1982?

Thứ ba, Tòa Trọng tài đã đưa ra những lập luận gì để bác bỏ yêu sách

“đường lưỡi bò” của Trung Quốc và khẳng định Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để tuyên bố quyền lịch sử đối với các tài nguyên ở Biển Đông?

Thứ tư, Việt Nam có thể dùng biện pháp gì để giải quyết vấn đề tranh

chấp trên biển với Trung Quốc?

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin Ngoài ra, tương ứng với từng phần nội dung, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp chẩn đoán và suy luận logic Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của “đường lưỡi bò”; quá trình sử dụng và chiếm hữu lâu đời hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Phương pháp tổng hợp được sử dụng để đưa ra các giải pháp giải quyết tranh chấp phát sinh từ “đường lưỡi bò” dựa trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982 Phương pháp phân tích giúp làm sáng tỏ tính pháp lý của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới các cách diễn giải khác nhau Phương pháp so sánh được dùng để phân tích và đối chiếu các cơ chế tài phán quốc tế nhằm đưa ra phương án pháp lý thích hợp cho Việt Nam khi sử dụng để bảo vệ chủ quyền biển đảo của quốc gia

Trang 11

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là tổng hợp những nghiên cứu về yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc Trên cơ sở đó, luận văn đối chiếu với các quy định của UNCLOS 1982 nhằm chỉ ra sự phi lý của Trung Quốc khi đã vẽ ra “đường lưỡi bò” Hơn nữa, luận văn đã đi vào phân tích cụ thể các lập luận của Tòa Trọng tài trong việc bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc và tuyên bố Trung Quốc không có quyền lịch sử đối với việc khai thác, đánh bắt tài nguyên trong khu vực Biển Đông Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn có độ chính xác cao và góp phần bổ sung, làm phong phú hơn hệ thống tài liệu nghiên cứu về vấn đề Biển Đông nói chung và yêu sách “đường lưỡi bò” nói riêng Luận văn có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài này trên góc

độ lý luận và khoa học Về thực tiễn, luận văn có đề cập đến quá trình hình thành và cách thể hiện “đường lưỡi bò” trên bản đồ và thực tế Điều này sẽ giúp người đọc dễ dàng nhận diện yêu sách này

8 Bố cục các chương của luận văn

Theo yêu cầu chung của một nghiên cứu khoa học, luận văn có bố cục gồm ba phần chính là: mở đầu, nội dung và kết luận Trong đó, phần nội dung được chia thành ba chương với các mục tương ứng với từng chương:

Chương 1: Yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc

Trong chương này tác giả đưa ra cái nhìn tổng quan về địa chiến lược

và tiềm năng kinh tế của Biển Đông; cũng như phân tích cụ thể quá trình hình thành “đường lưỡi bò” qua từng thời kỳ và các hành động hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc Ngoài ra, nhằm khẳng định chủ quyền không đổi của Việt Nam trên Biển Đông, bác bỏ yêu sách phi lý về “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, tác giả đã đi phân tích các căn cứ pháp lý và các bằng chứng lịch sử nhằm chứng minh Việt Nam đã thực thi chủ quyền quốc gia một cách lâu đời trên vùng biển này

Trang 12

Chương 2: Tính bất hợp pháp của đường lưỡi bò dưới góc độ luật pháp quốc tế

Chương 2 phân tích tính bất hợp pháp của đường lưỡi bò dưới góc độ các quy định của UNCLOS 1982 và dưới góc độ phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế trong vụ Philippines kiện Trung Quốc Đối với phán quyết của Tòa trọng tài, luận văn đi vào giới thiệu tổng quan về quá trình tố tụng; quan điểm

và luận điểm của các bên; các phân tích các lập luận của Tòa trọng tài về việc bác bỏ quyền lịch sử của Trung Quốc đối với Biển Đông và yêu sách “đường lưỡi bò” của quốc gia này

Chương 3: Phương hướng bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trước yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc

Trong chương 3, luận văn rút ra một số kinh nghiệm, bài học pháp lý

và thực tiễn về giải quyết tranh chấp trên biển, đảo; từ đó đề xuất hai nhóm giải pháp dưới góc độ pháp lý và ngoại giao nhằm đối phó với yêu sách

“đường lưỡi bò” của Trung Quốc

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 YÊU SÁCH “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ” CỦA TRUNG QUỐC

1.1 Địa chiến lược và tiềm năng kinh tế Biển Đông

Biển Đông là một biển nửa kín và là một trong những khu vực chiến lược quan trọng bậc nhất trên thế giới, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia Với diện tích bề mặt khoảng 1.148.500 hải lý vuông (tương đương 3.939.245 km2), Biển Đông là một trong những biển lớn nhất thế giới Biển Đông - theo tên Tiếng Anh (South China Sea) và tiếng Pháp Mer de Chine Méridionale, là một biển rìa Tây Thái Bình Dương Biển Đông được gọi bằng nhiều tên khác nhau, tùy thuộc vào thói quen truyền thống hay xuất phát từ những mục đích, động cơ khác nhau:

- Người Trung Quốc gọi là Nam Hải

- Người Philippines gọi là Biển Luzon, gọi theo tên hòn đảo Luzon của Philippines Thời gian gần đây thì gọi là Biển Tây Philippines

- Người Việt Nam gọi là Biển Đông Đây là tên riêng do người Việt Nam đặt để gọi một vùng biển nằm phía Đông Việt Nam, tên gọi này đã đi vào tiềm thức, thành thói quen của người dân Việt Nam từ bao đời nay Theo quy định của Ủy ban Quốc tế về biển, tên của các biển rìa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn gần nhất hoặc mang tên của một nhà khoa học phát hiện ra chúng Biển Đông nằm ở phía Nam đại lục Trung Hoa nên có tên gọi là biển Nam Trung Hoa Cũng cần nhấn mạnh rằng, về mặt pháp lý, địa danh biển không có ý nghĩa về mặt chủ quyền hay có giá trị pháp lý để khẳng định chủ quyền của một quốc gia đã đặt tên cho khu vực địa lý nào đó như một số người ngộ nhận Chẳng hạn, gọi là Ấn Độ Dương không có nghĩa đại dương này thuộc về Ấn Độ; vịnh Thái Lan không có nghĩa vịnh này hoàn toàn thuộc về Thái Lan,…Vấn đề quyền chủ quyền, quyền chủ quyền và

Trang 14

quyền tài phán quốc gia trên biển được xác định và giải quyết theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982

Tiềm năng của Biển Đông

Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt

là nguồn tài nguyên sinh vật (thuỷ sản), khoáng sản (dầu khí), du lịch…

Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines, trong đó Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu tấn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5 - 2 triệu tấn/năm), cả khu vực đánh bắt khoảng 7 - 8% tổng sản lượng đánh bắt cá trên toàn thế giới.1

Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa sông Châu Giang Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng

dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường

Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng

Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng – được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo

1 Trần Bông, “Biển Đông: Địa chiến lược và Tiềm năng kinh tế”, Nghiên cứu Biển Đông, tại địa chỉ: http://nghiencuubiendong.vn/tong-quan-ve-bien-dong/504-bien-ong-ia-chien-lc-va-tiem-nng, ngày truy cập 30/04/2017

Trang 15

Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông

Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu – Châu Á, Trung Đông – Châu

Á Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm:

- Tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân;

- Tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe;

- Tuyến Đông Á đi Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương;

- Tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á

Biển Đông được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới được thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải qua vùng Biển Đông Mỗi ngày có khoảng từ 150 – 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50%

là tàu trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên Các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Trung Quốc đều phụ thuộc vào con đường biển này để phát triển nền kinh tế của quốc gia mình (đặc biệt trong việc vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc)

Lượng dầu lửa và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama Khu vực Biển Đông còn

có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Lombok, Sunda, Ombai – Wetar) Đặc biệt, eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, sau eo biển Hormuz Eo biển Malacca nằm giữa đảo Sumatra của Indonesia và Malaysia – vị trí này rất quan trọng bởi vì tất cả các hàng hóa của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua

Ngoài ra, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục

Trang 16

đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển

và vùng tiếp giáp ngày 25/2/1992, Quyết định về việc phê chuẩn Công ước Luật biển của Liên hợp quốc 1982 ngày 15/5/1996, Tuyên bố về đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải ngày 15/5/1996, Luật vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ngày 26/6/1998, Trung Quốc cũng không đề cập đến bản đồ “đường lưỡi bò” Vì thế, quá trình hình thành yêu sách “đường lưỡi bò” được tiếp cận dưới góc độ các quan điểm, học thuyết của một số học giả nghiên cứu về vấn

đề này

1.2.1 Năm 1948 Bộ Nội vụ Trung Quốc xuất bản tấm bản đồ 11 đoạn, xác định vị trí của các đảo trên Biển Đông

Phần lớn các học giả Trung Quốc trong thời kỳ Trung Hoa Dân quốc

đều cho rằng, sau chuyến đi khảo sát kéo dài hai tháng từ đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) đến đảo Ba Đình (Trường Sa) do Lâm Tuân làm tổng chỉ huy, vào năm 1947, Chính phủ Trung Quốc đã cho lưu hành trong nước một tập bản đồ Tập bản đồ này có vẽ một đường mười một đoạn (đường biên giới chữ U – “đường lưỡi bò”) để biểu thị phạm vi địa lý của quyền quản lý của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa, xa xuống tận Tăng Mẫu Ám Sa, hay còn gọi là Bãi Ngầm James, tại tọa độ 3 độ 58 phút Bắc, 112 độ 17 phút Đông Đường đứt khúc này bao gồm các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa,

Trang 17

Trường Sa và bãi ngầm Trung Sa và có điểm giới hạn phía Nam là vĩ tuyến

40

Bản đồ này được Sở Địa lý, Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân quốc xuất bản công khai vào tháng 2/1948, với tên gọi “Nam hải chư đảo vị trí đồ” Bản đồ này chính thức vẽ đường biên giới chữ U (“đường lưỡi bò”), bao gồm trong

đó có cả 4 quần đảo và đánh dấu rõ ràng bãi cát ngầm Tăng Mẫu (James Shoal) ở cực Nam, vào khoảng 4 độ vĩ Bắc Đường biên giới chữ U này (“đường lưỡi bò”) tiếp tục được sử dụng cho đến ngày nay

Bản đồ đường 11 đoạn của Trung Quốc (Quốc Dân Đảng) năm 1947, có tên “Bản đồ

các đảo trên Biển Đông”

Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng, một số người khác còn cố đẩy thời gian xuất xứ của con đường này xa hơn nhằm mục đích giải thích có lợi cho

Trang 18

Trung Quốc Họ cho rằng đường chữ U này do một người tên là Hu Jinjie vẽ

từ năm 1914 và đến tháng 12/1947, một viên chức của Cộng hòa Trung Hoa tên là Bai Meichu đã vẽ lại đường này trong một bản đồ cá nhân để thể hiện cảm xúc của mình khi nghe tin về việc Pháp chiếm đóng các đảo Trường Sa năm 1933 Tuy nhiên, các tác giả Trung Quốc cũng phải khách quan thừa

nhận “không rõ khi vẽ đường này Bai Meichu có đủ hiểu biết và kiến thức về

luật biển quốc tế đương đại hay không?” và các nhà nghiên cứu nước ngoài

khác cũng cho rằng bản đồ đường đứt khúc này xuất hiện trong một tập bản

đồ tư nhân (chứ không phải của Nhà nước)

Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, tháng 10/1949, trong một số bản đồ do Trung Quốc xuất bản, cách vẽ “đường lưỡi bò” ở Biển Đông về cơ bản vẫn rất giống với cách vẽ ở bản đồ do Chính phủ Trung Quốc công bố năm 1948

là trong suốt một thời gian dài, mặc dù cho xuất bản bản đồ có thể hiện

“đường lưỡi bò” như trên, nhưng cả Chính phủ Cộng hòa Trung Hoa lẫn Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đều chưa bao giờ đưa ra lời tuyên

bố hoặc giải thích chính thức gì về “đường lưỡi bò” đó cả.2 Từ thời điểm này, đường lưỡi bò 11 đoạn đổi thành 9 đoạn

1.2.3 Năm 2009

Năm 2009 là năm mà theo quy định của UNCLOS 1982, các quốc gia ven biển phải đệ trình các báo cáo về thềm lục địa mở rộng của mình lên CLCS Theo đó, ngày 06/05/2009 Việt Nam và Malaysia có trình lên CLCS một báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng của hai nước, cùng khi đó, Việt

2 Theo Zhiguo Gao và Bing Bing Jia, về lý do của việc cắt bỏ này, có thể nó phản ánh một sự ấm lên trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thập niên 1950

Trang 19

Nam cũng gửi một báo cáo riêng của mình lên CLCS Và để phản đối các báo cáo này của Việt Nam và Malaysia, ngày 7/5/2009, phái đoàn thường trực Trung Quốc tại Liên hợp quốc đã gửi Công hàm CML/17/2009 và CML/18/2009 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, có kèm theo một tấm bản đồ có vẽ 9 đoạn đứt khúc (còn gọi là đường chữ U hay “đường lưỡi bò”) thể hiện yêu sách bao chiếm gần như toàn bộ Biển Đông Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế thừa nhận "vùng biển lịch sử” của họ được bao chiếm bởi “đường lưỡi bò”

Bản đồ “đường lưỡi bò”đính kèm Công hàm CML/17/2009 và CML/18/2009 của

Trung Quốc

Trang 20

Theo báo cáo số 143 của Phòng các vấn đề Đại dương và Vùng cực Văn phòng đặc trách các vấn đề Đại dương, Khoa học và Môi trường Quốc tế Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 5/12/2014 thì bàn đồ đường lưỡi bò được ban hành kèm theo Công hàm năm 2009 này được miêu tả như sau:

Đường lưỡi bò trong bản đồ này bao quanh khu vực biển rộng khoảng 2.000.000 km2, tương đương khoảng 22% diện tích đất liền của Trung Quốc So với diện tích Biển Đông, khu vực này chiếm một tỷ lệ rất lớn Ngoại trừ Đài Loan và Đảo Pratas (Trung Quốc gọi là Quần đảo Đông Sa), tổng diện tích của các thực thể nằm bên trong đường lưỡi bò là khoảng 13km 2 Phần diện tích đất này bao gồm ba nhóm thực thể tại Biển Đông: (1) Quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Quần đảo Tây Sa), (2) Quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Quần đảo Nam Sa), và Bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là Bãi Hoàng Nham) Trong số các đảo tại đây, đảo lớn nhất là Đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa, với diện tích khoảng 2,4km2 Tương tự như vậy, đường lưỡi bò cũng bao quanh rất nhiều các thực thể chìm khác như Bãi Macclesfield (Trung Quốc gọi là Quần đảo Trung Sa) và Bãi cạn James (Trung Quốc gọi là Bãi Tăng Mẫu)

Trong Bản đồ 3 của báo cáo này, để tiện cho việc mô tả, mỗi đoạn trong đường lưỡi

bò đều được đánh số bên cạnh Cần lưu ý rằng Trung Quốc không đánh số cho các đoạn này Các đoạn này không được phân bố đều đặn, và khoảng cách giữa chúng nằm trong khoảng từ 106 hải lý (giữa đoạn 7 và đoạn 8) cho đến 274 hải lý (giữa đoạn 3 và đoạn 4) Các đoạn này được đặt ở vị trí tương đối gần với bờ biển lục địa

và các đảo ven bờ của các quốc gia ven biển tại Biển Đông Đoạn 1 nằm cách bờ biển Việt Nam 50 hải lý và cách đảo ven bờ Lý Sơn của Việt Nam 36 hải lý Đoạn 3 cách 75 hải lý so với đảo gần nhất là Pulau Sekatung, Indonesia Đoạn 4 cách 24 hải

lý so với bờ biển của đảo Borneo, Malaysia Đoạn 5 cách 35 hải lý so với đảo gần nhất là Đảo Balabac, nằm ở phía Đông Nam của Philippines Đoạn 9 cách 26 hải lý

so với Đảo Y’Ami, đảo cực Bắc Philippines thuộc Eo biển Luzon

Trang 21

Bản đồ: Khoảng cách các đoạn và các thực thể đất liền

Công hàm năm 2009 này là văn bản đầu tiên trong hơn 60 năm qua thể hiện quan điểm chính thức của Trung Quốc về yêu sách “đường lưỡi bò” và cũng là lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố bản đồ “đường lưỡi bò” với toàn thế giới Tuy nhiên, cũng như trước đó, Chính phủ Trung Quốc vẫn

từ chối giải thích chính thức về tính chất pháp lý đối với yêu sách biển được thể hiện trong bản đồ có “đường lưỡi bò” kèm theo Công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009 này Trong văn bản này, Trung Quốc đã đưa

ra khẳng định: “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi với các đảo ở

Biển Đông và các vùng biển lân cận, và được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy của vùng biển đó (có bản đồ) Lập trường trên đã được Chính

Trang 22

phủ Trung Quốc đưa ra một cách nhất quán và được cộng đồng quốc tế biết

Với công hàm ngày 7/5/2009 có kèm bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò”,

có vẻ như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận “tính chất

lịch sử của “ đường lưỡi bò”, coi Biển Đông như một vịnh lịch sử” Các học

giả Trung Quốc coi “đường lưỡi bò” này là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung Quốc Tuy nhiên, lập luận trên của các học giả cũng như của chính quyền Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối dữ dội của cộng đồng quốc tế

1.2.4 Từ năm 2012 đến nay

Tháng 11/2012, Trung Quốc lại vẽ thêm “đường lưỡi bò” với 10 đoạn vào mẫu hộ chiếu phổ thông điện tử cấp cho công dân nước này “Đường lưỡi bò” với 10 đoạn này bao gồm cả đảo Đài Loan và hai vùng lãnh thổ tranh chấp với Ấn Độ

Đến 23/6/2014, nhà xuất bản Bản đồ ở thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam lại công bố và cho lưu hành Bản đồ địa hình và bản đồ hành chính

“Nước cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” khổ dọc Điều này là trái với quy luật

từ xưa đến nay – bản đồ của Trung Quốc đều được đặt theo khổ ngang Lý giải cho điều này là bởi tấm bản đồ nằm ngang như trước không thể hiện được

“đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đã tuyên bố đơn phương trên Biển Đông Thay vào đó, để thể hiện trọn vẹn được ý tưởng “bành chướng” trên biển của mình thì quốc gia này phải sử dụng bản đồ với khổ dọc Theo bản đồ này, đường chín đoạn mà Trung Quốc tuyên bố đơn phương lại có thêm đoạn thứ

10, bao bên ngoài Đài Loan và vươn tới gần hòn đảo cực Tây của Nhật Bản là đảo Yonaguni Theo tấm bản đồ này, đường 10 đoạn đã bao phủ hơn 130 đảo lớn nhỏ trên Biển Đông Nó chiếm đến 90% diện tích Biển Đông thay vì hơn 80% diện tích như đường chín đoạn4

3 Nguyên văn: “China has indisputable sovereignty over the islands in the South China Sea and the adjacent waters, and enjoys sovereign rights and jurisdiction over the relevant waters as well as the seabed and subsoil thereof (see attached map) The above position is consistently held by the Chinese Government, and is widely known by the international community”

4 Nguyễn Bá Diến (2015), Yêu sách “Đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc và chủ quyền của Việt Nam

trên Biển Đông, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, tr.86

Trang 23

Tuy nhiên, điều đáng nói là từ đó đến nay mặc dù Trung Quốc chưa bao giờ làm rõ được cơ sở pháp lý của các đòi hỏi này nhưng hành động của họ thì lại ngày càng gia tăng gây hấn, xâm phạm thô bạo chủ quyền lãnh thổ của nhiều quốc gia trong khu vực làm cho tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng

1.3 Các hành động của Trung Quốc nhằm hiện thực hóa yêu sách

“đường lưỡi bò”

Dư luận đang ngày càng quan tâm về những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông Vào ngày 7/5/2009 Trung Quốc chính thức yêu cầu lưu truyền trong cộng đồng các nước thành viên Liên Hợp Quốc bản đồ thể hiện

“đường lưỡi bò” (hay còn gọi là đường chữ U, đường đứt khúc 9 đoạn) trên Biển Đông, yêu sách không chỉ các đảo, đá mà toàn bộ vùng biển trong đó

Kể từ sau thời điểm này, Trung Quốc liên tục tiến hành các hoạt động nhằm pháp điển hóa “đường lưỡi bò” vào văn bản pháp luật quốc gia cũng như tiến hành xây dựng và cải tạo các thực thể nhân tạo nhằm tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông,

Bắt đầu từ vụ đụng độ tàu Mỹ và Trung Quốc ngày 8/3 trên Biển Đông, lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc từ ngày 16/5/2009, tăng cường lực lượng tàu ngư chính xuống Biển Đông, đề xuất của hải quân Trung Quốc phân chia quyền kiểm soát Thái Bình Dương giữa Trung Quốc và Mỹ, tới tuyên bố của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) ngày 16/6/2009 sẽ tiến hành khoan sâu thăm dò khai thác trong Biển Đông trong năm 2009

Vào ngày 24/7/2012, Trung Quốc đã tổ chức nghi lễ thành lập thành phố Tam Sa - ranh giới bao trùm các quần đảo và bãi ngầm ở Biển Đông, bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa, Scarborough Sau khi thành lập Tam Sa, Trung Quốc công bố toàn văn Điều lệ Nam Hải 2012 có hiệu lực từ ngày 1/1/2013 Đây được xem là bước tiếp theo trong chiến lược của Trung Quốc nhằm xây dựng cơ sở pháp lý để hiện thực hóa “đường lưỡi bò”

Trang 24

Từ khoảng cuối năm 2013 đến năm 2015, Trung Quốc đã rốt ráo tiến hành các hoạt động lấn biển, nạo vét, san lấp và xây đảo nhân tạo với quy mô rất lớn và đồng loạt trên nhiều thực thể trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam (Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm từ năm 1988, 1992) Đặc biệt nghiêm trọng là hoạt động “đảo hóa” khổng lồ của Trung Quốc tại bảy bãi ngầm và đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép (Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, Gạc Ma, Xu

Bi và Vành Khăn) Cụ thể5:

- Bãi đá Châu Viên nằm ở phía tây quần đảo Trường Sa của Việt Nam,

bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1988 Philippines cũng có tuyên bố chủ quyền với bãi đá này Bãi đá Châu Viên bị Trung Quốc cải tạo chủ yếu trong

hè năm 2014 Diện tích phần đất nhân tạo trên bãi đá Châu Viên được mở rộng tới 119.711 m2, tính đến ngày 14/3 Những công trình xuất hiện tại đây gồm kênh tiếp cận, đê chắn sóng, bãi đáp trực thăng, các tòa nhà hỗ trợ, cơ sở quân sự, ăng ten liên lạc vệ tinh, radar

- Đá Chữ Thập nằm ở phía tây quần đảo Trường Sa của Việt Nam và cũng bị Trung Quốc đánh chiếm năm 1988 Hoạt động cải tạo đất tại đây bắt đầu từ tháng 8/2014 Phần đất rộng dành cho xây dựng được hoàn thành vào tháng 1/2015 và Trung Quốc đang xây một đường băng ước tính dài 3.110 m

và một cơ sở cảng biển Đá Chữ Thập có diện tích 960.000 m2, tính đến ngày 21/10/2014 Ngoài đường băng, trên hòn đảo nhân tạo này còn có cảng biển

đủ lớn để đón tàu tiếp tế, tàu chiến đấu cỡ lớn, nhiều nhà máy xi măng, cơ sở

hỗ trợ, cầu cảng, súng phòng không, hệ thống chống người nhái, trang thiết bị liên lạc, nhà kính, bãi đáp trực thăng

- Đá Gaven là một rạn san hô hình trái tim, thuộc quần đảo Trường Sa,

bị Trung Quốc chiếm từ năm 1988 và đưa quân đồn trú trái phép tại đây từ năm 2003 Hoạt động bồi đắp, xây dựng tại bãi đá bắt đầu từ khoảng sau ngày 30/3/2014 Phần mở rộng có diện tích 114.000 m2, tính đến ngày 19/3 Theo

5 Như Tâm, “Thực trạng 7 bãi đá Trung Quốc cải tạo ở Trường Sa qua ảnh vệ tinh”, Vnexpress.net, tại đại chỉ http://vnexpress.net/photo/tu-lieu/thuc-trang-7-bai-da-trung-quoc-cai-tao-o-truong-sa-qua-anh-ve-tinh- 3231532.html, ngày truy cập 30/04/2017

Trang 25

CSIS, bãi đá này có kênh tiếp cận, súng phòng không, súng hải quân, thiết bị liên lạc, kiến trúc hỗ trợ xây dựng, tháp phòng thủ, cơ sở quân sự, bãi đáp trực thăng và đê chắn sóng

- Đá Tư Nghĩa bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép năm 1988, sau đó Bắc Kinh xây dựng nhiều công trình kiên cố để quân lính đồn trú tại đây Trung Quốc bắt đầu hoạt động xây dựng quy mô lớn từ hè 2014 Bằng hoạt động hút bùn và cải tạo, Trung Quốc mở rộng phần nền bê tông từ 380 m2 lên đến 62.710 m2, tính đến ngày 18/2 Theo tạp chí quốc phòng IHS Jane's, những công trình ở đây cũng giống như trên đá Gaven, gồm kênh tiếp cận, công sự ven biển, 4 tháp phòng thủ, cầu cảng, cơ sở quân sự đa cấp, trạm radar, bãi đáp trực thăng, hải đăng

- Đá Gạc Ma nằm ở phía tây bắc quần đảo Trường Sa, có diện tích khoảng 7,2 km2, bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng từ năm 1988 Đến đầu năm 2014, trên bãi đá chỉ có một nền bê tông nhỏ với một cơ sở liên lạc, cầu cảng và một đơn vị đồn trú Phần nền bê tông hiện trải rộng trên diện tích 100.000 m2, nơi rộng nhất là 400 m Một số đồn đoán cho rằng Bắc Kinh có thể xây một đường băng tại đây nhưng giới chuyên gia nhận định công trình này quá nhỏ để có ảnh hưởng chiến lược Đá Gạc Ma hiện có các công trình như kênh tiếp cận, nhà máy bê tông, tháp phòng thủ, bơm khử mặn, bơm nhiên liệu, cơ sở quân sự nhiều tầng, radar, trạm liên lạc, bãi đáp trực thăng, cầu cảng và đê chắn sóng gia cố

- Đá Vành Khăn nằm ở phía đông quần đảo Trường Sa, là một rạn san

hô hình bầu dục, bị Trung Quốc chiếm từ năm 1995 Bãi đá bị cải tạo quy mô lớn dọc theo rìa phía tây kể từ đầu năm 2015 Tổng diện tích đá Vành Khăn

đã bị cải tạo là 960.000 m2 Tại đây có kênh tiếp cận, đê chắn sóng gia cố, cơ

sở quân sự và nơi trú ấn cho ngư dân

- Đá Subi là một rạn san hô vòng phía tây nam quần đảo Trường Sa, dài khoảng 6,5 km, rộng 3,7 km Trung Quốc chiếm đóng Subi từ năm 1988 Phần đất cải tạo trên đảo được mở rộng đáng kể từ tháng 7/2014 Nơi này hiện có kênh tiếp cận, cầu cảng, các thiết bị thông tin liên lạc, radar, đê chắn

Trang 26

sóng gia cố, bãi đáp trực thăng, cơ sở quận sự và có thể xây một đường băng dài 3.000 m

Ngày 1/5/2014, Trung Quốc đã cho Công ty dầu khí Hải Dương ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh

tế và thềm lục địa của Việt Nam, tại vị trí cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) khoảng 17 hải lý về phía Tây – Nam Để đưa giàn khoan trái phép này vào vùng biển Việt Nam, Trung Quốc đã huy động một đội tàu khổng lồ, trên 100 chiếc, với nòng cốt chủ lực là tàu tên lửa, tàu hải quân, và các loại tàu quân sự, máy bay quân sự hộ tống, để ngăn chặn, uy hiếp, truy đuổi và thậm chí là đâm chìm các tàu làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền của Việt Nam

1.4 Chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông: các căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử

Về mặt pháp lý, sự kiện tuyên bố chiếm hữu Hoàng Sa năm 1816 dưới triều vua Gia Long đã góp phần xác nhận nội dung: “Chủ quyền bắt nguồn từ

sự chính thức chiếm hữu thực sự và thực thi chủ quyền một cách liên tục” suốt thời nhà Nguyễn (trong thế kỷ XIX), sau khi các chúa Nguyễn đã xác lập nội dung “Chủ quyền bắt nguồn từ sự sử dụng và chiếm hữu lâu đời một lãnh thổ vô chủ” (trong các thế kỷ XVII – XVIII)

1.4.1 Sử dụng và chiếm hữu lâu đời quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước thời nhà Nguyễn

Thời chúa Nguyễn

Theo ghi chép trong nhiều thư tịch cổ như Toản tập Thiên Nam tứ chi

lô đồ thư (Đố Bá, 1686), Hải ngoại kỷ sự (Trích Đại Sán, 1699), Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn, 1776),… thì từ thế kỷ thứ XVII, người Việt đã dong thuyền đến các hải đảo ở giữa Biển Đông để đánh bắt hải sản và khai thác yến sào trên các hòn đảo Họ gọi tên dải đảo, đá, bãi ngầm này là Bãi Cát Vàng hoặc Cồn Vàng, còn các sử liệu Hán văn thì ghi là Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa, Đại Trường Sa,…

Trang 27

Cuối thế kỷ XVII, chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã lập hội Hoàng Sa, hàng năm cử đội này ra Hoàng Sa để thăm dò, đo đạc hải trình, khai thác yến sào trên đảo và thu nhặt vũ khí, vàng bạc, hàng hóa,… từ các con tàu của nước ngoài gặp nạn và bị chìm khi đi ngang qua Hoàng Sa[1] Đến đầu thế kỷ XVIII, chính quyền của chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã quản

lý một vùng lãnh thổ rộng lớn, trải đến tận Hà Tiên và mũi Cà Mau, bao gồm

cả các hải đảo ở Biển Đông và trong vịnh Thái Lan [2] Từ nửa sau thế kỷ XVIII, ngoài đội Hoàng Sa, chúa Nguyễn còn lập thêm đội Bắc Hải (trực thuộc đội Hoàng Sa) có trách nhiệm khai thác hải vật; kiểm tra, kiểm soát thực thi chủ quyền của Việt Nam ở khu vực “các xứ Bắc Hải, Cù lao Côn Lôn

và các đảo ở Hà Tiên” (Phủ biên tạp lục) Hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải được tổ chức có hệ thống và liên tục, kéo dài cho đến cuối thế kỷ XVIII Hàng năm từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch, chính quyền đều sai cử hai đội này ra Hoàng Sa và Trường Sa thực thi công vụ

Thời nhà Tây Sơn (1771 – 1801)

Kế tiếp các chúa Nguyễn, thời nhà Tây Sơn, dù ở trong tình trạng chiến

tranh với họ Nguyễn và đối phó với giặc ngoại xâm như Xiêm La (1785), Mãn Thanh (1788 – 1789), vẫn quan tâm và duy trì hoạt động của đội Hoàng

Sa Một thư tịch cổ đề ngày 14 tháng 2 năm Thái Đức thứ 9 (1786) do quan

Thái phó Tổng lý quân binh dân chư vụ có chép: “Sai Hội Đức hầu, Cai đội

Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi bốn chiếc thuyền câu vượt biển, thẳng đến Hoàng Sa và các xứ cù lao ngoài biển, thu lượm vàng bạc, đồ uống và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, hải ba, cá quý,… mang về kinh đô dâng nộp theo lệ” Điều này chứng tỏ nhà Tây Sơn

vẫn tiếp tục duy trì hoạt động của đội Hoàng Sa nhằm khai thác lợi ích kinh tế

và kiểm soát chủ quyền biển đảo nước ta đương thời

1.4.2 Chiếm hữu thực sự và thực thi chủ quyền một cách liên tục quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dưới thời Nhà Nguyễn

Thời vua Gia Long

Trang 28

Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, năm 1802, Nguyễn Ánh (1762 – 1820) lên ngôi vua ở Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, chính thức khai lập vương triều Nguyễn Vua Gia Long đã cho tái lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải

và đặt vào trong cơ cấu tổ chức chung của các đội Trường Đà, có chức năng khai thác và quản lý toàn bộ khu vực Biển Đông

Sách Đại Nam thực lục chính biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cho biết: năm 1803, vua Gia Long đã ra lệnh cho quan chức ở phủ Quảng Ngãi “lấy Cai cơ Võ

Văn Phú làm Thủ ngự của biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”;

năm 1815, vua “sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét,

đo đạc thủy trình”; năm 1816, vua “lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình”; năm 1871, vua tiếp nhận địa đồ đảo Hoàng

Sa do thuyền Ma Cao vẽ và dâng lên, ban thưởng 20 lạng bạc cho họ về việc này.6

Đặc biệt, vua Gia Long sai đội Hoàng Sa phối hợp với thủy quân của triều đình ra thăm dò, đo đạc thủy trình và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816 Đây được coi là dấu mốc quan trọng xác nhận sự chiếm hữu chính thức đối với quần đảo Hoàng Sa và là biểu tượng của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này Sự kiện này được ghi nhận ngắn gọn trong sách Đại Nam thực lục: “Gia Long năm thứ 17 (1816)…[vua] lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình”7

Thời Minh Mạng

Hoạt động thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được tiến hành liên tục và triệt để hơn dưới thời Minh Mạng (1820 – 1841)

Năm 1833, vua Minh Mạng phái người ra Hoàng Sa dựng miếu, lập bia và trồng cây (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 104, tờ 18b-19a) Năm 1834, vua Minh Mạng sai Giám thành vệ đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng hơn 20 thủy quân đi

ra Hoàng Sa vẽ bản đồ (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 122, tờ 23a) Năm 1835, vua Minh Mạng sai Cai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đem lính và

Trang 29

thợ ở Giám thành vệ cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định chở vật liệu

ra Hoàng Sa dựng miếu, lập bia đá và xây bình phong trước miếu Năm 1836, vua Minh Mạng sai Chánh đội trưởng thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ các đảo, hòn, bãi cát,…thuộc quần đảo này….Những chuyến đi ra Hoàng Sa đo đạc, lập bản đồ từ năm 1834 đến năm 1836 của Thủy quân, Giám thành vệ và phu thuyền trong đội Hoàng Sa đã cung cấp thông tin, dữ liệu để triều đình Minh Mạng hoàn thành bản đồ chính thức của nước Đại Nam vào năm 1838 Đó là Đại Nam thống nhất toàn đồ, bản đồ hành chính đầu tiên của nước

ta có sự phân biệt Hoàng Sa với Vạn Lý Trường Sa (được gọi là Trường Sa ngày nay) 8

1.4.3 Việc nước Pháp nhân danh Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Từ khi ký với triều đình nhà Nguyễn Hiệp ước ngày 6/6/1884, Pháp đại diện quyền lợi của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại và việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong khuôn khổ sự cam kết của Hiệp định Paternotre ngày 6/6/1884, Pháp đại diện cho Việt Nam, tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[3]

Gần 100 năm sau sự kiện vua Gia Long tuyên bố chiếm hữu Hoàng Sa, tháng 5 năm 1909, Tổng đốc Lưỡng Quảng (Trung Quốc) là Trương Nhân Tuấn mới sai Thủy sư đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy ba chiếc thuyền đi ra thám thính quần đảo Hoàng Sa Ngày 6 tháng 6 năm 1909, Lý Chuẩn cho quân đổ

bộ lên đảo Hoàng Sa và tuyên bố “chiếm hữu” quần đảo này, chính thức nhảy vào cuộc tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, mà trước đó gần một thế kỷ vua Gia Long đã chính thức tuyên bố chiếm hữu và các thế hệ kế thừa

đã thực thi chủ quyền đó một cách liên tục, hòa bình, không có một quốc gia láng giềng nào lên tiếng tranh chấp

8Nhiều tác giả (2016), Biển đảo Việt Nam: Lịch sử - chủ quyền – văn hóa, Nxb Văn hóa – văn nghệ, TP.Hồ

Chí Minh, tr.84

Trang 30

1.4.4 Việc bảo vệ và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đến nay

Thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, Đế quốc Nhật Bản chiếm một số đảo và sử dụng đảo Ba Đình làm căn cứ tàu ngầm cho các chiến dịch ở Đông Nam Á Sau cuộc chiến, khi trở lại Đông Dương, Pháp đã yêu cầu Trung Hoa Dân quốc rút khỏi các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép cuối năm 1946 Pháp đã cho quân đến thay thế quân đội Trung Quốc và xây dựng lại trạm khí tượng và đài vô tuyến điện

Để củng cố yêu sách chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa

và Trường Sa, Trung Quốc thường lấy Hiệp ước San Francisco năm 1951 và Hiệp ước hòa bình Trung – Nhật năm 1952 như là một trong các bằng chứng pháp lý quan trọng để khẳng định rằng: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã từ bỏ tất cả quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) và đã chuyển giao các quần đảo trên cho đại diện Trung Quốc9 Tuy nhiên, trên thực tế, những bằng chứng để củng cố yêu sách đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc đưa ra lại không hề có cơ sở Nội dung và tinh

thần của Hiệp ước San Francisco năm 1951, Hiệp ước hòa bình Trung – Nhật

năm 1952 và những văn kiện pháp lý quốc tế có liên quan đến vấn đề lãnh thổ

của Trung Quốc và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Tuyên bố Cario

1943, Tuyên bố Potsdam năm 1945), và sự kiện giải giáp quân đội Nhật Bản

tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lại hoàn toàn khác với những gì Trung Quốc viện dẫn, cụ thể:

- Đối với Tuyên bố Cairo năm 1943: Tại hội nghị Cairo (Ai Cập), ba cường quốc đồng minh là Hoa Kỳ, Anh, Trung Hoa Dân quốc đã ký tuyên bố

Cairo, theo đó: “Phải tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả các hải đảo ở

Thái Bình Dương mà Nhật Bản đã cưỡng đoạt hay chiếm đóng từ đầu Chiến

9Nguyễn Bá Diến (2015), Yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc và chủ quyền của Việt Nam trên

Biển Đông, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, tr.318

Trang 31

tranh thế giới lần thứ nhất và trả lại Trung Hoa Dân quốc tất cả các lãnh thổ

đã bị Nhật Bản cướp của Trung Hoa, như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ,

và trục xuất Nhật Bản khỏi tất cả các lãnh thổ khác mà Nhật chiếm được

Thứ nhất, Tuyên bố Cairo năm 1943 chỉ khẳng định việc Nhật Bản đã chiếm đóng ba vùng lãnh thổ của Trung Quốc, đó là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, và buộc Nhật Bản phải trao trả lại cho Trung Quốc ba vùng lãnh thổ này Ngoài ra, Tuyên bố Cairo cũng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa Hay nói cách khác, tuyên bố không coi hai quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của Trung Quốc mà đã bị Nhật Bản chiếm đóng bất hợp pháp Đặt giả thiết khác, nếu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa đúng là lãnh thổ của Trung Quốc mà đã bị Nhật Bản chiếm đóng thì không

có lý gì mà Trung Hoa Dân quốc lại không đòi lại chủ quyền của mình đối với hai hòn đảo này tại hội nghị Cairo, đặc biệt họ là một trong ba nước đồng minh lớn trực tiếp tham gia đàm phán, ký kết Tuyên bố Cairo này

Thứ hai, tại Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cũng đã bị Nhật Bản chiếm cứ bằng vũ lực khi bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ II Năm 1938, Nhật Bản đã chiếm ba đảo tại Hoàng Sa là Phú Lâm, Linh Côn và Hữu Nhật (Robert) Năm 1939, Nhật Bản ngang ngược công bố chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và đổi tên Hoàng Sa thành Hirata Gunto, Trường Sa thành Shinnan Gunto Như vậy, chiếu theo Tuyên bố Cairo 1943, Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi hai quần đảo này;

và đương nhiên quốc gia có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn mặc định là Việt Nam

- Đối với tuyên bố Potsdam ngày 26/7/1945: Đây là bản tuyên bố ấn định thể thức giải giáp quân đội Nhật Bản tại Thái Bình Dương Về việc giải

10 Nguyên văn: “It is their purpose that Japan shall be stripped of all the islands in the Pacific which she has seized or occupied since the beginning of the first World War in 1914, and that all the territories Japan has stolen from the Chinese, such as Manchuria, Formosa, and the Pescadores, shall be restored to the Republic

of China Japan will also be expelled from all other territories which she has taken by violence and greed”

11 Foreign relations of the United States, Diplomatic papers: The Conference at Cairo and Teheran 1943, Washington D.C, United States, G.P.O, 1961, pp 448-449

Trang 32

quyết những lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm đóng của các nước, Tuyên bố

Potsdam chỉ quy định đơn giản là: “Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ

được thi hành” Có nghĩa là Nhật Bản phải trả lại cho Trung Quốc các vùng

lãnh thổ như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ Ngoài ra, không còn nội dung nào trong tuyên bố Potsdam coi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc bị Nhật Bản chiếm và phải trả lại cho Trung Quốc Có thể nói, các nước đồng minh không hề thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc; như vậy đã gián tiếp khẳng định Việt Nam có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

- Đối với Hiệp ước San Fransisco: Đây là Hiệp ước giữa 50 quốc gia Đồng Minh ký với Nhật Bản nhằm chấm dứt tình trạng chiến tranh, nhằm hướng đến sự hòa bình, hợp tác và hữu nghị theo mục đích và tôn chỉ của Hiến chương Liên hợp quốc Điều 2 của Hiệp ước cũng nói rõ rằng Nhật Bản

đã khước từ chủ quyền tại đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ và một số lãnh thổ trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Khi Nhật Bản tuyên bố khước từ chủ quyền lãnh thổ về Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội nghị San Francisco năm 1951, các quốc gia tham dự Hội nghị đã phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc và mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này.12 Ngày 7/9/1951, trong phiên họp toàn thể lần thứ 7 của Hội nghị San Fransisco, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu, Trưởng phái đoàn Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa: “để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” Tuyên bố này không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của đại diện 51 quốc gia tham dự hội nghị Hội nghị cũng bác bỏ đề nghị giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc với số phiếu hầu như là tuyệt đối 46/50 Kể từ thời điểm sau đó, Việt Nam tiếp tục thực hiện hoạt động của mình trong hai khu vực này

12Nguyễn Bá Diến (2015), Yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc và chủ quyền của Việt Nam

trên Biển Đông, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, tr.324.

Trang 33

CHƯƠNG 2 TÍNH BẤT HỢP PHÁP CỦA ĐƯỜNG LƯỠI BÒ DƯỚI GÓC ĐỘ

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ 2.1 Tính bất hợp pháp của đường lưỡi bò dưới góc độ các quy định của UNCLOS 1982

2.1.1 Tính bất hợp pháp của yêu sách đường lưỡi bò dưới danh nghĩa xác lập vùng nước lịch sử

2.1.1.1 Định nghĩa và các tiêu chí để xác định vùng nước lịch sử

Khái niệm vùng nước lịch sử được xem xét xuất phát từ khái niệm vịnh lịch sử Tuy nhiên, cả vịnh lịch sử và vùng nước lịch sử đều không được UNCLOS 1982 định nghĩa một cách cụ thể Điều 10.6 UNCLOS 1982 quy

định: “các quy định trên đây không áp dụng đối với các vịnh gọi là vịnh lịch

sử” mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra căn cứ để phân biệt vịnh tự nhiên và vịch

lịch sử Thuật ngữ “vịnh lịch sử” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1919 trong

vụ tranh chấp giữa Vương quốc Anh và Hoa Kỳ về đánh bắt cá tại khu vực Đại Tây Dương được Trọng tài quốc tế giải quyết Theo phán quyết của Trọng tài, một vịnh được coi là vịnh lịch sử dựa trên cơ sở tập quán quốc tế Vấn đề vịnh lịch sử tiếp tục được đề cập tại ICJ năm 1951 khi giải quyết vụ tranh chấp về ngư trường giữa Na Uy và Anh ICJ đã khẳng định chủ quyền của Nauy đối với vùng biển và vịnh Varange được giới hạn bởi đường cơ sở thẳng dựa trên yếu tố lịch sử Đồng thời ICJ cũng đưa ra định nghĩa vùng nước lịch sử là vùng nước được hưởng quy chế nội thủy thông qua sự tồn tại của một danh nghĩa lịch sử

Khái niệm vùng nước lịch sử xuất phát từ khái niệm vịnh lịch sử nhưng điều đó không có nghĩa hai khái niệm này là giống nhau Vùng nước lịch sử chủ yếu được mọi người nghĩ đến các vịnh lịch sử vì trên thực tế các quốc gia thường đưa ra yêu sách chủ yếu là các vịnh Mặc dù trong các văn bản điều ước quốc tế không phân biệt rõ, nhưng ta có thể hiểu khái niệm vùng nước lịch sử rộng hơn vịnh lịch sử Vùng nước lịch sử không chỉ có vịnh lịch sử mà bao gồm cả các vùng biển khác như vùng nước của vịnh, các cửa sông… do

Trang 34

danh nghĩa lịch sử mang lại Như vậy, vịnh lịch sử bao giờ cũng là vùng nước lịch sử và là bộ phận cấu thành của nội thủy Vịnh lịch sử chịu sự điều chỉnh của quy chế pháp lý nội thủy, thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia ven biển Còn vùng nước lịch sử có thể không có vịnh lịch sử mà là các vùng biển khác

Căn cứ vào tập quán và các phán quyết của Tòa án và Trọng tài quốc tế thì một vùng nước chỉ được coi là vùng nước lịch sử khi nó thỏa mãn ít nhất các tiêu chí sau:

(1) Tại đó quốc gia ven biển thực hiện một cách thực sự chủ quyền của mình một cách liên tục, hòa bình và lâu dài;

(2) Có sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giềng và quốc gia có quyền lợi tại vùng biển này;

(3) Vị trí địa lý đặc biệt cũng là một tiêu chí để xác định vùng nước lịch

sử Vùng nước được coi là vùng nước lịch sử phải tiếp giáp trực tiếp với lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển và các xa đường hàng hải quốc tế Tiêu chí này nhằm xác lập chế độ nội thủy cho vùng nước lịch sử không làm cản trở sự qua lại của tàu thuyền các quốc gia trên tuyến đường quốc tế

Thiếu một trong các tiêu chí trên thì vùng nước đó không thể được coi là vùng nước lịch sử

2.1.1.2 Tính bất hợp pháp của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới danh nghĩa xác lập vùng nước lịch sử

Vùng nước trong “đường lưỡi bò” của Trung Quốc ở Biển Đông không thể là vùng nước lịch sử bởi nó không đáp ứng được các tiêu chí xác định vùng nước lịch sử theo thông lệ quốc tế như đã đề cập ở trên, cụ thể:

Thứ nhất, Trung Quốc không có sự thực thi chủ quyền một cách thực sự, liên tục và hòa bình trong thời gian dài tại vùng biển bên trong đường lưỡi bò

Cụ thể, các bằng chứng có tính xác minh đã chỉ ra lãnh thổ Trung Quốc trong lịch sử chỉ có giới hạn đến đảo Hải Nam Trong các văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên nhất thống chí (1294),

Trang 35

Đại Minh nhất thống chí (1461), Đại Thanh nhất thống chí (1842), trước năm

1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Huyện đảo

Hải Nam” Ngoài ra, các bản đồ về Trung Quốc của các nước vẽ cũng thể

hiện điều này, như bản đồ của Peter de Goyer và Jacob de Keyzer thuộc Công

ty Đông Ấn - Hà Lan vẽ vào thế kỷ XVII cũng giải thích rất rõ: “Nơi xa nhất

của Trung Quốc bắt đầu từ phía nam đảo Hải Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó

Trong lịch sử hoạt động hàng hải tại Biển Đông cũng chứng minh rằng Trung Quốc không thực thi chủ quyền vùng nước có yêu sách một cách hòa bình Năm 1956, 1974 và 1988, 1992 Trung Quốc đã sử dụng vũ lực chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa và nhiều vị trí thuộc quần đảo Trường Sa đang nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước Việt Nam Ngoài ra, các hành động của Trung Quốc như phá hủy trên diện rộng đáy biển nhằm xây dựng phi pháp các đảo nhân tạo trên các thực thể ngầm trong quần đảo Trường Sa từ năm 2013 đến nay là những hành động sử dụng vũ lực, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế nói chung và UNCLOS 1982 nói riêng Việc chiếm hữu của Trung Quốc đối với các thử thể ở Hoàng Sa và Trường Sa do đó trở nên vô hiệu.14

Hơn nữa, “đường lưỡi bò” của Trung Quốc không phải là một con đường

có tính ổn định và xác định Từ 11 đoạn, Trung Quốc đã phải bỏ đi 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ vì quá vô lý và không hề đưa ra bất kỳ lời giải thích nào Tính chất không liên tục của đường này được các tác giả Trung Quốc giải thích là để cho “những điều chỉnh cần thiết trong tương lai” PGS.TS Nguyễn Hồng Thao đã lập luận trong một bài đăng tại Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số tháng 12 năm 2009 về vấn đề này rằng:

Một con đường như vậy rõ ràng không thể nào lại được coi là “biên giới quốc gia” theo luật pháp quốc tế Đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là

13 Peter de Goyer and Jacob de Keyzer: An Embassy from the east-India Company United Provinces to the Grand Tartar Cham Emperor of China , Thư viện Menzies, Australia, v Ige rare b DS 708.N64 Tài liệu ủy ban biên giới quốc gia

14 Nguyễn Bá Diến (2015), Yêu sách “Đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc và chủ quyền của Việt Nam

trên Biển Đông, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, tr.86

Trang 36

tính ổn định và dứt khoát Trong một xã hội có trật tự riêng, các đường biên giới là một trong số các thể chế ổn định nhất từ tất cả các thể chế Vậy mà ở đây đến cả người Trung Quốc, tác giả của đường này còn chưa biết nó đi thế nào, thì sao có thể gọi đó là biên giới quốc gia được?

Thứ hai, Trung Quốc không nhận được sự chấp nhận công khai hoặc sự

im lặng không phản đối của các quốc gia khác đối với yêu sách đường lưỡi

bò Ngược lại, yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc lại vấp phải những phản ứng hết sức mạnh mẽ từ các nước khác trên thế giới Có thể lấy một vài

ví dụ để minh chứng cho nhận định này Đó là các công hàm phản đối chính thức của Việt Nam, Indonesia, Philippines năm 5/2009, 7/2010, 5/2011 chính

là những bằng chứng không thể chối cãi về việc cộng đồng quốc tế chưa bao giờ thừa nhận yêu sách này dưới bất kỳ lập luận nào Ngoài ra, một số quốc gia khác trong khu vực, các quốc gia trên thế giới và các tổ chức quốc tế cũng lên tiếng trực tiếp hay gián tiếp bác bỏ yêu sách đường lưỡi bò phi lý của Trung Quốc Điển hình nhất, vào đầu năm 2013, Philippines đã lựa chọn phương án cuối cùng sau những nỗ lực đã tiến hành qua các kênh chính trị và ngoại giao là kiện Trung Quốc tại Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục XII của UNCLOS 1982 (sau đây gọi tắt là Tòa Trọng tài) nhằm phản đối yêu sách “đường lưỡi bò” và việc Trung Quốc xâm phạm các vùng biển của Philippines tại Biển Đông Các học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới (trừ học giả Trung Quốc) đều lên tiếng phê phán mạnh mẽ yêu sách “đường lưỡi bò”

mà Trung Quốc đã tạo ra Họ cho rằng “đường lưỡi bò” là một yêu sách hết sức quá đáng và phi lý, chiếm đến 80% diện tích Biển Đông và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý,…Với sự phản đối của cả cộng đồng quốc tế như vậy thì yêu sách “đường lưỡi bò” hoàn toàn không được chấp nhận và hoàn toàn không hề đáp ứng tiêu chí thứ hai (như đã được nêu trên) để được công nhận

là vùng nước lịch sử - đó là, có sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốc gia khác

Thứ ba, vùng nước trong “đường lưỡi bò” không phải là vùng biển có cấu tạo địa lý đặc biệt, ăn sâu vào đất liền hoặc là một bộ phận gắn liền với

Trang 37

lục địa và không cách xa đường hàng hải quốc tế Vùng nước trong “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông và cũng không thể ăn sâu vào đất liền Căn cứ theo cách xác định các vùng biển của UNCLOS 1982 thì từ

bờ biển của các quốc gia ven biển, ngoài các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia, vẫn còn một vùng biển cả và đáy biển quốc

tế (Vùng) ở giữa Tuy nhiên, “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc yêu sách lại chạy sát bờ biển của các quốc gia ven biển khác và đã ôm trọn lấy cả Vùng biển cả Hơn nữa, trên thực tế, Biển Đông là một vùng biển có vị trí chiến lược, trên đó có tuyến hàng hải quốc tế đi qua nối Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu – Châu Á, Trung Đông – Châu Á Các tuyến hàng hải quốc

tế này đương nhiên không đi sát vào bờ biển của các nước mà sẽ đi qua vùng trung tâm Biển Đông Do vậy, “đường lưỡi bò” thực chất đã bao trùm lên các tuyến đường này

2.1.2 Tính bất hợp pháp của yêu sách “đường lưỡi bò” dưới danh nghĩa xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền đối với đảo và các vùng biển lân cận đảo

Sở dĩ phải tính đến tính huống yêu sách “đường lưỡi bò” được xác lập dựa trên cơ sở xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các đảo và các vùng biển lân cận đảo bởi đảo vừa là điều kiện tiên quyết để áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng, đường cơ sở quần đảo; vừa đóng vai trò trong việc tạo ra các vùng biển riêng bao quanh Theo đó, sự hiện diện của đảo chính là một trong các hoàn cảnh mà quốc gia có thể được áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng (Điều 7 UNCLOS 1982), đường cơ sở quần đảo (Điều 46.a UNCLOS 1982), cấu thành nên quần đảo (Điều 46.b UNCLOS 1982) Hay quốc gia ven biển có thể được hưởng đầy đủ các vùng biển giống như đất liền

khi quy định tại Điều 121.2 UNCLOS 1982: “Trừ trường hợp được quy định

tại khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của một đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước

áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác” Điều này có nghĩa là, UNCLOS

1982 cho phép đảo khả năng được hưởng các không gian biển giống như đất

Trang 38

liền; tức là đảo sẽ có tối đa 12 hải lý lãnh hải, 24 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và 350 hải lý thềm lục địa tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Theo đó, quốc gia ven biển hoàn toàn được hưởng lợi bằng việc mở rộng phạm vi các vùng biển của mình một cách hợp pháp, hợp lý theo quy định của UNCLOS 1982, mà không bị sự phản đối của các quốc gia khác Tương tự vậy, rất có thể Trung Quốc sẽ sử dụng danh nghĩa xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền đối với đảo và các vùng biển lân cận đảo để giải thích một cách có lợi cho yêu sách phi lý “đường lưỡi bò” của mình Trong trường hợp này, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở pháp lý đầy đủ theo quy định của UNCLOS 1982 để bác bỏ lập luận đó

“Đường lưỡi bò” được thể hiện bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông, đó là quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi ngầm Macclesfield (Trung Quốc

gọi là Trung Sa) Tuyên bố của Trung Quốc: “Trung Quốc có chủ quyền

không thể chối cãi với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển liền kề, và được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy của vùng biển đó” là trái với quy

định của UNCLOS 1982 Có thể khẳng định rằng lập luận của Trung Quốc về chủ quyền và quy chế pháp lý các vùng biển đối với các đảo trong “đường lưỡi bò” là hoàn toàn không phù hợp với điều kiện thực tiễn của các đảo này Bởi khi xem xét về các điều kiện để một thực thể được công nhận là đảo và có thể tạo ra quanh chúng đẩy đủ các vùng biển theo UNCLOS 1982 thì thực thể

đó phải đáp ứng các điều kiện sau:

Một là, theo định nghĩa về đảo được ghi nhận tại Điều 121.1 của

UNCLOS 1982: “Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy

triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước” Như vậy, theo Điều 121.1 một

thực thể để trở thành đảo phải đáp ứng một số tiêu chuẩn sau:

- Đảo phải là một vùng đất hình thành tự nhiên;

- Đảo phải có nước bao bọc xung quanh;

- Đảo phải thường xuyên ở trên mặt nước lúc thủy triều lên

Trang 39

Hai là, qua Điều 121.3 của UNCLOS 1982: “những đá (rocks) nào mà không thể duy trì sự cư trú của con người hoặc đời sống kinh tế của chính nó, thì không có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa”, ta có thể khẳng định

chỉ những hòn đảo nào đáp ứng được điều kiện: “thích hợp cho con người đến

ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” thì mới có thể có quyền tạo ra quanh

chúng đầy đủ các vùng biển theo quy chế các vùng biển mà Công ước đã quy định, đó là vùng nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và

thềm lục địa Khả năng “duy trì sự cư trú của con người” được hiểu là sự cư

trú của cộng đồng dân cư ổn định, mà không chỉ là sự hiện diện của các nhân viên nhà nước hoặc quân đội “Duy trì” có nghĩa là hoạt động kinh tế không chỉ là sự khởi động, bắt đầu mà là sự tiếp diễn, liên tục hoặc vẫn có thể được tiến hành trên cơ sở các điều kiện mà hiện nay đảo đang có.15 Những đảo không đáp ứng được điều kiện trên thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Như vậy, các đảo trong “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên thì mới có đầy đủ các vùng biển Tuy nhiên, khi xem xét các điều kiện tự nhiên của các đảo trong phạm vi đường lưỡi bò thì lại không đáp ứng các điều kiện này Cụ thể, hai vùng Hoàng Sa và Trường Sa hầu như bao gồm các đảo đá, nằm ở khu vực trung tâm Biển Đông, mỗi đảo có diện tích rất nhỏ (đảo lớn nhất là Ba Bình rộng khoảng 1,2 km2, đảo Phú Lân rộng khoảng 1,5 km2), cằn cỗi, thời tiết khắc nghiệt, bão tố nhiều, không thích hợp cho con người đến ở, không thích hợp cho một đời sống kinh tế riêng nên xung quanh các đảo này chỉ có thể có nội thủy và lãnh hải, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Trong vùng đảo Hoàng Sa chỉ có 8 hòn đảo là luôn nổi trên mặt nước biển lúc thủy triều lên cao Còn vùng đảo Trường Sa có từ 25 đến 35 vị trí (trong tổng số khoảng 80 đến 90 vị trí) nằm trên mặt nước biển lúc thủy triều lên cao Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu khác cũng cho thấy các đảo thuộc quần đảo

15 Lê Thị Anh Đào (2017), Quy chế pháp lý của đảo theo quy định của công ước luật biển và những vấn đề

đặt ra đối với Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.47

Trang 40

Hoàng Sa và Trường Sa không đáp ứng được điều kiện mà Điều 121 UNCLOS 1982 đã nếu trên quy định Đặc biệt, đối với Trường Sa, Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS 1982 trong vụ kiện giữa Cộng hòa Philippin và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi là Tòa trọng tài) đã

ra phán quyết kết luận rằng tất cả các cấu trúc nổi tại Trường Sa (bao gồm Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc, Trường Sa, Song Tử Đông, Song Tử Tây) đều là “đảo đá” về mặt pháp lý và không tạo ra vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa Ngoài ra, Tòa Trọng tài cũng ra kết luận rằng Công ước không quy định việc một nhóm các đảo như quần đảo Trường Sa sẽ có các vùng biển với tư cách là một thực thể thống nhất.16 Nếu các đảo ở Biển Đông được giải thích theo quan điểm này của Tòa trọng tài thì phạm vi các vùng biển có yêu chồng lấn ở giữa Biển Đông sẽ được thu hẹp đáng kể; từ đó, các tranh chấp, mâu thuẫn trên Biển Đông sẽ được giải quyết một cách triệt để

2.1.3 Tính bất hợp pháp của yêu sách đường lưỡi bò dưới danh nghĩa xác lập “quần đảo” và “quốc gia quần đảo”

Cách gọi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được hình thành do thời gian sử dụng, do thói quen, chứ các “thực thể” này không thỏa mãn bản chất pháp lý của quần đảo Tại Điều 46 UNCLOS 1982, khái niệm quần đảo

được quy định khá rõ ràng: “Quần đảo là một nhóm đảo, kể cả các bộ phận

của các đảo, các vùng nước nối giữa và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành một thể thống nhất về địa lý, kinh

tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử.” Như vậy, để một nhóm

đảo trở thành quần đảo thì các đảo trong nhóm đảo đó phải có sự liên quan chặt chẽ với nhau về mặt địa lý, kinh tế, chính trị và lịch sử như một thể thống nhất Xét thấy, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn tách biệt với lãnh thổ Trung Quốc Hoàng Sa cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 120 hải lý, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 156 hải lý; Trường Sa cách Hòn Hải của Việt Nam 210 hải lý, cách đảo Hải Nam gần 1000 hải lý Chúng bao gồm những đảo đá ngoài khơi, xa đất liền Mỗi đảo của Hoàng Sa và Trường Sa hầu như

16 Đoạn 632 & 646 Phán quyết

Ngày đăng: 16/02/2021, 14:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w