1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRÁCH NHIỆM bồi THƢỜNG THIỆT hại DO VI PHẠM hợp ĐỒNG của DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH của bộ LUẬT dân sự 2015

100 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, tại Việt Nam chế định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được quy định tại các văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ TRÀ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ TRÀ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Đăng Huệ

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Trà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục tiêu nghiên cứu 4

5 Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5

8 Bố cục của luận văn 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG 7

1 Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng – công cụ pháp lý quan trọng bảo đảm thực hiện đúng hợp đồng của doanh nghiệp 7

2 Phân biệt bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng với phạt vi phạm hợp đồng 12

3 Quan hệ giữa Bộ luật Dân sự 2015 với các luật khác trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 15

4 Sự phát triển của chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 18

Kết luận Chương 1 24

CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 25

1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 25

1.1 Hành vi vi phạm hợp đồng 26

1.1.1 Xác định hành vi vi phạm 26

Trang 5

1.2 Có thiệt hại thực tế xảy ra 32

1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra 33

1.4 Yếu tố lỗi 35

1.4.1 Khái niệm lỗi 35

1.4.2 Xác định lỗi của doanh nghiệp 39

2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 40

3 Thiệt hại được bồi thường 43

3.1 Những loại thiệt hại được bồi thường 43

3.2 Giá trị bồi thường thiệt hại 47

3.3 Nghĩa vụ chứng minh tổn thất và nghĩa vụ hạn chế tổn thất 51

4 Trường hợp miễn bồi thường thiệt hại 53

4.1 Thoả thuận về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại 54

4.2 Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có sự kiện bất khả kháng 56

4.2.1 Khái niệm sự kiện bất khả kháng 56

4.2.2 Những sự kiện bất khả kháng được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 61

4.3 Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do bên có quyền có lỗi 64

4.4 Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do phải thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 65

Kết luận Chương 2 68

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP 70

1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 70

1.1 Phù hợp với đường lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 70

Trang 6

1.2 Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 71 1.3 Đảm bảo sự thống nhất của các văn bản pháp luật 71

2 Hoàn thiện các quy định pháp luật cụ thể về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 72

2.1 Hoàn thiện quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 72 2.2 Hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại 74 2.3 Hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến nguyên tắc bồi

thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 78

Kết luận Chương 3 80 KẾT LUẬN CHUNG 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chế định hợp đồng là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng và

đồ sộ nhất của bất cứ Bộ luật Dân sự nào Với tư cách là sự thỏa thuận giữa các bên, hợp đồng là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia quan vào quan hệ xã hội với nhau và thông qua việc thực hiện các quan hệ xã hội đó, mà các chủ thể của đời sống dân sự thỏa mãn được các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình Tuy nhiên, không phải mọi giao kết hợp đồng đều có thể thực hiện một cách thuận lợi; việc một hoặc nhiều bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các điều khoản đã thỏa thuận là điều thường xuyên diễn ra trong thực tế Bởi hợp đồng chính là luật của các bên,

do đó, nếu hợp đồng không được thực hiện hoặc thực hiện sai lệch theo thỏa thuận và gây ra sự thiệt hại thì người bị thiệt hại phải được đền bù xứng đáng

Vì vậy, một trong những nhiệm vụ của bất cứ Bộ luật Dân sự nào cũng là xây dựng cơ chế pháp lý để việc bồi thường thiệt hại đó được diễn ra một cách thuận lợi Trong cơ chế pháp lý đó, có các vấn đề như: thế nào là chế tài bồi thường thiệt hại; căn cứ phát sinh chế tài bồi thường thiệt hại; những thiệt hại nào được bồi thường; nguyên tắc bồi thường thiệt hại; những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại… Hiện nay, tại Việt Nam chế định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được quy định tại các văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm,… Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các luật chuyên ngành cần phải đảm bảo sự phù hợp với Bộ luật Dân sự với tư cách là luật gốc của hệ thống luật tư

Tuy nhiên, qua thực tiễn gần 10 năm triển khai thi hành, một số quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng đã dần trở nên không còn phù hợp với sự phát triển mạnh

Trang 8

mẽ của những quan hệ pháp luật đang diễn ra ngày càng phong phú và đa dạng Trong bối cảnh như vậy, việc xây dựng Bộ luật Dân sự (sửa đổi) là một nhiệm vụ rất cần thiết Trước yêu cầu đặt ra, sau một thời gian dài làm việc, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Dân sự 2015 thay thế Bộ luật Dân sự 2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 Theo

đó, Bộ luật Dân sự 2015 đã có nhiều điểm mới, tiến bộ hơn so với Bộ luật Dân sự 2005, đặc biệt là về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Như chúng ta đã biết, với nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, chế tài bồi thường thiệt hại đã và đang là công cụ vô cùng cần thiết để bảo vệ các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ hợp đồng Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về chế tài này – đặc biệt trong bối cảnh Bộ luật Dân sự 2015 vừa

có hiệu lực, là một vấn đề mang tính cấp bách, có ý nghĩa quan trọng nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Đặc biệt, thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, chúng ta có thể phát hiện những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp, từ đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật trong lĩnh vực này Bên cạnh đó, việc tìm hiểu chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng còn giúp các doanh nghiệp Việt Nam vận dụng pháp luật một cách có hiệu quả hơn

Vì những lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tính đến thời điểm hiện nay, về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã có một số công trình nghiên cứu ở các cấp độ

khác nhau Có thể kể đến những công trình như:

Trang 9

- Quách Thúy Quỳnh (2005), Pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện,

Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

- Hoàng Thị Hà Phương (2011), Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường

Đại học Luật Hà Nội

- Nguyễn Thị Thu Huyền (2013), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, Luận văn thạc sỹ luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội

- Lê Thị Yến (2013), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự -

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật Hà Nội

Các công trình nghiên cứu trên, hoặc là đã đề cập một cách khái quát các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung, hoặc là đã nghiên cứu chuyên sâu về hình thức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, tất cả các công trình này, lại nghiên cứu các vấn đề nêu trên trong bối cảnh Bộ luật Dân sự 2005, do đó, tình thời sự đã có phần bị suy giảm

Kể từ khi Bộ luật Dân sự 2015 ra đời và có hiệu lực, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về Bộ luật Dân sự 2015 nói chung, và về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng, tuy nhiên, chỉ nghiên cứu một cách khát quát Đáng lưu ý nhất, trong số các công trình đó là các cuốn Bình luận khoa học về Bộ luật Dân sự 2015 của PGS-TS Đỗ Văn Đại (2016, NXB Hồng Đức); của TS Nguyễn Minh Tuấn (2016, NXB Tư pháp); của tập thể tác giả khoa Dân sự, Đại học Luật Hà Nội mà chủ biên là PGS.TS Nguyễn Thị Huệ

và PGS.TS Nguyễn Văn Cừ (2017, NXB Công an nhân dân) Như vậy, việc nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập đến Vì vậy, đề tài

„Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của doanh nghiệp

Trang 10

theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015” sẽ có tính mới và không bị trùng lặp

so với những công trình nghiên cứu khác

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định của pháp luật có liên quan về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Theo đó, Luận văn hướng đến hai đối tượng nghiên cứu chính: đối tượng thứ nhất, là các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng; đối tượng thứ hai mà tác giả hướng đến đó là những tồn tại, bất cập trong các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và giải pháp, kiến nghị

4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu một cách chuyên sâu về vấn

đề trách nhiệm bồi thường thiệ hại do vi phạm hợp đồng theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm tạo ra cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho các chủ thể hợp đồng dân sự, nhất là các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong các quan hệ hợp đồng

5 Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do vi phạm hợp đồng của doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015” Luận văn cần tập trung trả lời được những câu hỏi sau:

Thứ nhất, quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và pháp luật liên quan về

chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng như thế nào?

Có điểm gì mới, tiến bộ hơn so với Bộ luật Dân sự 2005?

Thứ hai, những ưu điểm, hạn chế của của chế định trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015

và pháp luật có liên quan?

Trang 11

Thứ ba, phương hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định

của pháp luật Việt Nam (đặc biệt là Bộ luật Dân sự 2015) về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về Nhà nước và pháp luật Đồng thời, vận dụng những quan

điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ đổi mới

Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh để đưa ra những quan điểm, đánh giá khách quan và giải quyết các vấn đề khoa học

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại là vấn đề muôn thuở của tất cả các Bộ luật Dân sự của thế giới cũng như của Việt Nam Cũng chính vì tính phổ biến và tầm quan trọng của chế định này, nên nó đã được nghiên cứu nhiều ở nước ta Tuy nhiên, Luận văn vẫn có nhiều điểm mới vì có những đóng góp chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, phân tích những điểm tiến bộ của Bộ luật Dân sự 2015, để mọi

người thấy được tầm quan trọng của Bộ luật Dân sự nói chung và các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng đối với các hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Thứ hai, đã làm rõ được vai trò của các đạo luật chuyên ngành trong việc

ghi nhận chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Luận văn đã chứng minh rằng, trong việc ghi nhận chế tài bồi thường thiệt hại thì vai trò hàng đầu luôn thuộc về Bộ luật Dân sự với tư cách là luật gốc của hệ thống luật tư Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận vai trò của các luật chuyên ngành khác, trong đó, có Luật Thương mại Như vậy, có thể khẳng định bồi thường thiệt hại là một chế định pháp lý liên ngành

Trang 12

Thứ ba, Luận văn cũng đã bước đầu nghiên cứu, phân tích và làm sáng

tỏ được một số hạn chế của Bộ luật Dân sự liên quan đến chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Các phát hiện này, chắc chắn sẽ góp phần vào

việc nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này trong tương lai

Cụ thể, Luận văn tập trung nghiên cứu sâu, đánh giá mặt tích cực và hạn chế của chế độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định của pháp luật liên quan như: + Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

+ Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

+ Thiệt hại được bồi thường

+ Trường hợp miễn, giảm bồi thường thiệt hại

Từ đó, Luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về chế định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

Những phân tích, đánh giá và kiến nghị của Luận văn có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn trong việc ký kết và hạn chế rủi ro, tranh chấp khi thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp Đồng thời, góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật nói chung và Bộ luật Dân sự 2015 nói riêng về chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 03 Chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Chương 2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đối với doanh nghiệp theo Bộ luật Dân sự 2015

Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của doanh nghiệp

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG

1 Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng – công cụ pháp lý quan trọng bảo đảm thực hiện đúng hợp đồng của doanh nghiệp

Như chúng ta đã biết, khi hợp đồng bị vi phạm dưới hình thức không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng cam kết, bên vi phạm

sẽ phải gánh chịu một số biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với bên có quyền Pháp luật nước ta quy định hai hình thức chế tài vật chất cơ bản để bảo đảm thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp nói riêng và các chủ thể quan hệ hợp đồng nói chung, đó là bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng Đây là hai chế tài được quy định trong khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, nổi bật nhất là Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm1

Trong khi đó, trên cơ

sở lý luận chung về bồi thường thiệt hại được quy định tại Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại 2005 định nghĩa bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm phải bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra cho bên bị vi phạm.2 Như vậy, có thể thấy, phạt vi phạm hợp đồng chỉ được

áp dụng khi có sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, còn bồi thường thiệt hại là chế tài đương nhiên được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng và có thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm đó

Về mối quan hệ giữa hai chế tài nêu trên, Khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân

sự 2015 quy định: “Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải

1

Khoản 1 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 14

chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm” Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là hình

thức trách nhiệm được áp dụng rộng rãi, phổ biến trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mà gây ra thiệt hại Thậm chí cả trong trường hợp bên có quyền bị vi phạm đã áp dụng các hình thức trách nhiệm khác, thì họ vẫn không đương nhiên mất quyền đòi bồi thường thiệt hại Mặc dù, đều là các chế tài nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp, nhưng nếu xét về đặc điểm chung của trách nhiệm do

vi phạm hợp đồng là tính đền bù, và được đánh giá trên hai tiêu chí là kịp thời

và tương xứng thì bồi thường thiệt hại có lợi thế hơn phạt vi phạm ở chỗ bên

bị vi phạm có thể được đền bù đầy đủ, tương xứng với những thiệt hại mà họ chứng minh được rằng đó là hậu quả của hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên vi phạm Thực tế xét xử các vụ án kinh tế cũng đã chứng minh, chế tài phạt vi phạm hầu như không được áp dụng mà chủ yếu là áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại Vì thế, có thể coi bồi thường thiệt hại là một giải pháp hữu hiệu cho

mọi trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Thực tiễn trên thế giới, không phải pháp luật nước nào cũng quy định cả hai loại chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Theo pháp luật hợp đồng Hoa kỳ, chế tài phạt hợp đồng về nguyên tắc không tồn tại trong thông luật Người vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường thiệt hại mà không bị phạt hợp đồng Người phải thực hiện nghĩa vụ có quyền tự do định liệu có thực hiện nghĩa vụ hay không, nếu xuất hiện những cơ hội hấp dẫn hơn với các bên thứ

ba, thì người này có thể không thực hiện nghĩa vụ và đền bù thiệt hại cho bên

bị vi phạm Phạt hợp đồng vì lẽ đó hạn chế quyền tự do của bên phải thi hành nghĩa vụ, một điều khoản như vậy trong hợp đồng có thể bị Tòa án Hoa kỳ

Trang 15

tuyên bố vô hiệu Một bên không được phép dùng hình thức phạt hợp đồng như là một biện pháp răn đe hạn chế quyền tự do định đoạt của bên kia3

Không chỉ Luật Hợp đồng của Hoa kỳ không có chế tài phạt hợp đồng mà Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Liêng bang Đức cũng không có quy định về chế tài này Khi vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm.4

Đối với hợp đồng thương mại quốc tế, khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng, một trong những chế tài được áp dụng phổ biến là bồi thường thiệt hại Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước CISG) cũng dành Mục II Chương 5 (Điều 74 đến Điều 77) cho chế tài bồi thường thiệt hại, mà không có quy định nào về phạt hợp đồng

Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế dành Mục 4 Chương 7 để thống nhất các vấn đề về bồi thường thiệt hại

Để tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại

do vi phạm hợp đồng với tư cách là công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện hợp đồng, trước hết chúng ta cần tìm hiểu các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 về chế định trên

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, bồi thường thiệt hại được khai thác theo hướng bồi thường do vi phạm nghĩa vụ, bởi lẽ, hợp đồng là một căn cứ chủ yếu để phát sinh nghĩa vụ Với tư cách là văn bản luật gốc điều chỉnh các quan hệ tư, quy định của Bộ luật Dân sự là cơ sở để các văn bản luật khác quy định về chế định bồi thường thiệt hại trong những lĩnh vực hoạt động đặc thù Trong quan hệ giữa các thương nhân (doanh nghiệp), pháp luật thương mại ra đời là cần thiết để duy trì và bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng Khi một hợp đồng thương mại đã được giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu lực pháp luật, thì các bên phải thực hiện các nghĩa

vụ mà mình đã thỏa thuận trong hợp đồng Nếu một bên có hành vi vi phạm

Trang 16

hợp đồng, thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lí bất lợi nhất định mà khoa học pháp lý gọi là chế tài Luật Thương mại 2005 quy định các loại chế tài tại

Điều 292, bao gồm:“(i) Buộc thực hiện đúng hợp đồng; (ii) Phạt vi phạm; (iii) Bồi thường thiệt hại; (iv) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (v) Đình chỉ hợp đồng; (vi) Hủy bỏ hợp đồng; (vii) Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật” Như vậy, chế tài có nhiều loại

nhưng cơ bản được chia thành hai loại là chế tài tài sản và chế tài nghiệp vụ Đối với mỗi chế tài đều có điều luật riêng để điều chỉnh Cụ thể, đối với chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, Luật Thương mại 2005 đã dành

06 điều quy định về chế tài này (Điều 302 đến Điều 305; Điều 307), bao gồm các nội dung: khái niệm bồi thường thiệt hại, giá trị bồi thường thiệt hại, căn

cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ chứng minh tổn thất, nghĩa vụ hạn chế tổn thất Theo đó, Khoản 1, Điều 229 Luật Thương mại

2005 quy định:“Bồi thường thiệt hại là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra”

Như vậy có thể hiểu, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là một chế tài dân sự được áp dụng nhằm bù đắp những thiệt hại thực tế mà bên vi phạm đã gây ra cho bên bị vi phạm Theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại và các văn bản có liên quan khác, chế tài bồi thường thiệt hại do

2005 có 06 hình thức chế tài được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng

trong đó có chế tài bồi thường thiệt hại

Trang 17

Thứ hai, chế tài bồi thường thiệt hại là chế tài mang tính chất tài sản

Khi thương nhân (doanh nghiệp) thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng, thì họ phải gánh chịu những tác động xấu (bất lợi) từ phía Nhà nước và đối tác Mục đích của các biện pháp tác động này là nhằm nâng cao ý thức chấp hành hợp đồng, bảo đảm trật tự kinh tế cũng như quyền và lợi ích của các chủ thể trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, nên việc áp dụng các chế tài mang tính tài sản trong đó có chế tài bồi thường thiệt hại là tất yếu, trừ khi chính bản thân người bị vi phạm trong cùng quan hệ hợp đồng không muốn áp dụng chế tài tài sản này đối với bên vi phạm Tóm lại, doanh nghiệp sinh ra là để thực hiện hoạt động sản xuất – kinh doanh, là để kiếm tiền một cách hợp pháp Vì vậy, các quan hệ hợp đồng mà doanh nghiệp xác lập với nhau chủ yếu là quan hệ hàng hóa – tiền tệ và việc thực hiện thành công hay không thành công các quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đến mục đích hoạt động của doanh nghiệp Chính vì vậy, nhà lập pháp (Quốc hội) đã phải căn cứ vào nhu cầu của các doanh nghiệp để xác định biện pháp chế tài nào là cần thiết phải

áp dụng khi một chủ thể nào đó “bội ước” (không thi hành hoặc thi hành không đúng hợp đồng) Và nhà lập pháp đã đúng khi chọn chế tài bồi thường thiệt hại là một chế tài tài sản Đánh vào túi tiền của các bên vi phạm hợp đồng và gây ra thiệt hại thì chỉ có biện pháp chế tài tài sản là hữu hiệu nhất

Thứ ba, chủ thể lựa chọn và quyết định hình thức chế tài buộc bồi thường thiệt hại chính là bên bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng

Những gì các bên đã cam kết trong hợp đồng là thì đều phải được thực hiện, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, thì chủ thể đó bị coi là

có hành vi vi phạm hợp đồng Lúc này, bên bị vi phạm có thể áp dụng một hoặc một số chế tài theo cam kết trong hợp đồng, hay theo quy định của pháp luật Khi bên bị vi phạm áp dụng các chế tài, trong đó có chế tài buộc bồi thường thiệt hại, nhưng bên vi phạm không thừa nhận hành vi vi phạm hay

Trang 18

không tuân thủ các biện pháp chế tài đưa ra thì bên bị vi phạm có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong khuôn khổ quy định pháp luật, bên bị vi phạm được toàn quyền quyết định việc yêu cầu bên vi phạm thực hiện một phần hay toàn bộ trách nhiệm tài sản đối với mình Ví dụ, trong hợp đồng thỏa thuận sẽ áp dụng đồng thời hai chế tài là phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, nhưng bên bị vi phạm có thể chỉ áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại mà không áp dụng phạt vi phạm Tòa án và Trọng tài được bên bị vi phạm yêu cầu giải quyết tranh chấp, phải tôn trong quyền tự định đoạt đó của nguyên đơn

2 Phân biệt bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng với phạt vi phạm hợp đồng

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là hai chế tài thường xuyên được áp dụng, khi một trong các bên của quan hệ hợp đồng vi phạm các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng Tuy nhiên, căn cứ áp dụng, nội dung và phương thức xử lý của hai hình thức này có những điểm giống và khác nhau

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có nhiều điểm giống nhau, nên người ta thường gọi phạt vi phạm là bồi thường thiệt hại được tính trước Theo đó, phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại, đều được coi là biện pháp chế tài mà Bộ luật Dân sự cũng như Luật Thương mại quy định để áp dụng cho các trường hợp vi phạm hợp đồng Ngoài ra, một trong những cơ sở

để áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là phải có hành vi vi phạm hợp đồng và có lỗi của bên vi phạm Mặc dù có nhiều điểm giống nhau, song vì bồi thường thiệt hại là dựa trên việc chứng minh tổn thất thực tế xảy

ra, chứ không phải là dự đoán của các bên nên chế tài phạt vi phạm hợp đồng

và bồi thường thiệt hại cũng có điểm khác nhau, cụ thể:

Thứ nhất, về mục đích áp dụng

Phạt vi phạm hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động trực tiếp vào ý thức của các chủ thể hợp đồng, nhằm giáo dục ý thức tôn trọng hợp

Trang 19

đồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng Còn mục đích của chế tài bồi thường thiệt hại là buộc bên vi phạm phải bồi thường những tổn thất tài sản do hành

vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra cho bên bị vi phạm Đối với bên bị vi phạm hợp đồng, chế tài bồi thường thiệt hại là một biện pháp hữu hiệu nhất nhằm khôi phục lợi ích về tài sản, bù đắp những tổn thất mà họ phải gánh chịu do hành vi vi phạm của bên kia Đó là toàn bộ những tổn thất thực tế, trực tiếp cũng như những khoản lợi đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi

vi phạm hợp đồng Nói một cách ngắn gọn, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có sự khác nhau về chức năng: nếu chức năng chủ yếu của chế tài phạt vi phạm là trừng phạt, là cảnh cáo những ai coi thường nghĩa vụ thi hành hợp đồng thì chức năng chủ yếu của bồi thường thiệt hại là khôi phục, bù đắp những mất mát mà một bên phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng

Thứ hai, về căn cứ (điều kiện) áp dụng biện pháp chế tài

Theo quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm Như vậy, phạt vi phạm được áp dụng khi có vi phạm hợp đồng, có lỗi của bên vi phạm và đặc biệt chế tài này phải được các bên thỏa thuận trong hợp đồng

Đối với chế tài bồi thường thiệt hại, Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 quy

định: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Có thể nói, với tư cách là luật gốc trong hệ thống luật tư, Bộ luật

Dân sự 2015 đã có quy định chung về bồi thường thiệt hại, được áp dụng khi

cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm Trên cơ sở đó, tại Điều

303 Luật Thương mại 2005 quy định chế tài bồi thường do vi phạm hợp đồng được áp dụng khi có đủ các yếu tố sau đây: (i) Có hành vi vi phạm hợp đồng; (ii) Có thiệt hại thực tế; (iii) Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực

Trang 20

tiếp gây ra thiệt hại Như vậy, khác với chế tài phạt vi phạm, chế tài bồi thường thiệt hại chỉ có thể áp dụng khi có thiệt hại thực tế xảy ra đối với bên

bị vi phạm Nói cách khác, không có thiệt hại thì không có chế tài bồi thường thiệt hại Trong khi đó, phạt vi phạm hợp đồng có thể áp dụng ngay cả khi không có thiệt hại xảy ra Ngoài ra, pháp luật cũng không quy định muốn được bồi thường thiệt hại thì các bên phải có thỏa thuận trong hợp đồng

Thứ ba, về mức giá trị vật chất mà bên vi phạm phải thực hiện để bồi thường hoặc phải nộp phạt do vi phạm hợp đồng

Đối với phạt vi phạm, Bộ luật Dân sự 2015 quy định các bên được quyền

tự do thỏa thuận mức phạt trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác Một trong số những luật co liên quan là Luật Thương mại, theo Luật này thì mức phạt được thỏa thuận trong hợp đồng và không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng với mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định.5

Như vậy, theo quy định, các bên có thể tự do thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng, trừ những trường hợp do luật định

Đối với bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thì giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu

do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ

có thể hạn chế được.6

5 Điều 301 Luật Thương mại 2005

6 Khoản 2 Điều 302; Điều 305 Luật Thương mại 2005

Trang 21

Như vậy, nếu như trong trường hợp áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng, các bên có quyền tự do thỏa thuận về mức giá trị vật chất mà bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm thì mức giá trị vật chất trong chế tài bồi thường thiệt hại lại không thể như vậy mà được xác định trên cơ sở giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do hành vi vi phạm gây ra

Thứ tư, về tính ưa dùng của chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại

Như phần trên đã trình bày, có hai hình thức chế tài tài sản được Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận, đó là phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Trong hai biện pháp chế tài tài sản này thì biện pháp phạt vi phạm luôn được các bên quan tâm vì tính đơn giản, thuận tiện trong việc ghi nhận và thực hiện trong thực tế Trong khi muốn áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại thì bên bị vi phạm phải làm rất nhiều việc, đặc biệt là phải chứng minh có thiệt hại thực tế xảy ra, có thiệt hại gián tiếp (thu nhập không thu được hay còn giọi là thu nhập bị bỏ lỡ…) đây là việc không hề dễ chút nào trong thực tế Trong khi đó, phạt vi phạm được áp dụng mà không cần phải làm các việc đó, không cần chứng minh có thiệt hại, không cần chứng minh quan hệ nhân quả giữa hành

vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra mà chỉ cần chứng minh một điều là bên kia đã có hành vi vi phạm hợp đồng Đặc điểm này đã làm cho phạt vi phạm hợp đồng trở thành phổ biến áp dụng trong hoạt động thương mại

3 Quan hệ giữa Bộ luật Dân sự 2015 với các luật khác trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Trong hệ thống văn bản pháp luật quốc gia, Bộ luật Dân sự được coi là đạo luật xương sống áp dụng cho mọi giao dịch có tính chất bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể tham gia Theo đó, đối với chế định hợp đồng của Bộ luật Dân sự, các nhà làm luật quy định theo hướng Bộ luật Dân sự là nền tảng cho các loại hợp đồng bất kể chúng được ký kết ở đâu, lĩnh vực hoạt động cụ

Trang 22

thể nào của con người Những điểm đặc thù của mỗi hợp đồng sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, trên cơ sở nguyên tắc

ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành, nếu pháp luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự, trong đó có chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Thật vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được ghi nhận tại các Điều:

13, 360, 361, 419 Bộ luật Dân sự 2015, quy định những vấn đề chung nhất về bồi thường thiệt hại cũng như thiệt hại nào được bồi thường, giải thích thế nào

là thiệt hại vật chất? thế nào là thiệt hại về tinh thần?… Luật Thương mại

2005 với tính chất là luật chuyên ngành điều chỉnh các hoạt động thương mại tại các Điều 294, Điều 295, Điều 302 đến Điều 307 sẽ quy định cụ thể các vấn đề như: chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại, nguyên tắc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại, căn cứ áp dụng, nghĩa vụ chứng minh thiệt hại, nghĩa vụ hạn chế tổn thất, các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mối quan hệ giữa chế tài bồi thường thiệt hại với các hình thức chế tài thương mại khác

Ngoài những quy định chung mang tính chất nguyên tắc về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, các loại thiệt hại được bồi thường… được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của doanh nghiệp còn có thể tìm thấy trong các luật chuyên ngành quy định về hoạt động thương mại trong từng lĩnh vực cụ thể như: Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) trong đó có quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không (Chương VII Luật Hàng không dân dụng); Bộ luật hàng hải Việt Nam năm

2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển (Chương VII Hợp đồng vận chuyển hàng

Trang 23

hóa bằng đường biển); Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng bảo hiểm, Như vậy, trong từng lĩnh vực cụ thể như kinh doanh bảo hiểm, hàng hải, hàng không dân dụng… chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đều có các văn bản pháp luật tương ứng - thường được gọi là luật chuyên ngành, điều chỉnh

Đối với quan hệ hợp đồng, giai đoạn từ 01/01/2006 đến nay, luật chung

là Bộ luật Dân sự, còn luật chuyên ngành là Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng…Việc xác định luật chung và luật chuyên ngành còn phụ thuộc vào từng quan hệ hợp đồng Ví dụ, trong một số trường hợp, Luật Thương mại là luật chuyên ngành trong mối quan hệ với Bộ luật Dân sự, trong một số trường hợp khác, Luật Thương mại lại là luật chung trong mối quan hệ với các luật chuyên ngành khác

Trong trường hợp luật chuyên ngành có những quy định khác với luật chung thì ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành Nếu có vấn đề không được quy định tại luật chuyên ngành thì áp dụng quy định của luật chung Đây chính là nguyên tắc áp dụng luật chung – luật chuyên ngành và được xem là một nguyên tắc áp dụng pháp luật cơ bản Các nước theo truyền thống dân luật, chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguyên tắc này Ví dụ, Bộ luật Dân sự Pháp tại

Điều 1107, Chương 3 quy định: “Mọi hợp đồng, dù có hay không có tên gọi riêng, đều phải tuân theo các quy định chung tại thiên này Một số hợp đồng được quy định riêng tại các thiên dành cho từng hợp đồng này; các giao dịch thương mại được quy định riêng trong các đạo luật về thương mại.” Hay tại Mục 1 Chương 1 Bộ Luật Thương mại Nhật Bản quy định: “Bộ luật Dân sự

là bộ luật điều chỉnh những quan hệ trong đời sống xã hội nói chung, còn Bộ luật Thương mại thì điều chỉnh các quan hệ trong đời sống của một doanh nghiệp Tuy nhiên, một số vấn đề thuộc về doanh nghiệp vẫn được quy định

Trang 24

từng phần trong Bộ luật Dân sự Như vậy, Bộ luật Dân sự là một đạo luật chung, còn Bộ luật Thương mại là một đạo luật chuyên ngành.” Ở Việt Nam,

nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành (mà Bộ luật Dân sự 2015 gọi là luật khác có liên quan) chỉ mới được ghi nhận một cách chính thức tại Điều 4

Bộ luật Dân sự, còn từ trước đến ngày 01/01/2017 nguyên tắc này chỉ tồn tại

Theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Hợp đồng hợp pháp là một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ

giữa các bên chủ thể của hợp đồng Trong quá trình thực hiện hợp đồng, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình, thì bên đó sẽ phải gánh chịu một số hậu quả pháp lý bất lợi mà dưới

7 Đinh Trung Tụng (chủ biên, 2016), Bối cảnh xây dựng và một số nội dung mới chủ yếu của Bộ

Trang 25

góc độ khoa học pháp lý được gọi là trách nhiệm dân sự Trong đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những trách nhiệm dân sự được ghi nhận tại Điều 11 Bộ luật Dân sự 2015

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là một trong những nội dung được bổ sung một cách cơ bản so với quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 Thay vì chỉ quy định chung trong một điều luật (Điều 307 Bộ luật Dân sự 2005), Bộ luật Dân sự 2015 dành tới 04 (bốn) điều luật để quy định về nội dung này (từ Điều 360 đến Điều 363 Bộ luật Dân sự 2015) Từ quy định tại những điều này có thể thấy một số nội dung mới phát triển, nổi bật như sau:

Thứ nhất, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được ghi nhận đầy đủ

và rõ ràng hơn

Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” – đây là quy

định mới được bổ sung tại Bộ luật Dân sự 2015 Quy định này chỉ rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh khi có các yếu tố sau: (i) có thiệt hại; (ii) có hành vi vi phạm nghĩa vụ; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại

và hành vi vi phạm nghĩa vụ; (iv) có lỗi Tuy “lỗi” không phải là một điều kiện được nhắc đến trực tiếp trong điều luật nhưng có thể hiểu, khi các bên trong hợp đồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ thì hành vi đó được coi là có lỗi Bên cạnh đó, bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại nhưng sẽ không phải bồi thường thiệt hại khi rơi vào trường hợp “luật có quy định khác” hoặc

“các bên có thỏa thuận khác”

Như vậy, thay vì quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại một cách chung chung như quy định tại Bộ luật Dân sự 2005, việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thành một điều độc lập như

Trang 26

Bộ luật Dân sự 2015 đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn trong việc xác định các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường Đồng thời, quy định này còn tạo hành lang pháp lý cụ thể cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng trong việc thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi một trong các bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ

Thứ hai, các loại thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ trong

hợp đồng cũng được xác định cụ thể, đầy đủ và rõ ràng, hợp lý hơn so với trước đây

Trên cơ sở những quy định chung về thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng được quy định tại Điều

419 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể như sau:

1 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này

2 Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ

ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại

3 Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa

vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc

Đây là một quy định mới, có nội dung tiến bộ vượt bậc của Bộ luật Dân

sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 Theo đó, Điều 419 đã thể hiện được các điểm mới quan trọng như sau:

Một là, các thiệt hại được bồi thường không chỉ là các thiệt hại thực tế,

hiện hữu như trước đây Bộ luật Dân sự 2005 đã quy định mà còn cả các thu

Trang 27

nhập bị bõ lỡ (khoản lợi mà đáng lẽ ra trong điều kiện bình thường thì bên bị thiệt hại sẽ có được nhưng do hành vi vi phạm của bên kia mà mình đã không thu được) Ví dụ: khoản lợi nhuận theo kế hoạch đề ra sẽ đạt được

Hai là, đoạn 2 của Khoản 2 Điều 419 quy định thêm một loại thiệt hại

được bồi thường, đó là các chi phí mà bên bị vi phạm đã phải gánh chịu trong quá trình thực hiện hợp đồng Ví dụ, chi phí thuê luật sư tham gia tố tụng Tòa

án hoặc Trọng tài Trong các tranh chấp dân sự, phí luật sư hầu như chưa bao giờ được bên thua kiện hoàn trả cho bên thắng kiện Nay, theo Khoản 2 Điều

419 nêu trên thì Tòa án đã có cơ sở pháp lý để buộc bên thua kiện phải thực hiện nghĩa vụ này Và đây cần phải được coi là một quy định tiến bộ của Bộ luật Dân sự liên quan đến chế tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Ba là, theo Khoản 3 Điều 419 thì người vi phạm có thể phải bồi thường

thiệt hại về tinh thần cho người bị hại trong đó có các pháp nhân thương mại (doanh nghiệp) Đây rõ ràng cũng là một điểm mới liên quan đến các loại thiệt hại được bồi thường mà trước đây được quy định còn mập mờ, không rõ ràng, gây tranh chấp không đáng có

Thứ ba, về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại

Bộ luật Dân sự 2005 đã có những quy định về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại trong một số hợp đồng nhất định, nhưng sự quy định này chỉ mang tính chất rời rạc, chưa trở thành một nội dung mang tính nguyên tắc Ví

dụ, liên quan đến nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, bên được bảo hiểm và của bên bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, Bộ luật Dân sự 2005 có quy định riêng về trường hợp này tại Điều 575, cụ thể:

1 Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm hoặc bên được bảo hiểm phải báo ngay cho bên bảo hiểm và phải thực hiện mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại

Trang 28

2 Bên bảo hiểm phải thanh toán chi phí cần thiết và hợp lý mà người thứ ba đã bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại…

Hay liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành,

Khoản 2 Điều 448 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “… Bên bán không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại”

Vì vậy, để khắc phục hạn chế nêu trên, Bộ luật Dân sự 2015 quy định việc ngăn chặn, hạn chế thiệt hại trở thành một xử sự bắt buộc của bên có

quyền, cụ thể, Điều 362 quy định: "Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình.”

Việc quy định nghĩa vụ của bên có quyền ngăn chặn, hạn chế thiệt hại xảy ra là có căn nguyên, đạo lý của nó Bản chất của vấn đề này nằm ở chỗ, mọi vấn đề liên quan đến quá trình ký kết cũng như thực hiện hợp đồng đều phải dựa trên nguyên tắc thiện chí và hợp tác Sẽ thật lãng phí và không hợp

lý, nếu như buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu toàn bộ thiệt hại, trong khi không buộc bên có quyền phải hạn chế thiệt hại khi họ hoàn toàn có thể làm việc đó Quy định này rõ ràng thúc đẩy sự hợp tác, thiện chí của các bên trong hợp đồng, đảm bảo sự cân bằng lợi ích và hướng tới việc tất cả các bên trong hợp đồng cùng phát triển

Thứ tư, về việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên vi phạm có lỗi

Đây cũng được xem là một quy định có nhiều điểm mới của Bộ luật Dân

sự 2015 và thể hiện sự tiến bộ về tư duy lập pháp của các nhà làm luật Việt Nam Trước đây, những quy định của Bộ luật Dân sự 2005 chỉ thể hiện được nội dụng: bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền Tuy nhiên, trên thực tế đã gặp phải trường hợp khi một bên vi phạm

Trang 29

nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại là do lỗi một phần của bên có quyền Thực tiễn xét xử tại Tòa án cho thấy, Tòa án đã giải quyết theo hướng bên vi phạm đương nhiên sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bên bị vi phạm mà chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại một phần Để đi đến cách giải quyết này, rõ ràng Tòa án chỉ có thể áp dụng tương tự những quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Để giải quyết tồn tại nêu trên, Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung Điều 363 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại xảy ra do

một phần lỗi của bên vi phạm như sau: "Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình" Quy định này là hệ quả

tất yếu của việc không thực hiện nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại theo quy định tại Điều 362 Bộ luật Dân sự 2015 của bên có quyền Đồng thời, quy định này phù hợp với thực tiễn và nguyên tắc tự chịu trách nhiệm theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 Ngoài ra, quy định mới này cũng bảo đảm sự phù hợp của quy định pháp luật với lẽ công bằng

Trang 30

Kết luận Chương 1

1 Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là một trong hai biện pháp trách nhiệm tài sản được Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận So với chế tài phạt vi phạm, chế tài bồi thường thiệt hại được Bộ luật Dân sự quan tâm hơn nhiều vì tính chất phức tạp của nó (phức tạp về điều kiện áp dụng, về cách thức chứng minh thiệt hại và nhiều vấn đề liên quan khác) Điều này giải thích tại sao, xét

về quy mô điều chỉnh pháp luật thì các quy định về bồi thường thiệt hại bao giờ cũng đồ sộ, đa dạng và rắc rối hơn nhiều so với chế tài phạt vi phạm

2 So với Bộ luật Dân sự 2005, các quy định về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã có tiến bộ hơn rất nhiều Điều này thể hiện ở những điểm cụ thể sau đây:

Thứ nhất, Xác định đầy đủ và rõ ràng hơn về các điều kiện (căn cứ) làm

phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Thứ hai, xác định rõ ràng, đầy đủ, cụ thể và hợp lý hơn các loại thiệt hại

được bồi thường, góp phần chấm dứt sự trách nhiệm không đáng có về các loại thiệt hại được bồi thường nói chung và trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng

Thứ ba, quy định thêm nhiều vấn đề mới nhằm tăng cường tinh thần, thái

độ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các bên ký kết hợp đồng, nhất là quy định

về trách nhiệm của bên bị vi phạm trong việc ngăn chặn, hạn chế các thiệt hại

có thể xảy ra cho mình

3 Với những quy định mới, tiến bộ, Bộ luật Dân sự 2015 đã có những căn cứ pháp lý vững chắc để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thay vì phải áp dụng tương tự những quy định tại chương trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Ngoài ra, thông qua các các quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, nhà làm luật đã nhấn mạnh tầm quan trọng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng

Trang 31

CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

Pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đối với doanh nghiệp, chính là sự ghi nhận thái độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho đối tác trong quan hệ hợp đồng sản xuất, kinh doanh Nội dung cơ bản của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:

- Quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng;

- Quy định về nguyên tắc bồi thường;

- Quy định về các loại thiệt hại được bồi thường;

- Quy định về giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại (các trường hợp được miễn, giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại)

1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Khi hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động của doanh nghiệp nói riêng được ký kết và có hiệu lực pháp luật thì các bên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình Nếu bên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì phải chịu trách nhiệm trước bên kia Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân

sự 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ đã quy định “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.” Theo quy định này, thì căn cứ phát sinh trách nhiệm

dân sự chính là hành vi vi phạm nghĩa vụ của người có nghĩa vụ trước người

có quyền Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chính là một hình thức của trách

Trang 32

nhiệm dân sự Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có những căn cứ nhất định do pháp luật quy định Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 cần dựa trên các cơ sở:

- Có hành vi vi phạm hợp đồng;

- Có thiệt hại thực tế xảy ra;

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra;

- Có lỗi của bên vi phạm hợp đồng

1.1 Hành vi vi phạm hợp đồng

1.1.1 Xác định hành vi vi phạm

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ8 Sau khi hợp đồng được giao kết và có hiệu lực, các bên có nghĩa vụ phải tuân thủ và thực hiện hợp đồng theo các nguyên tắc

do pháp luật quy định Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý cần thiết

để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng Bộ luật Dân sự 2015 mặc dù không không đưa ra khái niệm về vi phạm hợp đồng, nhưng Khoản 1 Điều 351 đã đưa ra định nghĩa về vi phạm nghĩa vụ dân sự

như sau“Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân

sự đối với bên có quyền Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.” Khoản 2 điều 13 Luật Thương mại 2005 cũng quy định: “Vi phạm nghĩa vụ hợp đồng được hiểu là sự không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng do pháp luật Thương mại quy định”

Như vậy, theo quy định này, để xem xét một hành vi có vi phạm hợp đồng hay không cần dựa trên hai căn cứ:

Trang 33

Một là, có tồn tại hợp đồng hợp pháp và có hiệu lực pháp luật

Hợp đồng thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên tham gia, nó quy định

rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên Vì vậy, chỉ khi có hợp đồng, đối chiếu với những điều khoản quy định nội dung của nghĩa vụ hợp đồng, các điều kiện thực hiện nghĩa vụ, mức độ thực hiện… thì mới có thể đánh giá hành vi

có vi phạm hợp đồng hay không? Khi hợp đồng chưa hình thành, hợp đồng chưa có hiệu lực pháp luật hoặc hợp đồng vị vô hiệu toàn bộ thì không làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên với nhau, do vậy không có hành

vi vi phạm hợp đồng Trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể phát sinh các tình huống bất ngờ dẫn đến việc hai bên phải sửa đổi, bổ sung hợp đồng Họ

có thể thực hiện việc này thông qua fax, telex, các phụ lục hợp đồng,… các tài liệu thỏa thuận này được coi như là một phần của hợp đồng và có giá trị pháp

lý như hợp đồng Vì vậy, khi xem xét hành vi vi phạm hợp đồng, các bên cũng cần phải lưu ý tới các văn bản thỏa thuận này

Hai là có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng hoặc quy định của pháp luật

Hành vi vi phạm hợp đồng được chia làm hai dạng gồm: không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng Không thực hiện hợp đồng là việc một bên có nghĩa vụ theo hợp đồng nhưng đã không thực hiện dù được bên kia yêu cầu Ví dụ, công ty A ký hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty B, mặc

dù công ty B đã thanh toán một phần giá trị của hợp đồng cho công ty A nhưng đến thời hạn được bên công ty B yêu cầu mà công ty A vẫn không giao hàng cho công ty B Trong trường hợp này, công ty A được xác định là không thực hiện hợp đồng Có thể thấy, việc không thực hiện hợp đồng chỉ áp dụng với những nghĩa vụ tồn tại dưới dạng hành động (chuyển giao vật, tài sản,…) chứ không thể áp dụng với những nghĩa vụ tồn tại dưới dạng không hành động (nghĩa vụ giữ bí mật hoặc không thực hiện một công việc) Việc thực

Trang 34

hiện không đúng hợp đồng phức tạp hơn, bao gồm nhiều dạng hành vi như thực hiện không đúng thời hạn, không đúng địa điểm, không đúng số lượng, chất lượng, mẫu mã đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định Tuy nhiên, ranh giới xác định giữa việc không thực hiện và thực hiện không đúng trong nhiều trường hợp rất mong manh Trên thực tế, thì những người áp dụng pháp luật khó có thể giải quyết sự khác biệt giữa chế định trách nhiệm

do không thực hiện nghĩa vụ và do thực hiện không đúng nghĩa vụ

Bên cạnh đó, theo Luật Thương mại 2005 vi phạm hợp đồng không chỉ

là việc vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, mà còn là, vi phạm phát sinh

từ các quy định của pháp luật Bởi vì, nội dung của hợp đồng không chỉ bao gồm những điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn bao gồm cả những điều khoản các bên không thỏa thuận nhưng theo quy định của pháp luật, các bên

có nghĩa vụ phải thực hiện Khoa học pháp lý gọi những điều khoản này là điều khoản thường lệ Nếu các bên không thỏa thuận với nhau về những điều khoản này thì coi như các bên mặc nhiên công nhận những điều khoản đó Nếu các bên thỏa thuận thì không được trái với quy định của pháp luật

Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật Australia chia việc vi phạm hợp đồng ra làm hai loại: không thực hiện hợp đồng (failure to perform) và vi phạm hợp đồng trước thời hạn (anticipatory breach) Theo đó, không thực hiện hợp đồng được chia làm ba loại: hoàn toàn không thực hiện hợp đồng, có thực hiện hợp đồng nhưng không thực hiện đúng cam kết và thực hiện hợp đồng chậm9

Còn theo Unidroit, thuật ngữ được sử dụng là “không thực hiện hợp đồng” (inexecution) theo cách thức bao hàm tất cả các hình thức không thực hiện và cả những thiếu sót trong việc thực hiện Như vậy, một nhà đầu tư được coi là không thực hiện hợp đồng nếu tòa nhà mà anh ta xây có một phần không phù hợp với hợp đồng hoặc nếu anh ta hoàn thành muộn việc xây

9 Nguyễn Thị Minh (1999), Một số điểm khác nhau trong chế độ trách nhiệm đối với vi phạm hợp

Trang 35

Theo ý kiến tác giả, việc sử dụng thuật ngữ “không thực hiện hợp đồng” dường như là hơi nặng và không chính xác đối với bên thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng, bởi hành vi “không thực hiện hợp đồng” thường là những hành vi thiếu thiện chí Do vậy, thuật ngữ “không thực hiện hợp đồng” nên được thay thế bằng “không thực hiện đúng hợp đồng”, bởi suy cho dùng, dù không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng thì đó vẫn được coi là chưa hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ được nêu trong hợp đồng, vì thế thuật ngữ này nên được sử dụng vì nó mang tính bao quát cao hơn

1.1.2 Những hình thái của hành vi vi phạm hợp đồng

Theo lý thuyết, vi phạm hợp đồng là vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng Điều này có nghĩa là khi hết thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình thì sự vi phạm hợp đồng mới được xác định Tuy nhiên, đời sống xã hội ngày càng phát triển, thì các quan

hệ hợp đồng ngày càng phức tạp nên sẽ tồn tại nhiều hình thái vi phạm hợp đồng Có hai hình thái vi phạm hợp đồng là vi phạm cơ bản hợp đồng và vi phạm hợp đồng trước thời hạn

10 Nhà pháp luật Việt – Pháp (2010), Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế

Trang 36

Trên cơ sở quy định của Công ước CISG, pháp luật Việt Nam đề cập

khái niệm vi phạm cơ bản như sau “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”11

Việc xác định vi phạm cơ bản hay không cơ bản rất cần thiệt vì chúng sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý khác nhau, đảm bảo việc áp dụng hình thức trách nhiệm chính xác, tương đương với mức độ vi phạm Thế nhưng, việc không đưa ra cơ sở xác định cụ thể vi phạm nào là cơ bản, vi phạm nào là không cơ bản, lại là một thiếu sót khác của luật, sẽ khiến việc áp dụng quy định này không được thống nhất Mặt khác, Điều 293 Luật Thương mại 2005 đã quy định nếu vi phạm hợp đồng là những vi phạm không cơ bản thì bên bị vi phạm sẽ không được quyền sử dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng, từ đó khó có thể phát sinh quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Như vậy, đối với thực tiễn, nếu có quy định rõ ràng cách thức xác định được vi phạm nào là cơ bản, vi phạm nào là không cơ bản sẽ hạn chế được những trường hợp bên bị vi phạm cố tình lấy lý do có vi phạm hợp đồng để yêu cầu tạm ngừng, đình chỉ hay hủy hợp đồng trong khi vi phạm đó không đến mức nghiêm trọng như vi phạm cơ bản Vì tùy vào mức

độ vi phạm mà sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng nên cần phải có quy định về loại vi phạm này Theo tác giả, xác định vi phạm cơ bản không phải là xác định vi phạm đó lớn thế nào mà cần phải xác định vi phạm đó ảnh hưởng tới mục đích của bên bị vi phạm như thế nào Có những vi phạm lớn

mà ảnh hưởng không lớn đến mục đích tham gia quan hệ hợp đồng thì vi phạm đó không được xem là vi phạm cơ bản Vì đến cùng, các bên xác lập hợp đồng đều nhằm đạt được mục đích của mình

Trang 37

Từ những phân tích trên ta có thể thấy, việc xác định vi phạm nào là vi phạm cơ bản rất quan trọng Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này Mặc dù, trong Luật Thương mại 2005 có đề cập đến khái niệm về vi phạm cơ bản nhưng Bộ luật Dân sự – dưới góc độ là luật gốc lại không có một quy định nào liên quan

Vi phạm hợp đồng trước thời hạn

Theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, vi phạm hợp đồng trước thời hạn (anticipatory breach of contract) được hiểu như sau: Trước khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nếu bên có quyền biết được rằng, nghĩa vụ sẽ không được thực hiện hay có căn cứ để nghi ngờ rằng nghĩa vụ sẽ không thể được thực hiện, thì có thể thực hiện ngay quyền hoặc một số quyền mà thông thường chúng chỉ có thể được áp dụng trong trường hợp nghĩa vụ đã không được thực hiện trên thực tế.12

Từ khái niệm này có thể thấy, chế định vi phạm hợp đồng trước thời hạn được áp dụng trong hai trường hợp: bên có quyền (i) biết được rằng nghĩa vụ không được thực hiện hoặc (ii) có căn cứ nghi ngờ rằng nghĩa vụ sẽ không thể được thực hiện Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa thừa nhận chế định “vi phạm hợp đồng trước thời hạn” mà chỉ quy định nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp không thực hiện được hợp đồng theo đúng thời hạn Cụ thể, Điều 354 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“1 Khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền biết và đề nghị được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ.Trường hợp không thông báo cho bên có quyền thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại phát sinh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do nguyên nhân khách quan không thể thông báo

12 Dương Anh Sơn – Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vi phạm

Trang 38

2 Bên có nghĩa vụ được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ, nếu được bên có quyền đồng ý Việc thực hiện nghĩa vụ khi được hoãn vẫn được coi là thực hiện đúng thời hạn.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam bên có nghĩa vụ trong trường hợp không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì phải thông báo cho bên có quyền biết và được bên có quyền đồng ý, trong trường hợp không thông báo thì phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nếu phát sinh

1.2 Có thiệt hại thực tế xảy ra

Như chúng ta đã biết, thiệt hại xảy ra là điều kiện cần nhằm phát sinh trách nhiệm bồi thường Tuy nhiên, không phải thiệt hại nào cũng được bồi thường Nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là việc người có nghĩa vụ trong hợp đồng phải bù đắp cho phía bên kia những tổn thất mà mình đã gây ra

do việc vi phạm hợp đồng Vì vậy, việc xác định có thiệt hại xảy ra hay không? thiệt hại bao nhiêu? loại thiệt hại nào thì được bồi thường? là những việc hết sức cần thiết và quan trọng khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Khoản 2, Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại" Như vậy,

theo tinh thần của Bộ luật Dân sự 2015, người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại, tuy nhiên, đó phải là lợi ích thực tế, tất yếu, chắc chắn sẽ xảy ra chứ không thể suy diễn một cách vô căn cứ Đồng thời, người có quyền có thể có yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng

Trên cơ sở quy định chung tại Bộ luật Dân sự, Điều 303 Luật Thương mại 2005 cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp

Trang 39

đồng phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:“1.(…) 2 Có thiệt hại thực tế”

Như vậy, một trong những điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là thiệt hại đó phải là thiệt hại có thật, có thể chứng minh được, tất yếu đã và sẽ xảy ra do có hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm Về nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu và mỗi một thiệt hại chỉ được bồi thường một lần

Ví dụ: Công ty A và Công ty B ký hợp đồng mua bán hàng hóa, công ty

B là bên mua đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại hợp đồng nhưng công ty A vẫn chưa chịu giao hàng hóa cho công ty B Công ty B mua hàng hóa của công ty A với mục đích bán lại cho công ty C để thu phần giá trị chênh lệch của hàng hóa, nên sau khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty A, công ty B đã tiếp tục ký hợp đồng mua bán với công ty C Tuy nhiên, việc công ty A chậm giao hàng cho công ty B đã làm cho công ty B không có hàng để giao cho công ty C, làm cho công ty C từ chối không tiếp tục tham gia hợp đồng với công ty B Vì vậy, công ty B không thu được phần giá trị chênh lệch này – phần lợi ích mà lẽ ra B sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại Ngoài ra, để đảm bảo việc tiếp nhận hàng hóa mà công ty A chuyển giao cho mình, công ty B đã phải đi đăng ký kho bãi để chứa hàng, việc chậm giao hàng của công ty A làm cho thời gian thuê kho bãi bị kéo dài, phát sinh thêm chi phí cho công ty B do công ty A không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng Trong trường hợp này, công ty B có thể yêu cầu công ty A phải bồi thường đối với thiệt hại thực tế phát sinh, bao gồm: phần giá trị chênh lệch của hàng hóa

và chi trả chi phí phát sinh do kéo dài thời gian thuê kho bãi của mình

1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra

Trong khoa học pháp lý, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả, xảy ra được hiểu chính hành vi vi phạm đó là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hậu quả Do vậy, theo quy định tại Điều 303 Luật Thương mại 2005

Trang 40

thì muốn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thì phải xác định được hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp, tất yếu dẫn đến hậu quả là thiệt hại đã xảy ra

Xét về lý luận, thì bên vi phạm phải chịu trách nhiệm về những tổn thất

về những thiệt hại do mình gây ra Bởi vậy, cùng với nghĩa vụ chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại, bên bị vi phạm đồng thời cũng phải chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm của bên vi phạm và thiệt hại để

cơ quan giải quyết tranh chấp xem xét Để làm rõ vấn đề trên chúng ta cùng xem xét lại Bản án số 54/2014/KDTM-PT ngày 11/3/2014 của Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về tranh chấp hợp đồng mua bán giữa nguyên đơn là Công ty Welcome Trading Co.Pte.Ltđ và bị đơn là Công

ty cổ phần công nghiệp Tự Cường Theo đó, sau khi ký kết hợp đồng nguyên đơn đã thực hiện đúng hợp đồng cả về thời gian, địa điểm giao hàng và thực

tế nguyên đơn đã chuyển hàng giao cho bị đơn tại kho hàng Còn phía bị đơn

đã không thực hiện đúng nội dung hợp đồng đã ký kết (không đặt cọc 20% giá trị hợp đồng), không liên hệ hay thông báo gì cho nguyên đơn biết là bị đơn không thực hiện hợp đồng hay hủy bỏ hợp đồng Như vậy, chính hành vi không thực hiện hợp đồng của bị đơn là nguyên nhân trực tiếp làm nguyên đơn phải bán lưu kho và bán lô hàng với giá thấp hơn, nên bị đơn phải bồi thường thiệt hại này vì giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế xảy ra có mối quan hệ nhân quả

Trên thực tiễn, việc chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành

vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại là việc không dễ dàng Có trường hợp tính tất yếu thể hiện rất rõ ràng, không cần tranh cãi Đó là khi một bên có hành vi

vi phạm một hoặc một số nghĩa vụ của hợp đồng, chắc chắn sẽ dẫn đến thiệt hại cho bên kia Nhưng lại có những thiệt hại xảy ra là do sự kết hợp của rất nhiều hành vi của nhiều chủ thể khác nhau Lúc này, việc làm sáng tỏ được

Ngày đăng: 16/02/2021, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm