Tính toán lựa chọn cấu trúc hợp lý của mạng điện địa phương Tính toán lựa chọn cấu trúc hợp lý của mạng điện địa phương Tính toán lựa chọn cấu trúc hợp lý của mạng điện địa phương luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1TÍNH TOÁN LỰA CHỌN CẤU TRÚC HỢP LÝ
CỦA MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG
NGUYỄN NGỌC TUẤN
Hà Nội
Trang 2
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
TÍNH TOÁN LỰA CHỌN CẤU TRÚC HỢP LÝ
CỦA MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG
Trang 3MỤC LỤC
Trang Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Mở đầu 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CẤU TRÚC LƯỚI ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Giới thiệu chung 4
1.2 Mục đích sử dụng điện ở mạng điện địa phương 5
1.3 Các đặc điểm phụ tải địa phương 6
1.3.1 Đối với khu vực nông thôn 6
1.3.2 Đối với khu vực đô thị 8
1.4 Các đặc điểm lưới điện địa phương 9
1.4.1 Hiện trạng lưới trung áp … 9
1.4.2 Điện áp và dòng điện 10
1.4.3 Kết cấu lưới điện 11
1.4.3.1 Lưới điện 35 kV 11
1.4.3.2 Lưới điện 22 kV 12
1.4.3.3 Lưới điện (6, 10) kV 13
1.4.3.4 Lưới điện 380/220 V 14
1.4.4 Nhận xét 14
1.5 Kết luận 16
CHƯƠNG II MỘT SỐ DẠNG CẤU TRÚC, SƠ ĐỒ SỬ DỤNG TRONG MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG 2.1 Đặt vấn đề 17
2.2 Một số dạng sơ đồ nối dây cơ bản 18
2.2.1 Sơ đồ nối dây dạng hình tia 18
Trang 42.2.2 Sơ đồ nối dây loại nối liên thông 19
2.2.3 Sơ đồ nối dây loại mạch vòng kín 20
2.2.4 Phạm vi sử dụng các loại sơ đồ nói trên 21
2.3 Sơ đồ lưới phân phối trung áp trên không 22
2.4 Lưới phân phối cáp trung áp 23
2.5 Sơ đồ hệ thống phân phối điện 25
2.6 Sơ đồ lưới phân phối hạ áp 26
2.7 Kết luận 27
CHƯƠNG III TÍNH TOÁN XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THAM SỐ TỐI ƯU CỦA MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG 3.1 Xác định điểm phân công suất trong mạng kín 28
3.2 Phân đoạn đường dây trong mạng hình tia (cây) 31
3.2.1 Đường dây không phân nhánh 32
3.2.2 Đường dây phân nhánh 35
3.2.3 Chọn vị trí đặt của cơ cấu phân đoạn 35
3.3 Mật độ dòng điện kinh tế 37
3.4 Khoảng chia kinh tế của đường dây cao áp 42
3.5 Khoảng chia kinh tế của đường dây hạ áp 44
3.6 Xây dựng một số đường cong chi phí tính toán 45
3.7 Chọn cấp điện áp tối ưu 48
3.8 Kết luận 49
CHƯƠNG IV MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TÌM VÀ LỰA CHỌN THÔNG SỐ, CẤU TRÚC HỢP LÝ CỦA LƯỚI ĐIỆN 4.1 Đặt bài toán xác định cấu trúc tối ưu lưới điện 50
4.2 Phương pháp nhánh và cận để xác định cấu trúc tối ưu của lưới điện 50
4.2.1 Xây dựng hàm mục tiêu 50
4.2.2 Thuật toán tìm cấu trúc tối ưu của lưới điện bằng phương pháp nhánh và cận 54
4.2.3 Xét bài toán tổng quát có n 1 nguồn và n 2 phụ tải 60
Trang 54.3 Phương pháp thu hẹp từng bước xác định cấu trúc tối ưu của lưới điện 64
4.3.1 Cơ sở toán học của phương pháp 64
4.3.2 Nhận xét 69
4.4 Xây dựng sơ đồ nối điện tối ưu 70
4.4.1 Phương pháp hệ số phương án 70
4.4.2 Phương pháp mở rộng từng bước 71
4.4.3 Ví dụ sơ đồ nối điện tối ưu theo phương pháp mở rộng từng bước 74
4.5 Lựa chọn thông số cấu trúc hợp lý bằng giản đồ khoảng chia kinh tế 77
4.5.1 Các giả thiết và quy ước chung cho bài toán 77
4.5.2 Tóm tắt bài toán lựa chọn thông số cấu trúc HTCCĐĐT 80
4.5.2.1 Nội dung bài toán 80
4.5.2.2 Các ràng buộc được xác lập trong tính toán 80
4.5.2.3 Sơ đồ khối các bước lựa chọn thông số cấu trúc HTCCĐĐT hợp lý 81
4.5.3 Tính toán lựa chọn thông số cấu trúc lưới điện hạ áp 82
4.5.4 Lựa chọn thông số cấu trúc LHA theo giản đồ khoảng chia kinh tế sử dụng hàm chi phí vòng đời 84
4.5.5 Lựa chọn cấu trúc hợp lý lưới điện trung áp trong HTCCĐĐT theo giản đồ khoảng chia kinh tế 89
4.6 Kết luận 90
CHƯƠNG V ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP HÌNH HỌC ĐỂ TÌM CẤU TRÚC HỢP LÝ CỦA MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG 5.1 Đặt vấn đề 91
5.2 Tìm cấu trúc hợp lý của lưới điện phân phối bằng phương pháp hình học 91
5.2.1 Đặt bài toán 91
5.2.2 Cấu trúc lưới phân phối có xét tới ràng buộc về lãnh thổ 92
5.2.3 Xác định cấu trúc lưới phân phối có đường đi ngắn nhất bằng phương pháp hình học 97
5.2.4 Phương pháp hình học xác định cấu trúc lưới ngắn nhất có 4 điểm 99
Trang 65.2.5 Xác định cấu trúc lưới phân phối có chi phí quy dẫn cực tiểu bằng
phương pháp hình học 101
5.2.5.1 Cấu trúc của lưới cực tiểu chi phí quy dẫn có 3 điểm 101
5.2.5.2 Cấu trúc của lưới cực tiểu chi phí quy dẫn có 4 điểm 103
5.3 Ví dụ áp dụng tìm cấu trúc hợp lý bằng phương pháp hình học 104
5.4 Áp dụng phương pháp hình học tìm cấu trúc lưới phân phối thành phố Bắc Giang 112
5.4.1 Giới thiệu chung về thành phố Bắc Giang 112
5.4.2 Hiện tạng hệ thống cung cấp điện 113
5.5 Giới thiệu về lộ sau trung gian Bắc Giang hiện tại 113
5.5.1 Sơ đồ một sợi lộ sau trung gian Bắc Giang 113
5.5.2 Số liệu về chiều dài và loại dây của lộ 115
5.5.3 Xác định khu vực cần cải tạo cấu trúc lưới lộ sau trung gian Bắc Giang 117
5.5.4 Trình tự xây dựng cấu trúc lưới cho các cụm lưới 118
5.5.5 Số liệu phụ tải của các cụm lưới cần cải tạo cấu trúc 118
5.5.6 Xây dựng lưới có đường đi ngắn nhất 119
5.6 Kết luận 125
Kết luận chung của luận văn 126
Tài liệu tham khảo 127
PHỤ LỤC
Trang 7HTCCĐĐT Hệ thống cung cấp điện đô thị
MBAPP Máy biến áp phân phối
TBAPP Trạm biến áp phân phối
TBATG Trạm biến áp trung gian
Trang 8Bảng 3.5 Kết quả tính toán chi phí Z của đường dây 22 kV
Bảng 4.1 Số liệu về công suất và khoảng cách giữa các điểm tải Bảng 4.2 Suất chi phí tính toán tương ứng với phụ tải các điểm Bảng 4.3 Kết quả tính các giá trị Zij
Bảng 5.1 Danh sách các Phân xưởng và nhà làm việc trong nhà máy Bảng 5.2 Số lượng và công suất các trạm biến áp phân xưởng
Bảng 5.3 Tính toán chọn tiết diện cáp và các thông số các cụm lưới Bảng 5.4 Kết quả tính toán của các cụm có đường đi ngắn nhất Bảng 5.5 Chiều dài và loại dây của lộ sau trung gian Bắc Giang Bảng 5.6 Số liệu các nút tải lộ sau trung gian Bắc Giang
Bảng 5.7 Số liệu tính toán các cụm lưới có đường đi ngắn nhất Bảng 5.8 Số liệu tính toán các cụm lưới có đường đi ngắn nhất Bảng 5.9 Một số chỉ tiêu của lưới theo sơ đồ cũ và sơ đồ mới
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Sơ đồ nối dây hình tia
Hình 2.2 Sơ đồ nối dây liên thông
Hình 2.3 Các sơ đồ nối dây mạch vòng kín
Hình 2.4 Sơ đồ lưới phân phối trên không hình tia (cây)
Hình 2.5 Các dạng sơ đồ lưới phân phối cáp
Hình 2.6 Sơ đồ lưới phân phối cáp khi mật độ trạm phân phối cao Hình 2.7 Sơ đồ hệ thống phân phối điện
Hình 2.8 Sơ đồ phân phối hạ áp
Hình 3.1 Sơ đồ xác định công suất trên các nhánh
Hình 3.2 Mạng kín tách thành hai mạng hở
Hình 3.3 Đường dây không phân nhánh không và có đặt phân đoạn Hình 3.4 Đường dây phân nhánh
Hình 3.5 Đường cong chi phí quy đổi, xác định khoảng chia kinh tế
của đường dây Hình 3.6 Đường cong xác định chi phí tính toán của đường dây
22kV Hình 4.1 Graph đầy đủ
Hình 4.2 Cây của graph
Hình 4.3 Graph đầy đủ
Hình 4.4 Cây của graph
Hình 4.5 Cây phương án
Hình 4.6 Thuật toán nhánh và cận
Hình 4.7 Sơ đồ khối của thuật toán
Hình 4.8 Sơ đồ nối tối ưu xác định theo hệ số phương án với λ = 0Hình 4.9 Vị trí các điểm trên mặt bằng
Hình 4.10 Sơ đồ nối điện theo phương pháp mở rộng từng bước
Trang 10Hình 4.11 Sơ đồ khối các bài toán lựa chọn thông số cấu trúc
HTCCĐĐT Hình 4.12 Cấu trúc trạm biến áp phân phối đô thị lý tưởng
Hình 5.1 Các đoạn lưới trong điều kiện hạn chế về địa hình của xí
nghiệp hoặc đô thị Hình 5.2 Lưới ngắn nhất của 3 điểm (1,2,3) trong điều kiện hạn chế
về lãnh thổ Hình 5.3 Miền cấu trúc cực tiểu
Hình 5.4 Xây dựng lưới ngắn nhất có 3 điểm
Hình 5.5 Xây dựng lưới có đường đi ngắn nhất có 4 điểm
Hình 5.6 Xây dựng lưới cực tiểu chi phí quy dẫn có 3 điểm bất kỳ Hình 5.7 Lưới 4 nút có chi phí cực tiểu
Hình 5.8 Sơ đồ mặt bằng các phân xưởng trong nhà máy
Hình 5.9 Sơ đồ bố trí các trạm biến áp phân xưởng
Hình 5.10 Các sơ đồ minh hoạ cho phương pháp hình học
Hình 5.11 Sơ đồ một sợi lộ sau trung gian Bắc Giang
Hình 5.12 Tính toán cho cụm lưới 1
Hình 5.13 Sơ đồ lộ sau trung gian Bắc Giang sau khi cải tạo cấu trúc
lưới
Trang 11MỞ ĐẦU
M.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống điện Việt Nam trong những năm qua đã và đang phát triển nhanh cả về qui mô lẫn công nghệ Bên cạnh việc hình thành các đường dây truyền tải để liên kết giữa các khu vực, lưới điện phân phối cũng phát triển nhanh theo sự phát triển của các khu kinh
tế, khu công nghiệp và các khu đô thị mới
Ở Việt Nam lưới điện trung áp đang tồn tại nhiều cấp điện áp khác nhau: 6, 10, 15, 22, 35 kV theo chủ trương của Tổng công ty Điện lực Việt Nam là từng bước chuyển đổi sang cấp 22 kV có trung tính trực tiếp nối đất
Mạng điện địa phương là mạng điện phân phối cho một địa phương hoặc cho một khu vực phụ tải không lớn lắm ví dụ như một tỉnh, một khu vực nhỏ như khu công nghiệp, vùng mỏ, nông trường lớn, ngoại ô các thành phố
và mạng điện thành phố Người ta hay sử dụng lưới trung áp tức là lưới có cấp điện áp 6, 10, 22, 35 kV để phân phối điện cho các trạm phân phối trung áp/hạ áp và phụ tải trung áp
M.2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Việc cấp điện cho các khu vực kinh tế và sinh hoạt là rất đa dạng với những đặc thù rất khác nhau Người làm công tác thiết kế quy hoạch cần khảo sát, phân tích, cân nhắc kỹ đặc điểm, nhu cầu của từng khu vực, từng đối tượng mới có thể đưa ra được một phương án, một cấu trúc lưới điện hợp lý
Bài toán tìm cấu trúc hợp lý lưới điện phân phối là một bài toán cơ bản thường gặp trong công tác thiết kế và cải tạo mạng điện có cấp điện áp từ 35
kV trở xuống Lưới điện có cấu trúc tối ưu bao gồm các nhánh nối giữa các nút phụ tải và các nút nguồn đã cho trước, đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật cũng như các chỉ tiêu kinh tế là tốt nhất
Trang 12Để có một lưới điện hợp lý và kinh tế, điều đặc biệt quan trọng là phải nghiên cứu các quy luật xây dựng lưới cung cấp và phân phối để đề phòng các sai sót có thể có khi thết kế xây dựng lưới điện và cho phép đạt được hiệu quả kinh tế cao và cho phép nhanh chóng tìm được phương án hợp lý
Luận văn tập trung vào nghiên cứu tính toán lựa chọn cấu trúc hợp lý của mạng điện địa phương với mục đích chủ yếu là:
- Tính toán lựa chọn các tham số hợp lý đối với các sơ đồ mà hiện nay trong mạng điện địa phương đang sử dụng
- Áp dụng một số phương pháp để tính toán lựa chọn được một cấu trúc hợp lý sao cho đảm bảo cung cấp điện một cách hợp lý nhất, đảm bảo được các yêu cầu về kinh tế cũng như kỹ thuật
M.3 NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Với mục tiêu trên, luận văn thực hiện theo bố cục nội dung sau:
của lưới điện
của mạng điện địa phương
Sau một thời gian nghiên cứu, đến nay luận văn đã hoàn thành Tác giả
xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo TS
Nguyễn Lân Tráng Xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy, cô giáo trong
Trang 13Bộ môn Hệ thống điện - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt qúa trình tham gia khóa học Xin chân thành cảm ơn Trung tâm đào tạo sau đại học, bạn bè đồng nghiệp và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Do hạn chế về thời gian, trình độ nên luận văn không thể tránh khỏi sai sót Tác giả rất mong nhận được những chỉ dẫn, góp ý của các thầy, cô giáo cũng như các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 14CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CẤU
TRÚC LƯỚI ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Mạng điện địa phương là mạng điện phân phối cho một địa phương hoặc cho một khu vực phụ tải không lớn lắm ví dụ như một tỉnh, một khu vực nhỏ như khu công nghiệp, vùng mỏ, nông trường lớn, ngoại ô các thành phố
và mạng điện thành phố Thông thường để phân phối điện năng trong mạng điện địa phương người ta hay sử dụng lưới trung áp tức là lưới có cấp điện áp
6, 10, 22, 35 kV để phân phối điện cho các trạm phân phối trung áp/hạ áp và các phụ tải trung áp; lưới hạ áp cấp điện cho các phụ tải hạ áp 380/220 V
Do mạng điện địa phương là mạng điện trực tiếp phân phối điện năng cho các phụ tải nên mạng điện địa phương không ngừng phát triển theo phụ tải Chính vì vậy cho nên công tác quy hoạch và thiết kế mạng điện địa phương cũng cần phải tiến hành liên tục
Sau khi đã có quy hoạch về lưới điện khu vực, người ta mới tiến hành quy hoạch và thiết kế mạng điện địa phương Mục đích của quy hoạch mạng điện địa phương là xác định nhu cầu điện năng của địa phương trong tương lai theo thời gian dự định làm quy hoạch, dựa trên kết cấu của mạng điện khu vực, các phụ tải dự kiến của địa phương và dựa vào kết cấu sẵn có từ trước để tiến hành lựa chọn phương án tối ưu Sau đó, trên cơ sở của mạng điện đã chọn, tiến hành các bước tính toán kinh tế kỹ thuật như lựa chọn sơ đồ đấu dây, vạch các tuyến đường dây, xác định tiết diện dây dẫn, lựa chọn máy biến
áp, tính toán các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của mạng điện vừa thiết kế
Việc quy hoạch và xác định được một cấu trúc hợp lý của mạng điện địa phương có liên quan đến rất nhiều quy hoạch khác như quy hoạch dân cư,
Trang 15quy hoạch đô thị, quy hoạch phát triển nông thôn, quy hoạch phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp địa phương và đặc biệt quan trọng là nó có liên quan trực tiếp tới mạng điện sẵn có từ trước đó là các điểm đấu vào mạng điện khu vực, vị trí và công suất của các trạm biến áp trung gian, kết cấu cụ thể của các đường dây tải điện, các bộ phận trong lưới điện đó… cần đánh giá được khả năng mang tải của mạng điện bao gồm khả năng mang tải của các trạm biến áp và khả năng mang tải của đường dây cũ như thế nào để khi đưa một nhánh nào đó cung cấp cho phần phụ tải phát triển thêm vào lưới điện để vẫn đảm bảo được các tiêu chuẩn về kinh tế cũng như kỹ thuật
Các số liệu đầu vào của công tác quy hoạch và lựa chọn cấu trúc của mạng điện địa phương ảnh hưởng rất nhiều đến độ chính xác của bản quy hoạch và thiết kế nên cần coi trọng công tác thu thập và xử lý số liệu
Việc quy hoạch và lựa chọn được một cấu trúc mạng điện địa phương một cách hợp lý và hoàn chỉnh sẽ không ngừng giúp địa phương có được những định hướng phát triển kinh tế xã hội ở địa phương mà còn giúp cho trung ương có những số liệu chính xác để hiệu chỉnh quy hoạch tổng thể tốt hơn
Việc lập quy hoạch mạng điện địa phương ở nước ta hiện nay còn chưa được coi trọng đúng mức nên còn gặp phải một số khó khăn như: nhiều hệ số, chỉ tiêu, tiêu chuẩn chưa xác định rõ ràng, các số liệu thống kê còn thiếu và chưa chính xác, các quy hoạch khác của địa phương và mạng điện sẵn có ở địa phương còn chắp vá, chưa đồng bộ
1.2 MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐIỆN Ở MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG
Nhìn chung đối với khu vực địa phương điện năng được sử dụng vào các mục đích:
- Chiếu sáng gia đình, công cộng (thường dùng đèn huỳnh quang, sợi đốt, hoặc dùng đèn compact)
Trang 16- Phục vụ nhu cầu gia dụng (thường sử dụng điện để chạy quạt, tủ lạnh, điều hoà không khí, đun nấu, bàn là, các thiết bị nghe nhìn, giải trí…)
- Phục vụ nhu cầu sản xuất và xây dựng kinh tế hộ gia đình: sử dụng nguồn điện năng để chạy động cơ sản xuất chế biến gỗ, máy dệt kéo tơ, máy kem đá và máy bơm nhỏ gia đình để tưới vườn, bơm nước phục vụ sinh hoạt…
- Phục vụ cho phát triển nông nghiệp nông thôn: dùng chạy động cơ cho các trạm bơm tưới, tiêu tập trung, cho máy xay sát, chế biến thức ăn gia súc
- Phục vụ cho phát triển công nghiệp địa phương: cấp điện cho các cơ
sở rèn đúc cơ khí, nhà máy chế biến thức ăn, chế biến gỗ, các sản phẩm nông lâm, nghiệp… và các cơ sở kinh tế khác
1.3 CÁC ĐẶC ĐIỂM PHỤ TẢI ĐỊA PHƯƠNG
1.3.1 Đối với khu vực nông thôn
Phụ tải điện khu vực nông thôn mang những đặc thù riêng biệt do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cho nên việc nghiên cứu các đặc điểm của phụ tải khu vực này nhằm tính toán và dự báo chính xác giá trị của nó là vấn đề quan trọng và cần thiết
Phụ tải khu vực nông thôn là đại lượng có tính biến thiên ngẫu nhiên và
có đặc điểm quan trọng nữa là nó mang tính mùa vụ và thời tiết trong năm Phụ tải thường đạt giá trị cực đại vào thời gian chính vụ, mùa hạn hay úng lụt
Ở các thời điểm khác lưới điện thường làm việc non tải Sự chênh lệch giữa phụ tải cực đại và cực tiểu ở khu vực này là rất lớn Đặc điểm này có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với việc quy hoạch và thiết kế lưới điện cho khu vực nông thôn Ở khu vực nông thôn thông thường nhu cầu cho chiếu sáng và tiêu dùng dân cư chiếm tới 80÷85%, nhu cầu cho bơm tưới chiếm 5÷10%, nhu cầu cho sản xuất và dịch vụ thường chiếm khoảng 5÷10%
Trang 17Hầu hết các phụ tải phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và gia dụng ở địa phương là phụ tải một pha vận hành ở điện áp định mức 220 V Từ các thiết
bị chiếu sáng, nghe nhìn, đun nấu, máy lạnh đến các động cơ xay sát, chế biến thức ăn gia súc, máy bơm nước phục vụ gia đình, đều là các phụ tải một pha
có công suất tiêu thụ điện từ 10 W đến 1 kW và có thể cao hơn nữa Các phụ tải này đều có điện áp định mức là 220 V, hoạt động trong điều kiện dao động điện áp từ -10% đến +5%, có thể hoạt động được khi điện áp tụt xuống -15% trong điều kiện hiệu suất thấp, tổn thất năng lượng cao và tuổi thọ bị giảm nhiều
Phụ tải phục vụ cho nhu cầu gia dụng ở nông thôn sử dụng điện áp 3 pha chủ yếu là các loại động cơ có công suất từ 5÷10 kW đó là các động cơ các máy xay sát, cưa xẻ, chế biến thức ăn gia súc… Các động cơ này thường xuất hiện ở khu vực đồng bằng hoặc các vùng ven thị xã, những khu vực có đời sống kinh tế cao, năng lực sản xuất lớn, khả năng lưu thông hàng hoá thuận lợi Về thực chất các loại động cơ này trên thị trường có cả loại 3 pha
và một pha để phục vụ cho các đối tượng thích ứng với các nguồn điện hiện
có Khu vực miền Nam sử dụng hầu hết sử dụng loại một pha, khu vực miền Bắc sử dụng hỗn hợp cả 3 pha và một pha
Đối với các khu vực nông thôn miền núi thì hầu hết sử dụng thiết bị một pha, các hộ đăng ký sử dụng 3 pha chủ yếu là ở các thị xã, thị trấn và các trung tâm cụm xã, những khu vực rất thuận lợi cho giao thông và giao lưu hàng hoá với số lượng rất ít
Các phụ tải 3 pha ở nông thôn hiện nay chủ yếu là các trạm bơm tưới tiêu tập trung, công suất phổ biến các động cơ là 14÷250 kW và các động cơ
cỡ vừa và lớn phục vụ cho công nghiệp địa phương như các cơ sở chế biến thức ăn gia súc chế biến gỗ và các cơ sở tiểu thủ công nghiệp Các phụ tải bơm tưới tiêu thường đặt ở xa dân cư và thường xuất hiện nhiều ở khu vực
Trang 18đồng bằng Ở các khu vực miền núi và trung du số lượng các trạm bơm này rất ít vì chủ yếu tưới tiêu tự chảy Các phụ tải công nghiệp địa phương thường phát triển ở khu vực nông thôn đồng bằng khu vực trung tâm cụm xã và trung tâm các xã trung du, miền núi
Như vậy khu vực nông thôn trừ những trạm bơm tập trung, những cơ
sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp quy mô vừa và nhỏ thì hầu hết các phụ tải là phụ tải một pha hoặc có thể chuyển sang một pha được
1.3.2 Đối với khu vực đô thị
Về phương diện sử dụng điện năng đô thị là một phụ tải điện rất lớn, đa dạng và là nơi tập trung công nghiệp, dân cư… có liên quan chặt chẽ đến các lĩnh vực khác như giao thông, xây dựng, văn hoá xã hội, bảo vệ môi trường và
có mật độ phụ tải (kVA/km2) rất cao do đó lưới điện ngắn, tiết diện dây lớn, thời gian sử dụng công suất lớn nhất của phụ tải khá lớn và cũng nằm trong một dải rất rộng (3000-5000 giờ/năm) mật độ trạm nguồn và trạm phân phối dày đặc, lưới đô thị thường hay sử dụng là lưới cáp
Cấu trúc phụ tải điện đô thị chủ yếu bao gồm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông, sinh hoạt dân dụng và các công trình xã hội, nông nghiệp ngoại thành với tỷ lệ tuỳ theo mức độ phát triển đô thị
Một đặc trưng của đô thị là công nghiệp và dân số tăng nhanh dẫn đến mức thâm nhập rất nhanh của điện năng vào các mặt xã hội, cần phải tính đến điều đó khi quy hoạch, thiết kế và quản lý lưới điện đô thị
Trong phụ tải điện đô thị, ngoài các xí nghiệp công nghiệp, phải xét đến một bộ phận quan trọng là dân cư đô thị Ở bộ phận này gồm 2 loại phụ tải điện: nhà ở và những cơ sở văn hoá - xã hội Mỗi loại có quy luật riêng về nhu cầu điện vì vậy phải dùng các phương pháp khác nhau để xác định Nhu cầu điện nhà ở phụ thuộc sinh hoạt của dân cư, mức độ điện khí hoá thiết bị gia đình Nhu cầu điện ở khu vực cơ sở công cộng chịu ảnh hưởng bởi những
Trang 19đặc điểm công nghệ: loại cơ quan, bệnh viện, khách sạn… Tuy nhiên cả hai khu vực đều chịu chi phối bởi quy luật ngẫu nhiên, tổng hợp các nhiều yếu tố không xác định trước như: thời tiết, ngày nghỉ, ngày lễ…
1.4 CÁC ĐẶC ĐIỂM LƯỚI ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1 Hiện trạng lưới trung áp
Lưới trung áp Việt Nam hiện nay tồn tại 5 cấp điện áp Theo km đường dây lưới 35 kV chiếm 28,1%; lưới 22 kV chiếm 31,9%; lưới 15 kV chiếm 20,2%; lưới 10 kV chiếm 16%; lưới 6 kV chiếm 3,9%
Tại miền Bắc, lưới trung áp sử dụng chủ yếu ở các cấp 35, 22, 10, 6
kV Trong đó theo km đường dây, lưới 35 kV chiếm tỷ trọng 56,2%; lưới 22
kV chiếm 7,2%; lưới 10 kV chiếm 30%; lưới 6 kV chiếm 6,6% Trong thời gian qua, theo Quyết định số 149NL/KHKT chọn cấp điện áp chuẩn lưới trung áp cho toàn quốc là 22 kV và trong giai đoạn quá độ khu vực miền núi
có thể sử dụng cấp điện áp 35 kV, việc chuyển đổi cấp điện áp 6, 10 kV về cấp điện áp 22 kV rất chậm, trừ các khu vực thành phố, thị xã có dự án lớn về việc chuyển đổi cấp điện áp 22 kV, các khu vực khác lưới 22 kV hầu như không phát triển được
Chất lượng lưới trung áp khu vực miền Bắc bị xuống cấp; lưới 6, 10
kV, các trạm trung gian bị quá tải; mang tải cuộn dây 22 kV ở trạm nguồn non tải, dẫn tới lưới 35 kV phát triển rất nhanh (bình quân trên 15%/năm)
Tại miền Nam, lưới trung áp sử dụng chủ yếu ở các cấp 35, 22, 15, 6
kV Trong đó theo km đường dây, lưới 35 kV chiếm 2%; lưới 22 kV chiếm 53,7%; lưới 15 kV chiếm 44%; lưới 6 kV chiếm 0,3% Chất lượng lưới trung
áp khu vực miền Nam có chất lượng tốt hơn lưới miền Bắc, lưới điện được xây dựng theo quy chuẩn 22 kV, tiết diện dây lớn để dự phòng cho các năm tiếp theo Hiện nay, trừ khu vực TP Hồ Chí Minh, hầu hết các tỉnh phía Nam tới năm 2007 lưới trung áp về cơ bản chuyển thành lưới 22 kV
Trang 20Tại miền Trung, lưới trung áp tồn tại ở cả 5 cấp điện áp 35, 22, 15, 10,
6 kV Trong đó theo km đường dây, lưới 35 kV chiếm 15%, lưới 22 kV chiếm 46%, lưới 15 kV chiếm 18%, lưới 10 kV chiếm 16,1%, lưới 6 kV chiếm 4,9% Lưới trung áp khu vực miền Trung chủ yếu phát triển sau năm 1994, do vậy về cơ bản lưới điện được xây dựng theo tiêu chuẩn lưới 22 kV (nếu tính
cả lưới vận hành và xây dựng theo tiêu chuẩn 22 kV chiếm tỷ trọng từ 80% đến 90%), chất lượng lưới trung áp tốt
1.4.2 Điện áp và dòng điện
Như trên đã trình bày lưới điện phân phối các mạng điện hiện nay chủ yếu là lưới có điện áp định mức 6, 10, 15 (ở khu vực miền Trung và miền Nam), 22, 35 kV và có cả lưới 3 kV sử dụng trong các khu vực mỏ và các phụ tải chuyên dùng khác
Dao động điện áp trên lưới vào lúc cao điểm, thấp điểm ở một vị trí thường trong khoảng 1÷3% Chênh lệch điện áp đầu và cuối mỗi đường dây rất cao với đường dây dài, phụ tải lớn có thể lệch đến +15%
Đối với các phụ tải tập trung như các thành phố, thị xã khu công nghiệp, do có nhiều phụ tải 3 pha và các phụ tải một pha được phân bố cơ học tương đối đều Do vậy lưới điện trung áp làm việc trong những điều kiện mất đối xứng về dòng và áp đều nhỏ Chế độ điện áp trên lưới chủ yếu là sự chênh lệch điện áp đầu và cuối đường dây và sự dao động lúc cao điểm và thấp điểm
Đối với khu vực phân tán như ở khu vực nông thôn: các phụ tải 3 pha chiếm tỷ lệ rất ít mà hầu hết là các phụ tải 1 pha Do trình độ quản lý thấp nên việc phân bố tải một pha trên lưới 3 pha còn chưa hợp lý cả về thời gian và không gian Chính vì vậy mà lưới điện trung áp khu vực nông thôn thường chịu sự mất đối xứng về dòng cao hơn mặc dù sự mất đối xứng về áp là thấp Tuy các sự mất đối xứng về áp là thấp song vì các đường dây dài và các phụ
Trang 21tải lại tập trung sử dụng vào giờ cao điểm nên chênh lệch điện áp đầu cuối và dao động điện áp trên lưới thường khá lớn
Lưới điện phân phối hạ áp có điện áp định mức là 380/220 V và thường vận hành trong điều kiện dao động điện áp +5% và -10% Mặc dù vậy do hạn chế bởi khả năng về vốn và kỹ thuật nên lưới điện hạ áp nông thôn hiện nay rất kém
Điện áp pha đầu nguồn thường đặt (220+5%) V nhưng điện áp cuối nguồn vào lúc cao điểm thường là (220-10÷15%) V Rất nhiều nơi điện áp cuối nguồn chỉ đạt 100÷120 V Khi đó các thiết bị sử dụng điện không thể sử dụng được ngoài đèn chiếu sáng sợi đốt còn dùng được trong điều kiện tổn thất điện áp lớn và hiệu suất rất kém
Các phụ tải nông thôn hầu hết là phụ tải một pha, đặc biệt vào lúc cao điểm ở nông thôn thì dường như chỉ có phụ tải một pha được đấu nối vào lưới Do việc phân tải một pha không đều trên 3 pha, sự đóng cắt các phụ tải một pha không đồng đều giữa các hộ gia đình, giữa các khu vực Do vậy nhìn chung lưới điện nông thôn thường bị mất đối xứng rất lớn cả về dòng và áp
1.4.3 Kết cấu lưới điện
1.4.3.1 Lưới điện 35 kV
Trước đây lưới điện 35 kV còn gọi là lưới truyền tải với các đường dây rất dài đến hàng trăm km Kết nối với các đường dây này là các trạm biến áp trung gian, các trạm biến áp tương đối lớn cung cấp cho nông nghiệp và công nghiệp tại các địa phương Toàn bộ lưới điện vận hành chế độ ba pha ba dây trung tính cách điện theo quan điểm của châu Âu
Hiện nay lưới điện 35 kV trải rộng khắp cả nước với mật độ cao từ vùng thành thị đến vùng nông thôn, từ đồng bằng đến trung du miền núi Theo quy hoạch thì lưới điện 35 kV còn duy trì rất lâu trong hệ thống truyền tải và phân phối điện Việt Nam và đặc biệt được sử dụng ở những khu vực tải
Trang 22phân bố rộng và phân tán như vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa dân cư thưa thớt
Tại các khu vực đồng bằng Bắc Bộ do có phụ tải nông nghiệp và công nghiệp địa phương chiếm tỷ trọng rất lớn, cùng đó dân cư sinh hoạt đông đúc theo mô hình cộng đồng làng xã, giao thông thuận lợi, nhỏ bé Do vậy việc đưa các đường dây 35 kV vào sâu trong khu dân cư gặp khó khăn, cho nên các đường dây 35 kV vẫn chủ yếu làm việc như là đường dây truyền tải cung cấp cho các trạm biến áp trung gian, các trạm biến áp phục vụ công nghiệp, thuỷ lợi có quy mô lớn và các trạm biến áp cấp điện sinh hoạt và gia dụng nhưng số lượng trạm này còn rất ít
Hiện nay các đường dây 35 kV đã và đang được kết nối với dạng mạch vòng kín vận hành hở để nâng độ tin cậy cung cấp điện cho diện rộng và kết nối hỗ trợ giữa các trạm 110 kV với nhau
Với các khu vực miền núi trung du do phụ tải phân tán bán kính cung cấp điện xa, dân cư thưa thớt cho phép đưa đường dây 35 kV vào sâu trong khu vực dân cư Do vậy hầu hết các khu vực miền núi, trung du đều được cấp điện bằng đường dây 35 kV và làm việc như đường phân phối Các đường dây 35 kV hiện nay đều xây dựng ba pha ba dây vận hành ở chế độ trung tính cách điện Do đường dây dài phụ tải phân tán và nhỏ nên các đường dây 35
kV khu vực miền núi trung du thường có dạng hình tia một mạch nên độ an
toàn cung cấp điện thấp
1.4.3.2 Lưới điện 22 kV
Ở Việt Nam, lưới điện 22 kV mới đưa vào vận hành và sử dụng trong khoảng mười năm gần đây nhằm mục đích chuyển đổi lưới điện cấp (6, 10)kV
ở khu vực thành phố và thị xã khu vực đồng bằng về cùng cấp điệm áp 22 kV
Lưới điện 22 kV có trung tính nối đất trực tiếp, song do truyền thống xây dựng các trạm biến áp phụ tải đều là 3 pha, do vậy các đường dây đều
Trang 23được xây dựng theo kiểu 3 pha 3 dây và không có dây trung tính Lưới điện
22 kV thực chất mới có ít ở khu vực đô thị, thị xã ven các trạm 110/22 kV như ở các khu vực Hà Nội, Hạ Long, Thành phố Vinh, Hải Phòng, Nam định, Thái Nguyên và Mộc Châu
Nhìn chung khối lượng lưới 22 kV còn ít và sự phát triển của nó phụ thuộc vào khả năng vốn cải tạo (6, 10) kV ở các khu vực thành phố Do lưới
22 kV phần lớn là cấp điện cho các phụ tải quan trọng và lớn nên hầu hết các đường dây 22 kV đều được xây dựng theo dạng mạch vòng kín vận hành hở
1.4.3.3 Lưới điện (6, 10) kV
Hầu hết các phụ tải dùng như: sinh hoạt, phụ tải công nghiệp địa phương, dịch vụ tại các thành phố và các thị xã… đều được cung cấp điện thông qua cấp điện áp (6, 10) kV
Lưới điện này được sử dụng chính để cung cấp điện ở miền Bắc Việt Nam từ những năm 1950 đồng thời cùng với cấp điện áp 35 kV và cho đến nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi Toàn bộ lưới này đều thiết kế ba pha ba dây và làm việc ở chế độ trung tính cách điện Lưới điện này thường được xây dựng sau các trạm biến áp trung gian 35/6 kV; 35/10 kV và một số đươc xây dựng sau trạm biến áp 110/35/6 kV hay 110/35/10 kV nhằm đưa điện tới sâu
các tâm phụ tải Với điện áp này có thể cung cấp điện vào sâu cho các khu vực dân cư, len lỏi vào các khu vực chật hẹp, giảm bán kính cung cấp điện hạ
áp Những năm trước do phụ tải sử dụng điện phát triển thấp với bán kính cung cấp (5÷10) km thì lưới điện cấp điện áp này phát huy tốt các ưu điểm của mình Ngày nay do phụ tải sử dụng điện phát triển mạnh nên lưới điện này bộc lộ nhiều nhược điểm không thích ứng, đặc biệt các khu vực thành thị các khu vực phát triển…
Mặt khác, các đường dây lưới điện này đều được xây dựng theo dạng hình tia nên độ tin cậy cung cấp điện trong cung cấp điện không cao Xu
Trang 24hướng thay thế dần lưới điện này bằng lưới điện 22 kV trung tính trực tiếp nối đất đang được thực hiện
1.4.3.4 Lưới điện 380/220 V
Đây là lưới điện được xây dựng để cung cấp điện trực tiếp cho các hộ phụ tải Lưới điện được xây dựng 3 pha 4 dây và kết hợp 1 pha 2 dây điện áp 380/220 V vận hành ở chế độ trung tính trực tiếp nối đất Lưới điện hạ áp hầu hết được xây dựng theo dạng hình tia Mặc dù kết cấu lưới là 3 pha nhưng các phụ tải đấu nối vào hầu hết là một pha phục vụ cho các nhu cầu ánh sáng sinh hoạt và các thiết bị dùng trong các gia đình, trừ một số phụ tải công nghiệp và
phụ tải chuyên dùng khác
1.4.4 Nhận xét
Như vậy ta thấy sự tồn tại nhiều cấp điện áp trên lưới trung áp của lưới điện gây khó khăn cho công tác quản lý vận hành, sản xuất, chế tạo thiết bị cũng như trao đổi khoa học công nghệ
Đối với đa số các nước trên thế giới việc đồng nhất cấp điện áp lưới trung áp đã được triển khai Ví dụ ở Pháp trước năm 1948 có 25 cấp điện áp năm 1948 quyết định giữ lại 5 cấp 5,5; 10; 15; 20; 30 kV và đến tháng 3/1962 người Pháp đã tiêu chuẩn hoá sử dụng duy nhất 20 kV, trong giai đoạn quá độ cho phép khu vực miền núi tồn tại cấp điện áp 30 kV Tại Ấn Độ cũng đã thực hiện loại bỏ các cấp điện áp trung áp để chuyển thành lưới 22 kV và 33 kV (khu vực miền núi) Hàn Quốc cũng đã thực hiện việc loại bỏ cấp điện áp trung áp để chuyển thành lưới 22 kV và hiện nay họ đã đồng nhất được cấp điện áp lưới trung áp là 22 kV
Như vậy, có thể nhận định rằng việc đồng nhất cấp điện áp trung áp là
xu hướng tất yếu hiện nay trên thế giới, tuy nhiên tuỳ từng điều kiện, hoàn cảnh mỗi nước, mỗi khu vực mà có những phương án xây dựng và cải tạo khác nhau
Trang 25Kinh nghiệm phát triển lưới trung áp của Việt Nam và các nước trên thế giới cho thấy vệc dùng 2 cấp điện áp cho lưới phân phối là không hợp lý
vì vốn đầu tư cao, tổn thất điện năng lớn và gây khó khăn cho việc quản lý và vận hành, việc đồng nhất cấp điện áp trung áp đem lại nhiều lợi ích
Đối với những khu vực mật độ phụ tải cao, cần đẩy mạnh cải tạo lưới điện hiện tại thành lưới 22 kV Việc sớm đồng nhất thành lưới 22 kV không những đem lại lợi ích lớn nhất về kinh tế mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xây dựng, quản lý vận hành
Đối với những khu vực mật độ phụ tải trung bình Việc cải tạo và phát triển lưới 22 kV cần có lộ trình cải tạo cụ thể để giảm áp lực vốn đầu tư, trên
cơ sở vẫn đáp ứng đầy đủ các điều kiện kinh tế kỹ thuật của lưới điện, tận dụng tối đa năng lực thiết bị để tránh lãng phí vốn đầu tư Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá hiện trạng lưới điện, kết hợp với những phương hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương để vạch ra chiến lược cải tạo phát triển lưới điện hợp lý để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, khắc phục được những nhược điểm của lưới điện hiện tại theo định hướng đồng nhất cấp điện
áp trung áp
Khu vực mật độ phụ tải thấp, lưới trung áp chủ yếu là 35 kV và cần tồn tại đồng thời cả lưới 22 kV Tuy nhiên trên mỗi khu vực nhỏ chỉ nên phát triển một cấp điện áp Trong đó khu vực phụ tải tập trung như thị xã, khu công nghiệp, khu đô thị phát triển lưới 22 kV và cải tạo lưới hiện trạng thành lưới 22 kV; khu vực mật độ phụ tải thấp như làng xóm, thôn bản phát triển lưới 35 kV và cải tạo lưới hiện trạng thành lưới 35 kV sẽ mang lại hiệu quả kinh tế tài chính lớn nhất và phù hợp với điều kiện địa lý, mật độ phụ tải và nguồn cung cấp
Trang 261.5 KẾT LUẬN
- Ta thấy mạng điện địa phương là mạng điện trực tiếp phân phối điện năng cho các phụ tải cho nên công tác quy hoạch và thiết kế nhằm lựa chọn được một cấu trúc hợp lý của mạng điện địa phương có ý nghĩa hết sức to lớn
- Nếu lựa chọn được một cấu trúc hợp lý của lưới điện sẽ đem lại hiệu quả kinh tế to lớn cũng như thuận lợi trong công tác quản lý và vận hành
- Việc tính toán lựa chọn các thông số và cấu trúc hợp lý của mạng điện địa phương sẽ được trình bày trong các chương sau của luận văn
Trang 27CHƯƠNG II
MỘT SỐ DẠNG CẤU TRÚC, SƠ ĐỒ SỬ DỤNG TRONG
MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi quy hoạch và lựa chọn cấu trúc mạng điện địa phương cần nắm vững nguyên tắc cơ bản là đảm bảo xây dựng một hệ thống cung cấp điện an toàn và kinh tế Mục đích của việc quy hoạch mạng điện là tìm ra được một phương án phù hợp nhất với nguyên tắc nói trên
Trước hết cần phải vạch ra các phương án sơ đồ đấu dây khả thi của mạng điện, đồng thời phải tiến hành lựa chọn điện áp tải điện, đường dây dự phòng… Một phương án sơ đồ mạng điện có thích hợp hay không phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau quyết định: phụ tải lớn hay nhỏ, số lượng phụ tải nhiều hay ít, vị trí phân bố phụ tải, mức độ yêu cầu về đảm bảo liên tục cung cấp điện và khả năng cung cấp của các nhà máy điện, các nguồn điện, kết cấu của mạng điện sẵn có ở địa phương… Ngoài ra còn nhiều yếu tố phụ cũng ảnh hưởng đến kết cấu và tuyến đường dây của mạng như các điều kiện về địa chất, khí tượng, thuỷ văn, địa hình, tình hình tổ chức, quản lý thi công…
Như vậy khi vạch ra các phương án sơ đồ đấu dây cần phải cân nhắc,
đề cập đầy đủ đến các yếu tố Tuyệt đối không thể coi việc lập sơ đồ đấu dây như bài toán hình học nối máy móc giữa các điểm với nhau, hoặc tuy có đề cập đến một số yếu tố nhưng không toàn diện Cách giải quyết như vậy sẽ làm cho số phương án quá nhiều, trong đó nhiều phương án vô lý làm mất nhiều thời gian mà thường kết quả tìm được lại không phải là phương án tối ưu
Ngược lại, nếu chia ra từng khu vực nhỏ để phương án được đơn giản thì sẽ gạt bỏ được rất nhiều yếu tố liên quan và có thể làm sót nhiều phương
Trang 28án Thường phương án được chọn bằng cách này không chắc đã là phương án tối ưu Chỉ được phép phân ra từng khu vực để lập phương án so sánh nếu phụ tải hình thành những khu vực rõ rệt và độc lập với các yếu tố khác
Để lựa chọn phương án đấu dây cần vạch ra một số phương án khả thi
để dựa vào so sánh kinh tế kỹ thuật Khi vạch phương án, cần quan tâm đúng mức mạng điện sẵn có để nếu tận dụng được thì có thể sử dụng lại (ví dụ như tuyến đi dây, cột, xà, sứ…) Số lượng các phương án đưa ra so sánh phải hợp
lý Muốn như vậy cần dựa vào tình hình mạng điện sẵn có ở địa phương, trên
cơ sở phân tích về phụ tải, đồng thời phải xét đến các điều kiện khác của địa phương như giao thông, địa hình, điều kiện thi công, điều kiện vận chuyển thiết bị, vật tư…
Với sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành điện, khoảng cách và công suất truyền tải cũng như số lượng các hộ tiêu thụ tăng lên liên tục, hình thành nên
hệ thống năng lượng Điều đó đã dẫn đến tính phức tạp về mặt cấu trúc lưới điện
2.2 MỘT SỐ DẠNG SƠ ĐỒ NỐI DÂY CƠ BẢN
Sơ đồ đấu dây của mạng điện địa phương bất kỳ đều có thể phân thành
3 loại: loại hình tia, loại vòng kín và liên thông Mỗi một loại hộ tiêu thụ khác nhau và ở các cấp điện áp khác nhau và yêu cầu độ tin cậy cung cấp điện khác nhau mà có thể dùng các loại sơ đồ khác nhau Tất cả những sơ đồ đấu dây phức tạp đều có thể coi như một tổ hợp của những loại sơ đồ đấu dây nói trên
2.2.1 Sơ đồ nối dây dạng hình tia
Ưu khuyết điểm của sơ đồ hình tia:
- Ưu điểm
Xác suất cắt điện do sự cố tương đối ít vì mỗi phụ tải đều có đường dây riêng cung cấp đến, mỗi đường dây bị sự cố không thể ảnh hưởng sang đường dây thứ hai
Trang 29Khoảng cách dẫn điện tương đối gần Do đó nếu dây dẫn được chọn theo mật độ kinh tế của dòng điện thì chi phí về vốn đầu tư, mức tổn thất công suất và tổn thất điện áp đều tương đối nhỏ
Có thể sử dụng những thiết bị đơn giản rẻ tiền ở cuối đường dây (ví dụ chỉ cần dùng dao cách ly mà không cần tới máy cắt…) Thiết bị bảo vệ rơle cũng đơn giản Ví dụ, nếu đường dây ngắn, có thể chỉ dùng bảo vệ quá dòng điện là đủ
2.2.2 Sơ đồ nối dây loại nối liên thông
Hình 2.1 Sơ đồ nối dây hình tia
N là nguồn cấp; các điểm 1, 2, 3, 4 là vị trí của các phụ tải tương ứng
Trang 30Có thể dùng được những thiết bị đơn giản ở trạm trung gian 1 và trạm cuối 2
Việc tổ chức thi công sẽ thuận tiện hơn vì hoạt động trên cùng một tuyến
- Nhược điểm
Vì khoảng cách dẫn điện tới phụ tải phía cuối tương đối xa, nên tổn thất điện năng cũng như tổn thất điện áp lớn hơn
Xác suất sự cố mất điện tương đối lớn, vì sự cố ở đoạn đường dây này
có ảnh hưởng trực tiếp tới đoạn kia
Nếu vì một lí do nào đó, về phía cao áp phải dùng máy cắt thì số lượng máy cắt sẽ nhiều hơn, và bảo vệ rơle có phức tạp hơn
2.2.3 Sơ đồ nối dây loại mạch vòng kín
Mạng kín đơn giản nhất là mạng chỉ có một mạch vòng (hình 2.3a) hay
là mạng có hai nguồn cung cấp (hình 2.3b), điện áp của các nguồn đó nói chung có thể khác nhau về trị số và góc pha Có thể cho rằng, mạng chỉ có một mạch vòng là trường hợp đặc biệt của mạng có hai nguồn cung cấp khi điện áp của hai nguồn cung cấp bằng nhau về trị số và về góc pha Mạng kín phức tạp là mạng có hai hay nhiều mạch vòng (hình 2.3c)
Trang 31Hình 2.3 Các sơ đồ nối dây mạch vòng kín
- Ưu điểm
Vốn đầu tư ít
Mức độ an toàn liên tục cung cấp điện rất cao
- Nhược điểm
Các sơ đồ bảo vệ rơle tương đối phức tạp
Tổn thất điện áp lúc sự cố tương đối cao
Số lượng máy cắt cao áp nhiều hơn
2.2.4 Phạm vi sử dụng các loại sơ đồ nói trên
Trong các loại sơ đồ nói trên việc dùng sơ đồ có dự phòng hay không phụ thuộc vào tính chất của phụ tải Hai loại sơ đồ hình tia và liên thông không có dự phòng thích hợp với mọi cấp điện áp, còn sơ đồ loại mạch vòng kín thì nói chung chỉ thích hợp với cấp điện áp tương đối cao Sơ đồ hình tia một lộ dùng nhiều nhất cho các mạng thắp sáng hoặc động lực ở điện áp thấp Các trạm 6, 10, 22 kV cũng thường hay dùng loại sơ đồ hình tia để cung cấp điện Sơ đồ hình tia 2 lộ thường được dùng cho các mạng điện có công suất tải lớn với các cấp điện áp 110, 220 kV
Sơ đồ mạch vòng kín được dùng nhiều ở các mạng điện trung áp trong thành phố và các mạng điện phân xưởng với điện áp 6, 10, 22 kV Những mạng điện này khi vận hành thường theo chế độ mạng kín để hở Ở các mạng
c)
b)
Trang 32điện khu vực nếu phụ tải so với khả năng tải của cấp điện áp không lớn lắm, thì dùng sơ đồ mạch vòng kín rất tốt Sơ đồ kiểu liên thông thường được dùng
ở các đường dây cung cấp điện cho một số phụ tải gần nhau
2.3 SƠ ĐỒ LƯỚI PHÂN PHỐI TRUNG ÁP TRÊN KHÔNG
Lưới phân phối trên không sử dụng ở nông thôn là nơi có phụ tải phân tán với mật độ phụ tải không cao, việc đi dây không bị hạn chế vì điều kiện an toàn hay mỹ quan Ở lưới phân phối trên không có thể dễ dàng nối các dây dẫn với nhau, các đường dây khá dài và việc tìm kiếm điểm sự cố không khó khăn như lưới phân phối cáp Lưới phân phối khu vực nông thôn không đòi hỏi về độ tin cậy cao như lưới phân phối khu vực thành phố Vì thế lưới phân phối trên không có sơ đồ hình tia (hình cây), từ trạm nguồn có nhiều trục chính đi ra cấp điện cho từng nhóm trạm phân phối
Hình 2.4 Sơ đồ lưới phân phối trên không hình tia (cây)
Trang 33Các trục chính được phân đoạn để tăng độ tin cậy, thiết bị phân đoạn có thể là máy cắt, máy cắt có tự động đóng lại có thể tự động cắt ra và điều khiển
từ xa Giữa các trục chính của một trạm nguồn hoặc của các trạm nguồn khác nhau có thể được nối liên thông để dự phòng khi sự cố khi ngừng điện kế hoạch đường trục hoặc trạm biến áp nguồn Máy cắt hoặc dao cách ly liên lạc được mở trong khi làm việc vận hành hở
Dây dẫn đường trục phải được kiểm tra theo điều kiện sự cố để có thể tải điện dự phòng cho các trục khác bị sự cố
2.4 LƯỚI PHÂN PHỐI CÁP TRUNG ÁP
Trang 34Lưới phân phối cáp được dùng ở thành phố có mật độ phụ tải cao, do
đó lưới ngắn Điều kiện thành phố không cho phép đi dây trên không mà phải chôn xuống đất tạo thành lưới phân phối cáp Lưới phân phối khu vực thành phố đòi hỏi độ tin cậy cung cấp điện cao, hơn nữa việc tìm kiếm điểm sự cố khó khăn và sửa chữa sự cố lâu nên lưới phân phối cáp có các sơ đồ phức tạp
và đắt tiền Các chỗ nối được hạn chế đến mức tối đa vì xác suất hỏng các chỗ nối rất cao
Trên hình 2.5 là các dạng sơ đồ lưới phân phối cáp
Hình 2.5a là sơ đồ mạch vòng kín cung cấp điện cho các trạm phân phối một máy biến áp Ta thấy các trạm phân phối được đấu liên thông mỗi MBA đều có 2 dao cách ly ở hai phía, MBA có thể được cấp điện từ phía nào cũng được Bình thường nó được cấp điện từ một phía Ký hiệu▼chỉ dao cách ly được mở ra để vận hành hở Vận hành hở làm cho lưới điện rẻ hơn, và
độ tin cậy vẫn đảm bảo yêu cầu, vận hành kín lợi hơn về tổn thất điện năng nhưng đòi hỏi cao hơn hệ thống bảo vệ rơle và thiết bị đóng cắt nếu muốn đạt
độ tin cậy cao
Hình 2.5b là một dạng khác của mạch vòng kín, các trạm phân phối được cấp điện bằng hai đường dây song song Hai đường dây có thể nối giữa hai trạm nguồn khác nhau để tạo thành mạch liên nguồn
Khi trạm trung gian ở xa trung tâm phụ tải thì có thể sử dụng sơ đồ hình 2.5c trong đó trạm cắt được cấp điện bởi hai đường dây cung cấp, các đường dây phân phối xuất phát từ trạm cắt này Loại sơ đồ này sử dụng cho
cả lưới phân phối cáp và trên không Trong các loại sơ đồ trên tiết diện cáp phải được chọn có tính đến dự phòng cho toàn mạch vòng
Khi mật độ các trạm phân phối cao, để tiết kiệm vốn đầu tư mà vẫn đảm bảo độ tin cậy có thể sử dụng các loại sơ đồ trên hình 2.6 Ở các sơ đồ
Trang 35này dây dẫn của các đường dây phân phối được chọn đủ cho các trạm phân phối mà nó cấp điện, vì đã có một đường dây phân phối - đường nét chấm
2.5 SƠ ĐỒ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI ĐIỆN
Hệ thống phân phối điện bao gồm nhiều trạm trung gian được nối liên thông với nhau bởi mạng lưới đường dây phân phối tạo thành nhiều mạch vòng kín (hình 2.7)
Hình 2.7 Sơ đồ hệ thống phân phối điện
Điểm cắt lưới để vận hành hở được thay đổi thường xuyên trong quá trình vận hành khi đồ thị phụ tải thay đổi, sơ đồ vận hành tối ưu được máy tính điện tử tính toán ra từ các số liệu đo xa đặt trên các điểm kiểm tra của hệ thống phân phối điện Khi xảy ra sự cố, máy tính điện tử cũng tính ra ngay phương án vận hành thay thế tốt nhất Nhân viên vận hành thực hiện các sơ đồ tối ưu bằng các thiết bị điều khiển từ xa
Trang 36Tuy nhiên nếu không có điều khiển và đo lường từ xa thì vẫn có thể vận hành kinh tế nhưng theo mùa trong năm Người ta tính chọn sơ đồ vận hành tối ưu cho khoảng thời gian trong đó phụ tải gần giống nhau (thường là trong từng mùa do điều kiện khí hậu các ngày giống nhau) sau đó thao tác các thiết bị phân đoạn để thực hiện
2.6 SƠ ĐỒ LƯỚI PHÂN PHỐI HẠ ÁP
Hình 2.8 Sơ đồ lưới phân phối hạ áp
Trên hình 2.8a là sơ đồ lưới phân phối hạ áp được cấp điện từ MBA phân phối 3 pha Trung tính hạ áp được nối đất trực tiếp và dây trung tính đi theo lưới điện tạo thành lưới phân phối hạ áp 4 dây Trục chính có 4 dây còn các nhánh rẽ đi cấp điện cho các phụ tải 1 pha thì có thể 3 dây (2 pha + trung tính) hoặc hai dây (1 pha + trung tính) (hình 2.8b)
Trang 37Lưới phân phối hạ áp hình tia, phụ tải quan trọng được cấp điện bởi đường dây dự phòng lấy từ cùng một trạm phân phối hoặc từ 2 trạm phân phối khác nhau (hình 2.8a)
Trên những đường nông thôn, để tiết kiệm vốn đầu tư người ta thường làm đường dây hạ áp có 5 dây: 3 dây pha cấp điện sinh hoạt, dây trung tính và một dây pha riêng phục vụ chiếu sáng đường phố (hình 2.8c) Lưới phân phối
hạ áp thực hiện bằng đường dây trên không, hoặc dùng dây cáp vặn xoắn
Đối với những khu vực phụ tải nhỏ nhất là khu dân cư có thể dùng máy biến áp 1 pha điện áp dây và 1 pha điện áp pha hoặc sử dụng kết hợp cả 3 pha lẫn một pha để cung cấp điện cho các khu vực này
2.7 KẾT LUẬN
- Như vậy, ta thấy ở mỗi một khu vực và ở các cấp điện áp khác nhau
sẽ thích hợp với từng loại sơ đồ khác nhau
- Khi thiết kế hoặc lựa chọn các loại cấu trúc sơ đồ cho các mạng điện cho từng khu vực cụ thể, ta sẽ xem tính chất quan trọng của từng phụ tải và độ tin cậy cung cấp điện cần thiết cho khu vực hoặc phụ tải đó mà quyết định dùng các loại sơ đồ sao cho phù hợp nhất vừa đảm bảo được tính kinh tế cũng như kỹ thuật của mạng điện cần thiết kế
- Ta thấy khu vực nông thôn thích hợp với sơ đồ hình tia hoặc liên thông và thường sử dụng lưới phân phối trên không, còn khu vực đô thị thường hay sử dụng loại sơ đồ mạch vòng kín và sử dụng lưới phân phối cáp
vì do các yêu cầu về mỹ quan đô thị và độ tin cậy cung cấp điện
- Việc xác định một số tham số tối ưu để sử dụng cho các sơ đồ này sẽ
được trình bày trong chương 3
Trang 38CHƯƠNG III
TÍNH TOÁN XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THAM SỐ TỐI ƯU CỦA
MẠNG ĐIỆN ĐỊA PHƯƠNG
3.1 XÁC ĐỊNH ĐIỂM PHÂN CÔNG SUẤT TRONG MẠNG KÍN
Đối với các khu vực trong mạng điện địa phương dùng sơ đồ nối dây loại mạch vòng kín hầu hết người ta thường cho mạng điện vận hành hở vì vẫn đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện mà việc vận hành đơn giản hơn Cho nên, việc tìm sự phân bố công suất chính xác trong mạng kín là một vấn đề phức tạp vì nó phụ thuộc vào tiết diện, chiều dài của các đoạn mạng và độ lớn, vị trí của các phụ tải trong mạng điện Do đó khi giải quyết các vấn đề liên quan đến mạng kín, người ta phải dùng các phương pháp tính toán gần đúng liên tiếp Phương pháp này cho ta kết quả đủ chính xác với yêu cầu thực
tế
Trước tiên nhằm xác định sự phân bố công suất trong mạng với giả thiết điện áp lấy bằng định mức ở mọi điểm và bỏ qua tổn thất công suất trên các đoạn đường dây Bước tiếp theo là xác định chính xác hơn công suất và điện áp tại các điểm nút của mạng điện
Có mạng điện kín cung cấp cho 2 phụ tải S1 và S2 Ở đây S1 và S2 là phụ tải tính toán nghĩa là đã kể đến tổn thất công suất trong máy biến áp hạ
áp
Hình 3.1 Sơ đồ xác định công suất trên các nhánh
Giả thiết đã biết:
Trang 39Chiều dài và tiết diện dây dẫn các nhánh, nghĩa là đã biết tổng trở Z1,
Z12 và Z2
Điện áp ở hai nguồn UA và UB trường hợpchung xét UA ≠ UB
Cần xác định công suất đi trên các nhánh: SA1, S12 và SB2
Chiều công suất SA1 và SB2 rõ ràng như trên hình 3.1, còn chiều công suất trên đoạn 1-2 trước tiên ta giả thiết như trên hình 3.1
Có thể viết phương trình biểu diễn điện áp giáng từ nguồn A đến nguồn B:
B A
.
U
U − = 3(İA1.Z1 + İ12.Z12 - İB2.Z2) (3.1)
Có thể thay dòng điện nhánh İ12 và İB2 bằng các dòng điện phụ tải İ1 và
İ2
İ12 = İA1 - İ1
İB2 = İ1 + İ2 - İA1Thay vào (3.1) ta có:
B A
.
U
U − = 3(İA1.Z1 + İA1.Z12 - İ1.Z12 - İ1.Z1 - İ2.Z2 + İA1.Z2) (3.2) Đặt Z1 + Z12 + Z2 = ZΣ
Z12 + Z2 = Z1B; Z2 = Z2BKhi đó (3.2) trở thành: U -UB = 3
A
.
(İA1.ZΣ - İ1.Z1B - İ2.Z2B) (3.3)
Từ (3.3) rút ra:
Σ Σ
−+
+
=
Z.3
UUZ
Z.IZI
A B 2 2 B 1 1 1 A
.
Từ công thức (3.4) thấy rằng:
Dòng điện đi trên đoạn A-1 gồm hai thành phần:
+ Thành phần chủ yếu, phụ thuộc các phụ tải 1, 2 và tổng trở trong mạng
Trang 40+ Thành phần dòng điện cân bằng chỉ phụ thuộc vào độ lệch điện áp giữa A và B (UA - UB) và tổng trở của mạng mà không phụ thuộc trị số các phụ tải
Trong mạng điện phân phối thường coi điện áp hai nguồn bằng nhau
B 1 1 1 A
A 1 1 2 B
.
(3.6)
Trong đó: Z1A = Z1; Z2A = Z12 + Z1
Ngoài ra cần phải thử lại theo công thức: İA1 + İB2 = İ1+ İ2
Trong thực tế, phụ tải thường cho ở dạng công suất:
S1 = P1 - jQ1; S2 = P2 - jQ2; Công thức (3.5) có thể viết dưới dạng công suất Nhân 2 vế của (3.5) với 3.Udm
Z.SS
n 1 i
B 1 1 1