Hệ thống chưng cất nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời đã được ứng dụng rất lâu đời, nhưng hiện nay, hiểu quả của thiết bị này còn quá thấp nên được ứng dụng không rộng rãi.. Trong phạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~
NGUYỄN LÊ HỒNG SƠN
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CHƯNG CẤT NƯỚC NGỌT
DÙNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI VỚI CHI PHÍ THẤP
PHÙ HỢP ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU VIỆT NAM
Chuyên ngành : Công nghệ Nhiệt
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2009
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THẾ BẢO
Cán bộ chấm nhận xét 1:
Cán bộ chấm nhận xét 2:
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:
HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA - ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
Ngày …… tháng …… năm 2009
- -
Trang 3Họ và tên học viên: NGUYỄN LÊ HỒNG SƠN Phái: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 17-04-1982 Nơi sinh:Hà Tây
2 NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
• Nghiên cứu khảo sát tài liệu về công nghệ cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời
• Trình bày phương pháp tính cường độ bức xạ, nghiên cứu lý thuyết đưa ra mô hình tính toán nhiệt cho hệ thống chưng cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời
• Chế tạo mô hình cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời dạng hai mái nghiêng có đối lưu tự nhiên và đối lưu cưỡng bức
• Tiến hành thực nghiệm đo đạc thông số trên mô hình
• Đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế, rút ra những nhận xét, kết luận
3 NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 18-02-2009
4 NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 04-12-2009
5 HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THẾ BẢO
Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội đồng chuyên ngành thông qua
Trang 5Để hoàn thành luận văn, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
1 TS NGUYỄN THẾ BẢO là thầy giáo trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn, cảm ơn thầy đã tận tình giúp đỡ, đưa ra những ý kiến nhận xét và những lời góp ý chân thành
2 Các thầy trong bộ môn Công nghệ Nhiệt lạnh, trường Đại học Bách khoa Tp HCM đã tận tình giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc về chuyên môn
3 Các anh chị em đồng nghiệp, đồng môn đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
TP HCM, tháng 11 năm 2009
Trang 6Hệ thống chưng cất nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời đã được ứng dụng rất lâu đời, nhưng hiện nay, hiểu quả của thiết bị này còn quá thấp nên được ứng dụng không rộng rãi
Trong phạm vi luận văn “Nghiên cứu hệ thống chưng cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời dạng hai mái nghiêng, phù hợp với điều kiện Việt Nam”, tác giả sẽ tập trung đưa ra thể thức nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
từ đó cải tiến hệ thống cổ điển (đối lưu tự nhiên) bằng cách lắp đặt thêm một hệ thống ngưng tụ riêng biệt nhằm tăng khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời và tăng diện tích ngưng của hơi nước, từ đó làm tăng sản phẩm thu được Ngoài ra, luận văn đưa ra những điều kiện tối ưu để có thể thu được sản phẩm một cách tối đa:
Xác định chiều cao tối ưu của lớp nước
Độ nghiêng tấm phủ phù hợp
Tốc độ gió sao cho không bị tổn thất nhiệt ra môi trường xung quanh Nghiên cứu lý thuyết đưa ra mô hình tính toán nhiệt cho hệ thống chưng cất nước ngọt
Dựa trên nguyên lý hoạt động, đặc tính kỹ thuật của hệ thống, tác giả đã xây dựng phần mềm hỗ trợ tính toán để có thể xác định được các thông số tối
Trang 7Nhiệm vụ luận văn
Lời cảm ơn
Tóm tắt luận văn
Mục lục
Trang 8I Đặt vấn đề 1
II Mục đích nghiên cứu 2
III Đối tượng nghiên cứu 2
IV Giới hạn nghiên cứu 2
Chương II: TỔNG QUAN I Tình hình năng lượng: 3
II Nhu cầu nguồn nước ngọt: 4
III Thiết bị chưng cất nước ngọt đã được sử dụng: 5
III.1 Dạng sơ khai: 5
III.2 Dạng Single slope still: 6
III.3 Dạng Double slope still: 7
III.4 Dạng Double basin still: 8
III.5 Dạng cầu: 9
III.6 Dạng Multi-stage flash distillation (MSF): 10
III.7 Dạng Multi-Effect distillation (MED 11
III.8 Dạng Vapour compression distillation: 11
III.9 Dạng Reverse Osmosis membrane distillation: 12
III.10 Một số dạng đã và đang được nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam: 13 IV Tổng quan về năng lượng mặt trời 15
IV.I Bức xạ tổng xạ: 16
IV.2 Năng lượng mặt trời ở Việt Nam: 18
Chương III: CƠ SỞ LÝ THUYẾT I Nguyên lý chưng cất nước ngọt: 19
II Cơ sở lý thuyết: 19
II.1 Tính cường độ bức xạ đến mặt phẳng nghiêng: 19
Trang 9II.3 Phương trình truyền nhiệt và truyền chất tại thiết bị chưng cất truyền
thống hai mái nghiêng: 23
II.3.1 Hệ thống đối lưu tự nhiên: 23
II.3.2 Hệ thống đối lưu cưỡng bức: 32
III Phần mềm hỗ trợ tinh toán: 40
III.1 Sơ đồ thuật toán 40
III.2 Giao diện phần mềm: 40
Chương IV: THÍ NGHIỆM I Mục đích, ý nghĩa 42
II Mô tả hệ thống 42
III Thuyết minh các dụng cụ đo 42
IV Tiến hành thí nghiệm, xử lý kết quả thí nghiệm, nhận xét, bàn luận 43
Chương V: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ I Thực trạng tại vùng khảo sát: 75
II Tính hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn 75
Chương VI: KẾT LUẬN I Kết luận 79
II Đề nghị 80
Trang 10Chương 1: MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề:
Hiện nay nhà nước ta đang khuyến khích sử dụng các thiết bị dùng năng lượng mặt trời Hơn thế nữa, người dân sẽ ngày càng thấy tầm quan trọng cũng như sự tiết kiệm khi sử dụng thiết bị chưng cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời và họ sẽ sử dụng ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên điều quan trọng của vấn đề này là tính hiệu quả về kinh tế kỹ thuật của thiết bị chưng cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời Bởi vì hiện nay, một số loại
cổ điển hoặc cao cấp nhưng không phù hợp với lý do hiệu suất kém hoặc giá
cả chưa hợp lý
Chính vì thế nên tác giả chọn đề tài này với mục đích là để đưa ra một
mô hình hoàn thiện về thiết bị chưng cất nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời thân thiện với môi trường và đáp ứng được hai yếu tố trên, đó là, hiệu suất cao, giá cả hợp lý
Hiện nay, tại một số vùng xa xôi hẻo lánh, vùng sâu vùng xa, các hải
đảo xa xôi ,đa số, đang sử dụng thiết bị chưng cất dạng hai mái nghiêng với chi phí không cao so với các loại khác nhưng hiệu suất khá thấp, nên đề tài
này, tác giả sẽ cố gắng đưa ra một mô hình với chi phí thấp để có thể cải thiện
hệ thống này Mô hình mà tác giả đưa ra có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, làm tăng khả năng trao đổi nhiệt và diện tích ngưng tụ, dẫn đến lượng nước sạch thu được sẽ cao hơn
Trang 11II Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra một mô hình hoàn thiện về thiết bị chưng cất nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời thân thiện với môi trường và đáp ứng được hai yếu tố trên, đó là, hiệu suất cao, giá cả hợp lý
III Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là thống chưng cất nước ngọt
dùng năng lượng mặt trời dạng hai mái nghiêng
IV Giới hạn nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài “Nghiên cứu hệ thống chưng cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời dạng hai mái nghiêng, phù hợp với điều kiện Việt Nam”, tác giả sẽ tập trung đưa ra thể thức nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
- Nghiên cứu lý thuyết đưa ra mô hình tính toán nhiệt cho hệ thống chưng cất nước ngọt
- Xây dựng phần mềm tính toán
- Thực nghiệm, sử dụng số liệu đo đạc thực tế, số liệu khí tượng tại các thời điểm khác nhau để so sánh và đánh giá chương trình So sánh hiệu quả của hệ thống đã cải tiến so với ban đầu
Trang 12Chương 2: TỔNG QUAN
I Tình hình năng lượng:
Hiện nay hàng năm thế giới khai thác và sử dụng khoảng 10 tỷ tấn nhiên liệu khoáng Như vậy sẽ thải ra môi trường khoảng hơn 200 triệu tấn axit sulfuric, chưa kể thêm các chất độc hại khác [14] Rất ít ai còn chưa cảm thấy tác động của con người lên môi trường Các hiệu ứng toàn cầu về tăng nhiệt độ, tăng mực nước biển, tăng mức tàn phá của thời tiết (lụt, bão, hạn và
sa mạc hóa…) là những chứng cớ không còn nghi ngờ rằng loài người đã đạt đến khả năng giải phóng những năng lượng làm thay đổi nghiêm trọng cân bằng của tự nhiên
Các nước công nghiệp đang nhận thức rõ hiểm họa cạn kiệt năng lượng (đặc biệt giá dầu mỏ hiện nay chưa có dấu hiệu bình ổn) và có những chính sách mạnh và cụ thể để phát triển năng lượng tái tạo cũng như tăng hiệu quả năng lượng Chính phủ các nước này khuyến khích sử dụng năng lượng mặt trời qua miễn thuế, cho vay dài hạn lãi suất thấp, tài trợ nghiên cứu phát triển…Họ đặt ra những mục tiêu rõ ràng về tỷ trọng mà năng lượng mặt trời cần đạt trong từng thời đoạn Ví dụ công đồng châu Âu đạt 12% năng lượng tái tạo vào năm 2010 Các nước có quy mô sử dụng năng lượng mặt trời rộng lớn là Nhật Bản, Mỹ, Israel, Úc, Hy Lạp, Áo, Đức,… [16]
Trong khi các dạng năng lượng truyền thống đang ngày một cạn kiệt, thì ánh sáng mặt trời được coi là một trong những kho năng lượng quý giá có thể thay thế được So với các dạng năng lượng khác, năng lượng mặt trời có
ưu thế hơn là vừa sạch, vừa rẻ, lại gần như vô tận Bởi thế, nó đã sớm được con người nghĩ đến và tìm cách khai thác Ở nước ta, từ hơn hai mươi năm trở lại đây đã sử dụng nhiều loại thiết bị thu ánh sáng mặt trời để phục vụ cho quá trình sản xuất như: thiết bị sấy, thiết bị đun nước nóng, thiết bị chưng cất nước và dàn pin mặt trời Các thiết bị này nhìn chung phù hợp với điều kiện khí hậu và đặc điểm địa lí nước ta
Trang 13Sử dụng năng lượng mặt trời mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, góp phần bảo tồn nguồn năng lượng truyền thống, bảo vệ môi trường và thực hiện điện khí hóa nông thôn, vùng sâu, vùng xa là việc làm cần thiết Vì thế Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ tích cực cho các cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ cũng như người sử dụng các công nghệ năng lượng mặt trời
II Nhu cầu nguồn nước ngọt:
Hình 2.1: Sự phân bố nước trên trái đất
Nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú quanh ta, từ những dòng chảy, sông hồ, nước ngầm đến đại dương mênh mông là nơi muôn loài thuỷ sinh sinh sống, nước được sử dụng trong mọi mặt của đời sống con người và mọi loài động thực vật trên trái đất Tuy nhiên, nguồn nước sạch quí giá đang bị khai thác dần cạn kiệt, thiếu nước sạch không những ảnh hưởng đến đời sống con người mà còn ảnh hưởng đến các loại sinh vật trên trái đất cũng như mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt
Nước ngọt là một nhu cầu rất cơ bản cho sự sống của con người Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, hơn 1 tỷ người trên thế giới không có nước sạch, khoảng 2,5 tỷ không có nhà vệ sinh và mỗi năm hơn 2 triệu người chết
vì thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh Năm 2007, hội nghị về nước sạch và bảo vệ môi trường đã diễn ra và nêu lên vấn đề bức xúc về sự thiếu hụt nước ngọt trầm trọng diễn ra nhiều nơi trên thế giới Do vậy, cùng với vấn đề thiếu
Trang 14hụt năng lượng thì vấn đề nước sạch cũng là một trong những vấn đề được cả thế giới quan tâm
Còn ở Việt Nam chúng ta hiện nay thì sao? Các tỉnh miền núi như Sơn
La, Lào Cai…các hải đảo xa sôi, ngay cả các vùng có lượng nước lớn như Long An, Bạc Liêu, Đồng Tháp thì hiện nay đang thiếu nước sạch để uống, sinh hoạt trầm trọng Còn ở các thành phố lớn thì ô nhiễm nguồn nước sạch đang là một vấn đề đau đầu đối với người dân và các ngành có liên quan
Lượng nước tự nhiên có khoảng 96,5% là nước mặn phân bố ở biển và đại dương, phần còn lại được phân bố ở đất liền Điều này cho thấy rằng lượng nước ngọt cung cấp cho sinh hoạt của chúng ta hết sức hạn hẹp Vậy tại sao ta không tận dụng các nguồn nước mặn, ô nhiễm để sử dụng vào sinh hoạt
và sử dụng như thế nào? Đó chính là lý do ra đời của đề tài, ta sẽ sử dụng máy chưng cất dùng năng lượng mặt trời mục đích là tiết kiệm năng lượng (gas, điện…), tạo ra nguồn nước tinh khiết
III Thiết bị chưng cất nước ngọt đã được sử dụng:
III.1 Dạng sơ khai:
Từ ngày xưa con người đã biết cách tìm nguồn nước ngọt khi lạc trong rừng rậm, hoang mạc hay lênh đênh trên biển cả, các thiết bị chưng cất để lấy nước ngọt sơ khai đã được hình thành Nhưng nhược điểm của các phương pháp này là lượng nước thu được rất thấp
Trang 15c) d)
Hình 2.2: Các thiết bị chưng cất đơn giản a) Chưng cất nước từ sự hô hấp của cây b) Dùng nhiệt để chưng cất nước c) Dùng năng lượng mặt trời chưng cất nước từ đất ẩm
d) Dùng năng lượng mặt trời chưng cất nước
III.2 Dạng một mái nghiêng (Single slope still):
Loại Single slope still là thiết bị chưng cất có một tấm kính đặt nghiêng phía trên bể chứa nước cần được chưng cất để hấp thụ các tia bức xạ mặt trời Tấm kiếng được đặt một góc nghiêng phù hợp để nước ngưng tự chảy xuống Dạng Single slope still có thể dùng một miếng bấc hoặc chia ra làm nhiều khay chứa làm tăng khả năng bay hơi của nước Lượng nước sạch thu được của Single slope still khoảng 1,5 – 2 lít/m2/ngày
Ưu điểm lớn nhất của loại này là tính kinh kế, dễ chế tạo, dễ lắp đặt Nhược điểm: hiệu suất thấp
Trang 16a) b)
Hình2.3 : Thiết bị chưng cất nước dùng năng lượng mặt trời dạng
sin-gle slope still a)Dạng đơn giản b) Dạng có nước chảy phía trên
c)Dạng bấc d)Dạng nhiều khay
III.3 Dạng hai mái nghiêng (Double slope still):
Loại Double slope still là thiết bị chưng cất có hai tấm kính đặt nghiêng phía trên bể chứa nước cần được chưng cất để hấp thụ các tia bức xạ mặt trời, làm tăng diện tích hấp thu bức xạ và ngưng tụ Tấm kiếng được đặt một góc nghiêng phù hợp để nước ngưng tự chảy xuống Dạng Double slope still có thể dùng một miếng bấc tăng khả bay hơi của nước Hiệu suất thấp, lượng nước sạch thu được 2 – 2,5 lít/m2/ngày
Ưu điểm của loại này là tính kinh kế, dễ chế tạo, lắp đặt Nhược điểm: hiệu suất thấp nhưng cao hơn loại dạng single slope still
Trang 17a)
b)
Hình 2.4 : Thiết bị chưng cất nước dùng năng lượng mặt trời dạng double
slope still a) Dạng đơn giản b) Dạng bấc
III.4 Dạng hai bể chứa (Double basin still):
Dạng Double basin still là dạng có 2 phần chứa nước và có hai lớp kính, mục đích làm tăng diện tích ngưng tụ, từ đó làm tăng lượng nước bay hơi Lượng nước sạch thu được khoảng 3 – 4 lít/m2/ngày
Ưu điểm: tính kinh kế, dễ dàng chế tạo, lắp đặt tại Nhược điểm: cách chế tạo có phần phức tạp hơn hai loại trên và phải bố trí một số van để điều khiển lưu lượng nước
a)
Trang 18b)
Hình 2.5 : Thiết bị chưng cất nước dùng năng lượng mặt trời dạng double
ba-sin still a) Dạng đơn giản b) Dạng bấc
III.5 Dạng cầu:
Thiết bị gồm hai nửa bán cầu thuỷ tinh có đường kính bằng nhau Phía trên đỉnh có lắp một motor điều khiển cần gạt, gạt nước ngưng tụ xuống phía
dưới Nhược điểm: cách chế tạo phức tạp nên loại này ít được sử dụng
Hình 2.6: Thiết bị chưng cất nước dạng cầu Các dạng trên được coi là dạng chưng cất nước bị động Passive solar still, nếu được lắp thêm bơm hoặc quạt để tăng khả năng trao đổi nhiệt thì được xem là dạng chưng cất nước chủ động Active solar still Ưu điểm: làm
tăng khả năng trao đổi nhiệt từ đó làm tăng lượng nước sạch thu được Nhược điểm: chi phí chế tạo tăng lên đáng kể
Trang 19Hình 2.7: Thiết bị chưng cất nước dạng Active solar still
III.6 Dạng nhiều cấp (Multi-stage flash distillation) (MSF):
Dạng Multi-stage flash distillation được cấu tạo như hình 8 gồm nhiều
buồng bay hơi, nước cấp vào được gia nhiệt bằng chính lượng hơi bay lên và Solar collector Lượng nước sạch thu được khoảng 8 -10 lít/m2/ngày
Ưu điểm: Hiệu suất tăng do nước cấp được gia nhiệt Nhược điểm: cấu tạo phức tạp dẫn đến chi phí tăng cao
Hình 2.8: Thiết bị chưng cất nước dạng Multi-stage flash
Trang 20III.7 Dạng bay hơi, ngưng tụ áp suất thấp (Multi-Effect distillation) (MED) (humidification /dehumidification) :
Dạng Multi-Effect distillation có cấu tạo gồm: nhiều thiết bị bay hơi, ngưng tụ nối tiếp nhau, Solar colector và các bơm chân không làm giảm áp suất trong các buồng chưng cất Nước lạnh cấp vào chính là thiết bị ngưng tụ làm ngưng hơi (dehumidifier), nước được làm nóng bởi Solar colector sẽ làm bay hơi nước (humidifier) Ưu điểm: được trang bị thêm bơm chân không nên lượng hơi nước bay hơi rất lớn, hiệu suất tăng cao, lượng nước sạch thu được
từ 10 – 20 lít/m2/ngày Nhược điểm: do trang bị thêm bơm chân không nên chi phí tăng cao, thiết bị ngưng tụ phải được làm kín hoàn toàn nên khó khăn trong việc chế tạo
Hình2 9: Thiết bị chưng cất nước dạng Multi-Effect distillation
III.8 Dạng nén hơi (Vapour compression distillation):
Cấu tạo chính của Vapour compression distillation gồm bộ Solar lector, nhiệt trở bổ sung và máy nén ly tâm Nước được gia nhiệt bởi bộ col-
Trang 21col-lector và điện trở làm bay hơi nước Lượng hơi nước này được máy nén ly tâm hút qua bộ trao đổi nhiệt mà ngưng lại thành nước tinh khiết
Ưu điểm : do được bổ sung nhiệt bằng điện trở nên lưu lượng nước sạch thu được rất cao, phụ thuộc vào thanh điện trở Nhược điểm: giá thành thiết bị cao, tuổi thọ thấp do dễ bị ăn mòn
III.9 Dạng màng thẩm thấu ngược (Reverse Osmosis membrane distillation):
Đây là công nghệ thẩm thấu ngược, cấu tạo chính là một màng lọc có các lỗ nhỏ li ti khoảng 0,2μm Khi nước biển cấp vào được Solar collector làm nóng lên sẽ qua thiết bị màng thẩm thấu ngược, nước và hơi nước sẽ qua màng và ngưng tụ lại
Hình 2.10: Thiết bị chưng
cất nước dạng Vapour
compression distillation
Trang 22Hình 2.11: Thiết bị chưng cất nước dạng Reverse Osmosis
Ngoài ra, loại thẩm thấu ngược xảy ra khi có độ chênh áp giữa hai phía của màng thẩm thấu, dung dịch từ nơi có áp suất cao sẽ đẩy nước xuyên qua màng lọc
Hình 2.12: Thiết bị chưng cất nước dạng Reverse Osmosis dùng cơ
Ưu điểm: sử dụng công nghệ cao nên lượng nước sạch thu được cũng lớn 15 – 20 lít/m2/ngày Nhược điểm: giá thành còn cao
III.10 Một số dạng đã và đang được nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam:
Các thiết bị chưng cất nước ngọt hiện đang được nghiên cứu rất nhiều tại Việt Nam Công ty cổ phần Khoa học công nghệ P.E (Petech) hiện đang phát triển thiết bị chưng cất kết hợp bếp nấu Thiết bị gồm một collector tập trung có đường kính khoảng 1,5m đặt trên giá đỡ Nguồn năng lượng tập
Trang 23trung sẽ nâng nhiệt độ của bình chưng cất lên khoảng 800C làm bay hơi nước Sau đó, hơi nước sẽ qua bộ phận ngưng hơi hình xoắn ốc để cho ra nước tinh khiết
Hình 2.13: Thiết bị chưng cất của công ty Petech
Ts Hoàng Dương Hùng kết hợp với Tổ chức Phục vụ Năng lượng mặt trời tại Đà Nẵng đang triển khai đại trà thiết bị chưng cất dùng gương phản
xạ Lưu lượng nước tinh khiết của các thiết bị này thu được không cao, chỉ vào khoảng 2,5 – 3 lít/ngày
Hình 2.14: Thiết bị chưng cất dùng gương phản xạ
Ngoài các thiết bị trên, hiện nay thiết bị chưng cất PGS TS Trần Tuấn (Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG Tp HCM)đang thử nghiệm vật liệu màng ZnO; PGS TS Nguyễn Tiến Tài kết hợp Viện Hoá học tại Hà Nội nghiên cứu vật liệu chuyển pha để ứng dụng vào thiết bị chưng cất PGS Ts Nguyễn Tiến Tài cho biết, vật liệu chuyển pha trữ nhiệt có nguồn gốc Para-
Trang 24phin, ví dụ như sáp ong Ban ngày khi trời quá nóng, nhiệt độ cao hơn bình thường, sáp ong sẽ hấp thụ nhiệt và chuyển từ thể rắn sang thể mềm, giữ cho nhiệt độ tổ ong không tăng Ban đêm, khi trời lạnh, sáp ong sẽ giải phóng nhiệt lượng đã trữ ban ngày và chuyển ngược lại từ thể mềm về thể rắn Nhờ vậy, tổ ong luôn có nhiệt độ ổn định Việc thu nhiệt lượng thừa (tích nhiệt) để sau đó tái sử dụng (phóng nhiệt) do vật liệu chuyển pha trữ nhiệt đảm nhiệm, tương tự như hiện tượng nạp – phóng nhiệt của sáp ong Nhờ vậy, khác với các công nghệ sử dụng năng lượng mặt trời khác hiện có chỉ hoạt động khi có mặt trời, công nghệ mới này cho phép thiết bị tiếp tục hoạt động ngay cả khi trời đã tắt nắng
IV Tổng quan về năng lượng mặt trời:
Năng lượng bức xạ mặt trời thực chất là nguồn năng lượng nhiệt hạch
vô tận của thiên nhiên Hàng năm mặt trời cung cấp cho trái đất một lượng năng lượng khổng lồ, gấp 10 lần trữ lượng năng lượng có được từ các nguồn nhiên liệu trên trái đất Trong những năm gần đây đã có nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu sử dụng nguồn năng lượng siêu sạch, vô tận này dưới nhiều hình thức khác nhau và đã đạt được nhiều kết quả
Một cách gần đúng, có thể xem mặt trời như là một quả cầu có đường kính ds =1,392.10 6 km, nằm ở một tiêu điểm của quỹ đạo elip của trái đất Mật
độ bức xạ mặt trời chiếu xuống bề mặt của trái đất tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng Khoảng cách này thay đổi theo ngày trong năm Khoảng cách trung bình r0 =149,6.10 6 km được gọi là một đơn vị thiên
văn (AE) Vào ngày 3 tháng 1, khoảng cách giữa mặt trời và trái đất là nhỏ nhất và bằng 0,983 AE Khoảng cách lớn nhất vào ngày 4 tháng 7 bằng 1,017
AE
Do khoảng cách giữa mặt trời và trái đất rất lớn, nên bức xạ mặt trời tạo ra những chùm tia sáng gần như song song Khi đi qua lớp khí quyển của trái đất chùm tia bức xạ bị hấp thụ và tán xạ bởi tầng ôzôn, hơi nước, khí cac-
Trang 25bonic và bụi trong khí quyển, chỉ một phần năng lượng được truyền trực tiếp
đến bề mặt trái đất Bức xạ mặt trời ngoài lớp khí quyển gọi là bức xạ mặt trời
ngoài trái đất (hay bức xạ mặt trời vũ trụ)
Mật độ bức xạ mặt trời vũ trụ trên bề mặt vuông góc với chùm tia bức
xạ, cách tâm mặt trời một khoảng bằng r0=1AE được gọi là hằng số mặt trời
E =5777 ,K
IV.I Bức xạ tổng xạ:
Tổng bức xạ mặt trời lên một bề mặt đặt trên mặt đất bao gồm hai phần
chính đó là trực xạ và tán xạ Phần trực xạ đã đựơc khảo sát ở trên, còn thành
phần tán xạ thì khá phức tạp Hướng của bức xạ khuếch tán truyền tới bề mặt
là hàm số của độ mây và độ trong suốt của khí quyển, các đại lượng này lại
thay đổi khá nhiều Có thể xem bức xạ tán xạ là tổng hợp của 3 thành phần
(hình 2.6)
- Thành phần tán xạ đẳng hướng: phần tán xạ nhận được đồng đều từ
toàn bộ vòm trời
- Thành phần tán xạ quanh tia: phần tán xạ bị phát tán của bức xạ mặt
trời xung quanh tia mặt trời
- Thành phần tán xạ chân trời: phần tán xạ tập trung gần đường chân
trời
Trang 26Hình 2.15: Sơ đồ phân bố các thành phần bức xạ khuếch tán
Góc khuếch tán ở mức độ nhất định phụ thuộc độ phản xạ Dg (còn gọi
là albedo -suất phân chiếu) của mặt đất Những bề mặt có độ phản xạ cao (ví
dụ bề mặt tuyết xốp có Dg = 0,7) sẽ phản xạ mạnh bức xạ mặt trời trở lại bầu trời và lần lượt bị phát tán trở thành thành phần tán xạ chân trời
Hình 2.16: Các thành phần bức xạ trên bề mặt nghiêng
Trang 27IV.2 Năng lượng mặt trời ở Việt Nam:
Việt Nam là nước có tiềm năng về năng lượng mặt trời, trải dài từ vĩ độ
8030’ Bắc đến 23024’ Bắc, nằm trong khu vực có cường độ bức xạ mặt trời tương đối cao, với trị số tổng xạ khá lớn từ 4,2 – 7,3 GJ/m2/ năm, số giờ nắng trong một năm nhiều, đặc biệt là ở các tỉnh phía nam [8]
Như vậy Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2095,2 km2 trung bình một ngày bức xạ mặt trời chiếu xuống là 36,7 tỷ MJ nếu hiệu suất sử dụng được là 30% thì trung bình mỗi ngày thu được 11 tỷ MJ, tương đương với đốt 286,5 tấn dầu FO Vì vậy chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào việc đầu tư để khai thác nguồn năng lượng sạch và vô tận này
Bảng 1: Số giờ nắng trung bình hàng ngày tại Tp.HCM ( theo trung tâm
chuyển giao công nghệ trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp HCM)
Trang 28I Nguyên lý chưng cất nước ngọt:
Nguyên lý cơ bản của chưng cất nước tương tự như quá trình nấu rượu bằng phương pháp cổ điển Ta sẽ có một nguồn nóng có nhiệt độ cao làm nước bay hơi lên, khi gặp nguồn lạnh thì lượng hơi này sẽ bị ngưng tụ lại Lượng nước này gọi là nước cất hay nước ngọt Nguồn nước dùng để chưng cất là nước phèn, nước mặn
II Cơ sở lý thuyết:
Thiết bị này tính toán ứng dụng tại Tp Hồ Chí Minh hoặc các vùng hải đảo khan hiếm nguồn nước ngọt, nơi có lượng nước phèn, mặn Đây là thiết
bị chưng cất nước đơn giản, bao gồm một thiết bị chứa nước có bọc cách nhiệt, phía trên có đậy một tấm kính có độ nghiêng phù hợp, nhưng lượng nước ngưng sẽ được quạt hút sang thiết bị ngưng tụ Ưu điểm của phương pháp này là tăng độ chênh nhiệt độ giữa nước và kính, tăng diện tích ngưng tụ của hơi nước dẫn đến tăng tỉ lệ bay hơi của nước, tránh lượng nước ngưng trên tấm kính làm giảm các tia bức xạ đến bề mặt hấp thụ Đồng thời, nhiệt năng của hơi ngưng tụ sẽ được hấp thụ bởi lượng nước cấp bổ sung cho hệ thống
II.1 Tính cường độ bức xạ đến mặt phẳng nghiêng:
Hình 3.1: Vị trí tương đối của mặt trời trên mặt phẳng ngang và mặt phẳng
nghiêng
Hệ số xuyên qua bầu khí quyển của các tia trực xạ:
Trang 29cosθ =sinδsinφcosβ −sinδ cosφsinβcosγ
+cosδsinφsin β cosγ cosω +cosδ sin βsinγ sinω
Góc đỉnh, hợp bởi tia bức xạ và mặt phẳng nằm ngang:
δφω
δφ
θ cos cos cos sin sin
β : góc nghiêng của Collector 0 ≤ β ≤ 900
γ : góc phương vị (-1800 ≤ γ ≤ 1800)
ω : góc giờ Là góc tạo bởi tia trực xạ và đường nối điểm khảo sát với
vị trí cao nhất (thiên đỉnh) của mặt trời trong ngày
θ : góc tới của tia bức xạ lên mặt phẳng nghiêng
θz : góc thiên đỉnh Là góc tạo bởi tia trực xạ và đường thẳng góc với mặt phẳng nằm ngang tại vị trí khảo sát
n : số ngày hiện tính của năm (ngày)
Trang 30ω = (12 – t) 15 0 (5)
t : thời điểm lúc tính (giờ)
Hay nhiệt lượng toàn phần nhận được qua tấm hấp thụ được xác định như sau:
2
Cos1.2
Cos1.I
IRI
)(II).(
2
Cos1
.I).(
R.I
IT = b b τα b + d + β τα d + d + b τα g ρ − β (7)
Với :
• (τα)b : hệ số hấp thụ-truyền qua của thành phần trực xạ
• (τα)d : hệ số hấp thụ-truyền qua của thành phần khuyếch tán
• (τα)g : hệ số hấp thụ-truyền qua của thành phần phản xạ từ mặt đất
• (τα ) : hệ số hấp thụ-truyền qua trung bình
Theo [11], có thể lấy giá trị (τα) trong công thức (8) bằng với giá trị trung bình của (τα)b theo ngày với sai số nhỏ hơn 5%
Theo nghiên cứu của Hadara [12], (τα) có mối liên hệ với hệ số hấp thụ trung bình (τα)tb theo hệ thức (τα =(τα)) tb.Kτα Với Kτα = 0.96 cho một
tấm kính phủ
II.2 Xác định hệ số phản xạ, hấp thụ và truyền qua
Đối với kính che phủ, khả năng truyền qua của bề mặt phụ thuộc vào chiều dài bước sóng, góc tới của chùm tia bức xạ, chiết xuất của môi trường
và hệ số suy giảm K khi xuyên qua lớp vật liệu này Hiện tượng phản xạ xảy
ra trên các bề mặt phân cách giữa hai môi trường tiếp xúc nhau Gọi ρ,τ và α
là lần lượt là hệ số phản xạ, hệ số xuyên qua và hệ số hấp thụ của tấm phủ :
Trang 31Hình 3.2: Quá trình truyền qua của tia bức xạ
Khảo sát tia bức xạ đi từ môi trường có chiết xuất n1, góc tới θ1 sang môi trường có chiết xuất n2 và góc tới θ1, theo định luật Snell :
1
2 2
1
sin
sinn
sin
)(
sin
r
1 2 2
1 2 2
θ
−θ
) (
tan
) (
tan
r
1 2 2
1 2 2
θ
− θ
Trong kỹ thuật năng lượng mặt trời, điều quan tâm là hệ số xuyên qua
τ của tia bức xạ, bỏ qua sự hấp thụ của tấm phủ trong suốt ta có thể tính gần đúng hệ số τrN xuyên qua N tấm phủ như sau :
r)
1N.2(1
r1r
−+
r)
1N.2(1
r1r
−+
−
Trang 32Trong trường hợp trên chỉ xét đến hiện tượng phản xạ, nếu kể đến ảnh hưởng của hiện tượng hấp thụ, hệ số xuyên qua của τa của tấm phủ được tính như sau:
2
cos L K
n
n d
)
1(1
.]
)
1[(
)
(
ρα
−
−
ατ
=ρα
−α
II.3.1 Hệ thống đối lưu tự nhiên:
Quá trình truyền nhiệt và truyền khối trong thiết bị trình bày tại hình 3.3 Để đưa ra được các phương trình cân bằng năng lượng thì ta có các giả thiết sau:
- Lượng nước tổn thất do bay hơi rất nhỏ so với lượng nước có trong thiết bị chưng cất
- Lượng nhiệt cần thiết để làm nóng nước bổ sung không đáng kể
Trang 33w a
w
C ( − ) <<
- Thiết kế tốt nên không có sự rò rỉ nước ra môi trường bên ngoài
- Diện tích tấm phủ, diện tích bề mặt nước và bể chứa là như nhau
- Bỏ qua Gradient nhiệt độ dọc theo chiều dày tấm phủ và chiều sâu của nước
Hình 3.3: Quá trình truyền nhiệt trong thiết bị đối lưu tự nhiên
Với những giả thiết trên và hình 3.3: Phương trình cân bằng năng lượng tại kính, nước và bể chứa:
q q q
w b w rw ew cw T
b b b w T
b '' + − = +
α (17 a )
Trang 34Trong đó:
- q cw: Lượng nhiệt truyền do đối lưu giữa bể nước và tấm phủ (W/m2),
và được tính bởi công thức Dunkle [16]:
) (
) 10
9 268 (
) 15 273 )(
( ) (
884 0
3 / 1
w
w g w g
w
p
t p p t
8 3 7 5
Với w: tốc độ gió (m/s)
ta: nhiệt độ môi trường xung quanh (0C)
- q ra: Lượng nhiệt truyền do bức xạ giữa tấm phủ và môi trường xung quanh (W/m2):
15,27315
b w b
Trang 35Với h w b− : hệ số truyền nhiệt từ nước ra vách bể chứa (W / m2.0 C )
- q b: lượng nhiệt truyền từ đáy bể chứa ra môi trường xung quanh
(W/m2):
) (b a
h i : hệ số truyền nhiệt kết hợp đối lưu và bức xạ giữa lớp cách nhiệt và môi trường
Hoặc:
) ( b a
- Q T': tổng bức xạ mặt trời lên bề mặt nước sau khi qua tấm phủ (W/ m2)
- Q T'': bức xạ mặt trời lên bể chứa sau khi qua nước (W/ m2)
- αg, αw, αb : hệ số hấp thụ của tấm phủ, nước và bể chứa
- M g, M w, M b: nhiệt dung trên một đơn vị diện tích của tấm phủ, nước
và bể chứa (J/ m2.0 C)
- t g , t w ,t b: nhiệt độ tức thời của tấm phủ, nước và bể chứa (0 C)
Các công thức (15a), (16a), (17a) có thể được viết lại như sau:
Trang 36Để đơn giản, thuận tiện cho việc tính toán thì các giá trị Q T, Q T' , Q T''
được lấy tương đương với Q T Nếu các giá trị τg, τw, τb được xem như là những hệ số truyền qua của tấm phủ, nước và bể chứa thì các công thức thức (15b), (16b), (17b) được viết lại như sau:
Trang 37Hình 3.4 Sự phân bố của tia tới
Qua trên, hệ số truyền qua của tấm phủ:
αw w
n = 61504 lnH + 0 3577 ( 28 )
Trang 38Với H w : chiều cao lớp nước trong bể chứa ( mm )
Theo [17] thì hệ số hấp thụ của nước đối với góc của tia tới bất kỳ: α
n
= + 1 2 0345 10 × − 3 − 1990 10 × − 4 2 + 5 324 10 × − 6 3 − 4 799 10 × − 8 4
(29) Với θ: góc của tia tới so với bề mặt của nước (độ)
Dựa vào công thức (15c), (16c), (17c) thì nhiệt độ tức thời của tấm phủ, nước và bể chứa sẽ được tính toán Lượng nước cất thu tại khoảng thời gian Δt:
A: diện tích của bể chứa ( m2 )
Hiệu suất tức thời của thiết bị chưng cất:
ηs ew
h
q AQ
Với Q h: tổng bứa xạ mặt trời lên mặt phẳng ngang (W / m2 )
Tại thời điểm xác định, tia bức xạ tới thiết bị sẽ phụ thuộc vào độ dốc của tấm phủ và góc của tia tới lên bề mặt tấm phủ Hình dạng hình học của thiết bị:
Trang 39Hình 3.5: Sự phân bố góc của tia tới
Theo hình 3.5 trên ta có: tổng bức xạ tới thiết bị, ta có tỉ lệ theo các góc trong tam giác
1 1
khi 1
) - 180 (
<
khi ) 1 /(
1
) - 180 ( khi 0
β ψ
β ψ
β
β ψ
F
Trang 40) - 180 (
<
khi ) 1 /(
khi 0
1
1 2
2 2
β ψ
β ψ
β
β ψ
F F
Với ψ : góc cao độ của mặt trờiαstheo phương thẳng đứng đối với hai
bề mặt nghiêng của tấm phủ
N SUN
Do vậy:
tan ψ = S’” / S”” = tan αs / cos Z = tan αs / cos ( γs - γ ) ( 34c )
Trong đó: γ: góc phương vị của tấm phủ thứ nhất