Việc sử dụng logic mờ thích hợp trong việc đánh giá đối với các điều khoản có tính chất định tính, thích hợp với tính chất chủ quan của việc quyết định cỡ biên, nắm bắt được nhiều vấn đề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-oOo -
ĐỖ LÊ MINH
MÔ HÌNH ĐẤU THẦU XÉT ĐẾN CÁC MỤC TIÊU CẠNH TRANH
KHÁC NHAU VÀ YẾU TỐ THƯỞNG PHẠT (ỨNG DỤNG FUZZY LOGIC VÀ MÔ PHỎNG MONTE-CARLO)
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Mã số ngành : 605890
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 07 năm 2009
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS LƯƠNG ĐỨC LONG
Trang 3- -oOo -
Tp HCM, ngày tháng năm
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên : Đỗ Lê Minh Giới tính : Nam
Ngày, tháng, năm sinh : 03-01-1981 Nơi sinh : Đak Lak Chuyên ngành : Công nghệ và Quản lý Xây dựng MSHV : 00807576 Khóa : 2007
I- TÊN ĐỀ TÀI :
MÔ HÌNH ĐẤU THẦU XÉT ĐẾN CÁC MỤC TIÊU CẠNH TRANH KHÁC NHAU VÀ YẾU TỐ THƯỞNG PHẠT (ỨNG DỤNG FUZZY LOGIC VÀ MÔ PHỎNG MONTE- CARLO)
II- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN :
- Xây dựng một công cụ hỗ trợ cho nhà thầu về việc thiết lập một cỡ biên lời cho dự
án tham gia đấu thầu thông qua quá trình xem xét nhiều mục tiêu đầu vào (dựa trên Logic mờ)
- Ước tính giá dự thầu và thời gian thực hiện gói thầu khi xét đến yếu tố thưởng phạt thông qua quá trình mô phỏng Monte-Carlo
III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ :
IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ :
V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : TIẾN SĨ LƯƠNG ĐỨC LONG
Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM NGÀNH CHỦ NHIỆM BỘ MÔN
QL CHUYÊN NGÀNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Lương Đức Long, người đã hướng dẫn cho tôi thực hiện luận văn này Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Xây Dựng, đặc biệt là các thầy cô thuộc Bộ môn Thi Công Những kiến thức, kinh nghiệm thầy cô đã truyền đạt trong suốt quá trình học, những góp
ý của thầy cô về luận văn là tài sản quý giá cho tôi tiếp tục có những hướng đi đúng đắn, tiếp cận xu thế phát triển chung của ngành Xây Dựng
Xin cảm ơn những bạn bè cùng lớp, những người đã cùng tôi trải qua những ngày học tập thật vui và những trao đổi nhiệt tình trong suốt thời gian học qua đã hoàn thiện cho tôi nhiều kiến thức còn thiếu Những nổ lực của các bạn và tôi chắc chắn sẽ đem lại cho chúng ta những điều tốt đẹp của ngày mai
Xin cảm ơn những hỗ trợ của bạn bè và các đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập và quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã luôn quan tâm
và động viên giúp tôi vượt qua những ngày khó khăn để hoàn thành luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, Tháng 07 năm 2009
Trang 5Bài luận văn này xây dựng một công cụ hỗ trợ cho nhà thầu trong công tác đấu thầu Một mặt giúp nhà thầu xác định được khoảng biên lời (tỷ lệ lợi nhuận mong muốn) của gói thầu sẽ tham gia thông qua việc xem xét sự tác động của nhiều mục tiêu đầu vào Mặt khác giúp nhà thầu đưa ra được chiến lược giá và thời gian hợp lý đối với các các gói thầu mà hợp đồng xây dựng có xét đến các yếu tố (điều khoản) thưởng phạt Logic mờ (fuzzy logic) được ứng dụng để phát triển mô hình và cung cấp một công cụ thực tế trong việc thiết lập cỡ biên Việc sử dụng logic mờ thích hợp trong việc đánh giá đối với các điều khoản có tính chất định tính, thích hợp với tính chất chủ quan của việc quyết định cỡ biên, nắm bắt được nhiều vấn đề và các yếu tố tác động đến việc quyết định cỡ biên của nhà thầu Bên cạnh đó, mô phỏng Monte-Carlo được ứng dụng để tìm ra chiến lược giá và thời gian hợp lý cho nhà thầu thông qua việc xem xét đến yếu tố thưởng phạt (điều khoản thưởng phạt) sẽ ràng buộc trong hợp đồng Chính vì vậy, mô hình đã tạo ra một công cụ hỗ trợ ra quyết định đắc lực cho nhà thầu đối với gói thầu mà nhà thầu tham gia
Abstract
This thesis builds a tool to support the contractor in bidding works On the first side, it helps the contractor determine the margin size (desired profit rate) of the bid which they participate through considering the effect of input objectives On the other side, it helps the contractor show the reasonable price and time strategy about the bids which the construction contract will consider the reward and punishment factors (items) Fuzzy logic
is applied to develop model and provide a realistic tool in establishing the margin size The using of fuzzy logic suitable for assessing the qualitative items, suitable with the subjective nature of margin size decision, catch up with many problems and factors affect
to margin size decision of the contractor Besides, Monte-Carlo simulation is applied to find out the reasonable price-time strategy for the contractor through considering the reward and punishment factors (items) will bind in the contract So the model created a efficient tool for the contractor to support the giving decision with the furture bid
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU
1.1 Tổng quan chung về nền kinh tế và ngành xây dựng Việt Nam 01
1.2 Sự cần thiết chọn đề tài 03
1.3 Cơ sở chọn đề tài 05
1.4 Hệ thống văn bản pháp luật trong hoạt động đấu thầu 06
1.5 Mục tiêu nghiên cứu 07
1.6 Phạm vi nghiên cứu 08
1.7 Giới hạn của đề tài 09
CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Các nghiên cứu ngoài nước 10
2.2 Các nghiên cứu trong nước 17
CHƯƠNG 3 : TỔNG QUAN VỀ LOGIC MỜ VÀ MẠNG NEURON MỜ 3.1 Lý thuyết mờ 21
3.1.1 Khái niệm tập mờ (Fuzzy set) 21
3.1.2 Luật hợp thành mờ 24
3.1.3 Giải mờ 30
3.1.4 Bộ điều khiển mờ 31
3.2 Mạng neuron mờ 32
3.2.1 Giới thiệu về mạng neuron mờ 32
3.2.2 Neuron mờ 33
3.2.3 Cấu trúc mạng neuron mờ 34
Trang 74.1 Hồi quy 38
4.2 Mô hình hồi quy bội của tổng thể 38
4.3 Phương trình hồi quy bội của mẫu 39
CHƯƠNG 5 : TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH MÔ PHỎNG 5.1 Các loại phân tích mô phỏng bằng bảng tính 40
5.2 Phân tích mô phỏng Monte-Carlo 40
5.3 Phân tích rủi ro bằng mô phỏng Monte-Carlo 40
5.4 Các bước xây dựng mô phỏng Monte-Carlo 41
5.5 Chương trình mô phỏng Crystal Ball 41
CHƯƠNG 6: ỨNG DỤNG LOGIC MỜ (FUZZY LOGIC) XÁC ĐỊNH CỠ BIÊN LỜI
6.1 CÁC THÀNH PHẦN CỦA MÔ HÌNH 42
6.1.1 Các mục tiêu trong đấu thầu 42
6.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cỡ biên 43
6.1.3 Khoảng biên 43
6.2 CÁC TRỌNG SỐ TRONG MÔ HÌNH 44
6.2.1 Thu thập số liệu 44
6.2.1.1 Khảo sát các mục tiêu nhà thầu quan tâm 44
6.2.1.2 Xác định số lượng mẫu 46
6.2.1.3 Kết quả khảo sát 47
6.2.2 Mức độ mà các mục tiêu được mong muốn trong đấu thầu 48
6.2.3 Khả năng áp dụng của các yếu tố đối với tình huống đấu thầu 49
Trang 86.2.4 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố lên cỡ biên (Ijn) 49
6.2.5 Mức độ mà cỡ biên sẽ tối ưu mục tiêu (Rjn,p) 51
6.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH 52
6.3.1 Các mối quan hệ nhị phân mờ (fuzzy binary relations) 52
6.3.2 Toán tử hỗn hợp mờ (fuzzy composition operation) 53
6.3.3 Giải mờ (Defuzzification) 58
CHƯƠNG 7: ƯỚC TÍNH CHI PHÍ VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN GÓI THẦU
7.1 Tổng quát 60
7.2 Quy trình xác định cặp giá và thời gian tối ưu của nhà thầu 61
7.3 Xây dựng đường cong thời gian – chi phí từ các dự án trong quá khứ 64
7.4 Chuẩn hóa đường cong thời gian – chi phí 70
7.5 Đưa giá trị biên lời (cỡ biên) vào đường cong chi phí 71
7.6 Xây dựng đường cong thưởng/phạt (I/D) 73
7.7 Tối thiểu hóa lượng tiền đấu thầu 73
7.8 Ứng dụng Crystal Ball dự đoán lượng tiền đấu thầu 74
7.8.1 Thiết lập phân phối xác suất cho khoản tiền thưởng tối đa (M) 75
7.8.1.1 Thu thập khảo sát số liệu 75
7.8.1.2 Phân tích số liệu 76
7.8.2 Thiết lập phân phối xác suất cho khoản thưởng đơn vị (I) 76
7.8.2.1 Thu thập khảo sát số liệu 76
7.8.1.2 Phân tích số liệu 77
7.8.3 Khai báo dữ liệu đầu vào Crystal Ball 78
Trang 97.9.1 Kết quả dự báo xác suất xuất hiện thời gian hoàn thành dự án (D) 81
7.9.2 Kết quả dự báo giá thầu (Ca) 82
7.9.3 Phân tích kết quả 83
CHƯƠNG 8: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
8.1 Kết luận 85
8.2 Kiến nghị hướng phát triển đề tài 86
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục A : Giới thiệu chương trình Bidding assistant 2009 89
Phụ lục B : Phạm vi công việc của các dự án 99
Phụ lục C : Bảng câu hỏi khảo sát mẫu 103
Trang 10HÌNH VẼ
Hình 3.1 Một số dạng hàm thuộc cơ bản thường gặp 22
Hình 3.2 Mô tả biến ngôn ngữ bằng tập mờ 22
Hình 3.3 Hàm thuộc 26
Hình 3.4 Xây dựng R theo quy tắc max – Min 27
Hình 3.5 Xây dựng R theo quy tắc max - Prod 27
Hình 3.6 Xây dựng R cho luật hợp thành MISO theo quy tắc max – Min 28
Hình 3.7 Hàm thuộc của hai luật điều khiển 29
Hình 3.8 Phương pháp giải mờ cực đại 30
Hình 3.9 Cấu trúc của bộ điều khiển mờ 31
Hình 3.10 Mô hình neuron mờ loại 1 33
Hình 3.11 Mô hình neuron mờ loại 2 33
Hình 3.12 Mô hình neuron mờ loại 3 34
Hình 3.13 Mô hình mạng neuron mờ 35
Hình 3.14 Mô hình mạng Match 35
Hình 3.15 Mô hình mạng DFZ 36
Hình 6.1 Các thành phần của mô hình và mối quan hệ của chúng 42
Hình 6.2 Kết quả khảo sát mục tiêu 47
Hình 6.3 Kết quả khảo sát các yếu tố tác động lên mục tiêu 48
Hình 7.1 Mối tương quan giữa chi phí và thời gian xây dựng 60
Hình 7.2 Quy trình xác định chiến lược đấu thầu tối ưu của nhà thầu 61
Hình 7.3 Chiến lược (D0’ >Tmax và D1≥Tmax) 62
Trang 11Hình 7.5 Chiến lược (D0’ <Tmax và D1≤Tmax) 63
Hình 7.6 Đường cong tỷ lệ 64
Hình 7.7 Hộp thoại nhập dữ liệu đầu vào 69
Hình 7.8 Chuẩn hóa đường cong 71
Hình 7.9 Mối tương quan giữa chi phí và giá thầu 72
Hình 7.10 Biểu đồ biểu diễn phân phối xác suất tỷ lệ % của M so với GTHĐ 75
Hình 7.11 Biểu đồ biểu diễn phân phối xác suất tỷ lệ giữa I và M 77
Hình 7.12 Nhập số liệu phân phối Lognormal 79
Hình 7.13 Nhập số liệu phân phối Custom 80
Hình 7.14 Định nghĩa các cell dự báo 80
Hình 7.15 Nhập số lần thử và độ tin cậy 81
Hình 7.16 Xác suất xuất hiện thời gian hoàn thành dự án (D) 81
Hình 7.17 Xác suất của giá thầu (Ca) 83
Trang 12BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2008 (%) 01
Bảng 1.2 Cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam 02
Bảng 1.3 Ngân sách Nhà nước chi cho xây dựng cơ bản 03
Bảng 1.4 Tỷ lệ kinh phí tiết kiệm được qua đấu thầu 04
Bảng 6.1 Các mục tiêu quan tâm 44
Bảng 6.2 Các yếu tố tác động đến mục tiêu và khả năng áp dụng các yếu tố 45
Bảng 6.3 Mức độ mà các mục tiêu được mong muốn trong tình huống đấu thầu 48
Bảng 6.4 Khả năng áp dụng các yếu tố trong tình huống đấu thầu 49
Bảng 6.5 Sự ảnh hưởng của các yếu tố lên cỡ biên và cỡ biên 50
Bảng 6.6 Tính toán các phần tử của hàm S(O,F) 52
Bảng 6.7 Tính toán các phần tử của hàm R(F,M) 53
Bảng 6.8 Tính toán Q(O,M) sử dụng toán tử hỗn hợp max-min 56
Bảng 6.9 Tính toán Q(O,M) sử dụng toán tử hỗn hợp sum-min 57
Bảng 7.1 Bảng dữ liệu đầu vào phục vụ quá trình phân tích hồi quy 65
Bảng 7.2 Kết quả khảo sát tỷ lệ % giữa khoản thưởng tối đa 75
Bảng 7.3 Kết quả phân tích thống kê tỷ lệ % của M so với GTHĐ 76
Bảng 7.4 Kết quả khảo sát tỷ lệ giữa khoản tiền thưởng mỗi tháng I 77
Bảng 7.5 Kết quả phân tích thống kê tỷ lệ giữa I và M 78
Bảng 7.6 Bảng Excel ước tính lượng tiền để đấu thầu (Ca) 79
Bảng 7.7 Kết quả thống kê thời gian hoàn thành dự án (D) 82
Bảng 7.8 Xác suất xuất hiện thời gian hoàn thành dự án 82
Trang 13Bảng 7.10 Bảng ước tính giá thầu và thời gian hoàn thành dự án (α=6.75%) 84 Bảng 7.11 Bảng ước tính giá thầu và thời gian hoàn thành dự án (α=4%) 84
Trang 14Trang 1
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU
1.1 Tổng quan chung về nền kinh tế và ngành xây dựng Việt Nam
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986
Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự thay đổi về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa hội nhập kinh tế Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng trong xã hội
Hơn mười năm qua, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước, với mức tăng bình quân hàng năm 7,5% Từ một nước có nền công nghiệp kém phát triển, nay từng bước xây dựng một nền công nghiệp theo hướng hiện đại Đồng thời cơ cấu kinh tế không ngừng chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần tương ứng
Năm 2008, tăng trưởng kinh tế Việt Nam chỉ đạt mức 6.23%, giảm so với các năm trước đó do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu
Bảng 1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2008 (%)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 GDP 8.15 5.76 4.77 6.79 6.89 7.08 7.34 7.79 8.44 8.17 8.44 6.23 NLTS 4.33 3.53 5.53 4.63 2.89 4.17 3.62 4.36 4.02 3.3 3.4 3.79 CNXD 12.62 8.33 7.68 10.07 10.39 9.48 10.48 10.22 10.69 10.37 10.4 6.33
DV 7.14 5.08 2.25 5.32 6.10 6.54 6.45 7.26 8.48 8.29 8.5 7.20
Nguồn: website www.gso.gov.vn - Tồng cục thống kê Việt Nam (2009)
Trang 15Năm 2008, tăng trưởng kinh tế Việt Nam chỉ đạt mức 6.23%, giảm so với các năm trước đó do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu
Cùng với tốc độ tăng cao của GDP, cơ cấu kinh tế trong nước đã có sự thay đổi đáng kể Từ năm 1990 đến 2007, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp đã giảm từ 38,7% xuống 20,3% GDP, nhường chỗ cho sự tăng lên về tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng từ 22,7% lên 41,60%, còn khu vực dịch vụ được duy trì ở mức gần như không không đổi : 38,6% năm 1990 và 38,12% năm 2007 Trong từng nhóm ngành, cơ cấu cũng có sự thay đổi tích cực Trong khu vực nông nghiệp, tỷ trọng của ngành nông và lâm nghiệp đã giảm từ 84,4% năm 1990 xuống 77,7% năm
2003 và đang có xu hướng tiếp tục giảm, phần còn lại là tỷ trọng ngày càng tăng của ngành thủy sản Trong cơ cấu công nghiệp, tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng từ 12,3% năm 1990 lên 20,8% năm 2003, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao Cơ cấu của khu vực dịch vụ thay đổi theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của các ngành dịch vụ có chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,
Trang 16Nguồn : website www.gso.gov.vn - Tồng cục thống kê Việt Nam (2009)
Từ số liệu và kế hoạch nên trên ta có thể thấy ngành công nghiệp-xây dựng vẫn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu kinh tế của cả nước, tốc độ tăng trưởng vẫn luôn giữ ở mức cao Theo thông tin từ bộ ngoại giao, dự báo từ năm
2006 đến 2010, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng vẫn luôn giữ ở mức cao và chiếm khoảng 43-44% GDP cả nước, từ đó cho thấy ngành xây dựng - công nghiệp không những giữ vai trò hình thành, kiến thiết và phát triển cơ sở hạ tầng của xã hội để đáp ứng cho tốc độ phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay mà còn là ngành đi đầu trong việc mang lại lợi nhuận
Việc thị trường bất động sản bắt đầu sôi động trở lại sau một thời gian dài đóng băng và kéo theo đó là hàng loạt các dự án chung cư, dự án khu dân cư đang phát triển rầm rộ trong thời gian vừa qua, bên cạnh nhu cầu rất lớn về cao ốc văn phòng cho thuê trong thời điểm hiện nay, sau khi Việt Nam gia nhập WTO là những dấu hiệu rất tốt cho sự phát triển của ngành công nghiệp - xây dựng trong thời gian tới Vốn đầu tư dành riêng cho ngành xây dựng tăng lên nhanh chóng
1.2 Sự cần thiết chọn đề tài
Trong những gần đây, nguồn ngân sách Nhà nước chi cho xây dựng cơ bản liên tục tăng cao, năm sau cao hơn năm trước, chiếm một tỷ trọng rất lớn trong thu chi Ngân sách Điều đó chứng tỏ Chính Phủ ngày càng chú trọng trong việc phát triển ngành xây dựng, tạo tiền đề phát triển các ngành khác
Trang 17Bảng 1.3 : Ngân sách Nhà nước chi cho xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư
(tỷ đồng) 26,211 36,139 40,740 54,430 61,746 72,842 81,078
Nguồn : website www.gso.gov.vn - Tồng cục thống kê Việt Nam (2009)
Tuy nhiên, tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản đang xảy ra từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đầu tư đến thi công, nghiệm thu, quyết toán công trình Hiện tượng này đang diễn biến rất phức tạp và ngày càng nghiêm trọng, gây nhức nhối trong xã hội Việc thất thoát Ngân sách trong xây dựng cơ bản có tác động tiêu cực rất to lớn đến tình hình kinh tế của nước ta do Ngành xây dựng chiếm một tỷ trọng lớn trong các thành phần kinh tế Bên cạnh đó, kết quả phát hiện, điều tra, xử
lý còn thấp Đấu tranh chống thất thoát trong xây dựng rất khó khăn bởi ngày càng xuất hiện nhiều thủ đoạn mới, hiện đại, tinh vi của những kẻ tội phạm trong lĩnh vực này Theo thống kê, thất thoát trong xây dựng cơ bản ở nước ta trung bình từ 10 đến 30%, có công trình thậm chí thất thoát tới 50% hoặc nhiều hơn Điều quan trọng hơn là tuyệt đại đa số vụ việc xảy ra chính ở khu vực xây dựng bằng nguồn vốn Nhà nước [website http://inside.vtv.vn - Đài truyền hình Việt Nam VTV (2005)]
Vì vậy, một trong những cách giúp tiết kiệm chi phí trong xây dựng cơ bản là thực hiện đấu thầu, khuyến khích thực hiện công tác đấu thầu cho các dự án xây dựng, chọn ra được nhà thầu có năng lực cùng với mức giá hợp lý sẽ là phương sách đẩy lùi thất thoát trong xây dựng
Hơn nữa, nước ta đang trong giai đoạn phát triển, kéo theo đó là sự phát triển mạnh của ngành xây dựng Chính vì thế, các dự án xây dựng nhà cửa, cơ sở hạ tầng, giao thông… ngày càng nhiều Để thực hiện các dự án đó cần tổ chức đấu thầu để lựa chọn ra các nhà thầu thực hiện dự án nhằm đem lại hiệu quả cao về tính cạnh tranh trong chi phí và chất lượng dự án Đồng thời tiết kiệm được một phần chi phí
Trang 181.3 Cơ sở chọn đề tài
Khi tham gia đấu thầu, quan điểm của các nhà thầu ở nước ta chủ yếu quan tâm đến mục tiêu thắng thầu, làm thế nào để thắng gói thầu đó trước, mà chưa xem xét đến các mục tiêu khác như : thăm dò thị trường mới, dùy trì sức cạnh tranh, tạo thêm công việc… Bởi vì các mục tiêu khác này có mối quan hệ logic đến mục tiêu chủ đạo “thắng thầu” của nhà thầu, và ảnh hưởng đến việc ước tính cỡ biên (phần trăm biên lời) của gói thầu tham gia
Trang 19Các nhà thầu khi ước tính cỡ biên lời thì không theo một phương pháp cụ thể nào, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm chủ quan, hoặc đặt ra một cỡ biên lời chung chung, đầy rủi ro Chẳng hạn, nhà thầu đặt ra một biên lời là 8% và điều chỉnh tăng giảm tùy theo tình hình Cách làm này thiếu tính khách quan và khoa học Do đó,
đòi hỏi phải có một phương pháp, một mô hình để xây dựng cách thiết lập cỡ biên lời để áp dụng cho các gói thầu mà nhà thầu tham gia đấu thầu Phương pháp
đó dựa trên ứng dụng logic mờ (Fuzzy Logic) trong toán học
Bên cạnh đó, hiện nay trong các hợp đồng xây dựng, chủ đầu tư thường hướng đến yếu tố khích lệ (các điều khoản thưởng/phạt) đối với nhà thầu về thời gian thực hiện dự án Trong hợp đồng, Chủ đầu tư thường đưa ra một mức thưởng nếu nhà thầu hoàn thành sớm dự án hơn thời gian đưa ra trong hợp đồng, và ngược
lại nhà thầu sẽ bị phạt nếu kéo dài dự án quá tiến độ quy định Do đó, đòi hỏi nhà
thầu xem xét đến các điều khoản thưởng/phạt trong quá trình đấu thầu Mô
hình được thiết lập dựa vào quá trình mô phỏng Monte-Carlo thông qua chương trình Crystal Ball
1.4 Hệ thống văn bản pháp luật trong hoạt động đấu thầu
Kể từ khi Luật đấu thầu có hiệu lực, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản về hoạt động đấu thầu, đến nay đã có nhiều thay đổi và điều chỉnh Đây là một số văn bản còn hiệu lực:
- Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội nước Cộng Hòa
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam;
- Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày 05/05/2008 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đấu Thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây Dựng;
- Thông tư 02/2009/TT-BKH ngày 17/02/2009 của Bộ Kế Hoạch Đầu Tư về hướng dẫn lập kế hoạch đấu thầu
Trang 201.5 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng một công cụ hỗ trợ cho nhà thầu về:
+ Thiết lập một cỡ biên lời cho dự án tham gia đấu thầu
+ Xác định được giá dự thầu và thời gian thực hiện gói thầu
- Tạo cho nhà thầu có một quan điểm bao quát hơn về tính cạnh tranh trong đấu thầu, bên cạnh sự quan tâm chủ đạo đến mục tiêu “Thắng thầu” thì nhà thầu còn phải xem xét thêm quan điểm của mình đến các mục tiêu khác như “Tạo thêm công việc”, “Duy trì sức cạnh tranh với các nhà thầu khác”, “Thăm dò thị trường mới”… Chính sự xem xét cùng lúc nhiều mục tiêu tác động đến gói thầu bằng việc đánh giá trọng số, giúp nhà thầu hạn chế rủi ro đối với gói thầu tham gia
- Xây dựng một phương trình hồi quy tổng quát về mối liên hệ giữa thời gian và chi phí cho nhà thầu, làm cơ sở cho nhà thầu dự đoán được chi phí khi đã biết thời gian thực hiện dự án
Trang 21- Xây dựng được một mô hình có xét đến các điều khoản thưởng/phạt, đưa các điều khoản thưởng/phạt vào phân tích sự tác động của nó đến chi phí và thời gian thực hiện dự án nhằm mục đích đưa ra cặp thời gian và chi phí tối ưu để nhà thầu có thể
sử dụng trong quá trình đấu thầu
- Xây dựng được phân phối xác suất của chi phí và thời gian thực hiện gói thầu dựa trên mô phỏng Monte-Carlo để nhà thầu có cơ sở đưa ra chiến lược giá và thời gian cho gói thầu
- Tạo ra được một công cụ để hỗ trợ cho người ra quyết định tự tin hơn trong việc
đề xuất một mức giá dự thầu và thời gian thực hiện gói thầu hợp lý
- Các gói thầu sắp tham dự : Xây lắp
- Hình thức đấu thầu của gói sắp tham dự : đấu thầu rộng rãi hoặc hạn chế
- Hình thức đấu thầu của các gói đã thực hiện trước đây : đấu thầu rộng rãi hoặc hạn chế hoặc chỉ định thầu
- Các số liệu cần có của các gói thầu mà nhà thầu đã tham gia trong quá khứ để xây dựng phương trình hồi quy bao gồm : thời gian hợp đồng, thời gian hoàn thành, giá trị hợp đồng, chi phí cuối cùng
Trang 22Trang 9
1.7 Giới hạn của đề tài
- Mỗi mô hình được xây dựng chỉ ứng dụng cho một nhà thầu, bởi vì mô hình được xây dựng từ dữ liệu của một nhà thầu Khi ứng dụng cho nhà thầu khác phải xây dựng lại mô hình
- Việc đánh giá số liệu khảo sát còn mang tính chủ quan
- Việc xác định mức thưởng/phạt được xây dựng dựa trên quy luật phân phối xác suất thu được từ các dự án trong quá khứ do giai đoạn áp dụng mô hình là trước khi dự thầu nên mức thưởng/phạt của chủ đầu tư không thể xác định chính xác được
- Việc khảo sát, lấy số liệu còn nằm trong phạm vi hẹp
- Cần phải có số lượng dự án tương đối lớn đối với một nhà thầu mới có thể xây dựng một phương trình hồi quy tương đối chính xác Các nhà thầu có ít kinh nghiệm thi công thì khả năng áp dụng mô hình khó khăn hơn
Trang 23CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Trên Thế giới cũng có rất nhiều tác giả nghiên cứu về xây dựng mô hình hỗ trợ nhà thầu trong công tác đấu thầu Tuy nhiên, mỗi tác giả áp dụng một phương pháp khác nhau trong quá trình xây dựng mô hình
Min Liu và Yean Yng Ling (2005,[1]) : “Modeling a Contractor's Markup
Estimation” Xây dựng một mạng nơron nhân tạo dựa trên logic mờ FNN để hỗ trợ
nhà thầu trong việc ra quyết định về mức giá trong môi trường xây dựng không chắc chắn và thay đổi, mạng FNN cung cấp cho người sử dụng một sự giải thích rõ ràng để đảm bảo tính hợp lý của đầu ra của mức giá đã dự tính trước Nhờ khả năng
tự học của mạng ANN mà độ chính xác của kết quả dự toán được cải tiến Qua quá trình khảo sát và phỏng vấn các nhà thầu địa phương, các yếu tố ảnh hưởng đến việc ước tính cỡ biên và các quy luật được ứng dụng trong việc quyết định cỡ biên được xác định Cả mạng ANN và FNN được xây dựng và huấn luyện bằng nhiều dự án khác nhau Qua sự so sánh giữa 2 mô hình chỉ ra rằng, mạng FNN hỗ trợ nhà thầu ước tính cỡ biên với độ chính xác cao hơn
Florence Yean Yng Ling và Min Liu (2004,[2]) : “Factors considered by
successful and profitable contractors in mark-up size decision in Singapore”
Xác định mức giá thầu tối ưu cho dự án, làm tăng cơ hội thắng thầu của nhà thầu Mục tiêu nghiên cứu : xem xét các yếu tố liên quan đến sự thành công và lợi nhuận của nhà thầu trong việc quyết định mức giá thầu Khoảng 52 yếu tố ảnh tác động lên
cỡ biên được xác định Kết quả có 21 trên tổng số 52 các yếu tố được đánh giá là quan trọng Các nhà thầu thành công và có lợi nhuận thường chú trọng vào các yếu
tố tác động đến tiến độ, chi phí, chất lượng của dự án Bài báo cũng đề xuất các nhà thầu ít thành công, không có lợi nhuận cần phải chú trọng hơn vào các yếu tố đó
Trang 24Trang 11
Liyin Shen, Derek Drew, and Zhihui Zhang (1999, [3]) : “Optimal bid model
for price-time biparameter construction contracts” Trong hệ thống đấu thầu ưu
tiên giá thấp, vì thời gian xây dựng thường được xác định trong hồ sơ mời thầu, giá thầu được xem là tiêu chí chính làm căn cứ để ký hợp đồng Tuy nhiên, thời gian xây dựng đã trở nên quan trọng đối với tất cả các bên liên quan về kinh doanh trong xây dựng Đối với chủ đầu tư, sự hoàn thành sớm dự án sẽ đóng góp vào việc thu hồi vốn đầu tư của họ Sự chậm trễ trong triển khai dự án thường gây mất cơ hội kinh doanh và tiềm năng lợi nhuận, đối với các dự án công cộng, thậm chí còn gây
ra các vấn đề xã hội Mô hình này được cải tiến như sau : giá trị đồng tiền nhất định được chia cho mỗi đơn vị thời gian xây dựng, và giá trị thời gian này sẽ được tích hợp với giá gói thầu trong việc đánh giá gói thầu kết hợp của nhà thầu (Total Combined Bid - TCB) Nếu một nhà thầu đưa vào giá trị TCB thấp hơn thì tính cạnh tranh của họ sẽ được chủ đầu tư đánh giá cao hơn
Aminad Fayek (1998, [4]) : “Competitive bidding strategy model and
software system for bidding preparation” Bài báo này giới thiệu một mô hình
chiến lược đấu thầu cạnh tranh để sử dụng trong việc thiết lập một cỡ biên trong các
dự án xây dựng Mục tiêu của mô hình là giúp công ty đạt được các mục tiêu của nó trong đấu thầu Mô hình cung cấp hơn 90 yếu tố mà có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cỡ biên, và nó có thể là người ra quyết định để đánh giá sự tác động của các yếu tố liên quan đến tình huống đấu thầu Việc sử dụng lý thuyết tập mờ cho phép việc đánh giá được thực hiện trong các điều khoản định tính và tương đương, những điều này thích hợp với tính chất chủ quan của việc quyết định cỡ biên Kết luận thứ nhất của bài báo là lý thuyết tập mờ có thể được ứng dụng thành công đối với mô hình quyết định cỡ biên Kết luận thứ hai là việc sử dụng mô hình chiến lược đấu thầu cạnh tranh có thể cải tiến chất lượng của quy trình ra quyết định được sử dụng trong việc thiết lập một cỡ biên và có thể giúp nhà thầu đạt được biên cạnh tranh trong đấu thầu
Trang 25Li-Chung Chao (2007,[5]) : “Fuzzy logic model for determining minimum
bid markup” Xây dựng một mô hình dựa trên logic mờ để xác định giá thầu thấp
nhất thông qua việc đánh giá cơ hội chiến thắng và rủi ro Mô hình tích hợp quan điểm của người ra quyết định trong các quy luật mờ dựa theo thái độ của họ đối với các rủi ro và nhu cầu công việc Mô hình đủ nhạy để nhận thấy sự khác biệt về quan điểm của người ra quyết định trong đấu thầu và đề xuất giới hạn cắt giảm giá thầu một cách phù hợp, bằng cách đó đã khắc phục được một số thiếu sót của các mô hình hiện tại
Woo Yong Jeong, Du Yeon Kim, Seung Heon Han, Yeon Il Jeong (2008,[6]):
“Mark-up decision model: evaluating the profit ranges of international construction projects with support of case based reasoning” Bài báo kế tục
việc sử dụng phương pháp lập luận theo tình huống (case based reasoning - CBR)
để nghiên cứu một cách đúng mực các dự án trước đây Vì vậy việc xây dựng một
cỡ biên giá hợp lý dựa trên dữ liệu thực tế là khả thi Phương pháp CBR cho phép
mô hình quyết định cỡ biên có thể thực hiện được bằng cách thu nhận dữ liệu từ các
dự án tương tự trước đây, được dùng để tính toán lợi nhuận trung bình trước đây và
sự biến đổi của nó Các dữ liệu thống kê chuẩn giúp mô hình có thể tiên đoán một biên cạnh tranh cũng như đánh giá khả năng thất bại của một dự án cho trước Đặc biệt, mô hình này đưa ra các kịch bản có thể như cỡ biên có thể được hạ thấp bao nhiêu trong khi xem xét xác suất thất bại dự án Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng đối với mọi nhà thầu quốc tế để có thể đưa ra quyết định hợp lý với mức biên lời
Jin Fang Shr, Wei Tong Chen (2002,[7]) : “A method to determine
minimum contract bids for incentive highway projects” Khái niệm đấu thầu có
xét đến yếu tố thưởng/phạt được thiết kế để rút ngắn tổng thời gian hợp đồng bằng cách cho phép nhà thầu nhận được khoản thưởng nếu hoàn tất sớm dự án và phải trả khoản phạt nếu hoàn thành dự án chậm tiến độ Các nhà thầu vì thế được giới thiệu
Trang 26Wei-Chih Wang, Han-Hsiang Wang, Yu-Ting Lai, John Chien-Chung Li
(2005,[8]): “Unit-price-based model for evaluating competitive bids” Phương
pháp đấu thầu trọn gói giá thấp nhất cho phép các nhà quản lý các dự án công cộng loại bỏ bất kỳ gói thầu nào nếu họ xác định giá thầu không hợp lý Tuy nhiên, trong thực tiễn rất ít dự án bị loại do thiếu quy trình khách quan trong việc đánh giá giá thầu thấp nhất Trong khi các nghiên cứu trước đây đánh giá các gói thầu dựa trên giá thầu tổng thì nghiên cứu này đưa ra một mô hình ước tính giá thầu, phát triển dựa trên mức đơn giá Trong mô hình, giá thấp nhất được đánh giá theo đơn giá thu được một cách tự động từ chủ đầu tư và các nhà thầu đạt yêu cầu Hơn nữa, một tỷ
lệ sai khác được định nghĩa để đo lường độ lệch giữa các đơn giá được đưa ra bởi chủ đầu tư và nhà thầu bỏ giá thấp nhất Kết quả của mô hình cải tiến này được minh chứng qua việc áp dụng đối với hai hạng mục của một dự án xây dựng tòa nhà
Ali A.Shash (1992,[9]) : “Factors considered in tendering decisions by UK
contractors” Việc ra quyết định của nhà thầu đối với gói thầu là rất phức tạp do sự
không chắc chắn từ các yếu tố tác động bên ngoài Nghiên cứu xác định được 55 yếu tố ảnh hưởng đến quy trình ra quyết định đối với gói thầu của nhà thầu Kết quả thể hiện rằng nhiều yếu tố được xem xét với tầm quan trọng như nhau đối với trường hợp đấu thầu hoặc không đấu thầu và việc quyết định cỡ biên Các yếu tố khác được xem xét để có được tầm quan trọng đáng kể cho một quyết định nhưng không phải đối với tất cả Nhu cầu công việc, số lượng các nhà thầu đấu thầu và kinh nghiệm trong mỗi dự án được xác định như là 3 yếu tố hàng đầu mà ảnh hưởng
Trang 27đến việc quyết định của nhà thầu trong đấu thầu dự án Mức độ khó, rủi ro liên quan
do tính chất của công việc và lượng công việc hiện tại là các yếu tố được xếp hạng cao nhất tác động đến việc quyết định cỡ biên
David Arditi, Firuzan Yasamis (1998,[10]) : “Incentive/Disincentive
contracts: perception of owners and contractors” Hợp đồng thưởng/phạt được
phát triển từ nền tảng thỏa thuận chia sẽ chi phí và lợi nhuận giữa Chủ đầu từ và Nhà thầu Để thúc đẩy nhà thầu nỗ lực hơn trong việc thực thi một số mục tiêu của
dự án, Chủ đầu tư có thể đề xuất các mức thưởng cho nhà thầu, hoặc đưa ra hình phạt nếu nhà thầu không đạt được các mục tiêu đó Nghiên cứu xem xét sự thỏa thuận thưởng phạt cơ bản trong tài liệu hợp đồng Kết quả được báo cáo từ các cuộc khảo sát đối với các dự án mà hợp đồng bao gồm các điều khoản thưởng phạt Khảo sát chỉ ra có hay không tồn tại một sự đồng thuận hoặc bất đồng giữa Chủ đầu tư và quan niệm của nhà thầu về điều khoản thưởng phạt Kết quả cho thấy làm cách nào
mà mốc thời gian của hợp đồng thưởng phạt được thiết lập và tiến hành, loại công việc huấn luyện nhà thầu sử dụng để thực thi mục tiêu thưởng phạt, làm cách nào các bên tham gia hợp đồng nắm được tính hiệu quả của hợp đồng thưởng phạt khi
so sánh với hợp đồng không có xét yếu tố thưởng phạt
Irem Dikmen, M Talat Birgonula, A Kemal Gura (2007,[11]) : “A
case-based decision support tool for bid mark-up estimation of international construction projects” Giới thiệu một công cụ ra quyết định để ước lượng khoảng
lời trong đấu thầu một cách có hệ thống Với mục tiêu đó, các yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến mức độ rủi ro, cơ hội và tính cạnh tranh trong việc lựa chọn dự
án được xác định Mô hình lập luận theo tình huống (CBR) được phát triển để ước tính các rủi ro, cơ hội và mức độ cạnh tranh Các xếp hạng này được chuyển đổi thêm thành các giá trị rủi ro và biên lời bằng cách sử dụng chức năng tiện ích tuyến tính được xây dựng theo giá trị biên mà được xác định bởi các tình huống xấu nhất,
Trang 28Trang 15
trung bình, và tốt nhất Ứng dụng của mô hình được chứng minh qua các trường hợp thực tiễn
Yongtao Tan, Liyin Shen, Weisheng Lu, Qiping Shen (2008,[12]):
“Multiple-objective bidding strategy using goal programming technique” Cung cấp một
giải pháp cho phép nhà thầu thể hiện tính cạnh tranh cao nhất của họ để đạt được nhiều mục tiêu được định nghĩa bởi Chủ đầu tư trong đấu thầu Bằng việc ứng dụng
kỹ thuật quy hoạch mục tiêu (GP), bài báo giới thiệu phương pháp định lượng để hỗ trợ nhà thầu tìm ra chiến lược cạnh tranh nhất của họ trong đấu thầu dự án xây dựng nơi mà các tiêu chí đa lựa chọn được áp dụng Mô hình chiến luợc đấu thầu tối ưu
sử dụng kỹ thuật quy hoạch mục tiêu (GP-OBS) được giới thiệu để giúp nhà thầu tạo ra một giải pháp phân chia nguồn lực tối ưu Kỹ thuật GP giúp nhà thầu tạo ra một chiến lược đấu thầu tối ưu để thể hiện tính cạnh tranh cao nhất trong việc thực thi nhiều mục tiêu dự án Giải pháp có được từ mô hình là giúp nhà thầu quyết định mức nguồn lực tối ưu được tiêu thụ khi tài nguyên giới hạn Mô hình GP-OBS cung cấp một hướng tiếp cận mới trong việc đánh giá tính cạnh tranh tổng thể của nhà thầu
C Y Yiu, C S Tam (2006,[13]) : “Rational under-pricing in bidding
strategy : a real options model” Giá dưới giá trong đấu thầu xây dựng là hiện
tượng thông thường và được giải thích bằng nhu cầu của dòng tiền và chiến lược thâm nhập Tuy nhiên, sự giải thích này liên quan đến việc cắt giảm lợi nhuận và vì vậy không đáng tin cậy trong việc giải thích đối với hiện tượng giá dưới giá trong một thời gian dài Một mô hình lựa chọn thực tế được đề xuất và sử dụng phương pháp mạng nhị thức trong đấu thầu một dự án xây dựng thực tế, được phân tích để kiểm tra làm cách nào mà sự mềm dẻo và không chắc chắn trong quản lý đưa ra giá trị lựa chọn thực sự Khi sự không chắc chắn của các khoản mục chi phí trong đấu thầu tồn tại và các lựa chọn là sẵn có để trì hoãn và chuyển đổi cách thức xây dựng, thì một sự lựa chọn giá trị sẽ sẵn có cho nhà thầu Tỷ lệ giá dưới giá là sự lựa chọn
Trang 29mà nhà thầu hài lòng trả cho sự mềm dẻo và không chắc chắn Kết quả này giúp nhà thầu cạnh tranh hơn và ước tính chi phí xây dựng chính xác hơn trong việc đưa ra chiến lược đấu thầu của họ
Photios G Ioannou, Sou-Sen Leu (1993,[14]) : “Average-Bid Method—
Competitive Bidding Strategy” Trở ngại chính của phương pháp đấu thầu giá
thấp là khả năng đạt được hợp đồng xây dựng đối với nhà thầu đệ trình một cách vô
ý hay cố ý một giá thầu thấp phi thực tế Những việc thường xảy ra gây ra tổn thất của chủ đầu tư và nhà thầu là nảy sinh bất đồng, gia tăng chi phí và trì hoãn tiến độ
Để lý giải cho vấn đề này, phương pháp mức giá thầu trung bình được sử dụng và nhà thầu đạt được hợp đồng với mức giá gần mức giá trung bình được đệ trình nhất Bài báo giới thiệu một mô hình đấu thầu cạnh tranh qua phương pháp mức giá thầu trung bình và khám phá những phẩm chất liên quan đến phương pháp giá thầu trung bình Quy trình đấu thầu được phân tích về cả mặt toán học và mô phỏng Monte Carlo Kết quả cuối cùng của mô hình được giới thiệu trên 4 đồ mà được sử dụng để phân tích tình huống cạnh tranh mà không cần bất kỳ thao tác toán học hay số học nào Một sự so sánh với 2 phương pháp được đưa ra, phương pháp đấu thầu mức giá trung bình và những biến đổi của nó có tiềm năng cải tiến thực tiễn trong hợp đồng
cả cho chủ đầu tư và nhà thầu
Griffis F H (1992,[15]): “Bidding strategy: winning over key competitors”
Đề xuất phương pháp nâng cao khả năng đạt được một hợp xây dựng cạnh tranh với các nhà thầu khác qua việc đấu thầu cạnh tranh Kỹ thuật truyền thống sử dụng biểu
đồ tỷ lệ giá bỏ thầu của nhà thầu với ước tính chi phí của nhà thầu khác Biểu đồ được tích hợp số để đem lại một chức năng đó là đưa ra cơ hội đạt được hợp đồng
Mô hình mới đòi hỏi dữ liệu của các ước tính chi phí trong quá khứ của nhà thầu, giá trị của gói thầu, kế hoạch công việc, các nhà thầu bỏ giá thấp và giá thắng thầu
Mô hình nhận được lượng công việc của nhà thầu như là yếu tố rủi ro và giải thích cho các nhà thầu và các gói thầu khác nhau khi kết hợp với mô hình tiêu chuẩn
Trang 30Trang 17
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Trong nước các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào công tác chọn thầu sau khi đấu thầu, các nghiên cứu hỗ trợ đấu thầu cho nhà thầu cũng có nhưng không nhiều Sau đây là một số nghiên cứu của các tác giả trước:
Nguyễn Quốc Tuấn, Lưu Trường Văn (Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, Trường
Đại Học Bách Khoa, Đại học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh) và PGS Lê Kiều
(Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội) [16] : “Áp dụng mô phỏng Monte-Carlo để
phân tích rủi ro chi phí của dự án xây dựng trong giai đoạn thi công” Kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhân tố tác động mạnh đến rủi ro chi phí của nhà thầu bao gồm: thời gian hoàn thành từng công tác và giá vật tư ( thép, xi măng) Bên cạnh đó thông qua mô hình tính toán dựa trên phương pháp mô phỏng Monte-Carlo với sự hổ trợ của phần mềm Crystal Ball, kết quả phân tích đã cho ta thấy được khả năng và mức độ ảnh hưởng của các biến rủi ro đến chi phí của nhà thầu Căn cứ vào kết quả trên nhà thầu còn có thể biết được xác xuất hoàn thành công trình với một giá vốn nhất định Đồng thời dựa trên kết quả trên nhà thầu còn có thể biết được xác xuất đạt được lợi nhuận mong muốn thông qua khả năng chi trả của chủ đầu tư Kết quả rất hữu ích đối với nhà thầu trong việc ra quyết định đấu thầu
Nguyễn Thái Quài, 2007 [17] : “Nghiên cứu và ứng dụng logic mờ trong
công tác chọn thầu xây dựng” Nghiên cứu quy trình đấu thầu ở Việt Nam hiện
hành, tìm hiểu lý thuyết fuzzy logic để áp dụng lý thuyết fuzzy logic trong công tác chọn thầu xây dựng theo nhiều tiêu chuẩn đánh giá với trọng số đánh giá của mỗi tiêu chuẩn được xét trên toàn cục và các ý kiến đánh giá thầu của các cán bộ tham gia đánh giá thầu cũng như các ý kiến đánh giá tiêu chuẩn của các chuyên gia được thể hiện ở trạng thái thực hơn theo biến ngôn ngữ, số mờ và thang lựa chọn mờ trong lý thuyết mờ Kết quả nghiên cứu sẽ là phần mềm chuyên gia chọn thầu xây dựng mà trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu không cần phải có mặt các chuyên gia
Trang 31Nguyễn Ngọc Cẩm, 2006 [18] : “Phân tích tình hình đấu thầu ở Việt Nam -
nghiên cứu ứng dụng Internet-based hỗ trợ công tác đấu thầu” Nghiên cứu về
công tác đấu thầu ở Việt Nam Phân tích tình hình đấu thầu, tìm hiểu những hạn chế của công tác đấu thầu, đề ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý đấu thầu Ý tưởng của nghiên cứu là kết hợp các kênh thông tin về đấu thầu với thương mại điện
tử Truyền tải các thủ tục đấu thầu hiện hành thành một thủ tục đấu thầu trực tuyến Phát triển các kênh thông tin đấu thầu thành hình thức đấu thầu trực tuyến chúng ta
sẽ vận dụng được các ưu điểm của thương mại điện tử như đã nêu trên, bên cạnh đó cũng khắc phục được một số hạn chế của hoạt động đấu thầu hiện hành như tăng tính cạnh tranh, công bằng, giảm thời gian và chi phí
Nguyễn Trung Hưng, 2008 [19] : “Ứng dụng mô hình AHP (Analytic
Hierarchy Process) để lựa chọn nhà thầu phụ trong điều kiện Việt Nam” Lựa
chọn nhà thầu phụ là một trong những khía cạnh quan trọng nhất trong việc thực hiện hợp đồng xây dựng Mức độ thành công của dự án phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của nhà thầu phụ Nhân tố chính của quá trình lực chọn nhà thầu được chú trọng vào yếu tố chi phí hơn là sự thống nhất của chúng với các nhân tố khác như chất lượng, an toàn và môi trường trong ngành xây dựng Tuy nhiên, chính những nhân tố này có thể gây ra những nguyên nhân trì hoãn tiến độ của dự án, vượt chi phí, không kiểm soát được chất lượng… Liên quan đến những vấn đề này, quá trình phân loại và lựa chọn phải được xem xét một cách tổng thể với nhiều tiêu chuẩn lựa chọn để đạt mục tiêu của dự án dựa trên quá trình ra quyết định đa tiêu chuẩn Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các tiêu chuẩn và xây dựng mô hình dùng cho quá trình lựa chọn nhà thầu phụ mà được lấy ra bởi các dự án xây dựng khác nhau ở Việt Nam Nghiên cứu này liên quan đến “sự thu nhận kiến thức” để có thể nắm bắt những kiến thức từ tổng quan đến những tài liệu thực tế, và được tham khảo ý kiến của các chuyên gia của các công ty xây dựng khác nhau Những dữ liệu được thu thập để sử dụng tạo ra lý thuyết mô hình lựa chọn nhà thầu phụ dựa trên AHP Từ
đó đưa ra kết luận việc lựa chọn nhà thầu phụ nên được xem xét dựa trên quyết định
đa tiêu chuẩn hơn là sự chấp thuận theo một thói quen là chọn giá thầu thấp nhất
Trang 32Trang 19
Kết quả của nghiên cứu này chi ra rằng, các nhân tố thường được xem xét trong quá trình chọn thầu là chi phí, hiệu quả hoạt động, tài chính, chuyên nghiệp kỹ thuật, khả năng quản lý, khối lượng công việc nhà thầu phụ, kinh nghiệm trước đây và thành tích Kết quả cũng cho thấy một hệ thống hỗ trợ quyết định hiệu quả như mô hình AHP là quan trọng để ước lượng có hệ thống quá trình lựa chọn
Nguyễn Tấn Thành, 2008 [20] : “Nghiên cứu và xác định tài chính tối thiểu
của nhà thầu xây dựng trong giai đoạn thực hiện dự án” Nhu cầu dự đoán dòng
ngân lưu của quá trình thi công là vấn đề rất cần thiết và hữu ích đối với mọi nhà thầu để đưa ra mức vốn phù hợp cho việc hoàn thành dự án mà giảm thiểu các tác động tiêu cực mắc phải hiện nay việc nhà thầu không chủ động được nguồn vốn cho thi công dự án là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm trễ và thất bại của rất nhiều dự án với nhiều lý do chủ quan và khách quan Tại Việt Nam, hầu như vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào để tìm hiểu vấn đề này thật quy mô trong các doanh nghiệp, và các quyết định pháp luật về nguồn vốn lưu động của nhà thầu trong quá trình đấu thầu vẫn chưa được chú trọng, cụ thể Do đó đề xuất một
bộ khung công việc để phân tích và quản lý vốn lưu động tối thiểu cho các dự án xây dựng là một vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay Do đó bài viết này đã thiết lập được kết quả vốn lưu động tối thiểu của nhà thầu trong quá trình thực hiện dự án thông qua từ các nhân tố liên quan đến quá trình thực hiện dự án Bài báo trình bày một phương pháp khá đơn giản để phân tích rủi ro về mặt chi phí của nhà thầu trong và sau giai đoạn thi công với công vụ hỗ trợ là phần mềm thống
kê SPSS Mô cuộc khảo sát bằng phỏng vấn trực tiếp và bảng câu hỏi được thực hiện với các kỹ sư chuyên gia trong ngành xây dựng nhằm nhận dạng các nhân tố chính tác động đến vốn lưu động tối thiểu cho nhà thầu Trên cơ sở đó, một mô hình tác động đã được thiết lập nhằm xác định vốn lưu động tối thiểu cho nhà thầu
Nguyễn Đăng Thanh, 2008 [21] : “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định
dự thầu hay không dự thầu và ứng dụng định lượng Analytic Hierarchy Process để xây dựng mô hình ra quyết định” Ngành xây dựng được nhận xét
như “một ngành kinh doanh hấp dẫn nhưng nhiều rủi ro, đòi hỏi các bên tham gia
Trang 33phải nỗ lực và quyết tâm cao” Đặc biết đối với nhà thầu xây dựng, sự rủi ro có thể
là cao nhất trong số các bên tham gia dự án Xét ở khía cạnh đấu thầu dự án, khi có
cơ hội thì quyết định có tham gia đấu thầu hay không? Đấu thầu không thành công tương đương với một chi phí bỏ ra đáng kể Vấn đề còn nghiêm trong hơn là khi dự thầu và thắng thầu mà không dựa trên một nền tảng lý luận hợp lý se dẫn đến nhiều khó khăn khiến nhà thầu không thể hoàn thành hợp đồng, gặp rắc rối về vấn đề tài chính, chất lượng công trình, tiến độ hoàn thành… Vì vậy, cho thấy sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu đánh giá tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đấu thầu Xác định được các yếu tố ảnh hưởng này cũng như việc chọn lựa mô hình ra quyết định phù hợp đối với nhà thầu sẽ đảm bảo cơ sở vững chắc hơn cho việc ra quyết định về khả năng dự thầu hay không
Vũ Hoàng Phi Long, 2008 [22] : “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân
tích thành phần chủ yếu (Principal Component Analysis Method) để chọn thầu xây lắp” Trong lĩnh vực xây dựng, lựa chọn thầu xây lắp luôn là một công việc
khó khăn của nhà quản lý dự án Sự thành công hay thất bại của một dự án phụ thuộc rất nhiều vào các nhà thầu thực hiện dự án Họ chính lá những người trực tiếp làm ra sản phẩm và vì vậy việc chọn ra những nhà thầu tốt nhất để thực hiện dự án luôn là một công việc tốt nhất khi thực hiện dự án Để chọn ra được nhà thầu đủ năng lực các nhà khoa học đã nghiên cứu rất nhiều các phương pháp cũng như các tiêu chí đánh giá Và vấn đề về giá không còn là vấn đề quan trọng nhất để quyết định chọn nhà thầu Tuy nhiên việc giải quyết bài toán này lại là một công việc hết sức khó khăn Tác giả giới thiệu phương pháp phân tích thành phần chủ yếu PCA để giải quyết vấn đề giải quyết bài toán chọn thầu với nhiều tiêu chí đánh giá
Trang 34Lôgic mờ (tiếng Anh: Fuzzy logic) được phát triển từ lý thuyết tập mờ để thực hiện lập luận một cách xấp xỉ thay vì lập luận chính xác theo lôgic vị từ cổ điển Lôgic mờ có thể được coi là mặt ứng dụng của lý thuyết tập mờ để xử lý các giá trị trong thế giới thực cho các bài toán phức tạp (Klir 1997) Lôgic mờ cho phép độ liên thuộc có giá trị trong khoảng đóng 0 và 1, và ở hình thức ngôn từ, các khái niệm không chính xác như "hơi hơi", "gần như", "khá là" và "rất" Cụ thể, nó cho phép quan hệ thành viên không đầy đủ giữa thành viên và tập hợp Tính chất này có liên quan đến tập mờ và lý thuyết xác suất Lôgic mờ đã được đưa ra lần đầu vào năm 1965 bởi GS Lotfi Zadeh tại Đại học California, Berkeley [http://vi.wikipedia.org/wiki/Lôgic_mờ]
3.1.1 Khái niệm tập mờ (Fuzzy set)
Cho F là một tập hợp trong không gian U, và x các phần tử của U F được gọi
là tập mờ trong U nếu F được định nghĩa bằng hàm thuộc µF(x) của nó sao cho
µF(x) có thể nhận bất kỳ giá trị nào trong khoảng [0.1]
F : tập hợp được xác định trên tập kinh điển X mà mỗi phần tử x∈ X qua ánh xạ µF
Trang 35f) e)
d)
c) b)
1
µxx
µ
x
0
1 1
30
x L
x S
10
1
µ
Hình 3.2 : Mô tả biến ngôn ngữ bằng tập mờ
Giả sử biến chi phí dự án xây dựng được mô tả bằng ba biến ngôn ngữ ( tập mờ) :
Sx, Mx, Lx .(Xem hình 3.2)
Mờ hoá là quá trình xác định giá trị của biến theo các biến ngôn ngữ của biến Trong ví dụ trên, giá trị của dự án 45 tỷ được mờ hoá thể hiện qua ba biến ngôn ngữ :
)(
)(454545
X L
X M
X S
µµ
750
250
Trang 36Trang 23
Các phép toán trên tập mờ :
Những phép toán cơ bản trên tập mờ là phép hợp, phép giao và phép bù Tương tự như định nghĩa về tập mờ các phép toán trên tập mờ cũng được định nghĩa thông qua các hàm thuộc, được xây dựng tương tự như các hàm thuộc của các phép toán giao, hợp và bù giữa hai tập hợp kinh điển Nói cách khác, khái niệm xây dựng các phép toán trên tập mờ được hiểu là việc xác định các hàm thuộc cho các phép hợp, giao và bù trừ những tập mờ
Phép hội hai tập mờ
Phép hội hai tập mờ A và B có cùng tập nền X là một tập mờ A∪B cũng được xác định trên tập nền X có hàm thuộc thoả mãn :
• µA∪B (x) chỉ phụ thuộc vào µA (x) và µB (x)
• µB (x) = 0 với mọi x ⇒ µA∪B (x) = µA (x)
• µA∪B (x) =µB∪A (x)
• µ(A∪B)∪C (x) =µA∪(B∪C) (x)
• Nếu A1 ⊆ A2 thì A1∪B ⊆ A2∪B, hay µA∪B (x) có tính không giảm : µA1 (x) ≤
µA2 (x) ⇒ µA1∪B (x) ≤ µA2∪B (x)
Hai luật thường được sử dụng để xác định µA∪B (x) :
• Luật max : µA∪B (x) = max{µA (x), µB (x)}
• Luật sum : µA∪B (x) = min{1,µA (x)+ µB (x)}
Phép giao hai tập mờ
Phép giao hai tập mờ A và B có cùng tập nền X là một tập mờ A∩B được xác định trên tập nền X có hàm thuộc thoả mãn :
• µA∩B (x) chỉ phụ thuộc vào µA (x) và µB (x)
• µB (x) = 0 với mọi x ⇒ µA∩B (x) = µA (x)
• µA∩B (x) =µB∩A (x)
• µ(A∩B) ∩C (x) =µA∩ (B∩C) (x)
Trang 37• Nếu A1 ⊆ A2 thì A1∩B ⊆ A2∩B, hay µA∩B (x) có tính không giảm : µA1 (x) ≤
µA2 (x) ⇒ µA1∩B (x) ≤ µA2∩B (x)
Hai luật thường được sử dụng để xác định µA∩B (x) :
• Luật min : µA∩B (x) = min{µA (x), µB (x)}
• Luật prod : µA∩B (x) = µA (x).µB (x)
Phép bù một tập mờ
Phép bù một tập mờ A có tập nền X là một tập mờ Ac cũng được xác định trên tập nền X có hàm thuộc thoả mãn :
• µAc(x) chỉ phụ thuộc vào µA (x)
• Nếu x∈A thì x∉Ac, hay µA (x) = 1 ⇒ µAc(x) = 0
• Nếu x∉A thì x∈Ac, hay µA (x) = 0 ⇒ µAc(x) = 1
• Nếu A ⊆ B thì AC ⊆ Bc, hay µA (x) ≤ µB (x) ⇒ µAc(x)≥ µBc(x)
Do hàm thuộc µAc(x) chỉ phụ thuộc vào µA (x) nên ta có thể xem µAc(x) là một hàm của µA (x) ∈ [0,1] Phép bù mờ của một tập mờ A là phép bù có tập mờ Ac với hàm thuộc : µAc(x) = 1- µA (x)
3.1.2 Luật hợp thành mờ
Khái niệm mệnh đề hợp thành mờ
Mệnh đề hợp thành mờ là mệnh đề dạng Nếu A Thì B (A ⇒ B) : Nghĩa là
với giá trị đầu vào xo thoả mãn mệnh đề thì sẽ xác định được giá trị mờ đầu ra của
yo Mệnh đề hợp thành mờ là phép suy diễn được xây dựng trên cơ sở tri thức của người thực hiện chương trình
Phép suy diễn mờ
Giá trị của mệnh đề hợp thành mờ là một tập mờ B’ định nghĩa trên nền Y (không gian nền của B) và có hàm thuộc :
Trang 39µ
y x
µ
µtăng(y) (x)
µ
µtăng(y) (x)
chậm
µ
Hình 3.3 : a Hàm thuộc mchậm(x) và mtăng(y)
b mB’(y) xác định theo quy tắc hợp thành Min
c mB’(y) xác định theo quy tắc hợp thành Prod
Luật hợp thành mờ
Luật hợp thành mờ là tập hợp của một hay nhiều mệnh đề hợp thành mờ Một luật hợp thành chỉ cĩ một mệnh đề hợp thành được gọi là luật hợp thành đơn Ngược lại, nếu luật hợp thành cĩ hơn nhiều hơn một mệnh đề hợp thành được gọi là luật hợp thành kép Phần lớn các hệ mờ trong thực tế điều cĩ mơ hình xây dựng từ các luật hợp thành kép
Trang 400.5 0.7 0.9
0.5
µtaêng(y)(x)
Ứng với giá trị (x,y) thì giá trị µR(x,y) được xác định :
µR(x,y) = µA(x) µB(y )
B'
(y) taêng
y 0.9
0.7 0.5
0.5
Hình 3.5 : Xây dựng R theo quy tắc max - Prod
Thuật toán thực hiện luật hợp thành có câu trúc MISO
Xét luật hợp thành MISO chỉ có một mệnh đề hợp thành
R1 : Nếu X1 = A1 và X2 = A2 và … và Xn = An Thì Y = B Bao gồm n biến ngôn ngữ đầu vào và một biến đầu ra Luật hợp thành được xây dựng như sau :
Rời rạc hóa miền xác định hàm thuộc µA1(x1), µA2(x2), …, µAn(xn), µB(y) của các mệnh đề điều kiện và mệnh đề kết luận