1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng gis và mô hình swat đánh giá tài nguyên đất và nước tại thượng nguồn lưu vực sông srepok tỉnh đăk lăk

153 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 8,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HUỲNH THỊ THANH HẠNHỨNG DỤNG GIS VÀ MÔ HÌNH SWAT ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ NƯỚC TẠI THƯỢNG NGUỒN LƯU VỰC SÔNG SRÊPOK TỈNH ĐẮK LẮK LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên Ngành: Bản đồ, Viễn Thám và

Trang 1

HUỲNH THỊ THANH HẠNH

ỨNG DỤNG GIS VÀ MÔ HÌNH SWAT ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ NƯỚC TẠI THƯỢNG NGUỒN LƯU VỰC SÔNG

SRÊPOK TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên Ngành: Bản đồ, Viễn Thám và Hệ Thống Thông Tin Địa Lý

Mã ngành: 604476

Trang 2

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Bản đồ, Viễn thám và Hệ thống thông tin địa lý

MSHV : 01006236

I TÊN ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG GIS VÀ MÔ HÌNH SWAT ĐÁNH GIÁ TÀI

NGUYÊN ĐẤT VÀ NƯỚC TẠI THƯỢNG NGUỒN LƯU VỰC SRÊPOK TỈNH ĐẮK LẮK

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

………

………

………

………

………

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 22/06/2009 IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 02/7/2010 V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN KIM LỢI CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CN BỘ MÔN QL CHUYÊN NGÀNH TS NGUYỄN KIM LỢI

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội đồng chuyên ngành thông qua

Trang 3

Trong quá trình hoàn thành đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể

Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo

Bộ môn Địa Tin học thuộc Khoa Xây dựng của Trường Đại học Bách Khoa TP Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức chuyên môn trong suốt quá trình học tập tại trường

Tôi cũng xin cám ơn đến các Thầy, Cô giáo Bộ môn Công nghệ Thông tin địa

lý của Trường Đại học Nông Lâm TP HCM đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài

Đặc biệt tôi xin tri ân và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Kim Lợi - người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cám ơn NCS Thạc Sỹ Phạm Tấn Hà - Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lăk Các anh chị của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đak Lak, Trung tâm Tư liệu Khí tượng Thủy văn quốc gia, Đài Khí tượng thuỷ văn khu vực Tây Nguyên, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tài liệu

Cuối cùng, xin chân thành cám ơn tới những người thân yêu trong gia đình, đặc biệt là người bạn đời đồng hành với tôi Tất cả bạn bè, đồng nghiệp Trường Cao đẳng Tài Nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh đã cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Trong thời gian thực hiện luận văn, tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự bổ sung và thông cảm của các thầy cô và bạn bè

Xin trân trọng cảm ơn!

TP HCM, tháng 7 năm 2010

Trang 4

Số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và

Chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Huỳnh Thị Thanh Hạnh

Trang 5

tỉnh Đăk Lak Đây là vùng đất cao có địa hình từ 400m đến 2400m, với diện tích 171672,8ha Vùng nghiên cứu với đặc điểm có những sườn dốc nhẹ thoải đến rất cao

và những thung lũng nhỏ Hầu hết đất trong khu vực nghiên cứu là vùng đất dốc, nhiều nơi có hiện tượng xói mòn mạnh, đặc biệt là những nơi có đồi núi cao với độ dốc lớn

Mô hình SWAT (The Soil and Water Assessment Tool) được ứng dụng rộng rãi trong mô hình thủy văn lưu vực và mô phỏng sự chuyển động của các điểm ô nhiễm Đây là mô hình vật lý thủy văn kết hợp với GIS để dự đoán tác động của những hoạt động quản lý đất đai trên mặt nước, sự bồi lắng và lượng hóa chất sinh ra từ hoạt động nông nghiệp trên những lưu vực rộng lớn và phức tạp trong khoảng thời gian dài Quá trình thủy văn chia làm 2 pha, pha đất kiểm soát lượng nước lượng bồi lắng và chất dinh dưỡng trong nước và pha nước được mô phỏng sự di chuyển trong mạng lưới sông SWAT được mong đợi cung cấp thông tin hữu ích trong thời gian dài như giờ, ngày, tháng,

Trong những năm gần đây, tài nguyên đất và nước đe dọa cuộc sống của người dân địa phương và tính bền vững của toàn bộ hệ sinh thái vùng đầu nguồn ở Việt Nam Hàng ngày có nhiều nguồn tài nguyên nước bị ô nhiễm và đất bị mất do sự suy thoái rừng hoặc thay đổi sử dụng đất Nghiên cứu này nhằm đánh giá các nhân tố góp phần làm xói mòn đất, lưu lượng dòng chảy tại lưu vực nam sông Krong Ana bằng cách sử dụng nhân tố sử dụng đất như trường hợp nghiên cứu Điều này đặc biệt quan trọng trong lưu vực thượng nguồn sông Srêpok nơi đất bị xói mòn cao và sự chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp đang trong tình trạng nghiêm trọng Nghiên cứu này cũng

đề cập đến làm thế nào mất đất và dòng chảy bề mặt bị ảnh hưởng khi sử dụng đất trong lưu vực bị thay đổi Mô hình SWAT được ứng dụng để đánh giá hiệu quả các dữ liệu đầu vào chính của SWAT (sử dụng đất, đất, hoạt động con người) để mất đất và dòng chảy bề mặt trong thượng nguồn lưu vực sông Srêpok

Trang 6

Daklak province, Vietnam This is an highland area with elevation varies from 400 to 2,400 m The region occupies an area of approximately 171672,8ha The study area is characterized by a range of hills with gentle to relatively high slopes and small valleys Most of the land area in the Southern Krong Ana watershed is slopping land In many locations, there is high risk of erosion; particularly on land locates in hill sides with high slopes

SWAT has been widely applied for modeling watershed hydrology and simulating the movement of non-point source pollution The SWAT is a physically to predict the impact of land management practices on water, sediment, and agricultural chemical yields in large complex basins with varying soil type, land use and management conditions over long periods of time The hydrological processes are divided into two phases, the land phase, which control amount of water, sediment and nutrient loading in receiving waters, and the water routing phase which simulates movement through the channel network The SWAT is expected to provide useful information across a range of timescales, i.e hourly, daily, monthly, …

During recent years, emerging water and soil problems threaten the livelihood

of local people and the sustainability of the whole watershed ecosystems in Vietnam Day by day there are a lot of water resources is polluted and soil is lost because of degradation of forest or land use change This study is aimed at assessing factors contributing to soil erosion, water discharge using land use factors in the Southern Krong Ana watershed as case study It is especially important in the upstream Srepok watershed where the soil is highly erodible and forest conversion for agricultural cropping is in serious condition This study was also focused on how soil loss and surface water was impacted when land use in the watershed resource is changed The SWAT model was applied to evaluate the effect of main input data of SWAT (land use,

Trang 7

PHẦN: MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Phạm vi và phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp của đề tài 3

PHẦN I: TỔNG QUAN 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Các nghiên cứu về đất 4

1.1.1 Các nghiên cứu về đất trên thế giới 4

1.1.2 Các nghiên cứu về đất ở Việt Nam 5

1.2 Các nghiên cứu về GIS và mô hình SWAT 6

1.2.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới 6

1.2.2 Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.3 Kết luận chương 1 8

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LƯU VỰC NAM SÔNG KRÔNG ANA 10

2.1 Điều kiện tự nhiên 10

2.1.1 Vị trí địa lý 10

2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo, độ dốc 11

2.1.3 Tài nguyên đất 15

2.1.4 Đặc điểm thảm thực phủ 18

2.1.5 Khí hậu 23

2.1.6 Chế độ thủy văn 27

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

2.2.1 Điều kiện xã hội 32

Trang 8

3.1.1 Khái niệm về GIS 39

3.1.2 Các thành phần của GIS 39

3.1.3 Nhiệm vụ của GIS 40

3.1.4 Cơ sở dữ liệu của GIS 40

3.2 Cơ sở lý thuyết mô hình SWAT 44

3.2.1 Một số khái niệm trong mô hình SWAT 44

3.2.2 Mô hình SWAT 46

3.3 Sự xói mòn và sự thay đổi kiểu sử dụng đất 55

3.3.1 Sự xói mòn đất 56

3.3.2 Sự thay đổi kiểu sử dụng đất 63

3.4 Kết luận chương 3 63

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 65

4.1 Nguồn tài liệu nghiên cứu 65

4.1.1 Công cụ phần mền 65

4.1.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu 65

4.2 Phương pháp nghiên cứu 66

4.2.1 Phương pháp xác định sự thay đổi các kiểu sử dụng đất 67

4.2.2 Phương pháp mô hình SWAT 71

4.2.3 Yêu cầu về cấu trúc file dữ liệu đầu vào và đầu ra của SWAT 73

4.2.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường trong mô hình SWAT 76 4 3 Kết luận chương 4 86

PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 87

CHƯƠNG 5: XÁC ĐỊNH BỘ THÔNG SỐ CỦA MÔ HÌNH SWAT CHO LƯU VỰC NAM SÔNG KRONG ANA 87

Trang 9

vực nghiên cứu 100

5.2.1 Đánh giá ảnh hưởng của sự thay đổi sử dụng đất giai đoạn 1995 -2005 100

5.2.2 Dự đoán sự thay đổi các loại hình sử dụng đất trong tương lai 103

5.3 Kết luận chương 5 104

CHƯƠNG 6:ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SWAT CHO LƯU VỰC NAM SÔNG KRONG ANA VÀ KIẾN NGHỊ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ 105

6.1 Ứng dụng mô hình SWAT cho lưu vực Nam sông Krong Ana 105

6.1.1 Kết quả lưu lượng dòng chảy và lượng xói mòn của mô hình SWAT 106

6.1.2 Đánh giá kết quả mô hình SWAT trong lưu vực nghiên cứu 109

6.2 Biện pháp quản lý lưu vực 111

6.2.1 Thực trạng sử dụng tài nguyên đất - nước trên lưu vực 111

6.2.2 Nguyên nhân và dự báo quá trình suy thoái tài nguyên đất - nước 113

6.2.3 Giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên đất - nước lưu vực 115

6.3 Kết luận chương 6 118

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 119

1 Kết luận 119

2 Kiến nghị 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Từ đầy đủ

GIS Geographic Information System

(Hệ thống thông tin địa lý)

SWAT Soil and Water Assessment Tool

(Mô hình đánh giá đất và nước)

FAO Food Agriculture Organization

(Tổ chức lương nông thế giới)

DEM Digital Elevation Model

(Mô hình độ cao số)

USDA United States Department of Agriculture

(Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ)

ARS Agricultural Research Service

(Trung tâm phục vụ nghiên cứu nông nghiệp)

HRU Hydrologic Response Unit

(Đơn Vị Thủy Văn)

USLE Universai Soil Loss Equation

(Phương trình mất đất phổ dụng )

LV Lưu vực

DT Diện tích

RGHC Ranh giới hành chính

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Diện tích hành chính của các huyện nằm trong lưu vực nghiên cứu 10

Bảng 2.2: Độ dốc trong lưu vực nghiên cứu 13

Bảng 2.3 : Tài nguyên đất khu vực nghiên cứu 15

Bảng 2.4 : Biến động đất đai trong giai đoạn 2005 -2008 23

Bảng 2.5 : Nhiệt độ trung bình tháng các trạm trong lưu vực 24

Bảng 2.6: Tổng lượng bốc hơi tháng trung bình nhiều năm các trạm 25

Bảng 2.7: Số giờ nắng trung bình nhiều năm các trạm trong lưu vực 25

Bảng 2.8: Lượng mưa tháng trung bình nhiều năm các trạm trong lưu vực 26

Bảng 2.9: Mạng lưới sông ngòi của một số nhánh lớn 28

Bảng 2.10: Các công trình thủy lợi trong khu vực nghiên cứu 29

Bảng 2.11: Mạng lưới trạm thủy văn trong vùng và phụ cận 30

Bảng 2.12: Mạng lưới trạm khí tượng và đo mưa trong vùng và vùng lân cận 31

Bảng 2.13: Dân số, dân tộc trong vùng nghiên cứu 33

Bảng 2.14: Số trường học, giáo viên, học sinh của các huyện 36

Bảng 2.15: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khu vực nghiên cứu qua các năm 36

Bảng 2.16: Sản lượng nông nghiệp trong vùng nghiên cứu qua các năm 37

Bảng 3.1: Phân loại tính xói mòn đất của đất theo thành phần cấp hạt của đất 60

Bảng 3.2: Giá trị tính xói mòn của đất (hệ số K) cho một số loại đất 61

Bảng 3.3: Bảng tra hệ số canh tác 62

Bảng 4.1: Các lọai dữ liệu thu thập nghiên cứu 65

Bảng 4.2: Ma trận về thay đổi các kiểu sử dụng đất 70

Bảng 4.3: Dữ liệu đầu vào sử dụng trong SWAT 73

Bảng 4.4: Thông số đầu vào của đất trong mô hình SWAT 77

Bảng 4.5: Bảng ký hiệu nhóm thủy văn đất 78

Bảng 4.6: Bảng kí hiệu kết cấu đất 79

Trang 12

Bảng 5.1 : Tài nguyên đất phân theo đơn vị đất đai lưu vực nghiên cứu 89

Bảng 5.2: Toạ độ các trạm khí tượng 92

Bảng 5.3: Tọa độ các trạm quan trắc thủy văn 93

Bảng 5.5 : Các loại đất trong khu vực nghiên cứu 94

Bảng 5.6 : Các thông số vật lý và hóa học của dũ liệu đất 95

Bảng 5.7 : Tổng hợp 4 thông số: Hydgrp, AWC, Ksat, USLE_K 96

Bảng 5.8 : Các hình thức sử dụng đất trong lưu vực nghiên cứu 97

Bảng 5.9 : Các mã hình thức sử dụng đất trong SWAT 97

Bảng 5.10: Ma trận về thay đổi sử dụng đất (ha) giai đoạn 1995-2005 100

Bảng 5.11: Ma trận về xác suất thay đổi các kiểu sử dụng đất giai đoạn 1995 -2005 101

Bảng 5.12: Sự thay đổi của loại sử dụng đất giai đoạn 1995 -2005 103

Bảng 5.13: Sự thay đổi diện tích của các loại hình sử dụng đất trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2015 104

Bảng 6.1: Đặc trưng hình thái của các tiểu lưu vực trong vùng nghiên cứu 106

Bảng 6.2: Kết quả tổng hợp của lượng nước mặt và bồi lắng của toàn lưu vực 107

Bảng 6.3: Kết quả tính toán lượng bùn cát trên các tiểu lưu vực năm 2005 đến 2008 110

Bảng 6.4: Đặc trưng lưu lượng dòng chảy với trạng thái rừng năm 2005, 2008 111

Bảng 6.5: Phân loại tính bền vững của đất theo thời gian 115

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1: Bản đồ hành chính trong lưu vực nghiên cứu 11

Hình 2.2: Bản đồ địa hình của khu vực nghiên cứu 13

Hình 2.3: Bản đồ độ dốc của khu vực nghiên cứu 14

Hình 2.4 : Bản đồ tài nguyên đất lưu vực nghiên cứu 18

Hình 2.5: Bản đồ hiện trạng sử dụngđất năm 2005 của lưu vực nghiên cứu 19

Hình 3.1: Các thành phần của GIS 39

Hình 3.2: Chồng lớp các mô hình vector và raster 40

Hình 3.3: Số liệu vector được biểu thị dưới dạng điểm 41

Hình 3.4: Số liệu vector được biểu thị dưới dạng đường 41

Hình 3.5: Số liệu vector được biểu thị dưới dạng vùng 42

Hình 3.6: Mô hình raster mô tả bản đồ 43

Hình 3.7: Chu trình nước trong pha đất 47

Hình 3.8 : Sơ đồ thuật toán của SWAT cho chu trình nước trong pha đất 49

Hình 3.9 : Chu kỳ Nitơ được sử dụng trong SWAT 52

Hình 3.10: Chu kỳ Photpho được sử dụng trong SWAT 53

Hình 3.11: Quá trình vận chuyển thuốc trừ sâu trong SWAT 54

Hình 3.12: Chu trình nước trong hệ thống sông ngòi 54

Hình 4.1: Sơ đồ nội dung phương pháp nghiên cứu đề tài 66

Hình 4.2: Sơ đồ phương pháp luận để đánh giá đất và chất lượng nước 72

Hình 4.3: Sơ đồ quy trình xây dựng bản đồ DEM 76

Hình 4.4: Phân loại thành phần cơ giới theo tam giác đều 80

Hình 4.5: Sơ đồ 3 pha 81

Hình 4.6 : Sơ đồ quy trình xử lý dữ liệu đất 83

Hình 4.7: Sơ đồ cấu trúc file dữ liệu thời tiết lưu vực nghiên cứu 85

Hình 5.1: Bản đồ mô hình số độ cao(DEM) lưu vực nghiên cứu 88

Trang 14

Hình 5.3 : Bản đồ sử dụng đất trên lưu vực nghiên cứu năm 1995 90

Hình 5.4 : Bản đồ hiện trạng sử dụng đất trên lưu vực nghiên cứu năm 2005 91

Hình 5.5 : Bản đồ mạng lưới trạm thủy văn trên khu vực nghiên cứu 92

Hình 5.6 : Bản đồ mạng sông và trạm đo thuỷ văn trên lưu vực nghiên cứu 93

Hình 5.7 : Cấu trúc bảng userwgn trong database của SWAT 98

Hình 5.8 : Cấu trúc file wgnstations trong SWAT 98

Hình 5.9 : Cấu trúc file pcpfork trong SWAT 98

Hình 5.10: Cấu trúc file dữ liệu mưa theo ngày tại trạm Giang Sơn 99

Hình 5.11 : Cấu trúc file tmpfork trong SWAT 99

Hình 5.12 : Cấu trúc file dữ liệu nhiệt độ theo ngày tại trạm Giang Sơn 99

Hình 5.13: Sơ đồ chuyển đổi giữa các loại hình sử dụng đất giai đoạn 1995 – 2005 trong lưu vực nghiên cứu 102

Hình 6.1: Bản đồ phân chia tiểu lưu vực 105

Hình 6.2: Đồ thị lượng nước mặt tại cửa ra của lưu vực nghiên cứu năm 2005 107

Hình 6.3: Đồ thị lượng nước mặt tại cửa ra của lưu vực nghiên cứu năm 2008 108

Hình 6.4: Đồ thị lượng xói mòn tại cửa ra của lưu vực nghiên cứu năm 2005 108

Hình 6.5: Đồ thị lượng xói mòn tại cửa ra của lưu vực nghiên cứu năm 2008 109

Trang 15

PHẦN MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự suy thoái lưu vực là một vấn đề đã và đang được quan tâm rất nhiều trên toàn thế giới Có nhiều nguyên nhân làm cho lưu vực bị suy thoái, trong đó việc thay đổi sử dụng đất, địa hình dốc, thảm che phủ thấp là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến lưu vực Hậu quả của sự suy thoái này là những trận lũ lụt, sạt lở đất, bồi lắng dòng chảy, môi trường bị tác động gây ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xã hội của cộng đồng người dân trong lưu vực trong cả nước

Theo kết quả quan trắc địa chất trong thời gian gần đây, nguồn nước ngầm tại một số nơi ở tỉnh Đắk Lắk liên tục tụt xuống từ 3-5 m, có nơi đến 8 m Một trong các nguyên nhân là do phá rừng mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, khai thác nước ngầm quá mức để tưới cho cây trồng gây nên tình trạng thiếu nước vào mùa khô ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của tỉnh Vì vậy, quản lý tài nguyên là nhân tố không thể thiếu nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững trong nông nghiệp, công nghiệp và các ngành dịch vụ khác trên lưu vực sông nói chung và lưu vực sông Srêpôk nói riêng

Lưu vực sông Srêpok là sông nhánh cấp I của lưu vực sông Mê Kông, có phần thượng lưu thuộc Việt Nam là 18.480km² Độ cao bình quân là 570m, mật độ lưới sông

là 0,55km/km² Sông Srêpok được hợp lưu bởi 2 chi lưu là sông Krông Ana và Krông Knô Lưu vực sông Krông Ana nằm trong vùng đầu nguồn của lưu vực Srêpôk nói riêng và sông Mê Kông nói chung, có tổng diện tích lưu vực là 3.960km², chiều dài sông chính là 215km, dòng chính chảy theo hướng Đông - Tây Đây là vùng có lợi thế

để phát triển nông lâm nghiệp Ngoài ra, nơi đây có vườn quốc gia Chư Yang Sin, do

đó từ lâu khu vực này đã được Chính quyền và người dân bảo vệ một cách nghiêm ngặt các tài nguyên thiên nhiên

Sự kết hợp giữa các yếu tố địa lý tự nhiên, địa hình bị phân cắt mạnh và lượng

Trang 16

mật độ lưới sông, suối khá dày, nguồn tài nguyên nước phong phú Tuy nhiên sự nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của tài nguyên nước nên việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước mặt và nước ngầm tại tỉnh Đắk Lắk còn nhiều hạn chế

Để có cái nhìn tổng quát hơn và quản lý có hiệu quả hơn vốn tài nguyên thiên nhiên tại đây, việc đánh giá tài nguyên và vấn đề khai thác sử dụng hiệu quả đang là vấn đề bức xúc vì những năm gần đây khi điều kiện khí hậu, thời tiết ngày càng bất thường, lũ lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên

Với sự phát triển kinh tế xã hội cùng với sự gia tăng dân số, đã đặt ra cho các nhà quản lý nhiều thách thức:

- Hiện tượng xói mòn đất xảy ra nhanh do đất rừng bị phá làm cho mật độ che phủ giảm, lũ lụt thường xuyên,

- Nhu cầu về sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp tăng lên mạnh trong tất cả các vùng ảnh hưởng đến tài nguyên nước, đáng kể là nguồn nước ngầm bị ảnh hưởng mạnh

- Các hoạt động tự phát của con người như chặt phá rừng bừa bãi; quy hoạch và

sử dụng đất nông, lâm nghiệp không hợp lý; phân bón và các chất thải bừa bãi vào lưu vực, … đã và sẽ gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng làm cho đất suy thoái và nguồn nước ngày càng bị cạn kiệt và ô nhiễm

- Sự biến đổi của khí hậu toàn cầu đang tác động mạnh đến hệ sinh thái môi trường ảnh hưởng đến đất và nguồn nước tại lưu vực

Để giải quyết những vấn đề trong việc quản lý lưu vực, việc nghiên cứu các phương pháp, công cụ tính toán có độ chính xác cao để đánh giá đất và nước tại lưu vực bằng phương pháp mô hình SWAT (Soil and Water Assessment Tool) trong quản

lý lưu vực sông những năm gần đây là điều cần thiết, đáp ứng yêu cầu phát triển của

thế giới Từ thực tiễn đó, tác giả tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng GIS và mô

hình SWAT đánh giá tài nguyên đất và nước tại thượng nguồn lưu vực sông Srêpôk tỉnh Đắk Lắk”

Trang 17

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Nhằm hỗ trợ các nhà quản lý trong việc bảo vệ tài nguyên đất và nước trên lưu vực trong tương lai và đánh giá thay đổi sử dụng đất tại thượng nguồn lưu vực sông Srêpok, tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 1995 – 2005 Mục tiêu chính của đề tài là ứng dụng mô hình SWAT đánh giá đất và nước tại thượng nguồn lưu vực sông Srêpok, tỉnh Đắk Lắk

3 PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu khu vực phía Nam lưu vực sông Krông Ana, là vùng thượng nguồn lưu vực sông Srêpok tỉnh Đắk Lắk, địa bàn chủ yếu nằm trên tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam

Trong khuôn khổ luận văn cao học, tác giả xin giới hạn nghiên cứu đề tài trong phạm vi sau:

- Trong đánh giá tài nguyên đất, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu mô hình SWAT

để đánh giá đất và nước tại lưu vực nghiên cứu Đồng thời dựa vào sự thay đổi sử dụng đất, đánh giá sự biến đổi của lưu lượng dòng chảy, xói mòn đất

- Đề tài dựa vào hiện trạng sử dụng đất năm 1995, năm 2005 để đánh giá sự thay đổi đất ảnh hưởng đến tài nguyên đất và nước

- Đề tài không xét đến sự ảnh hưởng của hoạt động khái thác tài nguyên nước trên các nhánh sông của lưu vực nghiên cứu

4 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Việc ứng dụng phần mềm GIS kết hợp với mô hình SWAT có thể ước lượng, dự báo tính toán chính xác cao các hiện tượng tự nhiên để áp dụng vào lĩnh vưc quản lý bảo tồn tài nguyên, quản lý môi trường và quản lý đất đai trên lưu vực Đây được xem

là một đóng góp của đề tài cho việc quản lý phía Nam lưu vực sông Krông Ana tỉnh Đắk Lắk nói riêng và lưu vực sông Srêpok nói chung

Trang 18

PHẦN I: TỔNG QUAN CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐẤT

Nghiên cứu về đất là một trong những công việc quan trọng trong quá trình đánh giá tài nguyên đất nói chung, đặc biệt là sự suy thoái đất, xói mòn đất Trong những thập niên gần đây, tồ chức FAO đã có những hoạt động nghiên cứu đất, tập trung trong các lĩnh vực: lập bản đồ đất, đánh giá đất đai để dự báo tiềm năng đất đai

và đề xuất quản lý và bảo vệ đất

1.1.1 Các nghiên cứu về đất trên thế giới [5]

Công tác nghiên cứu phân loại trên thế giới có thể chia làm 3 thời kỳ:

- Thời kỳ trước V.V Docuchaev (đầu thế kỷ XIX về trước)

- Thời kỳ từ V.V Docuchaev đến giữa thế kỷ XX

- Thời kỳ nửa sau thế kỷ XX đến nay

Ngày nay, trên thế giới tồn tại 2 trung tâm nghiên cứu phân loại và bản đố đất quy

mô toàn cầu:

- Trung tâm Soil Taxonomy (Mỹ): cho ra đời hệ thống phân loại Soil Taxonomy,

đưa ra phương pháp chẩn đoán định lượng tầng phát sinh và định lượng tính chất với các thuật ngữ riêng Hệ thống phân loại này dựa vào tính chất (vật lý, hóa lý rồi đến đặc tính hóa học, gắn với yêu cầu của cây trồng) có quan hệ với hình thái phẫu diện Phân loại Soil Taxonomy mang tính chuyên ngành sâu, tính hệ thống cao và hệ thống

mở, dễ dàng bổ sung những đất mới

- Trung tâm FAO/UNESCO: đã vận dụng phương pháp định lượng trong phân

loại đất của Soil Taxonomy nhưng hệ thống phân loại này mang tính chất chú dẫn và thuật ngữ mang tính hòa hợp, nhằm sử dụng chung cho toàn thế giới Bản đồ đất thế giới tỷ lệ 1/5.000.000 đã xuất bản năm 1961, nhưng bản chú giải được bổ sung nâng

Trang 19

cao cho từng thời kỳ Đây chưa phải là một bản phân loại có hệ thống chặt chẽ như Soil Taxonomy, nhưng mang tính định lượng hiện tại, dễ lĩnh hội và sử dụng

1.1.2 Các nghiên cứu về đất ở Việt Nam

Lịch sử nghiên cứu đất ở Việt Nam gắn liền với sự phát triển nông nghiệp Những nghiên cứu về tài nguyên đất đã được trình bày trong các văn bản từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX Những nghiên cứu đất từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ

XX ở Việt Nam đã được tiến hành khá bài bản, có cơ sở khoa học và mục tiêu thực tiễn Tuy nhiên cũng còn một số hạn chế nhất định trong nghiên cứu phát sinh, phân loại, đánh giá đất chưa có hệ thống và đặc biệt còn thiếu những nghiên cứu về nông hóa và phân bón

Giai đoạn 1958 -1975: Công tác nghiên cứu đất được tiến hành với quy mô lớn

trên toàn quốc, tập trung vào các vấn đề về phân loại đất và xây dựng các bản đồ đất ở quy mô vùng Một số nghiên cứu về xói mòn đất bắt đầu từ những năm 1960 với việc

đo lượng đất bị xói mòn bằng các phương pháp như: cắm cọc, hố hứng đất, rửa trôi theo chiều sâu, đã khẳng định nguy cơ lớn về xói mòn rất phổ biến trên khắp lãnh thổ đồi núi bằng các thông số thực nghiệm

Sau 1975: Cùng với việc hoàn thành bảng phân loại và bản đồ đất Việt Nam tỷ

lệ 1/1.000.000 trọng tâm nghiên cứu nhằm xây dựng các bảng phân loại phục vụ cho việc xây dựng bản đồ đất ở các tỷ lệ khác nhau nghiên cứu quy phạm điều tra đất phục

vụ phát triển trên địa bàn cả nước và thực hiện các chương trình nghiên cứu điều tra cơ bản tổng hợp cấp Nhà nước ở các vùng lãnh thổ [5] Sau đây là một số nghiên cứu về đất:

- Năm 1978, tác giả Cao Liêm và Trương Công Tín, đã dành toàn bộ tập V trong bộ sách để nghiên cứu đất vùng căn cứ địa Đông Nam Bộ

- Năm 1987, nhóm tác giả Cao Liêm, Nguyễn Phi Hùng và Phạm Quang Khánh tiến hành phân loại chi tiết đất đai của tỉnh Sông Bé theo hệ thống phân loại đất Việt Nam, đặc tính cơ bản và sự phân bố của các loại

Trang 20

- Năm 1994, nhóm tác giả Phạm Quang Khánh và Nguyễn Thế Tâm đã công bố công trình nghiên cứu về tài nguyên đất đai tỉnh Sông Bé theo hệ thống phân loại đất của FAO/UNESCO Tiếp theo, năm 1995, tác giả cũng đã công bố tài liệu ứng dụng phân loại đất của FAO/UNESCO và lấy tỉnh Đồng Nai làm ví dụ

- Năm 2003, tác giả Nguyễn Khang đã nghiên cứu hoàn thiện hệ thống phân loại đất Việt Nam để xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/50.00-1/100.000

- Năm 2005, tác giả Chu Khắc Thịnh nghiên cứu xây dựng quy trình hướng dẫn lập bản đồ xói mòn và suy thoái đất, kết quả là xây dựng quy trình hướng dẫn lập bản

đồ xói mòn tỷ lệ 1/100.000

Ngoài ra, một số quá trình điển hình về đất của vùng Đông Nam Bộ cũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, quan trọng nhất là hiện tượng Laterte hóa (tác giả Lê Huy Bá), hiện tượng xói mòn đất (tác giả Hà Quang Hải, Trần Tuấn Tú), hiện tượng xói mòn đất lưu vực Darmo, tỉnh Bình Phước (tác giả Thái Lê Nguyên, Hà Quang Hải, )

Một số nghiên cứu về dòng chảy và xói mòn dưới các hình thức sử dụng đất cũng được tiến hành (Bùi Ngạch và cs, 1984; Thái phiên và Trần Đức Toàn, 1998; Hoàng Niêm 1994; Phạm Thị Hương Lan, 2003) nhưng mới dừng lại ở các ô nghiên cứu thực nghiệm trên phạm vi hẹp

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIS VÀ MÔ HÌNH SWAT

1.2.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới

* Về GIS: Hệ thống thông tin địa lý đầu tiên trên thế giới được xây dựng vào

đầu những năm 60 của thế kỷ XX tại Canada với tên gọi CGIS (Canadian Geographic Infomational System) Đến nay GIS đã phát triển hòan chỉnh với khả năng thu thập, lưu trữ, truy cập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin cần thiết để hổ trợ lập quyết định trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực đánh giá tài nguyên đất

Trong những năm 70, GIS được ứng dụng rộng rãi trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tại Bắc Mỹ Hệ thống thông tin tài nguyên Úc Châu

Trang 21

(ARIS): ứng dụng GIS nhằm hỗ trợ cho việc quyết định các vấn đề sử dụng tài nguyên, trong đó có tài nguyên đất

- Năm 1991, các nước thuộc phía Nam của cộng đồng Châu Âu: Nghiên cứu đánh giá hiểm hoạ xói mòn và chất lượng đất Dựa trên 5 tập hợp dữ liệu: đất, khí hậu,

độ dốc, thực vật và thuỷ lợi

- Ngoài ra, GIS cũng được ứng dụng rất hiệu quả trong nghiên cứu tài nguyên đất đai của nhiều quốc gia: Nepal ( Madan P Pariyar và Gajendra Singh, 1994), Jordan (Madan P Pariyar và Gajendra Singh, 1994), Tây Ban Nha ( Navas A và Machin J, 1997), Phillipines (Badibas, 1998),

* Về SWAT: Mô hình SWAT (Soil and Water Assessement Tools) được ứng

dụng trong các nghiên về quản lý lưu vực ở rất nhiều quốc gia: Điều tra các hiệu ứng thủy văn của các thay đổi sử dụng đất tại lưu vực sông Pinios ở Thessaly (Pikounis M., Varanou E., 2003); Kiểm định và đánh giá thượng lưu sông Maquoketa, Taxes của Trung tâm phát triển nông nghiệp Mỹ (2005); Ứng dụng GIS tích hợp mô hình SWAT

để phân tích và định lượng cân bằng nước cho lưu vực sông Kunthipuzha ở Kerala, của

Bộ tài nguyên đất đai và nước Ấn độ (Sathian, K.K; Syamala, P., 2007); Mô hình chất lượng nước ở lưu vực hồ Caddo, Taxes (Kendra Riebschleager, 2009);

1.2.2 Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam

* Về GIS: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS vào thực tiễn ở nước ta trong

mấy năm trở lại đây đã có sự phát triển vượt bậc, đặc biệt là ứng dụng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên

- Ứng dụng đầu tiên của GIS trong nghiên cứu tài nguyên đất đai ở Đồng bằng sông Hồng, kết quả đã xây dựng “Bản đồ sinh thái đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ 1/250.000 (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 1990)

- Năm 2001, Trần Văn Ý đã ứng dụng GIS xây dựng bản đồ xói mòn tiềm năng Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000, kết quả nghiên cứu đã xây dựng được bản đồ xói mòn tiềm năng cho toàn Việt Nam

Trang 22

- Năm 2001, nhóm tác giả Nguyễn Hiếu Trung, Nguyễn Võ Châu Ngân, Lê Quang Minh trường Đại học Cần Thơ, xây dựng GIS quản lý tài nguyên nước đồng bằng sông Cửu Long, kết quả là cung cấp dữ liệu cho 3 cấp: cấp vùng, cấp tỉnh và cấp

dự án Cho phép nhập số liệu cho một mô hình thủy văn, hệ thống phân tích qui hoạch

sử dụng đất và thể hiện kết quả của các mô hình này trên bản đồ

Về SWAT: Mô hình SWAT ở nước ta hiện nay cũng được áp dụng trong các

lĩnh vực quản lý lưu vực sông: Đánh giá việc bồi lắng trong hồ chứa nước của dự án thủy điện sông Hinh của Trương Hòai Thế Tuyên (2005) ; Ứng dụng mô hình thông số phân bố SWAT để đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng đất đến bồi lắng hồ chứa nước

hồ Đại Lải của Phạm Thị Hương Lan (2005)

- Năm 2005, nhóm các tác giả Vũ Tấn Phương, Phạm Thị Hương Lan và Nguyễn Thị Hải đã tập trung nghiên cứu đánh giá tác động của che phủ rừng tới dòng chảy và xói mòn tại các lưu vực sông Chảy, sông Bồ và sông Ba Thông qua việc tiếp cận lưu vực nghiên cứu sử dụng công cụ đánh giá đất và nước (SWAT) để xác định tác động của che phủ rừng tới dòng chảy và xói mòn trên toàn lưu vực Kết quả cho thấy, mật độ biến động về dòng chảy và xói mòn được xác định là chịu ảnh hưởng của các yếu tố địa hình,địa chất, lượng mưa, che phủ rừng và kỹ thuật canh tác

* Một số đề tài nghiên cứu ở vùng Tây Nguyên:

- Năm 2005, nhóm tác giả Nguyễn Đình Kỳ, Lưu Thế Anh, Nguyễn Cao Huần

và Nguyễn An Thuận đã xây dựng quy trình tích hợp ALES và GIS trong đánh giá thích nghi sinh thái đối với cây trồng của tỉnh Đắk nông, Đắk Lắk Đây có thể xem là công trình đầu tiên ứng dụng GIS và ALES tại Đắk Lắk

- Nhóm tác giả Nguyễn Thị Bích, Nguyễn Kiên Dũng nghiên cứu ứng dụng mô hình SWAT tính toán dòng chảy và bùn cát lưu vực sông Sê san

- Năm 2006, tác giả Phạm Tấn Hà đã nghiên cứu tài nguyên nước Tây Nguyên

và vấn đề khái thác sử dụng hiệu quả, từ đó đưa ra các giải pháp quản lý nguồn nước trong lưu vực

Trang 23

- Năm 2005, Dự án GTZ nghiên cứu thiết lập một thông tin dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên thiên nhiên ở phiá Nam lưu vục sông Krông Ana Kết quả là bộ Atlas được xây dựng trên hệ thống GIS, trên phần mềm ARC-GIS 9.1, bộ atlas bao gồm các số liệu về an sinh kinh tế, khí tượng thủy văn, nông lâm nghiệp Đây là bộ dữ liệu giúp cho các tổ chức quản lý lưu vực sông có hiệu quả hơn

1.3 Kết luận chương 1

Hầu hết các công trình nghiên về lưu vực sông quan tâm nhiều đến nghiên cứu

về chất lượng nước và những mô hình tính toán thủy văn ảnh hưởng đến lưu vực Những nghiên cứu về lĩnh vực đất, sự thay đổi sử dụng đất ở nước ta thường quan tâm đến phạm vị đơn vị hành chính (vùng và tỉnh), chưa nghiên cứu ảnh hưởng cho một lưu vực sông Ngoài ra, từ trước đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đất, nước trên các lưu vực Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về đất và nước trên lưu vực sông Srêpok nói chung và vùng đầu nguồn sông Krong Ana nói riêng

Hiện nay, ở nước ta một số nghiên cứu về lưu vực sông đã ứng dụng GIS, tuy nhiên chỉ dừng lại trong việc thành lập các bản đồ DEM phục vụ trong nghiên cứu Việc ứng dụng GIS kết hợp với xây dựng một mô hình số là số liệu đầu vào của mô hình phải có các thông tin về tình hình sử dụng đất trên lưu vực là điều cần thiết Từ

đó, có các đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên và con người trên lưu vực đối với tài nguyên đất, nước nhằm đề xuất các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên Đáp ứng yêu cầu trên, luận văn sử dụng mô hình SWAT dựa vào các thông số về đất, sử dụng đất , độ dốc, để dự đoán các tác động lên các nguồn tài nguyên lưu vực nghiên cứu

Trang 24

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LƯU VỰC NAM SÔNG KRÔNG ANA

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN LƯU VỰC NAM SÔNG KRÔNG ANA

2.1.1 Vị trí địa lý

Lưu vực Nam sông Krông Ana thuộc sông Krông Ana tỉnh Đắk Lắk là vùng đầu nguồn của lưu vực sông Srêpok trong hệ thống lưu vực sông Mê Kông Vùng lưu vực nghiên cứu này có diện tích khoảng 171.672,8ha, có tọa độ địa lý từ 12017’ tới

12036’ vĩ độ Bắc và từ 108001’ tới 108043’ kinh độ Đông Khu vực nghiên cứu đi qua 4 huyện, gồm: huyện Krông Bông, huyện Krông Ana, huyện Krong Păc và huyện Lăk

Bảng 2.1: Diện tích hành chính của các huyện nằm trong lưu vực nghiên cứu

CHÍNH

DIỆN TÍCH HUYỆN (ha)

DIỆN TÍCH LƯU VỰC (ha)

Từ vị trí địa lý tác giả nhận thấy:

- Diện tích lưu vực Nam sông Krông Ana, thuộc đầu nguồn của lưu vực sông Srêpok, nằm trong tỉnh Đắk Lắk Trong đó, phần lớn diện tích huyện Lak và huyện Krông Bông thuộc hoàn toàn vùng nghiên cứu Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, tác giả xin dựa vào huyện Lak và huyện Krông Bông để đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cho khu vực nghiên cứu

Trang 25

- Vùng nghiên cứu là vùng đồi núi Tây Nguyên, vì vậy việc sử dụng đất sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên đất và nguồn nước trên toàn lưu vực nghiên cứu Ngoài ra, theo thống kê số liệu về kinh tế đây là khu vực thuộc vùng sâu vùng xa của tỉnh Đắk Lắk có địa hình đồi núi dốc, có kinh tế - xã hội phát triển chậm, ít chịu tác động của sự phát triển kinh tế chung của tỉnh Đặc biệt, lưu vực nghiên cứu có Vườn quốc gia Chư Yang Sing với diện tích 58.947 ha, trong khu vực này nền kinh tế tự cung tự cấp vẫn còn tồn tại, các cộng đồng dân cư sống trong vùng đệm chưa thực sự được ổn định tập trung

Tuy nhiên trong khu vực nghiên cứu có quốc lộ 27 đi qua, nối vùng nghiên cứu với Buôn Ma Thuột các thành phố Nha Trang (Khánh Hoà), Đà Lạt (Lâm Đồng) và Pleiku (Gia Lai) sẽ thuận lợi cho sự trao đổi kinh tế, xã hội

Hình 2.1: Bản đồ hành chính trong lưu vực nghiên cứu

Trang 26

2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo, độ dốc

Khu vực nghiên cứu nằm ở phía Tây của dãy Trường Sơn, thuộc dãy núi Chư Yang Sin, được cấu tạo từ đá Granit, sườn núi dốc thẳng đứng trên thung lũng sông Krông Ana ở phía Bắc, hạ thấp dần ở phía Tây [26]

2.1.2.1 Đặc điểm địa hình [44]

Địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc thấp dần từ phía Đông Bắc sang Tây Nam lưu vực nghiên cứu, địa hình khá phức tạp, độ cao trung bình 600m Có 3 dạng địa hình chính:

(1) Địa hình núi cao

Chiếm khoảng 30% diện tích vùng nghiên cứu, tập trung ở vùng Đông Nam

có độ cao lớn hơn 1.500m, điển hình là núi Chư Yang Sin (độ cao 2.442m) là đỉnh cao nhất của vùng Cao nguyên Đà Lạt, núi Chư Yang Hanh (độ cao 1.991m), Chư Bukso (độ cao 1.538m) Đối với địa hình này có độ dốc trên 250, không thích hợp cho phát triển nông nghiệp, hiện trạng chủ yếu là rừng tự nhiên Đặc biệt rừng quốc gia Chư Yang Sinh nằm trong độ dốc này

(2) Địa hình núi thấp

Chiếm khoảng 47% diện tích vùng nghiên cứu Phân bố theo hình cung từ Đông Bắc qua Tây Nam của vùng, có độ cao trung bình khoảng 1000m Điển hình là núi Chư Ngieng (độ cao 700m), núi Cư Hoa (độ cao 953m), núi Cư Đrang (độ cao 698m), núi Chư Par Dla (độ cao 640m) Dạng địa hình đồi núi thấp có độ dốc phổ biến

150 – 250 Dạng địa hình này cũng không thích hợp cho phát triển nông nghiệp

(2) Địa hình thung lũng, ven sông

Chiếm khoảng 23% diện tích tự nhiên phân bố dọc ven sông Krông Bông, Krông Ana Độ dốc phổ biến dưới 80 tương đối bằng phẳng thích hợp canh tác lúa nước, màu và các loại cây công nghiệp ngắn, dài ngày

Trang 27

Hình 2.2: Bản đồ địa hình của khu vực nghiên cứu 2.1.2.2 Độ dốc

Bảng 2.2: Độ dốc trong lưu vực nghiên cứu

Diện tích

Độ dốc

0 < 30 37.648 24.3 Trồng lúa, cây hàng năm, cây lâu

năm ngắn và dài ngày

năm ngắn và dài ngày

với cây hàng năm

Trang 28

Với địa hình đồi núi bị chia cắt mạnh, khu vực nghiên cứu cũng độ dốc cao, chiếm khoảng 50,9% diện tích lưu vực nghiên cứu là độ dốc trên 250 tập trung ở vùng địa hình đồi núi cao nằm ở phía Đông Bắc trải dài sang hướng Tây Nam, những vùng này không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, chủ yếu phát triển rừng tự nhiên Độ dốc 150 – 250 chiếm 10,8% diện tích lưu vực, không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên có thể trồng một số loại cây ăn trái ở những khu vực có địa hình dốc thoải, sườn dốc Độ dốc dưới 80 chiếm 30,1% diện tích lưu vực, chủ yếu vùng thấp, gần các sông suối, tập trung nhiều ở phía Tây Bắc của lưu vực nghiên cứu, thích hợp cho các loại cây hằng năm, cây lâu năm

Hình 2.3: Bản đồ độ dốc của khu vực nghiên cứu Nhìn chung, với địa hình của khu vực nghiên cứu chủ yếu là đất đồi núi, đã làm

ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là với xây dựng

cơ sở hạ tầng và phân bố dân cư Phần lớn đất đai có độ dốc trên 80 (chiếm 69,8% diện

Trang 29

tích lưu vực nghiên cứu), nên trong sản xuất nông – lâm nghiệp cần phải chú ý tới việc

lựa chọn cơ cấu cây trồng, các mô hình sử dụng đất hợp lý nhằm phát huy hiệu quả

việc sử dụng đất

2.1.3 Tài nguyên đất

Theo điều tra thống kê dựa trên dữ liệu thuộc tính của bản đồ đất, dựa vào địa

hình và độ dốc của khu lưu vực nghiên cứu, tài nguyên đất có 6 nhóm đất chính và 9

đơn vị đất đai, như sau:

Bảng 2.3 : Tài nguyên đất khu vực nghiên cứu

STT NHÓM ĐẤT CHÍNH TÊN ĐẤT THEO FAO/UNESCO HIỆU KÝ DIỆN TÍCH

(ha)

(%) DT TRONG

Trang 30

(1) Nhóm đất thung lũng dốc tụ (GLd): Có diện tích khoảng 2618,2ha chiếm

1,5% diện tích lưu vực, được hình thành do mẫu chất dốc tụ vùng đồi núi Tập trung chủ yếu ở khu vực có địa hình thấp trũng quanh các chân đồi núi, được bồi tụ do các sản phẩm thô, tầng đất lộn xộn, do thường xuyên ngập nước nên có quá trình glây điển hình, đất bí, quá trình khử xảy ra mãnh liệt, phản ứng của đất chua, nhiều chất độc, hàm lượng mùn và đạm tổng số từ trung bình - giàu, lân và kali nghèo Đất này thích hợp trồng các loại cây ngắn ngày như trồng lúa nước hoặc các cây trồng cạn ngắn ngày mùa khô, ở vùng đất trũng có thể trồng lúa 2, 3 vụ Tuy nhiên cần bón vôi và lân để khử chua đặc biệt ưu tiên bón vôi mới có thể nâng cao năng suất lúa, đồng thời cố định các chất gây độc cho cây

(2) Đất đá bọt (AN): Có diện tích khoảng 255,7ha chiếm 0,1% diện tích lưu vực,

được hình thành trên đá bazan, xen lẫn trong đất bazan, tập trung chủ yếu địa hình có

độ dốc dưới 30 (huyện Krông Ana) Tầng đất mặt mỏng, giàu mùn, bị lẫn đá, có CEC,

BS trung bình đến khá, trong thành phần Cation trao đổi Ca++, Mg++ trung bình đến khá Hàm lượng lân tổng số trung bình Loại đất này thích hợp cho các cây trồng cạn ngắn ngày, cây công nghiệp ngắn như trồng lúa, cao su, cà phê, tiêu…

(3) Nhóm đất xám (AC): Có diện tích 48280.05ha chiếm 28,1% diện tích lưu

vực Phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau, từ dạng bằng thấp ven hợp thủy, các bậc thềm khác bằng phẳng, các dạng đồi thấp thoải đến địa hình đồi và sườn núi Đất xám hình thành trên các loại mẫu chất khác nhau (macma acid, trầm tích, biến chất…)

Có thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là cát và có sự gia tăng sét theo chiều sâu phẫu diện Đất xám có độ chặt cao khi khô, bời rời khi ẩm và có phản ứng chua (pHKCl 3,0

- 4,0), nghèo Cation trao đổi, bão hòa bazơ thấp ( BS < 50 %), hàm lượng hữu cơ từ nghèo đến rất nghèo (0.5 -1%) Mức độ phân giải chất hữu cơ mạnh (C/N < 10), các chất tổng số và dễ tiêu đều nghèo Loại đất này dễ canh tác và thích hợp với nhu cầu sinh trưởng, phát triển của nhiều cây trồng cạn, đặc biệt là lúa, ngô, khoai, sắn và cây trồng dài ngày như cao sư, điều phát triển khá tốt

Trang 31

(4) Nhóm đất đen (LV): Có diện tích khoảng 63,9ha chiếm diện tích rất ít trong

lưu vực nghiên cứu Đất đen hình thành trên đá bazan, xen kẽ trong nhóm đất xám và bazan, có màu nâu thẫm đến đen nhạt, phát triển ở các vùng bằng thấp (huyện Krong Ana), khá giàu mùn và các chất dinh dưỡng khác ở tầng mặt Thành phần cơ giới nặng, chặt, ít chua (pHKCl = 4,5 – 5), tổng cation trao đổi khá ( 15 – 25me/100g sét), độ no bazơ cao, thường là trên 50% Đất đen do bazan bồi tụ phù hợp với việc trồng các cây như lúa, ngô, bông và các loại đậu, không phù hợp với cà phê và các cây công nghiệp lâu năm, nhưng trên địa hình cao có thể trồng các cây ăn trái như mãng cầu, bơ

(5) Nhóm đất phù sa (FL): Có diện tích 17.915,2ha chiếm 10,4% diện tích lưu

vực nghiện cứu Phân bố trên địa hình khá bằng phẳng, tập trung dọc theo sông, suối, phạm vi hình thành hẹp chỉ cách bờ suối vài chục mét đến hàng trăm mét nên không tạo thành vùng lớn Tuy được bồi đắp nhưng do sự vận chuyển của các vật liệu không

xa, cộng thêm các sản phẩm dốc tụ ven đồi đưa xuống, nên sản phẩm bồi đắp thường không đều và mang ảnh hưởng rõ của đất và sản phẩm phong hóa đồi núi xung quanh Thành phần cơ giới đất là thịt nhẹ đến trung bình, dễ thoát nước, độ phì tương đối khá Hầu hết là gần nguồn nước, nên nhóm đất này có khả năng trồng các cây lương thực ngắn ngày như lúa, ngô, các loại đậu đỗ, cây công nghiệp như mía, các cây ăn trái,

(6) Nhóm đất đỏ (FR): Có diện tích khoảng 99.962,5ha chiếm 58,23% diện

tích lưu vực, phân bố hầu hết ở tất cả dạng địa hình trong lưu vực Được hình thành trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, quá trình phong hóa đá và khoáng sét xảy ra mạnh và kiệt: hầu như không còn các khoáng có khả năng phong hóa (khoáng có khả năng phong hóa chiếm ít hơn 10% trong cấp hạt thịt), các khoáng thứ sinh còn trong đất chủ yếu là khoáng Kaolinit và các khoáng của các Hydroxyt Fe, Al (CEC<16 me/100g sét) được xếp vào nhóm đất đỏ (Ferralsols) Trong đó có đơn vị đất đỏ vàng được hình thành trên đá sét và đá mácma Nhóm đất đỏ chủ yếu là trồng cà phê và một

số cây hàng năm khác Với những nơi có độ dốc tương đối và gần nước có khả năng phát triển cây cà phê và một số cây công nghiệp lâu năm khác là thuận lợi Ngoài ra, có

Trang 32

thể trồng cây họ đậu và một số cây hoa màu phù hợp để tận dụng trong thời kỳ kiến thiết cơ bản và bảo vệ đất

Hình 2.4 : Bản đồ tài nguyên đất lưu vực nghiên cứu

Nhìn chung: các nhóm đất trên lưu vực Nam sông Krong Anna có chất lượng

tốt, thích hợp với nhiều loại hình sử dụng đất Chủ yếu là phát triển các loại cây dài ngày: cao su, cà phê, các loại cây ăn trái và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như: lúa, thuốc lá, đậu nành, bông vải,….Tiềm năng cho phát triển nông nghiệp lớn, nhưng phải phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng sinh học, vừa đảm bảo hiệu quả kinh

tế, vừa có khả năng bảo vệ môi trường

2.1.4 Đặc điểm thảm thực phủ

Do đặc trưng về khí hậu, địa hình, độ dốc, tài nguyên đất nên thảm thực vật của vùng lưu vực nghiên cứu rất đa dạng và phức tạp Bên cạnh đó, Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm hoàn toàn trong khu vực nghiên cứu, có diện tích 58.947ha chiếm 34,34% diện tích lưu vực, vì vậy thảm thực vật cũng phân hoá đa dạng và phong phú

Trang 33

khác nhau Gồm các kiểu thảm thực vật sau: Thảm thực vật tự nhiên và thảm thực vật trồng

Hình 2.5: Bản đồ hiện trạng sử dụngđất năm 2005 của lưu vực nghiên cứu

2.1.4.1 Thảm thực vật tự nhiên [44]

Dựa theo cách phân loại thực vật của nhà sinh thái học Thái Văn Trừng, vùng

nghiên cứu được phân loại các kiểu sau:

(1) Kiểu rừng lá rộng thường xanh: Phân bố từ độ cao 600 – 2.200m, thành

khối lớn ở xung quanh núi Chư Yang Sin, phía Đông – Nam của vùng và rải rác ở một vài nơi khác Điều kiện khí hậu ở vành đai này luôn mát ẩm, nhiệt độ từ 15 – 200C, lượng mưa trên dưới 2.000mm/năm Độ bốc hơi thấp hơn lượng mưa Đất tốt, tầng thảm mục dày, mùn khá cao, thoát nước tốt, mức độ feralit yếu hơn vùng thấp

Kiểu rừng này ít bị tác động, còn giữ được tính nguyên sinh về cơ bản Thực vật

chiếm ưu thế là các loại cây lá rộng thuộc các họ Dẻ (Fagaceace), họ Long não (Lauraceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Sau Sau (Hamamelidaceae), họ Tô hạp

Trang 34

(Altingiaceae), họ Chè (Theaceae), họ Trâm (Myitaceae), họ Hoa (Betulaceae) Ngài ra còn phải kể đến một số loài cây lá kim như Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia wallichiana), Thông 3 lá (Pinus

kesiya), Thông đà lạt (Pinus dalatensis), Thông lá dẹt (Pinus krempfii), Pơ mu

(Fokienia hodginsil) mọc rải rác hoặc đôi khi chiếm một tỷ lệ cao như là kiểu rừng kín

hỗn hợp cây lá rộng, cây lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp hoặc kiểu rừng kín cây lá kim

ẩm ôn đới núi vừa (Thái Văn Trừng, 1978) nhưng do chúng phân bố tản mạn nên được xếp chung vào kiểu rừng này

Kiểu thảm này chia thành 4 – 5 tầng:

+ Tầng vượt tán (A1): Tầng này không liên tục, chỉ có rất ít cá thể của một số

loài như Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis), Thông lá dẹt (Pinus krempfii), Pơ mu (Fokienia hodginsii) và một số loài cây lá rộng vươn lên khỏi tán rừng

+ Tầng ưu thế sinh thái (A2): Tạo nên tán rừng tương đối đều, cao khoảng 20 –

30m với đa số cây lá rộng: Dẻ, Sồi, Sụ, Giối, Re, Chẹo, Chắp tay, Xoan nhừ, Tô hạp, Hồng quang,… Đặc biệt là các loài Dẻ đóng vai trò lập quần rất rõ nét ở tầng tán này Nhiều lâm phần không có tầng vượt tán mà chỉ có tầng tán chính, trong đó chủ yếu là các loài: Re, Chò xót, Hồng quang… tạo thành một tán rừng liên tục, bằng phẳng trông rất hấp dẫn Các loài cây gỗ trong tán rừng có đường kính tương đối lớn, bình quân 22 – 24cm, dễ dàng gặp các cây có đường kính trên 40cm Ngoài ra có một số rất ít cá thể

của một số loài như Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis), Thông lá dẹt (Pinus krempfii),

Pơ mu (Fokienia hodginsii) và một vài loài cây lá rộng vươn lên khỏi tán rừng

+ Tầng gỗ dưới tán (A3): có chiều cao 8 – 15m, gồm các loài cây nhỏ của tầng

A1 và A2 Ngoài ra có các loài cây gỗ nhỏ khác như Súm (Eurya spp.), Ngũ liệt (Pentaphylax euryoides), Xáo tam phân (Paramignya trimera), Ngát (Gironniera

subaequalis), Thâu lĩnh (Alphonsea spp.), Chân chim (Scheflera spp.), Hồi núi

(Illicium griffithii), Thích (Acer spp.) Tầng này đa phần là các loài cây gỗ nhỏ có giá

trị kinh tế không lớn

Trang 35

+ Tầng cây bụi (B:) cao 2m – 5m thường là Mua (Melastoma eberhardtii), Poa

lan xẻ (Poilannammia incisa), Chìa vôi (Lasianthus spp.), Trọng đũa (Ardisia spp.), Mật cật (Licuala spp.) và Nứa lâm viên (Schizostachyum langbianensis) ở độ cao

1.600m trở lên

+ Tầng thảm tươi ( C) : khá đa dạng về thành phần loài song phổ biến hơn cả là

các loài nằm trong ngành Dương xỉ, Thông đất, họ Ô rô (Acanthaceae), họ Lan (Orchidaceae), họ Gừng (Zingiberaceae), Sơn Linh cao (Sonerila neodriessenioides)

Thực vật ngoại tầng: gồm có các loài dây leo như Kim cang (Smilax spp.), Bù

dẻ (Uvaria spp.), Móng bò (Bauhinia spp.), Đậu mèo (Mucuna spp.), Dây tứ thư (Tetrtastigma spp.), Song đá (Calamus rudentum), Song lá bạc (Plectocomia elongate),

họ Ráy (Araceae) và một số loài cây như bì sinh trong họ Chùm gửi (Loranthaceae),

họ Phong lan (Orchidaceae) và ngành dương xỉ Tái sinh dưới tán rừng khá tốt, đạt từ

3.000 – 4.000 cây/ha Số cây có H>1,5m đạt trên 1000 cây/ha Thành phần cây tái sinh

đa phần phù hợp với tầng cây mẹ Điều đó cho thấy rừng đang ở trạng thái diễn thể ổn định Đây chính là loại sinh cảnh lý tưởng nhất trong vùng đối với các loài thú lớn, các loài linh trưởng và chim đặc hữu Kiểu rừng này là sinh cảnh ưu tiên bảo vệ trong công tác bảo tồn Vườn quốc gia Chư Yang Sin

(2) Kiểu rừng tre nứa: Phân bổ chủ yếu ở phía Tây vùng nghiên cứu Kiểu

rừng tre nứa là kết quả của quá trình canh tác nương rẫy và tán phá rừng Nguồn gốc của chúng cũng từ kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới, nhưng sau nhiều lần phát nương làm rẫy, các loài cây gỗ không còn khả năng tái sinh nhanh

như trước nữa đã phải nhường lại cho Lồ ô (Bambusa procea) và Le (Gigantochloa

nigro – ciliate), Nứa lá nhỏ (Schizostachyum dullooa) và Nứa lá to (Schizostachyum spp.) Sau khi xâm nhập, các loài cây này nhanh chóng lan rộng trở thành rừng kín

thường xanh thuần loài hoặc hỗn giao với các loài cây gỗ với độ tàn che lớn Dưới các lâm phần thuần loại, các loài cây gỗ khác không còn chỗ trống để tái sinh Đây cũng là một kiểu phụ bền vững trừ phi có tác động cải tạo của con người

Trang 36

Khi hỗn giao, các loài cây gỗ thường là các loài cây trong các họ Dẻ

(Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Chè (Theacae), với kích thước to lớn như

trong các kiểu rừng kín thường xanh đã được giới thiệu Trong những lâm phần như vậy, Lồ ô và Nứa lá to cũng có kích thước lớn hơn hẳn so với chúng khi mọc trong điều kiện đất đai xấu và bị khai thác cạn kiệt

(3) Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác: Phân bố gần các làng bản, ven đường làng

bản cũ Đây cũng là hậu quả trực tiếp của quá trình canh tác nương rẫy lâu dài và chăn thả gia súc, đất trở nên bị rửa trôi mạnh, tầng đất nông và xương xẩu chỉ thích hợp đối

với các cây bụi và cỏ như: Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Chè vè (Miscanthus

floribunda), Sẩm (Memeculon spp.), Mua (Melastoma spp.), Đom đóm (Alchornea tiliaefolia), Cỏ tranh (Imperata cylindrical), Chít (Thysanolaena maxima), Cỏ lào

(Eupatorium odoratum), Lách (Saccharum spontaneum)

Ngoài ra còn xuất hiện cả Tế guột (Dicranopteris linearis) là loài dương xỉ lá

cứng mọc được ở những điều kiện khắc nghiệt, khô hạn Tuy nhiên, ở đây vẫn có một

số loài cây gỗ nhỏ chịu hạn tái sinh như: Thầu tấu (Aporosa dioica), Thành ngạnh (Cratoxylon spp.), Sỏi (Sapium discolor), và các loài trong họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), nếu được bảo vệ tốt rất có thể phục hồi thành rừng nhưng phải có một

thời gian dài Mặt khác, đối với mục tiêu bảo vệ đa dạng sinh học thì đây không chỉ là một trong những cây sinh cảnh lý tưởng của các loài chim và thú không thích nghi với các sinh cảnh rừng thường xanh mà còn là nơi kiếm ăn cho tất cả các loài thú ăn cỏ và

ăn thịt

2.1.4.2 Thảm thực vật trồng

(1) Kiểu rừng thông : Kiểu rừng thưa cây lá kim với loài Thông 3 lá (Pinus

kesiya) gần như thuần loại gặp khá phổ biến với diện tích rộng lớn ở Tây Nguyên như

vùng Bắc Kon Tum và khu vực liền kề như Đà Lạt Phân bố thành những giải hẹp ở 2 khu vực phía Tây Bắc (thung lũng Ea Krông Kmar) và phía Đông Nam (thung lũng

Trang 37

Đăk Mé) Rừng có cấu trúc rất đặc trưng của rừng thưa cây lá kim, với mật độ cây vào khoảng 150 – 200 cây/ha Rừng có 2 tầng cây gỗ và 1 tầng cây bụi thảm tươi

Tầng ưu thế sinh thái: do cây Thông 3 lá chiếm giữ cao 18 – 25m, đường kính

trung bình trên dưới 30cm, có cây có đường kính gần 1m Tầng tán không liên tục

Tầng dưới tán: là các cây gỗ lá rộng như Chẹo răng cưa (Engelhardtia spicata),

Dâu rượu (Myrica esculenta), Hồng quang (Rhodoleia championii), Vối thuốc (Schima

wallichii var norohae) và các loài Dẻ mọc rải rác với kính thước nhỏ

Tầng cây bụi thảm tươi: khá phát triển đặc biệt là loài Tế (Dicranopteris linearis), hoặc Quyết tuế (Brainea insignis), hoặc Cỏ tranh (Imperata cylindrical) mọc

dày đặc có rải rác vài cá thể Chà hươu (Wendlandia grabrata) và Sầm (Memeccylon

spp.) khiến cho tình hình tái sinh dưới tán rừng rất kém, hầu như không thấy Thông 3

lá tái sinh Đây là kiểu thảm khá hấp dẫn cho du lịch sinh thái nói riêng và du lịch nói chung, nhưng đã và đang bị đe dọa bởi khai thác nhựa và nạn đốt rừng

(2) Thảm cây nông nghiệp: Đây là loại đất mà nhân dân trong vùng đang sử

dụng để canh tác ruộng nước và nương rẫy Loại đất này phân bố ở các thung lũng và sườn đồi, ven suối gấn các khu dân cư Các loại cây trồng đang được sử dụng trong vùng là cà phê, lúa nương, lúa nước, mì, bắp, khoai,…

Nhìn chung: Với địa hình đồi núi chia cắt và độ dốc lớn cùng với sự bảo vệ

tốt rừng nguyên sinh trong khu vực Vườn quốc gia Chư Yang Sin, đã tạo điều kiện thuận lợi cho thảm phủ thực vật trong vùng nghiên cứu chưa thay đổi nhiều Tuy nhiên,

so với năm 2008 diện tích rừng hiện nay giảm 1.444,86 ha, chủ yếu từ đất rừng chuyển sang đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp Bên cạnh đó, cũng từ đất chưa sử dụng chuyển sang đất rừng, tập trung vào rừng trồng sản xuất

Trang 38

Bảng 2.4 : Biến động đất đai trong giai đoạn 2005 -2008 trên lưu vực nghiên cứu

Loại hình sử dụng đất Năm 2005 Năm 2008 Biến động (+)tăng;

Khí hậu vùng nghiên cứu được chia thành 4 tiểu vùng sau:

(1) Tiểu vùng Krông Păk – Lăk: Nằm giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột và dãy núi

Chư Yang Sin có độ cao trung bình 400-500m, khí hậu mang tính chất nhiệt đới khô

(khí hậu thung lũng) Lượng mưa từ 600-1.700mm, Mùa mưa từ tháng V-tháng XI,

mùa khô từ tháng XII - IV, nhiệt độ trung bình năm từ 23-250C

(2) Tiểu vùng Buôn Ma Thuột : Vùng cao nguyên này khá bằng phẳng và năm ở độ cao

trung bình 500m, nhiệt độ trung bình năm 23-240C Lượng mưa năm 1700mm, độ ẩm

không khí trung bình 80-82%

(3) Tiểu vùng cao nguyên M’Đrăk: Địa hình đồi lượng sóng độ cao trung bình 400m,

dốc từ Đông sang Tây Nhiệt độ trung bình năm 23-240C, lượng mưa trung bình năm

1800-2000mm

(4) Tiểu vùng núi Chư Yang Sin: Tập trung ở những dãy núi cao trên 1500m, độ cao

trung bình 1700-1800m Đặc biệt có khí hậu lạnh và ẩm, nhiệt độ trung bình năm

13-180C, lượng mưa trung bình năm cao đạt 1800-2400mm

(a) Chế độ nhiệt

Dựa vào ba trạm đo khí tượng Buôn Ma Thuột, M’Drak và Lăk nằm trong vùng

lân cận của khu vực nghiên cứu Điểm nổi bật của chế độ nhiệt độ của vùng hầu như

Trang 39

không có mùa lạnh với một nền nhiệt độ đồng đều, chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng không cao Nhiệt độ trung bình năm là 23,70C Nhiệt độ cao nhất trong năm là 35,90C

và thấp nhất 140C Các tháng lạnh nhất là tháng XII và I với khoảng 210C, các tháng nóng nhất là tháng IV – tháng VI với khoảng 25– 26 0C

Bảng 2.5 : Nhiệt độ trung bình tháng các trạm trong lưu vực (0C)

(Nguồn: Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Tây Nguyên)

Trang 40

Bảng 2.6:Tổng lượng bốc hơi tháng trung bình nhiều năm các trạm trong lưu vực (mm)

(Nguồn: Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Tây Nguyên)

(d) Giờ nắng

Với nhiệt độ khác nhau, giờ nắng trung bình mỗi năm là khá cao Tổng số giờ nắng hàng năm của 2.100 – 2.500 giờ, thời gian các ngày nắng là tháng I-Tháng IV,

đặc biệt trong tháng III số giờ nắng là cao nhất Số giờ năng trong năm nhiều là điều

kiện tốt cho cây trồng phát triển

Bảng 2.7: Số giờ nắng trung bình nhiều năm các trạm trong lưu vực (giờ)

(Nguồn: Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Tây Nguyên)

(d) Gió

Hướng gió thay đổi theo mùa Trong mùa hè và giữa hè, từ tháng V - IX gió đến

từ hướng Tây sang hướng Tây Nam với một tần số trong khoảng 50-55% (Buôn Ma

Thuột trạm) Vào mùa đông, từ Tháng XII –IV, gió sẽ chuyển sang hướng đông và

đông nam với một tần số cao hơn 60-70% Vận tốc gió hàng năm vào mùa đông cao

hơn trong mùa hè Tại Buôn Ma Thuột, nó là 4.4m/s trong tháng XII và tháng I và

tháng II là từ 4,6 đến 5.0m/s Trong mùa hè chỉ dưới 3m/s

Ngày đăng: 15/02/2021, 17:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm