Chuyên đề nghị luận văn học lớp 9, phân tích tất cả tác phẩm văn học lớp 9 hay và đầy đủ nhất, giúp học sinh đạt điểm cao trong phần làm văn. Chuyên đề nghị luận văn học lớp 9, phân tích tất cả tác phẩm văn học lớp 9 hay và đầy đủ nhất, giúp học sinh đạt điểm cao trong phần làm văn
Trang 1II – Thân bài:
1 Mùa xuân của thiên nhiên.
Cảm hứng xuân phơi phới của Thanh Hải đã dệt nên một bức tranh mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, hiền hoà, đầy sức sống của xứ Huế mộng mơ
Mọc giữa dòng sông xanh
…………
Tôi đưa tay tôi hứng
- Xứ Huế đã đi vào trong thi ca của không ít các thi nhân như Hàn Mạc Tử, Tố Hữu…nhưng ở đây với bài thơ này ta vẫn cảm nhận được phong vị rất riêng của Thanh Hải Bứctranh xuân ấy hiện lên rất ít chi tiết nhưng vẫn đẹp, một vẻ đẹp hoàn thiện với đầy đủ sắcmàu, âm thanh và đường nét Có một dòng sông xanh hiền hoà, mênh mang làm nền chosắc tím của bông hoa, màu tím của xứ Huế thơ mộng, của nhớ nhung đã tạo nên cảm giácmát dịu làm sao! Nghệ thuật đảo ngữ càng làm nổi bật vẻ đẹp của bông hoa Bông hoa ấymọc từ giữa dòng sông như tâm điểm của một bức tranh đầy ấn tượng Bông hoa ấy nhưphát sinh, khởi nguồn từ cái sức sống dồi dào, bất tận của dòng sông xanh để không ngừngvươn lên bất tử Bức tranh ấy càng sống động hơn bởi âm thanh của tiếng chim chiền chiệnquen thuộc của quê hương miền trung Tiếng chim ấy hót vang bên trời cao, tiếng hót trongtrẻo, ngân nga, rộn ràng có độ lan tỏa không dứt, làm cho không khí của mùa xuân trở nênnáo nức lạ thường
- Hãy đọc lại khổ thơ đầu và lắng nghe trong đó: có phải là nhạc và thơ đã hoà quyện vàotừng chữ, từng dòng trong cả khổ thơ, đem đến môt giai điệu mùa xuân vui tươi, rạo rực ?Nhà thơ lặng ngắm, lắng nghe với vẻ say mê và tấm lòng tràn đầy một cảm xúc thanh caotrong sáng Bằng sự cảm nhận tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ, nhà thơ đã tạo dựng đượcmột hình ảnh tuyệt đẹp, gợi ra sự liên tưởng phong phú cho người đọc về âm thanh củatiếng chim Âm thanh mượt mà, trong vắt của tiếng chim thánh thót như chuỗi ngọc longlanh, đọng lại làm thành từng giọt niềm vui, rơi xuống cõi lòng rộng mở của thi sĩ, thấmvào tâm hồn đang rạo rực tình xuân Như vậy từ một hình tượng, một sự vật được cảm nhậnbằng âm thanh ( thính giác), tác giả đã chuyển đổi biến nó thành một sự vật có thể nhìnđược bằng mắt ( thị giác) bởi nó có hình khối, màu sắc rồi lại được như cảm nhận nó bằng
da thịt, bằng sự tiếp xúc ( xúc giác) Sự chuyển đổi cảm giác ấy là một sáng tạo nghệ thuật
Trang 2gợi cảm từ con mắt nhìn rất thơ của thi sĩ Hình ảnh đưa tay “hứng” xiết bao yêu quý, nângniu đã thể hiện được sự đồng cảm của tâm hồn nhà thơ trước thiên nhiên và cuộc đời.
2.Trong mùa xuân lớn ấy, đất nước và con người cũng mang vẻ đẹp của sức sống vô tận, rộn ràng bước vào một mùa xuân mới:
Mùa xuân người cầm súng
……
Lộc trải dài nương mạ
- Lộc xuân theo người cầm súng, lộc xuân trải dài nương mạ Hình ảnh dân tộc Việt Namkết tụ lại ở “người cầm súng” và “người ra đồng” Đây là mùa xuân của con người đanglao động và chiến đấu, của đất nước vất vả gian lao đang đi lên phía trước Câu thơ vừa tảthực vừa tượng trưng hàm chứa nhiều ý nghĩa trong hình ảnh người lính và người nông dânvới từ “lộc” nhiều nghĩa “Lộc” là chồi non, lá non, nhưng “lộc” còn có nghĩa là mùa xuân,
là sức sống, là thành quả hạnh phúc Người cầm súng giắt lộc để nguỵ trang như mangtheo sức xuân vào trận địa, người ra đồng như gieo mùa xuân trên từng nương mạ Nhữngcon người lao động chiến đấu ấy đã mang cả mùa xuân ra trận địa của mình để gặt hái mùaxuân về cho đất nước Âm hưởng thơ hối hả, khẩn trương với nhiều điệp từ, điệp ngữ láylại ở đầu câu cùng với các tính từ “hối hả”, “xôn xao” làm tăng thêm sức xuân phơi phới,mãnh liệt trong mỗi con người và trong cả cộng đồng rộng lớn là dân tộc Điều đó làm chotác giả nhớ đến niềm tự hào lớn lao của đất nước:
Đất nước bốn nghìn năm
……
Cứ đi lên phía trước”
- Đất nước đang bước vào mùa xuân, từ thiên nhiên đến con người đều hối hả và xôn xao.Mang tình sông núi, nhà thơ Thanh Hải đã có một cái nhìn sâu sắc và tự hào về chiều dàilịch sử bốn nghìn năm của đất nước.Đó là truyền thống anh hùng trong đánh giặc, cần cùtrong dựng xây, là truyền thống nhân ái, là khát vọng hòa bình Mỗi truyền thống ấy đềuđược xây đắp nên từ mồ hôi, công sức, nước mắt và thậm chí cả xương máu của biết baothế hệ con người Trong quá trình xây dựng và giữ nước, đất nước ta còn đầy vất vả và gianlao nhưng đất nước Việt Nam vẫn ngời sáng cứ tiến lên phía trước như một vì sao sáng.Vần thơ so sánh và nhân hoá thể hiện một niềm tin sáng ngời, ngợi ca đất nước tráng lệ,trường tồn Ba tiếng “cứ đi lên” đã thể hiện ý chí quyết tâm và niềm tin sắt đá của dân tộc
để xây dựng đất nước giàu và mạnh
- Đặt bài thơ vào những năm 80 khi nước ta còn đang phải đương đầu với bao khó khăn,nền kinh tế còn rất thấp kém thì ta càng trân trọng lòng yêu đời, yêu cuộc sống và niềm tincủa nhà thơ Thanh Hải vào quê hương, đất nước
3.Xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước, nhà thơ muốn góp một mùa xuân nho nhỏ của mình để làm nên một mùa xuân lớn, mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước, mùa xuân của cách mạng:
Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến
Trang 3Đó là khát vọng sống hoà nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ
bé, của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cáchchân thành trong những hình ảnh tự nhiên giầu sức gợi tả, gây xúc động sâu xa trong lòngngười đọc Ước nguyện được làm một tiếng chim, một cành hoa để góp vào vườn hoamuôn hương muôn sắc, rộn rã tiếng chim, để đem lại hương sắc, tô điểm cho mùa xuânthêm tươi đẹp Nhà thơ nguyện cầu được làm một “nốt trầm xao xuyến” không ồn ào,không cao điệu mà chỉ âm thầm, lặng lẽ để “nhập”vào khúc ca, tiếng hát của nhân dân vuimừng đón xuân về Được tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tácgiả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự phồn vinh của đất nước Một ước mơ nhonhỏ, chân tình, không cao siêu vĩ đại mà gần gũi quá, khiêm tốn và đáng yêu quá ! Hìnhảnh nhuần nhị, tự nhiên, chân thành, giọng thơ nhè nhẹ, êm ái , ngọt ngào của những thanhbằng liên tiếp kết hợp với cách cấu tứ lặp lại như vậy đã mang một ý nghĩa mới nhấn mạnhthêm mong ước được sống có ích cho đời, cống hiến cho đất nước như một lẽ tự nhiên.Điệp từ “ta” như một lời khẳng định, vừa như một tiếng lòng, như một lời tâm sự nhỏ nhẹ,chân tình Ước nguyện đó đã được đẩy lên cao thành một lẽ sống cao đẹp, không chỉ choriêng nhà thơ mà cho tất cả mọi người, cho thời đại của chúng ta Đó là lẽ sống cống hiếncho đời lặng lẽ, khiếm tốn, không kể gì đến tuổi tác:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Thái độ ‘lặng lẽ dâng cho đời” nói lên ý nguyện thật khiêm nhường nhưng hết sức bền bỉ và
vô cùng đáng quý vì đó là những gì tốt đẹp nhất trong cuộc đời Thật cảm động làm saotrước ao wowcs của nhà thơ dẫu đã qua tuổi xuân của cuộc đời, vẫn được làm một mùaxuân nhỏ trong cái mùa xuân lớn lao ấy Điệp ngữ “dù là” ở đây như một lời tự khẳng định
để nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãilàm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước Giọng thơvẫn nhỏ nhẹ, chân tình nhưng mang sức khái quát lớn Chính vì vậy, hình ảnh “mùa xuânnho nhỏ” ở cuối bài như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ
Những câu thơ cuối cùng mang đậm dấu ấn của những làn điệu dân ca trữ tình xứ Huế Nónhư tiếng tâm tình, thủ thỉ, như tiếng lòng sâu lắng thiết tha, nồng đậm nghĩa tình:
Mùa xuân ta xin hát
Câu Nam Ai, Nam Bình
Nước non ngàn dặm
Nhịp phách tiền đất Huế
Cùng với ý nguyện ấy, khúc Nam Ai, Nam Bình ở khổ thơ kết nói lên niềm tin yêu tha thiếtvới quê hương, đất nước và cuộc đời Đặt trong hoàn cảnh sáng tác bài thơ , tình cảm đócàng đáng trân trọng, càng cảm động biết bao !
III – Kết bài:
“Mùa xuân nho nhỏ” là một bài thơ có tứ thơ độc đáo, cảm hứng xuân phơi phới, hình ảnhsáng tạo, nhạc điệu vui tươi tha thiết Đọc “mùa xuân nho nhỏ”, trái tim ta dường như xaoxuyến, một cảm xúc thanh cao, trong sáng từ từ dâng ngập hồn ta Bài thơ đem đến cho
Trang 4chỳng ta bao cảm xỳc đẹp về mựa xuõn, gợi cho ta suy nghĩ về một lẽ sống cao đẹp của mộttõm hồn trong sỏng khiến ta cảm phục và tin yờu Cũn gỡ đẹp hơn mựa xuõn ? Cú tỡnh yờunào rộng lớn hơn tỡnh yờu quờ hương đất nước ? Thấm nhuần tõm tư, ước nguyện của củanhà thơ, chỳng ta càng thờm tin yờu vào mựa xuõn của đất nước và “mựa xuõn nho nhỏ”trong lũng mỡnh Chỳng ta muốn cựng con chim chiền chiện hút lờn khỳc ca ngọt ngào gọixuõn về, muốn học thành tài để hiến dõng cho đất nước, gúp phần cụng sức nhỏ bộ để tụđiểm cho mựa xuõn cuộc đời thờm đẹp
. -VIẾNG LĂNG BÁC – VIỄN PHƯƠNG
I
– Mở bài :
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân vật lịch sử thân yêu nhất của dân tộc Việt Nam suốt bao thập
kỷ qua Ngời là hiện thân cho những gì cao đẹp nhất của dân tộc Lăng Bác là nơi lu giữnhững hình ảnh thân thơng về Ngời Nhiều ngời đã làm thơ về Bác và lăng Bác Trong đó
“Viếng lăng Bác”của nhà thơ Viễn Phơng là một trong những bài thơ viết về lãnh tụ haynhất Bài thơ đợc viết trong không khí xúc động của nhân dân ta lúc công trình lăng Bác đợchoàn thành sau khi Miền Nam đợc giải phóng, đất nớc đợc thống nhất, đồng bào miền Nam
có thể thực hiện mong ớc đợc viếng lăng Bác Nhà thơ Viễn Phơng cũng ở trong số đồngbào, chiến sĩ từ miền Nam ra viếng Bác Trong niềm xúc động thiêng liêng, thành kính phalẫn nỗi xót đau, nhà thơ đã viết bài thơ này Bài thơ đã thể hiện đợc những tình cảm chânthành và tha thiết của nhân dân ta với Bác Hồ kính yêu
II
– Thân bài
Khổ 1 : Cảm xúc của tác giả khi đến thăm lăng Bác
Hai khổ thơ đầu là những dũng cảm xỳc ban đầu của nhà thơ khi được lần đầu đếnthăm lăng Bỏc: một chỳt tự hào, xen lẫn vui sướng, lẫn xỳc động khi sắp đc kề cận bờnNgười cha thõn yờu của dõn tộc Bằng những hỡnh ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, ngụn ngữbỡnh dị mà hàm sỳc, tinh tế, đoạn thơ đó để lại trong lũng người đọc những cảm xỳc vụcựng sõu sắc
- Khi đến thăm lăng Bác, tác giả chứa chan cảm xúc Mạch cảm xúc ấy đợc mở đầu bằng lờithơ tự sự :
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
- Câu thơ thật giản dị thân quen với cách dùng đại từ xng hô “con” rất gần gũi, thân thiết, ấm
áp tình thân thơng Ta cảm tởng giọng thơ tác giả run run khi thốt lên từ “con” gần gũi màthân thơng biết mấy Tâm trạng của Viễn Phơng bây giờ là tâm trạng của ngời con ra thămcha sau bao năm xa cách, mong mỏi nh Tố Hữu đã từng viết : “Miền Nam mong Bác nỗimong cha” Song ớc nguyện ấy không thành vì ngời cha ấy mãi mãi không còn nữa Câu thơgiản dị, chân thành và xúc động biết bao! Dòng cảm xúc nh vỡ òa, chan chứa sau bao thángnăm kìm nén
- Tác giả sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng” mong sao giảm nhẹ đợc nỗi đau thơng, mấtmát ấy để ta thấy rằng trong tiềm thức của tác giả, Bác Hồ vẫn còn sống mãi Nh ng dờng
nh sự thật Bác đã đi xa là nỗi đau quá đỗi lớn lao khiến Viễn Phơng không khỏi xót xa, xúc
động
- Từ tâm trạng ấy, tác giả nhìn ra xa : “Đã thấy trong sơng hàng tre bát ngát” Nhà thơ bắtgặp một hình ảnh thân thuộc mà bao năm in vào tâm hồn mỗi ngời dân Việt Nam : hình ảnhhàng tre Gặp lại hàng tre ấy, nhà thơ có cảm giác thân thuộc nh đợc trở về quê hơng, trở vềcội nguồn Hàng tre ấy nh tỏa bóng mát rời rợi trên con đờn dẫn vào lăng Bác và nh bao bọc
Trang 5ôm lấy bóng hình của Ngời – vị lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của dân tộc Nh vậy hàng tre cũng
là biểu tợng cho đất nớc, quê hơng và tất cả nh hội tụ lại đây để canh cho giấc ngủ của Ngời-Bởi vậy tác giả bật lên câu cảm thán : Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam!”
- “Ôi!” Thể hiện sự xúc động của nhà thơ trớc hình ảnh cây tre Cây tre bình dị, mộc mạc,chân quê mà bên trong nh tiềm tàng một sức sống dai dẳng : “Bão táp ma sa vẫn thẳnghàng” Phải chăng đó cũng là sức sống của dân tộc Việt Nam ? Sức sống ấy cũng dồi dào nhmàu xanh của sự kiên cờng, bất khuất, không lùi bớc trớc kẻ thù
- Thật tài tình khi tác giả sử dụng hình ảnh “hàng tre” vừa mang ý tả thực lại vừa mang ý ẩn
dụ Cây tre tuy gầy guộc song vẫn hiên ngang Đó cũng chính là dân tộc Việt Nam tuy nhỏ
bé nhng rất kiên cờng, sắt son
=>Đến thăm lăng Bác, gặp lại hình ảnh hàng tre, tác giả vô cùng xúc động Đó là sự tiếc
th-ơng bùi ngùi khi đợc gặp Bác song Bác đã đi xa Song đó không chỉ là tình cảm riêng củatác giả mà còn của cả dân tộc Việt Nam đối với Bác
2 Sự tôn kính của tác giả đối với Bác khi đứng trớc lăng Ngời.
-Khổ thơ thứ hai đợc tạo nên từ cặp câu với những hình ảnh thực và ẩn dụ sóng đôi :
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
- Hình ảnh “mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh mặt trời thực, mặt trời tự nhiên đem lạinguồn sáng cho thế gian Mặt trời ấy là sức sống của muôn vàn cỏ cây hoa lá
- “Mặt trời trong lăng” là mặt trời ẩn dụ, chỉ Bác Hồ kính yêu Tác giả nhấn mạnh “mặt trờirất đỏ’ làm ta nhớ đến một trái tim nhiệt huyết chân thành vì nớc vì dân Ví Bác nh “mặttrời”, nhà thơ muốn nói Bác nh là ngời soi sáng cho dân tộc Việt Nam trên bớc đờng chién
đấu, đa cả dân tộc thoát khỏi bóng tối nô lệ đến với cuộc sống tự do, hạnh phúc Mỗi hànhmặt trời tự nhiên vẫn hành trình trên quỹ đạo cũng nh mặt trời trong lăng lúc nào cũng tỏasáng Bác tuy đã ra đi nhng mãi thuộc về vĩnh cửu đối với hàng triệu con ngời Việt Nam
=>Thông qua hình ảnh ẩn dụ “mặt trời”, nhà thơ đã nêu lên sự vĩ đại của Bác, đồng thời thểhiện niềm tôn kính, lòng biết ơn vô hạn của nhân dân ta với Bác
- Nhà thơ còn sáng tạo một hình ảnh nữa về Bác : Ngày ngày dòng ngời đi trong thơng nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mơi chín mùa xuân”
- Thời gian cứ trôi ngày tiếp ngày nhng dòng ngời vẫn nối nhau vào lăng viếng Bác Nhịpthơ chậm, giọng thơ trầm nh bớc chân dòng ngời vào viếng Bác Nhng “dòng ngời đi trongthơng nhớ” là đi trong nỗi xúc động bồi hồi, trong lòng tiếc thơng kính cẩn
- Và đến đây, cảm xúc thăng hoa : hình ảnh dòng ngời thành một tràng hoa trớc lăng Mỗicon ngời vào viếng lăng giống nh một bông hoa đẹp, dâng lên Bác cả tấm lòng, cả cuộc đời,niềm thơng nỗi nhớ Điệp từ “ngày ngày” nhẫn mạnh trang hoa dâng lên Bác là bất tận Chỉmột từ “thơng” thôi mà gửu gắm cả tấm lòng dân tộc Việt Nam đối với Bác Quả là cáchdiễn đạt mới lạ, thích hợp Và tràng hoa ấy dâng lên “bảy mơi chín mùa xuân” – một hình
ảnh hoán dụ thật hay Con ngời bảy mơi chín mùa xuân ấy đã sống một cuộc đời đẹp nhnhững mùa xuân và làm ra mùa xuân cho đất nớc, cho mỗi chúng ta Cuộc đời chúng ta nởhoa dới ánh sáng của Bác
=>Hình ảnh “tràng hoa” một lần nữa tô đậm thêm sự tôn kính, biết ơn tự hào của tác giảcũng nh của dân tộc VN đối với Bác
- Khổ 3 : Đến đây niềm biết ơn thành kính đã chuyển sang niềm xúc động nghẹn ngào khi
tác giả nhìn thấy Bác : “ Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”
Bác nằm đó thanh thản nh đang trong giấc ngủ giữa ánh sáng dịu hiền của vầng trăng Sauchặng đờng bảy mơi chín mùa xuân cống hiến không ngừng nghỉ, dành trọn cuộc đời cho
Trang 6dân cho nớc, Bác cha có một đêm nào ngon giấc : “Cả cuộc đời Bác có ngủ ngon đâu!”( Hải Nh)
Giờ đây, Miền Nam đợc giải phóng, đất nớc đợc giải phóng, Bác có thể yên lòng và thanhthản nghỉ ngơi Từ ánh sáng của màu xanh mát dịu trong lăng, nhà thơ liên tởng tới vầngtrăng sáng dịu hiền ru giấc ngủ cho Bác
+ Hình ảnh “vầng trăng” đợc nhà thơ dùng thật thích hợp khi nói đến Bác Hình ảnh “vầngtrăng” gợi giấc ngủ ban đêm bởi một mặt Viễn Phơng không muốn cảm nhận một giấc ngủvĩnh viễn giữa ban ngày Mặt khác tác giả muốn đa vầng trăng vào nâng niu, ôm ấp, tỏasáng cho giấc ngủ của Bác vì sinh thời Ngời rất yêu trăng, coi trăng nh ngời bạn tri âm tri kỉgắn bó thắm thiết của Ngời
- Tâm trạng xúc động của nhà thơ lại đợc biểu biện bằng một hình ảnh thơ ẩn dụ diễn tả sự
mất mát và nỗi nhớ thơng một cách độc đáo :Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim
Bác ra đi nhng đã hóa thân vào thiên nhiên, đất trời của dân tộc, nh Tố Hữu đã từng viết :
“Bác sống nh trời đất của ta” Trong cuộc sống yên bình hôm nay, đâu đâu ta cũng nh thấymột phần công lao của Bác Bác sẽ còn mãi với non sông đất nớc Dù lý trí mách bảo nhàthơ là Bác còn sống mãi nhng trái tim nhả thơ vẫn mách rằng Bác đã mãi ra đi Bởi vậy nhàthơ không sao ngăn đợc nỗi đau : “Nghe nhói ở trong tim” Đó là nỗ đau xót, tê tái, quặn thắt
đến cực độ ! Một sự mất mát không gì có thể bù đắp đợc ! Câu thơ tựa nh một tiếng nấcnghẹn ngào ! Đây cũng là tâm trạng và cảm xúc của những ngời đã từng vào lăng viếng Bác
3.Khổ 4 : Khép lại nỗi đau mất mát ấy là những giọt nớc mắt luyến tiếc, bịn rịn không muốn rời xa Bác
Mai về miền Nam thơng trào nớc mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm bông hoa tỏa hơng đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
- Câu thơ mở đầu cho những dòng thơ cuối cùng nh một lời giã biệt Nhà thơ nghĩ tới lúcphải trở về miền Nam, phải xa Bác chỉ trong khoảng cách không gian địa lý mà câu thơ viếtnên thật xúc động Mỗi chữ, mỗi câu nh thấm đầy cảm xúc Từ “trào” diễn tả cảm xúc thậtmãnh liệt ! Tình thơng, lòng kính yêu của nhà thơ nh nén giữa tâm hồn trong phút giây đầynhớ nhung, lu luyến này đã bật lên thành bao ớc nguyện
- Nhà thơ muốn đợc hóa thành con chim để cất lên tiếng hót quanh lăng Bác Rồi nhà thơlại muốn làm đóa hoa tỏa hơng thơm ngát bên Ngời Và cuối cùng là mong muốn đợc hóathành cây tre trung hiếu canh giấc ngủ cho Bác mãi mãi yên bình Ta thấy mọi ớc vọng khátkhao trong cái tâm nguyện đó của nhà thơ đều quy tụ lại một điểm là mong đợc gần Bác, ởbên Bác Ước vọng ấy cao đẹp và trong sáng quá bởi nó thể hiện đợc cái tâm niệm chânthành của nhà thơ mà cũng hết sức tha thiết : Hãy làm một cái gì đó dù là rất nhỏ có ích cho
đời để xứng đáng với sự hy sinh lớn lao mà ngời đã dành cho đất nớc, nhân dân Điệp ngữ
“muốn làm” đợc lặp lại ba lần để nhấn mạnh ý nguyện thiết tha và tâm trạng lu luyến đó
- Ta trân trọng nâng niu những ớc vọng cao đẹp của nhà thơ Đã gần 40 năm từ ngày ấy màtấm lòng kính yêu của nhân dân ta với vị cha già của dân tộc vấn không một chút mai một.Tình cảm của nhân dân và của tác giả đã làm ta những đứa con non trẻ xúc động sâu sắc.Xin nguyện nh Viễn Phơng : sống một cuộc đời đẹp để trở thành những bông hoa đẹp dângBác
III – Kết luận
“Viếng lăng Bác” là bài thơ đẹp về hình ảnh, hay về cảm xúc đã để lại trong lòng ngời đọcniềm xúc động sâu xa Bài thơ là những giai điệu sâu lắng của niềm thành kính thiêng liêng,nỗi nhớ thơng luyến tiếc mà những ngời con Miền Nam nói riêng, nhân dân Việt Nam nóichung dành cho Bác
Trang 7. -NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI – LÊ MINH KHUÊ
A Mở bài : - Truyện « những ngôi sao xa xôi » của Lê Minh Khuê được viết năm 1971,
khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra vô cùng ác liệt
- Truyện kể lại cuộc sống của ba cô gái thanh niên xung phong làm công tác trinh sát vàphá bom thông đường trên một cao điểm của Trường Sơn những năm tháng chống Mĩ Qua
đó thể hiện và ca ngợi tâm hồn và phẩm chất cao đẹp của những người con gái Việt Namthời chống Mĩ : Hồn nhiên, trong sáng trong cuộc sống, dũng cảm trong chiến đấu và luônlạc quan trước tương lai
- Họ đã để lại một ấn tượng rất sâu sắc, giúp người đọc nhận ra rằng trong chiến thắng vinhquang của dân tộc trước một cường quốc lớn, có những con người làm việc và hiến dâng cảtuổi xuân, cả máu của mình cho đất nước
B Thân bài.
1 Hoàn cảnh sống và chiến đấu :
Truyện Những ngôi sao xa xôi phản ánh chân thực tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thầndũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan củanhững cô gái thanh niên xung phong Đó chính là những hình ảnh đẹp đẽ, tiêu biểu chophẩm chất cao quý của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ vừa qua
- Họ ở trong một hang dưới chân một cao điểm giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đườngTrường Sơn, tức là ở nơi tập trung nhất bom đạn và sự nguy hiểm, ác liệt, từng ngày, từnggiờ phải đối mặt với bom rơi, đạn nổ Có biết bao thương tích vì bom đạn giặc : đường bịđánh « lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn » tưởng như sự sống bị huỷ diệt : « không có láxanh » hai bên đường, « thân cây bị tước khô cháy »…Những cây rễ nằm lăn lóc, ngổnngang những hòn đá to… han rỉ trong lòng đất »
=>Quả là một hiện thực khô khốc đầy mùi chiến tranh, nó không có màu xanh của sự sống,chỉ thấy tử thần luôn rình rập
- Công việc trinh sát, phá bom lại càng đặc biệt nguy hiểm Họ phải chạy trên cao điểm giữaban ngày, phơi mình ra giữa vùng trọng điểm đánh phá của máy bay địch để đo và ước tínhkhối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khốithuốc nổ đặt vào cạnh nó để phá Đó là một công việc phải mạo hiểm với cái chết, luôncăng thẳng thần kinh, đòi hỏi sự dũng cảm và bình tĩnh hết sức
+ Không khí của chiến tranh không giống như tương lai hay quá khứ có một âm điệu riêng
Chẳng hạn như sự im lặng : « Cuộc sống ở đây đã dậy cho chúng tôi thế nào là sự im lặng » Im lặng có nghĩa là cái chết đang rình rập đâu đây, nó ập đến bất cứ lúc nào Chưa hết, đó mới chỉ là hiện thực lúc yên tĩnh, còn lúc có bom của địch thì sao ? « Nghe tiếng bom đầu tiên, có đứa chết giấc, nằm dán xuống đất », rồi « chúng tôi bị bom vùi luôn Có khi bò trên cao điểm trở về hang, cô nào cũng chỉ thấy « hai con mắt lấp lánh », « hàm răng loá lên » khi cười, khuôn mặt thì « lem luốc »
Trang 82 Vẻ đẹp tâm hồn của ba cô gái thanh niên xung phong và cũng là của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
a Những nét chung : Cả ba cô, cô nào cũng đáng mến, đáng cảm phục
- Họ đều thuộc thế hệ những cô gái thanh niên xung phong thời kì kháng chiến chống Mĩ
mà tuổi đời còn rất trẻ (như Phương Định vốn là một cô học sinh thành phố), có lí tưởng, đãtạm xa gia đình, xa mái trường, tình nguyện vào cái nơi mà cái sự mất còn chỉ diễn ra trongnháy mắt, một cách vô tư, hồn nhiên, cống hiến tuổi thanh xuân Họ thực sự là những anhhùng không tự biết Nét chung này không chỉ có ở đây mà còn được nói đến ở nhiều tác
phẩm khác như « Gửi em, cô thanh niên xung phong » của Phạm Tiến Duật, « Khoảng trời
hố bom » của Lâm Thị Mỹ Dạ và truyện ngắn « Mảnh trăng cuối rừng » của Nguyễn Minh
Châu… Tạo thành biểu tượng gương mặt đẹp và đáng yêu của những cô gái mở đường thờikháng chiến chống Mĩ
- Qua thực tế chiến đấu, cả ba cô gái đều có tinh thần trách nhiệm cao với nhiệm vụ, lòngdũng cảm không sợ hi sinh, tình đồng đội gắn bó Có lệnh là lên đường, bất kể trong tìnhhuống nào, nguy hiểm không từ nan dù phải đối mặt với máy bay và bom đạn quân thù, và
đã lên đường là hoàn thành nhiệm vụ
+ Nghe Phương Định kể lại một lần phá bom : « tôi một quả bom trên đồi Nho, hai quảdưới lòng đường Chị Thao, một quả dưới cái chân hầm ba-ri-e cũ Cảnh tượng chiếntrường trở nên « vắng lặng đến phát sợ » Đến với toạ độ chết, đến với quả bom cần phảiphá nổ (mà không biết nó sẽ nổ vào lúc nào , sự cầu viện tâm linh của cô gái (nhân vật tôi)giống như một ảo ảnh : « Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không ? » Mặc dù « quenrồi » Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần » nhưng cái hồi hộp dường như không hềthay đổi Như cái cảm giác chờ bom phát nổ : tất cả đều đứng im, cả gió, cả nhịp tim tronglồng ngực Chỉ có chiếc đồng hồ : « Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng đè lên những con sốvĩnh cửu… » Quả bom có hai vòng tròn màu vàng nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô,một đầu vùi xuống đất Thần chết đang đợi chờ Vỏ quả bom nóng Định dùng lưỡi xẻngđào đất, có lúc lưỡi xẻng chạm vào quả bom Có lúc Định « rùng mình » vì cảm thấy tại saomình lại làm quá chậm thế ! Hai mươi phút đã trôi qua Tiếng còi chị Thao rúc lên,, Địnhcẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi vào dây mìn … tiếng không khí.Đất rơi lộp bộp Bom nổ váng óc, ngực đau nhói, đôi mắt cay mãi mới mở ra được Mồ hôithấm vào môi, cát lạo xạo trong miệng Nguy hiểm, căng thẳng không thể nào kểxiết… Chị Thao vấp ngã, Nho bị thương Bom nổ, hầm sập, chị Thao và Định phải moi đất
bế Nho lên Máu túa ra, ngấm vào đất »…Định rửa vết thương cho Nho, tiêm thuốc, phasữa cho Nho, chị Thao nghẹn ngào…
+ Cuộc sống và chiến đấu ở chiến trường thật gian khổ, nguy hiểm và luôn căng thẳngnhưng họ vẫn bình tĩnh, chủ động, luôn lạc quan yêu đời Phương Định cho biết : « Tôi cónghĩ đến cái chết Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể… »
=>Phải nói rằng trong đoạn văn trả cảnh phá bom trên cao điểm, Lê Minh Khuê đã sử dụngbút pháp hiện thực để tái hiện lại cảnh phá bom vô cùng nguy hiểm, dựng nên một tượngđài về khí phách anh hùng lẫm liệt của tổ trinh sát mặt đường từ những con người bằngxương bằng thịt Chị Thao, Nho, Định như những ngôi sao xa xôi sáng ngời lên những sắc
Trang 9xanh trong khói lửa đạn bom Chiến công thầm lặng của họ bất tử với năm tháng và lòngngười như những nữ anh hùng ngã ba Đồng Lộc :
« Đất nước mình nhân hậu
Có nước trời xoa dịu vết thương đau
Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng Những vì sao ngời chói, lung linh…
(Khoảng trời hố bom – Lâm Thị Mỹ Dạ)
- Họ đều là những cô gái trẻ với cuộc sống nội tâm phong phú đáng yêu : dễ cảm xúc,nhiều mơ ước, hay mơ mộng, dễ vui, dễ buồn Họ thích làm đẹp cho cuộc sống của mình,ngay cả trong hoàn cảnh chiến trường ác liệt Nho thích thêu thùa, chị Thao chăm chép bàihát, Định thích ngắm mình trong gương, ngồi bó gối mơ mộng và hát… Cả ba đều chưa cóngười yêu, đều sống hồn nhiên tươi trẻ Không lúc nào họ không nhớ về Hà Nội Một trậnmưa đá bất ngờ trở thành nỗi nhớ : « mà tôi nhó một cái gì đấy, hình như mẹ tôi, cái cửa sổ,hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố » Nỗi nhớ ấy chính là sự nối dài, quá khứ,hôm nay và khát vọng mai sau
- Những kỉ niệm sống dậy như những khoảng sáng trong tâm hồn trong trẻo, ngây thơ, dịudàng Những xúc cảm hồn nhiên như nguồn sống, điểm tựa, giúp họ thêm vững vàng, sứcmạnh vượt qua những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua nổi « Khoảng trờixanh » trong thơ « Phạm Tiến Duật » và khoảng trời xanh của kí ức như có sức mạnh vôhình đặc biệt là trong tâm hồn những trí thức trên đường ra trận
=> Quả thực, đó là những cô gái mang trong mình những tính cách tưởng như không thểcùng tồn tại : vô cùng gan dạ, dũng cảm trong chiến đấu mà vẫn hồn nhiên, vô tư trong cuộcsống Những người như họ thật đáng trân trọng biết bao !
b Nét riêng :
- Mỗi người thể hiện cái chung đó theo cách riêng của mình
+ Chị Thao, tổ trưởng, ít nhiều có từng trải hơn, mơ ước và dự tính về tương lai có vẻ thiết
thực hơn, nhưng cũng không thiếu nhưng khát khao và rung động của tuổi trẻ « Áo lót của chị cái nào cũng thêu chỉ màu ».Chị lại hay tỉa đôi lông mày của mình, tỉa nhỏ như cái tăm.
Nhưng trong công việc, ai cũng gờm chị về tính cương quyết, táo bạo ĐẶc biệt là sự
« bình tĩnh đến phát bực » : máy bay địch đến nhưng chị vẫn « móc bánh quy trong túi, thong thả nhai » Có ai ngờ con người dày dạn trước sự sống và cái chết hàng ngày như thế lại sợ máu, sợ vắt: « thấy máu, thấy vắt là chị nhắm mắt lại, mặt tái mét ».Và không ai có
thể quên được chị hát : nhạc sai bét, giọng thì chua, chị chăm chép bài hát dù chẳng thuộcnhạc, giọng lại chua, chị không hát trôi chảy được bài nào nhưng chị lại có ba quyển sổ dàychép bài hát và rỗi là chị ngồi chép bài h át
+ Nho là một cô gái trẻ, xinh xắn, « trông nó nhẹ, mát mẻ như một que kem trắng », có
« cái cổ tròn và những chiếc cúc áo nhỏ nhắn » rất dễ thương khiến Phương Định « muốn
bế nó lên tay » Nho rất thích tắm suối ngay cả khi khúc suối đó đang chứa bom nổ chậm và rất hồn nhiên – cái hồn nhiên của trẻ thơ : « vừa tắm ở dưới suối lên, cứ quần áo ướt, Nho ngồi, đòi ăn kẹo » Hồn nhiên là thế nhưng cô lại bình thản vô cùng khi bị thương : « Không
Trang 10chết đâu Đơn vị đang làm đường kia mà Việc gì phải khiến cho nhiều người lo lắng ».
Ngay cả lúc đau đớn như vậy nhưng gặp mưa đá, Nho vẫn nhổm dậy, môi hé mở xoè tay
xin mấy viên đá mưa : « Nào, mày cho tao mấy viên nữa » Đặc biệt, khi máy bay giặc đến
thì chiến đấu rất dũng cảm, hành động thật nhanh gọn : « Nho cuộn tròn cái gối, cất nhanhvào túi », Nho quay lưng lại chúng tôi, chụp cái mũ sắt lên đầu » … Và trong một lần phábom, cô đã bị sập hầm, đất phủ kín lên người Có lẽ với những người con gái ấy, sự sốngluôn cao hơn cái chết
+ Phương Định là cô gái để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng ta Phương Định cũng trẻtrung như Nho là một cô học sinh thành phố xinh đẹp, dũng cảm trong lửa đạn, giàu yêuthương đồng đội Cô rất nhạy cảm và hồn nhiên, thích mơ mộng và hay sống với những kỉniệm của tuổi thiếu nữ vô từ về gia đình và về thành phố của mình (d/c) Ở đoạn cuốitruyện, sau khi trận mưa đá tạnh, là cả một dòng thác kỉ niệm về gia đình, về thành phố tràolên và xoáy mạnh như sóng trong tâm trí cô gái Có thể nói đây là những nét riêng của các
cô gái trẻ Hà Nội vào chiến trường tham gia đánh giặc, tuy gian khổ nhưng vẫn giữ đượccái phong cách riêng của người Hà Nội, rất trữ tình và đáng yêu
Những nét riêng đó đã làm cho các nhân vật sống hơn và cũng đáng yêu hơn Trái tim
đỏ rực của họ là « những ngôi sao xa xôi » mãi mãi lung linh, toả sáng
C Kết luận.
- Chiến tranh đã qua đi, sau hơn ba mươi năm, nhưng đọc truyện « Những ngôi sao xa xôi »của Lê Minh Khuê, ta như được sống lại những năm tháng hào hùng của đất nước Nhà vănkhiến lòng ta sống lại hình ảnh tuyệt đẹp và những chiến công phi thường của tổ trinh sátmặt đường, của Định, của Nho, của Thao, của hàng ngàn, hàng vạn cô thanh niên xungphong thời chống Mĩ Chiến công thầm lặng của họ mãi mãi là một bài ca bất tử
II ÔN TẬP CÁC TÁC PHẨM HKI
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG – NGUYỄN DỮ
Không phải đến Truyện Kiều của Nguyễn Du số phận người phụ nữ mới được quantâm, mà ngay từ thế kỷ XVI với Chuyện người con gái Nam Xương, Nguyễn Du đã cảmthông, xót thương sâu sắc cho cuộc đời bất hạnh của những kiếp hồng nhan trong xã hộiphong kiến phụ quyền
Gần năm thế kỷ đã qua đi nhưng Chuyện người con gái Nam Xương và số phận bấthạnh của vũ Thị Thiết vẫn ám ảnh người đọc Bao thế hệ độc giả đã xót thương thông cảmcho cuộc đời người phụ nữ đức hạnh, hiếu nghĩa, thủy chung mà cuối cùng phải nhận cáichết oan uổng Chuyện người con gái nam Xương chia làm ba phần đều tập chung kể vềcuộc đời bất hạnh của Vũ Thị Thiết – người con gái quê ở Nam Xương
Phần thứ nhất kể về cuộc đời Vũ nương từ khi lập gia đình đến trước khi chồng nàng trở về từ chiến trường Phần này chủ yếu miêu tả làm nổi bật đức hạnh, phẩm chất
tốt đẹp của Vũ Thị Thiết Phần tiếp theo tập trung kể về bi kịch và nỗi oan khuất của Vũ
Trang 11Nương từ khi Trương Sinh trở về đến khi nàng trẫm mình xuống bến hoàng Giang Phầncuối cùng có thể coi là vĩ thanh của tác phẩm, kể về cuộc sống của Vũ Thị Thiết dưới thủycung.
Vũ Thị Thiết là người phụ nữ hoàn hảo, nàng có đầy đủ những phẩm chất đáng quý
của một người phụ nữ, theo tiêu chuẩn của lễ giáo, đó là công, dung, ngôn, hạnh Trong từng hoàn cảnh, những phẩm chất, đức tính ấy được bộc lộ theo những cấp độ khác nhau Ngay từ đầu tác phẩm, nàng được giới thiệu là một người con gái “thùy mị, nết na,
lại thêm tư dung tốt đẹp”,Cũng vì cảm mến dung nhan của nàng mà Trương Sinh – mộtchàng trai vốn rất đa nghi đã xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về Sống bên người chồngluôn phòng ngừa thái quá, nàng lại là người vợ đoan trang, khéo léo chừng mực và khuônphép, nhờ đó mà vợ chồng chưa từng xảy ra bất hòa Sự khéo léo, chuẩn mực của nàngdường như đã hóa giải được tích cách của trương Sinh nếu như chàng không phải ra trận.Thế nhưng tính đa nghi ấy đã mầm mống, mầm mống ấy lại được không gian xa cách vàthời gian cách trở đằng đẵng ba năm vun thêm khiến nó trở thành nguyên nhân trực tiếp gâynên bất hạnh của cuộc đời Vũ Thị Thiết
Giặc Chiêm sang xâm lược, Trương Sinh phải ra trận, buổi chia li, rót chén rượu tiễnđưa, nàng dặn dò chồng bằng những lời đằm thắm, thiết tha: “…thiếp chẳng dám mong đeođược ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữbình an… ”Những lời tình nghĩa ấy thể hiện tình yêu thương, sự lo lắng của nàng đối vớichồng Tình yêu ấy vượt lên trên ước mong vinh hoa phú quý, ước mong lập tước phonghầu vốn rất quen thuộc trong tâm tư những người vợ có chồng ra trận xưa kia
Chồng ra trận, nàng một mình nuôi mẹ già con thơ Đằng đẵng tháng đợi ngày chờ,
sự xa cách càng tô đậm tấm lòng thủy chung, son sắt đối với chồng và đức tính hiếunghĩa ,ân tình đối với mẹ chồng của nàng
Thời gian cứ trôi đi , “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồngóc bể chân trời không thể nào ngăn được” “bướm lượn đầy vườn ”là khi xuân sang, “mâyche kín núi ” chỉ lúc đông về Thời gian cứ chảy trôi, trôi chảy không ngừng nhưng bất cứlúc nào lòng Vũ Thị Thiết cũng hướng tới chồng, đó là biểu hiện của tấm lòng thủy chung,son sắt và nỗi nhớ thương khôn cùng của người vợ trẻ
Trương Sinh ra trận , mẹ già vì quá nhớ mong con mà sinh ốm, Vũ Nương hết lòngchăm sóc, thuốc men lại lựa lời ngọt ngào, khôn khéo mà khuyên lơn Tấm lòng hiếu nghĩacủa nàng đã khiến mẹ chồng vô cùng cảm động, bà tin rằng ông trời kia
rồi sẽ đền đáp cho tấm lòng của nàng, “xanh kia chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụmẹ” Mẹ chồng qua đời, nàng vô cùng thương xót, “ việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với
Trang 12cha mẹ đẻ ” Vũ Nương không chỉ là người con dâu hiếu thảo, nàng còn là một người ântình, có trước có sau, vẹn nghĩa chọn tình Nhưng bà mẹ đã không thể chứng nhận cho tấmlòng của con dâu, niềm tin mộc mạc của bà vào triết lý ở hiền gặp lành không trở thành hiệnthực Những phẩm chất của Vũ Nương được miêu tả trong phần một này càng khiến cho nỗi
oan khuất của nàng thêm phần chua xót =>Cả phần một tác giả tập trung làm nổi bật những phẩm chất quý báu của Vũ Nương, nàng không chỉ thùy mị, nết na và còn vô cùng
đoan trang, khéo léo, đối với chồng nàng vừa khuôn phép, lễ độ lại vừa đằm thắm thiết tha,thủy chung son sắt ; đối với mẹ chồng nàng là người dâu hiếu thảo, hiếu nghĩa vẹn toàn.Với bấy nhiêu điều tốt đẹp ấy nàng xứng đáng được hưởng một hạnh phúc trọn vẹn, nhưngông trời thật oan nghiệt Bao nhiêu chờ đợi, bao nhiêu mong nhớ và bấy nhiêu tiết nghĩathủy chung để rồi nàng chỉ nhận lại những cay đắng, oan trá Đắng cay ấy càng chua xóthơn khi chúng lại do chính người thân yêu nhất của nàng – Những người mà nàng hi sinhhết mực, tôn thờ hết mực- mang lại trong ngày đoàn tụ- ngày mà nàng đằng đẵng đợi chờsuốt ba năm
Giặc tan, Trương Sinh trở về bình an đúng như ước nguyện của nàng ba năm trước
nhưng cũng từ đây giấc mộng sum họp với thú vui nghi gia nghi thất của nàng tan vỡ cùngvới tin mẹ qua đời, trương Sinh nhận thêm một mối ngờ vực.: đứa con không nhận cha Nóngây thơ hỏi: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chư không như cha tôitrước kia chỉ nín thin thít.” Như vậy là nó đã có một người cha khác trước khi trương sinhtrở về Câu chuyện mỗi lúc lại thêm kịch tính, Trương Sinh gặng hỏi, Đản cung cấp thênthông tin: ‘có một người đàn ông đêm nào cũng đến,mẹ Đản đi cũng đi, mẹ đản ngồi cũngngồi, nhưng chẳng bao giờ bế đản cả ’ Một đứa trẻ đang học nói thì không biết nói dối,Trương Sinh quá tin vào câu “ra đường hỏi già về nhà hỏi trẻ ”lại thêm vốn tính đa nghichàng không đủ tỉnh táo để suy xét, chàng đinh ninh rằng vợ hư hỏng Bỏ ngoài tai nhữnglời van xin, thanh minh rướm máu của vợ, bỏ ngoài tai lời bênh vực, biện bạch của hàngxóm, chàng không cho vợ cơ hội được giãi bày và kiên quyết không cho vợ biết ai đã nói rathông tin đó Là kẻ thất học lại đa nghi, chàng không đủ cao thượng để nói ra cơn ghentuông khiến chàng u mê, lú lẫn, chàng kiên quyết không cho vợ cơ hội “chạy tội” vì thếchàng chỉ biết “la um cho hả giận”rồ “lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng nhiếc nàng vàđánh đuổi đi.”
Chuyện oan uổng ấy với vũ Nương hoàn toàn bất ngờ, nàng vô cùng trong trắng, thủychung, một lòng một dạ với chồng, nàng không thể biết được nỗi oan ấy do đâu và vì thếnàng không thể giãi bày, thanh minh được Nàng có biết đâu rằng chính những người thânyêu nhất của nàng đã đẩy nàng vào hoàn cảnh thương tâm ấy bây giờ Vũ Nương đã mất tất
cả “chồng con rẫy bỏ tiếng chịu nhuốc nhơ”, niềm vui nghi gia nghi thất nhỏ nhoi bình dị đãtan vỡ Nguyên nhân trực tiếp của nỗi oan thấu trời ấy là từ sự ngây thơ của con nàng, từ sự
Trang 13đa nghi thái quá của chồng nàng Nhưng sâu xa hơn, gây lên bi kịch cho nàng có sự tiếp tay
vô hình nhưng cực kì quyền uy của cả một chế độ xã hội Chế độ phong kiến phụ quyền từchối mọi thứ quyền làm chủ của người phụ nữ Vũ Thị Thiết và biết bao người con gái kháckhông được quyền bảo vệ mình, không được quyền quyết định hạnh phúc cho chính mình.Chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ dung túng cho sự tàn nhẫn, hồ đồ, vũ phu của ngườiđàn ông Những người phụ nữ mảnh dẻ yếu ớt chỉ có một cách duy nhất để chứng minh tấmlòng trinh bạch của mình đó là tìm đến cái chết Vũ Nhương trẫm mình xuống dòng sôngquê hương để bảo vệ danh tiết của mình những mong thần tiên linh thiêng chứng giám chomột tấm lòng trong sáng, oan khuất Thế nhưng khi nỗi oan được giải, khi Trương Sinh tỉnhngộ thì tất cả đã muộn, hạnh phúc thực của Vũ nương nơi trần thế đã chấm dứt, nàng đã mấttất cả
Nếu đặt tác phẩm trong hoàn cảnh xã hội thời nguyễn Dữ, khi chế độ phong kiếnđang trong cơn khủng hoảng, thì cái chết của Vũ Nương là điều không tránh khỏi – mộtmình nàng chống sao nổi cả một chế độ xã hội Nhưng dường như không đang tâm với kếtthúc đau xót ấy, Nguyễn Dữ đưa thêm vào tác phẩm phần ba với những yếu tố kì ảo Truyện
cổ tích Vợ chàng Trương dừng ở chi tiết bé Đản chỉ bóng Trương sinh trên tường và bảocha đã về, khi ấy chàng tỉnh ngộ nhưng mọi việc đã rồi Chuyện người con gái Nam Xươngcủa Nguyễn Dữ thêm vào đoạn sau : Sau khi đi tự vẫn, Vũ Nương được tiên cung cứusống , nàng ở lại thủy cung rồi gặp Phan Lang là người cùng làng, Phan Lang trước nhờ thảcon rùa mai xanh chính là vợ vua biển Nam Hải nên khi chạy loạn chết đuối cũng đượcLinh Phi cứu sống Qua Phan Lang, Vũ Thị Thiết nhắn chàng Trương Sinh nếu còn chúttình xưa thị lập đàn giải oan cho nàng trên bến Hoàng Giang, nàng sẽ trở về
Khác với 19 truyện còn lại của truyền kì mạn lục, trong chuyện người con gái namXương, yếu tố kì ảo không tham gia vào diễn biến cốt chuyện mà tách hẳn thành một phầnriêng Phần này làm giảm đi tích chất bi kịch của câu chuyện đồng thời cũng phản ánhmong muốn của độc giả về một kết thúc có hậu hơn cho Vũ Thị Thiết, mong muốn nàngđược đền đáp ở một thế giới khác, thế giới thần tiên lộng lẫy, sang trọng và hẳn là khôngcòn khổ đau Nhưng với Vũ nương liệu đó có phải là hạnh phúc không khi nàng vẫn canhcánh nỗi nhớ nhà, nhớ chồng con, cha mẹ và cả niềm khao khát được rửa tiếng oan?
Chi tiết kì ảo nhưng nó lại mang đậm nhất giá trị hiện thực Yếu tố kì ảo không làmthay đổi được hiện thực tàn nhẫn đang diễn ra trong tác phẩm Chàng Trương Sinh dẫu cólập đàn giải oan ba ngày ba đêm cũng không chuộc được lỗi lầm của mình Còn Vũ ThịThiết, nàng vĩnh viễn không trở về nhân gian được nữa dẫu cho tấm lòng vẫn tha thiết nhớthương quê hương, gia đình Bởi vì cái xã hội mà nàng vừa thoát ra ấy tuồng như khôngdung chứa nổi cái đẹp, sự trong trắng và đức thủy chung, nó ghen ghét đố kị, hãm hại
Trang 14những người phụ nữ trong trắng mà yếu ớt, nhỏ nhoi Điều kì ảo vẫn không làm thay đổiđượchiện thực thì hiện thực ấy càng trở nên ám ảnh, đau xót và đó phải chăng chính làthành công của Nguyễn Dữ so với tác giả dân gian?
Khéo léo trong cách dẫn dắt tình tiết, diễn biến câu chuyện, Nguyễn Dữ đã xây dựngthành công một tác phẩm không chỉ giàu kịch tính mà còn chân thực, sống động Lời trầnthuật khách quan của tác giả khiến câu chuyện xảy ra tự nhiên, hợp lí
Qua câu chuyện thương tâm về cuộc đời và cái chết oan khuất của Vũ Nương ngườicon gái đức hạnh vẹn toàn Nguyễn Dữ đã bộc lộ niềm cảm thông, sẻ chia sâu sắc với sốphận bất hạnh của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến phụ quyền, đồng thới tác phẩmcũng đã khảng định, tin tưởng vào vẻ đẹp tâm hồn bền vững và những đức tính truyềnthống quý báu của họ CNCGNX của Nguyễn Dữ nói chung sẽ còn sống mãi với thời gianbởi giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và những thành công nghệ thuật của nó
. -ĐOẠN TRÍCH “CHỊ EM THUÝ KIỀU”
(“TRUYỆN KIỀU” – NGUYỄN DU)
Nguyễn Du đại thi hào của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Ông để lại số lượng tácphẩm đồ sộ, giàu giá trị hiện thực và nhân đạo Trong kho tàng văn học đồ sộ ấy ta không
thể không nhắc đến Truyện Kiều - tuyệt bút của văn học dân tộc Tác phẩm không chỉ hấp
dẫn ở nội dung mà còn đặc sắc ở nghệ thuật tả người chân thực, sinh động Nét bút tài hoa,chỉ vài đường nét ông đã dựng lên chân dung tính cách và số phận của mỗi người Điều đó
được thể hiện rõ nhất qua đoạn trích Chị em Thúy Kiều.
Chị em Thúy Kiều nằm ở phần đầu của tác phẩm “Gặp gỡ và đính ước” Đoạn trích
không chỉ nhằm giới thiệu về gia cảnh của hai nàng mà còn miêu tả chân dung của hai tuyệtsắc giai nhân, mỗi người mang một vẻ đẹp riêng, không hòa lẫn
Mở đầu bài thơ, bằng bút pháp ước lệ, Nguyễn Du đã giới thiệu chung về hai chị emThúy Kiều Kiều là chị, còn em là Vân, hai cô là con gái của Vương Viên ngoại Hai conngười ấy có cốt cách vô cùng thanh thoát, tao nhã “mai cốt cách” giống như loài hoa maimảnh dẻ, thanh cao Phong thái tinh thần thanh sạch, trong trắng “tuyết tinh thần” Họ mangtrong mình vẻ đẹp trong sáng, dịu dàng, tinh khôi Ngoài ra để khẳng định vẻ đẹp của nàng,Nguyễn Du còn có thêm một câu thơ bình luận: “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.Lời bình vừa cho thấy nét riêng, vừa cho thấy vẻ đẹp hoàn hảo của hai nàng Chỉ bằng
Trang 15những lời giới thiệu ngắn gọn, nhưng đã mang đến cho bạn đọc những thông tin phong phú,đầy đủ, những ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp của hai nàng.
Sau khi giới thiệu chung về hai chị em, bốn câu thơ tiếp dành những lời thơ mĩ miều,đẹp đẽ nhất để miêu tả nàng Vân:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nàng
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Thúy Vân mang vẻ đẹp của phong thái đoạn trang Từ con người cô toát lên vẻ đẹpnghiêm chính, ung dung, sự cao sang, quý phái Nguyễn Du tập trung miêu tả khuôn mặtcủa nàng: với khuôn mặt đầy đặn, sáng tươi như ánh trăng rằm, đôi lông mày cong cong,hơi đậm làm nổi bật lên đôi mắt đẹp đẽ Nụ cười của nàng luôn luôn rạng rỡ như những đóahoa, giọng nói trong, thanh thoát như ngọc Mái tóc dài, óng ả hơn cả mây, làn da mịn màngtrắng hơn cả tuyết Thúy Vân mang trong mình vẻ đẹp hoàn hảo, tuyệt mĩ Vẻ đẹp của nàngrất phù hợp với chuẩn mực xã hội lúc bấy giờ, một vẻ đẹp hài hòa, hòa hợp với thiên nhiên.Dẫu Nguyễn Du có sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng để cực tả vẻ đẹp của nàng thì nàngvẫn được mây, tuyết “thua”, “nhường”, được thiên nhiên ưu ái, bao bọc, nâng đỡ Bởi vậycũng dự báo cuộc sống yên ấm, êm đềm của cô sau này
Tả Vân thật kĩ, thật cụ thể song Nguyễn Du chỉ vẽ Kiều bằng những nét phác hoạ thôngthoáng bởi ông không muốn là người thợ vẽ vụng về:
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Sắc đẹp của Kiều được đặt trong sự so sánh với vẻ đẹp đoan trang, quý phái của Vân
để thấy được sự hơn hẳn của Kiều về vẻ sắc sảo của tài năng trí tuệ, bởi cái mặn mà củanhan sắc Không tả khuôn mặt, giọng nói, tiếng cười, làn da, mái tóc như Thuý Vân màNguyễn Du đã thật tài tình khi chọn đôi mắt Kiều để đặc tả bởi đôi mắt là cửa sổ tâm hồn,thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ:
Làn thu thủy nét xuân sơn,
Câu thơ tả đôi mắt mà gợi lên bức tranh sơn thuỷ, diễm lệ Bức tranh ấy có làn thuthủy – làn nước mùa thu, có nét xuân sơn – dáng núi mùa xuân Cũng như khuôn mặt Kiều
có đôi mắt trong sáng, long lanh, có đôi lông mày thanh tú mà khiến:
Hoa ghen đua thắm liễu hờn kém xanh.
Trang 16Vẻ đẹp của Kiều không chỉ như thiên nhiên mà còn vượt trội hơn cả thiên nhiên khiếnhoa cũng phải ghen, liễu cũng phải hờn Thiên nhiên không còn thua, nhường mà cau mày,bặm môi tức giận, mà đố kị hờn ghen Nếu vẻ đẹp của Vân là những gì tinh khôi, trongtrắng nhất của đất trời thì Kiều lại mang vẻ đẹp của nước non, của không gian mênh mông,của thời gian vô tận Cái đẹp ấy làm cho nghiêng nước, đổ thành:
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Nguyễn Du đã sử dụng những điển tích để cực tả Kiều với vẻ đẹp của trang giai nhântuyệt thế Và cũng chính vẻ đẹp không ai sánh bằng ấy như tiềm ẩn những phẩm chất bêntrong cao quí là tài và tình rất đặc biệt:
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Kiều có cả tài cầm – kì – thi – hoạ của những bậc văn nhân quân tử và tài nào cũng đếnmức điêu luyện Nàng giỏi về âm luật đến mức làu bậc Cây đàn nàng chơi là cây hồ cẩm,tiếng đàn của nàng ăn đứt bất cứ nghệ sĩ nào và đã trở thành nghề riêng Để cực tả cái tàicủa Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng hàng loạt các từ ngữ ở mức độ tuyệt đối: vốn sẵn, phanghề, làu bậc và đủ mùi Không những giỏi ca hát, chơi đàn mà Kiều còn sáng tác nhạc nữa.Cung đàn nàng sáng tác là một thiên Bạc mệnh Bản đàn ấy đã ghi lại tiếng lòng của mộttâm hồn đa sầu đa cảm Nguyễn Du cực tả tài năng của Kiều chính là ngợi ca cái tâm đặcbiệt của nàng Tài năng của Kiều vượt lên trên tất cả và là biểu hiện của những phẩm chấtcao đẹp, trái tim trung hậu, nồng nhiệt, nghĩa tình, vị tha Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp củasắc – tài – tình và đạt đến mức siêu phàm, lí tưởng Nhưng nhan sắc đến mức hoa ghen, liễuhờn để tạo hóa phải hờn ghen đố kị và tài hoa trí tuệ thiên bẩm làu bậc, đủ mùi cái tâm hồn
đa sầu, đa cảm như tự dưng mà có của nàng khó tránh khỏi sự nghiệt ngã của định mệnh.Chính bởi Kiều quá toàn mĩ, hoàn thiện nên trong xã hội phong kiến kia khó có một chỗđứng cho nàng Và cung đàn Bạc mệnh nàng tự sáng tác như dự báo một cuộc đời hồngnhan bạc mệnh khó tránh khỏi của Kiều Cuộc đời nàng rồi sẽ sóng gió, nổi chìm, truânchuyên Cũng giống như bức chân dung Thúy Vân, bức chân dung Kiều là bức chân dungmang tính cách số phận
Nguyễn Du hết lời ca ngợi Vân và Kiều mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười nhưngngòi bút tác giả lại đậm nhạt khác nhau ở mỗi người Vân chủ yếu đẹp ở ngoại hình cònKiều là cái đẹp cả về tài năng, nhan sắc lẫn tâm hồn Điều đó tạo nên vẻ đẹp khác nhau củahai người thiếu nữ và hé mở hai tính cách, dự báo hai cuộc đời khác nhau đang đón chờ hai
ả tố nga Hai bức vẽ chân dung của chị em Thuý Vân và Thuý Kiều đã cho thấy sự tài tìnhtrong ngòi bút tinh tế của Nguyễn Du
Trang 17Kết thúc đoạn thợ là bốn câu lục bát miêu tả cuộc sống phong lưu khuôn phép, mẫu mựccủa hai chị em Kiều:
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Hai người con gái họ Vương không chỉ có sắc – tài – tình mà còn có đức hạnh Sốngphong lưu đến mực hồng quần Cả hai đều đã tới tuần cập kê – tới tuổi búi tóc, cài trâmnhưng vẫn sống trong cảnh:
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Hai câu thơ như che chở, bao bọc cho hai chị em, hai bông hoa vẫn còn phong nhụy trongcảnh êm đềm chưa một lần hương toả vì ai Nguyễn Du đã buông mành, gạt tất cả mọi vẩnđục cho cuộc đời khỏi cuộc sống phong lưu của hai chị em để đề cao hơn đức hạnh của hainàng
Với cảm hứng nhân đạo và tài nghệ thơ, Nguyễn Du đã vẽ nên bức chân dung Thúy Vân,Thuý Kiều bằng những gì đẹp đẽ, mĩ lệ nhất Hai bức tranh mĩ nhân bằng thơ đã thể hiệnbút pháp ước lệ tượng trưng và các biện pháp tu từ trong ngòi bút tinh tế của đại thi hào dântộc Nguyễn Du
. -ĐOẠN TRÍCH “CẢNH NGÀY XUÂN”
(“TRUYỆN KIỀU” – NGUYỄN DU)
Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du được xem là một kiệt tác của nền văn học dântộc Việt Nam, không chỉ hấp dẫn độc giả trong nước mà còn thu hút sự chú ý và yêu thíchcủa rất nhiều độc giả nước ngoài Sở dĩ có sự thành công này, không chỉ bởi TruyệnKiều phản ánh được sinh động hiện thực xã hội đương thời, mang giá trị nhân đạo sâu sắc,
mà còn bởi bút pháp nghệ thuật tài tình của Nguyễn Du Điển hình nhất trong nghệ thuậtmiêu tả của Truyện Kiều, không thể không kể đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên Ở đây, ta
sẽ đi tìm hiểu nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” để thấyđược sự tài tình của tài năng Nguyễn Du
Trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, tràn đầysức sống được nhà thơ Nguyễn Du gợi ra đầy sinh động, tươi tắn, ngập tràn sắc xuân:
“Ngày xuân con én đưa thoi
Trang 18Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Khung cảnh mùa xuân được nhà thơ gợi ra bằng hình ảnh “con én đưa thoi” Chim énvốn là một loại chim tiêu biểu, nó luôn gợi nhắc người ta đến mùa xuân bởi chính đặc tínhsinh học của nó Khi xuất hiện những đàn chim én bay lượn trên bầu trời cao là người tabiết mùa xuân đã về Ngày xuân những cánh én chao liệng như gọi thêm cái náo nức, nhộnnhịp về cho đất trời Ở đây, Nguyễn Du đã ví những cánh én như những con “thoi”, như đểchỉ sự chảy trôi nhanh chóng của ngày xuân tựa như chiếc thoi vẽ những đường tơ mềm mạitrên khung vải
“Thiều quang” là làn ánh sáng đỏ hồng, tỏa rạng rực rỡ và ấp áp của ngày xuân Trongkhông khí náo nức của những cánh chim én, bầu trời như cao hơn, rực rỡ hơn bởi nhữngánh nắng xuân nhẹ nhàng mà đầy tinh khiết, mang lại cái ấm áp cho vạn vật, khoác lênchúng bộ một sắc màu tươi tắn, mới lạ và đầy sức sống Trên cái khung cảnh tuyệt sắc ấycủa thiên nhiên, hình ảnh xanh mướt của cỏ non trải dài ra trước mắt người đọc “Cỏ nonxanh tận chân trời” Hình ảnh những đám cỏ xanh mơn mởn trải ra bát ngát, mênh mông,dường như không có điểm dừng Trong cảm nhận của đại thi hào Nguyễn Du, dường nhưnhững đám cỏ này trải dài đến tận đường “chân trời” Trong không khí rộn ràng, khoe sắccủa mùa xuân ấy, thu hút thị giác của độc giả không chỉ bởi cái non tươi của cỏ non, mà cònbởi những đốm trắng được điểm xuyết bởi những bông hoa lê “Cành lê trắng điểm một vàibông hoa” Ta có thể thấy, sự xuất hiện của sắc trắng hoa lê đã làm cho bức tranh ngày xuânthêm hoàn mĩ, bộc lộ được trọn vẹn vẻ đẹp của ngày xuân Sự kết hợp tài tình giữa hai màuxanh- trắng đã làm cho câu thơ tràn trề sức sống của vạn vật, của hoa lá cỏ cây
Không chỉ không khí của ngày xuân được Nguyễn Du tái hiện một cách sinh động, chânthực mà ngay cả khi bầu trời ngả bóng chiều tà, khi không khí ngày xuân dần dần lặngxuống, nhường chỗ cho bóng tối thì Nguyễn Du vẫn dùng sự tài hoa, tinh tế của mình mangđến cho người đọc một bức tranh chiều tà thật đẹp:
“Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc qua”
Trang 19Nếu không khí của ngày xuân nhộn nhịp, vui tươi bởi những cánh én chao liệng, bởi sựkhoe sắc của cỏ cây hoa lá, bởi chính sự tấp nập, háo hức của con người, thì khi chiều tà,không khí của ngày xuân trở nên trầm lắng hơn, thanh tĩnh hơn nhưng không vì đó mà mất
đi cái vẻ hấp dẫn, mất đi cái nét đẹp vốn có của nó Ở đây, nhà thơ Nguyễn Du đã sử dụng
hệ thống các từ láy như: “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ” để vẽ ra bức tranh chiều tà,các từ ngữ này không chỉ có chức năng biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn giàu giá trị biểucảm Trong đó, từ láy “nao nao” rất đặc biệt, bởi nó không chỉ gợi ra được cái nhịp chảychậm chãi, từ từ của “dòng nước uốn quanh”, mà nó còn gợi ra được bức tranh tâm trạngcủa con người, đó chính là cảm giác mơ hồ buồn, có chút trống trải trong sự cảm nhận củacon người
Khung cảnh buổi chiều của mùa xuân được nhà thơ Nguyễn Du khắc họa với vẻ đẹp trầmlặng, chậm rãi nhưng mọi cảnh vật vẫn thơ mộng như vậy, hữu tình như vậy Cảnh vật vẫnmang cái thanh, cái nhẹ của mùa xuân, ánh nắng nhạt nhòa, dòng suối nhỏ, nhịp cầu chênhvênh Đặc biệt, trong bức tranh buổi chiều mùa xuân, Nguyễn Du đã rất khéo léo lồng tâmtrạng, cảm xúc của con người vào bức tranh thiên nhiên, làm cho bức tranh thiên nhiên sinhđộng, chân thực hệt như cảm xúc của con người
Như vậy, bằng sự cảm nhận tinh tế của tâm hồn thi sĩ, nghệ thuật miêu tả cảnh vật bậcthầy, Nguyễn Du đã tái hiện vô cùng chân thực, tự nhiên bức tranh ngày xuân với đầy đủsắc thái, từ náo nức rộn rã đến cái nhẹ nhàng, chậm rãi của cảnh vật, từ cái tấp nập, háo hứcđến vẻ trầm tĩnh, nao nao của cảm xúc con người Ta có thể khẳng định, bức tranh ngàyxuân trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là bức tranh tươi đẹp, sống động nhất, nó thể hiệnđược tài năng miêu tả bậc thầy cũng như tâm hồn đầy tinh tế của nhà thơ Nguyễn Du
. -PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH.
Đoạn thơ "Kiều ở lầu Ngưng Bích" dài 22 câu trích trong "Truyện Kiểu" là những
"Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình" (Tố Hữu) Bao biến cô' khủng khiếp đã diễn ra: taibay vạ gió, cha và em bị tù tội, gia sản bị bọn sai nha "đầu trâu mặt ngựa" cướp "sạch sànhsanh ", phải bán mình chuộc cha, trao duyên cho em, Kiều rơi vào tay Mã Giám Sinh - Tú
Bà Sau khi "thất thân" bởi Mã Giám Sinh, bị mụ Tú bà làm nhục, Kiều tự vẫn nhưng đãđược cứu sống
Kiều được Tú Bà đưa ra lầu Ngưng Bích với lời hứa "con hãy thong dong” nhưngthật ra là nàng bị giam lỏng Lầu Ngưng Bích là một điểm dừng chân của Thúy Kiều trêncon đường lưu lạc đầy nước mắt, cay đắng và tủi nhục suốt 15 năm trời
Trang 20Đoạn thơ không chỉ biểu lộ tình cảm xót thương của Nguyễn Du đối với kiếp ngườibạc mệnh mà còn thể hiện một bút pháp nghệ thuật đặc sắc về tự sự về tả cảnh ngụ tình, vềngôn ngữ độc thọai để biểu đạt nỗi lòng và tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều.
Sáu câu đầu đoạn là một không gian nghệ thuật và một tâm trạns nghệ thuật đồnghiện Có "non xa" và "tấm trăng gần": có "cát vàng cồn nọ” và “ bụi hồng dặm kia" Giữamội thiên nhiên vắng lặng và mênh mông, không một bóng người, Kiều chỉ còn biết "Bổn
bề bát ngát xa trông" Một cảm giác cô đơn buồn tủi và bẽ bàng cho thân phận mình, duyên
số mình Chỉ có một mình một bóng đối diện với "mây sớm đèn khuya", nỗi lòng người congái lưu lạc đau khổ, tủi nhục và ngao ngán vô cùng:
"Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng"
Bốn chữ "như chia tấm lòng" diễn tả một nỗi niềm, mội nỗi lòng tan nát, đau thương
Vì thế, tuy sống giữa một khung cảnh đẹp êm đềm, có non xa và trăng gần - nhưng nàngvẫn thấy cô đơn, bẽ bàng, bởi lẽ "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ” Kiều sao khôngkhỏi cô dơn, bẽ bàng trong một cảnh ngộ đầy bi kịch:
"Chung quanh những nước non người,
Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu”
Tám câu thơ tiếp theo nói lên niềm tưởng nhớ người yêu và nỗi xót thương cha mẹcủa Thúy Kiều khi sống một mình trong lầu Ngưng Bích Với Kim Trọng thì Kiều Tưởngngười Với cha mẹ thì nàng đã “xót người ” mỗi đối tượng Kiều có một nỗi thương nhớriêng
Trên đường theo Mã Giám Sinh về Lâm Tri Kiều thương Kim Trọng cô đơn, đaukhổ "Một trời thu để riêng ai một người" Đối với cha mẹ Kiều khắc khoải "Nghe chim nhưnhắc tấm lòng thần hôn" Lẩn này, Kiều tưởng nhớ chàng Kim, nhớ lời thề dưới trăng đêmtình tự "dưới nguyệt chén đồng", thương người vêu đau khổ "rày trông mai chờ" và "bơ vơ"
cô đơn, sầu tủi Đến bao giờ mới nguôi, mới "phai" được nỗi thương nhớ ấy? Những từ ngữ,hình ảnh chỉ không gian và thời gian cách biệt như: "dưới nguyệt chén đồng"tin sương",
"rày trông mai chờ, "bên trời góc bể", "tấm son gột rửa " đã diễn tả và bộc lộ một cách sâusắc cảm dộng tình cảm thương nhớ người yêu trong mối tình đầu, nay vì cảnh ngộ mà chialìa đau đớn:
"Tường người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”
Trang 21Các động từ - vị ngữ: "tưởng", "trông", "chờ", "bơ vơ", "gột rửa", "phai" đã liên kếtthành một hệ thống ngôn ngữ độc thọai biểu đạt nội tâm nhân vật trữ tình Kiều nhớ ngườiyêu khôn nguôi, xót xa cho mối tình đã nặng lời thề son sắt mà bị tan vỡ!
Nhớ chàng Kim rồi Kiều xót thương cha mẹ Các từ ngữ chỉ thời gian xa cách: "hôm mai",
"cách mấy nắng mưa", các thi liệu, điển cố văn học Trung Hoa : "sân Lai", "gốc tử" vàthành ngữ "quạt nồng ấp lạnh", đặc biệt hình ảnh mẹ già "tựa cửa hôm mai đợi chờ, trôngngóng đứa con lưu lạc quê người đã cực tả nỗi nhớ thương cha mẹ, nỗi đau buồn của đứacon gái đầu lòng không thể, không được chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, khi song thân đãgià yếu, khi gốc tử đã vừa người ôm"
Nguyễn Du đã sử dụng ngôn ngữ độc thọai kết hợp hài hòa giữa phong cách cổ điển
và phong cách dân tộc, tạo nên những vần thơ biểu cảm thể hiện một tâm trạng bi kịch, mộtcảnh ngộ đầy bi kịch của Thúy Kiều Trong chia lìa "trâm gãy gương tan" nàng vẫn dànhcho "người tình chung” bao tình thương nhớ "muôn vài ái ân" Là một đứa con chí hiếu,giàu đức hi sinh, khi cha mẹ già yếu không được sớm hôm phụng dưỡng, Kiều càng nhớthương, càng xót xa Giọng thơ rưng rưng lệ, nỗi đau củ a nàng Kiều như thấm vào cảnhvật, thời gian và lòng người bấy lâu nay:
"Xát người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm”
Tám câu cuối đoạn, điệp ngữ "buồn trông" xuất hiện bốn lần, đứng ở vị trí đầu câu 6của mỗi cặp lục bát Hai chữ "buồn trông" là cảm xúc chủ đạo của tâm trạng !‘tê tái: đauthương ,thương mình và thương người thân, thương cho thân phận và duvên số "Buồntrông" vì càng buồn thì càng trông, càng trông lại càng buồn Đây là đoạn thơ tả cảnh ngụtình hay nhất trong 'Truyện Kiều" Cứ mỗi cặp lục bát là một nét tâm trạng "buồn trông".Ngoại cảnh và tâm cảnh, khung cảnh thiên nhiên và biến diễn tâm trạng của nhân vật đượcdiễn tả qua một hệ thống hình tượng và ngôn ngữ mang tính ước lệ, mở ra một trường liêntưởng bi thương:
"Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”
Cửa bể mênh mông lúc ngày tàn chiều hôm càng làm tăng nỗi buồn đau cô đơn củakiếp người lưu lạc "Thuyền ai" lúc ẩn lúc hiện "thấp thoáng cánh buồm xa xa' đầy ám ảnh
"Buồn trông" con thuyền "ai " xa lạ, cánh buồm xa xa"thấp thoáng", Kiều càng nghĩ đếnthân phận bơ vơ của mình nơi quê người đất khách
Trang 22Rồi nàng lại "buồn trông" về phía "ngọn nước mới sa", dõi theo những cánh hoa trôidạt và tự hỏi "về đâu", đến phương trời vô định nào Cánh hoa trôi man mác ấy tượng trưngcho số phận chìm nổi trên dòng đời không biết về đâu, đến đâu Kiều nhìn hoa trôi trên ngọnnước mà cảm thương cho số phận của mình:
"Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu"
Sau hai câu hỏi tu từ về "thuyền ai", về hoa trôi biết về đâu Kiều "buồn trông" vềbốn phía "chân mây mặt đất" về nội cỏ, nàng chỉ nhìn thấy trên cái nền xanh xanh mịt mờbao la là màu sắc tàn úa, vàng héo "rầu rầu" củ a nội cỏ Màu sắc tê tái thê lương ấy đã phảnchiếu nỗi đau tê tái của người con gái lưu lạc chốn giang hổ:
"Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mâymặt đất một mâu xanh xanh"
"Nội cỏ rầu rầu” tàn úa hiện lên giữa màu "xanh xanh" nhạt nhòa của 'chân mây mặt đất"chính là tâm trạng lo âu của Kiều khi nghĩ đến tương lai mờ mịt, héo tàn của mình, sắc cỏ
"rầu rầu" ấy, nàng đã một lần nhìn thấy mới ngày nào trên nấm mồ Đạm Tiên:
"Sè sè nắm đất bên dường,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh"
Nhìn xa rồi nhìn gần, vừa "buồn trông" vừa lắng tai nghe Nghe tiếng gió, gió gào, "giócuốn" trên mặt duềnh Nghe tiếng "ầm ầm” của sóng, không phải là sóng reo mà "sóngkêu" Gió và sóng đang bủa vây ".xung quanh ghế ngồi" Mội tâm trạng cô đơn lẻ loi đangtrải qua những giờ phút hãi hùng, ghê sợ, lo âu Phái chăng âm thanh dữ dội ấy của gió vàsóng là biểu tượng cho những tai họa khủng khiếp đang bủa vây, sắp giáng xuống số phậnngười con gái "nho bé" đáng thương? Kiều "buồn trông" mà lo âu sợ hãi:
"Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ấm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"
Bức tranh "nước non người", cận cảnh là lầu Ngưng Bích, viển cảnh là con thụyền vàcánh buồm xa xa trên cửa bể chiều hôm, là ngọn nước và hoa trôi, là nội cò rầu rầu giữamàu xanh xanh chân mâv mặt đất, là gió cuốn và tiếng sóng ầm ầm kêu nơi mặt duềnhmang ý nghĩa tượng trưng và giàu giá trị thẩm mĩ Màu sắc ấy, âm thanh ấy của thiên nhiênvừa bao la , mờ mịt, vừa dữ dội, tất cá như đang bủa vây người con gái lưu lạc đau thươngtrong nỗi buồn đau hãi hùng, lẻ loi
Những chặng đường đầy cạm bẫy, nhiều máu và nước mắtcó "ma đưa lối, quỷ đemđường", đối với Kiều đang ở phía trước Đoạn thơ "Kiều ở lầu Ngưng Bích" như chứa đầy
Trang 23lệ Lệ của người con gái lưu lạc, đau khổ vì cô đơn lẻ loi buồn thương chua xót vì mối tìnhđầu tan vỡ, xót xa vì thương nhớ mẹ cha, lo sợ cho thân phận, số phận mình Lệ của nhàthơ, một trái tim nhân đạo bao la đồng cảm, xót thương cho người thiếu nữ tài sắc, hiếu thảo
mà bạc mệnh
Các từ láy: "bát ngát”, "bẽ bàng, bơ vơ, thấp thoáng , xa xa, man mác, rầu rầu, xanhxanh, ầm ầm kết hợp với điệp ngữ "buồn trông" đã tạo nên sắc điệu trữ tình thẩm mĩ và tôđậm cảm hứng nhân đạo Đó là giá trị văn chương đích thực của đoạn thơ Kiểu ở lầu NgưngBích"
-ĐỒNG CHÍ – CHÍNH HỮU
I - Mở bài: Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, hình ảnh người lính mãi mãi là
hình ảnh cao quý nhất, đẹp đẽ nhất Hình tượng người lính đã đi vào lòng người và vănchương với tư thế, tình cảm và phẩm chất cao đẹp Một trong những tác phẩm ra đời sớmnhất, tiêu biểu và thành công nhất viết về tình cảm của những người lính Cụ Hồ là “Đồngchí” của Chính Hữu Bằng những rung động mới mẻ và sâu lắng, bằng chính sự trải nghiệmcủa người trong cuộc, qua bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã diễn tả thật sâu sắc tình đồngchí gắn bó thiêng liêng của anh bộ đội thời kháng chiến
II – Thân bài
Chính Hữu viết bài thơ : “Đồng chí” vào đầu năm 1948, khi đó ông là chính trị viên đạiđội, đã từng theo đơn vị tham gia chiến dịch Việt Bắc, và cũng là người đã từng sống trongtình đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn bó vượt qua những khó khăn gian khổ trong cuộcchiến đấu bảo vệ Tổ Quốc
1 Trong 7 câu thơ đầu, nhà thơ lý giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng
- Cùng chung cảnh ngộ xuất thân: Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, những chiến sĩ
dũng cảm, kiên cường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc không ai khác chính là những người nôngdân mặc áo lính Từ giã quê hương, họ ra đi tình nguyện đứng trong đội ngũ những ngườichiến đấu cho một lí tưởng chung cao đẹp, đó là độc lập tự do cho dân tộc Mở đầu bài thơ
là những tâm sự chân tình về con người và cuộc sống rất bình dị và cũng rất quen thuộc:
Quê hương anh nước mặn đồng chua.
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
+ Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồng đội nhớ lại
kỉ niệm về những ngày đầu tiên gặp gỡ Họ đều là con em của những vùng quê nghèokhó, là những nông dân ở nơi “nước mặn đồng chua” hoặc ở chốn “đất cày lên sỏi
Trang 24đá”.Hình ảnh “quê hương anh” và “làng tôi” hiện lên với biết bao nỗi gian lao vất vả,mặc dù nhà thơ không chú ý miêu tả Nhưng chính điều đó lại làm cho hình ảnh vốn chỉ
là danh từ chung chung kia trở nên cụ thể đến mức có thể nhìn thấy được, nhất là dướicon mắt của những người con làng quê Việt Nam Thành ngữ dân gian được tác giả vậndụng rất tự nhiên, nhuần nhuỵ khiến người đọc có thể dễ dàng hình dung được nhữngmiền quê nghèo khổ, nơi sinh ra những người lính Khi nghe tiếng gọi thiêng liêng của
Tổ Quốc, họ sẵn sàng ra đi và nhanh chóng có mặt trong đoàn quân chiến đấu bảo vệ TổQuốc
=> Hai câu thơ đầu theo cấu trúc sóng đôi, đối ứng: “Quê anh – làng tôi” đã diễn tả sự
tương đồng về cảnh ngộ Và chính sự tương đồng về cảnh ngộ ấy đã trở thành niềm đồngcảm giai cấp, là cơ sở cho tình đồng chí, đồng đội của người lính
- Cùng chung lí tưởng chiến đấu: Trước ngày nhập ngũ, những con người này vốn “xa lạ”:
“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Những câu thơ mộc mạc, tự nhiên, mặn mà như một lời thăm hỏi Họ hiểu nhau, thươngnhau, tri kỉ với nhau bằng tình tương thân tương ái vốn có từ lâu giữa những người nghèo,người lao động Nhưng “tự phương trời” họ về đây không phải do cái nghèo xô đẩy, mà họ
về đây đứng trong cùng đội ngũ do họ có một lí tưởng chung, cùng một mục đích cao cả:
chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc Hình ảnh : “Anh – tôi” riêng biệt đã mờ nhoà, hình ảnh sóng đôi
đã thể hiện sự gắn bó tương đồng của họ trong nhiệm vụ và lí tưởng chiến đấu: “Súng bên súng đầu sát bên đầu” “Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa tượng trưng cho
nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần nhưnhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu của người đồng chí
- Tình đồng chí nảy nở bền chặt trong sự chan hoà, chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt mà tác giả biểu hiện bằng một
hình ảnh thật cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.Đêm Việt Bắc thì quá rét, chăn lại quá nhỏ, loay hoay mãi không đủ ấm Đắp được chăn thì
hở đầu, đắp được bên này thì hở bên kia Chính trong những ngày thiếu thốn, khó khăn ấy
từ “xa lạ” họ đã trở thành tri kỉ của nhau “Tri kỉ” là người bạn thân thiết hiểu rất rõ về ta.Vất vả nguy nan đã gắn kết những người đồng chí khiến họ trở thành người bạn tâm giaogắn bó Những câu thơ giản dị mà hết sức sâu sắc, như được chắt lọc từ cuộc sống, từ cuộcđời người lính gian khổ Bao nhiêu yêu thương được thể hiện qua những hình ảnh vừa gầngũi vừa tình cảm hàm súc ấy Chính Hữu đã từng là một người lính, đã trải qua cuộc đờingười lính nên câu thơ bình dị mà có sức nặng, sức nặng của tình cảm trìu mến, yêu thươngvới đồng đội Hình ảnh thật giản dị nhưng rất cảm động
- Từ trong tâm khảm họ, bỗng bật thốt lên hai từ « đồng chí » Từ “đồng chí” được đặtthành cả một dòng thơ ngắn gọn mà ngân vang, giản dị mà thiêng liêng Từ “đồng chí’ vớidấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khac nhau, nhấnmạnh sự thiêng liêng cao cả trong tình cảm mới mẻ này Đồng chí là cùng chí hướng, cùngmục đích Nhưng trong tình cảm ấy một khi có cái lõi bên trong là « tình tri kỉ » lại đượcthử thách, được tôi rèn trong gian khổ thì mới thực sự vững bền Không còn anh, cũngchẳng còn tôi, họ đã trở thành một khối đoàn kết, thống nhất gắn bó Như vậy, trong tình
Trang 25đồng chí có tình cảm giai cấp (xuất thân từ nông dân), có tình bạn bè tri kỉ và có sự gắn bógiữa con người cùng chung lí tưởng, chung mục đích chiến đấu Và khi họ gọi nhau bằngtiếng “đồng chí” họ không chỉ còn là người nông dân nghèo đói lam lũ, mà họ đã trở thànhanh em trong cả một cộng đồng với một lý tưởng cao cả vì đất nước quên thân để tạo nên sựhồi sinh cho quê hương, cho dân tộc Câu thơ vẻn vẹn có 2 chữ như chất chứa, dồn nén baocảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy nghĩ tiếp theo Quả thậtngôn từ Chính Hữu thật là hàm súc
2.Nhưng Chính Hữu đã không dừng lại ở việc biểu hiện những xúc cảm về quá trình hình thành tình đồng chí Trong mười câu thơ tiếp theo nhà thơ sẽ nói với chúng ta về những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí
Trước hết, đồng chí là sự thấu hiểu và chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
+ Họ là những người lính gác tình riêng ra đi vì nghĩa lớn, để lại sau lưng mảnh trời quêhương với những băn khoăn, trăn trở Từ những câu thơ nói về gia cảnh, về cảnh ngộ, ta bắtgặp một sự thay đổi lớn lao trong quan niệm của người chiến sĩ: “Ruộng nương” đã tạm gửicho “bạn thân cày”, “gian nhà không” giờ để “mặc kệ gió lung lay” Lên đường đi chiếnđấu, người lính chấp nhận sự hi sinh, tạm gạt sang một bên những tính toán riêng tư Haichữ “mặc kệ” đã nói lên được cái kiên quyết dứt khoát mạnh mẽ của người ra đi khi lítưởng đã rõ ràng, khi mục đích đã lựa chọn Song dù dứt khoát, mạnh mẽ ra đi nhưngnhững người lính nông dân hiền lành chân thật ấy vẫn nặng lòng với quê hương Chính thái
độ gồng mình lên ấy lại cho ta hiểu rằng những người lính càng cố gắng kiềm chế tình cảmbao nhiêu thì tình cảm ấy càng trở nên bỏng cháy bấy nhiêu Nếu không đã chẳng thể cảm
nhận được tính nhớ nhung của hậu phương: “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” Hình
ảnh thơ hoán dụ mang tính nhân hoá này càng tô đậm sự gắn bó yêu thương của người línhđối với quê nhà, nó giúp người lính diễn tả một cách hồn nhiên và tinh tế tâm hồn mình.Giếng nước gốc đa kia nhớ người ra lính hay chính tấm lòng người ra lính không nguôi nhớquê hương và đã tạo cho giếng nước gốc đa một tâm hồn? Quả thực giữa người chiến sĩ vàquê hương anh đã có một mối giao cảm vô cùng sâu sắc đậm đà Tác giả đã gợi nên hai tâmtình như đang soi rọi vào nhau đến tận cùng Ba câu thơ với hình ảnh: ruộng nương, giannhà, giếng nước, gốc đa, hình ảnh nào cũng thân thương, cũng ăm ắp một tình quê, một nỗinhớ thương vơi đầy Nhắc tới nỗi nhớ da diết này, Chính Hữu đã nói đến sự hi sinh khôngmấy dễ dàng của người lính Tâm tư ấy, nỗi nhớ nhung ấy của “anh” và cũng là của “tôi”,
là đồng chí họ thấu hiểu và chia sẻ cùng nhau Tình đồng chí đã được tiếp thêm sức mạnhbởi tình yêu quê hương đất nước ấy
- Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, sự sẻ chia những gian lao thiếu thốn của
cuộc đời người lính:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá
Trang 26Là người lính, các anh đã từng trải qua những cơn sốt rét nơi rừng sâu trong hoàn cảnhthiếu thuốc men, lại thêm trang phục phong phanh giữa mùa đông lạnh giá: “áo rách vai,quần tôi vài mảnh vá, chân không giày…” Tất cả những khó khăn gian khổ được tái hiệnbằng những chi tiết hết sức thật, không một chút tô vẽ Ngày đầu của cuộc kháng chiến,quân đội Cụ Hồ mới được thành lập, thiếu thốn đủ đường, quần áo rách bươm phải buộctúm lại nên người lính vệ quốc còn được gọi là “vệ túm” Đọc những câu thơ này, ta vừakhông khỏi chạnh lòng khi thấu hiểu nhưng gian nan vất vả mà thế hệ cha ông đã từng trảiqua vừa trào dâng một niềm kính phục ý chí và bản lĩnh vững vàng của những người lính vệquốc.
- Cùng hướng về một lí tưởng, cùng nếm trải sự khắc nghiệt của chiến tranh, người
lính chia sẻ cho nhau tình thương yêu ở mức tột cùng Chi tiết “miệng cười buốt giá” đã
ấm lên, sáng lên tình đồng đội và tinh thân lạc quan của người chiến sĩ Rồi đến cái cử chỉ
“thương nhau tay nắm lấy bàn tay” đã thể hiện được tình thương yêu đồng đội sâu sắc Cáchbiểu lộ tình thương yêu không ồn ào mà thấm thía Trong buốt giá gian lao, những bàn taytìm đến để truyền cho nhau hơi ấm, truyền cho nhau niềm tin, truyền cho nhau sức mạnh đểvượt qua tất cả, đẩy lùi gian khổ Những cái nắm tay ấy đã thay cho mọi lời nói Câu thơ ấm
áp trong ngọn lửa tình cảm thân thương! Nhà thơ đã phát hiện rất tinh cái sức mạnh tinhthần ẩn sâu trong trái tim người lính Sức mạnh tinh thần ấy, trên cơ sở cảm thông và thấuhiểu sâu sắc lẫn nhau đã tạo nên chiều sâu và sự bền vững của thứ tình cảm thầm lặngnhưng rất đỗi thiêng liêng này
3.Ba câu thơ cuối là bức tranh đẹp về tình đồng chí:
Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo
Ba câu thơ tả một đêm phục kích giặc Nền bức tranh là đêm –
“rừng hoang sương muối”gợi ra một cảnh tượng âm u, hoang vắng vàlạnh lẽo Không chỉ cái giá, cái rét cứ theo đuổi mà còn bao nguy hiểmđang rình rập người chiến sĩ
- Nổi bật trên nền hiện thực khắc nghiệt ấy là những người lính đứngcạnh bên nhau chờ giặc tới trong cái nơi mà sự sống và cái chết chỉ tronggang tấc Từ “chờ” cũng đã nói rõ cái tư thế, cái tinh thần chủ độngđánh giặc của họ Rõ ràng khi những người lính đứng cạnh bên nhauvững chãi, truyền cho nhau hơi ấm thì tình đồng chí đã trở thành ngọnlửa sưởi ấm họ để họ có sức mạnh vượt qua cái cái gian khổ, ác liệt, giárét ấy… Tầm vóc của những người lính bỗng trở nên lớn lao anh hùng
- Câu thơ cuối là một hình ảnh đẹp được nhận ra từ những đêm hành
quân phục kích giặc của chính người lính Đêm khuya, trăng trên vòm
trời cao đã sà xuống thấp dần, ở vào một vị trí và tầm nhìn nào đó, vầngtrăng như treo trên đầu mũi súng của người chiến sĩ đang phục kích chờgiặc.Rõ ràng, tình cảm đồng chí ấm áp, thiêng liêng đã mang đến chongười lính nét lãng mạn, cảm hứng thi sĩ trong hiện thực đầy khắc nghiệtqua hình ảnh “Đầu súng trăng treo”.Trong hoàn cảnh hết sức gian khổ
Trang 27khốc liệt: đêm đông giá lạnh, rừng hoang sương muối, cái chết cận kề,tâm hồn nhậy cảm của người chiến sĩ vẫn tìm thấy chất thơ bay bổngtrong vẻ đẹp bất ngờ của trăng Bốn chữ “Đầu súng trăng treo”chia làmhai vế làm nhịp thơ đột ngột thay đổi, dồn nén, như nhịp lắc của một cái
gì đó chông chênh, trong bát ngát…gây sự chú ý cho người đọc Từ
“treo” đã tạo nên một mối quan hệ bất ngờ độc đáo, nối hai sự vật ởcách xa nhau - mặt đất và bầu trời, gợi những liên tưởng thú vị, bất ngờ
“Súng” là biểu tượng của chiến đấu, “trăng” là biểu tượng của cái đẹp,cho niềm vui lạc quan, cho sự bình yên của cuộc sống Súng và trăng là
hư và thực, là chiến sĩ và thi sĩ, là “một cặp đồng chí” tô đậm vẻ đẹp củanhững cặp đồng chí đang đứng cạnh bên nhau Chính tình đồng chí đãlàm cho người chiến sĩ cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp, vẫn thơ mộng, tạocho họ sức mạnh chiến đấu và chiến thắng
=> Hiếm thấy một hình tượng thơ nào vừa đẹp vừa mang đầy ý nghĩanhư “Đầu súng trăng treo” Đây là một sáng tạo đầy bất ngờ góp phầnnâng cao giá trị bài thơ, tạo được những dư vang sâu lắng trong lòngngười đọc
4 Suy nghĩ về tình đồng chí: Như vậy tình đồng chí trong bài thơ là
tình cảm cao đẹp và thiêng liêng của những con người gắn bó keo sơntrong cuộc chiến đấu vĩ đại vì một lý tưởng chung Đó là mối tình có cơ
sở hết sức vững chắc: sự đồng cảm của những người chiến sĩ vốn xuấtthân từ những người nông dân hiền lành chân thật gắn bó với ruộngđồng Tình cảm ấy được hình thành trên cơ sở tình yêu Tổ Quốc, cùngchung lí tưởng và mục đích chiến đấu Hoàn cảnh chiến đấu gian khổ và
ác liệt lại tôi luyện thử thách làm cho mối tình đồng chí đồng đội củanhững người lính càng gắn bó, keo sơn Mối tình thiêng liêng sâu nặng,bền chặt đó đã tạo nên nguồn sức mạnh to lớn để những người lính “áorách vai”, “chân không giầy” vượt lên mọi gian nguy để đi tới và làm nênthắng trận để viết lên những bản anh hùng ca Việt Bắc, Biên giới, HoàBình, Tây Bắc… tô thắm thêm trang sử chống Pháp hào hùng của dântộc
III - Kết luận:
Bài thơ “Đồng chí” vừa mang vẻ đẹp giản dị lại vừa mang vẻ đẹp cao cả thiêngliêng, thơ mộng Cấu trúc song hành và đối xứng xuyên suốt bài thơ làm hiện lên hai gươngmặt người chiến sĩ rất trẻ như đang thủ thỉ, tâm tình, làm nổi bật chủ đề tư tưởng: Tình đồngchí gắn bó keo sơn Chân dung người lính vệ quốc trong những ngày đầu kháng chiếnchống Pháp hiện lên thật đẹp đẽ qua những vần thơ mộc mạc, chân tình mà gợi nhiều suytưởng Với những đặc điểm đó, bài thơ xứng đáng là một trong những tác phẩm thi ca xuấtsắc về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng của văn học Việt Nam
-