Nhiễm trùng đường hôhấp cấp tính là nguyên nhân phổ biến gây tử vong ở trẻ em, đặc biệt ở nhóm trẻdưới 5 tuổi, chiếm khoảng 20 % trong các nhóm nguyên nhân gây tử vong [1].Bệnh lao là mộ
Trang 1DỊCH TỄ HỌC CÁC BỆNH TRUYỀN NHIỄM
ĐƯỜNG HÔ HẤP
Hà Nội - 2019
Trang 2DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ 3
1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh truyền nhiễm đường hô hấp 3
1.1 Tác nhân gây bệnh 3
1.2 Quá trình dịch 7
1.2.1 Nguồn truyền nhiễm 8
1.2.2 Yếu tố trung gian truyền nhiễm 11
1.2.3 Khối cảm thụ 13
1.3 Thực trạng bệnh truyền nhiễm đường hô hấp 14
1.3.1 Trên thế giới 14
1.3.2 Tại Việt Nam 17
1.4 Đặc điểm các yếu tố nguy cơ 20
1.5 Biểu hiện của hình thái dịch 21
2 Các biện pháp phòng chống dịch 22
2.1 Các biện pháp đối với nguồn truyền nhiễm 22
2.1.1 Chẩn đoán phát hiện sớm 22
2.1.2 Khai báo 22
2.1.3 Cách ly 22
2.1.4 Khử trùng 22
2.1.5 Điều trị 23
2.1.6 Quản lý, giám sát 23
2.2 Các biện pháp đối với trung gian truyền nhiễm và đường truyền nhiễm 24
2.3 Các biện pháp đối với khối cảm thụ 24
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 3(Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người)
DOTS Directly Observed Therapy Short course
điều trị lao ngắn ngày có giám sátMDR Multi-drug resistant (đa kháng thuốc)
WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
SARS Severe acute respiratory syndrome
(Hội chứng suy hô hấp cấp nặng)
DANH MỤC BẢNG
1.1 Tác nhân gây bệnh và đặc điểm của bệnh truyền nhiễm
đường hô hấp do vi rút và vi khuẩn 31.2 Một số vụ đại dịch cúm trong lịch sử loài người 161.3 Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong trên 100.000 dân của một số
bệnh truyền nhiễm đường hô hấp tại Việt Nam năm 2016 202.1
Bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, đối tượng, lịch tiêm
chủng vắc xin bắt buộc trong Chương trình tiêm chủng mở
Trang 4Ngày nay, những tiến bộ của y học đã giúp chẩn đoán và điều trị cũng như
dự phòng được nhiều bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên, nhóm bệnh truyền nhiễmđường hô hấp vẫn là gánh nặng thường xuyên đối với hệ thống chăm sóc sứckhoẻ con người, ngay cả ở những nước phát triển Đặc biệt, ở các nước đangphát triển, nhiễm trùng đường hô hấp là mối quan tâm hàng đầu trong số nhữngnguyên nhân dẫn đến bệnh tật và tử vong, ước tính khoảng gần 4 triệu người tửvong mỗi năm [1] Cho đến nay, chỉ có bệnh đậu mùa là bệnh duy nhất trongnhóm bệnh này được thanh toán trên toàn thế giới [2] Nhiễm trùng đường hôhấp cấp tính là nguyên nhân phổ biến gây tử vong ở trẻ em, đặc biệt ở nhóm trẻdưới 5 tuổi, chiếm khoảng 20 % trong các nhóm nguyên nhân gây tử vong [1].Bệnh lao là một trong mười nguyên nhân dẫn đến tử vong hàng đầu trên thế giới.Nhiễm trùng đường hô hấp cũng là biến chứng thường gặp nhất ở bệnh nhân cótình trạng suy giảm miễn dịch (do nhiễm HIV, do sử dụng rộng rãi các thuốc ứcchế miễn dịch và sự gia tăng bệnh nhân điều trị ung thư)
Theo các báo cáo giám sát của WHO, sự gia tăng liên tục và xuất hiện đadạng các trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp do các vi khuẩn kháng khángsinh, có thể kể đến như các chủng Mycobacterium tuberculosis đa kháng thuốc(MDR) Tình trạng đồng nhiễm và tái nhiễm trong nhóm bệnh nhiễm trùngđường hô hấp vẫn luôn là mối đe doạ thường trực với y tế toàn cầu [3] Thêmvào đó, sự xuất hiện những bệnh truyền nhiễm mới, nguy hiểm, tính chất lây lanrộng cùng với sự tái xuất hiện của những bệnh truyền nhiễm cũ, đã đưa loàingười vào những tình huống khó khăn Điều này đặt ra thách thức với sự hiểubiết của con người, đòi hỏi phải tiếp tục nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu về mầm
Trang 5phòng thích hợp, hiệu quả trong phòng chống những bệnh truyền nhiễm đường
hô hấp Muốn vậy, trước hết cần nắm vững những kiến thức cơ bản về dịch tễhọc bệnh truyền nhiễm đường hô hấp và các biện pháp phòng chống dịch đối vớinhóm bệnh này
Vì vậy, chúng tôi viết chuyên đề này nhằm hai mục tiêu như sau:
1 Tìm hiểu về dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm đường hô hấp.
2 Mô tả các biện pháp phòng chống dịch đối với các bệnh truyền nhiễm đường hô hấp.
Trang 61 Đặc điểm dịch tễ học bệnh truyền nhiễm đường hô hấp
Vi rút
Vi rút Rhino Viêm mũi (cảm lạnh thông thường)
Viêm họngViêm amiđan
Đường hôhấp trên
Đường hôhấp trên
Đường hôhấp dưới
Chưa có
Trang 7III và IV) Viêm amiđan
Viêm nắp thanh quảnViêm thanh quảnViêm phế quảnViêm tiểu phế quảnViêm phổi
Đau cơViêm phổi (SARS)
Đường hôhấp trên
Đường hôhấp dưới
Đang pháttriển
(SARS)
Vi rút Adeno Viêm mũi (cảm lạnh thông thường) Đường hô Chỉ có với
Trang 8Viêm họngViêm amiđanViêm phế quảnViêm tiểu phế quảnViêm phổi
hấp trên
Đường hôhấp dưới
Đường hôhấp trên
Đường hôhấp dưới
Đang pháttriển
Viêm phổi giống cúm
Đường hôhấp trên
Đường hôhấp dưới
Có
Trang 9Vi rút
coxsakie
(nhóm B)
Viêm họngViêm amiđan
Đường hôhấp trên
Đường hôhấp trên
Đang pháttriển
Vi rút Herpes Viêm mũi (cảm lạnh thông thường)
Viêm họngViêm amiđanViêm phế quảnViêm tiểu phế quảnViêm phổi
Đường hôhấp trên
Đường hôhấp dưới
Đang pháttriển
hấp dưới
Có
Trang 10hấp dưới
Đang pháttriển
Viêm màng não
Đường hôhấp dưới
Có
Trang 11Viêm khớp
Viêm amiđanViêm nắp thanh quảnViêm thanh quản
Đường hôhấp trên
Có
khuẩn
Viêm phế quảnViêm tiểu phế quảnViêm phổi
Đường hôhấp dưới
Có
Liên cầu
khuẩn
Viêm phổiViêm phổi xuất huyếtViêm mủ màng phổi
Đường hôhấp dưới
Đang pháttriển
hấp dưới
Đang pháttriển
Trang 12pneumoniae hấp dưới triển
Mycoplasma
pneumoniae
Viêm nắp thanh quảnViêm thanh quảnViêm phế quảnViêm tiểu phế quảnViêm phổi
Đường hôhấp trên
Đường hôhấp dưới
Trang 13*Nguồn: Cooke M., Watson J.M (2016) [4]
Phần lớn các tác nhân gây bệnh có sức đề kháng yếu, dễ bị tiêu diệt ở môi trường bên ngoài trong điều kiện bình thường Ví dụ: vi rút sởi, là một trong những vi rút có sức chịu đựng kém, chết ở ngoại cảnh trong vòng 30 phút và chỉ
có thể bảo quản bằng đông khô [5]
Một số có sức đề kháng rất cao ở môi trường bên ngoài như vi rút đậumùa, vi khuẩn lao, trực khuẩn bạch hầu Chúng có thể tồn tại hàng tuần, hàngtháng, thậm chí hàng năm trong các yếu tố của môi trường xung quanh Ví dụ:trực khuẩn bạch hầu có sức đề kháng cao với môi trường bên ngoài, đặc biệt chịuđược khô hanh Trên các đồ vật bằng gỗ, chúng sống được 3 tháng; trên quản bút
mà học sinh bị bệnh ngậm đã phát hiện trực khuẩn bạch hầu sau 15 ngày [5]
Trang 14Trực khuẩn lao trong đờm của người bệnh có thể sống từ 2 – 5 tháng, trong bụi sống được 4 tháng.
1.2 Quá trình dịch
Giống như các nhóm bệnh truyền nhiễm khác, quá trình dịch bệnh truyềnnhiễm đường hô hấp bao gồm 3 yếu tố bắt buộc: Nguồn truyền nhiễm; yếu tốtrung gian truyền nhiễm; khối cảm thụ
Sơ đồ 1.1: Quá trình lan truyền của bệnh truyền nhiễm đường hô hấp
*Nguồn: Bộ môn Dịch tễ - Khoa Y tế công cộng, Đại học y Huế (2006) [6]
1.2.1 Nguồn truyền nhiễm
Các bệnh truyền nhiễm đường hô hấp có nguồn truyền nhiễm chủ yếu làngười Các bệnh trong nhóm này đều có cơ chế truyền nhiễm giống nhau do có
cơ chế sinh bệnh giống nhau:
Người bệnh (hay người mang mầm bệnh) thải mầm bệnh theo các chất tiếtcủa đường hô hấp qua các hoạt động như nói, ho, hắt hơi, ho … hay do dùngchung dụng cụ ăn uống, sinh hoạt, thăm khám tai, mũi, họng Mầm bệnh tồn tại
ở môi trường (không khí, dụng cụ, mặt đất …) trong những khoảng thời gian
Trang 15dưới dạng các tiểu phân lỏng hoặc rắn, sau đó cư trú ở các vị trí thích hợp thuộcniêm mạc đường hô hấp trên hoặc dưới hay phế nang, rồi nhân lên ở đây hoặc từđây di chuyển tới các cơ quan khác để gây bệnh cho cơ thể Mầm bệnh lại đàothải ra không khí [7].
1.2.1.1 Nguồn truyền nhiễm là người bệnh thể điển hình
Đây là nguồn truyền nhiễm quan trọng nhất, có thể giải phóng ra môitrường bên ngoài một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh đang có độc lực cao.Tuy nhiên, người bệnh thể điển hình là nguồn truyền nhiễm rõ rệt nên dễ pháthiện, cách ly [6, 7]
a) Thời kỳ ủ bệnh:
Các bệnh truyền nhiễm đường hô hấp thường có thời kỳ ủ bệnh ngắn Vídụ: Bệnh cúm thường 1 – 3 ngày Bệnh sởi thời kỳ ủ bệnh khoảng 10 ngày,nhưng cũng có thể thay đổi từ 7 – 18 ngày kể từ khi tiếp xúc đến khi bắt đầu sốt,thường là 14 ngày cho đến khi phát ban Bệnh bạch hầu: Thông thường từ 2 – 5ngày Bệnh ho gà: Thường là 6 – 20 ngày
Đa số bệnh truyền nhiễm đường hô hấp do vi rút có thể lây truyền từ cuốithời kỳ ủ bệnh [5] Ví dụ: Bệnh sởi, người bệnh truyền bệnh ngay từ khi mới sốt,nghĩa là 2 – 3 ngày trước khi nổi ban, còn lây trong suốt thời kỳ nổi ban (3 – 5ngày) Bệnh quai bị, vi rút phân lập được từ nước bọt trong khoảng từ 6 – 7 ngàytrước khi viêm tuyến mang tai rõ rệt đến 9 ngày sau đó Tỷ lệ lây nhiễm cao nhấtxảy ra vào khoảng 48 giờ trước khi khởi phát bệnh Bệnh thuỷ đậu, thời kỳ lây
Trang 16sau khi xuất hiện lớp phỏng dạ đầu tiên.
Bệnh truyền nhiễm đường hô hấp do vi khuẩn thường có thời gian ủ bệnhdài hơn từ vài ngày đến 1 – 2 tuần, nhưng ít lây truyền hơn Bệnh lao có thể cóthời gian ủ bệnh từ vài tuần đến hàng thập kỷ nhưng thường chỉ lây truyền từnhững người mắc bệnh lao thể phổi và phát hiện vi khuẩn trong đờm của ngườibệnh [4]
b) Thời kỳ phát bệnh:
Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, thời kỳ phát bệnh là thời kỳ lây lanmạnh nhất, mầm bệnh đào thải ra nhiều và liên tục khi bệnh nhân ho nhiều.Nguy cơ lây lan thường đi song song với tình trạng bệnh Bệnh càng nặng cànglây nhiều và khi bệnh giảm dần thì tính chất lây lan cũng giảm theo cho đến khikhỏi bệnh
Riêng bệnh ho gà người ta thấy sự lây lan kết thúc sớm hơn tình trạng lâmsàng; bệnh chỉ lây trong vòng 3 tuần đầu kể từ khi phát bệnh, rồi sau đó khôngcòn lây nữa mặc dù người bệnh vẫn còn cơn ho rít nhiều ngày sau
c) Thời kỳ lui bệnh:
Đa số các bệnh trong nhóm này đến thời kỳ lui bệnh tính chất lây lan đãgiảm rất nhiều như sởi, thuỷ đậu, quai bị Đậu mùa còn lây đến khi bong hết vẩy.Bệnh bạch hầu còn lây đến hết thời kỳ lui bệnh và có thể lây kéo dài hơn [5]
Trang 17Thuộc nhóm nguồn truyền nhiễm này có cả những người có trạng tháinhiễm trùng không triệu chứng nguyên phát hoặc sau khi mắc bệnh, nhữngngười nhiễm trùng tiềm ẩn (ở giai đoạn yên lặng) và các nhiễm trùng chậm (giaiđoạn ủ bệnh) [7].
Nhiều bệnh không có tình trạng người mang bệnh không triệu chứng nhưsởi, đậu mùa, quai bị, thuỷ đậu, ho gà
Tình trạng người mang vi rút cúm không triệu chứng chưa rõ Một số bệnhnhư bệnh bạch hầu, viêm màng não do não mô cầu, viêm nhiễm đường hô hấp
do phế cầu, H influenza có tình trạng người mang bệnh không triệu chứng [7]
Vai trò dịch tễ học: những người mang mầm bệnh không triệu chứng lớnhơn nhiều lần người mắc bệnh, thường sống quanh người bệnh, có thể mangmầm bệnh lâu dài và đào thải mầm bệnh hàng ngày ra môi trường xung quanh.Nhóm người này không được chẩn đoán xác định nên không được cách ly vàđiều trị, có thể làm lây lan cho nhiều người [5]
1.2.1.3 Động vật
Động vật là nguồn truyền nhiễm và ổ chứa mầm bệnh của một số bệnhviêm nhiễm đường hô hấp do các vi rút Adeno, bệnh sốt vẹt do Chlamydiapsittacosis (con vẹt), bệnh sốt thỏ rừng do trực khuẩn Tularemia (thỏ, thú hoangdại), bệnh sốt Q do C burnetti (các thú hoang, gia súc, gia cầm và một số loại ve
Trang 18viêm xoang, hen phế quản do các nấm thuộc giống Aspergillus (các loài gia súc,gia cầm), bệnh cúm A H5N1 (gia cầm, thuỷ cầm, lợn, chim di cư …) [7].
Những bệnh này lưu hành chủ yếu trong quần thể động vật, người chỉ làtúc chủ ngẫu nhiên và tạm thời Những bệnh truyền từ động vật sang ngườikhông lan truyền rộng rãi ở loài người vì phương thức lây truyền ở loài ngườikhông giống phương thức lây ở động vật nhưng khi đã hình thành cơ chế truyềnnhiễm, bệnh sẽ lan truyền rộng [5]
1.2.2 Yếu tố trung gian truyền nhiễm
Không khí bị ô nhiễm mầm bệnh là yếu tố trung gian truyền nhiễm chủyếu của nhóm bệnh này [7] Những thành phần gây ô nhiễm không khí có thể là:
*Các giọt lỏng:
Khi nói to đặc biệt là khi ho và khi hắt hơi, thì một số lượng lớn các giọtnước bọt nhỏ hoặc các giọt chất nhầy nhỏ có vi khuẩn sẽ bắn vào không khí.Những giọt này lan truyền tuỳ thuộc trước hết vào kích thước của chúng
Những giọt to (100 – 200 µm) có thể bay cách xa 2 – 3 m nhưng sẽ rơinhanh chóng trên sàn nhà hoặc các đồ xung quanh và ít khi xâm nhập vào đường
hô hấp của những người lân cận
Trang 19lửng lâu hơn trong không khí (hàng chục phút) Các giọt rất nhỏ (dưới 10 µm)không bay quá 1 m, nhưng có thể lơ lửng trong không khí một khoảng thời giandài gần như vô hạn, chuyển động theo không khí Chúng có thể được hít vào vàthở ra khi người ta thở.
Các giọt chất nhầy bắn từ mũi họng miệng của người bệnh hoặc ngườimang mầm bệnh có thể truyền bệnh nếu người khoẻ hít phải Vi sinh vật gâybệnh khi nằm trong giọt nước bọt, nhưng ở ngoài cơ thể, mà hoàn cảnh bênngoài lại không thuận lợi cho chúng, do đó cơ thể truyền nhiễm bằng giọt nướcbọt chỉ có tác dụng ở gần nguồn truyền nhiễm (1 – 2 m), nhất là đối với các bệnhnhư cúm, sởi, ho gà sự truyền nhiễm chỉ xảy ra khi có sự tiếp xúc mật thiết giữangười ốm với người khoẻ (ở nhà, trường học, đô thị)
Mức độ phân tán của các giọt tuỳ thuộc vào tính chất của dịch tiết do niêmmạc đường hô hấp giải phóng ra Khi dịch tiết có độ nhày lớn (như ở nhữngngười bị lao, ho gà thì sẽ tạo thành những giọt to) Ngược lại, nếu dịch tiết lỏngnhư ở bệnh sởi và cúm thì sẽ sinh ra những giọt nhỏ khí dung có nồng độ caonhất ở gần người ho và hắt hơi, còn ở xa thì khí dung loãng ra Như vậy, càng xanguồn truyền nhiễm thì nguy cơ bị lây càng giảm
*Khí dung:
Sau khi giọt nước bắn vào không khí, một phần của lớp ngoài bay hơi, khi
ấy giọt nước bọt teo lại thành giọt nhỏ lơ lửng lâu trong không khí đó là khí
Trang 20gây bệnh có sức chịu đựng tương đối cao (như vi khuẩn bạch hầu) [5].
*Bụi:
Giọt nước bọt rơi xuống đất, khô đi và hoà lẫn với bụi Khi quét nhà, lauchùi đồ vật, giũ chăn chiếu hoặc đi lại thì bụi dễ bốc vào không khí và bị hít vào.Tuy nhiên, cơ chế truyền nhiễm bằng hít bụi chỉ có thể xảy ra nếu vi sinh vật gâybệnh có sức chịu đựng cao, không bị chết bởi khô hanh và ánh sáng mặt trời.Như đã biết, trực khuẩn lao có thể sống trong bụi hàng tuần Tuy nhiên, hiệu lựctruyền nhiễm của bụi kém hơn so với giọt nước bọt, vì số vi sinh vật gây bệnhcòn sống trong hạt bụi nhỏ hơn nhiều so với số vi sinh vật gây bệnh còn sốngtrong giọt nước bọt [5]
Một vài bệnh ở động vật cũng truyền sang người bằng bụi Trong bệnhthan cũng có thể truyền bằng bụi của da súc vật chết do bệnh này để ở kho vìngười ta thấy các người giữ kho đôi khi cũng mắc bệnh than
Nhờ cơ chế truyền nhiễm đặc biệt nên vi sinh vật gây bệnh đường hô hấpkhông phải ở lâu trong không khí, do đó không cần phát triển khả năng chống
đỡ Trong loại này, chỉ có một số ít có thể sống ở hoàn cảnh bên ngoài (vi khuẩnlao, bạch hầu) còn đa số bị tiêu diệt sau một thời gian ngắn (sởi, quai bị)
Ngoài không khí, các loại dụng cụ cá nhân, đồ dùng ăn uống và các dụng
cụ y tế (bộ đồ thăm khám tai, mũi, họng, găng, ống soi nội khí quản …) hoặc
Trang 21của nhóm bệnh này [5].
1.2.3 Khối cảm thụ
Tất cả mọi người chưa có miễn dịch đều có khả năng cảm nhiễm với bệnh.Một số bệnh chủ yếu xảy ra ở trẻ em như sởi, ho gà, bạch hầu, thuỷ đậu là do trẻ
em chưa có miễn dịch còn người lớn không mắc hoặc ít mắc các bệnh này là do
họ đã mắc từ nhỏ và có miễn dịch bền vững không bị mắc lại [5]
Miễn dịch có được sau các nhiễm trùng tự nhiên hoặc sau khi tiêm chủngvắc xin thường có tính đặc hiệu theo loài hoặc theo týp vi sinh vật và thường cótác dụng ngắn ngày Vì thế, khả năng một người mắc bệnh hô hấp nhiều lầntrong năm hoặc trong đời là khá phổ biến Tuy nhiên, cũng có một số bệnh cómiễn dịch bảo vệ lâu dài sau mắc bệnh hoặc sau tiêm chủng vắc xin như bệnhsởi, quai bị, đậu mùa, lao, ho gà, bạch hầu Tình trạng miễn dịch thu được saucác nhiễm trùng từ giai đoạn trẻ nhỏ, đã dẫn tới trạng thái nhiễm trùng khôngtriệu chứng phổ biến ở nhiều bệnh như nhiễm phế cầu, H influenza, bạch hầu,màng não cầu, kể cả nhiễm các vi rút hô hấp [7]
1.3 Thực trạng bệnh truyền nhiễm đường hô hấp
1.3.1 Trên thế giới
Bạch hầu (Corynebacterium diphteriae): vào thập niên 70 dịch Bạch hầu
còn xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới: