1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp lọc bụi trong công nghiệp và vấn đề nâng cao nhận thức trong cộng đồng

97 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giải pháp lọc bụi trong công nghiệp và vấn đề nâng cao nhận thức trong cộng đồng Các giải pháp lọc bụi trong công nghiệp và vấn đề nâng cao nhận thức trong cộng đồng Các giải pháp lọc bụi trong công nghiệp và vấn đề nâng cao nhận thức trong cộng đồng luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Chuyên sâu : SƯ PHẠM KỸ THUẬT ĐIỆN

Trang 2

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo: TS Đỗ Văn Tốn – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Sư Phạm Kỹ Thuật,

Viện Khoa Học Môi Trường, Viện Đào Tạo Sau Đại Học – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các kỹ thuật viên của Công ty Ximang Bút Sơn, Nhà máy nhiệt điện Phả Lại đã cung cấp tài liệu, nhiệt tình hướng dẫn tôi trong quá trình khảo sát thực tế

Trong quá trình làm luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp, ý kiến của bạn bè

và đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn

Hà nội, ngày 9 tháng 10 năm 2011

Tác giả

Ngô Thị Nguyệt Anh

Trang 5

3.7.23 3Ngừng bộ lọc bụi để thực hiện việc kiểm tra sửa chữa.3 50

Chương 4 3TÍNH TOÁN HIỆU SUẤT BỘ LỌC BỤI TĨNH ĐIỆN3 52

4.2.73 3Tính hiệu suất lọc bụi.3 63

Chương 5 3MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU SUẤT BỘ LỌC BỤI3

Trang 7

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi viết trong luận văn là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể

Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên đây

Hà Nội , ngày 9 tháng 10 năm 2011

Tác giả

Ngô Thị Nguyệt Anh

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình công nghiệp hoá với sự ra đời của rất nhiều nhà máy công nghiệp như nhà máy nhiệt điện, nhà máy xi măng, nhà máy giấy, nhà máy thép để đáp ứng nhu cầu của xã hội nhưng kèm theo đó là vấn đề

ô nhiễm môi trường Ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam vấn đề ô nhiễm môi trường

hiện nay chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là ô nhiễm không khí Đứng trước

những tác động xấu do ô nhiễm môi trường gây ra mà trực tiếp là ô nhiễm không khí như tình trạng biến đổi khí hậu gây ra lũ lụt, hạn hán ở nhiều nơi, hiện tượng trái đất nóng lên do khí thải nhà kính tăng cao đã và đang có tác động xấu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của con người Nhiều nước phát triển cũng như đang phát triển trong đó có Việt Nam gần đây đã có những động thái tích cực nhằm

giảm thiểu ô nhiễm môi trường đặc biệt là ô nhiễm không khí như tham gia nghị định thư Kyoto và thảo luận để đưa ra một quy chuẩn mới sau khi nghị định thư Kyoto hết

hiệu lực, nhiều nước phát triển trong đó có Mỹ, Nhật, liên minh Châu Âu EU đã cam

kết giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trong những năm tới

Ở nước ta, đặc biệt là ở các khu công nghiệp và đô thị lớn đang tồn tại những dấu

hiệu ô nhiễm đáng lo ngại đặc biệt là ô nhiễm khói bụi và khí thải Do phần lớn các nhà máy, xí nghiệp chưa được trang bị thiết bị xử lý bụi và khí độc hại nên hàng ngày, hàng

giờ vẫn thải vào bầu khí quyển một lượng khổng lồ các chất độc hại, bụi bẩn gây ô nhiễm không khí cho cả một vùng rộng lớn xung quanh nhà máy Một trong những nhiệm vụ quan trọng để phòng chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường là tiến hành nghiên

cứu tìm ra các phương pháp lọc bụi hiệu quả áp dụng trong các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp

Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp lọc bụi công nghiệp dựa trên nguyên

lý khác nhau như lọc bụi tĩnh điện, lọc bụi quán tính, lọc bụi túi vải việc tìm kiếm

Trang 11

một giải pháp hiệu quả và phù hợp với từng điều kiện cụ thể là vấn đề đang được quan tâm Trong đó, phương pháp lọc bụi tĩnh điện - một phương pháp lọc bụi cho hiệu suất cao đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới đã được một số nhà máy Nhiệt điện ở Việt Nam ứng dụng để xử lý khói thải cho hiệu quả cao

2 L ịch sử nghiên cứu

Nhận đề tài vào tháng 4 năm 2010

Qua sự hướng dẫn tận tình của thầy TS Đỗ Văn Tốn, tác giả đã nghiên cứu trên lý thuyết, kết hợp với xuống nhà máy xi măng Bút Sơn – Hà Nam và nhà máy nhiệt điện

Phả Lại để khảo sát thực tế Từ đó phân tích các ưu, nhược điểm của từng phương pháp

và rút ra kết luận - lựa chọn phương pháp Lọc bụi tĩnh điện là ưu việt nhất Qua phân

tích ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu suất lọc bụi, tác giả đã đưa ra một số giải pháp

và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu suất lọc bụi trong công nghiệp

3 M ục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

• Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng

• Tìm ra giải pháp lọc bụi có hiệu suất cao, phù hợp với yêu cầu thực tế tại các nhà máy xí nghiệp Tận dụng phế thải, tái sử dụng trong sản xuất nhằm bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống của nhân dân

- Đối tượng nghiên cứu: Thành phần bụi trong công nghiệp

- Phạm vi nghiên cứu: Trong các nhà máy xí nghiệp tại Việt Nam

4 Tóm t ắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả

Luận văn gồm 5 chương:

Chương 1: Giáo dục bảo vệ môi trường

 Bảo vệ môi trường bắt nguồn từ ý thức, rèn luyện ý thức bảo vệ môi trường ngay từ bé là điều vô cùng quan trọng Bên cạnh đó, đất nước ta đang trên đà phát triển, các khu công nghiệp mọc lên việc thải các khí độc, bụi có hại ra

Trang 12

con người phải biết sử dụng công nghệ vào sản xuất, hạn chế phát thải có hại cho môi trường, bảo đảm sức khỏe cho người lao động, bảo vệ ngôi nhà chung mà vẫn có thể thu được lợi ích kinh tế nâng cao cuộc sống cả về số lượng và chất lượng

 Từ kết luận trên, Luận văn tập trung nghiên cứu về giải pháp làm sạch bụi sinh ra từ nguồn gây bụi tập trung là các cơ sở sản xuất công nghiệp

Chương 2: Tổng quan về các phương pháp làm sạch bụi trong công nghiệp

 Có nhiều phương pháp lọc bụi làm sạch môi trường không khí tại các nơi sinh bụi tập trung, tuỳ theo dạng bụi, lưu lượng và tình trạng sản xuất của cơ

sở

 Có thể kết hợp một số các phương pháp khác nhau để nâng cao khả năng làm

sạch môi trường của hệ thống thiết bị lọc bụi

 Ở những nơi nguồn sinh bụi thường xuyên kéo dài với lưu lượng lớn, chọn

hệ thống lọc bụi tĩnh điện là phù hợp, mạng lại hiệu quả kinh tế, kỹ thuật cao

Chương 3: Lọc bụi tĩnh điện – giải pháp công nghiệp hiện đại

 Hệ thống điều khiển lọc bụi tĩnh điện trong nước có khả năng thay thế hoàn toàn thiết bị nhập ngoại Sản phẩm đã được các công ty, nhà máy, xí nghiệp

chấp nhận, bởi tính cần thiết, tính an toàn, tính cạnh tranh giá thành

 Hiệu quả của hệ thống lọc bụi tĩnh điện phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố như: kích thước của hạt bụi, tính chất của điện cực, thiết bị điện điều khiển điện trường, tốc độ chuyển động và sự phân bố đồng đều lượng không khí trong vùng điện trường Tùy theo lưu lượng bụi của buồng lọc mà hệ thống tự động điều chỉnh điện áp cao áp vào buồng lọc, sao cho đạt được hiệu suất lọc bụi cao nhất Với điều kiện hoạt động tốt hệ thống có thể đạt hiệu suất lọc bụi đạt trên 99% Bụi sẽ được tách khỏi các tấm cực bằng nước rửa hoặc bằng việc rung rũ tấm cực

Trang 13

 Lọc bụi tĩnh điện là thành phần không thể thiếu trong nhà máy xi măng, nhà máy nhiệt điện, trong các dây truyền sản xuất…

 Ở Việt Nam hiện nay các nhà máy ứng dụng lọc bụi tĩnh điện rất nhiều, sự tái

sử dụng phát thải là điều mà các nhà đầu tư quan tâm nhất Vì vậy khi sử

dụng thì hiệu suất bộ lọc là thông số mà nhà thiết kế cần quan tâm

Chương 4: Tính toán hiệu suất bộ lọc bụi tĩnh điện

 Lọc bụi tĩnh điện là hệ thống lọc bỏ các hạt bụi có kích thước nhỏ khỏi dòng không khí chảy vào buồng lọc, trên nguyên lý ion hóa và tách bụi ra khỏi không khí khi chúng đi qua vùng có điện trường lớn Buồng lọc bụi tĩnh điện được cấu tạo hình tháp tròn hoặc hình chữ nhật, bên trong có đặt các tấm cực song song hoặc các dây thép gai Hạt bụi với kích thước nhỏ, nhẹ bay lơ lửng trong không khí được đưa qua buồng lọc có đặt các tấm cực Hiệu quả của hệ

thống lọc bụi tĩnh điện phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: kích thước hạt

bụi, tính chất của điện cực, thiết bị điều khiển điện trường, tốc độ chuyển động và sự phân bố đồng đều lượng không khí trong vùng điện trường… vì

vậy để nâng cao được hiệu suất lọc bụi thì chúng ta phải xem xét ảnh hưởng

của các yếu tố đó để tìm ra những giải pháp sao cho phù hợp về kỹ thuật, phù

hợp điều kiện kinh tế…tùy vào từng trường hợp cụ thể trong thực tế mà chọn được thiết bị phù hợp để đạt được hiệu quả cao nhất

Chương 5: Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất bộ lọc bụi

 Qua chương 5 này tác giả nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu

suất của lọc bụi Từ những yếu tố kỹ thuật đã phân tích và nêu trên, ta nhận

thấy rằng việc ứng dụng tại Việt Nam là hoàn toàn có thể, công nghệ này Việt Nam có thể tự chế tạo, tự cải tiến để áp dụng

 Trong những năm tới, các tiêu chuẩn khí thải ra môi trường ngày càng được

thắt chặt hơn thì việc áp dụng lọc bụi tĩnh điện là một giải pháp ưu việt để

giải quyết vấn đề này

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích – tổng hợp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp quan sát từ thực tiễn

- Phương pháp điều tra: thu thập các thông số từ các nhà máy

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

6 K ết luận

 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho mọi đối tượng trong xã hội, đưa môn

học có tính giáo dục bảo vệ môi trường tới từng cấp học Qua các năm sẽ tổ

chức các cuộc thi giữa các đơn vị sản xuất về sự hiểu biết các chất thải do chính công ty mình thải ra, đưa ra các biện pháp khắc phục và báo cáo kết quả theo các năm

 Một số các nhà máy cần tuân thủ luật bảo vệ môi trường, áp dụng biện pháp lọc

bụi phù hợp với cơ sở sản xuất cụ thể:

• Tại các nhà máy xi măng: ô nhiễm chủ yếu phát sinh từ công nghệ lò đứng và công nghệ lò quay, phương pháp ướt không có hệ thống điều khiển tự động, từ nhiều nhà máy không có hệ thống xử lý chất thải hoặc

hệ thống đã cũ, hỏng, không hoạt động Các nhà máy xi măng lò quay công nghệ khô có trang bị hệ thống xử lý chất thải vì vậy ít gây ô nhiễm, công tác bảo vệ môi trường ở đây chủ yếu là kiểm soát kỹ khâu vận chuyển nguyên vật liệu và vệ sinh trong khu vực sản xuất Có thể sử

dụng phế thải làm chất phụ gia ô nhiễm chủ yếu trong quá trình sản xuất

xi măng là ô nhiễm bụi vì vậy tại tất cả các điểm phát sinh bụi đều cần

phải có hệ thống xử lý thích hợp

• Tại các nhà máy sản xuất gạch và lò gạch tư nhân… bụi thải chủ yếu phát sinh trong các công đoạn vận chuyển nguyên liệu, nghiền, sấy phun, tráng men, bụi silic có công suất nhỏ nguồn ô nhiễm chủ yếu là các hạt

bụi từ xyclon lọc bụi của nhà máy Để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi

Trang 15

trường không khí tại cơ sở này sử dụng biện pháp phát tán qua ống khói,

lắp đặt hệ thống xử lý khói thải lò nung, lò sấy để giảm nồng độ các chất

ô nhiễm trước khi phát tán vào khí quyển, trang bị hệ thống hút bụi, thiết

bị tách bụi xyclon hoặc buồng lắng, thiết bị lọc túi vải…

• Tại xưởng sản xuất bê tông nguồn gây ô nhiễm chính là nước thải và bụi nhưng ở mức độ trung bình, biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm là xây dựng bể

lắng, gắn bộ lọc cyclon làm giảm bụi và khói

• Các nhà máy nhiệt điện, có công suất lớn, khói thải ra ngoài môi trường

rất lớn biện pháp sử dụng bộ lọc tĩnh điện là ưu việt hơn cả Sử dụng bộ

lọc tĩnh điện ngoài việc bảo vệ môi trường, còn hiệu suất thu hồi bụi cao, đưa chất thải rắn tái sử dụng có hiệu quả kinh tế cao

Trang 16

C hương 1 GIÁO D ỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1 Vai trò c ủa môi trường tới cuộc sống của con người

4

Môi trường là không gian sống cho con người và thế giới sinh vật

Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống như: nhà ở, nơi nghỉ, nơi để sản xuất Như vậy chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con người Không gian này lại đòi hỏi phải đạt đủ những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, cảnh quan và xã hội

Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi tuỳ theo trình độ khoa học và công nghệ Tuy nhiên, trong việc sử dụng không gian sống và quan hệ với thế giới tự nhiên, có 2 tính chất mà con người cần chú ý là tính chất tự cân bằng (homestasis), nghĩa là khả năng của các hệ sinh thái có thể gánh chịu trong điều kiện khó khăn nhất

và tính bền vững của hệ sinh thái

4 Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người

Trong lịch sử phát triển, loài người đã trải qua nhiều giai đoạn Bắt đầu từ khi con người biết canh tác cách đây khoảng 14-15 nghìn năm, vào thời kỳ đồ đá cho đến khi phát minh ra máy hơi nước vào thế kỷ thứ XVII, đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực

Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên về cả số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội Chức năng này của môi trường còn gọi là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên gồm:

- Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp gỗ, bảo tồn tính đa dạng sinh học và độ phì

Trang 17

- Các thuỷ vực: có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và

các nguồn thuỷ hải sản

- Động - thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm

- Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, nước, gió: có chức năng duy trì

các hoạt động trao đổi chất

- Các loại quặng, dầu mỏ: cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động

do các quá trình phân huỷ tự nhiên làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở lại

Trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Sự gia tăng dân số thế giới nhanh chóng, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến chức năng này nhiều nơi, nhiều chỗ trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải trong một khu vực nhất định gọi là khả năng đệm (buffer capacity) của khu vực đó Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặc thành phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân huỷ thì chất lượng môi trường sẽ giảm và môi trường có thể bị ô nhiễm Chức năng này có thể phân loại chi tiết như sau:

- Chức năng biến đổi lý - hoá học (phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng, hấp thụ, tách

chiết các vật thải và độc tố)

Trang 18

- Chức năng biến đổi sinh hoá (sự hấp thụ các chất dư thừa, chu trình ni tơ và

cacbon, khử các chất độc bằng con đường sinh hoá)

- Chức năng biến đổi sinh học (khoáng hoá các chất thải hữu cơ, mùn hoá, amôn

hoá, nitrat hoá và phản nitrat hoá)

4Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

Môi trường trái đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bởi vì chính môi trường trái đất là nơi:

+ Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất

và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người

+ Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa

+ Cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các

hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo và văn hoá khác

4

Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài

Các thành phần trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của con người và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ozon trong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời Môi trường có vai trò quan trọng trong đời sống của con người, nhận thấy tầm quan

trọng này của môi trường nên chủ trương và chính sách nhà nước cũng đã chú trọng tới

vấn đề bảo vệ môi trường

Trang 19

1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác bảo vệ môi trường

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998

và tiếp theo là nghị quyết số 41- NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đưa ra những định hướng rất quan trọng, trong đó nhấn mạnh các đô thị , các doanh nghiệp, các khu công nghiệp phải thực hiện tốt phương án xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất độc hại Nghị quyết Đại Hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “kết

hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững” Gần đây Đại hội lần thứ XI của Đảng đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011, trong đó xác định quan điểm, mục tiêu định hướng phát triển kinh tế - xã hội nói chung và lĩnh vực môi trường nói riêng Chiến lược cũng

đã xác định mục tiêu cụ thể về môi trường:“ cải thiện chất lượng môi trường, đến năm

2020 các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải rắn nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn”

Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

đã đặt ra những mục tiêu cụ thể đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh,

dịch vụ trong công tác bảo vệ môi trường Cụ thể phấn đấu đến năm 2020, có 80% cơ

sở sản xuất, kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc

chứng chỉ ISO 14001; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ

sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung

Trang 20

đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% sản phẩm, hàng hoá xuất khẩu và 50% hàng hoá tiêu dùng trong nội địa được ghi nhãn môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14021; hình thành và phát triển ngành công nghiệp tái chế chất thải để tái sử dụng, phấn đấu 30% chất thải thu gom được tái chế

Để đạt được mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về môi trường theo 3 cách tiếp cận gồm: các chính sách bắt buộc, các chính sách khuyến khích và các chính sách hỗ trợ Tùy từng thời điểm khác nhau, hoàn cảnh cụ thể khác nhau, các chính sách này có thể được điều chỉnh nhằm tạo ra một cơ chế hiệu quả đối

với công tác bảo vệ môi trường Đối với các doanh nghiệp, các chính sách bắt buộc, khuyến khích, hỗ trợ được xây dựng theo nguyên tắc phòng ngừa, ngăn chặn, khắc

phục sự cố môi trường và cải thiện môi trường Các chính sách này đã được thể chế hoá trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản dưới luật Trong đó có một số quy định mang tính cưỡng chế về môi trường đối với doanh nghiệp; một số chủ trương, chính sách khuyến khích, hỗ trợ để doanh nghiệp thực hiện bảo vệ môi trường và tham gia bảo vệ môi trường chung Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam đã khẳng định “1B ảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân”1 và pháp luật là một trong những công cụ cần thiết và hữu hiệu nhất góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh và xử lý

những hành vi của con người trong mối quan hệ với môi trường Và để thực hiện được điều này, Điều 7, Luật Bảo vệ môi trường quy định 1“ T ổ chức, cá nhân sử dụng thành

ph ần môi trường vào mục đích sản xuất, kinh doanh trong trường hợp cần thiết phải đóng góp tài chính cho việc bảo vệ môi trường Tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi

trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”

Trang 21

đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác theo dõi, đánh giá, báo cáo về tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước1 Theo dõi chung về thi hành pháp luật là nhiệm

vụ mới đối với Bộ Tư pháp Nội dung công việc theo dõi là thu thập có hệ thống và phân tích các thông tin liên quan tới quá trình tổ chức thực hiện pháp luật Việc thu thập và phân tích thông tin đó làm cơ sở cho việc tiếp theo là hoạt động đánh giá thực trạng việc tổ chức thi hành pháp luật Nội dung của việc đánh giá là mổ xẻ, phân tích

so sánh những gì đã đề ra với kết quả thực tế đạt được và cách thức tiến hành để đạt được kết quả đó đồng thời chỉ ra những bất cập, tồn tại và nguyên nhân của những bất cập, tồn tại để từ đó có cơ sở đề xuất những kiến nghị Theo đó, việc theo dõi, đánh giá

tổ chức thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường có thể coi là việc thu thập một cách hệ

thống các thông tin (thông qua các chỉ số được thiết kế nhằm vào mục đích cụ thể), phân tích so sánh giữa mục tiêu đề ra (quy định của pháp luật đi vào cuộc sống) với thực tế đạt được (thực tế tuân thủ, áp dụng quy định của pháp luật) và chỉ ra sự tác động của quy định pháp luật cùng những tồn tại, bất cập và rút ra nguyên nhân, đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung hay tăng cường cho phù hợp với mục tiêu

Đất nước ta đang trong tiến trình đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp Phát triển kinh tế – xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã

ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, tăng trưởng kinh tế nhanh thường đi kèm với các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không có các giải pháp hữu hiệu ngăn chặn

1.3 Thực trạng cải tạo và bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Tăng trưởng sẽ không bền vững nếu sự tăng trưởng đó không tính đến các chi phí thiệt hại phải bỏ ra do ô nhiễm môi trường Việt Nam cũng ở trong tình trạng các thiệt

Trang 22

hại do ô nhiễm môi trường gây ra ở mức cao và đang có xu hướng gia tăng Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước Chất lượng môi trường và sự phát triển bền vững phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của các doanh nghiệp Chính vì vậy, bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp đang là mối quan tâm lớn trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, trong thời gian qua, hoạt động bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp tại Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế sau đây:

• 1Thứ nhất1:

Tỉ lệ các doanh nghiệp vi phạm pháp luật môi trường khá cao Kết quả thanh tra, kiểm tra năm 2010 của Tổng cục Môi trường đối với 260 cơ sở, khu công nghiệp trên phạm vi 46 tỉnh, thành phố (trong đó có 164 khu công nghiệp, 76 cơ sở thuộc trách nhiệm thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường và 20 cơ sở thuộc danh mục các cơ

sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) cho thấy:

- Có 33/174 cơ sở, khu công nghiệp, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg đang hoạt động (chiếm 18,97%) chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận cam kết bảo vệ môi trường hoặc phê duyệt đề án bảo vệ môi trường theo quy định (chủ yếu là khu công nghiệp và cơ sở thuộc Quyết định số 64), tuy nhiên chỉ có 36/141 (chiếm

25,53%) số cơ sở đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung và yêu cầu trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường;

- Có 111/174 cơ sở (chiếm 63,79%) thực hiện giám sát môi trường không đúng theo quy định;

Trang 23

- Có 32/100 (chiếm 32%) khu công nghiệp đang hoạt động đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng có đến 18/32 khu công nghiệp (chiếm 56,25%)

có hệ thống xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu, nước thải vượt quy chuẩn Việt Nam;

- Có 46/74 cơ sở đang hoạt động (chiếm 62,16%) đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải theo quy định, tuy nhiên có đến 19/46 cơ sở (chiếm 41,30%) có hệ thống xử

lý nước thải chưa đạt yêu cầu, nước thải vượt quy chuẩn Việt Nam;

- Hầu hết các khu công nghiệp chưa có bãi trung chuyển chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại tập trung theo quy định;

- Có 26/65 cơ sở (chiếm 40%) có phát sinh chất thải nguy hại nhưng không thực hiện đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại theo quy định và có đến 52/65 cơ sở (chiếm 80%) có phát sinh chất thải nguy hại vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại;

- Có 12/74 cơ sở (chiếm 16,22%) có các thông số khí thải vượt quy chuẩn Việt Nam;

- Có 15/16 cơ sở (chiếm 93,75%) thực hiện không đúng nội dung yêu cầu, tiến

độ xử lý ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Trang 24

có quy định pháp luật cụ thể, cũng như chưa có chế tài xử phạt có tính răn đe cao cho nên một số khu công nghiệp không vận hành các trạm xử lý nước thải liên tục Ô nhiễm môi trường từ các khu công nghiệp đã làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng

tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính các khu công nghiệp và cộng đồng dân

cư sống gần các khu công nghiệp đó

1

- Về khí thải: 1mặc dù các doanh nghiệp đã có ý thức thực hiện nhưng trang thiết

bị phục vụ công tác này chủ yếu còn sơ sài, đơn giản, chưa giảm thiểu triệt để ảnh hưởng của khí thải gây ra đối với môi trường xung quanh Chất lượng môi trường không khí tại các khu công nghiệp, đặt biệt là các khu công nghiệp được thành lập trên

cơ sở các doanh nghiệp cũ có sẵn với công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu

tư hệ thống xử lý khí thải đang bị suy giảm Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trong các cơ sở sản xuất của các khu công nghiệp cũng là vấn đề cần được quan tâm Cụ thể như các đơn vị chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất đang gây ô nhiễm tại chính các cơ sở sản xuất đó và đã tác động không nhỏ đến sức khỏe người lao động

- 1Về chất thải nguy hại và chất thải rắn: 1Một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp không thực hiện đăng ký nguồn thải theo quy định, có doanh nghiệp tự lưu giữ chất thải, gây ô nhiễm cục bộ Tại một số địa phương, còn chưa có doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải nguy hại cho doanh nghiệp thứ cấp trong khu công nghiệp nên chất thải nguy hại không được quản lý, xử lý theo quy định, nảy sinh nguy cơ về ô nhiễm môi trường Về chất thải rắn, tại một số khu công nghiệp chưa có nơi tập kết chất thải rắn để đưa đi xử lý, vì vậy, khó khăn trong việc thu gom, xử lý Một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp tự lưu giữ và xử lý không đảm bảo tiêu chuẩn Lượng chất thải rắn nguy hại đang có xu hướng tăng cao trong thời gian gần đây, đặc biệt là tại các khu có nhiều doanh nghiệp điện tử, sản xuất hóa chất, lắp ráp thiết bị cao cấp Nhiều khu công nghiệp cũng chưa có khu vực phân loại và trung chuyển chất thải rắn

Trang 25

Không khí tại một số khu công nghiệp cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng do khí thải từ các nhà máy sản xuất

• 1Thứ ba1:

Nước ta đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức ngày càng tăng trong công cuộc bảo vệ môi trường Áp lực do dân số, phát triển công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi tiêu thụ ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên và năng lượng Phát triển công nghiệp hoá đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng gia tăng

Theo nhận định của Cục Cảnh sát môi trường, không chỉ những doanh nghiệp nhỏ mà ngay cả nhiều công ty, tập đoàn kinh tế lớn cũng không coi trọng bảo vệ môi trường, còn lỏng lẻo trong việc quản lý, xử lý chất thải độc hại Cả nước ta hiện nay có trên 200 khu sản xuất công nghiệp thì 70% trong số đó chưa xây dựng hệ thống xử lý chất thải rắn và lỏng Đây chính là nguồn gây ô nhiễm ở các dòng sông và nhiều khu vực có người dân sinh sống Tình trạng vi phạm phổ biến tại các khu công nghiệp vẫn

là không thực hiện đúng các yêu cầu báo cáo đánh giá tác động môi trường, xả thải chưa qua xử lý và khai thác nguồn nước ngầm trái phép Ngoài ra, việc xử lý chất thải

y tế; bảo vệ động vật hoang dã; khai thác khoáng sản trái phép vẫn nhức nhối, phức tạp Tuy nhiên, số vụ phát hiện, xử lý so với tình hình vi phạm thực tế còn quá ít Khi

bị phát hiện thì hình thức xử phạt lại quá nhẹ, không mang tính răn đe khiến tình trạng

vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ngày càng có chiều hướng gia tăng Các hành vi

vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nước ta có diễn biến phức tạp, nhất là trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khai thác tài nguyên, khu công nghiệp, khu đô thị Tình trạng các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp vi phạm quy định pháp luật về môi trường ngày càng tăng gây bức xúc trong nhân dân Gần đây nhất là vụ việc của công

ty Vedan, công ty Miwon bị phát hiện gây nhức nhối trong dư luận

Trang 26

• 1Thứ tư:1

Việc đầu tư cho công tác môi trường làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận đạt được nên tại một số nơi, việc bảo vệ môi trường chưa được doanh nghiệp tự giác thực hiện, vẫn cần được tuyên truyền thường xuyên, đồng thời có cơ chế thanh, kiểm tra chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật về môi trường Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì vẫn còn nhiều bất cập trong việc tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc các khu công nghiệp, cũng như công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đặc biệt là việc xả thải ra môi trường; ý thức tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp còn yếu, việc xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, nước thải tại một số khu công nghiệp chưa nghiêm túc, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sống của người dân xung quanh

Có thể thấy, ý thức tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường của nhiều cơ sở sản xuất, chủ đầu tư các khu công nghiệp còn kém, vẫn còn tình trạng nhiều doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh mà chưa coi trọng công tác bảo vệ môi trường Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa có ý thức trách nhiệm đầu tư đầy đủ và đồng bộ các công trình xử lý môi trường, một số công trình xử lý môi trường được xây dựng theo công nghệ lạc hậu, cũ kỹ, mang nặng tính hình thức, đối phó với cơ quan chức năng… Đây cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc thực hiện không đúng, không đầy đủ các yêu cầu bảo vệ môi trường của các cơ sở, chủ đầu tư khu công nghiệp (thực hiện không đúng nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường, thực hiện giám sát môi trường không đúng quy định,…)

Tình trạng ô nhiễm môi trường do các doanh nghiệp gây ra ngày càng gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do công tác tổ chức

thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp còn chưa đạt hiệu quả, chưa chặt chẽ, cụ thể Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường còn một số bất

Trang 27

cập (ví dụ như quy định về Ban quản lý khu công nghiệp, Báo cáo đánh giá tác động môi trường, việc phân cấp trách nhiệm đối với các đơn vị có liên quan trong bảo vệ môi trường khu công nghiệp còn có bất cập, chức năng của các đơn vị tham gia còn chồng chéo, tuy đã có quy hoạch phát triển khu công nghiệp nhưng chưa thống nhất, thiếu khoa học,…), thiếu đồng bộ, chưa có những quy định toàn diện về bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp Việc tổ chức triển khai các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường gặp khá nhiều khó khăn đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố như: tuyên truyền, giáo dục để các đối tượng liên quan đến lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại hiểu biết và nâng cao ý thức tự giác trong việc thực hiện trách nhiệm của mình; việc thực hiện chức năng, vai trò quản lý nhà nước trong việc triển khai giám sát thực thi; vấn đề đầu tư vốn, phương tiện xử lý chất thải nguy hại; việc xác định mức độ vi phạm và các chế tài xử phạt; việc triển khai các công cụ quản lý chưa hiệu quả;… Cho đến nay, chúng ta chưa giải quyết được thấu đáo các vấn đề trên và thực sự chưa thu được những kết quả như mong đợi… Hầu hết các văn bản liên quan đến doanh nghiệp đều tập trung vào những vấn đề cải thiện môi trường đầu tư còn hành lang pháp lý về quản lý môi trường của các doanh nghiệp chậm được ban hành Có thể nhận thấy, việc triển khai tổ chức thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp chưa thực sự nghiêm túc và còn khá nhiều bất cập

1.4 Nh ững đề xuất về vấn đề bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống chúng ta

Dân gian có câu:" Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm" con người chúng ta cũng vậy nếu được sống trong môi trường trong lành sạch sẽ thì chúng ta sẽ cảm thấy

dễ chịu về tinh thần và tạo cho mình sức khỏe tốt hơn Nước ta là một nước đang phát triển cho nên có rất nhiều nhà máy, xí nghiệp mọc lên như nấm thay thế dần những

cánh đồng hoang, những dãy núi đồi Điều này đồng nghĩa với việc môi trường của chúng ta sẽ bị ô nhiễm nặng do các chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp thải ra Bên

Trang 28

cạnh đó còn có các hiện tượng khác là vứt rác bừa bãi không đúng nơi quy định Chúng

ta ai cũng công nhận là đời sống, vật chất tinh thần ngày càng văn minh, tiến bộ thì lượng rác thải sinh hoạt và của các xí nghiệp cũng theo đó mà tăng nhiều hơn Hiện

tuợng vứt rác bừa bãi không đúng nơi quy định như là các loại rác lẫn lộn vào nhau, mà trong đó là các bao nilong rất nhiều, các bao nilong này không phân hủy trong môi trường và ngấm ngầm vào trong đất gây ra hiện tượng làm cho đất xấu đi, hoặc xạt lỡ, xói mòn và lũ lụt Còn trên các bãi biển thì đi đâu cũng thấy rác, rác và rác Chính vì

thế mà vẻ đẹp mĩ quan, sự sạch sẽ và trong lành của biển bị giảm bớt Những cái chợ

là nơi có nhiều rác nhất, nhưng điều mà chúng ta chưa ý thức được là họ bán thức ăn

cạnh những thùng rác, kênh rạch một cách tự nhiên, người ăn thì lại vô tư, vô tình

Trường học là nơi học sinh được giáo dục rất nhiều về vấn đề bảo vệ môi trường

mà vẫn còn một số học sinh chưa ý thức được Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chung

của mỗi người, của toàn xã hội Bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp là bảo vệ cuộc sống

của chính mình vì môi trường là ngôi nhà chung của toàn nhân loại

- Ngoài việc nâng cao kỹ thuật lọc bụi, thì ý thức người tham gia lao động rất quan

trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày

- Đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào trong trường học, ngay từ cấp học bé nhất là

mẫu giáo:

- Cùng với các hoạt động dạy học trong nhà trường, giáo dục còn được thực hiện thông qua tổ chức các hoạt động phong phú và đa dạng Học đi đôi với hành là một trong những nguyên lý cơ bản của giáo dục ở Việt Nam Thực tế cũng cho thấy toàn bộ

cuộc sống của con người là một hệ thống liên tục các hoạt động và con người lớn lên cùng các hoạt động đó Vì thế đưa con người vào các hoạt động thực tế là con đường giáo dục có hiệu quả kể cả giáo dục bảo vệ môi trường

Trang 29

- Nh ững dạng hoạt động thường được sử dụng trong nhà trường là:

• Vui chơi: là hoạt động giải trí có ý nghĩa giáo dục to lớn Vui chơi được thực hiện qua các trò chơi phù hợp với lứa tuổi của học sinh như văn nghệ, trò chơi trí tuệ, sáng

tạo, thể dục thể thao tổ chức các hoạt động vui chơi có mục đích vừa góp phần tăng cường hoạt động giáo dục trong nhà trường vừa lôi học sinh vào những hoạt động bổ ích Trong quá trình tham gia trò chơi, học sinh phát triển tính tổ chức, kỷ luật tăng cường sức khỏe tính bền bỉ dẻo dai tinh thần tập thể đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, phát huy tính sáng tạo…tùy theo mục đích vui chơi, giải trí đối tượng tham gia vui chơi mà

lựa chọn các hình thức chơi sao cho phù hợp Có thể vận dụng nhiều hình thức vui chơi trong giáo dục bảo vệ môi trường, tổ chức tham quan tìm hiểu về một môi trường đang được bảo vệ, hoặc tìm hiểu về môi trường mà em đang sinh sống…

• Lao động: là hình thức hoạt động của con người để tạo ra sản phẩm vật chất hoặc phi vật chất hoặc làm biến đổi đối tượng chịu tác động Lao động giúp con người bộc

lộ được tiềm năng trí tuệ và phát triển kỹ năng hoạt động giúp phát triển tính dẻo dai

bền bỉ, khả năng vượt khó, các hoạt động đó được tổ chức ngay trong khuôn viên nhà trường như trồng cây xanh, làm vệ sinh trong lớp…hoặc tham gia giữ, dọn vệ sinh trong khu phố

• Hoạt động xã hội: để gắn nhà trường với xã hội¸ giáo dục còn được thực hiện qua

hoạt động xã hội Đó là hoạt động của cá nhân trong một môi trường phức tạp với các

mối quan hệ đa dạng với cộng đồng xã hội nhằm thực hiện một công việc nào đó Tổ

chức vào xem các khu công nghiệp tại nơi sinh sống, chỉ rõ sự cần thiết phải bảo vệ

mội trường, hình thành cho học sinh ý thức học tập, rèn luyện tình thần xây dựng môi trường xanh sạch đẹp

• Giáo dục thông qua sinh hoạt tập thể: đây là một hoạt động giáo dục quan trọng của nhà trường phổ thông Tập thể là một tập hợp nhiều cá nhân cùng nhau hoạt động theo mục đích tốt đẹp Hai yếu tố quan trọng của tập thể có ý nghĩa giáo dục lớn là chế

Trang 30

cơ hội cho sự tác động qua lại lẫn nhau Giáo dục bảo vệ môi trường có thể vận dụng hình thức sinh hoạt tập thể để góp phần hình thành, điều chỉnh thái độ và hành vi đúng đắn đối với môi trường của mỗi học sinh

 Sự phát triển đa dạng của kinh tế, xã hội, mối quan hệ giữa con người với môi trường thiên nhiên và xã hội ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc

của con người để có thể có cách ứng xử phù hợp giáo dục hoàn toàn có khả năng, điều

kiện đáp ứng các đòi hỏi của xã hội và có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu đó Chính

vì vậy, giáo dục bảo vệ môi trường cần được đưa vào hệ thống giáo dục quốc dân

- Giáo dục bảo vệ môi trường ngay trong môi trường lao động

- Khởi động giải thưởng "Doanh nghiệp xanh" bảo vệ môi trường

 Đất nước ta càng ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hóa, các nhà máy,

xí nghiệp, khu công nghiệp thay thế các cánh đồng hoang, đồi núi vì vậy vấn đề bảo vệ môi trường không chỉ dừng lại ở ý thức bảo vệ mà còn liên quan tới công nghệ xử lý

chất thải công nghiệp Lọc bụi công nghiệp là nhiệm vụ và là một trong các yêu cầu

cấp bách để bảo vệ môi trường sống và làm việc cho người lao động Vậy ở Việt Nam

ta hiện nay có những biện pháp công nghệ như thế nào để xử lý bụi trong công nghiệp?

Trang 31

K ết luận chương 1

- Bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chính mình Bảo vệ môi trường là lương tâm, là trách nhiệm của mỗi người,là nhiệm vụ của mọi tổ chức và toàn xã hội, được luật pháp quy định và bảo vệ

- Giáo dục bảo vệ môi trường là nội dung bắt buộc trong nhà trường trong mọi

cấp học từ mẫu giáo đến đại học

- Lĩnh vực bảo vệ môi trường rất phong phú, đa dạng, đòi hỏi phải có sự nghiên

cứu tổng hợp đầy đủ cho từng lĩnh vực, lựa chọn giải pháp khoa học hợp lý phù hợp

với điều kiện sản xuất và trình độ công nghệ, nhằm đạt hiệu quả kinh tế-kỹ thuật cao

nhất

Bảo vệ môi trường bắt nguồn từ ý thức, rèn luyện ý thức bảo vệ môi trường ngay từ bé là điều vô cùng quan trọng Bên cạnh đó, đất nước ta đang trên đà phát triển, các khu công nghiệp mọc lên việc thải các khí độc, bụi có hại ra môi trường là không thể tránh khỏi Vì vậy vấn đề hiện nay, cùng với ý thức con người phải biết sử

dụng công nghệ vào sản xuất, hạn chế phát thải có hại cho môi trường, bảo đảm sức

khỏe cho người lao động, bảo vệ ngôi nhà chung mà vẫn có thể thu được lợi ích kinh

tế nâng cao cuộc sống cả về số lượng và chất lượng

Từ kết luận trên, Luận văn tập trung nghiên cứu về giải pháp làm sạch bụi sinh

ra từ nguồn gây bụi tập trung là các cơ sở sản xuất công nghiệp

Trang 32

Chương 2

CƠ SỞ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP 2.1 Gi ới thiệu chung

Để thu hồi các sản phẩm có giá trị trong khí bụi làm nguyên liệu cần thiết cho nhiều ngành kinh tế quốc dân khác, đồng thời tránh ô nhiễm môi trường khí quyển Ở

những vùng công nghiệp phát triển người ta dùng các phương pháp lọc bụi khác nhau

để thu hồi bụi từ khí thải, như vậy không những mang lại hiệu quả kinh tế mà còn bảo

vệ môi trường đó là mục tiêu phấn đấu của mọi ngành sản xuất, nhất là các cở sở sinh nhiều bụi

Ngày nay các thiết bị lọc bụi làm sạch khí được nghiên cứu thành công có nhiều

loại như xiclon, thiết bị lọc bụi túi vải, ống venturi, thiết bị lọc bụi tĩnh điện

Trong các thiết bị lọc bụi, thiết bị lọc bụi tĩnh điện với những ưu điểm vượt trội về

hiệu suất thu bụi cao đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau

2.2 Nguyên nhân và tác h ại của bụi

2.2.1 Nguyên nhân t ạo thành bụi

Trong sản xuất công nghiệp ta thấy quá trình đốt cháy nhiên liệu xảy ra ở nhiều ngành như: tại nhà máy nhiệt điện, sản xuất xi măng, luyện kim, giấy, dệt vải, sản xuất phân bón Trong sản phẩm cháy, do đốt nhiên liệu sinh ra, có chứa nhiều loại khí độc

hại cho sức khoẻ con người, nhất là khi quá trình cháy không hoàn toàn Các loại khí độc hại đó là: SOR 2 R, CO, COR 2 R, NOR x R, các hydrocacbon và tro bụi

Khi quá trình cháy không hoàn toàn do thiếu oxy hoặc do trong khi cháy nhiệt độ

ngọn lửa bị giảm thấp, một số nguyên tử cacbon và hydro không được cấp đủ năng

Trang 33

lượng cần thiết để hình thành các gốc tự do và cho ra sản phẩm cuối cùng trong ngọn

lửa là COR 2 R và HR 2 RO Như vậy có sự ngừng trệ các phản ứng cháy ở những giai đoạn cân

bằng trung gian và dẫn đến các quá trình sau:

 Phát thải các nguyên tử cacbon hoặc kết hợp cacbon lại với nhau thành

muội, khói đen và mồ hóng-than chì

 Kết hợp các nguyên tử cacbon với oxy tạo thành cacbon oxit CO

 Kết hợp các nguyên tử cacbon với hydro để tạo thành các hydrocacbon

nhẹ và nặng

 Phát thải các hydrocacbon đã oxy hoá từng phần

Trong một vài quá trình khi tăng nhiệt độ có thể tạo khả năng sinh bụi là do giảm liên kết giữa các hạt trong vật rắn mặt khác khi ngưng tụ hơi của các quá trình thăng hoa và các phản ứng hoá học Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến nguyên nhân bụi trong công nghiệp Các chất độc hại thải ra khí quyển do đốt nhiên liệu ở các nhà máy nhiệt điện cũng tương tự như quá trình đốt nhiên liệu nói chung Điểm khác biệt ở đây là lượng nhiên liệu tiêu thụ ở các trung tâm và nhà máy nhiệt điện thường rất lớn Ví dụ nhà máy nhiệt điện Phả Lại I, công suất 440 MW tiêu thụ hàng ngày 4500 tấn than và

thải vào khí quyển lượng khói là ≈ 3 triệu mP

3

P

/h, trong đó có chứa gần 3 tấn khí SOR 2 R,

400 tấn khí COR 2 R và 8 tấn bụi Trung tâm nhiệt điện ở Haver (Tây bắc nước Pháp) tiêu

thụ một lượng than là 20000 tấn/ ngày và thải vào khí quyển 7 triệu mP

3

P

sản phẩm cháy (khói) mỗi giờ

Trang 34

B ảng 2 1: Lượng chất độc hại của một số loại nhiên liệu

Loại nhiên liệu

• Do lò đốt có hiệu quả cao, lượng khí oxit cacbon (CO) < 0.008 g/MJ đối với

tất cả các loại nhiên liệu

• SR p R, AR p R: Tỷ lệ phần trăm trọng lượng của thành phần lưu huỳnh và tro trong nhiên liệu

Trang 35

B ảng 2 2: Nồng độ bụi trong khí thải của các thiết bị khác nhau của nhà máy ximăng

3

P

) trong khí

- Nung khô với thiết bị

khô

Trang 36

B ảng 2 3: Lượng khí thải từ các nhà máy nhiệt điện trong hệ thống điện ở Việt

Nam năm 2003 (Nguồn: Website 3http://www.ips.gov.vnU)

Tên nhà máy

Lượng khí thải (nghìn tấn/năm )

Nhà máy nhiệt điện Phỳ Mỹ 2 – 1

Trang 37

2.2.2 Tác h ại của bụi đối với con người

Sức khỏe và tuổi thọ con người phụ thuộc rất nhiều vào độ trong sạch của môi trường không khí xung quanh Trong tất cả các loại nhu cầu vật chất hàng ngày cho

cuộc sống của con người thì không khí là loại “nhu yếu phẩm” đặc biệt quan trọng mà con người cần đến thường xuyên, liên tục từng giờ từng phút không lúc nào ngơi nghỉ trong suốt cuộc đời mình Người ta đã tổng kết được rằng cơ thể con người có thể chịu đựng được 5 tuần lễ không ăn, 5 ngày không uống nhưng chỉ chịu đựng được 5 phút

nếu không hít thở không khí Lượng không khí mà cơ thể cần cho sự hô hấp hàng ngày khoảng 10mP

3

P

, do đó nếu trong không khí có lẫn nhiều chất độc hại nói chung và bụi nói riêng thì cơ quan hô hấp sẽ hấp thu toàn bộ và tạo điều kiện cho chúng xâm nhập sâu vào cơ thể gây ra nhưng hậu quả rất nghiêm trọng cho sức khoẻ và tính mạng con người

Đối với sức khoẻ của con người bụi ảnh hưởng đầu tiên đến đường hô hấp, thị giác, ảnh hưởng đến cuộc sống và các sinh hoạt khác của con người Đặc biệt đối với đường hô hấp, hạt bụi càng nhỏ ảnh hưởng của chúng càng lớn, với cỡ hạt 0.5÷10 làm chúng có thể xâm nhập sâu vào đường hô hấp nên gọi là bụi hô hấp Mức độ ảnh hưởng

của bụi phụ thuộc nhiều vào nồng độ bụi trong không khí (mg/mP

3

P

) Nồng độ bụi cho phép trong không khí phụ thuộc vào bản chất của bụi và thường được đánh giá theo hàm lượng ôxit silic (SiOR 2 R)

Bên cạnh sức khoẻ của con người nhiều sản phẩm cũng đòi hỏi phải được sản

xuất trong môi trường hết sức trong sạch Ví dụ như công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế tạo thiết bị quang học, điện tử Nếu môi trường không hoàn toàn sạch nó

sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của thiết bị và từ đó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ con người

Vì vậy cần phải nghiên cứu các biện pháp lọc bụi làm sạch không khí hạn chế tối

đa các chất độc hại cũng như bụi phát tán vào môi trường không khí bảo vệ môi trường

Trang 38

đem lại sức khoẻ cho người lao động trực tiếp tại các cơ sở thường xuyên sinh bụi và

cộng đồng cư dân xung quanh

2.3 Phân lo ại các phương pháp lọc bụi

Thiết bị lọc bụi có rất nhiều loại, tuỳ thuộc vào nguyên lý tách bụi, hình thức bên ngoài, chất liệu hút bụi vv mà người ta chia ra các loại thiết bị lọc bụi khác nhau Sau đây tác giả xin được giới thiệu một số phương pháp lọc bụi đang được sử dụng rộng rãi cho các ngành công nghiệp:

o Buồng lắng bụi (lọc bụi theo phương pháp trọng lực)

o Thiết bị lọc bụi kiểu ly tâm

o Thiết bị lọc bụi kiểu quán tính

o Thiết bị lọc bụi kiểu túi vải

o Thiết bị lọc bụi kiểu lưới lọc

o Thiết bị lọc bụi kiểu thùng quay

o Thiết bị lọc bụi kiểu sủi bọt

o Thiết bị lọc bụi bằng lớp vật liệu rỗng

o Thiết bị lọc bụi tĩnh điện

2.3.1 L ọc bụi theo phương pháp trọng lực

Phương pháp lọc bụi đơn giản nhất là làm cho bụi lắng đọng dưới tác dụng của

trọng lực Những hạt bụi cỡ lớn thường lắng đọng trên đường ống, nhưng để hiệu quả

của quá trình lắng được cao hơn người ta phải chế tạo ra một thiết bị riêng biệt dành riêng cho việc lắng bụi và gọi là buồng lắng bụi

 Buồng lắng bụi loại đơn giản - đó là một không gian hình hộp có tiết diện ngang lớn hơn nhiều lần so với tiết diện đường ống dẫn khí vào để cho vận tốc dòng

Trang 39

khí giảm xuống rất nhỏ ( trong buồng lắng dòng khí chuyển động với vận tốc rất nhỏ

1÷2 m/s) nhờ thế hạt bụi có đủ thời gian để rơi xuống đáy dưới tác dụng của trọng lực

và bị giữ lại

Tuy nhiên đối với các hạt bụi nhỏ ngoài tác dụng của trọng lực còn có tác dụng chuyển động của dòng khí và lực ma sát môi trường Như đã biết trở lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có kích thước hạt bụi, sẽ ảnh hưởng đến tốc độ lắng của hạt bụi,

vì vậy buồng lắng bụi đơn giản được áp dụng để lắng bụi thô có kích thước từ 60÷70

µm trở lên Buồng có nhược điểm là hiệu quả lọc bụi không cao, chỉ đạt 50÷60% và

phụ tải không lớn do không thể chế tạo buồng có kích thước quá to, tốc độ vào buồng đòi hỏi không quá cao Thực tế ít sử dụng buồng lọc kiểu này

u

v

L

Hình 2 1: Bu ồng lắng bụi dạng hộp loại đơn giản

 Buồng lắng bụi loại nhiều ngăn hoặc một ngăn có tấm chắn khắc phục được nhược điểm của buồng lắng bụi loại đơn giản nên hiệu quả cao hơn Trong các buồng

lắng bụi này không khí chuyển động dích dắc hoặc xoáy tròn nên khi va đập vào các

tấm chắn và vách ngăn các hạt bụi sẽ mất động năng rồi rơi xuống Hiệu quả của các thiết bị lọc bụi loại này có thể đạt 85 ÷ 90%

Trang 40

a) Buồng lắng bụi nhiều ngăn b) Buồng lắng bụi có tấm chắn

Hình 2 2: Các lo ại buồng lắng bụi

2.3.2 B ộ lọc bụi kiểu ly tâm:

a) Thi ết bị lọc bụi ly tâm kiểu nằm ngang:

Thiết bị lọc bụi ly tâm kiểu nằm ngang có cấu tạo khá đơn giản Thiết bị bao gồm

một ống bao hình trụ bên ngoài, bên trong có lõi hình trụ hai đầu bịt tròn và thon Không khí mang bụi đi vào thiết bị được các cánh hướng dòng tạo thành chuyển động xoáy Lực ly tâm sản sinh từ dòng chuyển động xoáy tác dụng lên các hạt bụi và đẩy chúng ra xa lõi hình trụ rồi chạm vào thành ống bao rồi thoát ra ngoài qua khe vành khăn để rơi vào nơi tập trung bụi Không khí sạch (một cách tương đối) theo ống loa

tới cánh hướng dòng kết hợp với van điều chỉnh thoát ra ngoài

Như vậy dòng khí đi từ đầu này ra đầu kia của thiết bị trên cùng một chiều Do đó người ta còn gọi là thiết bị lọc ly tâm một chiều

b) Thi ết bị lọc bụi ly tâm kiểu đứng:

Bộ lọc bụi ly tâm kiểu đứng thường được gọi là bộ lọc bụi xiclon là thiết bị lọc

bụi tương đối phổ biến Nguyên lý làm việc của thiết bị lọc bụi kiểu xiclon là lợi dụng

lực ly tâm khi dòng không khí chuyển động để tách bụi ra khỏi không khí

Ngày đăng: 15/02/2021, 08:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w