1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố gây stress đối với người thực hiện công tác quản lý dự án xây dựng tại việt nam nhận định và đề xuất giải pháp

128 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, ngành công nghiệp xây dựng là một trong những ngành công nghiệp có mức độ stress cao nhất nên stress đối với người thực hiện công tác quản lý dự án trở thành một vấn đề hết

Trang 1

-HỌC VIÊN: TRẦN THỊ DIỆU LINH

ĐỀ TÀI: NHỮNG NHÂN TỐ GÂY STRESS ĐỐI VỚI NGƯỜI THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN TẠI VIỆT NAM

NHẬN ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Công nghệ và Quản lý xây dựng

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINHCán bộ hướng dẫn khoa học:

Trang 3

Em xin chân thành cám ơn Khoa Kỹ thuật Xây dựng và Phòng Đào tạo Sau đại học, trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện tốt cho em thực hiện luận văn tốt nghiệp này.

Em xin chân thành cám ơn thầy Phạm Hồng Luân đã tận tình hướng dẫn, chỉdạy cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp

Em xin chân thành cám ơn Quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và trang bị cho chúng em những kiến thức quý giá trong thời gian học cao học vừa qua

Con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ông Bà, Cha Mẹ đã luôn ủng hộ, động viên và tiếp thêm nguồn sức mạnh cho con trong thời gian học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cám ơn các anh chị và bạn bè đã hỗ trợ, giúp đỡ và động viên

em trong thời gian học tập và nghiên cứu

Mặc dù đã nỗ lực hết sức hoàn thành luận văn một cách tốt nhất với khả năng của mình nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận sựchỉ bảo và cảm thông của Qúy Thầy Cô và các bạn

Học viên thực hiệnTrần Thị Diệu Linh

Trang 4

Tại nước ta hiện nay, ngành công nghiệp xây dựng là một trong những ngành công nghiệp chính đóng góp vào nền kinh tế quốc dân Trong những năm qua chính phủ và Nhà nước đã rất nỗ lực để nâng cao hiệu quả thực hiện các dự án xây dựng và nâng cao sản lượng ngành xây dựng Tuy vậy vẫn còn rất nhiều vấn đề còn tồn tại cần tìm ra giải pháp khắc phụ trong việc thực hiện công tác quản lý dự án hiện nay Một trong các vấn đề đó là stress đối với người thực hiện công tác quản lý dự án vì con người là yếu tố mấu chốt, quan trọng nhất quyết định sự thành công của mỗi dự án dù

là lớn hay nhỏ Stress hiện nay là vấn đề của toàn xã hội và cũng là vấn đề của mỗi cá nhân đặc biệt là cá nhân người thực hiện công tác quản lý dự án Trong khi đó, ngành công nghiệp xây dựng là một trong những ngành công nghiệp có mức độ stress cao nhất nên stress đối với người thực hiện công tác quản lý dự án trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết và rất cần sự quan tâm của các bên liên quan trong công tác quản lý dự

án Nếu các giải pháp tổng thể để hạn chế và giảm thiểu stress, nó không chỉ giúp giải quyết vấn đề stress đối với người thực hiện quản lý dự án, giúp cải thiện chất lượng công việc và chất lượng cuộc sống của người thực hiện công tác quản lý dự án mà còn giúp cải thiện chất lượng dự án, nâng cao khả năng thành công của dự án về mọi mặt: thời gian, chi phí và chất lượng… Điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ với

cá nhân người thực hiện công tác quản lý dự án mà còn có ý nghĩa sâu sắc về mặt xã hội

Trang 5

MỤC LỤC

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Tầm quan trọng của nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

Chương 2: LƯỢC KHẢO CÁC VẤN ĐỀ ĐÃ NGHIÊN CỨU 5

1 Khái niệm Stress 5

2 Đặc điểm nghề Quản lý dự án xây dựng 11

3 Stress trong xây dựng nói chung và nghề Quản lý dự án nói riêng 15

4 Quy trình nghiên cứu 18

Chương 3: CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG VÀ CÁC NHÂN TỐ GÂY STRESS ĐỐI VỚI NGƯỜI THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM 21

1 Công tác quản lý dự án xây dựng tại Việt Nam 21

1.1 Khái quát về công tác quản lý dự án xây dựng tại Việt Nam 21

1.2 Những khó khăn trong công tác quản lý dự án xây dựng tại Việt Nam 24

2 Các nhân tố gây ra stress đối với nhà quản lý dự án tại Việt Nam 52

2.1 Nhân tố công việc 52

2.2 Nhân tố tổ chức 53

2.3 Mối quan hệ cá nhân 54

2.4 Điều kiện làm việc và sinh hoạt 54

2.5 Cơ chế, chính sách của Nhà nước 55

2.6 Hệ thống văn bản pháp quy liên quan 55

2.7 Hệ thống định mức, đơn giá 55

Chương 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57

1 Thiết kế bảng câu hỏi 57

2 Thu thập và xử lý dữ liệu 65

3 Bảng kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả 66

Trang 6

Chương 5: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ GIẢM THIỂU CÁC TÁC ĐỘNG GÂY STRESS ĐỐI VỚI NGƯỜI THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN TẠI

VIỆT NAM 77

1 Đề xuất các biện pháp hạn chế và giảm thiểu tác động gây stress đối với người thực hiện công tác quản lý dự án tại Việt Nam 77

2 Mở rộng nghiên cứu 104

Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 116

Trang 7

Chương 1: GIỚI THIỆU

1 Đặt vấn đề

Nguồn nhân lực là tài sản quý giá nhất đối với mọi tổ chức trên thế giới, quan tâm đúng mức tới nguồn nhân lực là công việc trước tiên và nhiệm vụ hàng đầu của người làm công tác quản trị (Leung, 2009) Tuy nhiên, hiện nay hầu hết những người quản trị trong các doanh nghiệp xây dựng đều quá chú trọng tới lợi nhuận mà chưa quan tâm đúng mức tới sức khoẻ người lao động

Mặc dù stress là một khái niệm mới được đưa vào y học, song nó đã trở nên quen thuộc với tất cả mọi người Chỉ cần một từ khoá stress khi truy cập vào trang web tìm kiếm thông dụng và lớn nhất thế giới Google ta lập tức nhận được khoảng 190.000.000 kết quả với rất nhiều nội dung khác nhau: khái niệm stress, tác động của stress, bí quyết giảm stress, stress ở tuổi thanh thiếu niên, dân văn phòng, stress ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, ảnh hưởng đến hôn nhân v.v Từ đó có thể thấy stress gắn liền với cuộc sống của mỗi con người, có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới con người và là mối quan tâm rất lớn của xã hội ngày nay Một xã hội phát triển không ngừng với sức ép rất lớn đè nặng trên vai mỗi người: áp lực về kinh tế, công việc, gia đình…

Theo thống kê tại Mỹ những năm gần đây cho thấy có hơn 50% trong số 550 triệu ngày nghỉ việc của người dân nước này mỗi năm là do Stress, gần 50% công nhân có triệu chứng kiệt quệ Chi phí cho stress từ công việc là 300tỷ USD/năm (nghỉ việc, giảm năng suất, thay người làm việc, khám bệnh, phí bảo hiểm…) Đặc biệt có tới 60-80% tai nạn nghề nghiệp do stress

Tại Việt Nam, trong thời đại hội nhập cuộc sống ngày càng nhiều áp lực đòi hỏi mỗi cá nhân phải nỗ lực nhiều hơn trong công việc, cân bằng công việc và cuộc sống riêng, theo kịp tốc độ phát triển của xã hội do đó stress xảy ra nhiều hơn và có ảnh hưởng sâu rộng hơn Đối với những người trưởng thành sức ép về công việc và cuộc sống riêng gây ra stress như một điều tất yếu, nhưng cũng có vô vàn lý do làm cho lớp thanh thiếu niên ngày nay bị stress Một khảo sát về tình trạng trầm cảm ở học sinh tại thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra một con số báo động: gần 21% học sinh có biểu hiện trầm cảm, gần 40% đối tượng tự tử có bệnh lý tâm thần kèm theo

Trang 8

như trầm cảm, tâm thần phân liệt…Tuy nhiên đây là những số liệu ít ỏi có thể tìm

được về stress tại Việt Nam Vậy tại sao chúng ta không nhìn nhận lại nghiêm túc

hơn về vấn đề này?

Đối với những người trưởng thành, stress liên quan đến công việc gần như là

điều không thể tránh khỏi Đặc biệt đối với những người làm nghề có nhiều áp lực

như quản lý dự án Mỗi dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một

sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất Quản lý dự án là việc áp dụng những kiến thức, kỹ

năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án để đạt được hoặc vượt qua

các yêu cầu và mong muốn của các bên tham gia dự án Đặc biệt ngành công nghiệp

xây dựng luôn gắn liền với rất nhiều biến đổi và điều kiện không chắc chắn

Người làm quản lý dự án là người điều phối các mối quan hệ của các bên trong

dự án: Chủ đầu tư, nhà thầu chính, thầu phụ, tư vấn thiết kế, giám sát, các cơ quan

ban ngành Nó đòi hỏi người quản lý dự án phải có nhiều kỹ năng: kỹ thuật, quản lý

thời gian và lập tiến độ, lãnh đạo, lập kế hoạch ngân sách, tiếp thị và kỹ năng đàm

phán hợp đồng với khách hàng, kỹ năng quan hệ con người và quản lý nguồn lực…

từ khi bắt đầu đến kết thúc dự án

Do vậy người quản lý dự án là nhân tố chủ chốt quyết định thành công

của dự án xây dựng Những đòi hỏi cao về kỹ năng, trách nhiệm cũng như khối

lượng công việc lớn và phức tạp gây áp lực lớn cho người quản lý dự án, từ đó

stress đối với người làm quản lý dự án như là một kết quả tất yếu

Theo điều tra của năm 2006 của CIOB, trong ngành xây dựng tại Anh có đến

68.2% người được hỏi nói rằng họ từng bị stress, cụ thể hơn có 61.9% số người

được hỏi cảm thấy bị áp lực lớn, 48.4% từng cảm thấy lo lắng, 18.5% cảm thấy

chán nản Hơn một nửa số người được hỏi (58.2%) cảm thấy áp lực trong ngành

công nghiệp xây dựng ngày nay lớn hơn so với 5 năm về trước Tuy vậy, ở Việt Nam hầu như chưa có những nghiên cứu về mặt tâm thần học

nói chung và tác động của stress đối với người lao động trong lĩnh vực xây dựng nói

riêng

Trang 9

2 Mục tiêu nghiên cứu

Ảnh hưởng của áp lực được thể hiện rõ ràng trong ngành công nghiệp xây dựng (Leung 2004) Nghiên cứu này cố gắng để có được một nhận định sơ khởi về ảnh hưởng của stress đối với người làm Quản lý dự án tại Việt Nam Và để làm được việc đó, các mục tiêu sau đây phải đạt được:

(1) Tìm ra các nhân tố gây ra stress đối với người làm Quản lý dự án

(2) Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố gây ra stress đối với người làm công tác Quản lý dự án và xếp hạng các nhân tố đó

(3) Đề xuất các giải pháp hạn chế và giảm thiểu stress đối với người thực hiện công tác quản lý dự án tại Việt Nam để đảm bảo sức khoẻ thể chất và tinh thần của

họ và nâng cao chất lượng dự án, công trình xây dựng

3 Tầm quan trọng của nghiên cứu

Từ việc tìm ra các nhân tố gây ra stress cho người làm quản lý dự án, có thể đề xuất các biện pháp tránh hoặc giảm stress cho người làm quản lý dự án Đồng thời nâng cao năng suất lao động cho người lao động và giảm chi phí cho người sử dụng lao động phải chi ra vì những lý do liên quan đến stress, từ đó nâng cao chất lượng

dự án

Từ kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thông tin hữu ích cho người làm công tác quản trị trong doanh nghiệp xây dựng và tác động để các nhà quản trị quan tâm đúng mức hơn tới sức khoẻ của người lao động

4 Phạm vi nghiên cứu

Ở các khu đô thị tập trung một lượng dân số với mật độ lớn, mức độ cạnh tranh cao, cuộc sống năng động và nhiều sức ép khiến cho những người sống ở các thành phố lớn dễ bị stress hơn Không chỉ trong công việc, cuộc sống riêng của họ bị tác động rất nhiều bởi sự biến động của xã hội Điều đó đòi hỏi mỗi người phải cố gắng

và nỗ lực để đối mặt, vượt qua stress Đồng thời, các thành phố lớn của Việt Nam là nơi tập trung nhiều nhất các công ty xây dựng lớn, số người thực hiện công tác quản

lý dự án cũng tập trung tại đây Do đó các thành phố lớn tại Việt Nam là nơi rất phù hợp để tiến hành nghiên cứu này Sự lựa chọn này vừa đảm bảo tính toàn diện song

Trang 10

vẫn tập trung và phù hợp với quy mô đề tài cũng như giới hạn thời gian Việc nghiên cứu và lấy số liệu được thực hiện tại các thành phố lớn trên lãnh thổ Việt Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng…

Đối tượng phỏng vấn: những người có kinh nghiệm về Quản lý dự án đang

công tác tại các công ty là Chủ đầu tư, Nhà thầu thi công, tư vấn, trong các cơ quan nhà nước… ở các thành phố lớn trên lãnh thổ Việt Nam: thành phố Hồ Chí Minh,

Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng…

Địa điểm: tại các thành phố lớn trên lãnh thổ Việt Nam như thành phố Hồ Chí

Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng…

Thời gian: tháng 11/2009 đến tháng 2/2010

Trang 11

Chương 2: LƯỢC KHẢO CÁC VẤN ĐỀ ĐÃ NGHIÊN CỨU

1 Khái niệm Stress

1.1 Khái niệm stress

Khái niệm stress được nói tới khá gần đây Được giới thiệu lần đầu tiên bởi nhà sinh vật học Hans Selye năm 1936 và được sử dụng trong nghiên cứu tâm lý học năm 1955 (Selye 1979) Tuy vậy định nghĩa stress chưa được chấp nhận một cách rộng rãi Tiếp theo có một số các công trình nghiên cứu về stresss của Lazarus, Cohen năm 1977, Antonovsky, Mikhail năm 1985, Miller năm 1990…

Theo Hans Selye, người đầu tiên phát triển khái niệm stress hiện đại, thì stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng (Hans Selye, 1956) Đây là những phản ứng nhằm khôi phục lại trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống để đảm bảo duy trì và thích nghi thoả đáng của cơ thể trước điều kiện sống luôn biến đổi

Theo Cox (1993), stress thường được coi như một cảm xúc chủ quan của mỗi cá nhân, thứ mà những đòi hỏi của công việc hoặc cuộc sống vượt quá sự tin tưởng của mỗi cá nhân ở khả năng đối phó của họ

ThS Vũ Quốc dẫn lời bác sỹ Eric Albert – nhà tâm lý học, người sáng lập ra Viện nghiên cứu Stress định nghĩa: “Stress là nỗ lực của cơ thể để thích nghi với những đổi thay Stress là một thuật ngữ chỉ sự quá tải về mặt thể chất và tinh thần Theo Tiếng Anh, stress có nghĩa là sức căng, sức ép, sự cố gắng quá mức”

1.2 Các giai đoạn của stress

Stress rất đa dạng và có thể xảy ra bất cứ lúc nào, trong mọi tình huống Nó là một phần không thể thiếu được của cuộc sống Chẳng hạn sự căng thẳng trong cuộc sống gia đình, nỗ lực đáp ứng với nhu cầu công việc, quan hệ với đồng nghiệp, xã hội không tốt… Thông thường stress tác động vào cơ thể thông qua các giác quan, tác động trực tiếp lên con người qua ba giai đoạn:

Giai đoạn báo động là phản ứng báo động, đặc điểm chính là có những biến đổi

sinh lý chuẩn bị cho cơ thể đối phó với hoàn cảnh mới làm cho cơ thể lâm vào tình trạng tăng cảnh giới, lo lắng Ví dự như các quá trình tập trung, ghi nhớ, phán đoán

Trang 12

trong cơ thể triển khai những phán đoán đến trước đối với mỗi tác động có thể xảy

ra thể hiện bằng tăng huyết áp, tăng nhịp thở, tăng nhịp tim, tăng lực cơ bắp

Giai đoạn chống đỡ: đặc trưng bởi việc huy động các đáp ứng khác nhau trong

khuôn khổ chiến lược đã được đề ra và có khả năng thích nghi mềm dẻo theo quá trình triển khai các đáp ứng thích hợp nhằm giúp cơ thể làm chủ được tình huống stress và có được một cân bằng mới đối với chính bản thân người đó cũng như đối với môi trường xung quanh

Giai đoạn kiệt sức: do stress quá mức hoặc kéo dài làm cơ thể mất khả năng bù

trừ, cơ thể trở nên suy sụp, khả năng thích nghi bị rối loạn, xuất hiện các rối loạn tâm lý (đa số là do lo âu, trầm cảm)

Stress có hai mặt, nó là sản phẩm của các mối tương giao giữa cá nhân và môi trường sống, nó có thể khích lệ và tạo nên sự tăng trưởng Tuy nhiên khi stress vượt quá khả năng phản ứng của chúng ta, nó có thể gây tác động tai hại và nhiều bệnh tật

1.3 Ảnh hưởng của stress đối với con người

Stress có mặt tích cực và mặt tiêu cực Trước những stress quá mạnh hoặc kéo dài, những phản ứng thích nghi của cơ thể bị rối loạn, cơ thể bị suy sụp, từ đó xuất hiện nhiều rối loạn bệnh lý Tạp chí Medical (Hoa Kỳ) đã dẫn ra 10 tác hại điển hình nhất của stress đối với sức khỏe con người như sau:

Ảnh hưởng đến não: Mất ngủ thường xuyên do stress gây ra là nguyên nhân

khiến não trở nên kém linh hoạt, minh mẫn, thậm chí có nguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng Theo các nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu giấc ngủ ở Úc, chỉ cần không chợp mắt trong khoảng 20 giờ liên tiếp, mức độ linh hoạt và khả năng kiểm soát của não sẽ bị thuyên giảm tương đương với việc nồng độ cồn trong máu tăng hơn mức bình thường 50%

Ảnh hưởng đến tim: Khi bị stress, cơ thể thường giải phóng một lượng lớn

hormone cortisol, góp phần làm xuất hiện bệnh cao huyết áp, béo phì và tiểu đường Ngoài ra, stress còn là nguyên nhân khiến tinh thần ủ rũ, lười vận động, nếu ai có thói quen dùng nhiều đường và mỡ động vật thì nguy cơ mắc các bệnh tim mạch là rất khó tránh khỏi

Trang 13

Ảnh hưởng đến phổi : Ngoài cortisol, stress còn kích thích tuyến thượng thận

giải phóng hormone adrenaline Khi lượng hormone này tăng cao thì hơi thở thường trở nên gấp gáp, không sâu Điều này giải thích tại sao các nhà tâm lý khuyên mọi người nên giữ bình tĩnh mỗi khi gặp căng thẳng hay lo âu bằng cách cố gắng hít thở thật sâu và đều đặn Người bị stress nếu đã mắc bệnh suyễn hoặc các bệnh khác về đường hô hấp thì bệnh tình sẽ trở nên tồi tệ hơn

Ảnh hưởng đến mắt: Dễ dàng nhận thấy mệt mỏi, căng thẳng luôn là nguyên

nhân hàng đầu dẫn đến chứng mất ngủ Khi mất ngủ, bên cạnh một số biểu hiệnthường thấy như thần sắc kém tươi tỉnh, da thô ráp, cơ thể suy nhược…, thì tình trạng mắt mệt mỏi, thâm quầng hoặc sưng đỏ cũng rất dễ xảy ra Mất ngủ lâu ngày thậm chí còn có thể làm giảm thị lực cũng như gây thêm nhiều căn bệnh nguy hiểm khác về mắt

Ảnh hưởng đến da: Theo các nhà khoa học tại Trường Đại học Freedom ở

Berlin, một trong những tác hại chính của stress đối với da là kích thích các tuyến nhờn hoạt động mạnh, khiến da trở nên kém mịn màng, nhanh lão hóa và dễ nổi mụn, có khi còn làm xuất hiện các bệnh nguy hiểm khác như chàm bội nhiễm, vảy nến…

Ảnh hưởng đến lưng, cổ: Ngoài tác hại làm hơi thở trở nên gấp gáp, hormone

adrenaline còn khiến cơ bắp dễ căng cứng, mệt mỏi Điều này giải thích tại sao lưng, cổ dễ bị đơ hoặc đau nhức khi tinh thần căng thẳng, suy nhược Các nhà khoa học cho rằng stress không những khiến chúng ta lười vận động mà còn có khuynh hướng nằm, ngồi, đi, đứng…không hợp lý, càng thêm mỏi mệt

Ảnh hưởng đến dạ dày: Khi bị stress, những loại hormone có tác dụng tăng

cường lưu lượng máu đến các cơ trên cơ thể sẽ thuyên giảm rõ rệt, hậu quả là sức vận động cũng như sự co bóp của chúng bị giới hạn hoặc yếu đi, trong đó có dạ dày, dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi và chướng bụng

Ảnh hưởng đến răng miệng: Khi tinh thần suy sụp, căng thẳng, họat động của

hệ miễn dịch trở nên kém hiệu quả, nguy cơ nổi mụn nhiệt (còn gọi là đẹn) ở vòm miệng, nướu, lợi, lưỡi…sẽ rất cao

Trang 14

Ảnh hưởng đến đầu: Stress là một trong những nguyên nhân chính khiến đầu

óc dễ choáng váng, mệt mỏi, kể cả chứng đau đầu kinh niên Nguy cơ này sẽ cao hơn nếu lưng và cổ bị tổn thương trong khi stress hành hạ

Ảnh hưởng đến chất lượng sống: Tác hại cuối cùng, cũng chính là tác hại dai

dẳng nhất của stress là ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần Nếu không có biện pháp chế ngự kịp thời, stress sẽ từng bước làm thui chột khả năng tư duy, trí nhớ, khả năng tự kiểm soát, phán đoán…của người bệnh, đồng thời dễ làm mất đi niềm tin vào cuộc sống, cướp mất nghị lực, ý chí vươn lên

Con người có thể vượt qua stress nếu phát hiện sớm và có biện pháp chế ngự kịp thời Nếu ngày nào con người cũng phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn cộng với áp lực của cuộc sống riêng, stress như là một hệ quả tất yếu và dần dần tàn phá sức khoẻ cũng như con người Stress ảnh hưởng toàn diện, sâu sắc đến từng bộ phận và cuối cùng là toàn bộ cơ thể từ tim, trí nhớ và hệ thống miễn dịch, stress là một trong những nguyên nhân dẫn tới ung thư Những người bị stress thường có biểu hiện biểu hiện năng suất làm việc sút giảm, hay cáu gắt, căng thẳng, làm xấu đi các mối quan hệ cá nhân… Nếu kéo dài dẫn tới tình trạng suy sụp tinh thần và thất bại trong công việc cũng như trong cuộc sống…

Theo Bác sỹ Phạm Mạnh Hùng, Bộ môn Tim mạch, Đại học Y Hà Nội: Trong vòng 30 năm trở lại đây, thông qua hàng loạt nghiên cứu, một nhóm các nhà khoa học đã chứng minh một giả thuyết là hành vi đối phó với stress trong cuộc sống hàng ngày như lối suy nghĩ, cảm giác và hành động của con người có ảnh hưởng sâu sắc tới tình trạng tim mạch của họ

Theo thống kê của Hội American Psychological Association năm 2008 có khoảng 81% dân chúng Mỹ bị stress vì khủng hoảng kinh tế, năm 2007 con số này

là 73% và năm 2006 là 56% Phân nửa trong số 1.791 người trưởng thành tham gia trong cuộc khảo sát mới nhất nói rằng cơn stress của họ gia tăng trong vài năm gần đây, 60% trong số họ nói rằng họ dễ bị nổi giận và hơn phân nửa họ nằm thao thức vào ban đêm bởi vì stress

Tổ chức Norwich Union Healthcare tiến hành cuộc khảo sát trên 200 bác sỹ, 200 lãnh đạo doanh nghiệp và 1000 nhân viên, trong đó phân nửa số người được hỏi

Trang 15

thừa nhận bị căng thẳng trong khi có khoảng 20% số người nói họ bị trầm cảm, 97% giới chủ doanh nghiệp nói tình trạng sức khoẻ nhân viên ảnh hưởng tới hiệu suất công việc.

Stress là sản phẩm mang tính xã hội trong môi trường xã hội hiện đại, nó tác động đến các công ty, các tổ chức và cá nhân người nhân viên trên mọi góc độ và gây ra những ảnh hưởng nhất định Một cuộc khảo sát được Robert Haft International Inc cho thấy các giám đốc điều hành giãi bày rằng họ bị stress Gần một nửa những người được khảo sát (46%) nói rằng thời gian giành cho công việc của họ ngày càng tăng hơn so với năm năm về trước 77% nhà kinh doanh cho biết trung bình cứ một nhân viên của họ phải làm việc trong trạng thái quá tải ít nhất 1 lần 1 tuần Chỉ 1/10 nói rằng tình trạng căng thẳng trong công việc có tác dụng tích cực

Trong khi đó, Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa bệnh Mỹ tính toán rằng có tới 60% đến 70% bệnh tật và sự ốm yếu có liên quan đến stress 75% đến 90% bệnh nhân đến gặp bác sỹ điều trị đang ở trong những trạng thái stress khác nhau Theo một nghiên cứu mới đây trên tạp chí của Hiệp hội thuốc Phụ nữ Mỹ (American Medical Women’s Association), có tới 60% số phụ nữ được khảo sát dã nói rằng sự căng thẳng trong công việc đang là vấn đề nghiêm trọng nhất trong cuộc sống của

họ Áp lực công việc cũng được nhắc đến nhiều nhất trong số những lời phàn nàn vì sao sức khoẻ giảm sút của những người được Viện nghiên cứu quốc gia về sức khoẻ

và an toàn nghề nghiệp Mỹ khảo sát

Stress có mối liên hệ sâu sắc đối với cả sức khỏe và thành quả công việc của mỗi

cá nhân Đối với sức khỏe, mối quan hệ giữa stress và bệnh tật khác đã được khoa học chứng minh Bệnh tim, chán nản, lo lắng, hạ thấp lòng tự trọng, giảm kết quả công việc, ức chế là những ví dụ trong một danh sách dài các kết quả tiêu cực của stress

Chi phí phát sinh do stress là khá cao khi tính bằng tiền và nó còn mang tính kinh tế xã hội Theo Quỹ trái tim của nước Anh, chứng nghẽn động mạch vành thường bắt nguồn từ stress, trị giá khoảng 200 bảng Anh mối người mỗi năm tại vương quốc Anh (Macduhghill 1991) Tại nước Mỹ, Na Uy, Hà Lan và Thụy Điển

đã coi stress là vấn đề chính và phương pháp quản lý stress hiệu quả đã phát triển

Trang 16

nhanh chóng (Sommerville và Langford 1994) Theo tổ chức sức khoẻ toàn Vương quốc Anh (2006), 10,5 triệu ngày công bị mất do bệnh tật liên quan đến Stress tại Vương quốc Anh mỗi năm Điều này có nghĩa là đối với mỗi cá nhân, trung bình 30,1 ngày công bị mất do stress Chi phí liên quan đến Stress trong công việc cho người lao động khoảng 381 triệu bảng Anh

Tuy vậy, stress không nhất thiết là có hại Như Selye (1976) đã nói, “Không có stress, không có cuộc sống” Sự thúc đẩy của stress là yếu tố cần thiết đối với mọi thành công, và nó là người bạn đồng hành góp phần tạo thành động cơ thúc đẩy Stress có lợi được hiểu là mức độ stress diễn ra trong khả năng kiểm soát được

và trong thời gian hợp lý, giúp bạn huy động năng lực giải quyết công việc tốt, hiệu quả, cảm xúc tích cực Hãy lấy các vận động viên điền kinh hay thể dục thể thao làm ví dụ, họ đã sử dụng stress như là một công cụ đánh thức khả năng tiềm ẩn trong con người để giành chiến thắng tại những cuộc đua tài lớn Và nếu như bạn không phải chịu một áp lực nào trong công việc và cuộc sống, chắc chắn bạn sẽ không tận dụng hết nguồn năng lượng và huy động mọi khả năng để hoàn thành một công việc nào đó với kết quả tốt nhất Và khi không có stress, cuộc sống của bạn sẽ trở nên buồn tẻ và tâm trạng của bạn cũng sẽ ở trong trạng thái thất vọng nào đó.Nói chung phản ứng của cơ thể trước tác động của stress trong giai đoạn báo động và giai đoạn kháng cự đều là phản ứng huy động sức đề kháng và khả năng thích nghi của cơ thể Vì vậy trong những giai đoạn này sức đề kháng và khả năng thích nghi của cơ thể được tăng cao, chính ảnh hưởng của stress làm cho nhân cách

có những phản ứng theo chiều hướng đáp ứng thích nghi tốt hơn, nghĩa là nhân cách ngày càng hoàn thiện hơn Và thông qua những trải nghiệm có được khi vượt qua stress con người có khả năng thích nghi tốt hơn với những thay đổi của cuộc sống

và mạnh mẽ hơn

Tuy nhiên, Hans Selye đã nói trong The stress of life (1956): stress là chất muối làm cho cuộc đời thêm thi vị, thiếu nó không có cuộc sống Cuộc sống không có stress sẽ chẳng có thách thức gì, chẳng có trở ngại nào phải vượt qua, chẳng có địa hạt nào mới để chiếm lĩnh, chẳng có gì để trau dồi trí tuệ và nâng cao năng lực Nhưng điều tai hại gây chết người là trong nhiều tình huống, nó buộc ta dùng quá mặn

Trang 17

2 Đặc điểm nghề Quản lý dự án xây dựng

2.1 Khái niệm Quản lý dự án xây dựng

Quản lý dự án là việc áp dụng những kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án để đạt được hoặc vượt qua các yêu cầu và mong muốn của các bên tham gia dự án, bao gồm sự cạnh tranh cân đối giữa các nhu cầu: Quy

mô, thời gian, chi phí và chất lượng; Các bên tham gia có những yêu cầu và mong muốn khác nhau; Các đòi hỏi đã được xác định và những đòi hỏi chưa được xác định (Cẩm nang kiến thức cơ bản về Quản lý dự án, 2002)

Theo Viện Quản trị dự án Hoa Kỳ xác định “quản lý dự án là vận dụng kiến thức, kỹ năng, sử dụng các công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động dự án để đáp ứng các yêu cầu đặt ra của dự án” Các yêu cầu của một dự án xây dựng là kiểm soát và quản lý được quy mô, tiến độ, chi phí và chất lượng công trình xây dựng và phải đảm bảo tuân thủ đúng trình tự xây dựng cơ bản theo các quy định hiện hành

Quản lý dự án là một quá trình phức tạp, không có sự lặp lại Trong khoảng một thập niên trở lại đây, cùng với xu hướng hội nhập khu vực hoá, toàn cầu trong moi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tư xây dựng Công tác quản lý dự án xây dựng là một nghề đòi hỏi tính tổng hợp và chuyên nghiệp

2.2 Vị trí của người làm Quản lý dự án:

Tổ chức mẹ

Tổ Dự án Người thụ hưởng từ Dự án

QLDA

Trang 18

2.3 Kỹ năng và phẩm chất cần phải có của người Quản lý dự án xây dựng

Xuất phát từ tính chất công việc Quản lý dự án đòi hỏi tính tổng hợp và chuyên nghiệp cao, không những đòi hỏi người thực hiện công tác quản lý dự án phải giỏi chuyên môn xây dựng, có kinh nghiệm thi công cũng như làm việc tại văn phòng, đồng thời phải có khả năng quản lý và giải quyết vấn đề một cách nhanh nhạy trong mọi trường hợp Do đó người thực hiện công tác quản lý dự án phải có các kỹ năng:

kỹ năng kỹ thuật, quản lý thời gian và lập tiến độ, lãnh đạo, lập kế hoạch ngân sách,

kỹ năng tiếp thị và ký hợp đồng với khách hàng, kỹ năng truyền đạt, kỹ năng thương lượng, kỹ năng quan hệ con người và quản lý nguồn lực

Kỹ năng kỹ thuật giúp nhà quản lý dự án giải quyết các vấn đề liên quan đến tính chất kỹ thuật của công việc chuyên môn xây dựng Do ngành công nghiệp xây dựng là một ngành có tính đặc thù cao, nên kỹ năng này là đặc biệt cần thiết do có rất nhiều vấn đề liên quan đến kỹ thuật xảy ra trong quá trình thực hiện dự án, và trong những trường hợp đó nhà quản lý dự án phải tự mình ra quyết định cũng như chịu trách nhiệm về quyết định đó Đồng thời kỹ năng này giúp nhà quản lý dự án

sử dụng các máy móc hiện đại, sử dụng các ứng dụng mới nhất để giải quyết công việc hiệu quả và mau lẹ hơn Nên chỉ khi có kiến thức kỹ thuật và chuyên môn vững vàng thì nhà quản lý dự án mới có thể làm tốt được công việc của mình

Công việc quản lý dự án là một công việc phức tạp và khối lượng công việc rất lớn, vì vậy nhà quản lý dự án cần phải biết quản lý thời gian và lập tiến độ Đây là một kỹ năng bắt buộc đối với nhà quản lý dự án Với khối lượng công việc khổng lồ nếu nhà quản lý không có khả năng sắp xếp một cách hợp lý, lên lịch làm việc thường xuyên và rõ ràng thì việc hoàn thành công việc đúng hạn và đảm bảo tiến độ

dự án rất khó khăn Không chỉ lên kế hoạch cho mình, lập tiến độ là một phần công việc quan trọng của nhà quản lý dự án Nhà quản lý dự án cần phải thông thạo các phương pháp và cách thức lập tiến độ và kiểm soát tiến độ của dự án, một trong ba điều kiện chủ yếu thông thường để đánh giá thành công của một dự án chính là thời gian, do vậy chỉ khi nào nhà quản lý có thể quản lý được thời gian, lập và kiểm soát tiến độ thì dự án mới có khả năng thành công

Ngoài ra nhà quản lý dự án cần có những kỹ năng cũng không kém phần quan trọng như lãnh đạo, lập kế hoạch ngân sách… Tất cả những kỹ năng này sẽ hỗ trợ

Trang 19

nhà quản lý dự án trong từng phần việc chuyên môn cũng như trong việc giao tiếp

và điều phối mối quan hệ giữa các bên tham gia dự án Nhà quản lý dự án cần phải

có kỹ năng lãnh đạo vì trong một đội dự án, có một số người được bố trí làm trợ lý cho nhà quản lý dự án, vì vậy nếu Nhà quản lý dự án có kỹ năng lãnh đạo tốt, có khả năng nhìn nhận con người và giao việc đúng người thì công việc sẽ trôi chảy hơn rất nhiều Trong một dự án nhà quản lý dự án phải quản lý cả về mặt ngân sách, nhà quản lý dự án cần phải giúp chủ đầu tư lập kế hoạch ngân sách cũng như kiểm soát nguồn ngân sách cho dự án: lập tiến trình thanh toán, chứng nhận thanh toán, kiểm soát quá trình thanh toán…

Đồng thời nhà quản lý dự án cũng phải có nhiều phẩm chất: thật thà và chính trực, khả năng ra quyết định, hiểu biết các vấn đề về con người, linh hoạt, đa năng,

và đặc biệt khả năng giải quyết vấn đề nhanh nhạy…

2.4 Vai trò và nhiệm vụ của người làm Quản lý dự án xây dựng

Quản lý dự án là công việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án để đạt được những mục tiêu đề ra Do tính phức tạp, đòi hỏi khắt khe và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của dự án xây dựng, người quản lý

dự án được giao nhiệm vụ điều hành dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc

Một dự án đầu tư xây dựng thông thường có ba giai đoạn: giai đoạn trước xây dựng, giai đoạn xây dựng và giai đoạn hoàn thành Trong cả ba giai đoạn này Nhà quản lý dự án đều đóng vai trò mấu chốt trong việc tổ chức thực hiện dự án và trong mỗi giai đoạn nhà quản lý dự án lại có nhiệm vụ khác nhau phụ thuộc những yêu cầu đặt ra của dự án

Nhiệm vụ của Nhà quản lý dự án trong giai đoạn trước xây dựng:

- Xác định chắc chắn khả năng của dự án về tài chính, công nghệ và thời gian

- Chuẩn bị chương trình tổng thể và chi tiết cho giai đoạn thiết kế và thi công xây dựng

- Đệ trình và được chủ đầu tư phê duyệt thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng

- Đảm bảo rằng chất lượng, việc kiểm soát, giám sát chất lượng và yêu cầu kiểm tra là rõ ràng và thống nhất với chủ đầu tư

Trang 20

- Lựa chọn tư vấn, nhà thầu, thầu phụ; và

- Phát triển nhóm dự án

Nhiệm vụ của Nhà quản lý dự án trong giai đoạn xây dựng:

- Kiểm tra, giám sát quá trình thi công;

- Tổ chức các cuộc họp thường kỳ với thiết kế, thầu chính, thầu phụ, tư vấn và nhà cung cấp

- Kết hợp nhiều loại đầu vào: vật liệu, thiết bị và lao động

- Đảm bảo an ninh và an toàn công trường;

- Đảm bảo dự án thân thiện với môi trường;

- Đảm bảo chất lượng công việc;

- Kiểm tra, giám sát và đo lường chi phí dự án và những biến động khác

- Giữ cho nhóm dự án hoạt động năng động và hiệu quả

Nhiệm vụ của Nhà quản lý dự án trong giai đoạn hoàn thành:

- Đảm bảo số tiền giữ lại đúng với điều khoản hợp đồng

- Đảm bảo những khiếu nại được giải quyết

- Triển khai chương trình bảo trì

- Lên kế hoạch quản lý công trình

- Phản hồi lại cho Chủ đầu tư

Nhà quản lý dự án là người chịu trách nhiệm về Quản lý dự án, phải đảm đương các công việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát, quản lý các mối quan hệ giữa người và người trong các tổ chức của dự án Nhà quản lý dự án phải duy trì sự cân bằng giữa chức năng: quản lý dự án và kỹ thuật của dự án, đương đầu với các rủi ro trong quá trình quản lý dự án, tồn tại với các điều kiện ràng buộc của dự án về thời gian, chi phí, chất lượng công trình

Vai trò của người quản lý dự án bao gồm: phân tích dữ liệu từ thiết kế, nhà thầu phụ và nhà cung cấp; thiết kế phương án xây dựng tốt nhất; lên kế hoạch dự án; dự báo khó khăn có thể xảy ra, giám sát tình trạng tài chính của công ty xây dựng; sắp

Trang 21

xếp nguồn nhân lực và điều động nhân sự; đôn đốc các bên tham gia; đảm bảo hiệu quả sử dụng chi phí; kiểm soát quá trình thi công thông qua thiết kế, sản phẩm xây dựng và các giai đoạn hoạt động; cung cấp những sản phẩm xây dựng đúng với thiết kế; và thỏa mãn những yêu cầu của các bên liên quan về chất lượng, thời hạn hoàn thành và chi phí (Leung và một số tác giả, 2009).

Nhà quản lý dự án thường được xem là nhân tố mấu chốt đối với sự thành công của một dự án xây dựng Vai trò của nhà quản lý dự án không chỉ bao gồm lên kế hoạch, tổ chức và giám sát tổ dự án và tiến trình thi công dự án, mà còn đối mặt với

áp lực về thời hạn hoàn thành, sự không chắc chắn tiềm ẩn và kết cấu xã hội dễ thay đổi Thêm vào đó áp lực công việc nặng nề thường xuyên mà nhà quản lý phải chịu trong suốt dự án, từ giai đoạn trước xây dựng đến khi kết thúc dự án (Leung, Chan

& Olomolaiye, 2008)

Dự án là một quá trình duy nhất, phức tạp, không có sự lặp lại Công việc quản

lý dự án đòi hỏi phải có phẩm chất: trung thực, giải quyết vấn đề linh hoạt, nhạy bén…, có kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực: kỹ thuật, quản lý, con người… và

sự cập nhật liên tục các kiến thức mới đa dạng Đồng thời mỗi dự án lại có một địa điểm khác nhau, không gian và thời gian dự án khác nhau, thậm chí trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý tưởng từ chủ đầu tư Từ đó nhà quản

lý dự án luôn luôn phải đảm nhận khối lượng công việc lớn, phải có khả năng thích nghi với điều kiện làm việc khác nhau cũng như điều phối các mối quan hệ chứa đựng nhiều mâu thuẫn giữa các bên liên quan trong dự án

3 Stress trong xây dựng nói chung và nghề Quản lý dự án nói riêng

Stress trong ngành xây dựng mới được nghiên cứu trong những năm cuối thế kỷ

20 Kết quả cho thấy rằng mức độ stress trong ngành xây dựng được khẳng định

cao hơn so với các ngành công nghiệp khác (Sommerville và Langford 1994).

Công việc xây dựng là một nghề có nhiều nguy hiểm, thêm vào đó những nhân

tố gây stress có tính chất nghề nghiệp làm tăng thêm mức độ nguy hiểm tăng thêm rủi ro của công nhân đối với thương vong (Linda M.Goldenhar, 2003))

Theo một nghiên cứu của tổ chức CIOB (Hiệp hội xây dựng Vương quốc Anh, 2006), 84% người làm nghề xây dựng được hỏi cảm thấy rằng stress trong xây dựng

Trang 22

là một trong những yếu tố làm giảm trí nhớ Khảo sát 847 người tham dự trong đó

có 578 khẳng định trải qua stress, lo lắng hoặc chán nản, và 154 người phải đi khám bác sỹ

Điều đó cho thấy rằng 26,6% những người từng trải qua căng thẳng, lo lắng hoặc chán nản tìm đến lời khuyên của bác sỹ Phân tích sâu hơn cho thấy rằng những người đã trải qua chán nản tìm đến sự giúp đỡ của thuốc 28,6% trong số người trải qua chán nản so với 24,8% trong số đó trải qua stress và 17,3% trải qua

lo lắng

Báo cáo cho thấy rằng những người được phỏng vấn 68,2% chịu đựng stress, lo lắng và chán nản như là một kết quả trực tiếp của công việc trong ngành công nghiệp xây dựng Cụ thể hơn 61,9% người được hỏi trải qua stress, 48,4% trải qua

lo lắng và 18,5% trải qua chán nản Báo cáo cũng cho thấy rằng chỉ có 6% trong số

họ trải qua stress nghề nghiệp đã nghỉ làm do stress Và 3/4 trong số đó đã vắng mặt trong 1 tuần hoặc ít hơn

Hơn một nửa (58,2%) thấy rằng trong ngành công nghiệp hiện nay mức độ stress cao hơn 5 năm về trước Nhân tố chính được dẫn ra như là nguyên nhân của

stress là “công việc quá tải” – 64,1%, tiếp theo là thời hạn hoàn thành kỳ vọng –59,7% và áp lực công việc – 59,9%

Stress ảnh hưởng tới hành vi của dự toán viên, thành quả công việc và khả năng trúng thầu của hồ sơ dự thầu (Leung, 2005) Leung đã tìm ra rằng stress

làm xấu đi mối quan hệ cá nhân và thành quả công việc của dự toán viên

Kết quả cho thấy khoảng 1/3 trong số chỉ huy trưởng công trường được hỏi cảm thấy họ phải chịu đựng mức độ stress vừa phải và số còn lại thì trả lời họ cảm thấy stress ở mức độ nhẹ (Djebarni, 1996)

Dự án xây dựng có rất nhiều bên liên quan (ví dụ: thiết kế kiến trúc, thiết kế kết cấu, nhà thầu, cung cấp…) hoàn thành một khối lượng công việc lớn, được lập kế hoạch trước trong một quá trình phức tạp trong một khoảng thời gian nhất định…(Leung 2009) Sự không chắc chắn và không ổn định trong các yếu tố của dự án: nguồn nhân lực, vật liệu, tình trạng tài chính, điều kiện công trường, thời tiết và nhiều yếu tố khác Có quá nhiều nguồn lực cần huy động và tiến độ gấp gáp có ảnh

Trang 23

hưởng nhất định đến lợi nhuận của các công ty xây dựng, như phát sinh chi phí, thời hạn hoàn thành dự án bắt buộc phát sinh chi phí xây dựng cao hơn (Leung 2009).

Và đó chính là những nguyên nhân gây ra stress đối với người làm công tác quản lý

dự án, là người đi từ thời điểm bắt đầu đến kết thúc của một dự án

Trong công việc và cuộc sống của nhà quản lý dự án, “những tình huống căng thẳng, đe dọa và đòi hỏi có thể dẫn tới một số kết quả không mong đợi bao gồm lo

lắng cao độ và giảm sút kết quả công việc” Stress không chỉ ảnh hưởng tới tâm

lý cá nhân, nó còn ảnh hưởng tới thành công của dự án xây dựng, mối quan hệ

giữa các cá nhân trong cùng một tổ dự án và cuối cùng là mối quan hệ trong tổ chức” (Leung, 2003)

Quản lý xây dựng không chỉ yêu cầu công nghệ đổi mới và phân tích đầu vào từ

nhà quản lý xây dựng, còn liên quan tới việc sử dụng óc phán đoán khách quan Đòi

hỏi về áp lực thời gian cùng với tiến trình xã hội năng động trong một dự án gây ra rất nhiều stress đối với nhà quản lý dự án (Leung, 2006-2007).

Nhà quản lý dự án làm việc trong điều kiện không chắc chắn và rủi ro cao, và điều này có góp phần gây ra mức độ stress quá mức phải trải qua (Natasha S.Haynes, Peter E.D Love, 2004) Mỗi dự án là một nỗ lực của con người, nó là sự kết hợp của mục đích và mục tiêu của rất nhiều bên liên quan Nhà quản lý dự án phải hoàn thành một dự án hoặc một công việc cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định Luôn bị giới hạn bởi thời gian và phạm vi nhất định, sử dụng rất nhiều nguồn lực và chịu tác động của rất nhiều những biến đổi và không chắc chắn (Turner 1993)

Mọi quyết định độc lập của nhà quản lý dự án ảnh hưởng trực tiếp lên thời gian, chi phí, chất lượng và thành công sau cùng của một dự án, việc nhà quản lý dự án phải chịu stress rất lớn trong công việc thường xuyên xảy ra Việc ra quyết định độc lập trong hoàn cảnh căng thẳng quá mức thường là cứng nhắc, đơn giản và không sâu sắc

Công việc của nhà quản lý dự án thường có cường độ cao, do áp lực về thời gian, điều kiện không chắc chắn, áp lực về thời gian, cấu trúc xã hội năng động liên quan tới dự án xây dựng (Leung 2009) Kết quả một số nghiên cứu cho thấy stress

Trang 24

làm giảm thành quả công việc của nhà quản lý dự án Vậy đâu là nguyên nhân gây

ra stress đối với nhà quản lý dự án tại Việt Nam và giải pháp cho vấn đề này như thế nào?

4 Quy trình nghiên cứu

4.1 Sơ đồ nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được tóm tắt trong sơ đồ sau đây:

Thu thập dữ liệu

 Thiết kế bảng câu hỏi

 Đối tượng trả lời bảng câu hỏi: những người

có kinh nghiệm quản lý dự án thuộc các tổ chức hoạt động xây dựng tại các thành phố lớn.

 Phương thức: gửi mail, trực tiếp, fax.

Trang 25

4.2 Xác định vấn đề nghiên cứu và thu thập tài liệu nghiên cứu

Thông qua quá trình nghiên cứu, đọc và thu thập tài liệu nghiên cứu, người ta phát hiện hoặc nhận ra các vấn đề và đặt nhiều câu hỏi cần nghiên cứu để phát triển rộng hơn để nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu có thể được hình thành thông qua những thông tin bức xúc, lời nói phàn nàn nghe được từ cuộc nói chuyện của những người xung quanh mà chưa giải quyết được vấn đề đó

Sau khi phát hiện ra vấn đề nghiên cứu và quyết định thực hiện nghiên cứu đó Thì xác định rõ ràng mục tiêu nghiên cứu là vô cùng quan trọng, nó sẽ quyết định

sự thành công hay thất bại của đề tại Mục tiêu nghiên cứu là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đặt ra trong nghiên cứu Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được Mục tiêu chính là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phải đạt được

Từ mục tiêu nghiên cứu đã được xác định rõ ràng, tiến hành xác định thông tin

để phục vụ làm sáng tỏ các vấn đề trong nghiên cứu thực hiện Với khối lượng thông tin đã xác định cần phải tìm kiếm, người thực hiện nghiên cứu lên kế hoạch tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu phục vụ đề tài Cụ thể phải xác định được các loại tài liệu cần thu thập và nguồn cung cấp tài liệu

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định những thông tin cần thiết phục vụ nghiên cứu

Lập kế hoạch tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu phục vụ

nghiên cứu

Xác định các nguồn thu thập

tài liệu.

Trang 26

Nguồn lại liệu sử dụng có thể chia làm hai loại: tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp Tài liệu sơ cấp là tài liệu mà người nghiên cứu tự thu thập, phỏng vấn trực tiếp hoặc nguồn tài liệu cơ bản, còn ít hoặc chưa được chú giải.

Tài liệu thứ cấp này có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã được phân tích,, giải thích

và thảo luận, diễn giải Các nguồn tài liệu thứ cấp như: sách giáo khoa, báo chí, bài báo, tập san chuyên đề, tạp chí, biên bản hội nghị, báo cáo khoa học, internet, sách tham khảo, luận văn, luận án, thông tin thống kê, hình ảnh, video, băng cassêtt, tài liệu – văn thư, bản thảo viết tay…

Tài liệu thu thập để làm nghiên cứu có thể tìm thấy từ các nguồn sau:

- Luận cứ khoa học, định lý, quy luật, khái niệm… có thể thu thập được từ sách giáo khoa, tài liệu chuyên ngành, sách tham khảo…

- Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học…

- Số liệu thống kê được thu thập từ các Niên giám thống kê: Chi cục thống kê, Tổng cục thống kê…

- Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách… thu thập từ các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

- Thông tin trên truyền hình, tuyền thanh, báo chí, internet

Trang 27

Chương 3: CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG VÀ CÁC NHÂN TỐ GÂY STRESS ĐỐI VỚI NGƯỜI THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ

ÁN XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM

Quản lý dự án là một nghề còn rất trẻ tại Việt Nam Chỉ có một số trường đại học đào tạo chuyên ngành này, hệ thống lý thuyết về chuyên ngành này còn rất mới

mẻ và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực này còn chưa hoàn chỉnh.Tuy có ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, song số lượng dự án đã và đang được triển khai tại Việt Nam là rất lớn Nhu cầu nhân lực nghề này ngày một tăng với yêu cầu cả về số lượng và chất lượng Cũng như những nơi khác trên thế giới, quản lý

dự án tại Việt Nam là công việc căng thẳng và chứa đựng nhiều nhân tố gây stress Nên việc tìm ra nguyên nhân gây ra stress đối với nhà quản lý dự án tại Việt Nam là rất cần thiết

1 Công tác quản lý dự án xây dựng tại Việt Nam

1.1 Khái quát về công tác quản lý dự án xây dựng tại Việt Nam

1.1.1 Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình

Theo quy định của Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ V/v Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Dự án đầu tư xây dựng công trình được phân loại như sau:

 Theo quy mô và tính chất:

+ Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư;

+ Dự án nhóm A;

+ Dự án nhóm B;

+ Dự án nhóm C

 Theo nguồn vốn đầu tư:

Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước: Là các dự án sử dụng nguồn vốn

lấy từ ngân sách Nhà nước, Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của quốc gia trong dự toán đã được cơ quan chính phủ có thẩm quyền quyết định và

Trang 28

được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của chính phủ;

Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh là vốn do chủ đầu tư

vay tại các tổ chức tín dụng được các cơ quan Nhà nước (Bộ Tài chính ) hoặc định chế tài chính được chỉ định (do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ) bảo lãnh Có thể lấy ví dụ về bảo lãnh vốn tín dụng đầu tư được quy định tại Nghị định số 151/2006/NĐ-CP Cơ quan bảo lãnh là Ngân hàng Phát triển Việt Nam Ngoài ra hiện tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam đang thực hiện bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn của các Ngân hàng Thương mại theo quy định tại Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg Nguồn vốn được bảo lãnh này cũng được coi là vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh;

Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước: nguồn

vốn lấy từ quý đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;

Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn: dự án sử dụng vốn tư nhân; dự án sử dụng vốn kết hợp tư nhân

và Nhà nước (PPP); dự án sử dụng vốn ODA; dự án sử dụng vốn FDI…

dự án đầu tư xây dựng công trình sau đây:

 Chủ đầu tư xây dựng công trình thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;

 Chủ đầu tư xây dựng công trình trực tiếp quản lý đầu tư xây dựng công trình

Trang 29

1.1.3 Vai trò của người làm công tác quản lý dự án đối với sự thành công và thất bại của các dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam

Dự án được gọi là thành công khi hoàn thành đúng tiến độ nằm trong ngân sách được duyệt phù hợp với các chỉ tiêu kỹ thuật đề ra và làm thỏa mãn các cá nhân, tổ chức liên quan Sự thành công của dự án xây dựng không chỉ rất quan trọng cho các bên tham gia thực hiện dự án mà còn quan trọng cho cộng đồng và đất nước để duy trì tốc độ tăng trưởng (N.D.Long – ĐTXLan, 2002)

Theo một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của một dự án, năm nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự thành công của một dự án tại thành phố Hồ Chí Minh thì tất cả các yếu tố này đều xuất phát từ năng lực, kỹ năng quản

lý cũng như quy trình quản lý dự án của Ban quản lý dự án và khả năng lãnh đạo của Trưởng Ban quản lý dự án (Luận văn thạc sỹ, Thiều Quang Tân, 2005)

Trong giai đoạn chuẩn bị thực hiện dự án, xác định được mục tiêu và quy mô dự

án rõ ràng sẽ giúp các bên tham gia thực hiện dự án xác định được mục tiêu chung của dự án đối với cộng đồng xã hội cũng như mục tiêu của đơn vị của mình từ đó thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện dự án (N.D.Long – ĐTXLan, 2002) Mà công việc này có được thực hiện tốt hay không phụ thuộc chủ yếu vào năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý dự án

Trong năm nguyên nhân được đánh giá có mức độ ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự thất bại của một dự án thì có ba nguyên nhân do năng lực quản lý dự án của Ban quản lý dự án, một nguyên nhân do đơn vị thiết kế, một nguyên nhân do điều kiện kinh tế xã hội (Luận văn thạc sỹ, Thiều Quang Tân, 2005)

Từ đó có thể thấy người thực hiện công tác quản lý dự án là nhân tố quyết định ảnh hưởng tới sự thành công và thất bại của một dự án Theo Leung (2009) nhà quản lý dự án được coi là nhân tố chủ chốt đối với sự thành công của một dự án xây dựng Giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong một dự án xây dựng, nhà quản lý dự án chắc chắn sẽ không tránh khỏi rất nhiều áp lực gây ra bởi sự đòi hỏi cao về thời gian, các mối quan hệ xã hội năng động trong một dự án xây dựng Stress được coi như là một kết quả trực tiếp và tất yếu do đặc điểm của nghề quản lý dự án xây dựng Ngoài ra, hiện nay công tác quản lý dự án xây dựng ở Việt Nam còn gặp rất

Trang 30

nhiều những khó khăn về cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật chồng chéo… tạo nên sự cộng tác dụng gây ra stress đối với người làm quản lý dự án ngày một nặng nề.

Các dự án đầu tư xây dựng thường gồm ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư Người làm quản lý dự án là người đi cùng với dự án trong suốt 3 giai đoạn từ khi bắt đầu đến khi kết thúc Dưới đây nghiên cứu sẽ phân tích những khó khăn của công tác quản lý dự án xây dựng tại Việt Nam tại các dự án được phân loại theo nguồn vốn và theo tiến trình của mỗi dự án

1.2 Những khó khăn trong công tác quản lý dự án xây dựng tại Việt Nam

1.2.1 Những khó khăn trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án xây dựng

Việc tiến hành tìm ra và phân tích những bất cập còn tồn tại trọng các dự án đầu

tư tại nước ta hiện nay cũng chính là phân tích những khó khăn gặp phải trong công việc quản lý dự án cũng là những nguyên nhân gây ra stress đối với người làm công tác quản lý dự án tại Việt Nam Người làm công tác quản lý dự án chịu sức ép từ rất nhiều phía: từ cuộc sống hàng ngày, công việc căng thẳng, khối lượng công việc lớn trong khi đó điều kiện làm việc, phương tiện làm việc có thể không đầy đủ, hệ thống pháp luật hướng dẫn về xây dựng còn chưa hoàn chỉnh, hay thay đổi… Do

đó, khó khăn của người làm công tác quản lý dự án tại Việt Nam lại tăng lên gấp bội

Trong hơn 20 năm đổi mới, ngành xây dựng nước ta đã có những bước tiến bộ khá lớn trong kỹ thuật, công nghệ Nhiều cây cầu, đường giao thông, nhà máy hiện đại… đã hoàn thành với trí tuệ của đội ngũ kỹ sư, công nhân Việt Nam Đó là điều đáng tự hào, song trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư, chúng ta lại chưa có những bứt phá cần thiết

1.2.1.1 Lý luận về đầu tư: chưa thống nhất

Thực tế trong công tác quản lý dự án cho thấy để xây dựng được phương án đầu

tư, đảm bảo được các nội dung nêu trên là cả một con đường dài gập ghềnh mà người quản lý dự án luôn phải theo sát Từ khâu chuẩn bị hồ sơ, xin phép đầu tư, giấy tờ về đất, lựa chọn các nhà thầu tư vấn thiết kế, khảo sát địa chất, đánh giá ảnh

Trang 31

hưởng của dự án tới môi trường… Trong giai đoạn này khó khăn chủ yếu về mặt lý luận, các cơ chế chính sách pháp luật…

Công tác quản lý dự án đầu tư ở nước ta hiện nay, vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa thống nhất về mặt lý luận (Luật gia Vũ Xuân Tiền 2009) Câu hỏi trước hết cần giải đáp là: Thế nào là một dự án đầu tư? Vấn đề tưởng chừng đơn giản nhưng lại không dễ có được ý kiến đồng thuận Luật Đầu tư năm 2005 đưa ra khái niệm:

“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” Khái niệm nêu trên đã rơi vào vòng luẩn quẩn, bởi lẽ chúng ta đã lấy cái chưa rõ để định danh cho một cái chưa rõ

Một vấn đề không kém phần quan trọng được đề cập đến ngay trong khái niệm

về đầu tư của Luật Đầu tư là: Thế nào là nhà đầu tư? Luật Đầu tư 2005 ghi nhận:

“Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam” Một ý kiến khác: “Nhà đầu tư là những thể nhân hoặc pháp nhân thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật, khái niệm này lại không rõ ràng vì để hiểu được khái niệm đó lại cần trả lời câu hỏi: Thế nào là hoạt động đầu tư? Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng toàn diện, không thể chỉ giới hạn trong khuôn khổ “theo quy định của pháp luật Việt Nam” Nếu theo khái niệm trên, phải chăng việc các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư không phải là nhà đầu tư?

Và câu hỏi tiếp theo được đặt ra: thế nào là hoạt động đầu tư? Luật Đầu tư quy định: “Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư” Trong quá trình thực hiện một dự án đầu tư, chủ đầu tư có rất nhiều việc phải làm, tất cả những công việc

đó là hoạt động đầu tư Vì vậy, sẽ khó có thể liệt kê hết những việc phải làm của chủ đầu tư để coi đó là hoạt động đầu tư Vì vậy, có thể cho rằng, hoạt động đầu tư chính là việc đầu tư Không cần thiết và không thể đưa ra một khái niệm về hoạt động đầu tư

Những vấn đề đã trình bày trên cho thấy, trong công tác quản lý đầu tư ở nước

ta hiện nay, vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa thống nhất về mặt lý luận Có ý kiến cho rằng, chúng ta không nên câu nệ quá mức về những vấn đề khái niệm, câu chữ Ý

Trang 32

kiến đó có thể đúng trong một bối cảnh cụ thể nào đó Song, không thể từ đó để bỏ qua những vấn đề về lý luận cơ bản, có ý nghĩa chi phối toàn bộ việc hoạch định các

cơ chế, chính sách trong quản lý Sẽ khó có một cơ chế, chính sách nào trong quản

lý có hiệu quả tích cực khi chúng ta chưa xác định rõ đối tượng cần quản lý là gì Công việc của nhà quản lý dự án gắn liền với việc vận dụng các quy định của pháp luật về xây dựng Với khó khăn nêu trên - sự thiếu thống nhất về mặt lý luận, không rõ ràng khiến cho người làm công tác quản lý dự án lúng túng, không biết nên vận dụng như thế nào để không trái với luật quy định Đây chính là một điểm nêu lên rất rõ rằng hệ thống luật pháp về đầu tư, xây dựng của chúng ta chưa hoàn chỉnh

1.2.1.2 Khó khăn trong việc xin đất dự án

Việc xin đất và xác định vị trí đặt dự án là một yếu tố mang tính quyết định đối với thành công của một dự án Khó khăn trong việc tìm đất cho dự án đầu tư tưởng chừng như là không có Bởi lẽ, chúng ta còn rất nhiều đất hoang, diện tích đất chưa khai phá hoặc sử dụng Chính sách của Đảng và Nhà nước rất ưu tiên, ưu đãi cho các dự án đầu tư nhằm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hướng tới mục tiêu CNH, HĐH Ví dụ như các tỉnh Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Cao Bằng, Bắc Kạn thì sẽ được rất nhiều chính sách ưu ái và ủng hộ từ chính quyền địa phương

Nhưng có một vấn đề đặt ra là tại những nơi đó tìm đâu ra lao động đủ trình độ chuyên môn để vận hành dự án? Một chủ đầu tư đã khởi sự dự án tại Hà Giang đã không tuyển nổi một nhân viên kế toán đáp ứng yêu cầu Hơn nữa, đưa dự án lênvùng sâu, vùng xa thì chi phí vận chuyển nguyên, vật liệu và thành phẩm tiêu thụ sẽ đội lên đến mức không thể kiểm soát được Hiệu quả kinh tế thực tế chưa biết là như thế nào, với chừng ấy khó khăn đã khiến các nhà đầu tư phải chùn bước

Sự lựa chọn thứ hai cho các doanh nghiệp là các KCN, cụm công nghiệp Tuy nhiên vướng mắc đầu tiên là giá thuê đất quá cao Cái giá 5 - 25 USD/m2/năm là quá sức với một dự án đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hơn thế, khá nhiều KCN, cụm công nghiệp lại đòi hỏi phải thanh toán ngay toàn bộ tiền thuê đất Một

dự án đầu tư ít nhất cũng phải có thời gian vận hành khoảng 20 năm, phổ biến là 30

Trang 33

- 40 năm Nếu diện tích cần thuê chỉ là 1ha thôi thì tiền thuê đất trả ngay một lần cho 20 năm cũng là không nhỏ Do đó, không ít nhà đầu tư, dù rất muốn đầu tư vào KCN, cụm công nghiệp nhưng cũng đành bỏ cuộc.

Còn một sự lựa chọn nữa, đó là các nhà đầu tư phải đi khảo sát, thấy khu đất nào phù hợp thì làm văn bản xin thuê Đây là một công việc đòi hỏi sự nhanh nhạy, kiên trì và quan trọng nhất là phải mạnh về tài chính… Tại Việt Nam thì đây là con đường gian nan nhất vì nó đòi hỏi nhà đầu tư phải có thế mạnh về tài chính, kinh tế

và cả chính trị… Nếu không thì kết quả thành công gần như là không thể Bởi vì nếu có xin được thuê đất, nhà đầu tư phải tự tiến hành đền bù, giải phóng mặt bằng với rất nhiều thủ tục nhiêu khê, chính sách rườm rà, cùng với sự chống đối của người dân Có rất nhiều dự án bị đình trệ rất lâu do sự khó khăn trong việc giải toả mặt bằng

Và khó khăn tiếp theo là hành trình của thủ tục hành chính Mặc dù Nhà nước ta

đã có rất nhiều văn bản nhằm cải cách thủ tục hành chính nói chung, trong đó có thủ tục về đầu tư, song các thủ tục hành chính về đầu tư lại đang trong tình trạng trăm hoa đua nở (Luật gia Vũ Xuân Tiền, 2009) Các nhà đầu tư hết sức lúng túng khi gặp phải yêu cầu trái ngược nhau Theo quy định, các dự án đầu tư, tùy theo quy

mô, phải được đăng ký đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư Để được đăng ký đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư phải có văn bản chấp thuận về địa điểm đầu tư Song, để

có văn bản chấp thuận về địa điểm đầu tư và diện tích đất đai cần sử dụng lại phải

có văn bản về đăng ký đầu tư hoặc giấy phép đầu tư

Cho đến nay, những vấn đề khó khăn và bế tắc này vẫn chưa được giải quyết

Và nguyên nhân cơ bản là sự thiếu minh bạch trong quản lý đất đai, sự thiếu công tâm của cán bộ, công chức trong bộ máy công quyền

1.2.1.3 Khó khăn trong tìm kiếm vùng nguyên liệu

Yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất là điều kiện rất quan trọng để nhà máy của dự án hoạt động và tồn tại Vì vậy, trong dự án đầu tư trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, thuyết minh chi tiết về yếu tố đầu vào luôn luôn là đòi hỏi nghiêm túc để đánh giá tính khả thi của dự án Đòi hỏi đó là hoàn toàn hợp lý Nếu nguyên liệu đầu vào là nguồn nhập khẩu, chủ đầu tư phải chỉ rõ mua ở đâu, với giá nào và

Trang 34

kèm theo những văn bản có giá trị pháp lý như hợp đồng nguyên tắc, thỏa thuận mua, bán Những đòi hỏi đó là rất khó khăn nhưng còn có thể giải quyết được vì quan hệ ngoại thương của nước ta đã phát triển khá mạnh.

Thách thức lớn nhất của những dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất là nguồn nguyên liệu lại ở trong nước Điều đó có vẻ là một nghịch lý nhưng lại đang

là một thực tế Trước hết, nếu nguyên liệu đầu vào là khai thác từ rừng tự nhiên như

gỗ, tre, nứa, lá chủ đầu tư phải xin được giấy phép khai thác rừng Nếu là đá, cát, sỏi được khai thác từ núi đá đang rất nhiều ở khắp các tỉnh miền núi nước ta, chủ đầu tư phải có được giấy phép khai thác tài nguyên Nếu là quặng, chủ đầu tư phải

có quyền khai thác mỏ ở một địa điểm cụ thể Tài nguyên thiên nhiên là sở hữu toàn dân Nhưng không phải toàn dân cấp phép mà trong cơ chế quản lý nhà nước, tất yếu phải có những người đại diện cho nhân dân được quyền cấp phép Do đó, có được những giấy phép nói trên để đính kèm, chứng minh cho tính khả thi của dự án đầu tư là không hề dễ dàng

Với những dự án đầu tư mà nguyên liệu đầu vào là sản phẩm chăn nuôi, trồng trọt, gắn liền với sản xuất nông nghiệp, với nông dân thì khó khăn còn lớn hơn nhiều Chủ đầu tư phải có tư liệu để chứng minh rằng, nhà máy đặt ở vùng đó có vùng nguyên liệu đủ cung cấp cho nhà máy hoạt động hết công suất Và, không chỉ

có vậy, trong hồ sơ dự án, phải có nhiều, rất nhiều những hợp đồng nguyên tắc hoặc biên bản thỏa thuận về việc thu mua nguyên liệu ký với từng hộ nông dân có xác nhận của chính quyền địa phương Yêu cầu đó tưởng chừng đơn giản nhưng đề vượt qua được lại là vấn đề hết sức khó khăn đối với chủ đầu tư Ví dụ, một chủ đầu tư triển khai dự án xây dựng nhà máy chế biến thực phẩm xuất khẩu Nguyên liệu đầu vào là dưa chuột non Theo công suất của nhà máy, mỗi năm cần thu mua khoảng

500 nghìn tấn sản phẩm này Nhà máy đặt tại vùng có truyền thống trồng dưa và theo điều tra, thống kê của địa phương, khả năng sản xuất hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu cầu nêu trên Nhưng chủ nhân của nguồn nguyên liệu này là các nông dân, quy mô sản xuất của từng hộ là rất nhỏ, nên chủ đầu tư phải ký hợp đồng thu mua với từng hộ gia đình, sản lượng thu mua cao nhất là 100 tấn/năm Do vậy, đính kèm

dự án là hàng trăm hợp đồng thu mua nguyên liệu với hàng trăm chữ ký, đóng dấu xác nhận của chính quyền địa phương Để hoàn thành được hàng trăm hợp đồng này

Trang 35

mất rất nhiều công sức, tiền bạc và thời gian Song đến khi dự án hoạt động thì không có gì đảm bảo rằng các hợp đồng này sẽ được thực hiện như đã ký kết.

Với một số nguyên liệu không có sẵn trong thực tiễn, chủ đầu tư phải tạo vùng nguyên liệu thì khó khăn còn lớn hơn rất nhiều Kèm theo dự án phải có phương án tạo vùng nguyên liệu Một trong những biện pháp để tạo vùng là ứng trước một phần vốn cho nông dân, hướng dẫn kỹ thuật và thu mua sản phẩm Nhưng, khi thu hoạch, nếu giá trị trường tăng lên cao hơn giá đã thỏa thuận, những hợp đồng đã ký

dễ dàng bị những người nông dân xé bỏ Và coi như những nỗ lực trước đó hoàn toàn không có tác dụng

Chứng minh về nguồn nguyên liệu với những tư liệu thuyết phục là đòi hỏi cần thiết để đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư Nhưng, đòi hỏi đến quá chi tiết, bắt các chủ đầu tư phải tạo ra những thủ tục chỉ để đối phó và phải tốn công sức, tiền bạc như hiện nay là vô lý Sẽ không có một biện pháp nào khắc phục được khó khăn, thách thức của việc mua nguyên liệu là nông sản hiện nay Bởi lẽ, cả nước có đến chục triệu mảnh ruộng thuộc quyền sử dụng của các hộ gia đình Vì vậy cần nhanh chóng thực hiện một cuộc cải cách trong nông nghiệp và nông thôn, tạo ra những tổ hợp nông - công nghiệp thay thế những mảnh ruộng manh mún hiện nay Khi chưa đạt được điều đó, nghiên cứu, xóa bỏ những thủ tục vô lý cho các nhà đầu

tư phải là một trong những yêu cầu trọng tâm của cuộc cải cách thủ tục hành chính hiện nay

1.2.1.4 Khó khăn trong việc đánh giá tác động của môi trường

Các dự án đầu tư, đặc biệt là những dự án có công trình xây dựng nhà máy, sẽ

có những tác động đến môi trường Đó là điều tất yếu khách quan Vì vậy, thuyết minh về ảnh hưởng của dự án đến môi trường và đưa ra những giải pháp khắc phục ngay trong dự án đầu tư là cần thiết và cũng là một thử thách đối với các chủ đầu tư.Tác động môi trường là một khái niệm rất rộng, bao gồm: phạm vi vĩ mô là những ảnh hưởng của dự án tới cảnh quan chung, quy hoạch tổng thể của khu vực

và những vấn đề về xã hội Phạm vi vĩ mô là những ảnh hưởng của dự án tới sức khỏe người lao động làm việc trong nhà máy của dự án và nguồn nước, không khí của khu vực đặt dự án

Trang 36

Đánh giá tác động của dự án tới môi trường trong phạm vi vĩ mô bao gồm những câu hỏi hóc búa nhất Ví dụ: một dự án đầu tư xây dựng nhà máy xi măng lò quay tại Hà Nam, chủ đầu tư đã phải trả lời những câu hỏi sau: Nhà máy có ảnh hưởng gì tới các di tích lịch sử trong những vùng lân cận không? Nhà máy có phá

vỡ quy hoạch phát triển ngành du lịch ở địa phương và các vùng lân cận không? Có thể khẳng định ngay rằng, không một chủ đầu tư nào trả lời được những câu hỏi trên với những căn cứ khoa học Để trả lời hai câu hỏi trên thì phải có hai đề tài khoa học tiến hành nghiên cứu, chi phí cho việc nghiên cứu mỗi đề tài từ năm mươi đến một trăm triệu đồng, chủ đầu tư là người phải chi trả Khi các "đề tài khoa học" này được nghiệm thu, chủ đầu tư có được: Giấy xác nhận dự án không ảnh hưởng tới các di tích lịch sử quốc gia tại địa phương và vùng lân cận; giấy xác nhận dự án không phá vỡ quy hoạch tổng thể về du lịch của địa phương và vùng lân cận

Đánh giá tác động của dự án tới những vấn đề về xã hội còn khó hơn nhiều Khi lập dự án đầu tư xây dựng một sân golf và khu khách sạn cao cấp tại một khu

du lịch nổi tiếng ở phía Bắc, chủ đầu tư phải trả lời các câu hỏi: Cụm sân golf và khách sạn có những ảnh hưởng gì tới lối sống của người Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc? Dự án có những biện pháp gì để ngăn chặn những tác động xấu có thể có? Trong khi các công trình vẫn còn đang trên giấy, ít nhất vài năm sau mới có trong thực tế, thế thì làm sao có thể trả lời được nó

có ảnh hưởng tới lối sống của người dân và truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam?

Tiếp theo là đánh giá tác động môi trường trong phạm vi vi mô cũng không dễ Phần lớn tác động của dự án tới sức khỏe của người lao động, đến nguồn nước và không khí đều liên quan đến công nghệ Các dự án xây dựng các nhà máy, khi nhập khẩu thiết bị, máy móc thường bao gồm cả việc chuyển giao công nghệ Dự án xây dựng nhà máy xi măng phải thuyết minh: Ống khói đặt ở đâu? Phạm vi ảnh hưởng của khói là bao nhiêu km? Hệ thống lọc bụi khắc phục được khói bụi như thế nào?

Dự án xây dựng nhà máy chế biến thủy sản phải trả lời ngay câu hỏi: Nước thải sẽ được xử lý theo công nghệ nào? Độ sạch của nước thải đạt đến đâu có vượt qua giới hạn cho phép không? Việc đặt ra những câu hỏi ấy là cần thiết Nhưng oái oăm thay, câu trả lời lại không ở trong đầu của chủ đầu tư mà nó được thuyết minh trong

Trang 37

giải pháp công nghệ Trong khi dự án chưa được phê duyệt, hợp đồng nhập khẩu máy móc thiết bị và chuyển giao công nghệ chưa ký, nguồn vốn chưa thu xếp được thì ai có thể trả lời ngay được? Thế là một vòng tròn hình thành: Nếu không trả lời được những câu hỏi về tác động môi trường trong một tài liệu kèm theo dự án gọi là

"Báo cáo đánh giá tác động môi trường" thì dự án chưa được chấp thuận và do đó chưa thể ký hợp đồng mua máy móc, thiết bị và chuyển giao công nghệ Và khi hợp đồng ấy chưa được ký, chưa mở thư tín dụng thì mọi câu trả lời còn ở phía người cung cấp, có nghĩa là chủ đầu tư không thể trả lời được

Sự mâu thuẫn và chồng chéo giữa các văn bản Luật về đánh giá tác động môi trường cũng làm cho cả chủ đầu tư và cán bộ quản lý lúng túng Khoản 4, Điều 22, Luật Bảo vệ môi trường quy định: Các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng sau khi Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã phê duyệt Điều đó có nghĩa là, Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải hoàn thành trước khi đăng ký hoặc thẩm tra dự án đầu tư và trước khi lập, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Song, theo Luật Đầu tư thì dự

án đầu tư phải được đăng ký hoặc thẩm tra trước khi thực hiện Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình, việc lập và phê duyệt sẽ tiến hành trước khi xin phép xây dựng Từ đó, một câu hỏi chưa có lời giải là: Báo cáo đánh giá tác động môi trường

và Giấy chứng nhận đầu tư, cái nào có trước?

Bảo đảm sự trong sạch của môi trường đang là vấn đề nhức nhối hiện nay không chỉ ở nước ta mà cả trên toàn thế giới Nhưng trong pháp luật nước ta hiện nay về vấn đề này còn nhiều bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo gây khó khăn, lúng túng cho Chủ đầu tư và nhà quản lý dự án trong quá trình lập thuyết minh dự án đầu tư

1.2.1.5 Khó khăn trong vay vốn đầu tư

Sau khi vượt qua các khó khăn đầu tiên và có trong tay quyết định hay công văn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc chấp thuận dự án, chủ đầu tư phải nghĩ ngay đến việc huy động vốn để thực hiện dự án Bởi lẽ, với số tiền đầu tư hàng chục, hàng trăm tỷ đồng, ít có chủ đầu tư nào đủ trang trải bằng vốn tự có Theo các nhà khoa học chứng minh rằng, một dự án đầu tư sẽ mang lại hiệu quả tối

Trang 38

ưu khi vốn tự có của chủ sở hữu/vốn vay ở tỷ lệ 30/70 Từ đây, các Chủ đầu tư vào cuộc chạy đua vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

Phương án đầu tiên mà các Chủ đầu tư nghĩ tới là các ngân hàng thương mại Trở ngại đầu tiên là phải có tài sản thế chấp, để vay được 10 tỷ đồng, nhà đầu tư phải có một hoặc một số tài sản có giá trị ít nhất là 15 tỷ để thế chấp Hơn nữa, tài sản thế chấp ấy lại phải là bất động sản, có thể dễ dàng mua, bán trên thị trường Điều này thực hiện ở Việt Nam rất khó khăn, do các nhà đầu tư tại Việt Nam thường có ít tài sản mang quyền sở hữu của mình Thế chấp bằng tài sản hình thành

từ vốn vay, trên lý thuyết là được phép Nhưng việc đó có được chấp nhận hay không hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của ngân hàng Bởi vì sau khi ngân hàng chấp nhận thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay, với tài sản là các loại máy móc, thiết bị chuyên dùng Nếu dự án thất bại, Chủ đầu tư không huy động được tiền trả nợ, thì ngân hàng cũng không biết làm gì với tài sản đó Do vậy, đa số ngân hàng sẽ từ chối hình thức cho vay này

Vay vốn nhờ sự bảo lãnh của bên thứ ba cũng chỉ tồn tại trên lý thuyết đối với các dự án đầu tư tư nhân Ai có đủ tài sản cá nhân để thế chấp vào ngân hàng bảo lãnh cho số tiền vay khổng lồ của dự án? Nhà nước thì đương nhiên không bảo lãnh cho dự án của doanh nghiệp tư nhân Một quỹ bảo lãnh cho những trường hợp này

là "Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DN nhỏ và vừa" đã có quyết định thành lập từ 10 năm về trước Và nhờ có khoản tiền trong gói giải pháp kích cầu 1 tỷ USD của Chính phủ, đến nay, quỹ bảo lãnh này mới có vốn và bắt đầu hoạt động

Ngoài khó khăn về nguồn vay, lãi suất tiền vay cũng là trở ngại không kém phần quan trọng Vay vốn cho dự án đầu tư chắc chắn phải là vay trung hạn và dài hạn, từ

3 năm đến 10 năm Lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại là lãi suất thị trường Đó là điều tất nhiên vì các ngân hàng cũng là doanh nghiệp kinh doanh Và, hơn nữa, lãi suất vay trung hạn, dài hạn lại cao hơn lãi suất vay ngắn hạn Một chủ đầu tư thực hiện dự án có tổng đầu tư 500 tỷ đồng, vốn tự có 200 tỷ và vay ngân hàng 300 tỷ với lãi suất 1,1%/tháng đã kêu lên rằng, cứ sau một đêm ngủ dậy, tôi đã phải trả cho ngân hàng cả chục triệu đồng

Quỹ hỗ trợ phát triển nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam là địa chỉ lý tưởng cho việc vay vốn thực hiện các dự án đầu tư của nhà đầu tư tư nhân Bởi lẽ, vay vốn

Trang 39

ở đây sẽ có lãi suất thấp, có ân hạn về việc trả lãi và trả gốc, được thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay Song, có lẽ những dự án vay được vốn ở địa chỉ này cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay mỗi năm Vì các dự án được vay phải nằm trong danh mục được vay do Chính phủ quy định, ngay cả với các dự án trong danh mục thì cũng rất khó tiếp cận nguồn vốn này nếu không có thế lực mạnh tác động.Con đường vay vốn từ nước ngoài cũng vô vàn khó khăn, do điều khoản ràng buộc và yêu cầu khi cho vay rất khắt khe Phần lớn các tổ chức tài chính nước ngoàiđòi hỏi phải có bảo lãnh của một ngân hàng có uy tín, phải có báo cáo tài chính đã được kiểm toán trong hai năm gần nhất Hầu hết các nhà đầu tư tư nhân Việt Nam phải dừng bước trước những đòi hỏi này

Chưa có ai thống kê và công bố, nhưng có thể ước tính rằng, có đến 40 - 50% số

dự án đầu tư của nhà đầu tư tư nhân Việt Nam chết bất đắc kỳ tử vì không huy động được vốn đầu tư

1.2.1.6 Thủ tục về đầu tư xây dựng cơ bản phức tạp, thời gian kéo dài

Đặc biệt là thủ tục về đầu tư xây dựng cơ bản còn phức tạp, thời gian từ khâu chuẩn bị đến triển khai dự án đầu tư xây dựng quá dài, quá nhiều bước Tổng cộng thời gian từ khi xin chủ trương đầu tư đến khi khởi công công trình đối với dự án nhóm A là 42 tháng, nhóm B là 29 tháng và nhóm C là 23 tháng Như vậy, cộng thêm thời gian thi công khoảng 5-7 năm nữa thì một dự án nhóm A mất hơn 10 năm mới hoàn thành Với khoảng trên 13.000 dự án vốn ngân sách, trung bình mỗi dự án trên 4 tỷ đồng thì có thể thấy sự lãng phí khủng khiếp về thời gian và vốn liếng Nguyên nhân của tình trạng trên một phần thuộc về công tác điều hành nền kinh tế,

cụ thể là quy hoạch phát triển và quy hoạch vốn không thống nhất Hiện nay có tình trạng khi trình duyệt thì phần lớn các dự án đưa ra đều có nhu cầu bức thiết và được phê duyệt Nhưng khi thực hiện, ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được 50-60%, vì vậy thời gian triển khai một dự án bị kéo dài

Số dự án quy hoạch treo trong 3 năm qua lên tới hàng ngàn, với trên 70.000 ha đất Xu hướng vi phạm đầu tư đang có chiều hướng gia tăng, Còn quá nhiều vấn đề: đầu tư không phù hợp quy hoạch, dự án được phê duyệt không đúng thẩm quyền, công tác thẩm định, đầu thầu có nhiều sai phạm Năm 2005 có 1.800 dự án, năm

Trang 40

2006 có hơn 3.173 dự án sai phạm thì năm 2007 con số này đã tăng lên trên 4.000

dự án Nguyên nhân được xác định là do cơ chế, chính sách, mâu thuẫn giữa các Luật và các văn bản dưới luật

Trong công tác phê duyệt các dự án đầu tư còn chủ quan, duy ý chí, đầu tư theo phong trào đã trở thành căn bệnh kinh niên của nền kinh tế nước ta Hậu quả rất rõ ràng và không ai phủ nhận được là hiệu quả đầu tư thấp, lãng phí và kẽ hở cho tham nhũng từ nguồn vốn đầu tư đã và đang là chuyện thường ngày

Mặc dù Nhà nước ta đã có rất nhiều văn bản nhằm cải cách thủ tục hành chính nói chung, trong đó có thủ tục về đầu tư, song các thủ tục hành chính về đầu tư lại đang trong tình trạng rất phức tạp và rắc rối Không ít nhà đầu tư đã như rất lúng túng khi gặp những yêu cầu trái ngược nhau Để được đăng ký đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư phải có văn bản chấp thuận về địa điểm đầu tư Song, để có văn bản chấp thuận về địa điểm đầu tư và diện tích đất đai cần sử dụng lại phải có văn bản

về đăng ký đầu tư hoặc giấy phép đầu tư Nguyên nhân của vòng luẩn quẩn các thủ tục hành chính cơ bản là sự thiếu minh bạch trong quản lý đất đai, sự thiếu công tâm của cán bộ, công chức trong bộ máy công quyền

Báo cáo nghiên cứu khả thi của các dự án đầu tư hiện nay đã thuyết minh đầy đủ những nội dung: số lượng, chủng loại, công suất, các trang thiết bị cần thiết cho công trình, các phụ tùng, vật tư kỹ thuật đi kèm… Song, vấn đề quan trọng hơn là việc thẩm định, đánh giá trình độ hiện đại của công nghệ được sử dụng hiện nay còn mang tính hình thức, chiếu lệ Hậu quả là, sản phẩm sản xuất ra với chất lượng thấp, hoặc đầu tư với quy mô quá lớn, khi đi vào khai thác không thể đạt tới công suất hoà vốn Điều đó, tất yếu dẫn đến chi phí sản xuất cao, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường và dự án nhanh chóng bị thất bại và ngừng hoạt động; môi trường bị phá huy nghiêm trọng… Nguyên nhân là do các cơ quan quản lý nhà nước không đủ thông tin, tài liệu khoa học để đánh giá trình độ của công nghệ, trang bị kỹ thuật được chuyển giao; những giao dịch ngầm trong việc chuyển giao…

Để dự án được phê duyệt theo quy định bắt buộc là phải phù hợp với quy hoạch tổng thể vùng và quy hoạch ngành Phần lớn các quy hoạch tổng thể được phê duyệt

là có cơ sở khoa học và cần kiên quyết thực hiện Song, cũng có những quy hoạch mang tính cục bộ của ngành và thiếu cơ sở khoa học Chẳng hạn, khá nhiều quy

Ngày đăng: 15/02/2021, 07:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w