1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và đề xuất giải pháp định lượng các tiêu chẩun đánh giá hồ sơ dự thầu bằng phương pháp ahp nhằm cải tiến công tác đấu thầu

144 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 3,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các tiêu chuẩn và xây dựng mô hình dùng cho quá trình lựa chọn nhà thầu mà được lấy ra bởi các dự án xây dựng khác nhau ở Việt Nam.. Những tồn tại

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỊNH LƯỢNG CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ HỒ SƠ

DỰ THẦU BẰNG PHƯƠNG PHÁP AHP, NHẰM

CẢI TIẾN CƠNG TÁC ĐẤU THẦU

GVHD: TS ĐINH CÔNG TỊNH

Thực hiện: THÁI BÌNH AN MSHV: 00806160

Lớp: QLXD2006

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học :………

………

………

………

………

………

………

………

Cán bộ chấm nhận xét 1:………

………

………

………

………

………

………

………

Cán bộ chấm nhận xét 2:………

………

………

………

………

………

………

………

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày tháng năm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn: Tiến sĩ ĐINH CÔNG TỊNH, Thầy đã tận tâm, tận tình chỉ bảo, động viên, hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và phương pháp nghiên cứu để em có thể hoàn thành luận văn này

Em cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Bộ môn Thi công đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian học tập và thực hiện luận văn này

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các bạn, các anh chị đồng nghiệp đã trực tiếp hay gián tiếp giúp đỡ em trong việc hoàn thành luận văn này

Và cuối cùng, em xin được cảm ơn Thủ trưởng cơ quan em đang công tác (Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài) đã tạo điều kiện để em được tham gia chương trình cao học tại Trường Đại học Bách khoa TP.HCM này Đã giúp cho em tiếp thu được nhiều kiến thức khoa học mới

Trang 4

TÓM TẮT

Lựa chọn nhà thầu là một trong những khía cạnh quan trọng nhất trong việc thực hiện Hợp đồng xây dựng Mức độ thành công của các dự án phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của nhà thầu Nhân tố chính của quá trình lựa chọn nhà thầu được chú trọng vào yếu tố chi phí hơn là sự thống nhất của chúng với các nhân tố khác như chất lượng, an toàn và môi trường trong nghành xây dựng Tuy nhiên, chính những nhân tố này có thể gây ra những nguyên nhân trì hoãn tiến độ của dự án, vượt chi phí, không kiểm soát được chất lượng, thời gian ngừng do bị tai nạn, làm tăng các mối nguy, các tranh chấp các điều khoản của hợp đồng và thất bại trong việc tuân theo các quy tắc ở địa phương và các yêu cầu của dự án Liên quan đến những vấn đề này, quá trình phân loại và lựa chọn phải được xem xét một cách tổng thể với nhiều tiêu chuẩn lựa chọn để đạt mục tiêu của dự án dựa trên quá trình ra quyết định

đa tiêu chuẩn

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các tiêu chuẩn và xây dựng mô hình dùng cho quá trình lựa chọn nhà thầu mà được lấy ra bởi các dự án xây dựng khác nhau ở Việt Nam Nghiên cứu này liên quan đến “ Sự thu nhận kiến thức” để có thể nắm bắt những kiến thức từ tổng quan đến những tài liệu thực tế, và được tham khảo

ý kiến của các chuyên gia tại các đơn vị có liên quan đến dự án đầu tư xây dựng Những dữ liệu được thu thập để sử dụng và đề xuất cải tiến công tác lựa chọn nhà thầu dựa trên Analytic Hierarchy Process Từ đó đưa ra kết luận việc lựa chọn nhà thầu nên được xem xét dựa trên các quyết định đa tiêu chuẩn Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng các nhân tố thường được xem trong quá trình chọn thầu là chi phí, hiệu quả hoạt động, tài chính, chuyên nghiệp kỹ thuật, khả năng quản

lý, khối lượng công việc đã thực hiện, kinh nghiệm trước đây và thành tích Kết quả cũng cho thấy một hệ thống hổ trợ quyết định hiệu quả như mô hình AHP là quan trọng để ước lượng có hệ thống quá trình lựa chọn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 : Mở đầu

1.1 Giới thiệu 7

1.2 Sự cần thiết của đề tài 7

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nguyên cứu 2

1.5 Kết quả mong đợi 3

Chương 2: Tổng quan 2.1 Lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng 4

2.1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu 4

2.1.2 Phương thức đấu thầu 5

2.1.2.1 Phương thức đấu thầu 1 túi hồ sơ 5

2.1.2.2 Phương thức đấu thầu 2 túi hồ sơ 5

2.1.2.3 Phương thức đấu thầu hai giai đoạn 6

2.1.2.4 Một số phương thức đấu thầu đặc biệt 8

2.1.2.3.1 Phương thức đấu thầu bằng thi tuyển 8

2.1.2.3.2 Phương thức đấu thầu qua mạng 11

2.1.3 Quy trình tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thi công 12

2.2 Các nghiên cứu trước đây về phương pháp lựa chọn nhà thầu 14

2.2.1 Phương pháp liệt kê và cho điểm 14

2.2.2 Phương pháp lợi ích chung 15

2.2.3 Phương pháp ma trận Warkentin 18

2.2.4 Phương pháp mạng nơron nhân tạo (Artificail Neural Network – ANN) 20

2.2.5 Phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn – Multicriteria Decision Making (MCDM) 21

2.2.5.1 Phương pháp Bespoke (Bespoke Approaches - BA) 22

2.2.5.2 Phương pháp phân tích đa thuộc tính (Multi-Attribute Analysis – MAA) 24 2.2.5.3 Phương pháp lý thuyết lợi ích đa thuộc tính (Multi-Attribute Utility

Trang 6

Theory - MAUT) 25

2.2.5.4 Phương pháp hồi quy đa bội ( Multiple Regression – MR) 28

2.2.5.5 Phương pháp phân tích bầy cừu (Cluster Analysis – CA) 30

2.2.5.6 Phương pháp lý thuyết mờ (Fuzzy Set Theory – FST) 30

2.3 Giới thiệu chung về phương pháp định lượng (Analytic Hierarchy Process -AHP) 31

2.3.1 Nguồn gốc phương pháp định lượng AHP 31

2.3.2 Phương pháp định lượng và hướng nghiên cứu 32

2.3.3 Ưu điểm của phương pháp AHP 32

2.4 Các tiêu chuẩn phân loại, lựa chọn nhà thầu phụ 35

Chương 3: Phương pháp thi công cọc khoan nhồi trong điều kiện Việt Nam 3.1 Quy trình thi công cọc khoan nhồi 42

3.2 Các biện pháp quản lý chất lượng 48

3.3 Biện pháp xử lý và phòng ngừa sự cố 50

Chương 4: Phương pháp nghiên cứu 4.1 Phương pháp định lượng Analytic Hierarchy Process (AHP) 53

4.1.1 Các tiên đề của phương pháp AHP 53

4.1.2 Nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng mô hình theo phương pháp AHP 54

4.1.2.1 Phân tích và thiết lập cấu trúc thứ bậc 54

4.1.2.2 Thiết lập độ ưu tiên 56

4.1.2.3 Tổng hợp 58

4.1.2.4 Đo lường sự không nhất quán 59

4.1.4 Ứng dụng phương pháp định lượng vào việc lựa chọn nhà thầu phụ 61 4.2 Phương pháp nghiên cứu 63

4.2.1 Quá trình thực hiện nghiên cứu 63

4.2.2 Qui trình thiết kế bảng câu hỏi 63

4.3 Lý thuyết thống kê 66

4.3.1 Tập hợp chính và mẫu 66

4.3.2 Bảng kê và biểu đồ 67

4.3.3 Tần số 69

Trang 7

Chương 5 : Phân tích dữ liệu

5.1 Kỹ thuật phỏng vấn sâu 73

5.1.1 Câu hỏi phỏng vấn 73

5.1.2 Tổng hợp kết quả và phân tích 73

5.2 Khảo sát bằng bảng câu hỏi 75

5.2.1 Thiết kế bảng câu hỏi 75

5.2.2 Tổng hợp kết quả và phân tích dữ liệu 75

5.2.2.1 Kết quả thống kê và phân tích thông tin chung 75

5.2.2 Kết quả thống kê và phân tích thông tin về quá trình đánh giá và lựa chọn nhà thầu thi công cọc khoan nhồi trong điều kiện Việt Nam 82

5.3 Áp dụng phương pháp Analytic Hierarchy Process – AHP vào bài toán thực tế 99 Chương 6: Kết luận và Kiến nghị 6.1 Kết quả nghiên cứu 112

6.1.1 Kết quả nghiên cứu 112

6.1.2 Mục đích nghiên cứu 114

6.2 Kết luận 115

6.3 Kiến nghị những hướng nghiên cứu tiếp theo 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

PHỤ LỤC 1: GIÁ DỰ TOÁN 119

PHỤ LỤC 2: GIỚI THIỆU VỀ PHẦN MỀM ECHOICE 123

BẢNG CÂU HỎI 128

Trang 8

Chương 1: MỞ ĐẦU

1.1 Giới thiệu :

Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, trong những năm qua Chính phủ đã đầu tư cho phát triển bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước hàng năm chiếm tỷ trọng cao trong GDP

Theo báo cáo của Chính phủ tại phiên họp lần thứ 24 Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết, trong năm 2009, nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước thực hiện

715 nghìn tỷ đồng, bằng 42,6% GDP (kế hoạch là 39,5% GDP), tăng 17% so với năm

2008

Trong đó vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước ước thực hiện cả năm 2009 là

161 nghìn tỷ đồng, tăng gần 63% so với thực hiện năm 2008, tăng 42,7% so với kế hoạch năm, và chiếm 22,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Trên cơ sở mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2010 và khả năng cân đối tích lũy tiêu dùng…, Chính phủ dự báo, khả năng huy động nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2010 sẽ vào khoảng 800 nghìn tỷ đồng, bằng 41,5% GDP

và tăng 12% so với ước thực hiện năm 2009 Cụ thể, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là 125,5 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 15,7% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội Vốn trái phiếu Chính phủ khoảng 66 nghìn tỷ đồng (gồm 56 nghìn tỷ đồng trong

kế hoạch 2010 và 10 nghìn tỷ đồng từ năm 2009 chuyển sang), chiếm 8,2% tổng nguồn vốn đầu tư phát triển, tăng 22,2% so với ước thực hiện năm 2009

Với số liệu trên có thể thấy được việc đầu tư phát triển toàn xã hội nói chung và đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nói riêng đang ngày càng chiếm ở mức cao trong tỷ trọng GDP để đạt mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Đồng thời từ đó cho thấy, việc đầu tư phát triển ngành xây dựng là tất yếu để đạt được mục tiêu này

Các dự án đầu tư ngày càng lớn, có kỹ thuật phức tạp, yêu cầu chất lượng, tiến

độ … Tuy nhiên, hiện tại những quy định pháp lý trong quá trình lựa chọn nhà thầu chưa đáp ứng yêu cầu chọn được nhà thầu thích hợp nhất để thực hiện dự án Từ đó dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, tiến độ không đáp ứng, gây thất thoát tiền của Nhà nước, và các khiếm khuyết khác

Trang 9

1.2 Sự cần thiết của đề tài:

Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu

để thực hiện gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, bình đẳng, minh bạch và hiệu quả kinh tế (Khoản

2 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2005) Chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình Trong nền kinh tế thị trường, người mua, tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể

Quá trình thực hiện công tác đấu thầu ở nước ta những năm qua đã có được những tiến bộ và đạt được những kết quả nhất định Thông qua việc tổ chức đấu thầu thực hiện các gói thầu ở nhiều dự án, công trình xây dựng Đã cho phép chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu có đủ kinh nghiệm năng lực để đảm nhận công việc và tiết kiệm được chi phí thực hiện Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lý đấu thầu cũng cho thấy còn có những hạn chế, bất cập trong các quy định về đánh giá hồ sơ dự thầu, đặc biệt

là đối với việc đánh giá hồ sơ dự thầu xây lắp

Những tồn tại, hạn chế trong quy định việc đánh giá hồ sơ dự thầu xây lắp hiện nay:

Theo quy định về đấu thầu, việc đánh giá HSDT xây lắp phải căn cứ vào:

- Tiêu chuẩn đánh giá Hồ sơ dự thầu (HSDT) được nêu trong Hồ sơ mời thầu (HSMT) xây lắp bao gồm: tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu, tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật của gói thầu và nội dung xác định giá đánh giá

- Phương pháp đánh giá và quy trình xét thầu bao gồm: đánh giá sơ bộ, đánh giá chi tiết với các bước đánh giá về mặt kỹ thuật và xác định giá đánh giá và xếp hạng các nhà thầu

Trong quá trình xét thầu, bên mời thầu và tổ chuyên gia xét thầu phải tuân thủ đúng quy định này mà không cần phải xem xét thêm các yếu tố liên quan đến quy mô, tính chất, điều kiện thực hiện và các yêu cầu cụ thể khác đối với từng gói thầu Quá trình xét thầu ở nhiều dự án, gói thầu xây dựng cho thấy còn có những mặt tồn tại, hạn

Trang 10

Thứ nhất: Trong quy định đánh giá HSDT xây lắp chưa đưa ra được các tiêu chuẩn và phương pháp phù hợp để đánh giá năng lực, kinh nghịêm của nhà thầu dự thầu

Khi đánh giá HSDT xây lắp, việc xem xét, đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu là yêu cầu rất quan trọng do đặc thù sản phẩm được tạo ra bởi nhà thầu xây dựng là công trình xây dựng chưa có sẵn Do vậy, Chủ đầu tư là người muốn có công trình chỉ có thể kì vọng vào chất lựơng của sản phẩm đạt được trong tương lai thông qua việc xem xét, đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu được chọn Tuy nhiên, khi đưa ra quy định về tiêu chuẩn đánh giá năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu thì các tiêu chí đánh giá về năng lực, kinh nghiệm lại thường được gắn với pháp nhân dự thầu mà không xuất phát từ tính chất, yêu cầu của gói thầu

để đưa ra các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm mà nhà thầu cần phải có để thực hiện gói thầu Điều này dẫn đến kết quả là tình trạng kê khai Hồ sơ đẹp theo yêu cầu của HSMT của nhà thầu chỉ mang tính chất hình thức mà không phản ánh dược năng lực thật sự mà nhà thầu có thể huy động được để thực hiện gói thầu Mặt khác đối với Bên mời thầu là tình trạng kiểm tra mang tính chất hành chính đối với các yêu cầu về năng lực kinh nghiệm khi đánh giá sơ bộ

Thứ hai: Việc quy định bước đánh giá về mặt kỹ thuật của gói thầu xây lắp chưa đáp ứng được yêu cầu của việc lựa chọn nhà thầu xây dựng

Để đánh giá chi tiết HSDT xây lắp, Bên mời thầu phải tiến hành đánh giá mặt

kỹ thuật của gói thầu bằng phương pháp chấm điểm và chỉ những nhà thầu có điểm đánh giá về kỹ thuật vượt ngưỡng điểm tối thiểu về kỹ thuật nêu trong HSMT (thường

là trên 70%) mới được xét tiếp về giá đánh giá Phương pháp đánh giá này có những hạn chế nhất định như: Xem xét, đánh giá tách rời giữa mặt kỹ thuật của gói thầu với các nội dung hết sức quan trọng như tiến độ thực hiện, giá dự thầu…; Sử dụng thang điểm để đánh giá trong đó chứa đựng những yếu tố chủ quan phụ thuộc vào năng lực

và nhận thức của người ra đề bài (lập và phê duyệt HSMT) và của người chấm bài (xét thầu) Như vậy, với phương pháp đánh giá này, có thể dẫn đến không có sự khác biệt giữa nhà thầu đạt được 100% mức điểm về kỹ thuật với nhà thầu chỉ đạt được 70% mức điểm yêu cầu về kỹ thuật Vì tất cả đều được xét tiếp ở bước tiếp theo

Trang 11

Thứ ba: Còn thiếu các hướng dẫn cụ thể trong việc xác định giá đánh giá của HSDT xây lắp

- Việc quy định xác định giá đánh giá trong xét thầu xây lắp đã có từ Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/CP của Chính phủ, theo đó nhà thầu sau khi đã đạt được điểm tối thiểu về kỹ thụât trở lên và có giá đánh giá thấp nhất

sẽ được kiến nghị trúng thầu Tuy nhiên cho tới nay, việc xác định giá đánh giá gói thầu xây lắp mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc đưa các chi phí để thực hiện gói thầu của các nhà thầu khác nhau về cùng một mặt bằng để xác định giá đánh giá Ví dụ như quy đổi các điều kiện về mặt kỹ thuật, điều kiện tài chính, thương mại, ưu đãi trong đấu thầu quốc tế và các yếu tố khác…

- Thực tiễn xét thầu cho thấy, do không đủ điều kiện hoặc khả năng để xác định giá đánh giá nên trong nhiều trường hợp, giá đánh giá của HSDT chỉ được xem là giá

dự thầu sau khi được sửa lỗi và hiệu chỉnh các sai lệch Trong một số trường hợp khác, các thành viên tổ chuyên gia đấu thầu rất khó thống nhất được ý kiến, quan điểm trong việc xác định giá đánh giá của gói thầu xây lắp Điều này làm giảm ý nghĩa, tính thực tiễn của chỉ tiêu này

Thứ tư: Quy trình tổ chức đánh giá HSDT xây lắp mất nhiều thời gian, trực tiếp làm tăng thời gian tổ chức đấu thầu và thực hịên gói thầu xây lắp

Mặc dù trong các quy định hiện hành về đấu thầu không đưa ra quy định về thời gian thực hịên việc xét thầu nhưng trên thực tế, thời gian cho công việc này thường bị kéo dài do phải trải qua nhiều bước công việc như: Thành lập Tổ chuyển gia đấu thầu - phê duyệt danh sách các thành viên tham gia Tổ chuyên gia - Đánh giá về mặt kỹ thuật

- phê duyệt danh sách nhà thầu đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật - Xác định giá đánh gía - Xếp hạng các nhà thầu - Tổng hợp quá trình lựa chọn nhà thầu, và lập Báo cáo kết quả đấu thầu - Trình thẩm định và duyệt kết quả đấu thầu Ngoài ra, trong trường hợp có tổ chức sơ tuyển thì còn có thêm một số công việc ở bước sơ tuyển lựa chọn nhà thầu

Các quy định này thường rất nặng về các thủ tục hành chính như lập báo cáo, phê duyệt… dẫn đến việc kéo dài thời gian tổ chức đấu thầu và thực hiện

Như vậy, với một số hạn chế, bất cập trong việc đánh giá HSDT xây lắp như đã nêu ở trên, có thể thấy cần thiết phải có những nghiên cứu, đề xuất, để cải tiến công tác đấu thầu ở Việt Nam ta hiện nay, mà đặc biệt là các gói thầu có nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Trang 12

Mô hình lựa chọn nhà thầu là một quy trình đưa ra quyết định hết sức cần thiết

để lựa chọn các nhà thầu tiềm năng, đủ khả năng và đảm bảo sự thành công của các dự

án xây dựng Mục đích của quy trình lựa chọn nhà thầu là đảm bảo nhà thầu có đủ đặc tính đáp ứng các yêu cầu của dự án Tuy nhiên những phương pháp hiện tại thì không

đủ và không chính xác bởi vì người chủ (chủ đầu tư) rất là khó đưa ra quyết định về khả năng của nhà thầu xây dựng dựa trên những tiêu chí không chính xác và định lượng như vậy Mục tiêu của nghiên cứu này là đưa ra phương pháp phân tích định

lượng Analytic Hierarchy Process (AHP) để giải quyết các vấn đề phân loại và tìm

ra nhà thầu có đủ năng lực và trình độ thi công

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích các hạn chế trong công tác lựa chọn nhà thầu ở Việt Nam

- Phân tích các nhân tố liên quan đến việc lựa chọn nhà thầu ở Việt Nam

- Đề xuất mô hình lựa chọn nhà thầu cải tiến hơn

- Mục tiêu cuối cùng là giúp chủ đầu tư có thể dễ dàng tìm hiểu và vận dụng kết quả này vào công trình cụ thể

1.4 Phạm vi nguyên cứu:

Do thời gian nghiên cứu và khả năng thu thập số liệu có hạn, đồng thời để tập trung vào vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đề xuất phạm vi nghiên cứu như sau:

- Đối tượng khảo sát :

+ Chủ đầu tư, các thành viên trong ban quản lý dự án

+ Tư vấn giám sát

+ Các nhà thầu xây dựng

+ Và các đối tượng liên quan

- Dữ liệu lấy tại Tp HCM và các tỉnh lân cận

- Các nghiên cứu trong đề tài chỉ giới hạn ở phạm vi các gói thầu xây lắp, phương thức đấu thầu một túi hồ sơ, và đấu thầu một giai đoạn

1.5 Kết quả mong đợi :

Kết quả thu được từ mô hình sẽ giải quyết được những vấn đề sau:

- Giúp cho chủ đầu tư nhìn thấy được các nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn nhà thầu

- Giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được các nhà thầu đủ năng lực và trình độ thi công công trình

Trang 13

Chương 2: TỔNG QUAN 2.1 Lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng

2.1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu

a Đấu thầu rộng rãi

Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu Hình thức đấu thầu này có

ưu điểm nổi bật là tính cạnh tranh trong đấu thầu cao, hạn chế tiêu cực trong đấu thầu, kích thích các nhà thầu phải thường xuyên nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại

hiệu quả cao cho dự án

b Đấu thầu hạn chế

Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5 nhà thầu) có đủ năng lực tham dự Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận Đấu thầu hạn chế là

đấu thầu công khai, minh bạch

e Mua sắm trực tiếp

Được áp dụng trong trường hợp bổ sung hợp đồng cũ đã thực hiện xong (dưới một năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện với điều kiện chủ đầu tư có nhu cầu tăng thêm số lượng hàng hóa hoặc khối lượng công việc mà trước đó đã được tiến hành đấu thầu, nhưng phải đảm bảo không được vượt mức giá hoặc đơn giá trong hợp đồng đã

Trang 14

f Tự thực hiện

Hình thức này chỉ được áp dụng đối với các gói thầu mà chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy định Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng Đối với các dự án có nguồn vốn ngân sách Nhà nước chiếm trên 30%, khi áp dụng hình thức tự thực hiện, dự toán cho gói thầu phải được phê duyệt theo quy định, đơn vị giám sát việc thực hiện gói thầu phải độc lập với chủ đầu tư về tổ chức và tài chính

g Mua sắm đặc biệt

Hình thức này được áp dụng đối với các ngành hết sức đặc biệt mà nếu không

có những quy định riêng thì không thể đấu thầu được

2.1.2 Phương thức đấu thầu

Có ba phương thức đấu thầu: Đấu thầu 1 túi hồ sơ, đấu thầu 2 túi hồ sơ và đấu thầu hai giai đoạn

a) Phương thức đấu thầu 1 túi hồ sơ

Phương thức này được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế, cho gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp, gói thầu EPC

Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu bao gồm:

- Đề xuất kỹ thuật

- Đề xuất tài chính

MỞ THẦU NHÀ THẦU BỊ LOẠI

NHÀ THẦU TRÚNG THẦU

Trang 15

Phương thức này có thể được áp dụng cho đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế đối với gói thầu lựa chọn nhà thầu tư vấn Nhà thầu nộp 2 túi hồ sơ:

Túi 1: Đề xuất về kỹ thuật

Túi 2: Đề xuất về tài chính

Việc mở thầu được tiến hành hai lần:

+ Lần một: Mở túi 1 để đánh giá về kỹ thuật Nếu đạt (thường là trên 70%) số điểm kỹ thuật theo yêu cầu của chủ đầu tư, thì được lọt vào vòng hai

+ Lần hai: Mở túi 2 để đánh giá tổng hợp hai yêu cầu kỹ thuật và tài chính để lựa chọn trúng thầu Trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì nhà thầu nào có

số điểm kỹ thuật cao nhất sẽ được mở túi 2 về tài chính để xem xét thương thảo hợp đồng

Ghi chú: Tỷ trọng điểm về kỹ thuật thường thì không nhỏ hơn 70% tổng số điểm tổng hợp

NHÀ THẦU LỌT VÀO VÒNG HAI

MỞ THẦU LẦN HAI

NHÀ THẦU TRÚNG THẦU

c) Phương thức đấu thầu hai giai đoạn

Phương thức này được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho các gói thầu: mua sắp hàng hoá, xây lắp và gói thầu EPC có kỹ thuật mới, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng được thực hiện theo trình tự sau đây:

Giai đoạn 1: Theo sơ đồ mời thầu giai đoạn 1, các nhà thầu sẽ nộp hồ sơ dự thầu

Trang 16

- Đề xuất về kỹ thuật

- Phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu

Bên mời thầu sẽ làm việc với từng nhà thầu để lựa chọn, bằng một trong hai phương pháp sau:

i Phương pháp chấm điểm theo thang điểm kỹ thuật Luật đấu thầu không quy định

rõ tỷ trọng điểm kỹ thuật chiếm bao nhiêu % số điểm tổng hợp (như đã quy định cho gói thầu dịch vụ tư vấn là không < 70%)

Khi đã xây dựng được thang điểm kỹ thuật rồi:

- Những nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật thường thì ≥ 70% thang điểm kỹ thuật (tổng số điểm kỹ thuật) sẽ được lọt vào giai đoạn 2

- Trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì mức điểm sẽ cao hơn mức trên mới lọt vào giai đoạn 2

ii Phương pháp đánh giá theo tiêu chí “đạt” hay “không đạt” Khi này yêu cầu về

kỹ thuật sẽ phải được chia ra nhiều tiêu chuẩn cụ thể, chi tiết, với mỗi một tiêu chuẩn

sẽ có hai phương án đánh giá là “đạt” và “không đạt”

Nhà thầu nào có tổng số lần “đạt” trên 50% tổng các tiêu chuẩn cần phải đạt sẽ được xếp loại “đạt” và được lọt vào giai đoạn 2

Giai đoạn 2: Theo hồ sơ mời thầu giai đoạn 2, các nhà thầu được vào giai đoạn 2 sẽ làm hồ sơ dự thầu trong đó làm rõ:

- Đề xuất về kỹ thuật

- Đề xuất tài chính có giá dự thầu

- Biện pháp bảo đảm dự thầu

Bên mời thầu sẽ mở thầu và chấm thầu trên cơ sở xác định chi phí trên cùng một mặt bằng về kỹ thuật, tài chính, thương mại, để so sánh xếp hạng các hồ sơ dự thầu Nhà thầu nào có chi phí thấp nhất trên cùng một mặt bằng và có giá đề nghị trúng thầu không vượt giá gói thầu được duyệt sẽ trúng thầu và được chủ đầu tư mời thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng Trường hợp việc thương thảo, hoàn thiện hợp đồng không thành thì chủ đầu tư phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét việc lựa chọn nhà thầu xếp hạng tiếp theo Trường hợp các nhà thầu xếp hạng tiếp theo cũng không đáp ứng yêu cầu thì báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định

Có thể sẽ lựa chọn phương án đấu thầu lại, hoặc phương thức khác như chỉ định thầu Quy trình đấu thầu hai giai đoạn xem trên hình 2.3

Trang 17

GÓI THẦU XÂY LẮP

GÓI THẦU XÂY LẮP

HỒ SƠ ĐẤU THẦU GIAI ĐOẠN 1

- Đề xuất kỹ thuật

- Phương án tài chính chưa có giá dự thầu

ĐÁNH GIÁ HỒ SƠ THẦU

NHÀ THẦU CHỌN VÀO GIAI ĐOẠN 2

NHÀ THẦU

BỊ LOẠI

HỒ SƠ ĐẤU THẦU GIAI ĐOẠN 2

- Đề xuất kỹ thuật

- Đề xuất tài chính có giá dự thầu

- Biện pháp bảo đảm dự thầu

MỞ THẦU XẾP HẠNG HỒ SƠ NHÀ THẦU BỊ LOẠI

NHÀ THẦU TRÚNG THẦU THƯƠNG THẢO – KÝ HỢP ĐỒNG

_ _

+ +

Hình 2.3: Phương thức đấu thầu hai giai đoạn

d) Một số phương thức đấu thầu đặc biệt

d.1 Phương thức đấu thầu bằng thi tuyển

Phương thức này chỉ áp dụng cho thi tuyển thiết kế kiến trúc công trình xây dựng

Sau khi có chủ trương đầu tư (báo cáo đầu tư được phê duyệt) chủ đầu tư các công trình sau đây phải tổ chức thi tuyển thiết kế kiến trúc

Trang 18

- Trụ sở cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên

- Các công trình văn hoá, thể thao và các công trình công cộng khác có quy mô cấp I và cấp đặc biệt

- Các công trình có kiến trúc đặc thù trong đô thị từ loại 2 trở lên như tượng đài, cầu vượt sông, cầu cạn có quy mô lớn, trung tâm phát thanh, truyền hình, nhà ga đường sắt trung tâm, nhà ga, cảng hàng không quốc tế, các công trình là biểu tượng về truyền thống văn hoá, lịch sử của địa phương

- Các công trình khác, Nhà nước khuyến khích việc tổ chức thi tuyển thiết kế kiến trúc công trình

Tuỳ theo quy mô của công trình, điều kiện thời gian, khả năng tài chính và các điều kiện khác, chủ đầu tư có thể tổ chức thi tuyển trong nước hoặc quốc tế Phương thức chọn thầu có thể thông qua hội đồng thi tuyển hoặc trưng cầu ý kiến của nhân dân bằng các phiếu thăm dò theo mẫu in sẵn

Việc thi tuyển kiến trúc được thực hiện theo hồ sơ mời thi tuyển của chủ đầu tư Nội dung hồ sơ mời thi tuyển kiến trúc phải nêu rõ:

i Mục đích, yêu cầu của công việc thi tuyển, địa điểm xây dựng công trình, nhiệm vụ thiết kế, yêu cầu kiến trúc đối với công trình xây dựng và hướng dẫn việc thi tuyển

ii Giải thưởng, trách nhiệm và quyền lợi của các đối tượng tham gia thi tuyển iii Các quy định khác có liên quan

Tác giả của phương án thiết kế kiến trúc được lựa chọn, được đảm bảo quyền tác giả, được thực hiện lập dự án và các bước thiết kế tiếp theo nếu có đủ điều kiện năng lực Nếu không đủ điều kiện năng lực thì có thể liên danh với các tổ chức tư vấn thiết kế có đủ năng lực để thực hiện

Trường hợp tác giả của phương án kiến trúc được lựa chọn từ chối thực hiện các bước thiết kế tiếp theo, thì chủ đầu tư sẽ tiến hành lựa chọn nhà thầu thiết kế phù hợp để thực hiện

Việc lựa chọn nhà thầu thiết kế các bước tiếp theo có thể theo hình thức chỉ định thầu hoặc đấu thầu

Trường hợp không thi tuyển kiến trúc chủ đầu tư có thể lựa chọn hình thức đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế để lựa chọn được tổng thầu thiết kế Trình tự đấu thầu được giới thiệu trên hình 2.4

Trang 19

CHỦ ĐẦU TƯTHÔNG BÁO THI TUYỂN KIẾN TRÚC

HỒ SƠ DỰ TUYỂN

CHỦ ĐẦU TƯ XÉT TUYỂN

PHƯƠNG ÁN KIẾN TRÚC ĐƯỢC CHỌN (TRAO GIẢI THƯỞNG NẾU CÓ)

CHỌN NHÀ THẦU THIẾT KẾ TIẾP

CHỦ ĐẦU TƯ LỰA CHỌN NHÀ THẦU THIẾT KẾ,THIẾT KẾ CÁC BƯỚC TIẾP THEO

TÁC GIẢ KIẾN TRÚC

- Từ chối thiết kế tiếp

- Hoặc không đủ năng lực

Trang 20

CHỦ ĐẦU TƯ

THÔNG BÁO MỜI THẦU LỰA CHỌN TỔNG THẦU THIẾT KẾ

HỒ SƠ MỜI ĐẤU THẦU

1 Các câu hỏi về năng lực,kinh nghiệm

2 Danh sách các chuyên gia

3 Bảng chào giá, tiến độ thực hiện công việc 4.Cung cấp danh sách các nhà thầu phụ và các công việc do nhà thầu phụ thực hiện

5 Nếu là liên danh thì phải có thoả thuận nói rõ – Người đứng đầu liên doanh

6 Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

7 Các đề xuất của các nhà thầu nếu có

HỒ SƠ ĐẤU THẦU

CHẤM THẦU CHO ĐIỂM THEO NĂNG LỰC XẾP HẠNG NHÀ THẦU THEO THỨ TỰ 1,2,3

THƯƠNG THẢO (NHÀ THẦU SỐ 1)

KÝ KẾT HỢP ĐỒNG TỔNG THẦU THIẾT KẾ

_

+

Hình 2.5: Đấu thầu để lựa chọn tổng thầu thiết kế

d.2 Phương thức đấu thầu qua mạng

Đây là một phương thức mới lần đầu tiên được áp dụng ở Việt Nam Phương thức này cho phép các nhà thầu thực hiện trực tuyến đấu thầu qua hệ thống mạng Mạng đấu thầu qua hệ thống Internet hoặc qua mạng nội bộ Internet

Trang 21

Việc đăng tải thông báo mời thầu, phát hành hồ sơ mời thầu, nộp hồ sơ dự thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu được thực hiện trên hệ thống mạng đấu thầu Quốc gia, do cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu xây dựng thống nhất quản lý

Đây là phương thức hiện đại, áp dụng công nghệ thông tin trong thời kỳ kỹ thuật số, điều đó phù hợp với thông lệ quốc tế Các nhà thầu cần phải chuẩn bị sẵn để không bị bỡ ngỡ khi chúng ta tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới WTO Phương thức này tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh cho các nhà thầu khi muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành xây dựng

2.1.3 Quy trình tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thi công

Quy trình đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thi công xây lắp theo Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 được mô tả ở sơ đồ (hình 2.6)

Nhìn vào sơ đồ có thể nhận thấy quy trình đấu thầu đã thể hiện được tính khách quan và khoa học, phù hợp với quy trình đấu thầu quốc tế theo thể thức của “Hiệp hội các kỹ sư tư vấn thế giới”, viết tắt theo tiếng Pháp là FIDIC (Federation Internation Des Ingenieurs Consiels) Tuy nhiên vấn đề là ở chổ, việc đánh giá xếp hạng theo tiêu chuẩn nào, để lựa chọn nhà thầu hợp lý về giá thành nhưng phải đảm bảo chất lượng xây dựng công trình là một vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách

Trang 22

BẮT ĐẦULập hồ sơ mời thầu

Gửi thư mời hoặc thông báo mời thầu

Tiếp nhận và bảo quản

5

6

Công bố trúng thầu, Thương thảo hợp đồng

7

Mở thầu 4

Ký kết hợp đồng, kết thúc đấu thầu

Trang 23

2.2 Các nghiên cứu trước đây về phương pháp lựa chọn nhà thầu

2.2.1 Phương pháp liệt kê và cho điểm

Đây là phương pháp đánh giá và lựa chọn đơn giản, thường được áp dụng cho các trường hợp như sau:

+ Các tiêu chuẩn so sánh, đánh giá thường là định tính và thường không có đơn

vị đo

+ Mức đáp ứng của các phương án so sánh theo các tiêu chuẩn và mức độ quan trọng của các tiêu chuẩn (trọng số), được xác định theo phương pháp cho điểm (còn gọi là phương pháp chuyên gia)

Như vậy, phương pháp liệt kê và cho điểm mang nặng tính chủ quan của người đánh giá và chỉ nên áp dụng trong trường hợp không có hoặc không thể tính toán các tiêu chuẩn so sánh bằng định lượng

Các bước tiến hành phương pháp liệt kê và cho điểm:

+ Đầu tiên ta cho điểm tất cả các phương án theo từng tiêu chuẩn (mục tiêu) và chọn phương án nào có tổng số điểm là lớn nhất;

+Nếu tiêu chuẩn có gán trọng số thì phương án được chọn là phương án có điểm trung bình có trọng số cao nhất

Tình huống 1: Giả sử ta cần lựa chọn 1 trong 3 nhà thầu A,B,C với bốn tiêu chuẩn: TC1 - năng lực tài chính, TC2 - năng lực kỹ thuật, TC3 - tiến độ thi công, và TC4 - giá thành

Tiêu chuẩn TC1 TC2 TC3 TC4

B X X X X 10

C X X X X 9

Bảng 2.1 Bảng liệt kê cho điểm các tiêu chuẩn TH1

Như vậy, từ bảng 2.1 trên ta sẽ chọn nhà thầu B, vì nhà thầu B có tổng điểm lớn nhất, mặc dù không phải mọi tiêu chuẩn của nhà thầu B đều tốt nhất

Tuống huống 2: Cũng như TH1, nhưng ở đây có xét đến mức độ quan trọng của các tiêu chuẩn (có xét trọng số các tiêu chuẩn)

Trang 24

Mức độ đáp ứng của phương án Các tiêu chuẩn so sánh Trọng số

Bảng 2.2 Bảng liệt kê cho điểm các tiêu chuẩn TH2

Từ bảng 2.2, ta có bảng tổng hợp điểm cho từng phương án theo bảng 2.3 như

sau:

Mức độ đáp ứng của phương án Các tiêu chuẩn so sánh

Bảng 2.3 Bảng tổng hợp điểm cho từng tiêu chuẩn TH2

Như vậy, theo kết quả tính toán ở bảng 2.3, ta sẽ chọn nhà thầu C thay vì nhà

thầu B như TH1 Ở đây vì yêu cầu của chủ đầu tư cần giá thành hợp lý và tiến độ thi

công nhanh (nên trọng số các tiêu chuẩn 3, 4 cao) và nhà thầu C đáp ứng gần như tốt

các yêu cầu quan trọng của chủ đầu tư nên được chọn

2.2.2 Phương pháp lợi ích chung:

Phương pháp lợi ích chung (Collective Utility) được tiến hành trên bảng đánh

giá (cho điểm theo thang đo giống hoặc khác nhau) cho các lời giải với các tiêu chí

xem xét khác nhau Đây là phương pháp áp dụng phổ biến trong trường hợp đánh giá

và lựa chọn nhà thầu, lựa chọn đơn vị tư vấn

Giả sử có m phương án Ai, n mục tiêu Zj Nếu mục tiêu là Zj với phương án là

Ai thì Zij là giá trị đánh giá về mặt chất lượng hoặc số lượng của phương án i đối với

mục tiêu j

Trong đó:

+ Các giá trị Zij trong cùng 1 hàng phải có cùng đơn vị

Trang 25

+ Các đơn vị sử dụng trong các hàm mục tiêu (khác nhau) có thể khác nhau, nghĩa là các giá trị Zij trong cùng 1 cột có thể khác đơn vị

+ Thang đánh giá cho các mục tiêu khác nhau có thể khác nhau về độ lớn

Bảng 2.4: Bảng tổng hợp các thông số tính toán của phương pháp lợi ích chung

Phương pháp lợi ích chung thông thường được chia thành 2 dạng bài toán như sau: Bài toán Max và bài toán Min

Trường hợp bài toán Max: Đây là trường hợp lời giải bài toán là tìm phương án cho cực đại (Max) giá trị đại biểu từ các phương án xem xét so sánh như cực đại lợi nhuận, kinh nghiệm, vốn lưu động … Còn đối với trường hợp bài toán Min, ta tìm phương án cho cực tiểu giá trị đại biểu từ các phương án xem xét so sánh như cực tiểu chi phí, cực tiểu thời gian thực hiện dự án

Trình tự tính toán theo phương pháp lợi ích chung:

Bước 1:biến đổi Zij trong mỗi hàng i thành số bij (không thứ nguyên) theo công thức sau:

Bài toán max:

ij (min) ij ij

(max) (min)

ij ij i

i i

Z Z b

ij (max) (min)

ij ij i

i i

Trang 26

Bước 2: gán trọng số αj cho mỗi mục tiêu tùy theo mức độ quan trọng (chủ quan) của người ra quyết định

Bước 3: tính giá trị tổng Si cho mỗi phương án i như sau:

ij 1

Bảng 2.5: Bảng liệt kê các tiêu chuẩn đánh giá nhà thầu phương pháp lợi ích chung

Cách tính theo bài toán max

Bảng kết quả tính toán theo phương pháp lợi ích chung:

Bảng 2.6: Kết quả tính toán theo phương pháp lợi ích chung

Như vậy, từ kết quả tính toán ở bảng trên trong 4 nhà thầu dự tuyển, theo phương pháp lợi ích chung nhà thầu A3 được đánh là có tổng điểm lớn nhất, từ đây ta kiến nghị lựa chọn nhà thầu A3

Trang 27

2.2.3 Phương pháp ma trận Warkentin

Nguyên tắc chung: phương pháp ma trận vuông Warkentin dùng để xác định mức độ quan trọng (trọng số) của các tiêu chuẩn Cốt lõi của phương pháp này là tiến hành cho điểm bằng cách so sánh từng cặp các chỉ tiêu/tiêu chuẩn theo các ô của ma trận vuông Warkentin Các bước thực hiện như sau:

Nội dung các bước tiến hành theo phương pháp ma trận vuông Warkentin: Bước 1: thành lập ma trận vuông Warkentin

Bước 2: tiến hành cho điểm bằng cách so sánh từng cặp các chỉ tiêu theo các ô của ma trận vuông Warkentin

2a Điểm Htk là điểm được ghi tại cột thứ k, dòng thứ t của bảng điểm, là điểm

số chỉ tầm quan trọng của chỉ tiêu NRt so sánh với chỉ tiêu NRk Lưu ý là số chạy t và

k dùng để chỉ thứ tự của dòng và cột (t là cho dòng, k là cho cột) của bảng điểm chứ không phải của bản thân ma trận

2b Giá trị Htk được từng chuyên gia xác định theo quan điểm của mình (dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của mình) về tầm quan trọng của các chỉ tiêu dựa trên nguyên tắc so sánh từng cặp đôi và cho điểm như sau:

9 Nếu NRt kém ý nghĩa hơn nhiều so với NRk thì cho Htk = 0

9 Nếu NRt kém ý nghĩa hơn không nhiều so với NRk thì cho Htk = 1

9 Nếu NRt bằng nhau về ý nghĩa so sánh với NRk thì cho Htk = 2

9 Nếu NRt có ý nghĩa hơn không nhiều so với NRk thì cho Htk = 3

9 Nếu NRt có ý nghĩa hơn nhiều so với NRk thì cho Htk = 4

2c Các trị số Htk trong bảng điểm phải đảm bảo qui luật sau:

™ Tổng Htk + Hkt phải luôn bằng 4

™ Htk = Hkt = 2 với t = k

Trang 28

™ Bảng điểm tạo nên từ m cột và m dòng nên có m ô Tổng của điểm số trong hai ô đối xứng theo đường chéo (đường chéo từ góc trên bên trái xuống góc dưới bên phải của bảng điểm) luôn bằng 4 nên tổng đại số của tất cả các ô của bảng điểm phải bằng 2m2

Bước 3: Sau khi đã có trọng số của từng tiêu chuẩn, việc tính toán còn lại như phương pháp liệt kê và cho điểm

Sau đây, sẽ minh họa ứng dụng ma trận vuông Warkentin trong lập và thẩm định dự án đầu tư xây dựng ở bảng phía dưới Bảng này trình bày kết quả cho điểm của các chuyên gia khi so sánh và đánh giá 4 chỉ tiêu sau đây, trong đó các trọng số của các chỉ tiêu đã được tính toán và thể hiện kết quả ở trong cột cuối của bảng

TC1: Lợi ích người sử dụng – ký hiệu LI

TC2: Diện tích đất yêu cầu – ký hiệu DT

TC3: Số nhà dân bị ảnh hưởng – ký hiệu SN

DT (t=2)

SN (t=3)

TM (t=4) 1

m tk k

Trang 29

2.2.4 Phương pháp mạng nơron nhân tạo (Artificail Neural Network - ANN)

Thuật ngữ trí khôn nhân tạo đã được Marvin Minsky phát biểu từ năm 1961 Từ sau thập niên 80s trở về sau, nghành nghiên cứu trí tuệ nhân tạo đã có nhiều bước tiến nhảy vọt, ứng dụng nhiều trong các ngành khoa học cũng như trong lĩnh vực xây dựng

và quản lý xây dựng

Mạng nơron nhân tạo có khả năng mô phỏng và học hỏi mạnh mẽ, mạng nơron không những có thể mô phỏng một hàm số mà nó còn mô phỏng bất cứ hàm mục tiêu nào với số biến nhập và xuất tuỳ ý Ngoài ra, mạng nơron còn có một ưu điểm tuyệt vời khác, đó là khả năng học- một mạng gần như có khả năng tư duy

Mạng nơron lan truyền (lan truyền ngược) là một hàm phi tuyến có thể xấp xỉ gần đúng như một hàm đích được cho qua một số mẫu trong tập mẫu Hình 2.7 sau đây

sẽ minh hoạ một mạng lan truyền

Hình 2.7: Mạng lan truyền 3 lớp

Trong hình, mạng gồm 3 lớp (thực tế ANN cho việc hỗ trợ chọn thầu cũng sẽ

có 3 lớp như thế này: lớp nhập (input), lớp ẩn và lớp xuất (output) Mỗi nút trong lớp nhập, phải nhận giá trị của một biến độc lập và chuyển vào mạng Dữ liệu từ tất cả các nút trong lớp nhập được tích hợp – ta gọi là tổng trọng hoá – và chuyển kết quả cho các nút ẩn Gọi là “ẩn”, vì các nút trong lớp này chỉ liên lạc với các nút trong các lớp nhập và xuất, và chỉ người thiết kế mạng biết lớp này (người sử dụng mạng không biết lớp này) Tương tự, các nút trong lớp xuất cũng nhận các tín hiệu tổng trọng hoá từ các nút ẩn Mỗi nút trong lớp xuất hiện tương ứng một biến phụ thuộc

Phần lớn các bài toán chỉ có một biến phụ thuộc, nhưng với mô tả như trên, mạng Nơron cho phép số biến phụ thuộc tuỳ ý Thí dụ, nếu mạng cần nhận dạng các chữ số (cho 10 số 0 đến 9) thì ta có thể xây dựng một mạng với 10 nút xuất, hoặc nhận

Trang 30

dạng chữ thì mạng cần 24 nút xuất (cho 24 chữ cái) Dĩ nhiên có thể chỉ dùng một nút xuất cho hai bài toán này, nhưng mạng như thế sẽ không hiệu quả Bài toán mô phỏng đánh giá chọn thầu cũng vậy, thay vì xây dựng một mạng Nơron nhân tạo –Artificial Neural Network có 1 nút xuất là xếp hạng của nhà thầu (với nhiều nút nhập và nút ẩn),

ta làm nhẹ tính phức tạp của mạng bằng cách thay đổi hợp lý số lượng và cấu trúc liên kết các nút của Artificial Neural Network

2.2.5 Phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn – Multicriteria Decision Making (MCDM)

Người ra quyết định thường đối mặt với các vấn đề khó khăn trong việc lựa chọn các nhà thầu Nhiều phương pháp dựa trên kinh nghiệm và phán đoán cá nhân trong quá trình lựa chọn Trước khi lựa chọn nhà thầu thích hợp, phương pháp ra quyết định cần phải được xem xét, kiểm tra tất cả các tiêu chuẩn và có thể sử dụng những kỹ thuật tốt nhất để quyết định tiêu chuẩn nào được sử dụng

Phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn (MCDM) được phát triển ở Mỹ với mục đích giúp người ra quyết định hiểu vấn đề và giúp họ đưa ra các quyết định thích hợp trong việc lựa chọn nhà thầu (Zeleny, 1992) Phương pháp là công cụ cho các nhà khoa học và các kỹ sư; và được áp dụng để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc lựa chọn nhà thầu (Fong and Choi, 2000) và quản lý dự án (Alhazmi and Mc Caffer, 2000)

Phương pháp MCDM gồm nhiều phương pháp nhỏ khác hình 2.8 Đầu tiên là

sử dụng quyết định cá nhân hay quyết định nhóm, sau đó xác định các phương pháp theo dữ liệu hoặc điều kiện của phương pháp Có nhiều phương pháp ra quyết định đa nhân tố khác nhau có thể lựa chọn nhà thầu Gồm phương pháp Bespoke (Bespoke Approaches - BA), phương pháp phân tích đa thuộc tính (Multi-Attribute Analysis -MAA), phương pháp lý thuyết lợi ích đa thuộc tính (Multi-Attribute Utility Theory – MAUT), phương pháp hồi quy đa bội (Multiple Regressive – MR), phương pháp phân tích bầy cừu (Cluster Analysis – CA) và phương pháp lý thuyết mờ (Fuzzy Set Theroy – FST)

2.2.5.1 Phương pháp Bespoke (Bespoke Approaches - BA)

Phương pháp Bespoke là phương pháp kết hợp nhiều kỹ thuật ra quyết định đồng thời dựa trên những căn cứ khác nhau Nó xem xét các thông số trước khi ra quyết định Các thông số này có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn nhà thầu Nếu

Trang 31

các nhà thầu không đáp ứng được các thông số quan trọng này, thì các nhà thầu sẽ bị loại khỏi danh sách rút ngắn

Phương pháp BA thường liên quan đến việc hiệu chỉnh bởi quyết định cá nhân hoặc ra quyết định nhóm trong các gói thầu lớn Thông số nhà thầu phải vượt qua điểm giới hạn trong quyết định nhị nguyên (binary decision – yes/no) trước khi được chấp nhận hay bị loại bỏ (Hình 2.9)

Phương pháp BA là phương pháp phổ biến và dễ sử dụng nhưng cần nhiều thông tin về dự án và nhà thầu, trước khi thực hiện quyết định Kết quả của ra quyết định nhị nguyên bị sai, nhà thầu khó có thể thực hiện yêu cầu của hợp đồng

Trang 32

Phân loại các phương pháp MCDM

Lượng người ra

Phương pháp tổng hợp đơn tiêu chuẩn dự

trên phương pháp MAUT

Phương pháp tổng hợp cấp cao dựa trên phương pháp

cao cấp

Hình 2.8: Phân loại các phương pháp MCDM

Trang 33

XEM XÉT BAN ĐẦU TẤT CẢ PHẢI ĐƯỢC THỎA MÃN

HỆ THỐNG

ISO

QUYẾT ĐỊNH NGHỊ NGUYÊN CHIA THẦU THÀNH HAI PHẦN

TẤT CẢ THOẢ MÃN

QUYẾT ĐỊNH NGHỊ NGUYÊN

THAY THẾ NHÀ THẦU MỚI

Hình 2.9 : Quy trình thực hiện các bước của phương pháp Bespoke

2.2.5.2 Phương pháp phân tích đa thuộc tính (Multi-Attribute Analysis - MAA)

Phương pháp phân tích đa thuộc tính được ứng dụng nhiều khi thực hiện quyết định lựa chọn bởi tính đơn giản và dễ dàng thực hiện Theo Holt 1998, phương pháp phân tích đa thuộc tính được sử dụng trong việc rút ngắn danh sách (short list) hoặc phân loại trước nhà thầu

Trang 34

Phương pháp phân tích đa thuộc tính là phương pháp phân tích dựa trên sự

lựa chọn nhiều thuộc tính Thuộc tính là các đặc tính mà có thể định lượng

Công thức phương pháp phân tích đa thuộc tính:

W : điểm lợi ích tối đa

n: số lượng thuộc tính trong phân tích

Bảng 2.8 là ví dụ việc lựa chọn nhà thầu trong bốn nhà thầu với năm thuộc

tính Việc lựa chọn nhà thầu có thể dễ dàng thực hiện và nhà thầu nào có điểm cao

ACrj max = Vmax×W i (Vmax = 10) V1 W1 V2 W2 V3 W3 V4 W4 V5 W5 ACrj ACrjmax UACrj rankCr1 5 7 6 6 7 9 5 8 4 7 202 370 0.546 3 Cr2 5 7 8 6 3 9 8 8 5 7 209 370 0.565 4 Cr3 7 7 4 6 6 9 6 8 7 7 224 370 0.605 2 Cr4 7 7 7 6 5 9 8 8 5 7 236 370 0.635 1

Bảng 2.8 : Ví dụ về phương pháp đa thuộc tính

2.2.5.3 Phương pháp lý thuyết lợi ích đa thuộc tính (Multi-Attribute Utility

Theory - MAUT)

Phương pháp lý thuyết lợi ích đa thuộc tính tương tự như phương pháp

phân tích đa thuộc tính, nhưng cải tiến hơn đặc biệt trong việc định lượng giá trị

thuộc tính Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi và được phát triển bởi

Fishburn (1970) và Keeney and Raiffa (1976) Ưu điểm của phương pháp này là

làm vấn để trở nên đơn giản bằng cấu trúc thiết thực, tiếp xúc vấn đề một cách

Trang 35

chính xác Nó có thể sử dụng giá trị hữu hình hoặc vô hình trong quá trình đánh giá

Keeney and Raiffa (1976) đã đưa ra các bước để ra quyết định lựa chọn như sau:

- Định nghĩa các thuộc tính phương án và các thuộc tính liên quan

- Xác định mỗi phương án trong các thuộc tính

- Ấn định trọng số thuộc tính tương ứng với sự ưu tiên

- Kết hợp trọng số và giá trị của các thuộc tính để cung cấp giá trị thỏa đáng của mỗi phương án

- Chạy độ nhạy và ra quyết định

Sự đánh giá tổng thể của phương pháp MAUT dựa trên tiên đề cơ sơ, mà những người ra quyết định cố gắng sử dụng vài công thức để tập trung tất cả các quan niệm khác nhau

Nền tảng sự đánh giá của phương pháp MAUT là các thuộc tính mà các thuộc tính này được đánh giá bằng công thức toán học Tuy nhiên thuật toán của phương pháp MAUT thì phức tạp hơn phương pháp MAA đặc biệt là việc đánh giá trọng số kết nối lợi ích Phương pháp MAUT được áp dụng để đánh giá lựa chọn nhà thầu:

Ui : Các thuộc tính được được xem xét bởi người ra quyết định

ACRj : Điểm mong đợi của nhà thầu thứ j F(uxi) : Hàm F được tính dựa trên sự xem xét các thông số

Mặt khác, Ui có thể được dùng trong việc kết hợp với hằng số tỷ lệ hoặc trọng số như sau:

1

Trang 36

Trong đó:

Wij : Điểm số của mỗi thông số thứ I của nhà thầu thứ j

Sự kết hợp hai công thức trên sẽ được sử dụng để đánh giá điểm của các nhà thầu và sự lựa chọn dựa trên điểm số mỗi nhà thầu

Topsis

(Technique for order by

similar to ideal solution)

Phương án được chọn phải có các tiêu chuẩn gần với tiêu chuẩn lý tưởng ( Hwang and Yoon,1981)

UTA

(Utility Theory Additive)

Phương pháp sử dụng thứ tự hồi quy để ước lượng giá trị mỗi tiêu chuẩn Hàm giá trị tổng thể đạt được bằng cách cộng các giá trị với nhau (Jacquet-Lagreeze and Siskos, 1982)

Trang 37

1976)

AHP

(Analysis Hierarchy Process)

Phương pháp chuyển đổi mức độ quan trọng tương đối của các tiêu chuẩn thành tập hợp các trọng số Phương pháp dùng kỹ thuật pháp đoán dựa trên các phần tử đem so sánh để xác định độ quan trọng tương đối thông qua ma trận so sánh cặp, mà nó được liên kết lại thành các trọng số đánh giá các phương án (Sẽ được xem xét chi tiết ở Mục 4.1)

EVAMIX

Phương pháp gồm hai hệ số: một hệ số là giá trị gốc, hệ số còn lại là hệ số gián tiếp Việc kết hợp hai hệ số này để xác định ưu thế giữa các đối tượng đem so sánh

Fuzzy Weight Sum Phương pháp sử dụng việc dẫn xuất các tiêu chuẩn

mờ vào hàm cộng các trọng số đơn giản

Fuzzy maximim Phương pháp dựa trên các nguyên lý tối đa tiêu

chuẩn Giá trị của các tiêu chuẩn là các số “mờ”

Bảng 2.9: Các phương pháp tổng hợp đơn tiêu chuẩn dựa trên nguyên tắc MAUT

2.2.5.4 Phương pháp hồi quy đa bội (Multiple Regression – MR)

Phương pháp hồi quy đa bội là phương pháp thống kê, trong đó phương trình được xây dựng để quan sát và dự đoán sự ảnh hưởng của các biến độc lập dựa trên các biến phụ thuộc

Phương trình hồi quy đa biến

Trang 38

Nhà thầu được được xác định bằng công thức sau:

phạm vi dữ liệu

Áp dụng phương trình P1= Co+C1V1+… +CnVn

Xếp hạng nhà thầu dựa trên số điểm

Trang 39

2.2.5.5 Phương pháp phân tích bầy cừu (Cluster Analysis – CA)

Phương pháp phân tích bầy cừu sử dụng điểm số các thuộc tính để phân

loại nhà thầu vào các nhóm – được gọi là “Bầy” Các nhà thầu được xét chung vào

một “nhóm” thì có tính chất tương tự gần giống nhau (Hình 2.11)

2.2.5.6 Phương pháp lý thuyết mờ (Fuzzy Set Theory – FST)

Phương pháp lý thuyết mờ đưa vào được nhiều phán đoán và những mục

tiêu không chắc chắn Nó cũng đề cập thông tin đa tiêu chuẩn mà những thông tin

này có thể khách quan hay chủ quan

Phương pháp này cũng tương tự như phương pháp Bespoke Trong phương

pháp Bespoke, quyết định nhị nguyên chỉ có “Đạt” hay “Không đạt” Còn trong

phương pháp FST thêm vào các bậc “Không đạt”, “Tối thiểu”, “Tối đa”, ‘”Tốt”

Việc xếp hạng các nhà thầu bằng cách sử dụng phương trình mờ

Trang 40

2.3 Giới thiệu chung về phương pháp định lượng (Analytic Hierarchy Process -AHP)

2.3.1 Nguồn gốc phương pháp định lượng AHP

Phương pháp định lượng AHP được phát triển bởi Saaty vào thập niên 70

Nó cung cấp một phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn đơn giản, nhưng có cơ

sở lý thuyết trong việc đánh giá các phương án Nó giúp phân loại mức độ ưu tiên tương đối cho các phương án được đưa ra dựa trên một mức tỉ lệ Mức tỉ lệ này dựa trên phán đoán của người ra quyết định và mức độ quan trọng của các phán đoán đó, cũng như tính nhất quán trong việc so sánh các phương án trong quá trình

ra quyết định Ứng dụng của phương pháp AHP có thể tìm thấy trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm: hệ thống phân phối nguyên vật liệu cho dự án, quản lý dự

án và các vấn đề kỹ thuật

Theo Partovi (1992) AHP là công cụ hỗ trợ ra quyết định cho các quyết định phức tạp không cấu trúc và đa thuộc tính Ny Dick và Hill (1992) miêu tả AHP là một phương pháp xếp hạng các phương án dựa trên phán đoán của người

ra quyết định có liên quan đến tầm quan trọng các tiêu chuẩn và mở rộng chúng (tiêu chuẩn) khi nó lập lại trong mỗi phương án

Golden (1989) miêu tả AHP là một phương pháp phân tích sử dụng cấu trúc thứ bậc cho các vấn đề ra quyết định Murahdar (1990) tin rằng phương pháp AHP cung cấp một cách rõ ràng cụ thể cách giải quyết các vấn đề ra quyết định đa tiêu chuẩn

Belton (1986), đã xác nhận phương pháp AHP và phương pháp giá trị đa nhân tố đơn giản (Multi-Atribute Value – MAV) như là hai phương pháp đa tiêu chuẩn Trong quá trình xem xét các khuyết điểm của MAV một cách có hệ thống, ông đã tìm ra được các ưu điểm của phương pháp AHP

Trong nhiều năm qua, đã có nhiều lời bình phẩm đối với phương pháp AHP, Waste and Freeling (1987) suy luận để suy luận ra các trọng số (weighs) của các tiêu chuẩn bằng phương tiện dùng một thang đo tủ lệ, các câu hỏi của phương pháp AHP dường như vô nghĩa :“Tiêu chuẩn nào trong hai tiêu chuẩn này

Ngày đăng: 15/02/2021, 07:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w