1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khoa học Luật Hiến pháp Việt Nam - Sự hình thành và phát triển

224 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 24,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khoa học Luật hiến pháp giúp làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản như: sự hình thành và phát triển của nền lập hiến Việt nam; các quan điểm về

Trang 2

T R Ư Ờ N G ĐẠI HỌC L U Ậ T HÀ NỘI• • • •

s ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN

TRUNG TÂM THÔNG T!N THƯ V IỆ N ,

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘi PHỜNS ĐỌC j jjg s — I

Đơn vị thực hiện: Bộ môn Luật Hiến pháp

Chủ nhiệm đề tài: TS Vũ Hồng Anh

Phó phòng Đào tạo

HÀ N Ộ I - 2003

Trang 3

NGƯỜI THAM GIA ĐỂ TÀI

viết chuyên đề 1, 2, 8, 9, 10, 11 GVC Ths Nguyễn Thị Phương: Bộ môn Luật Hiến pháp -Thư ký đề tài,

viết chuyên để 3

viết chuyên đề 5

Trang 4

M ỤC LỤC

lỉáo cáo phúc trình

Chuyên đề 1: Một sô vấn đề co bản về khoa học luật Hiến

pháp Việt Nam

khoa học luật Hiến pháp Việt Nam

ra (tời của bản Hiến pháp đáu tiên của nước Việt nam

Chuyên đề 4: Khoa học luật Hiến pháp và sự phát triển cua

các chê định về chê độ xã hội nước CHXHCN Việt Nam

Chuyên đề 5: Khoa học luật Hiến pháp Việt Nam và sụ phát

triển của chẽ định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dán

phát triển của bộ máy Nhà nước Việt Nam

Hiến pháp Việt Nam trong giai đoạn tới

tưởng lập hiến và sự ra đời của Hiến pháp nước Anh

Chuyên đề 9: T ư tưởng lập hiến Hoa Kỳ th ế kỷ XVII -

XVIII và sự hình thành bản Hiến pháp thành văn đầu tiên

của nhân loại

Chuyên đề 10: Sự ra đời và phát triển của Hiến pháp xã hội

Trang 5

BẢO CÁO PHÚC TRÌNH VỂ K ẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỂ TÀI

Khoa học luật Hiến pháp Việt nam -

Sự hình thành và phát triển

A PHẨN MỞ ĐẦU

1 rinh cấp thiết của đề tài

Luật hiến pháp là một khoa học pháp lý chuyên ngành nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tổ chức Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Từ khi hình thành cho đến nay, khoa học luật hiến pháp đóng vai trò tích cực, tạo cơ sở lý luận vững chắc cho công cuộc xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy Nhà nước Việt nam, cũng như hoàn thiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước và công dân

Đối với các cơ sở đào tạo luật học, Luật hiến pháp là một môn học cơ bản trong chương trình đào tạo cử nhân luật Mặc dù so với khoa học Luật hiến pháp, môn học Luật hiến pháp có nội dung hẹp hơn, nhưng cũng bao hàm toàn bộ những vấn đề cơ bản nhất về khoa học Luật hiến pháp Vì vậy việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khoa học Luật hiến pháp dóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động giảng dạy môn học Luật hiến pháp ở các cơ sở đào tạo luật học nói chung, trường Đại học Luật nói riêng Việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khoa học Luật hiến pháp giúp làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản như: sự hình thành và phát triển của nền lập hiến Việt nam; các quan điểm về tổ chức Nhà nước trong các giai đoạn phát triển của Nhà nước và xã hội Việt nam; vai trò của khoa học luật hiến pháp đối với công cuộc xây dựng Nhà nước và xã hội Việt nam

Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện thành công chiến lược mà Đáng

uý, Ban giám hiệu Trường Đại học Luật Hà nội đã đề ra là nâng cao chất lượng đào tạo, trước hết đòi hỏi chúng ta cần phải đổi mới nội dung chương trình giảng dạy các môn học, trong đó có môn học Luật hiến pháp Muốn làm được việc này, điều đầu tiên chúng ta phải tổ chức nghiên cứu tổng thê nội dung của ngành khoa học tương ứng với môn học

Trang 6

Với ý nghĩa quan trọng nêu trên, tập thể giảng viên Bộ mơn Luật hiến pháp đã quyết định chọn đề tài: " Khoa học Luật hiến pháp - sự hình thành và phát triển" làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đé tài

Cho đến nay, trong phạm vi trường Đại học Luật Hà Nội cũng như ở các eơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học khác, việc nghiên cứu khoa học luật hiến pháp mới chỉ hoặc tập trung vào từng vấn đề cụ thể thuộc nội dung của khoa học luật hiến pháp, hoặc nghiên cứu nội dung khoa học luật hiến pháp trong một giai đoạn cụ thể tương ứng với các bản Hiến pháp Việt nam Cĩ

thê kể tên một số cơng trình nghiên cứu đã được cơng bố như sau: Nhà nước

và pháp luật của Hội luật gia Việt nam (1971), Pháp c h ế ì à gì của Vũ Đức

Chiểu (1974), cuốn Hiến pììáp là gì của Phùng văn Tửu (1977), Tìm hiểu

Hiến pháp nước Cộng Ììtìù Xã hội Chủ ngìũa Việt nam năm 1980 của Hội luật

gia Việt nam, Tìm hiểu Bộ máy Nhà nước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước của học giả Nguyền Văn Thao, Hiến pháp nước Cộng hồ Xã hội Chủ nghĩa

Việt nam- Bìnli luận của Viện luật học, v ề luật tổ chức Hội đồng nhân dân

và u ỷ ban Iiliâìi dân của học giả v o Như Giới, Quyền bầu cử của Cơng đồn

của học giá Ngơ Văn Thâu, Bình luận khoa học Hiến pháp HƯỚC Cộng ỈÌÓ

Xã hội Chủ nẹhĩa Việt nam năm 1992 của Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp

luật, Một sơ' vấn để cơ bản về hồn thiện bộ máy Nhà nước Cộng hơà Xã hội

Chủ nghĩa Việt nam do Gs.Ts Nguyễn Duy Gia chủ biên, Mối quan hệ pháp

lý cơ bản giữa cá nhân, cơng dân với Nhà nước của Ts.Trần Ngọc Đường và

Ts C hu Văn Thành, Quốc hội nước Cộng lìơà Xã Ììội Chủ nghĩa Việt nam

NỉìữníỊ khiu cạnh pììáp lý theo Hiến pháp và luật tơ chức Quốc hội 1992 của

PGS.Ts Nguyễn Đăng l)ung, Xây dựng và hồn thiện Nhà nước và pháp luật

của dân, do dân và vì dân ỏ Việt Iiani của Luật gia Phùng Văn Tửu, Tỏ chức chính quyền Nhủ nước ở địa phương Lịch sử và hiện tại do PGS.Ts Nguyễn

Đăng Dung làm chủ biên

Trang 7

Đây là đề tài đẩu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống sự hình thành

và phát triển của khoa học luật hiến pháp kể từ khi thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân cho đến nay

3 Mục đích của đé tài nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích: bước đầu làm sáng tỏ quá trình hình thành và phát triển của khoa học luật hiến pháp Việt nam; làm rõ quan điểm của các nhà khoa học Luật hiến pháp đối với từng vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hiêìi pháp trong các giai đoạn phát triển của Nhà nước, qua đó chỉ ra tính kế thừa và phát triển của khoa học Luật hiến pháp Việt nam Nghiên cứu so sánh để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hiến pháp Việt nam nói riêng khoa học luật hiến pháp trên thế giới nói chung, vị trí của khoa học luật hiến pháp trong hệ thống pháp luật của mỗi nước

Thực hiện thành công mục đích đặt ra, đề tài sẽ có một ý nghĩa lý luận

và thực tiễn như sau:

- Làm sáng tỏ một cách toàn diện lịch sử hình thành và phát triển của nền lập hiến Việt nam;

- Làm rõ các quan điểm về từng vấn đề thuộc phạm vi đối tượng nghiên cứu của khoa học Luật hiến pháp Việt nam;

- Bước đầu làm sáng tỏ sự hình thành và phát triển của khoa học Luật hiến pháp ở các nước trên thế giói;

- Những kết quả nghiên cứu đạt được sẽ phục vụ trực tiếp công tác giảng dạy và nghiên cứu môn học Luật hiến pháp Việt nam ở Trường Đại học Luật Hà Nội

4 Phạm vi nghiên cứu

Để làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra, đề tài tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khoa học luật hiến pháp Việt nam từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay Quá trình hình thành và phát triển của khoa học Luật hiến pháp lại gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nền lập hiến Việt nam Vì vậy lịch sử hình thành và phát triển của nền lập hiến Việt nam là một trong những nội dung nghiên cứu cơ bản của đề tài

Trang 8

Trong mối tương quan với thế giới, lịch sử nền lập hiên Việt nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lịch sứ lập hiến của nhân loại Nhân dân Việt nam đã biết chắt lọc những tinh hoa của nền lập hiến nhân loại để xây dựng nền lập hiến của dân tộc Việt nam Vì vậy, đê đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ

sự hình thành và phát triển của khoa học luật hiến pháp Việt nam, đề tài còn tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khoa học luật hiến pháp trên thế giới nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, các thành viên đã dựa trên cơ sờ phương pháp luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vể Nhà nước và pháp luật Trong quá trình viết chuyên đề, các tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê

6 Những điểm mới và đóng góp của để tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã có những đóng góp sau đây:

- Bước đầu làm sáng tỏ quá trình hình thành và phát triển của khoa học luật hiến pháp Viêt nam;

- Chỉ ra vai trò của khoa học luật hiến pháp Việt nam đối với sự hình thành và phát triển của nền lập hiến Việt nam nói chung, đối với quá trình phát triển của các chế định về chế độ xã hội, chế định quyền và nghĩa vụ công dân, sự hình thành và phái triển của bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam;

- Bước đầu làm sáng tỏ sự ra đời của bản Hiến pháp đầu tiên của nhân loại, sự hình thành và phát triển của khoa học luật hiến pháp của các nước trên thế giới;

- Trên cơ sở phân tích quá trình hình thành và phát triển của khoa học luật hiên pháp Việt nam, đề tài đã để xuất một sô yêu cầu đối với khoa học luật hiến pháp trong giai đoạn hiện nay

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu khoa học trong Trường Đại học Luật Hà nội

Trang 9

B NỘI DUNGNội dung nghiên cứu được đặt ra trong khuôn khổ của đề tài này bao gồm các chuyên đề được chia thành 2 phần: phần 1 là những chuyên đề liên quan đến khoa học luật Hiến pháp Việt nam; phần 2 có mục đích nghiên cứu

so sánh do đó bao gồm những chuyên đề liên quan đến khoa học luật Hiến pháp nước ngoài

Phần I KHOA HỌC LUẬT HIẾN PHÁP V IỆT NAM

Chuyên đề 1 Một sô vấn đé cơ bán về khoa học luật Hiến pháp Việt Nam Chuyên để 2 Khái q u át sự hình thành và phát triển của khoa học luật

Hiến pháp Việt nam Chuyên đé 3 T ư tương Hổ Chí Minh về Hiến pháp và sự ra đời của bán

Hiến pháp đầu tién của nước Việt nam

Chuyên đề 4 Khoa học luật Hiến pháp và sự phát triển của các chê định

về chế độ xã hội nước CHXHCN Việt Nam

Chuyên đề 5 Khoa học luật Hiến pháp Việt Namvà sự phát triển của chê

định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Chuyên đề 6 Khoa học luật Hiến pháp Việt Nam và sự p h át triển của bộ

máy Nhà nước Việt nam

Chuyên đề 7 Những vêu cầu đ ặt ra đối vói khoa học luật Hiến pháp Việt

nam trong giai đoạn tới

Phần II K H OA HỌC LUẬT HIẾN PHÁP NƯỚC NGOÀI

(nghiên cứu so sánh )

Chuyên đề 8 Khái quát về sự hình thành và phát triển tu tư(ýng lập hiến

và sự r a đời của Hiến pháp nước Anh

Chuyên đề 9 T ư tương lập hiến Hoa Kỳ thê kỷ 17 - 18 và sự hình thành bản Hiến p h áp thành văn đầu tiên của nhán lo ạ i

Chuyên đề 10 Sự ra đòi và phát triển của Hiến pháp xã hội chủ nghĩa Chuyên đề 11 Sụ hình thành và phát triển của khoa học luật Hiến pháp

trên thế giới

Trang 10

PHẨN I KHOA HỌC LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM

1.1 Một sỏ vấn đề co bán vé khoa học luật hiến pháp Việt nam

7.7.7 Đôi tượng nuhién cửu của khoa học luật hiến pháp Luật hiến

pháp là môn khoa học pháp lý chuyên ngành Khoa học luật hiến pháp nghiên cứu về ngành luật hiến pháp Theo truyền thông chung của hệ thống pháp luật

xã hội chủ nghTa, mỗi khoa học pháp lý chuyên ngành có đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu l iêng

Đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hiến pháp là vấn đề tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam cũng như mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân

Để hiểu biết tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam chúng ta cần phải nghiên cứu cấu trúc hành chính Nhà nước, tức là sự phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ trong nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, mối quan hệ giữa trung ương với địa phương

Một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam là tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Trong đó bao gồm các cơ quan Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng nhân dân u ỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân chiếm một vị trí quan trọng trong sô những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hiến pháp Mối quan hệ này được thể hiện thông qua những quyền và nghTa vụ cơ bản của công dân và những bảo đảm để công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó

Vấn đề tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân được thiết lập bởi hệ thống quy phạm pháp luật Hệ thống các quy phạm pháp luật này hợp thành một ngành luật -

Trang 11

ngành luật hiên pháp Một sô quy phạm pháp luật họp với nhau thành một chế

định

Nhu' vậy, đế nghiên cứu vấn để tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ

nghĩa Việt nam Việt nam, mối quan hộ giữa Nhà nước và côns, dân, khoa học

luật hiên pháp phải nghiên cứu các chê định, các quy phạm của ngành luật

hiến pháp

Luật hiến pháp Việt nam hình thành từ sau Cách mạng tháng Tám năm

1945, vì vậy đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hiến pháp bao gồm rất

nhiều quy phạm và chế định khác nhau Có những quy pham chế định đã bị

loại bỏ, có những quy phạm chế định mới ra đời Như vậy khoa học luật hiến

pháp còn phải nghiên cứu cả quá trình hình thành và phát triển của các quy

phạm, chế định của ngành luật hiến pháp Khoa học luật hiên pháp còn nghiên

cứu cả thực tiễn vận dụng áp dụng các quy phạm, chế định đó nhằm đưa ra

những luận cứ khoa học để hoàn thiện chúng

1.1.2 PhươHiỊ ỊìhÚỊ) nghiên cửu Để hình thành một khoa học không

những đòi hỏi phải có đối tượng nghiên cứu, mà còn phải có những phương

pháp nghiên cứu nhất định Khoa học luật hiến pháp có các phương pháp

nghiên cứu sau: Phương pháp biện chứng Mác-Lênin, phương pháp lịch sử,

phương pháp phân tích theo hệ thống chức năng, phương pháp thống kê,

phương pháp so sánh Mặc dù các phương pháp nêu trên cũng được sử dụng

trong các ngành khoa học xã hội khác Tuy nhiên, cùng một phương pháp mỗi

ngành khoa học lại sử dụng theo cách riêng, phù hợp với đối tượng nghiên cứu

của chúng Ví dụ, Phương pháp biện chứng Mác-Lênin được sử dụng trong

khoa học luật hiến pháp phải gắn liền với yếu tố quyền lực Nhà nước Bởi vì,

những quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp đều trực

tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vấn đề tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội

Chủ nghĩa Việt nam Cho nên, khi nghiên cứu quy phạm, chế định luật hiến

pháp, khoa học luật hiến pháp phái đặt chúng trong mối quan hệ với vấn đề tổ

chức Nhà nước, trong đó tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước là vấn đề

trọng tâm

Trang 12

1.2 Khái quát sự hình thành và phát triển của khoa học luật hiến pháp Việt nam.

Lịch sử hình thành và phát triển của khoa học luật hiến pháp Việt nam

gắn liền với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ tổ quốc của nhân

dân Việt nam trong 55 năm qua Trước Cách mang tháng Tám 1945, Việt nam

là một nước thuộc địa nửa phong kiến nên không có Hiến pháp, vì vậy không

có khoa học luật hiến pháp Chi một năm sau Cách mạng tháng Tám, đế

khảng định độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, Nhà nước Việt nam dân chủ

đã ban hành bản Hiến pháp đầu tiên Sự ra đời của Hiến pháp 1946 đánh dấu

một thời kỳ phát triển mới của khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hiến

pháp nói riêng Tuy nhiên, quá trình hình thành khoa học luật hiến pháp Việt

nam diễn ra trong một thời gian dài sau đó Cũng như ở các nước khác trên

thế giới, khoa học luật hiến pháp Việt nam chí được hình thành và trở nên cần

thiết khi sự điều chỉnh của pháp luật các phương pháp và hình thức thực hiện

quyền lực Nhà nước đạt tới giai đoạn phát triển nhất định, khi trong mối quan

hệ thực tế giữa các cơ quan Nhà nước náy sinh ra những vấn để mà để giải

quyết đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý vững chắc

Từ khi hình thành cho đến nay, Lịch sử khoa học luật hiến pháp Việt

nam có thể được chia thành 3 giai đoạn chính Giai đoạn thứ nhất từ sau Cách

mạng Tháng tám cho đến trước 1980; giai đoạn thứ hai từ 1980 cho đến 1992;

giai đoạn thứ ba từ 1992 đến nay

đoạn đánh dấu sự hình thành khoa học luật hiến pháp Việt nam Hồ chủ tịch

là người khai sinh ra khoa học luật hiến pháp Việt nam Những quan điểm của

Người về Nhà nước dân chủ nhân dân, về Hiến pháp, về dân chủ và dân quyền

thể hiện trong các bài phát biểu, bài viết đã trở thành tư tưởng chủ đạo cho

việc thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam A, xây dựng

Hiến pháp 1946 và cho việc nghiên cứu và hoàn thiện những nội dung cơ bản

của khoa học luật hiến pháp Việt nam sau này

Trang 13

Nhìn chung, trong giai đoạn đầu khoa học luật hiến pháp Việt nam đã được hình thành và đạt được những thành tựu ban đầu, tuy nhiên trong các khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói 1'iêng, khoa học luật hiên pháp Việt nam còn chưa khẳng định được vị trí của mình.

2) Giai đoạn từ 1980 đến 1992 đánh dấu một bước phát triển mới củakhoa học luật hiến pháp Việt nam Trong điều kiện đất nước hoàn toàn giải

địa phương và cùng thực hiện một nhiệm vụ - quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước thì việc tăng cường biện pháp quản lý Nhà nước bằng pháp luật, tăng cường hiệu lực của pháp luật, tăng cường hiệu lực của bộ máy nhà nước đòi hỏi phải phát triển đồng bộ các khoa học pháp lý, trong đó có khoa học luật hiến pháp Vì vậy trong giai đoạn này xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về khoa học luật hiến pháp hơn so với giai đoạn trước

Nhìn chung, trong giai đoạn thứ hai khoa học luật hiến pháp Việt nam

đã đạt được những thành tựu lớn, nhờ vậy khoa học luật hiến pháp đã khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong hệ thống các khoa học pháp lý Tuy nhiên trong giai đoạn này khoa học luật hiến pháp mới chỉ dừng lại ở mức độ hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình mà chưa chú trọng nghiên cứu những vấn đề pháp lý mới nảy sinh liên quan đến nội dung cơ bản của khoa học luật hiến pháp, trong đó có cả kỹ thuật lập pháp

3) Giai đoạn từ 1992 cho đến nay là giai đoạn khoa học luật hiến pháp Việt nam đạt được sự phát triển mạnh mẽ nhất Sau hơn 10 năm thực hiện Hiến pháp 1980 cho thấy nhiều quy định của Hiến pháp không phù hợp với điều kiện thực tê của đất nước Co' chế tập trung quan liêu thế hiện trong các quy định của Hiến pháp không còn phù họp với đường lối đổi mới do Đại hội

VI của Đảng đề ra, vì vậy cần thiết phải sửa đổi Hiến pháp 1980

Việc xây dụng và ban hành Hiến pháp 1992 không chỉ thể hiện bước phát triển mới của thực tiễn xây dựng Nhà nước, mà còn là kết quả của những nhận thức mới và đầy đủ hơn của khoa học, trong đó có khoa học chính trị, khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật hiên pháp nói riêng Theo nhận thức mới, những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học pháp lý nói chung, khoa

Trang 14

học luật hiến pháp nói riêng phái luôn được bổ xung hoàn thiện cho phù hợp

đường lối đổi mới của Đảng, phù họp với điều kiện thực tế của đất nước, thậm

chí có những vấn đề cần phái nghiên cứu để xây dựng lại xây dựng mới Trên

tinh thần đó nhiệm vụ của khoa học luật hiến pháp Việt nam trong giai đoạn

này bên cạnh việc luận giải làm sáng tỏ nội dung của Hiến pháp mới, phân

tích khía cạnh pháp lý trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước,

trong việc xây dựng và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, còn phải

nghiên cứu tìm ra những bất cập, hạn chế, thiếu ót trong các quy định của

pháp luậỉTqua đó đề ra những giải pháp đề hoàn thiện chúng

Cũng trong giai đoạn này, khoa học luật hiến pháp đã đóng góp một

phần tích cực tạo cơ sở lý luận cho việc sửa đổi, bổ xung một số điều của

Hiến pháp 1992 Sự sửa đổi, bổ xung này đã tạo tiền đề cho việc tiếp tục công

cuộc đổi mới đất nước

tiên của Việt nam - Hiến pháp 1946

Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam gắn liền với lịch sử cách

mạng Việt nam và vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam mà đứng đầu

là Chủ Tịch Hổ Chí Minh vĩ đại Chính Người đã sáng lập ra Đảng CSVN,

Nhà nước VNDCCH ( hiện nay là nhà nước CHXHCNVN) và đặt nền móng

đẩu tiên cho sự ra đời của nền lập hiến VN Cho đến nay, lịch sử lập hiến Việt

nam đã trải qua hơn một phần hai thế kỉ với bốn bản Hiến pháp: Hiến pháp

1946, 1959, 1980, 1992 và 1992 sửa đổi, trong đó Người là trưởng Ban dự thảo, trực tiếp chỉ đạo dự thảo Hiến pháp 1946 và 1959 Các bản Hiến pháp

sau này tuy Người đã ra đi không còn trực tiếp chỉ đạo nhưng những tư tưởng của Người về một nền lập hiến dân chủ, tiến bộ, nhân đạo và tiên tiến hiện đại

vẫn mang tính thời sự nóng bỏng

Để có được bản hiến pháp 1946 gồm Lời nói đầu, 7 chương, 70 điều do Quốc Hội khoá I thông qua ngày 9-11-1946, Hồ Chủ Tịch đã dành bao công sức, tâm huyết và trí tuệ với một quá trình chuẩn bị lâu dài kể từ khi Người đi tìm đường cứu nước Năm 1919 tại Pháp, Người đã gửi bản" yêu sách của

Trang 15

nhân dân An Nam" đên hội nghị Vecxây Nội dung Bản yêu sách yêu cầu phải cải cách sự cai trị của thực dân tại Đông dương thông qua viêc công nhận

sự bình đẳng của công dân nước bản xứ với công dân các nước châu âu Xoá

bỏ sự áp bức bóc lột và công nhận các quyền tư do dân chủ của người dân An Nam." Thay thế chê độ sắc lệnh bằng chế độ Luật" Để nhân dân hiểu^ễ làng nội dung Bản yêu sách, năm 1922 Người đã diễn ca Bản yêu sách trong bài" Việt Nam yêu cầu ca" trong đó có hai câu nổi tiếng:

Bảy xin hiến pháp ban hànhTrăm điều phải có thần linh pháp quyền"(5)

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày3-9-1945, tại phiên họp đầu tiên của chính phủ, một lần nữa Hồ Chủ Tịch tiếp tục khẳng định quan điểm, tư tưởng lập hiến và tính cấp bách của việc ban hành Hiến pháp, Người nói: " Trước chúng ta đã bị chê độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tư do dân chủ, chúng ta phải

có một hiến pháp dân chủ

Theo quan điểm của Hồ Chủ Tịch, muốn có một bản Hiến pháp thật sự dân chủ thì trước hết bản Hiến pháp phải được xây dựng một cách hợp hiến và hợp pháp Bản Hiến pháp phải do chính nhân dân Việt nam, thông qua người đại diện của mình, trực tiếp xây dựng nên, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt nam Do vậy tại phiên họp đầu tiên của chính phủ, Người đề nghị phải "tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu

cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống."

Mặc dù trong hoàn cảnh hết sức phức tạp về chính trị nhưng quá trình xây dựng Hiến pháp được tiến hành theo đúng thủ tục, trình tự lập hiến Việc công bố dự thảo Hiến pháp trên phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vừa bảo đám về mặt thủ tục, vừa góp phần vào việc tuyên truyền giáo dục, tạo điều kiện để nhân dân hiểu và lựa chọn thể chê dân chủ gắn với nhiệm vụ chính trị quan trọng đó là bầu cử để thiết lập nhà nước VNDCCH

Trang 16

Ngay sau khi được thành lập, Quốc Hội khoá I đã ra nghị quyết thành

lập u ỷ ban dự thảo hiến pháp gồm 11 người do Hồ Chủ Tịch đứng đầu để tiếp

tục hoàn thiện dự tháo Hiến pháp trước đó Tại kỳ họp thứ II Quốc Hội khoá I

(từ 28-10 đến 10-11 năm 1946), Quốc hội đã giành 2/3 thời gian của chương

trình nghị sự để tháo luận và thông qua Hiến Pháp Đáy là một nét đặc thù

tiêu biểu thể hiện quyết tâm của chính quyền nhân dân đặc biệt là Hồ Chủ

Tịch trong việc xây dựng cho chính quyền non trẻ một đạo luật cơ bản như

một nguồn lực lớn tạo thế vững vàng cho chính quyền trở thành vũ khí cần

thiết của Đảng và nhân dân tiếp tục cuộc đấu tranh cách mạng

Ngày 9 tháng 1 1 năm 1946, Quốc Hội khoá I đã nhất trí thông qua bản

Hiến Pháp đầu tiên của nhà nước VNDCCH — Hiến pháp 1946

chê độ xã hội nước CH X H C N Việt Nam

Các chế định về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, ,chế độ văn hóa, giáo

dục, khoa học, công nghệ (gọi chung là các chế định về chế độ xã hội) là

những nội dung quan trọng của luật hiến pháp Việl Nam được quy định trong

các bản Hiến pháp Chê định về chế độ xã hội phản ánh điều kiện kinh tế - xã

hội sôi động và phát triển trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam Việc

quy định các chế định về chế độ xã hội trong Hiến pháp cả về nội dung và

hình thức phụ thuộc rất nhiều vào khoa học luật hiến pháp Khoa học luật hiến

pháp có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu, đề xuất để thể hiện các

quy phạm, các chế định hoặc sửa đổi, bổ sung các quy phạm, các chế định

của luật hiến pháp vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính khoa học để điều

chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, phục vụ cho

nhiệm vụ cách mạng của đất nước

Sự phát triển của chế định về chế độ xã hội qua các Hiến pháp Việt

nam không những gắn liền với lịch sử phát triển của cách mạng Việt nam mà

còn thể hiện rất rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam Chính các

quan điểm, tư tưởng có tính định hướng và chỉ đạo của Đảng ta về xây dựng

Trang 17

và hoàn thiện chế độ chính trị, chê độ kinh tế, chế độ văn hóa, giáo dục, khoa

học, công nghệ được ghi nhận trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

của Đảng là những luận cứ khoa học và cơ sở chính trị - xã hội đế luật hiên

pháp thể chế hóa, cụ thể hóa để đưa đường lối, chính sách của Đáng vào thực

tế cuộc sống

và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Quyển và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một trong những chê định cơ

bản của bất kỳ bản Hiến pháp nước nào trên thế giới, là đối tượng nghiên cứu

quan trọng và lâu đời của khoa học luật hiến pháp

Cho đến nay lịch sử lập hiến Việt Nam mới có năm 57 năm, một

khoảng thời gian không dài so với lịch sử lập hiến hơn 200 năm của nhân

loại nhưng lịch sử lập hiến nước ta đã có 4 bản Hiến pháp đánh dấu 4 giai

đoạn phát triển của Nhà nước Việt Nam từ Nhà nước dân chủ nhân dân đến

Nhà nước xã hội chủ nghĩa Cùng với sự phát triển của các chê định khác,

chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng phát triển ngày càng

hoàn thiện và phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước

Bốn bản Hiến pháp Việt nam đã đánh dấu bốn giai đoạn phát triển

của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân từ thấp đến cao, từ

số lượng đến chất lượng, từ hình thức đến nội dung Sự phát triển này gắn

liền với sự phát triển của khoa học Luật hiến pháp Việt nam Bởi khoa học

luật hiến pháp đã đóng góp về mặt lý luận đề cho những quy định của Hiến

pháp nói chung và quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân nói riêng

ngày càng được đầy đủ, chính xác và hoàn thiện hơn Sự phát triển của

chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo hướng bổ sung, sửa

đổi, mở rộng các quyền và nghĩa vụ phù hợp với sự phát triển của kinh tế

xã hội ở thời điểm mà mỗi bản Hiến pháp được ban hành cùng với sự phát

triển vể số lượng và nội dung các quyền và nghĩa vụ cơ bán của công dân

còn thể hiện mối quan hệ pháp lý đặc biệt giữa Nhà nước với công dân

Trang 18

thông qua việc Hiến pháp xác định cụ thể, rõ ràng hơn trách nhiệm của

Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bán của

công dân, cũng như các quy định chặt chẽ nhằm ngăn ngừa và xử lý

nghiêm minh những hành vi lợi dung các quyền tự do, dân chủ để làm trái

pháp luật hoặc có những hành vi lạm quyền của các tổ chức, cá nhân xâm

phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

máy n hà nước Việt Nam

theo Hiến pháp 1946 Trong giai đoạn này, Hồ Chủ Tịch đóng vai trò quan

trọng trong quá trình soạn thảo, thảo luận bản Hiến pháp đầu tiên của nước

Việt nam Bên cạnh quan điểm của Hồ Chủ tịch còn xuất hiện quan điểm thứ

hai, thể hiện trong dự thảo của Ưỷ ban kiến thiết quốc gia do Chính phủ thành

lập Những người ủng hộ quan điểm này là các nhân sĩ tri thức trong nước

như: Luật sư Phan Anh, Trần Văn Chương Vũ Văn Hiền; những giáo sư khoa

học như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xiển, Tạ Quang Bửu; những nhà nghiên

cứu khoa học như: Đặng Thai Mai, Cù Huy Cận Dự thảo này chủ trương

thiết lập một chế độ đại nghị với hai Viện dârt biểu (Hạ nghị viện và Thượng

nghị viện) phỏng theo mô bản chế độ đại nghị phương Tây Tuy nhiên có sự

điéu chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước là xây dựng một

Hiến pháp theo chế độ dân chủ mới

Trên tinh thần đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong nước,

Quốc hội đã thông qua Hiến pháp theo tinh thần của u ỷ ban dự thảo Hiến

pháp, có sự nhượng bộ như chấp nhận một số cơ cấu, tổ chức chưa phải hoàn

toàn theo kiểu dân u ỷ Chẳng hạn, cơ quan có quyền cao nhất của toàn quốc

không phải là Quốc hội mà gọi là Nghị viện nhân dân (tức là Viện đại biếu

nhân dân toàn quốc), Nghị viện thành lập ra Chính phủ, đứng đầu Chính phủ

là Chủ tịch nước Chủ tịch nước tuy do Nghị viện nhân dân bầu ra nhưng Chủ

tịch nước lại giữ một vị trí khá độc lập trong mối quan hệ với Nghị viện

Trang 19

1.6.2 Khoa học Luật hiên pháp với việc xây dựng hộ máy Nhà nước

theo H iến pháp 1959 Trong giai đoạn này Khoa học luật hiến pháp đã góp

phần xây dựng bộ máy Nhà nước theo mô hình kiểu mới nhằm bảo đảm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt nam là: Đấu tranh thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Vì vậy, khác với thiết chế cơ cấu quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 khi quy định về tính chất, nhiệm vụ, chức năng cũng như mối quan

hệ hoạt động giữa cơ quan đại diện với các thiết chê khác trong bộ máy Nhà nước, đã thể hiện rõ hơn tính thống nhất quyền lực cũng như nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghía đã được vận dụng mạnh mẽ

Tuy nhiên, Khoa học luật hiến pháp đã chỉ ra rằng, cơ chế quyền lực Nhà nước thời kỳ này vẫn chưa hoàn toàn là cơ chế quyền lực Nhà nước kiểu

xã hội chủ nghĩa thuần tuý Điều này thể hiện ở sự xuất hiện của chế định Nguyên thủ quốc gia cá nhân, hơn nữa Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra nhưng chọn trong nhân dân chứ không phải chọn trong Quốc hội và phải từ 35 tuổi trở lên So với Hiến pháp 1946, chế định Nguyên thủ quốc gia đã có nhiều thay đổi căn bản do các yếu tố phân quyền không còn được áp dụng trong các quan hệ quyền lực

1.6.3 Khoa học Luật hiển pháp với việc nghiên cứu tổ chức bộ máy

Nhà nước theo Hiến pháp 1980 Giai đoạn này đánh dấu một bước phát triển

mới trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta Vì vậy, đây cũng là giai đoạn phát triển của Khoa học luật hiến pháp Trong giai đoạn này Khoa học luật hiến pháp tập trung nỗ lực nhằm biện giải tính hợp lý của mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước theo quan điểm "tập quyền rắn", theo đó toàn bộ quyền lực tập trung vào Quốc hội — cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Quốc hội và Hội đồng nhân dân hợp thành hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước Các cơ quan Nhà nước khác đều do cơ quan quyền lực Nhà nước thành lập ra và nhận được quyền lực từ cơ quan này

Chế định Chính phủ cũng được cải cách theo hướng tăng cường tính thống nhất và tập trung quyền lực vào Quốc hội Hội đổng Chính phủ được thay bằng Hội đồng Bộ trưởng Hội đồng Bộ trưởng là Chính phủ của nước

Trang 20

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và hành chính Nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Theo đó, chức năng chấp hành và chức năng hành chính được thực hiện trong phạm vi nhân danh là cơ quan của Quốc hội Tư cách của Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà mrớc đã được chuyển thành cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của Quốc hội.

1.6 4 Khoa học Luật hiến pháp với việc nghiên cứu tó chức bộ máx

Nhà nước theo Hiến pháp 1992 Hiến pháp 1992 ra đời đánh dấu một bước

phát triển mới của nền lộp hiến Việt nam cũng như Khoa học luật hiến pháp Việt nam nói chung

Trong suốt quá trình soạn tháo Hiến pháp 1992, trên cơ sở quan điểm đường lối của Đảng, Khoa học luật hiến pháp đã chỉ ra sự cần thiết phải thay đổi cách tiếp cận nguyên tắc "tập quyền rắn" sang nguyên tắc "tập quyền mềm" Theo đó, Quốc hội vẫn được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng Quốc hội không thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; Chính phủ là cơ quan Hành chính Nhà nước cao nhất của nước Việt nam, thực hiện quyến hành pháp; Toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng tư pháp

Như vậy với sự đóng góp của mình, Khoa học luật hiến pháp đã góp phần tích cực vào công cuộc đổi mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới mà Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra

1.6.5 Khoa học Luật hiến pháp với việc sửa đổi Hiến pháp 1992

Trong tiến trình chuyển sang chặng đường mới, trước các yêu cầu của hội nhập khu vực và toàn cầu hoá kinh tế, bộ máy Nhà nước cần được tiếp tục đổi mới, kiện toàn Hội nghị Trung ương 7 khoá VIII đã đưa ra chủ trương sửa đổi Hiến pháp 1992 là: “Tổ chức việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số vấn

đề về tổ chức bộ máy các cơ quan Nhà nước liên quan đến Hiên pháp 1992” Trên tinh thần đó của Đảng, Khoa học Luật hiến pháp đã tích cực đẩy mạng nhiệm vụ nghiên cứu nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc sửa đổi, bổ xung Hiến pháp 1992 Để đạt được mục đích này, Khoa học luật hiến pháp đã tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

Trang 21

Thử nhất, vận dung hạl nhân họp lý của nguyên tắc phân quyền trong tổ

chức bộ máy Nhà nước

Tlìứ hai, nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà

nước nhằm bảo đảm nguyên tắc quyền lực Nhà nước thống nhất, có sư phán công phối họp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

Kết quá nghiên cứu của các nhà khoa học Luật hiến pháp đã góp phần tạo cơ sở pháp lý cho việc sửa đổi, bổ xung Hiến pháp 1992

Nam trong giai đoạn tói

Trong giai đoạn hiện nay, xuất phát từ yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân từ; những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện đã đặt ra những yêu cầu và nhiệm vụ mới cho khoa học pháp lý nói chung, Khoa học Luật hiến pháp nói riêng

Để đáp ứng những yêu cầu nêu trên, trong giai đoạn tới, việc nghiên cứu của Khoa học Luật hiến pháp cần phải tập trung vào những vấn đề sau đây:

- Tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng CSVN, của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khoa học Luật hiến pháp, ngành Luật hiến pháp Việt Nam;

- Trên cơ sỏ' nghiên cứu nội dung của Luật hiến pháp qua từng thời kỳ,

từ đó tìm ra những điểm kế thừa và phát triển của Luật hiến pháp trong giai đoạn hiện nay;

- Tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ nội dung khoa học quan điếm của Đảng vể nguyên tắc quyền lực Nhà nước thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp;

TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 22

Tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ những yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam;

- Ngoài ra, khoa học Luật hiến pháp cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu đến những vấn đề tương ứng trong khoa học Luật hiến pháp của các nước trên thế giới, trên cơ sỏ' nghiên cứu đó có thể tiếp thu một cách có chọn lọc vào việc hoàn thiện các chế định của luật hiến pháp Việt nam

Trang 23

Phần II KHOA H O C LUẬT H IẾN PH Á P NƯỚC NGOÀI

sự ra đòi của Hiến pháp nước Anh

Cho đến nay, Anh là một trong số ít nước có Hiến pháp được xếp vào

loại Hiến pháp bất thành văn Hiến pháp của nước Anh bao gồm nhiều văn

bản luật do Nghị viện ban hành Ngoài ra Hiến pháp Anh còn bao hàm cả một

sô tập quán Hiến pháp và án lệ

Những văn bản mang tính chất Hiến pháp đầu tiên của nước Anh có thể

kể đến: Hiến chương tự do năm 1215, Thoả ước mang tên Oxford Năm

1258,Thỉnh cầu về các quyền năm 1628D

Trong quá trình hình thành và phát triển của Hiến pháp Anh, tư tưởng

của một sô nhà chính trị, triết học đóng vai trò đặc -biệt quan trọng, trong đó

có thể kể đến một số học giả sau:

Tomac Hoff (1588-1679) Cơ sở xây dựng tư tưởng của T.Hoff về Nhà

nước và pháp luật là quan điểm của ông về trạng thái tự nhiên của con người

Theo ông, tất cả mọi ngươi được sinh ra bình đẳng về thể lực và trí lực, cũng

như mọi người khác mỗi người đều có “quyền đối với mọi người” Ông cho

rằng Nhà nước được thành lập ra bằng con đường thoả ước để bảo vệ tự do cá

nhân Theo đó, từng cá nhân uỷ Iihiệm cho một người (hay một cơ quan)

quyền lực tối cao Người mang quyền lực tối cao là người mang chủ quyền, có quyền tối cao và tuyệt đối đối với mọi thần dân của mình

Một nhà tư tưởng khác đóng vai trò quan trọng đối với nền lập hiến nước Anh ở thời kỳ này là John Eliot Ông cũng được coi là một trong những người đặt nền móng cho chủ nghĩa lập hiến của Anh J.Eliot ủng hộ việc giữ gìn, bảo vệ truyền thống của nước Anh, đồng thời kêu gọi phục hồi lại truyền thống đó ở những nơi nào chúng bị xâm phạm

Jonh Locke (1632-1704) Theo J.Locke, trong số các quyền tự nhiên vốn có của công dân, họ có quyền sống, quyền tự do tham gia vào công việc

xã hội, chính trị Ông cho rằng, toàn bộ hệ thống chính trị được thiết lập nhằm

Trang 24

mục đích báo đảm các quyền cơ bán của con người, vì vậy cần phái giới hạn

quyền lực chính trị, đưa quyền lực đó vào trong một khuôn khổ nhất định

Đồng thời J.Locke đưa ra một số phương thức thực hiện mục đích đó Trong

sô các phương thức nêu ra, ông đặc biệt nhấn mạnh đến pháp chế và phân chia

quyền lực Chính những tư tưởng này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát

triển của khoa học luật hiến pháp Anh cũng như của các nước tư sản trong

giai đoạn sau này

Thế ký 18 đánh dấu sự sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghía đại nghị và

nền dân chủ của nước Anh: hệ thống đảng chính trị, chê độ nội các, chế độ

Chính phủ chịu trách nhiệm chính trị trước Nghị viện được thiết lập; thoát

khỏi sự ảnh hưởng sâu sắc từ phía Nhà vua, hoạt động của Nghị viện trở nên

độc lập; hoạt động của cơ quan xét xử trở nên độc lập hơn khi các thẩm phán

được bổ nhiệm với nhiệm kỳ suốt đời

Trong số các nhà tư tưởng Anh nửa đầu thế kỷ 18 phải kể đến J Hume

(171 i -1776) J Hume ca ngợi Hiến pháp Anh và học thuyết phân chia quyền

lực Ông lên tiếng bảo vệ tự do báo chí, đồng thời ông coi tự do báo chí là bảo

đảm hữu hiệu sự tổn tại của chính thể hiện hành J.Hume cho lằng, ở Nhà

nước Anh viện Bình dân đóng vai trò quan trọng nhất Tuy nhiên ông lại

không ủng hộ xu hướng dân chủ hoá hệ thống chính trị của Nhà nước Anh và

sự thiết lập chế độ đại diện nhân dân, bởi vì, theo ông trong điều kiện đó

Chính phủ sẽ là của đa số Mặc dù vậy J.Hume lên tiếng phản đối việc trực

tiếp đàn áp nhân dân, ông ủng hộ việc lựa chọn phương pháp lãnh đạo mềm

dẻo và có hiệu quả của tầng lớp thượng lưu trong xã hội

Hiến pháp th àn h văn đầu tiên của nhân loại

Mỹ là nước đầu tiên trên thê giới thông qua bản Hiến pháp thành văn

Lịch sử lập hiến của Nhà nước Mỹ gắn liền với lịch sử của cuộc đấu tranh

giành độc lập của nhân dân Mỹ chống ách đô hộ của nước thuộc địa Anh

Cũng vì Mỹ là nước thuộc địa của Anh và một số nước châu Âu khác, bởi vậy

tư tưởng lập hiến của các nhà sáng lập ra nước Mỹ cũng chịu ảnh hưởng bởi

Trang 25

các tư tướng chính trị pháp lý của các học giả Anh Tuy nhiên, những người khai sinh ra Hiến pháp Mỹ đã biết kết hợp một cách khôn khéo tư tưởng của các học giả Anh, Pháp với thực tiễn chính trị lúc bấy giờ của Nhà nước Mỹ để xây dựng một bản Hiến pháp mang dấu ấn của riêng mình.

Cùng với tư tưởng về chế độ Nghị viện hai viện, tư tưởng phán quyền cũng được các nhà cách mạng Mỹ đề cập đến trong quá trình xây dựng Hiến

pháp ở các bang Trong số đó, trước hết phái kể đến John Adams Năm 1776,

trong một bài viết với tựa đề “Quan niệm về Nhà nước” (Thoughts on Government), J.Adams đã hình thành định đề về phân chia quyền lực

Tư tưởng phân quyền và hệ thống “kiềm chế, đối trọng” được thể hiện

rõ nét nhất trong Hiến pháp bang Massachusets năm 1780 Dự thảo Hiến pháp

do chính John Adams soạn thảo Hiến pháp 1780 thiết lập chế độ Nghị viện hai viện Thành viên cả hai viện do nhân dân bầu ra mỗi năm một lẩn theo chế độ

Sau nhiều tháng tranh luận, cùng với những thoả thuận nhượng bộ, cuối cùng Hiến pháp thành văn đầu tiên trong lịch sử nhãn loại, Hiến pháp của Nhà nước liên bang mới ra đời Hiến pháp đã thiết lập nền cộng hoà dân chủ

tư sản trên toàn bộ lãnh thổ nước Mỹ Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước đã chính thức bãi bỏ các tước hiệu quý tộc, thủ tiêu những đặc quyền đẳng cấp, hiện thực hoá vào cuộc sống nguyên tắc đại diện nhân dân, công bằng và phân quyền Hiến pháp tạo cơ sở cho việc xây dựng một liên minh chính trị vững chắc giữa các bang, thiết lập một chính quyển trung ương mạnh, có hiệu quả Bản Hiến pháp 1787 là kết quả của một bước tiến dài về nhận thức chính trị của các nhà cách mạng Mỹ trong việc nắm bắt nghệ thuật xây dựng Nhà nước, trong việc thiết lập hình thức chính thể cộng hoà trên cơ sở nguyên tắc của chủ nghĩa lạp hiến tự do với mục đích thủ tiêu vĩnh viễn chế độ Nhà nước chuyên chế Với những ý nghĩa đó, Hiến pháp 1787 đã trở thành biểu tượng cao quý nhất của cuộc cách mạng tư sản Mỹ Học giả người Mỹ G Apteker khẳng định, tư tưởng Hiến pháp thành văn trong đó thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước được xác định rõ ràng là sự hoàn tất lô gích của cuộc cách mạng Mỹ Việc liệt kê thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước trong một văn

Trang 26

bản pháp lý theo hình thức nhất định là biểu hiện rõ nét nhất tư tưởng chính trị khoa học, vì vậy chính bản thân Hiến pháp là sự khẳng định những nguyên tắc của kỷ nguyên trí tuệ

Bản Hiến pháp mà Hội nghị Philadephia thông qua là bản Hiến pháp dán chủ tư sản tiến bộ Hiến pháp tiếp tục truyền thống chính trị của nhữno lực lượng xã hội lãnh đạo cuộc cách mạng Mỹ năm 1776

2.3 Sự hình thành và phát triển của Hiến pháp XHCN

Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 do giai cấp công nhân, nông dân Nga thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nga, đứng đầu

là V.I.Lênin đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại, thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội

Ngay sau khi giành được chính quyền, Nhà nước Xô viết đã thực hiện những biện pháp cấp bách nhằm bảo vệ thành quả của cuộc Cách mạng, thiết lập cơ sở kinh tế xã hội cho chế độ kiểu mới Một trong những biện pháp đó

là ban hành các sắc lệnh tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước kiểu mới Nhà nước chuyên chính vô sản Trong số các sắc lệnh, trước hết phải kể đến Sắc lệnh về thành lập Hội đồng dân uỷ, sắc lệnh về mộng đất

và Sắc lệnh về hoà bình

Tất cả những sắc lệnh nêu trên đã tạo cơ sở cho sự ra đời của bản Hiến pháp đẩu tiên của Nhà nước Nga Xô viết, đổng thời cũng là bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Hiến pháp 1918

Các bản Hiến pháp tiếp theo sau của Nhà nước Liên xô là Hiến pháp

1924, 1936, 1977 Mỗi bản Hiến pháp đánh dấu một bước phát triển mới cua nền lập hiến Xô viết nói riêng, nền lập hiến xã hội chủ nghĩa nói chung

Sau chiến tranh thế giới thứ hai một loạt các nước Đông Âu, một sô nước ở châu Á đã thông qua Hiến pháp kiểu mới - Hiến pháp của Nhà nước dân chủ nhân dân Có thể kể đến Hiến pháp Anbani năm 1946, Hiến pháp Nam Tư năm 1946, Hiến pháp Rumani năm 1948, Hiến pháp Hunggari năm

1949, Hiến pháp Ba Lan năm 1952, Hiến pháp Cộng hoà dân chủ Đức năm

1949, Hiến pháp Trung Quốc năm 1954

Trang 27

Sau khi cuộc cách mạng dân chủ nhân dân giành được thắng lợi, từ cuối những năm 70 đầu những năm 80, các nước xã hội chủ nghía Đông Âu

Cu Ba, Trung Quốc, Việt nam., đã thông qua Hiến pháp mới - của Nhà nước

xã hội chủ nghía

Điểm lại lịch sử lập hiến cũng như nội dung Hiến pháp của các nước xã hội chú nghĩa có thể đưa ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, sự phát triển của nền lập hiến của các nước xã hội chủ nghía

chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi nền lập hiến Xô viết Các nước xã hội chủ nghĩa khi soạn thảo Hiến pháp của mình đã sử dụng kinh nghiệm được đúc kết trong lịch sử lập hiến của Liên xô Ngược lại, trong quá trình xây dựng Hiến pháp của Nhà nước minh, Liên xô cũng đã sử dụng kinh nghiệm lập hiến của các nước xã hội chủ nghĩa khác;

Thứ hai, Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa đều khẳng định bản chất

giai cấp công nhân của Nhà nước mình

Thứ ha, Hiến pháp xã hội chủ nghĩa tuyên bố toàn bộ quyền lực trong

nước thuộc về nhân dân; nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan đại diện do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Bên cạnh đó Hiến pháp của các nước xã hội chủ nghĩa còn chú trọng đến việc phát huy hìiih thức dân chủ trực tiếp bàng các quy định về quyền tự do dân chủ của công dân

Thứ tư, trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp chiếm vị trí đặc

biệt quan trọng V.I.Lênin đã gọi Hiến pháp là Luật cơ bản của Nhà nước Xô viết(7) Hiến pháp của các nước Hunggari, Ba Lan, Trung quốc Triều tiên□ cũng đều xác định Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước

Ngoài ra, Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa còn là văn bản pháp luật cao nhất thê hiện đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Thứ năm, một đặc điểm nổi bật của Hiến pháp xã hội chủ nghĩa thể

hiện ở tính định hướng xã hội của Hiến pháp So với Hiến pháp tư sản, bên cạnh vấn đề tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước, tổ chức bộ máy Nhà nước, Hiến pháp xã hội chủ nghĩa mở rộng phạm vi điều chỉnh ra các lĩnh vực kinh

tế xã hội Vì vậy Hiến pháp xã hội chủ nghĩa còn được gọi là Hiến pháp xã hội

Trang 28

2.4 Sự hình thành và phát triển của khoa học L uật hiến pháp trên

th ế giới

Phải nói rằng, trên thê giới sự ra đời của khoa học luật hiến pháp gắn

liền với cuộc cách mạng tư sản Tuy nhiên, đã từ lâu, những vấn đề liên quan

đến đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hiến pháp đã được các nhà tư

tướng triết học chính trị đề cập đến Thời kỳ cổ đại có Platon (427-374 trước

Công nguyên), Aristote (384-322 trước Công nguyên), Polybe (201-120 tnrớc

Công nguyên) Đến thời kỳ phong kiến chuyên chẽ có Boden (1530-1596)

Grotius (1583-1645), Xpinoza (1632-1677) Đến cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18

vấn đề tổ chức Nhà nước không những được các nhà tư tưởng lớn như John

Lock (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Rousseau (1712-1778), mà còn

được các nhà triết học cổ điển Đức như Heghen, Kant quan tâm nghiên cứu

Sau này, những tư tưởng của các học giả nói trên đã trở thành nền tảng cho

các trường phái luật hiến pháp khác nhau Trên thế giới, lịch sử phát triển

khoa học Luật hiến pháp được chia thành 3 giai đoạn: từ cuối thế kỷ 19 đến

đầu thế kỷ 20; nửa đầu thế kỷ 20; từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 cho đến nay

+ Trong giai đoạn thứ nhất, chủ nghĩa thực chứng mà đại diện là trường

phái Pháp quyền, hay còn được gọi là trường phái c ổ điển đóng vai trò chủ

đạo trong khoa học luật hiến pháp Các học giả đại diện của trường phái này

là P.Laband, A.Esmein, V.Orlando, Corcunop v.v Những học giả này đã đưa

ra những khái niệm về các phạm trù của khoa học luật hiến pháp Họ đã xây dựng những cấu trúc pháp lý có tầm quan trọng cho sự phát triển của khoa học luật hiến pháp trong giai đoạn sau

+ Trong giai đoạn thứ hai, khoa học luật hiến pháp ở các nước phương tây phát triển theo hai hướng Một mặt khoa học luật hiến pháp tiếp tục xây dựng những cấu trúc quy phạm pháp luật hình thức, trong đó Nhà nước càng được pháp lý hoá và trở thành “người giữ gìn trật tự pháp luật” Mặt khác, trong khoa học luật hiến pháp xuất hiện khuynh hướng xã hội hoá Khuynh hướng trở nên giữ vai trò chú đạo trong khoa học luật hiến pháp giai đoạn sau

Trang 29

+ Sau chiến tranh thê giới thứ 2 khoa học luật hiến pháp thế giới xuất hiện thêm một trường phái mới, trường phái xã hội chủ nghĩa Sự xuất hiện nền lập hiến xã hội chủ nghĩa cũng như áp lực mạnh mẽ của phong trào dân chủ chống phát xít đòi hỏi sự cải cách cơ bản vể chế độ chính trị và xã hội ở trong lòng xã hội phương tây đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của khoa học luật hiến pháp ở các nước phương tây Trong khoa học luật hiến pháp phương tây xuất hiện một khuynh hướng mới — khuynh hướng dân chủ hoá

và quốc tế hoá luật hiến pháp Biểu hiện của khuynh hướng này là sự thay thế chê độ bầu cử hạn chế bằng chế độ bầu cử phổ thông, mỏ' rộng các quyền tự

do dân chủ cá nhân Những chế định dân chủ mới như trưng cầu ý dân, giám

sát hiến pháp, tư pháp hành chính được thiết lập ở hầu hết các nước phương

tây Bên cạnh đó trong Hiến pháp của hầu hết các nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận ưu thế của luật pháp quốc tế trước pháp luật trong nước

Trang 30

Chuyên đề 1

M Ộ T SỐ VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỂ KHOA H O C LUẬT HIẾN PHÁP V IỆT NAMTheo truyền thống chung của các nước xã hội chủ nghĩa, tương ứng với một ngành luật thường có một khoa học pháp lý nghiên cứu về ngành luật

đó Và khoa học pháp lý này được gọi là khoa học pháp lý chuyên ngành Mỗi khoa học pháp lý chuyên ngành có đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu riêng

1 Đối tưựng nghiên cứu của khoa học luật hiến pháp Việt nam

Khoa học luật Hiến pháp nghiên cứu dưới giác độ pháp lý vấn đề tổ chứcNhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam cũng như mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân

Để nghiên cứu tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, trước hết khoa học luật hiến pháp nghiên cứu chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hoá-xã hội, quốc phòng và an ninh Thông qua việc nghiên cứu này chúng ta thấy được, ở nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, ai

là chủ thể của quyền lực Nhà nước? ai là người nắm quyền lực Nhà nước? Nhà nước bảo vệ quyền lợi cho giai cấp, tầng lớp nào? cơ cấu xã hội gồm có giai tầng nào? địa vị của các giai tầng đó trong xã hội ra sao? Ngoài ra, việc nghiên cứu còn cho thấy ai là người nắm giữ các tư liệu sản xuất chủ yếu? chính sách văn hoá xã hội của Nhà nước

Để hiểu biết tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam chúng ta cần phải nghiên cứu cấu tróc hành chính Nhà nước, tức là sự phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ trong nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, mối quan hệ giữa trung ương với địa phương

Một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam là tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Trong đó bao gồm các cơ quan Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng nhân dân u ỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân chiếm một vị trí quan trọng trong số những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hiến

Trang 31

pháp Mối quan hệ này được thể hiện thông qua những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và những bảo đảm để công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.

Vấn để tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân được thiết lập bởi hệ thống quy phạm pháp luật Hệ thống các quy phạm pháp luật này hợp thành một ngành luật - ngành luật hiến pháp Một số quy phạm pháp luật hợp với nhau thành một chế định

Như vậy, để nghiên cứu vấn đề tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam Việt nam, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, khoa học luật hiến pháp phải nghiên cứu các chế định, các quy phạm của ngành luật hiến pháp

Luật hiến pháp Việt nam hình thành từ sau Cách mạng tháng Tám năm

1945, vì vậy đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hiến pháp bao gồm rất nhiều quy phạm và chế định khác nhau Có những quy phạm, chế định đã bị loại bỏ, có những quy phạm chê định mới ra đời Như vậy khoa học luật hiến pháp còn phải nghiên cứu cả quá trình hình thành và phát triển của các quy phạm, chế định của ngành luật hiến pháp Khoa học luật hiến pháp còn nghiên cứu cả thưc tiễn vân dung áp dung các quy pham, chế định đó nhằm dưa ra những luận cứ khoa học để hoàn thiện chúng Ví dụ, khi nghiên cứu thực tiễn vận hành của chề định Hội đồng Nhà nước theo Hiến pháp 1980, khoa học luật hiến pháp đã chỉ ra những điểm mạnh và những hạn chế của chế định này, đồng thời kiến nghị thay đổi chế định này bằng chế định u ỷ ban thường

vụ Quốc hội và chế định Chủ tịch nước như Hiến pháp hiện hành 1992

Các quy phạm luật hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định Những quan hệ xã hội này luôn ở trạng thái vận động và phát triển, vì vậy khoa học luật hiến pháp còn nghiên cứu cả những quan hệ xã hội đang được, cần được hay có thể được quy phạm luật hiến pháp điều chỉnh Ví dụ, dân chủ là một trong những vấn đề quan trọng của luật hiến pháp Khoa học luật hiến pháp nghiên cứu các hình thức thực hiện dân chủ Có hai hình thức

cơ bản: trực tiếp và gián tiếp Hai hình thức này được quy phạm luật hiến pháp điều chỉnh ở mức độ khác nhau Cho đến trước năm 1997, vấn đề phát huy quyền làm chủ của nhân dân đã được các Hiến pháp ghi nhận Tuy nhiên các biện pháp cụ thể, đặc biệt là đối với quyền làm chủ ở cơ sở chưa được quy

Trang 32

phạm luật hiến pháp đề cập đến Trên cơ sở những nghiên cứu của khoa học luật hiến pháp, Chính phủ đã ban hành quy chế thực hiện dân chủ ỏ cấp xã Quy chế điều chỉnh cụ thê mối quan hệ giữa Hội đổng nhân dân xã, u ỷ ban nhân dân xã với nhân dân địa phương trong việc họp bàn, quyết định các vấn

đề liên quan đến cuộc sống của người dân địa phương

2 Phương pháp nghiên cứu

Để hình thành một khoa học không những đòi hỏi phải có đối tượng nghiên cứu, mà còn phải có những phương pháp nghiên cứu nhất định Khoa học luật hiến pháp có các phương pháp nghiên cứu sau:

a Phương pháp biện chíMíỊ Mác-Lênin

Đây là phương pháp nghiên cứu chung cho tất cả các ngành khoa học

xã hội của nước ta Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu của mỗi ngành khoa học là khác nhau, vì vậy phương pháp này được các ngành khoa học vận dụng theo các góc độ khác nhau

Khi nghiên cứu các quy phạm, các chê định của ngành luật hiến pháp, khoa học luật hiến pháp phải xem xét chúng như là một bộ phận cấu thành của luật hiến pháp Vì vậy giữa chúng phải có mối quan hệ nhất định, mối quan hệ này phải được đặt trong sự thống nhất của luật hiến pháp Giữa các quy phạm, chế định của luật hiến pháp phải có sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau, mà không được mâu thuẫn đối lập nhau Ví dụ, giữa chế định về chế độ chính trị, chế định về chế độ kinh tế, chế định về chính sách văn hoá-xã hội của Nhà nước có liên quan mật thiết với nhau Giữa ba chế định này và chê định về quyền và nghĩa vụ công dân cũng như các chế định về các cơ quan trong bộ máy Nhà nước có liên quan chặt chẽ với nhau Bởi lẽ ba chế định nói trên tạo thành cơ sở của chê độ xã hội, mà cơ sở của chế độ xã hội cũng đồng thời là

cơ sở của cuộc của mọi công dân Ngoài ra chính cơ sở của chế độ xã hội tạo tiền đề cơ bản để xây dựng bộ máy Nhà nước Ngoài ra, việc nghiên cứu các chế định, quy phạm luật hiến pháp còn phải được đặt trong mối quan hệ thống nhất của hệ thống pháp luật Việt nam, coi chúng là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật Việt nam

Phương pháp biện chứng Mác-Lênin còn được sử dụng để nghiên cứu qúa trình phát triển của luật hiến pháp Cũng như bất cứ hiện tượng xã hội nào khác, pháp luật nói chung, luật hiến pháp nói riêng luôn biến đổi Sự biến đổi này nhằm đạt tới sự hoàn thiện Vì vậy khi nghiên cứu quá trình phát

Trang 33

triển của các quy phạm, chê định ngành luật hiến pháp, khoa học luật hiên pháp phải đặt chúng bối cảnh của sự vận động và phái triển không ngừng Qua

đó rút ra những kết luật, chi ra sự kê thừa và phát triển của các quy phạm và chế định luật hiến pháp

Những quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vấn đề tổ chức Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam Bởi vậy khi nghiên cứu quy phạm, chê định luật hiến pháp, khoa học luật hiến pháp phải đặt chúng trong mối quan hệ với vấn đề tổ chức Nhà nước, trong đó tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước là vấn đề trọng tâm

b phương pháp lịch sử

Phương pháp lịch sử đòi hỏi khi nghiên cứu các quy phạm, chế định, các quan hệ pháp luật luật hiến pháp, khoa học luật hiến pháp phải đặt chúng rtong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể Như c Mác đã chỉ ra rằng, pháp luật nói chung không thể vượt ra ngoài điều kiện kinh tế- xã hội, môi trường mà pháp luật đó tồn tại và phát triển Do đó nội dung của mỗi quy phạm, chế định, quan hệ pháp luật luật hiến pháp sẽ được hiểu đầy đủ khi chúng được nghiên cứu trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Ví dụ, vấn đề bản chất Nhà nước là

mang tính giai cấp Tuy nhiên Điều 1 Hiến pháp 1946 quy đinh: “ Tất cả

quyền bính trong nước là của toàn th ể nhân dân Việt nam, không phân biệt nòi giốníỊ, gái trui, giàu nạhètì, giai cấp, tôn giáo" Như vậy phải chăng Nhà

nước ta trong giai đoạn này không mang tính giai cấp nên quyền lực Nhà nước thuộc về mọi thành phần giai cấp trong xã hội? Vấn đề này chỉ được giải thích đầy đủ khi chúng ta hiểu được hoàn cảnh của đất nước trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945

Phương pháp lịch sử còn cho phép làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa sự phát triển của cách mạng Việt nam và sự phát triển của pháp luật nói chung, luật hiến pháp nói riêng Trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định, cách mạng Việt nam thực hiện những mục tiêu nhất định Vì vậy, cùng với sự thay đổi về điều kiện, nội dung của cách mạng Việt nam, luật hiến pháp Việt nam có những thay đổi nhất định cho phù hợp với mục tiêu chung của cách mạng

c phương pháp phán tích theo hệ thống chức nănq

Luật hiến pháp là một hệ thống, một bộ phận cấu thành trong hệ thống

29

Trang 34

khác nhỏ hơn Mỗi hệ thống đó đảm nhận một vai trò, chức năng nhất định Chúng được thống nhất trong luật hiến pháp bởi những nguyên tắc và nhiểu quan hệ khác nhau Việc sử dụng phương pháp phân tích theo hệ thống chức năng cho phép làm sáng tỏ vị trí vai trò của từng quy phạm, chế định luật hiến pháp trong hệ thống ngành luật hiến pháp Ví dụ, Toà án nhân dân tối cao và các Toà án nhân dân địa phương hợp thành hệ thống các cơ quan xét xử, thực hiện chức năng xét xử Tuy nhiên là một bộ phận họp thành của bộ máy Nhà nước, hệ thống Toà án nhân dân này phải được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, mà không được vượt

ra ngoài phạm vi của những nguyên tắc đó Trong hoạt động, các toà án có mối quan hệ mật thiết với hệ thống các cơ quan Nhà nước khác như cơ quan kiểm sát, cơ quan hành chính, đồng thời phải chịu sự kiểm tra giám sát của các cơ quan quyền lực Nhà nước

d phương pháp so sánh

Việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quy phạm, chế định luật hiến pháp đòi hỏi phải có sự so sánh giữa quy phạm, chế định mới với quy phạm chế định mới Phương pháp so sánh giúp khoa học luật hiến pháp phát hiện ra những bất cập, những hạn chế giữa các quy phạm, các chê định, các quan hệ pháp luật luật hiến pháp, qua đó đề ra phương hướng hoàn thiện chúng Phương pháp so sánh còn cho phép thấy được xu hướng phát triển của các quy phạm, chế định, quan hệ luật hiến pháp

Khi nghiên cứu, khoa học luật hiến pháp không chỉ bó hẹp trong phạm

vi các quy phạm, chế định, quan hệ luật hiến pháp, mà cần phải đối chiếu chúng với các quy phạm, chê định của các ngành luật khác để tìm ra mối quan hệ giữa luật hiến pháp và các ngành luật khác, vai trò của luật hiến pháp trong hệ thống pháp luật Việt nam

Phương pháp so sánh còn được sử dụng để so sánh, đối chiếu giữa luật hiến pháp Việt nam với các vấn đề tương ứng trong luật hiến pháp của các nước trên thế giới Việc so sánh này cho phép tìm ra những đặc điểm của luật hiến pháp Việt nam, đặc điểm của luật hiến pháp của các nước Qua đó giúp chúng ta học hỏi kinh nghiệm của các nước, tránh được những sai lầm mà các nước đã mắc phải trong quá trình xây dựng và hoàn thiện luật hiến pháp Việt nam

e phương pháp thốtiíỊ kê

Trang 35

Phương pháp cũng được sử dụng khá rộng rãi trong khoa học luật hiến pháp Việt nam, đặc biệt khi nghiên cứu về tổ chức bộ máy Nhà nước Phương pháp thống kê đòi hỏi sự tập hợp, phân tích các số liệu cụ thể trong các thời điểm khác nhau, qua đó giúp chúng ta rút ra được những nhận xét cần thiết

Ví dụ, sử dụng phương pháp thống kê để nghiên cứu tổ chức của Quốc hội nước ta trong những năm qua cho thấy:

- Quốc hội khoá I (1946-1960): ngoài Ban thường trực, Quốc hội thành lập một cơ quan chuyên môn nào;

- Quốc hội khoá II (1960-1964): ngoài u ỷ ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội còn thành lập hai u ỷ ban khác là Ưỷ ban Dự án pháp luật và u ỷ ban

Kế hoạch và ngân sách;

- Quốc hội khoá III (1964-1971): ngoài u ỷ ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội thành lập 5 u ỷ ban;

- Quốc hội khoá IV (1971-1975) vẫn duy trì như Quốc hội khoá III;

- Quốc hội khoá V (1971-1975): ngoài u ỷ ban thường vụ Quốc hội và 5

u ỷ ban đã có, Quốc hội thành lập thêm Ưỷ ban đối ngoại;

- Quốc hội khoá VI (1976-1981): vẫn duy trì như Quốc hội khoá V, trừ

u ý ban Thống nhất tự giải thể sau khi đất nước đã thống nhất;

- Quốc hội khoá VII (1981-1987) và Quốc hội khoá VIII (1987-1992): ngoài Hội đồng Nhà nước, Quốc hội thành lập 8 cơ quan chuyên môn, gồm Hội đồng dân tộc và 7 u ỷ ban thường trực khác;

- Quốc hội khoá IX (1992-1997) và Quốc hội khoá X (1997-2002): vẫn duy trì như Quốc hội khoá trước, tuy nhiên có sự đổi tên và sát nhập một số

u ỷ ban thường trực

Từ những con số thống kê nói trên cho thấy tổ chức của Quốc hội ngày càng được mở lộng, số lượng các cơ quan chuyên môn ngày càng gia tăng Điều này nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường vai trò của Quốc hội đối với tổ chức hoạt động của Nhà nước ta

Khoa học luật hiến pháp Việt nam không chỉ đơn thuần là sự tập hợp các tri thức về ngành luật hiến pháp, mà còn là một hệ thống nhất định những tri thức có liên quan chặt chẽ với nhau Hệ thống khoa học luật hiến pháp

Trang 36

phản ánh một cách khách quan đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hiến pháp Hệ thống khoa học luật hiến pháp gồm:

- Nhóm tri thức chung vể khoa học luật hiến pháp và ngành luật hiên pháp Nhóm tri thức này bao hàm những vấn để như đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, hệ thống ngành luật hiến pháp, nguồn của ngành luật hiến pháp; đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, hệ thống khoa học luật hiến pháp;

- Nhóm tri thức về Hiến pháp và lịch sử lập hiến Việt nam Nhóm tri thức này bao hàm các vấn đề như sự ra đời của Hiến pháp, bản chất Hiến pháp, đặc điểm vai trò của Hiên pháp, quá trình phát triển của Hiến pháp Việt nam;

- Nhóm tri thức tiếp theo đề cập đến những nội dung cụ thể của luật hiến pháp Trước hết là nhóm tri thức về cơ sở của chế độ xã hội và chính trị của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam Nhóm tri thức này bao hàm những vấn đề về chê độ xã hội, chế độ kinh tê của Nhà nước Cộng hoà

Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, chính sách văn hoá-xã hội, quôc phòng và an ninh của Nhà nước;

- Nhóm tri thức có liên quan mật thiết đến nhóm tri thức trên là nhóm tri thức về quan hệ giữa Nhà nước và công dân, thể hiện thông qua quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng như những bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ đó;

- Nhóm tri thức tiếp theo là nhóm tri thức về cấu trúc hành chính-Nhànước Nhóm tri thức này bao hàm các vấn đề như phân chia hành chính-lãnhthổ, mối quan hệ giữa trung ương và địa phương, thẩm quyền phân vạch, điều chỉnh địa giới giữa các địa phương;

- Nhóm tri thức về bộ máy Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việtnam Nhóm tri thức này bao gồm những vấn đề như trật tự hình thành, vị trí, tính chất, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan Nhà nước

Sự hình thành của một khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hiên pháp nói riêng không chí đơn thuần bởi khoa học ấy có đối tượng nghiên cứu

Trang 37

và phương pháp nghiên cứu, mà còn phải dựa trên cơ sỏ' lý luận nhất định Khoa học luật hiến pháp dựa trên những cơ sở lý luận sau:

- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về Nhà nước và pháp luật nói chung, Nhà nước và pháp luật Xã hội chủ nghĩa nói riêng Những quan điểm

đó được phản ánh trong các tác phẩm như: “Ngày 18 tììáng Sương mù của Lui

Pônapác” của C.Mác năm 1781, “Nguồn gốc của gia đình, của tư hữu và Nhà nước" của Ph.Ảngghen năm 1884, “ /V//Ờ nước và Cách m ạng' năm 1917,

“ Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết” năm 1918 của V.I.Lênin

Trong những tác phẩm này, các nhà kinh điểm C.Mác, Ph .Ảngghen, V.I.Lênin đã đưa ra những luận điểm cơ bản về bản chất giai cấp của Nhà nước và pháp luật, vai trò của Nhà nước và pháp luật, tính tất yếu của sự ra đời Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa Những luận điểm đó đã, đang và sẽ tiếp tục là kim chỉ nam cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước và xã hội Việt nam

- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt nam về Nhà nước và Cách mạng Việt nam Đó là quan điểm về xây dựng Nhà nước Việt nam kiểu mới của dân, do dân và vì dân; xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch và vững mạnh đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế-văn hoá của đất nước; xây dựng và hoàn thiên nền dân chủ Xã hôi chủ nghĩa; xây dưng nền văn hoá dân tôc, hiên đại

và nhân văn; xây dựng nền khoa học hiện đại và tiến tiến Những quan điểm này trở thành cơ sở lý luận quan trọng cho sự phát triển của khoa học luật hiến pháp Những quan điểm đó được phản ánh trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đặc biệt là các nghị quyết chuẩn bị cho việc sửa đổi Hiến pháp

1980, Hiến pháp 1992 như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, thứ VII, thứ IX

- Quan điểm của các nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta như Hổ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười cũng là cơ sở lý luận của khoa học luật hiến pháp Ví

dụ, quan điểm lấy dân làm gốc, quan điểm xây dựng chính quyền mạnh sáng suốt của nhân dân, quan điểm xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ của Hồ

Chí Minh; quan điểm của đổng chí Trường Chinh trong “Báo cáo về dự thảo

Hiến pháp 1980” , của đồng chí Võ Chí Công trong “Báo cáo về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1980'".

5 Nguồn của khoa học luật hiến pháp

Trang 38

Nguồn của khoa học luật hiến pháp là toàn bộ những tài liệu, những văn bản được các nhà khoa học sử dụng để nghiên cứu luật hiến pháp.

Trước hết nguồn của khoa học luật hiến pháp là các tác phẩm kinh điển của Mác-Lênin, Hồ Chí Minh về Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Nguồn của luật hiến pháp còn là các văn kiện của Đảng, các tác phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta

Một bộ phận lớn nguồn của luật hiến pháp là các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, trong đó Hiên pháp giữ vị trí đặc biệt quan trọng

Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học luật hiến pháp cũng

là nguồn quan trọng của luật hiến pháp Trong các tác phẩm nghiên cứu, giáo trình, tài liệu tham khảo, những câu hỏi liên quan đến vấn đề tổ chức Nhà nước được làm sáng tỏ

6 VỊ trí của khoa học luật hiến pháp trong các khoa học pháp lýTrong hệ thống các khoa học pháp lý, khoa học luật hiến pháp có mối quan hệ mật thiết với các khoa học pháp lý khác

Trước hết, khoa học luật hiến pháp liên quan chặt chẽ với khoa học lý luận chung vế Nhà nước và pháp luật Khoa học lý luận chung nghiên cứu vể

sự ra đời, quy luật phát triển của Nhà nước; chức năng, bản chất, hình thức Nhà nước Khoa học luật hiến pháp sử dụng những kết luận đó trong việc nghiên cứu vấn đề tổ chức Nhà nước Việt nam như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hoá-xã hội, quốc phòng và an ninh, quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Ngoài ra, khoa học luật hiến pháp còn sử dụng kết luận của lý luận chung về pháp luật

để nghiên cứu các quy phạm, chế định, các quan hệ của ngành luật hiến pháp Ngược lại khoa học luật hiến pháp cũng có tác động trở lại đối với lý luận chung, làm sáng tỏ, bổ xung thêm những kết luận của lý luận chung về Nhà nước và pháp luật Ví dụ, khi nghiên cứu các quy phạm luật hiến pháp, khoa học luật hiến pháp chi ra rằng không phải mọi quy phạm đều có đủ 3 thành phần (giả định, quy định và chế tài), có những quy phạm chỉ có 1 hoặc 2 bộ phận Như vậy khoa học luật hiến pháp đã bổ xung kiến thức về quy phạm cho khoa học lý luận về Nhà nước và pháp luật

Trang 39

Khoa học luật hiến pháp còn có mối liên hệ chặt chẽ với các khoa học pháp lý khác như: Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt nam, Lịch sử Nhà nước

và pháp luật thế giới, Luật hành chính, Luật hình sự, Luật dân sự Chẳng hạn, với khoa học Luật hành chính, những kết luận của khoa học luật hiến pháp về tính thống nhất của quyền lực Nhà nước, về sự cần thiết phải phân công phối hợp giữa Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, về tính chất chấp hành và điều hành trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước do Chính phủ đứng đầu đã được khoa học luật hành chính sử dụng trong việc nghiên cứu hoạt động quản lý Nhà nước của Chính phủ và các cơ quan hành chính Nhà nước khác

Tóm lại, khoa học luật hiên pháp là một khoa học pháp lý chuyên ngành nghiên cứu những vấn đề cơ bản của Nhà nước xã hội Việt nam Khoa học luật hiến pháp đóng vai trò tạo cơ sở lý luân cho các khoa học pháp lý khác, vì vậy khoa học luật hiến pháp gữi vị trí chủ đạo trong hệ thống các khoa học pháp lý

Trang 40

Chuyên để 2KHÁI QUÁT S ự HÌNH THẢNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

KHOA HOC LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM

Ì.Khát quát lịch sứ hình thành và phát triển của khoa học luật hiến

pháp Việt nơm

Lịch sử hình thành và phát triển của khoa học luật hiên pháp Việt nam

gắn liền với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và báo vệ tổ quốc của nhân

dân Việt nam trong 55 năm qua Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Việt nam

là một nước thuộc địa nửa phong kiến nên không có Hiến pháp, vì vậy không

có khoa học luật hiến pháp Chỉ một năm sau Cách mạng tháng Tám, để

khẳng định độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, Nhà nước Việt nam dân chủ

đã ban hành bản Hiến pháp đầu tiên Sự ra đời của Hiến pháp 1946 đánh dấu

một thời kỳ phát triển mới của khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hiến

pháp nói riêng Tuy nhiên, quá trình hình thành khoa học luật hiến pháp Việt

nam diễn ra trong một thời gian dài sau đó Cũng như ở các nước khác trên

thế giới, khoa học luật hiến pháp Việt nam chỉ được hình thành và trở nên cần

thiết khi sư điều chỉnh của pháp luât các phương pháp và hình thức thưc hiên

quyền lực Nhà nước đạt tới giai đoạn phát triển nhất định, khi trong mối quan

hệ thực tế giữa các cơ quan Nhà nước nảy sinh ra những vấn để mà để giải

quyết đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý vững chắc chứ không đơn thuần theo

quyết định của từng cá nhân nhất định

Từ khi hình thành cho đến nay, Lịch sử khoa học luật hiến pháp Việt

nam có thể được chia thành 3 giai đoạn chính Giai đoạn thứ nhất từ sau Cách

mạng Tháng tám cho đến trước 1980; giai đoạn thứ hai từ 1980 cho đến 1992;

giai đoạn thứ ba từ 1992 đến nay

đoạn đánh dấu sự hình thành khoa học luật hiến pháp Việt nam Hổ chủ tịch

là người khai sinh ra khoa học luật hiến pháp Việt nam Những quan điểm của

Người về Nhà nước dân chủ nhân dân, về Hiến pháp, về dân chủ và dãn quyền

thể hiện trong các bài phát biểu, bài viết đã trở thành tư tưởng chủ đạo cho

việc thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam A, xây dựng

Ngày đăng: 14/02/2021, 20:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w