1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện thực hoá cộng đồng văn hoá xã hội ASEAN và tác động đến việt nam

171 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 16,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN được đặt ra xây dựng sau 36 năm ASEAN tồn tại và hợp tác, sau 8 năm Việt Nam gia nhập ASEAN, nhất là sau những gì mà ASEAN đã và đang làm trong liên kết,

Trang 1

VIỆN NGHIÊN c ứ ư BÔNG NAM Á

'k'itửử'k

C H Ư 0 H O « Ỉ M W C Ấ P B Ộ NHỮNG VẤN ĐỂ C ơ BẲN CỦA V iệc Hi? n T ỉiự c HÓA

CỘNG BỒNG ASSAN VÀ TÁC ĐÒNG

BĨLTÀI CẲPBÔ

HĨỆN T ĩ ĩ ự c HÓA CỘNG BÒNG VẰN HÓA - XÃ HỘI ASEA N

và những người khãc

Hà Nội - 10/2012

Trang 2

V IỆ N K H O A H Ọ C X Ã H Ộ I V IỆ T N A M• • • •VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔNG NAM Á

VẢ TẤC ĐỘNG ĐỂN VIỆT NAM

Thành phần tham gia.PGS TS Trương Sỹ Hùng

TS Dương Văn Huy Ths Hà Thị Đan

Trang 3

DẢN LUẬN -1

3 3

Câu trúc nội dung của đê tài 3

2 Giải quyết y tế chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo dinh 29

dưỡỉỉg cũng như phong cách sống lành mạnh

3 Giải quyết tệ nạn xã hội và đại dịch 32

4 Giáo dục, lao động và việc làm 33

5 Một ASEAN tiến bộ thịnh vượng vẫn giữ gìn và bảo tồn 44

đưọc những di sản văn hóa truyền thống giàu có của các nước trong khu vực, ý thức được sự đồng nhất giữa các vùng trong khu vực

6 Nội dung xây dựng bản sắc ASEAN 45

7 Tăng cường tính bền vững môi trường, bảo vệ môi 48

trường và tài nguyên

' Ẹ B S B B S B i ỉ r a E S ầ NHỮNG NỘI DUNG Ư u TIÊN 51

VÀ CÁC VẤN ĐỀ CỦA HIỆN T H ự C HÓA CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA- XÃ HỘI ASEAN

L Kế hoạch tổng thể xây dựng cộng đồng văn hóa- xã hội 51

ASEAN

ĩ l S ự ra đời k ế hoạch tổng thể xây dựng cộng đồng văn 51

Trang 4

• •

1.3 N ội dung của k ế hoạch tồng th ể 56 1.4 Các hoạt động đã và đang thực hiện 68 1.5 Những thách thức, những khó khăn 73

11.2 M ục tiêu p h ú c lợi và bảo trợ x ã hội, tăng cường công 88

bằng x ã hội và đảm bảo các quyền của người dân

11.3 Đảm bảo tỉnh bền vững m ôi trường 104 11.4 Vấn đề thu hẹp khoảng cách phát triển 120

\^ \i^ ĩh ự e 4 b ẹ n g jp tê n }i lệch phảPtriểtt giữa cám iư ớc A S E Á N

-T ỉ ^ l ^ C ơ ^ ^ h ế ^ n h à n h đ ể A i ệ n 1 h ự e h ó í L n ộ ĩ d u n g t h u h ẹ p

khoăng cách phứt triểtl

W ị ^ c ĩ í t i Ị i kkả tk i trờng vtêcih u hep kĩĩìmngicúeh p h ả t triển^ ^= 4 4 0

-11.5 Xây dựng bản sắc và sự gắn kết ASEAN 131 III Những vấn đề đăt ra của viêc hiên thưc hóa công đồng o • • • • • o n 133

văn hóa- xã hội

III 1 Những thuận lợi của việc hiện thực hỏa cộng đồng văn 133

TÁC ĐỘNG CỦA CỘNG ĐÒNG VĂN HÓA- XÃ HỘI 142 ĐỐI VÓI S ự PHÁT TRIỂN BÈN VỮNG CỦA ASEAN

ỉ Tác động của cộng đồng văn hóa- xã hộỉ tói sự pháỉ 142

triển của cộng dồng ASEAN

cộng động an n in h - chính trị A S E A N

Trang 5

II Tác đông tới viêc công đồng văn hóa- xã hôi lưa chon• o • • o o • ■ •

các yếu tố tiến bộ tích cực của văn hóa

Trang 6

DẢN LUẬN

I Tính cấp thiết của đề tài:

năm hình thành và phát triển Trong quá trình xây dựng và phát triển, ASEAN không ngừng đưa ra những sáng kiến để tạo sức mạnh nội lực, nhằm làm cho ASEAN giữ vững hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và thịnh vượng Tại Hội nghị cấp cao ASEAN không chính thức lần thứ hai,

Kuala Lumpur, năm 1997, ASEAN đã vạch ra Tầm nhìn 2020, theo đó

“ASEAN sẽ là một nhóm hài hòa các dân tộc Đông Nam Á hướng ngoại, sống trong hòa bình, ổn định và thịnh vượng, gắn với nhau bằng quan hệ đối tác trong phát triển năng động và trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc” Đó là mục tiêu tối cao và xuyên suốt trong quan hệ đối tác, liên kết, hợp tác kinh tế, an ninh- chính trị của các nước ASEAN trong Hiệp hội

Đến tháng 10/2003 trong Tuyên bố về sự hỏa hợp ASEAN lĩ, ASEAN đề ra

mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên cơ sở xây dựng 3 trụ cột:

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC) và Cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN (ASCC) Có thể coi đây là cái mốc chính thức xây dựng cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN, đồng thời cũng từ thời điểm này ASEAN tiến hành xây dựng cộng đồng ASEAN với mục tiêu hoàn thành vào năm 2015 Cũng từ năm 2003 trở đi, cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN chính thức được thông qua và bắt đầu triển lchai các kế hoạch thực hiện Nó có kế hoạch hành động trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 10 tại Viên Chăn tháng 11/2004; tuyên bố Cebu tại Hội nghị cấp cao ASEAN 12 (ngày 12- 15/1/2007, Cebu, Philippines) mang chủ đề

“Hướng tới một cộng đồng đùm bọc và chia sẻ”; Hội nghị cấp cao ASEAN

13 (20/11/2007) tại Singapore) nhất trí soạn thảo kế hoạch tổng thể về cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN; Hội nghị cấp cao 14 (1/3/2009 tại Chaam Hua Hin, Thái Lan) thông qua bản phác thảo chi tiết hoạt động của cộng

Trang 7

đồng văn hóa- xã hội ASEAN thời gian 2009- 2015; Hội nghị cấp cao ASEAN 16 (8/4/2010, Hà Nội) với chủ đề “Hướng tới cộng đồng ASEAN;

Từ tầm nhìn tới hành động” và các Hội nghị thượng đỉnh ASEAN diễn ra tiếp theo tổ chức ở Indonesia, ở Campuchia hiện nay càng khẳng định quyết tâm xây dựng cộng đồng ASEAN, trong đó có trụ cột cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN của chính phủ các nước ASEAN Điều đó đặt ra những vấn đề cấp thiết phải nghiên cứu, tìm những giải pháp tối ưu thích hợp để hiện thực hóa cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN vào năm 2015

hình thức liên kết, hợp tác sâu sắc hơn, chặt chẽ hơn và cần có những tiền

đề đầy đủ để thực thị Cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN được đặt ra xây dựng sau 36 năm ASEAN tồn tại và hợp tác, sau 8 năm Việt Nam gia nhập ASEAN, nhất là sau những gì mà ASEAN đã và đang làm trong liên kết, hợp tác phát triển kinh tế, trong liên kết hợp tác giữ vững an ninh chính trị khu vực Vậy, tính đến năm 2012, cộng đồng văn hóa- xã hội mới tiến hành xây dựng được 9 năm và nó sẽ hoàn thành trong vòng 12 năm Có thể ghi nhận quyết tâm chính trị rất lớn của các nhà lãnh đạo ASEAN với nỗ lực cao trong việc đề ra các chính sách để điều chỉnh xã hội gắn liền với sự

phát triển của quốc gia- khu vực K ế hoạch tổng thể của cộng đồng văn

hóa- xã hội, thay thể cho Chương trình hành động Viên Chăn, được thực

hiện và hoàn thành vào năm 2015

Từ 2009 cho đến 2015, cần thiết phải nghiên cứu, đánh giá tính khả thi những vấn đề đặt ra của cộng đồng văn hóa- xã hội, xem xét khả năng hiện thực hóa và những tác động của nó trong cộng đồng ASEAN Từ đó

có thể đưa ra các giải pháp, xúc tiến các biện pháp phù hợp để thực hiện các cam kết và các ưu tiên đã được xác định trong Kế hoạch tổng thể về xây dựng cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN của chính phủ các nước ASEAN

2

Trang 8

II Mục tiêu nghiên cứu:

- Nghiên cứu đánh giá những nội dung chủ yếu của cộng đồng văn hóa- xã hội, trong đó có mục tiêu ưu tiên như: Phát triển con người, phúc lợi bảo trợ xã hội, tăng cường công bằng xã hội và đảm bảo quyền của người dân, đảm bảo tính bền vững môi trường, thu hẹp khoảng cách giữa các nước, xây dựng bản sắc và sự gắn kết ASEAN

- Nghiên cứu, xem xét tính khả thi của việc thực hiện hóa cộng đồng văn hóa- xã hội vào năm 2015 Làm rõ những khó khăn, thuận lợi, những thách thức của quá trình hiện thực hóa cộng đồng văn hóa- xã hội cho đến năm 2015

- Đánh giá tác động của cộng đồng văn hóa- xã hội trong việc xây dựng cộng đồng ASEAN và phát triển bền vững khu vực Tác động của cộng đồne ỵặn hóa- xã hội đối với Việt Nam

- Đề tài sử dụng phương pháp liên ngành, đa ngành để triển khai vấn

đề nghiên cửu Đề tài mang tính chất nghiên cứu- triển khai, do vậy cách tiến hành là kết hợp giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu triển khai Tiếp cận với các văn bản, văn kiện chính thức qua các Hội nghị cấp cao của ASEAN, xem xét thực trạng văn hóa- xã hội, đề tài sẽ phân tích, bình luận các bình diện, các điểm chủ yếu của trụ cột văn hóa- xã hội, nhằm làm sáng

tỏ khả năng hiện thực hóa của nó và những thách thức cũng như triển vọng trong việc xây dựng cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN

IV Cấu trúc nội dung của đề tài:

Để xem xét tính khả thi, hiện thực hóa của cộng đồng văn hóa- xã hội, chúng ta tiến hành nghiên cứu trực tiếp các văn kiện, các tuyên bố, các

kế hoạch đặt ra của ASEAN và trình bày công trình thành 3 phần chính sau:

Trang 9

1 Đánh giá lại những nội dung cơ bản của cộng đồng văn hóa- xã hội giai đoạn 2003- 2010.

2 Tnĩfr-lđiả-~£ỈẸS3ía|tfhững nội dung ưu tiên và các vấn đề của hiện thực hóa cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN ửìQễ-4ọ4fkìh>2()09- 2 0 15

3 Tác động của cộng đồng văn hóa- xã hội đổi với sự phát triển bền vững của ASEAN

4

Trang 10

PHÀN THỬ NHÁT

ĐÁNH GIÁ LẠI NHỮNG NỘI DUNG c ơ BẢN CỦA CỘNG ĐỒNG

VĂN HÓA- XẢ HỘI ASEAN GIAI ĐOẠN 2003- 2010

Sau 30 năm tồn tại và phát triển, ASEAN đã vạch ra tầm nhìn 2020, được thông qua tại Hội nghị cấp cao không chính thức lần thứ hai, Kuala

Lumpur ngày 14-16/12/1997 Theo tầm nhìn này, “ASEAN sẽ là một nhóm

hài hòa các dân tộc Đông Nam Á hướng ngoại, sống trong hòa bình, ổn định và thịnh vượng, gắn bó với nhau bằng quan hệ đối tác trong phát triển năng động và trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc nhau” Giải thích

về nội dung một nhóm hài hòa các dân tộc Đông Nam Á, tầm nhìn nêu rõ ASEAN sẽ thực sự trở thành khu vực hòa bình, tự do, trung lập, các nguyên nhân xung đột được loại bỏ, tranh chấp lãnh thổ và các tranh chấp khác được giải quyết bằng biện pháp hòa bình Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân, không có vũ khí giết người hàng loạt Diễn đàn khu vực ASEAN

là phương tiện để xây dựng lòng tin, thực hiện ngoại giao phòng ngừa, thủc đẩy giải quyết xung đột ASEAN là lực lượng hữu hiệu đối với hòa bình,

v ề nội dung quan hệ đối tác trong phát triển năng động là nhằm tạo quan

hệ liên kết kinh tế chặt chẽ hơn trong ASEAN Các nhà lãnh đạo cam kết

tiến đến quan hệ gắn bó và liên kết kinh tế chặt chẽ hơn, thu hẹp khoảng

cách về trình độ phát triển giữa các nước thành viên, tạo ra khu vực kinh té

ASEAN ổn định, thịnh vượng, có khả năng cạnh tranh cao, kinh tế phát triển đồng đều, nghèo đói và phân hóa kinh tế xã hội giảm bớt Và một loạt các biện pháp được đưa ra để thực hiện nội dung này như duy trì sự ổn định

về kinh tế vĩ mô, về tài chính trên toàn khu vực, tăng cường thực hiện đầy

đủ Khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), khu vực đầu tư ASEAN, tăng cường mở rộng hợp tác Tiểu vùng, mở rộng các mối liên kết ngoài khu vực ASEAN, thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông thoáng trong lĩnh vực tài chính, đẩy nhanh phát triển khoa học công nghệ, tăng cường an

Trang 11

ninh lương thực, cải thiện cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc, tăng cường phát triển nguồn nhân lực v v về nội dung một cộng đồng các xã hội đùm bọc

nhau, tuyên bố tầm nhìn hình dung ASEAN sẽ là một cộng đồng nhận thức

được các mối liên hệ lịch sử của mình, hiểu rõ di sản văn hóa của mình và gắn bó với nhau bằng một bản sắc chung khu vực Và sự đùm bọc gắn bó

về mặt xã hội mà ở đó nạn đói, suy dinh dưỡng, nghèo khổ không còn là cơ bản; ở đó gia đình vững mạnh, xã hội công dân được tăng cường, quan tâm tới những người có hoàn cảnh thiệt thòi, người tàn tật, không nơi nương tựa; trẻ em, thanh niên, phụ nữ, người cao tuổi Một Đông Nam Á không

ma tuý, một ASEAN sạch, xanh, bảo vệ môi trường, sự bền vững của các nguồn tài nguyên Và một ASEAN hướng ngoại, tăng cường quan hệ với các nước đối thoại, các tổ chức khu vực khác trên cơ sở đối tác bình đẳng

xã hội sau này, đã được đề cập ở đây Đó là ý tưởng cho tương lai đến 2020 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Đó là một cộng đồng ý thức được quan hệ lịch sử, hiểu rõ di sản văn hóa, một bản sắc chung của khu vực

Những vấn đề xã hội như nạn đói nghèo đã đưa ra giải quyết, những vấn đề liên quan tới con người đã được chú ý để xây dựng xã hội không có ma tụý, môi trường xanh sạch và các lớp người khác nhau có khó khăn thiệt thòi được quan tâm Ngoài ra, vấn đề phát triển đồng đều giữa các nước thanh viên, có nghĩa là thu hẹp trình độ khoảng cách phát triển giữa các nước

6

Trang 12

thành viên trong tô chức được đặt ra Đây là những ý tưởng vê một cộng đồng ASEAN trong tương lai, trong đó có cộng đồng văn hóa- xã hội.

Để thực hiện tầm nhìn có tính dài hạn này, chương trình hành động

Hà Nội (HPA, 1998) là chương trình đầu tiên đưa ra các mục tiêu, chương trình thực hiện tầm nhìn 2020

Năm 2003, Hội nghị Bộ trưởng văn hóa và nghệ thuật đầu tiên trong khối ASEAN và ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) tại Kuala Lumpur (14-15/10/2003), các Bộ trưởng đồng ý tăng cường đầu tư nguồn nhân lực đảm bảo kỹ năng và bảo tồn các giá trị văn hóa nghệ thuật Hội nghị bàn tới khả năng tự do hóa việc mua bán các sản phẩm văn hóa trong khu vực

Tiếp theo, tháng 11/2003, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ

9 hợp tại Bali- Inđônêxia, các nhà lãnh đạo đã thông qua “Tuyên bố hòa

hợp A S E A N 11" (Bali II) Trong Hội nghị này các nhà lãnh đạo ASEAN đã

tuyên bố một cộng đồng ASEAN sẽ được thiết lập với 3 trụ cột chính: cộng đồng an ninh chính trị, cộng đồng kinh tế, cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN Từ đây, cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN chính thức được đưa

ra thông qua và bắt đầu triển khai Nó được đặt ra sau những gì mà ASEAN

đã và đang làm trong liên kết hợp tác phát triển kinh tế, trong liên kết hợp tác và giữ vững an ninh chính trị khu vực Từ góc độ văn hóa học, việc liên kết kinh tế, hợp tác phát triển an ninh chính trị khu vực của ASEAN cũng nằm trong phạm trù của văn hóa Song, để phân biệt với lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực an ninh chính trị, lĩnh vực văn hóa và xã hội được đặt riêng như một khối chuyên biệt Trên cơ sở nhận thức rõ bối cảnh của thế giới hiện đại với xu thế toàn cầu hóa, kể cả lĩnh vực văn hóa và thực tại phát triển của các quốc gia trong khu vực, ASEAN nhận thấy liên kết phát triển kinh

tế, liên kết an ninh và khu vực không đủ để phát triển bền vững ở mỗi quốc gia và khu vực nếu thiếu định hướng xây dựng và phát triển văn hóa xã hội

Vì thế, trong tầm nhìn 2020, ASEAN đề ra chương trình xây dựng cộng

Trang 13

đồng văn hóa xã hội, mà một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nó

là giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển n g u ồ n l ự c con người

Tuyên bố hòa hợp ASEAN II đã thông qua 6 điểm trong việc xây

dựng cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN:

+ Thực hiện mục tiêu nêu trong Tầm nhìn 2020 là xây dựng cộng đồng các xã hội đùm bọc nhau

+ Hợp tác trong lĩnh vực phát triển xã hội nhằm nâng cao đời sống của các nhóm người có hoàn cảnh bất lợi, người dân ở khu vực nông thôn

+ Đảm bảo để những người lao động trong khu vực được hưởng lợi

từ tiến trình liên kết kinh tế khu vực, thông qua việc đầu tư thêm nguồn lực cho giáo dục tiểu học và cao đẳng, đào tạo phát triển khoa học và công nghệ, tạo công ăn việc làm

+ Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực y tế, bao gồm cả việc phòng, chống các bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS và SARS và ủng hộ các nỗ lực khu vực để người dân có thể tiếp cận nhiều hơn đối với các loại thuốc thông thường

+ Bồi dưỡng nhân tài, thúc đẩy giao lưu giữa các học giả, văn nghệ

sĩ, những người làm trong ngành truyền thông để bảo tồn và nâng cao giá trị của các di sản văn hóa đa dạng, đồng thời xây dựng bản sắc khu vực, nhận thức của người dân về ASEAN

+ Tăng cường hợp tác để giải quyết những vấn đề liên quan tới tăng trưởng dân số, thất nghiệp, môi trường xuống cấp và ô nhiễm xuyên biên giới, quản lý thiên tai

Từ 6 điểm này có thể thấy rõ mục tiêu xây dựng xã hội đùm bọc nhau của ASEAN ASEAN hy vọng đẩy mạnh sự hợp tác khu vực về các vấn đề xã hội và nâng cao đời sống của cư dân nông thôn, thúc đẩy sự tham gia tích cực của tất cà các thành phần xã hội bao gồm phụ nữ, thanh niên, các nhóm cộng đồng Cộng đồng văn hóa xã hội hy vọng sẽ góp phần tăng cường khả năng hợp tác các vấn đề như tăng trưởng dân số, phát triển dân

8

Trang 14

số, giải quyết tình trạng thất nghiệp, ngăn ngừa các loại bệnh truyền nhiễm, ngăn chặn suy thoái môi trường, khói bụi ô nhiễm xuyên biên giới Cộng đồng văn hóa xã hội giúp tạo ra một xã hội an sinh cùng với các cam kết chống đói nghèo, bệnh tật và bảo vệ môi trường.

Từ Hiệp hội chuyển sang cộng đồng, việc xây dựng cộng đồng văn hóa xã hội là vấn đề cấp thiết được đặt ra Cộng đồng văn hóa- xã hội

ASEAN có Kế hoạch hành động trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần

thứ 10 tại Viên Chăn tháng 11 năm 2004 Trong mục giới thiệu tầm nhìn và

sự cần thiết xây dựng cộng đồng văn hóa- xã hội đã đưa ra 7 điểm trong sự thay đổi đang diễn ra ở ASEAN như sự trỗi dậy của chủ nghĩa tiêu thụ, sự thay đổi phong cách sống do tăng trưởng kinh tế, sự thay đổi vai trò và cấu trúc gia đình tác động đến người già và chăm sóc trẻ em, sự đô thị hóa nhanh chóng và tác động của nó tới việc làm và những thay đổi trong thị trường lao động do liên kết kinh tế v.v Việc đặt ra xây dựng cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN là hoàn toàn mang tính nhân văn sâu sắc, là thước

đo mức độ nhân bàn của xã hội và con người ASEAN Đó là tính giá trị của văn hóa và ASEAN đang thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội nhằm duy trì trạng thái cân bằng động của xã hội, không ngừng tự hoàn thiện thích ứng với những biến đổi của môi trường, định hướng chuẩn mực làm động lực cho sự phảt triển xã hội

Chương trình hành động Viên Chăn (2004-2010) với 4 mục tiêu tổngthể:

+ Tạo dựng cộng đồng các xã hội đùm bọc nhau

+ Giải quyết những tác động xã hội của hội nhập kinh tế

+ Phát triển môi trường bền vững + Nâng cao nhận thức và bản sắc ASEAN

Và nội dung chi tiết trong Kế hoạch hành động của cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN (2004, Viên Chăn) tổng số là 21 điểm Kế hoạch hành động Viên Chăn về cộng đồng văn hóa- xã hội đã định hướng chiến lược là

Trang 15

nâng cao chât lượng cuộc sông của người dân, sử dụng bên vững các nguồn lực tự nhiên và tăng cường bản sắc văn hóa tiến tới một ASEAN vì người dân.

- Mục tiêu xây dựng cộng đồng các xã hội đùm bọc nhau được cụ thể

hóa qua 11 lĩnh vực gồm 72 hoạt động hợp tác như là: Cải thiện nâng cao đời sống các nhóm dân cư thiệt thòi, kém phát triển; Mở rộng tiếp cận giáo dục phổ cập và phát triển giáo dục chất lượng cao; Giảm thiểu rủi ro xã hội đối với trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người khuyết tật; Nâng cao hiệu quả

sự tham gia của gia đình, xã hội dân sự và khu vực doanh nghiệp vào giải quyết đói nghèo và các vấn đề phúc lợi xã hội; Nâng cao hiệu quả tham gia của phụ nữ và thanh niên vào nguồn lực lao động; Giải quyết những lo ngại

về phát triển y tế; Ngăn ngừa sự ỉan rộng và giảm thiểu tác động xấu của HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác; An toàn thực phẩm, quản lý thảm họa; Bảo đảm ASEAN không ma tuý; Thúc đẩy khoa học, công nghệ

- Mục tiêu giải quyết tác động xã hội của hội nhập kinh tế gồm 3 lĩnh vực với 12 hoạt động là: Phát triển và nâng cao nguồn nhân lực; Tăng cường các hệ thống bảo trợ và quản lý rủi ro xã hội; Giải quyết các vấn đề phát triển y tế do quá trình tự do hóa

- Mục tiêu thúc đẩy môi trường bền vững tập trung vào 12 lĩnh vực gồm 55 hoạt động: Phối hợp lập trường quan điểm đối với các vấn đề môi trường toàn cầu; v ấn đề cháy rừng và ô nhiễm khói bụi xuyên quốc gia;

Thúc đẩy nhận thức và giáo dục môi trường; Phát triển các công nghệ an toàn môi trường hiện đại; Điều hành và quản lý môi trường đô thị; Phát triển bền vững, hài hòa quá trình giám sát và lập dữ liệu; Quản lý môi trường biển; Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; Bảo đảm nguồn nước sạch; Bảo đảm quản lý các nguồn tài nguyên đất đai; Thúc đẩy quản lý rừng cho sự phát triển bền vững; Hợp tác sử dụng các nguồn khoáng sản

- Mục tiêu thúc đẩy bản sắc ASEAN có 4 lĩnh vực và 21 hoạt động nhằm phát triển nhận thức và bản sắc khu vực ASEAN; Thúc đẩy đối thoại

10

Trang 16

nhằm nâng cao hiểu biết về văn minh, văn hóa và tôn giáo ASEAN; Mở rộng vị thế ASEAN trong cộng đồng quốc tế.

Với 21 điểm ghi trong Kế hoạch hành động (2004, Viên Chăn) có thể hệ thống hóa lại thành 7 nội dung trong nội hàm của cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN đưa ra Đó là nội dung cộng đồng các xã hội đùm bọc nhau; Giải quyết y tế; Giải quyết tệ nạn xã hội và đại dịch; Giáo dục, lao động, việc làm; Một ASEAN tiến bộ thịnh vượng vẫn giữ gìn và bảo tồn được những di sản của văn hóa truyền thống giàu có của các nước trong khu vực, ý thức được sự đồng nhất giữa các vùng trong khu vực; Nội dung xây dựng bản sắc ASEAN Đây là kế hoạch hành động trung hạn (2004- 2010) của ASEAN và là chặng thứ nhất trong lộ trình xây dựng cộng đồng văn hóa- xã hội

1 Đánh giá tình hình thực hiện nội dung các xã hội đùm bọc nhau

Cộng đồng các xã hội đùm bọc nhau là tiến tới giải quyết công bằng

xã hội, xóa bỏ rào càn về chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính và sự khác biệt văn hóa, xã hội Công bằng xã hội ở đây gồm có:

+ Xóa đói giảm nghèo

Giải quyết vấn đề đói nghèo, giảm tỷ lệ đói nghèo là một trong những nhiệm vụ nòng cốt nhất của cộng đồng văn hóa- xã hội, là nền tảng

để phát huy tiềm năng con người để con người đóng góp hết sức mình vào

sự phát triển xã hội Từng cá nhân, cả tập thể của các nước thành viên đã cố gắng cùng nhau xây dựng một xã hội đùm bọc, cùng có lợi, cùng nhau hướng tới mục tiêu giải quyết vấn đề đói nghèo, đem lại công bằng xã hội

và phát huy nguồn# É ie lực con người

Bản tổng kết của Ban thư ký ASEAN đã cho thấy tỷ lệ người dân

sống dưới mức nghèo khổ ở Việt Nam là 27%, ở Lào 32%, ở Campuchia 36%, ở Myanmar 27%, Indonesia là 17%, ở Thái Lan là 12%, Philippines

ỉà 30%, còn ở Singapore và Brunei không có tỷ lệ người dưới nghèo (số

Trang 17

liệu 2006) Thực tê đó đang đặt ra cho ASEAN nô lực giải quyêt giảm tỷ lệ người nghèo trong xã hội Thực tế cho thấy các nước ASEAN đều quan tâm giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo, nhưng tình hình và hoàn cảnh các nước có khác nhau nên công việc này có kết quả không đồng đều như nhau Các con số tỷ lệ đói nghèo nêu trên phần nào cho thấy điều đó Đến nay tỷ lệ đói nghèo ở các nước thành viên ASEAN đã được giảm đi một cách rõ rệt Tỷ lệ đói nghèo ở Lào giảm xuống còn 26% (năm 2010), Việt Nam còn 10,6% (năm 2010), Malaysia còn 3,6% (năm 2007), Indonesia còn 13,33% (năm 2010), Campuchia còn 31% (năm 2007) c ỏ thể dẫn^ Ệ

tình hình và thực trạng giải quyết xỏa đỏi giảm nghèo ở <ẩầe quốc gia để.

Việt Nam trong nhiều năm qua đã tích cực thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo bằng nhiều biện pháp khác nhau Chủ trương xóa đói giảm nghèo luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước Việt Nam tiến hành để thực hiện “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh” Ti lệ đói

nghèo của Việt Nam giảm dần qua các năm Theo báo cáo đưa các mục

tiêu thiên niên ki đến với ngưòi dân của tổ chức Liên hợp quốc tại Việt

Nam công bố, Việt Nam được ghi nhận là liên tục dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích xóa đói giảm nghèo từ trên 60% năm 1999 xuống còn 32% trong những năm sau đó Năm 2002, Việt Nam dẫn đầu thế giới

về thành tích xóa đói giảm nghèo, chỉ còn 32% dân số sống đói nghèo so với 70% đói nghèo cách đó 10 năm Chỉ số con người cũng được cải thiện nâng cao Các tổ chức quốc tế về lương thực, y tế, dân số đều đánh giá cao Việt Nam trong lĩnh vực tăng cường phúc lợi cho người nghèo Chương trình phát triển Liên hợp quốc cho biết, tỉ lệ người có thu nhập dưới 1 đôla một ngày ở Việt Nam đã giảm mạnh tù' mức 58% trong năm 2003 xuống còn 24% trong năm 2004 Kế hoạch đặt ra của Việt Nam sẽ giảm ti |lệ đói nghèo này xuống còn 11% năm 2010 và đến nay đã đạí đưọc

Trang 18

Các biện pháp để xóa đói giảm nghèo như xây dựng chính sách phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn, thực hiện chiến lược phát triển cho từng vùng, miền, đầu tư xây dựng cơ sờ hạ tầng nông thôn, ưu tiên nguồn vốn tín dụng cho xóa đói giảm nghèo, thiết lập nguồn vốn vay cho người nghèo Cụ thể năm 1999 thực hiện định canh, định cư cho 47.120 hộ trong cả nước, khai hoang mở rộng diện tích 1.387 ha, trồng thêm được

23000 ha rừng mới, 1.738 ha cây công nghiệp, về tín dụng, sau một năm

có 1.010.000 lượt hộ vay vốn để phát triển sản xuất, tổng vốn vay là 2001 tỉ đồng Công tác xóa đói giảm nghèo của Việt Nam tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng tỉ lệ đói nghèo của nông thôn Việt Nam đặc biệt là các vùng sâu vùng xa còn khá cao Vì thế, năm 1998 Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo” (Chương trình 133) cho giai đoạn 1998- 2000, nhằm giảm tỉ lệ đói nghèo xuống 10% vào năm

2000 Chương trình này đã phát triển định canh định cư, kinh tế mới, phát triển sàn xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp, khuyến nông- lâm- ngư, trợ gỉúp đồng bẩo dân tộc khó khăn, sử dụng quĩ tín dụng và tiết kiệm cho

người nghèo Cũng năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chưong

trình 135 hỗ trợ phát triển cho 1715 xã nghèo đặc biệt khó khăn ở miền

núi, vùng sâu, vùng xa Đây là hai chương trình lớn tác động mạnh mẽ tới công cuộc xóa đói giảm nghèo Tổng nguồn lực đầu tư cho xóa đói giảm nghèo khoảng 21.000 tỉ đồng và các dự án quốc tế trong 5 năm (2001- 2005) cả thảy khoảng 40.950 tỉ đồng Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã giúp Chính phủ Việt Nam xây dựng thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc Tháng 12/2006 các

tổ chức, các quốc gia viện trợ cho Việt Nam 4tỉ 450 triệu đôla trong năm

2007 để phát triển kinh tế

Như vậy, Chương trình mục tiêu quốc gia Việt Nam giảm nghèo giai đoạn 2001- 2005 đã hoàn thành trước 1 năm Thành tựu rõ rệt của chương trình này thể hiện tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 11% Tình trạng tái đói

Trang 19

kinh niên đã không diễn ra Người nghèo đã được tiếp cận với các dịch vụ sản xuất, được vay vốn tín dụng, chuyển giao kĩ thuật chăn nuôi trồng trọt,

hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt và các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa Từ năm

1993 đến nay, Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo để xóa đói giảm nghèo toàn diện hơn, công bàng hơn theo chuẩn nghèo quốc tế Tính theo chuẩn mới, Việt Nam còn khoảng 4,6 triệu hộ nghèo (22%) Nhận thấv vì xuất phát điểm Việt Nam thuộc diện rất nghèo, thu nhập mức chi dùng bình quân đầu người thấp Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành phố

và nông thôn giữa các vùng, các nhóm cư dân có xu hướng gia tăng Ti lệngười nghèo của các dân tộc ít người chiếm 1/3 trong sổ cả nước Do vậy,

Việt Nam đã nhận thây nguy cơ tài nghèo có thê gia tăng do thiên tai, dịchbệnh, giá cả biến động, cơ hội tìm việc làm khó khăn hơn Với nỗ lực củamình, Việt Nam đã giảm ti lệ nghèo xuống còn 10,6% (năm 2010) và tiếnlên là nước có thu nhập vào loại trung bình

Indonesia: Có tỉ lệ người sống dưới mức nghèo khổ năm 1976 là

40,1% nhưng đến năm 1996 giảm xuống còn 11,3%- Sau cuộc khủng hoảng kinh tể, tỉ lệ người nghèo tăng lên 23% năm 1999 Năm 2002, tỉ lệ này giảm xuống 18% khoảng 38 triệu người sống dưới mức nghèo khổ, phần lớn trong số họ sống khoảng 1 đôla một ngày, hơn 18% sống dưới mức 1 đôla một ngày trong số này Khoảng 60% dân số sống trong vùng nông thôn rơi vào cảnh nghèo đói Năm 2002, ti lệ đói nghèo ở nông thôn

là 21% nhưng tỉ lệ đói nghèo thành thị là 15% Khi cuộc khủng hoảng tiền

tệ châu Á đi qua, thêm 16,8% gia đình nông thôn chính thức rơi vào cảnh nghèo khổ Những vùng nghèo nhất của Indonesia là những vùng thuộc đảo phía Đông (95% dân sống trong những thôn làng phải chịu cảnh sống nghèo đói) Vùng mà tỉ lệ nghèo đói lớn nhất ở Indonesia là các vùng Tâv Papua, Đông Papua, miền Trung đảo Papua, tỉ lệ người dân sống dưới mức nghèo khổ chiếm 43- 61%; Vùng có tỉ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ thấp nhất là Kaiteng, Sambar (7- 11%) v ấ n đề xóa đói giảm nghèo với

14

Trang 20

những nỗ lực của Chính phủ Indonesia cũng như một số nước khác đều nhận được sự giúp đỡ hỗ trợ của các quốc gia ngoài Đông Nam Á Việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa thành phố và nông thôn, vùng núi vùng sâu cũng đang được đặt ra khá gay gắt.

Từ năm 2007 đến năm 2010, tỉ lệ người nghèo khổ ở Indonesia giảm dần qua các năm và dừng lại ở ti lệ 13,33% (năm 2010) Khoảng cách giàu nghèo cũng giảm đáng kể từ mức trên 2,5% xuống còn 0,58% vào năm

2010 Tỉ lệ đói nghèo ở nông thôn luôn cao hơn ở thành thị Chẳng hạn tỉ lệ đói nghèo vùng nông thôn cao gần gấp đoi so với ở thành thị (ở nông thôn

tỉ lệ 16,5%, thành thị 9,87%, năm 2010) Ti lệ đói nghèo cao nhất là vùng Papua cũng giảm xuống còn 36,8%; vùng có ti lệ đói nghèo ít nhất là Đặc khu Giacata, Bali, Nam Kalimantan với 3- 5% Như vậy tỉ lệ đói nghèo

giữa các vùng miền của Indonesia cũng không đồng đều, dao động từ 3%

đến 36% Trong những năm tới, chính phủ Indonesia cần tập trung nguồn lực và các giải pháp để giảm ti lệ nghèo đói ở những vùng xa xôi, khó khăn

về điều kiện sổng, giảm dằn khoảng câch phát triển giữa các vùng miền

Lào: Là quốc gia có tỉ lệ đói nghèo cao Tiêu chuẩn đói nghèo ở Lào được phân ra theo đơn vị: h o ^ ia đình, đơn vị xã và đơn vị huyện Hộ gia đình nghèo thành thị thu nhập từ 100.000 kip trở xuống/người/tháng và nông thôn 82.000 lcip/người/tháng (1000 kip = 1 đôla theo đơn giá 2001, tương đương với 16kg gạo/người/tháng) Đơn vị xã nghèo là các xã có 51%

số hộ gia đình nghèo, không có trường học, không có trạm y tế, thiếu nước sạch, không có giao thông đường bộ cho xe bò, xe ngựa đi Đơn vị huyện nghèo là có từ 52% số xã nghèo, 40% số xã không có trường học, không có

y tế chữa bệnh, không có nước sạch và 60% số xã không có đường bộ cho

xe thô sơ đi lại Theo tiêu chuẩn trên thì ở Lào có 72 huyện nghèo, có 47 huyện được xác định là đối tượng ưu tiên trong giai đoạn 2003- 2005

vàft=bảftg-4 (phtt-krtrì (ắ 18 tỉnh cả nước, trong 72 huyện nghèo có tổng số

4.126 xã nghèo và 160.592 hộ gia đình nghèo, chiếm tỉ lệ là 76% các xã

Trang 21

nghèo và 50% các hộ gia đình nghèo Hủa Phăn là tinh có số xã nghèo nhiều nhất (21.299 hộ, chiếm 65.1%); Viên Chăn là tỉnh có số xã nghèo ít

phân loại huyện nghèo dựa vào Nghị định 10, Điều tra về Chi phí và tiêu dùng của Lào II (LECS II- 1997/98) theo nguồn Trung tâm thống kê Quốc gia Lào (tháng 3/2003) thì phạm vi ảnh hưởng đói nghèo của 72 huyện là 55% So với 70% huyện được coi không nghèo là 23% Trong số 72 huyện nghèo, phạm vi ảnh hưởng đói nghèo của 47 huyện được ưu tiên là 64%, của 25 huyện còn lại là 38% Mặt khác, 72 huyện nghèo nhất có 50% dân

số được xác định là đói nghèo và 70 huyện không nghèo có 19% dân số là đói nghèo Có thể thấy nguyên nhân tình trạng đói nghèo ở Lào do vấn đề đất đai, sự suy yếu đất trồng trọt (khu vực phía Bắc và phía Tây); do thiệt hại vật nuôi thiếu dịch vụ thú y; thiếu vốn để cải thiện nghề nghiệp; do thiên tai (khu vực phía Nam); do các vấn đề môi trường, do thiếu nước nông nghiệp; do thiếu người lãnh đạo; do tái định cư; do gia đình lớn nhiều trẻ em (khu vực miền Trung); do thuốc phiện (khu vực phía Bắc) do thiếu đường xá và nạn dịch sâu bệnh là nguyên nhân đói nghèo ở tất cả các khu vực của Lào

Chính sách của Nhà nước Lào tổng hợp thành 3 mục tiêu giải quyết đói nghèo:

1 Các dự án, chương trình giảm nghèo tập trung vào nông nghiệp, giáo dục, dịch vụ y tế, cung cấp cơ sở hạ tầng

2 Tăng cường phát triển nguồn nhân lực phổ biến kĩ năng liên quan đến kinh tế, tổ chức cộng đồng, bảo vệ quản lý môi trường (nguồn đất, nước, rừng), cải thiện chất đất, bổ sung nguồn rừng, huy động cộng đồng tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch về nghề nghiệp, cơ sỏ' hạ tầng, tài nguyên và bảo tồn văn hóa

16

Trang 22

3 Những nét riêng của mỗi khu vực như địa lý, chất lượng nguồn tài nguyên, sở hữu tài sản, mô hình quản lí, lối sống văn hóa, phải đưa vào chương trình chiến lược để giảm nghèo.

Những yêu điêm của các địa phương cân được phân tích và Chính phủ có những tổng hợp để đưa ra các quyết sách thực hiện xóa đói giảm nghèo, mở ra các khóa đào tạo cán bộ quản lý, triển khai Những yếu kém còn do bất an lương thực Do đó Chính phủ Lào đã tăng cường hợp tác với Chương trình lương thực thế giới (WFP) để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững

Từ 2006- 2010 ti lệ nghèo đói của Lào từ 32% giảm xuống còn 26%

năm 2010 So với các nước trong ASEAN, tỉ lệ đói nghèo của Lào đứng hàng thứ 3, hơn Philippines, Myanmar Giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của Lào Phấn đấu đến năm 2015 Lào sẽ giảm ti lệ nghèo xuống 10%

Tiếp tục đẩy mạnh việc xóa đói giảm nghèo, xây dụng tiêu chuẩn

nghèo mới theo chuẩn quốc tể, chính phù Lào đấ xấy dựng kế hoạch xóa đói giảm nghèo quốc gia, giao cho Phó thủ tướng chỉ đạo trực tiếp tổ chức thực hiện Các biện pháp của chính phủ Lào trong việc giảm đói nghèo là:

- Nhà nước xây dựng các dự án kết hợp phát triển kinh tế, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư cho y tế, giáo dục, văn hóa thông tin với các mục tiêu giảm nghèo

- Xây dựng mô hình làng, cụm gương mẫu phát triển sản xuất hàng hóa, không phá rừng làm nương rẫy, chấm dứt trồng cây thuốc phiện

- Tổ chức các nhóm tiết kiệm, xây dựng quĩ cung cấp tín dụng để giúp đỡ các hộ khó khăn phát triển sản xuất

- Qui định địa điểm và dự án ưu tiên về xóa đói giảm nghèo để có kế hoạch huy động nguồn vốn giúp đỡ; sắp xếp ưu tiên giúp đỡ vùng sâu vùng

xa, vùng đặc biệt khó khăn cho chương trình xóa đói giảm n£hầa.2(llJ,;

Trang 23

- Thực hiện phương hướng xã hội hóa công tác xóa đói giảm nghèo.

- Đẩy mạnh công tác tập huấn cho người nghèo có kiến thức, có tay nghề trong sản xuất kinh doanh

- Xây dựng hệ thống thông tin để kiểm tra đánh giá tổ chức thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo từ trung ương đến địa phương

- Tăng cường hợp tác quốc tế, xây dựng chiến lược chống và hạn chế thiên tai

- Tăng cường tuyên truyền nâng cao tri thức của quần chúng, đẩy mạnh phong trào toàn dân giúp đỡ người nghèo

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo thì ở Lào những hạn chế cần khắc phục như: Phổ biến tình trạng thiếu phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan chức năng, thiếu sự chỉ đạo thống nhất của chính phủ nên chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm tổng hợp, đánh giá, kiểm tra giám sát công tác giảm nghèo.Chưa có cơ chế cho vay tín dụng ưu đãi thật rõ ràng để vốn ưu đãi của nhà nước đến tay người sản xuất khi họ có nhu cầu: Thiếu cơ chế huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để tạo các quĩ cho người nghèo vay vốn, phát triển sản xuất Mặt khác, lực lượng cán bộ cũng như trình độ chuyên môn của các cấp chính quyền cơ sở còn yếu kém, gây trở ngại cho việc truyền đạt và thực hiện chính sách giảm nghèo

M alaysia: Có ti lệ dân số đói nghèo thấp hơn cả Việc triển khai xây dựng cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN đối với Malaysia là các chính

sách quan trọng như: Chính sách phát triển quốc gia (Kế hoạch OOP3, 2001- 2010) và Kế hoạch 5 năm lần thứ 9 (2006- 2010) Malaysia đã kết

hợp chính sách tăng trưởng với công bằng giữa các tộc người và trong nội

bộ một cộng đồng tộc người trong phát triển Chiến lược và chính sách là tập trung vào việc tăng thu nhập và chất lượng sống cho nhóm người nghèo, nhóm người có thu nhập thấp OPP3 định hướng tập trung vào các nhóm người bất lợi thế và cư dân sống ở vùng sâu vùng xa Chính sách cơ

18

Trang 24

cấu lại kinh tế xã hội sẽ tập trung vào việc điều chỉnh lại sự mất cân đối giữa các cộng đồng tộc người, nâng cao vị thế của người Bumiputra (cộng đồng người Malai, dân chính gốc) trong đời sống kinh tế của đất nước để

họ tham gia hơn nữa vào quá trình hoạt động công- thương, vào nền kinh tế tri thức OPP3 đã đề ra các mục tiêu:

1 Thủ tiêu hoàn toàn đói nghèo, nâng mức sống cho 30% hộ gia đình có thu nhập thấp

2 Tăng quy mô của nhóm có mức thu nhập trung bình

3 Người Bumiputra sở hữu 30% cổ phần vào năm 2010

4 Tạo ra giới doanh nhân Bumiputra

5 Đảm bảo việc làm trong nền kinh tế phù hợp với cơ cấu tộc người, cải thiện cuộc sống cho mọi người dân

Để phát triển cân đối, Malaysia nỗ lực giảm bất bình đẳng giữa các bang giàu và bang nghèo; đảm bảo lợi ích được chia sẻ công bằng cho mọi

người dân.

Với những cổ gẳng của Chính phủ, tình trạng đói nghếo ơ Malaysia

đã được giảm căn bản Tỉ lệ đói nghèo đã giảm tò 8,5% (năm 1999) xuống

còn 5,7% (năm 2004) với tỉ lệ giảm xuống ở cả nông thôn và thành thị số

hộ đói nghèo giảm tò 409.300 xuống còn 311.300, nhưng trong đó ở nông thôn ti lệ giảm thì ở thành thị tỉ lệ lại tăng Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8 (2001- 2005) Nhà nước chi 589,5 triệu R.M cho các chương trình đối với người cực nghèo Đối với Orang Asli (người chính gốc Malay) Nhà nước

có chính sách cải thiện đời sống thông qua các chương trình kinh tế xã hội như giáo dục, đào tạo nghề, cung cấp phương tiện cơ sở hạ tầng, cung cấp điện nước

Theo cơ cấu tộc người, tình trạng đói nghèo (từ 1994- 2004) có giảm xuống nhưng mức độ giảm đói nghèo ở 3 sắc tộc (Bumiputra, Hoa, Án) có khác nhau Trong khi tỉ lệ đói nghèo của người Hoa giảm nhanh hơn (1,2%

năm 1999 xuống còn 0,6% năm 2004) thì tỉ lệ đói nghèo của người Án

Trang 25

(3,5% năm 1999 và 2,9% năm 2004) và Bumiputra (12,4% năm 1999 xuống 8,3% năm 2004) giảm chậm hơn Người Bumiputra vẫn là tộc người

có tỉ lệ đói nghèo cao nhất Tỉ lệ người cực nghèo giảm đi, tương quan giữa

3 sắc tộc cũng theo chiều hướng trên Có thể thấy nguyên nhân đói nghèo ở sắc tộc người Bumiputra là do kĩ năng lao động và trình độ giáo dục thấp

Theo các số liệu, từ 2004 đến 2009 Malaysia cũng đã phấn đấu giảm nghèo xuống đáng kể Tỉ lệ nghèo đói ở Malaysia đã giảm tò mức 5,7%

năm 2004 xuống 3,8% năm 2009, với tỉ lệ nghèo đói của khu vực thành thị

đã giảm từ mức 2,5% xuống còn 1,7% và của nông thôn giảm từ 11,9%

cuống còn 8,4% cùng thời kỳ Trong đó, đối tượng cực nghèo của cả nước

đã giảm từ mức 1,2% xuống còn 0,7%, của khu vực thành thị giảm từ 0,4%

xuống còn 0,2% và nông thôn giảm từ 2,9% xuống còn 1,8% cùng thời kỷ

đã nêu trên

Theo cơ cấu tộc người, tình trạng đói nghèo cũng đạt được tiến bộ đáng kể, nhất là đối với cộng đồng người Mã lai và Án Độ Trong thời kỳ 2004- 2009, tỉ lệ nghèo đói của cộng đồng người M ã lai đã giảm từ 8,3%

xuống còn 5,3%, của người Ấn Độ đã giảm từ 2,9% xuống còn 2,5% trong khi người Hoa giữ nguyên (0,6%) Tương tự, tỉ lệ hộ cực nghèo cũng có sự cải thiện đối với tộc người Mã lai giảm 1,9% xuống còn 1,1% và hai cộng

đồng còn lại có tỉ lệ rất nhỏ (0,1% người Hoa và 0,3% người Án Độ) Mặc

dù có sự cải thiện đáng kể nhưng trong ba cộng đồng người ở Malaysia thì

tộc người Mã lai có tỉ ỉệ nghèo đói vẫn cao hơn cả

- về phân phối thu nhập và công bằng xã hội, so sánh thời kỳ 1999-

2004 với 2004- 2009 ở Malaysia cũng thấy có cải thiện rõ rệt Điều này thể hiện ờ hệ số Gini, hệ số đo lường mức độ phân phối thu nhập công bằng hay bất bình đẳng

về phân phối thu nhập, có thể thấy thu nhập của 40% sổ hộ có thu nhập thấp nhất đã được giảm từ 14% năm 1999 xuống 13,5% năm 2004

Trong khi đó thu nhập của 20% hộ gia đình có mức thu nhập cao nhất đã

20

Trang 26

tăng từ 50,5% (1999) lên 51,2% (năm 2004) Phân phối thu nhập tính theo cộng đồng tộc người thì có 3 sắc tộc ở Malaysia đều có hệ số Gini tăng trong thời gian từ 1999- 2004 Trong đó, cộng đồng Bumiputra vẫn là cộng đồng có mức độ bất bình đẳng cao nhất với hệ số Gini tăng từ 0,433 lên 0,452 Phân phối thu nhập ở thành thị kém đi thì ở nông thôn được cải thiện lên Tuy vây, nếu nhìn vào tỉ lệ tăng trưởng thu nhập trung bình thời gian 2000- 2004 thì tốc độ tăng của khu vực nông thôn rất chậm, chỉ chiếm 0,3% Điều này cho thấy, việc hệ số Gini giảm ở nông thôn không phải là dấu hiệu chửng tỏ phân phối thu nhập đã thực hiện tốt ở khu vực nông thôn, về cơ cấu lại việc làm, người Bumiputra trong các nghề nghiệp quản

lý và quan chức chuyên môn còn thấp Ti lệ người Bumiputra trong các nghề nghiệp như nghệ sĩ, nhà văn, giáo viên, kế toán còn thấp so với cơ cấu tộc người cũng như thấp hơn so với cộng đồng người Hoa và người Ấn

Việc cơ cấu lại vốn cổ phần trong khu vực kinh doanh cũng chưa cải thiện

thời gian này, khi mà sở hữu vốn cổ phần của người Bumiputra vẫn giữ

nguyên ờ mức 18,9% Điều nấy có thể thấy mục tiêu kết cấu íại vốn cổ phần trong khu vực kinh doanh đặt ra của OPP3 là khó thực hiện

Thời kỳ 2004- 2009 hệ số Gini giảm tò mức 0,462 năm 2004 xuống còn 0,441 năm 2009, phản ánh tình trạng phân phối thu nhập đã trở nên công bằng hơn Xét theo tộc người, tình trạng phân phối thu nhập nội bộ cộng đồng người Mã lai, người Hoa được cải thiện, trong khi người Án Độ được cải thiện không đáng kể Điều này thể hiện ở chỗ, hệ số Gini của người Mã lai đã giảm từ 0,452 năm 2004 xuống còn 0,440 năm 2009 và của người Hoa đã giảm từ 0,446 xuống còn 0,425 Xét theo khu vực, hệ số Gini trong phân phối thu nhập được cải thiện đáng kể ở thành thị nhưng bất bình đẳng lại tăng lên ở khu vực nông thôn

Tóm lại, tình hình xóa đói giảm nghèo ở các quốc gia Đông Nam Á (trừ Singapore và Brunei) đã có những kết quả đáng ghi nhận, cho thấy tính khả thi và khả năịhiện thực hóa các mục tiêu giảm nghèo của cộng đồng

Trang 27

văn hóa- xã hội ASEAN Có thể nhận thấy, các nước ASEAN 6 có mức sống cao hơn, tình trạng đói nghèo ít hơn so với các nước ASEAN 4 Các nước như Philippines, Myanmar, Lào, Campuchia có tỉ lệ đói nghèo cao hơn cả Xóa đói giảm nghèo vẫn là vấn đề trọng tâm của cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN cho đến năm 2015 và xa hơn nữa.

+ Đảm bảo bình đẳng giới, đảm bảo quyền của phụ nữ:

Xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ nòng cốt của trụ

cột văn hóa- xã hội đồng thời nó tác động và đóng vai trò chi phối chiến lược phát triển của kinh tế Việc quan tâm đến sự phát triển của phụ nữ, quyền phụ nữ trong đời sống xã hội cũng nhằm tới mục tiêu công bằng xã hội Đây cũng là một thang giá trị đột phá của các nước ASEAN về quyền con người, bởi lẽ trong truyền thống các nước ASEAN đều mạng năng tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ Thêm vào đó các nước theo Hồi giáo, phụ nữ còn bị hạn chế nhiều hơn bởi những luật lệ của giáo luật làm cho họ bị loại khỏi đời sống xã hội, bị bưng bít khép kín trong ngôi nhà ở

Vấn đề giải phóng phụ nữ ở châu Á là đề tài nổi cộm trong thế kỉ qua Thực hiện bình đẳng giới trong văn hóa- xã hội ASEAN là một nét văn hóa tiến

bộ, tích cực, từng bước để phụ nữ được thể hiện quyền và nghĩa vụ của một

v > I cô n g dân binh đ ă n g , Ể ắ i ỳ ề

I " Bình đẳng gĩỡi thấy rcTnHắt ở Việt Nam Nồ/âượclchởi phát và thực

hiện từ khi nước Việt Nam độc lập chơ đến nay bằng các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam Năm 2002 tỉ lệ phụ nữ là chủ hộ gia đình trong cả nước chiếm 24% (ở thành thị 36%, ở nông thôn 20% tổng số hộ) Năm 2003 tỉ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế là 68,5% so với nam là 75,8% (ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên ti lệ này còn cao hơn chiếm 79%) Năm 2003, tỉ lệ sử dụng thời gian lao động của nữ là 77,2% so với nam là 78,9% Thời gian tham gia sản xuất kinh doanh của nữ một ngày là4,9 giờ so với nam là 5 giờ (năm 2002), nhưng thời gian làm nội trợ của nữ cao gấp 2,5 lần so với nam ở thành thị, gấp 2,3 lần so với nam ở nông thôn

22

Trang 28

Thu nhập bình quân một năm của nữ và nam tương đương nhau Trong giáo dục- đào tạo, tỉ lệ nữ từ 10 tuổi trở lên biết chữ là 89% so với nam là 95% (năm 2002) Tuy nhiên có sự khác biệt về ti lệ nữ biết chữ giữa các nhóm tộc người Nữ giáo viên chiếm tỉ lệ cao trong tổng số giáo viên của ngành giáo dục nhưng chủ yếu tập trung ở các cấp thấp, trừ bậc cao đẳng tỉ

lệ giáo viên nữ và nam gần tương đương nhau, về tỉ lệ bằng cấp (năm2002) của nữ 25,5 người/100 người dân từ 15 tuổi tốt nghiệp tiểu học;

25,8% người tốt nghiệp trung học cơ sở; 9,4người tốt nghiệp trung học phổ thông tương ứng với nam; là 27,3 người; 29,5 người; 12 người Trung học chuyên nghiệp ở nữ và nam tỉ lệ bằng nhau Bậc cao đẳng tỉ lệ nữ là 2,7%

so với nam là 4,2% còn ở Đại học tỉ lệ nữ thấp hơn 3 lần so với nam; nữ 0,04% so với nam 0,13% Chăm sóc sức khoè cho phụ nữ như được khám thai, tiêm phòng, uống thuốc sau khi sinh, trợ giúp y tế khi sinh cũng như chăm sóc bà mẹ trẻ em đều đạt được những ti lệ cao Tuy nhiên, đối với các

vùng Tây B ắc, Đ ô n g B ắc, T ây N g u y ên , tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với cả

nươc Tỉ lệ nứ tham gia quản lý, lanh đạo các cấp, các ngành đằ tằng lên trong những năm gần đây Tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội tăng liên tục trong 3 khóa gần đây: Khóa IX nữ chiếm 18,5%, Khóa X là 26,2%, Khóa XI là 27,3% (2002- 2007) Ti lệ đại biểu Hội đồng nhân dân nữ chiếm 19,5% ở cấp phường xã, 23% cấp quận, huyện, 23,9% ở cấp tỉnh thành phố (khóa 2004- 2009) Tỉ lệ nữ tham gia cấp uỷ Đảng ở phường xã, quận huyện cũng gia tăng, nhiệm kỳ 2001- 2005 Đảng uỷ xã phường nữ chiếm 11,4% quận huyện 12,6% ở Trung ương khóa 8 nữ chiếm 10,6%

Như vậy, vấn đề giới trong lĩnh vực lao động việc làm Việt Nam đã

có những thành tựu đáng kể, đạt được một số mục tiêu của kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Các lĩnh vực như giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ phụ nữ cũng đạt được những thành tích Tuy vậy những vấn đề tồn tại trong bình đẳng giới nổi lên như tỉ lệ nữ thất nghiệp còn tăng ở thành thị, nữ làm nội trợ còn cao hơn nam nhiều, các em gái ở các vùng dân

Trang 29

tộc ít người còn khó khăn tiếp cận với giáo dục, phụ nữ vùng cao và dân tộc ít người tiếp cận dịch vụ y tế còn ít Ngoài ra, những vấn đề khác như bạo hành phụ nữ trong gia định, xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em còn xảy

ra ở nhiều nơi và có xu hướng gia tăng, cần thiết có sự vào cuộc của các cấp chính quyền, các đoàn thể xã hội để chấm dứt những vi phạm về giới trong những năm sắp tới, nhằm đảm bảo cuộc sống yên vui cho mỗi người trong cộng đồng

Indonesia: Là một quốc gia Hồi giáo, nhưng quyền phụ nữ và bình đẳng giới cũng có nhiều tiến bộ đáng kể, phụ nữ Indonesia có quyền tương

tự như nam giới Phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động tăng lên chiếm tỉ

lệ 38% năm 2002 Trong lĩnh vực giáo dục, học sinh nữ chiếm ti lệ 92% so với nam giới là 9 3% ờ cấp tiểu học (1999- 2005) Các cấp học trên, tỉ kệ giữa nam và nữ xấp xỉ như nhau Vị trí của phụ nữ được cải thiện đáng kể nếu nhìn vào các chỉ số về tuổi thọ, về phát triển con người, chỉ số về giới ở Indonesia Các con số cho thấy giữa nữ và nam chênh lệch nhau không nhiều về tình trạng cuộc sống, ti lệ về giáo dục, về khả năng đóng góp thu nhập Đặc biệt về chăm sóc y tế thì khoảng cách giữa nhóm phụ nữ giàu và nhóm phụ nữ nghèo còn khá xa (ti lệ 89% so với 21%)

Vấn đề bình đẳng giới đã được chính phủ Indonesia chú trọng và nâng cao trong một thập kỷ trở lại đây Năm 2008, có khoảng 53,3% nữ giới (tăng 15,3% so với năm 2002) và 86,2% nam giới tham gia vào lực lượng lao động Ti lệ nữ giới làm việc trong các ngành phi nông nghiệp là 31,5% Tỉ lệ nữ giới thất nghiệp cũng đã giảm mạnh, nhưng so với nam giới vẫn cao hơn: 11% lực lượng lao động nữ thất nghiệp (14,5% năm 2006) trong khi đó nam giới chỉ có 8% thất nghiệp (9,5% năm 2006) Các chỉ số quyền lực về giới (Gem), về vị trí vai trò của phụ nữ trong quốc hội,

tỉ lệ phụ nữ giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan quyền lực của nhà nước, trong khối chính trị cũng như bộ phận phụ nữ làm trong các khu vực phi nông nghiệp khác là ngang bằng với nam giới Phụ nữ chiếm 12% số

24

Trang 30

ghế trong Quốc hội, năm 2010 tăng tới 18% Phụ nữ là cán bộ lập pháp, cán

bộ quản lý cấp cao chiếm 14% Phụ nữ nắm giữ vị trí trong các bộ ngành là 11% v.v Như thế có thế thấy phụ nữ Indonesia có vai trò to lớn trong xã hội, có sự bình đẳng bình quyền với nam giới Mặc dù là quốc gia Hồi giáo nhưng ở Indonesia phụ nữ cũng đã từng nắm giữ chức vụ tổng thống

Malaysia: Cũng là quốc gia Hồi giáo, về lực lượng lao động phụ nữ chiếm 48% dân số Trong thời kỳ 2000- 2005 tỉ lệ lực lượng lao động nữ tham gia đã tăng từ 44,7% (tăng từ 3,3 triệu lao động nữ lên 3,9(%ĩtnẹũ)7 Phụ nữ làm việc chủ yếu ở các ngành công nghiệp chế tạo, bán buôn bán lẻ

và nông nghiệp, về cơ cấu nghề nghiệp, tỉ lệ nữ được sử dụng trong các ngành được trả lương cao hơn ngày càng tăng, trong khi số phụ nữ làm trong các ngành trả lương thấp ngày càng giảm (do chất lượng giáo dục được cải thiện) Ti trọng phụ nữ tham gia quản lý và quan chức cấp cao tăng từ 4,8% năm 2000 lên 5,4% năm 2005 về giáo dục, học sinh nữ trúng

tuyển vào đại học và hình thành 6 cấp chiếm đến 67% trong khi số sinh

viền cùa cầc trương Đạỉ học cống lập tằng nhanh từ 61% năm 2000 tăng lên 63,4% năm 2005 Ở trình độ sau Đại học, số học viên nữ làm thạc sĩ chiếm 48,9%, làm nghiên cứu sinh chiếm 35,7% Khả năng tiếp cận bình đẳng với các cơ hội giáo dục qua các năm làm cho Malaysia có thể đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về bình đẳng giới và thủ tiêu khác biệt về giáo dục tiểu học và trung học năm 2005 Ngoài ra, về đào tạo nghề

đã trợ giúp cho 3000 nữ doanh nghiệp, 6.328 nữ trong các ngành chế biến thực phẩm Việc trợ giúp tài chính đã có khoảng 200 triệu RM cung cấp cho 46.000 nữ tham gia phát triển doanh nghiệp Ngân hàng cho vay 446 triệu RM cho 49.000 doanh nghiệp nữ Các chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em được cải thiện, giảm tỉ lệ của trẻ sơ sinh, tăng cường chăm sóc sức khoẻ của các bà mẹ mang thai trước và sau khi sinh, thực hiện giáo dục sức khoẻ và dinh dưỡng Quyền và phẩm giá phụ nữ được bảo vệ Từ năm 2002 các góa phụ của công chức nhà nước được tiếp tục

Trang 31

nhận trợ cấp sau khi tái hôn Các bà vợ của những người sở hữu đất có quyền ngang bằng với chồng của họ trong kế hoạch phát triển đất đai

Trong những năm tới, Chính phủ tập trung giải quyết một số vấn đề phát triển của phụ nữ ngang hàng với trình độ quốc tế Đó là thúc đẩy hơn nữa

sự tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động, nâng cao cơ hội giáo dục đào tạo phụ nữ, cải thiện địa vị phụ nữ, chất lượng sống, tình trạnh sức khoẻ, giảm đói nghèo, tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh của phụ

nữ và chống bạo hành phụ nữ

Trong thời gian 2003- 2010 phụ nữ tiếp tục được nâng cao vai trò và ảnh hưởng của họ đối với sự phát triển các thế hệ tương lai và đóng góp của họ vào phát triển kinh tế số phụ nữ nắm giữ cương vị quản lý trong khu vực công đã tăng từ 6,9% năm 1995 lên 30,6% năm 2010 Tỉ lệ tham gia của phụ nữ trong lực lượng ỉao động đã tăng lên 46,4% năm 2009 Tỉ lệ phụ nữ tham gia Thượng viện tăng từ 18,2% năm 1990 lên 28,8% năm

2009 và Hạ viện tăng từ 5,3% lên 10,4% trong cùng thời kỳ Trong lĩnh vực kinh doanh, phụ nữ là giám đốc kinh doanh mới chỉ chiếm 6,1% (năm 2008) Các đại diện nữ giới chỉ chiếm 11- 14% trong Ban lãnh đạo các công ty liên quan đến Chính phủ (những năm 2005- 2009) về giáo dục, những năm gần đây tỉ lệ học sinh nữ trong các cấp học chiếm tỉ lệ cao so với nam giới Năm 2008 tỉ lệ học sinh nữ trung học phổ thông chiếm 65,9%

so với 34,1% của nam giới; Tỉ lệ nữ sinh có bàng thạc sĩ là 52,7% so với nam giới là 47,3% Để đảm bảo bình đẳng giới, Malaysia đã thành lập một

Uỷ ban đặc biệt do Bộ trưởng phụ nữ, gia đình và phát triển cộng đồng làm Chủ tịch, thực hiện các chương trình nhạy cảm về giới trong khu vực công liên quan đến việc tuyển dụng, phát triển nghề nghiệp nhằm tăng đại diện của phụ nữ trong các vị trí ra quyết định Malaysia cũng đã tiến hành các chương trình nhằm nâng cao năng lực của phụ nữ như phát triển năng lực lãnh đạo cho phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, quản lý v v ; Chương trình phát triển kỹ năng cho các bà mẹ đơn thân, cho phụ nữ trong các

26

Trang 32

ngành nghề thu nhập thấp, phụ nữ dân tộc thiểu số Ngoài ra, chính phủ Malaysia cũng thực thi các sáng kiến, để ra các nguyên tắc nhàm hạn chế tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ với việc thông qua Công ước về thủ tiêu mọi hình thức phân biệt chống lại phụ nữ, thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, chính sách phụ nữ quốc gia v v

Lào: Thực trạng bình đẳng giới gặp nhiều khó khăn Phụ nữ Lào đóng vai trò chủ yếu trong hoạt động kinh tế (nhất là sản xuất nông nghiệp), chịu trách nhiệm về việc duy trì an ninh lương thực và sức khoẻ gia đình Phụ nữ Lào có tỉ lệ biết chữ ít hơn nam giới (59,1% so với 81,7%), văn hóa thấp, đa số phụ nữ các dân tộc ít người không thông thạo tiếng Lào Vì thế rất khó khăn để tiếp cận giáo dục Điều đó kéo theo bất lợi của phụ nữ trong việc làm ở bên ngoài mường bản Họ càng bất lợi trong việc tiếp cận với các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, cộng với tỉ lệ sinh đẻ cao dẫn đến biến chứng sức khoẻ đối với bà mẹ và trẻ em

Thúc đẩy bình đẳng giới là mục tiêu quốc gia quan trong được phản

ấnh trong điêu khoán T i vá 24 cua Hiến phảp 1991, trong các cám kết qúốc

tế, trong ủ y ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Lào mới thành lập

Chính phủ Lào đã đưa ra những bước cụ thể trong tất cả các lĩnh vực kinh

tế mấu chốt và thông qua các chương trình quốc gia để hỗ trợ các hoạt động kinh tế của phụ nữ nghèo, tăng cường sự tiếp cận của họ đến với dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế và nguyên liệu sản xuất Chính phủ Lào cũng đưa ra cách giải quyết phù hợp với từng địa phương và nắm bắt những yêu cầu của phụ nữ trong phát triển chính sách quốc gia ủ y ban quốc gia về sự tiến

bộ của phụ nữ Lào cùng với các bộ triển khai chiến lược phát triển và các

kế hoạch hành động thúc đẩy bình đẳng giới ở mức độ quốc gia, tỉnh, huyện và xã Tuy nhiên, trong phạm vi quản lý hành chính, phụ nữ chiếm 1/3 số công chức nhà nước, nhưng còn ít phụ nữ nắm giữ vị trí lãnh đạo ở Trung ương, tỉnh, huyện và xã Trong lĩnh vực đòi hỏi công nghệ tay nghề, phụ nữ dân tộc ít người còn chiếm tỉ lệ thấp Chính phủ Lào cũng đang chú

Trang 33

trọng để chỉnh sửa những mất cân bằng này Trong lĩnh vực nhận thức quyền của phụ nữ, Hội Liên hiệp phụ nữ Lào sẽ tiếp tục làm việc với Bộ Tư pháp và các Bộ khác, các tổ chức nước ngoài để thúc đẩy nhận thức của phụ nữ về pháp luật và tiếp cận của họ tới pháp luật bảo vệ phụ nữ Chính phủ đã đưa ra các bước cụ thể, trong tất cả các lĩnh vực qua các chương trình quốc gia để hỗ trợ các hoạt động kinh tế của phụ nữ nghèo, tiếp cận của phụ nữ tới các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, nguồn nguyên liệu sản xuất Chính phủ cũng đưa ra các cách giải quyết phù hợp để nâng cao vai trò và tăng tỉ lệ phụ nữ trong các công tác xã hội, trong các tổ chức cơ quan nhà nước.

+ Trong xã hội đùm bọc nhau, sự sẻ chia của người giàu cho người

nghèo, xóa đói giảm nghèo, giúp đõ người nghèo, tương thân tương ái là một giá trị văn hóa tốt đẹp Việc thực hiện bình đẳng giới, giúp đỡ phụ nữ, tạo cơ hội cho họ tham gia mọi hoạt động xã hội để có vị trí ngang bằng nam giới là một giá trị của nhân quyền con người Tất cả để hướng tới công bằng xã hội, hướng tới sự thông giao của mọi thành viên trong cộng đồng ASEAN Trong chỉnh thể cộng đồng văn hóa- xã hội ấy mở ra cơ hội, điều

k iện cho tất cả m ọi người được học tập v à học tập suốt đời Đ ặ c biệt là tạo

cơ hội cho thanh niên, lực lượng trẻ và kế tục phát triển khả năng tiềm tàng của họ trong việc phát triển đất nước Các chương trình Thanh niên ASEAN, Chương trình tổ chức trại hè cho thanh niên ASEAN là những hoạt động giao lưu và phát huy tài năng sáng tạo của thanh niên trong mọi lĩnh vực để tạo ra một thế hệ công dân mới cùa cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN Những chương trình này bao gồm giáo dục, đào tạo bao gồm đào tạo kỹ năng và phát triển doanh nghiệp cùng với kế hoạch hành động phát triển thanh niên (ra đời 2004 ở Malaysia) Kế hoạch phát triển thanh niên tập trung vào tình trạng đời sống kinh tế và xã hội, xây dựng năng lực, chất lượng lãnh đạo, nhận thức chính trị và liên kết xã hội trong thanh niên

ASEAN tạo ra khuôn khổ pháp lý cho các chương trình phát triển thanh

28

Trang 34

niên, thức đẩy sự tham gia bằng cách để họ tiếp cận sâu vào giáo dục đào tạo, khuyến khích đẩy mạnh tinh thần cạnh tranh trong thanh niên.

+ Việc chăm sóc trẻ em, người già, ngưòi tàn tật được quan tâm ở

các quốc gia ASEAN vì đây là những nhóm dân cư cần được xã hội nâng

đỡ nhất Sự quan tâm tới những nhóm người này trước hết ở các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Nhiều chương trình y tế công cộng và hoạt động của các trạm y tế tập trung vào các đối tượng này để giảm bệnh tật và tử vong

Ồ Việt Nam, năm 2000 đã có Pháp lệnh người cao tuổi Năm 2003,

nghị định 120 của Chính phủ quy định người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên được cấp miễn phí bảo hiểm y tế Phong trào người già sống vui, sống khoẻ, sống có ích được truyền thông rộng rãi ở Việt Nam Đối với người tàn tật, các tổ chức đoàn thể tạo điều kiện cho họ được học tập văn hóa, học nghề trong các cơ sở giáo dục chuyên biệt và tạo công ăn việc làm thích hợp cho họ để giảm bớt những khó khăn, thiệt thòi trong cuộc sống

2 Giải quyết y tế chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo dinh dưỡng cũng như phớỉig cách sống lành mạnh

Nhằm làm cho mỗi người khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần là tiền

đề cơ bản để phát triển nguồn nhân lực, nâng cao các chỉ số về con người

Để có sức lchoẻ tốt, ngoài phát triển mạng lưới y tế, dịch vụ y tế cộng đồng kết quả của nó còn phụ thuộc vào việc giải quyết tình trạng đói nghèo, đặc biệt cần tập trung giải quyết giữa người giàu người nghèo, đặc biệt hơn là tập trung giải quyết sức khoẻ cho người nghèo Các nước ASEAN đã có nhiều cố gắng trong việc chăm sóc sức khoẻ cho người dân nhưng còn khá nhiều việc bất cập Tình trạng quá tải ở các bệnh viện Hà Nội là một ví dụ

Theo Ngân hàng thế giới, chi phí y tế của Thái Lan chiếm 3,5%

GDP, chi phí y tế cộng đồng chiếm 2,3%; của Philippines chi phí y tế chiếm 3,4%; y tế cộng đồng chiếm 1,4%; của Malaysia là 3,8% và y tế cộng đồng là 2,2%; của Campuchia là 6,7% GDP và y tế cộng đồng là

Trang 35

Chẳng hạn, Indonesia những năm cuối thập kỷ 80 chỉ có 23.000 bác

sĩ, 76.000 bà đỡ, 70.000 y sĩ Tỉ lệ này so với các nước ASEAN là thấp Tỉ

lệ giường bệnh 0,06 người/1000 người cũng là thấp trong ASEAN Chi phí

y tế theo đầu người ở Indonesia là 32,5 đôla, thấp hơn các nước như Phiỉippines là 35,1 đôla, ở Thái Lan là 88,1 đôla, ở Malaysia là 108,1 đôla

Kết quả của chăm sóc y tế có thể thấy qua tuổi thọ trung bình của nam là

68 và của nữ là 71 (năm 2005- theo Ngân hàng thế giới) Tỉ lệ trẻ tử vong giảm xuống còn 31/1000 ca sinh năm 2005 Trẻ em tiêm chủng đạt 72%

(năm 2004) Trẻ em suy sinh dưỡng thiếu cân ở dưới 5 tuổi là 28%

Năm 2008 chi phí y tế bình quân đầu người ở Indonesia là 42 ƯSD/người; trong khi đó ở các nước khác như Brunie 750 ƯSD/người;

Campuchia 36 USD/người, Lào 27 ƯSD/người, Malaysia 310 ƯSD/người, Myanmar 7,3 ƯSD/người, Philippines 62 ƯSD/người, Singapore 1150 ƯSD/người, Thái Lan 138 ƯSD/người, Việt Nam 58 USD/người Như thế, các nước ASEAN đều đã tăng chi phí cho y tế, đều có tiến bộ hơn, ngày càng tốt hơn trong công tác chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng Chi phí y tế trong tương quan với GDP của các nước ASEAN lần lượt là Philippines 3,85%, Brunei 2,38%, Campuchia 5,9%, Lào 4%, Malaysia 4,38%, Myanmar 1,93%, Singapore 3,09%, Thái Lan 3,73%, Việt Nam 7,1% Có thể thấy Campuchia và Việt Nam chi phí cho y tế chiếm tỉ lệ cao hơn các nước Việt Nam chi cho y tế gấp 3 lần so với chi cho y tế ở Indonesia Tỉ lệ trẻ tử vong ở Indonesia cũng giảm xuống còn 12/1000 ca sinh (năm 2010), 86% trẻ được tiêm chủng; trẻ em suy dinh dưỡng còn 16% (năm 2008)

Trong năm 2010 tỉ lệ giường bệnh ở Indonesia là 0,6 giường/1000 dân; 0,3 bác sĩ/1000 người, vẫn là mức thấp so với các nước khác như Singapore(3,2), Malaysia (1,8), Lào (1,3)-

1,7%; của Indonesia là 2,8% GDP, y tế cộng đồng chiếm 1%; Lào là 1,3%

GDP

30

Trang 36

Còn ở Việt Nam, trẻ con dưới 1 tuổi được tiêm chủng 6 loại vacxin đạt 90% Trẻ em đén 36 tháng tuổi được uống vitamin chiếm tỉ lệ cao Trẻ

em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 28,51% xuống còn 10,2% (năm 2005) Số bệnh nhân bị sốt rét và tử vong đã giảm xuống 82% (năm 2005)

Số bênh nhân phong giảm đáng kể, chỉ phát hiện thêm 71 trường hợp vào năm 2005 Đặc biệt, Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt vào năm

1996 Số người bị sốt xuất huyết năm 2004- 2005 có chiều hướng gia tăng

Tỉ lệ gia đình sử dụng muối iốt chưa cao, chỉ đạt 60% Các vụ ngộ độc thức

ăn (trên 30 người cùng lúc) vẫn còn xảy ra trên 10 vụ trong những năm gần đây

Ở Lào, phát triển hệ thống y tế đang còn là vấn đề xã hội cấp bách

Đầu tư chăm sóc y tế là vấn đề lâu dài Các dịch bệnh như sốt rét, tiêu chảy, tả, sốt xuất huyết, giun sán, lao vẫn còn phổ biến hoặc đe dọa nghiêm trọng Ở Lào, các vấn đề y tế chưa kiểm soát đầy đủ thì những tồn tại trong quá khứ như tì lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh rất cao Đây là do dịch vụ y

Như vậy/ có thể thấy các nước nghèo của ASEAN còn phải phấn đấu nhiều để cải thiện tình trạng sức khoẻ cho người dân Các chính sách, các nguồn lực y tế cần được cải thiện hơn nữa để có thể kiểm soát dịch bệnh và đáp ứng nhu cầu được khám chữa bệnh của người dân v ấn đề đảm bảo

Trang 37

cho mọi người có thuốc chữa bệnh an toàn, có chất lượng và giá rẻ là bài toán đang ở phía trước của các quốc gia.

3 Giải quyết tệ nạn xã hội và đại dịch

Bên cạnh việc chăm sóc sức khoẻ cho người dân để tăng trưởng chỉ

số con người, các nước ASEAN đang phải đối mặt với các đại dịch như Sars, dịch cúm H5N1, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội như: Ma tuý, nạn buôn bán trẻ em, phụ nữ Những vấn đề này đều liên quan đến chăm sóc y

tế và sức khoẻ cộng đồng

Dịch cúm Sars xuất hiện ở Việt Nam năm 2003 và đã được khống chế không còn tái xuất hiện Dịch H5N1 khống chế có phức tạp hơn, vì nó luôn tái phát và bùng phát ở nhiều địa phương Dịch cúm gia cầm lây sang người ở Việt Nam tính đến 2007 đã có 94 trường hợp (tử vong 42 trường hợp), Thái Lan mắc 21 trường hợp (tử vong 13) Indonesia mắc 12 trường hợp (tử vong 7) Việt Nam đã có nhiều hoạt động tích cực phòng chống và dập dịch Xây dựng kế hoạch phòng chống, giám sát chặt chẽ để tránh lây lan, xây dựng dự án hỗ trợ khẩn cấp cho hệ thống cảnh báo sớm và xử lý kịp thời các điểm dịch dưới sự hỗ trợ của Chính phủ

Đại dịch HIV/AIDS là cuộc khủng hoảng toàn cầu và thách thức đối với tất cả các quốc gia, trong đó có ASEAN Tỉ lệ này vẫn còn cao đối với các quốc gia Hai quốc gia Brunei, Philippines dưới 0,1%, Indonesia 0,1%, Lào 0,1%, Singapore 0,2%, Malaysia 0,4%, Việt Nam 0,4%, Myanmar 1,2%, Thái Lan 1,5%, Campuchia 2,6% (số liệu ASEAN) Các biện pháp phòng ngừa của các nước chủ yếu dựa vào các chiến dịch nâng cao hiểu biết của người dân, giáo dục giới tính trong trường học, các biện pháp an toàn tình dục Tuy nhiên, đại dịch này không dễ khắc phục, thậm chí còn thấy gia tăng, bởi nó gắn liền với ma tuý, buôn bán sử dụng ma tuý trong

khu vực Trong Kế hoạch hành động Viên Chăn (2004), kế hoạch đảm

bảo một ASEAN không ma tuý đến năm 2015 bằng mọi biện pháp, xem ra khó thực hiện được hoàn toàn

32

Trang 38

Ở Việt Nam, các vụ xâm hại ở trẻ em có chiều hướng gia tăng Năm

2001 có tới 1913 vụ xâm hại trẻ em, trong đó xâm hại tình dục chiếm 53,2%, giết trẻ em 4,7%, cố ý gây thương tích 16,3%, mua bán, bắt trộm 3,2%, dụ dỗ chứa chấp trẻ em phạm pháp 1,5% Tỉ lệ trẻ em gái bị xâm hại chiếm 53,8% trên tổng số, trong đó dưới 13 tuổi chiếm 50%, dưới 6 tuổi chiếm 9,5% Nạm buôn bán phụ nữ và trẻ em có xu hướng gia tăng, phức tạp Năm 1991- 2004 đã phát hiện 2458 vụ gồm 4076 đối tượng tham gia vào đường dây buôn bán phụ nữ và trẻ em Việt Nam là đầu mối của các đường dây buôn người đến các nước Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, ú c , Đài Loan, Macao, Myanmar, Hồng Công Cơ quan công an Việt Nam hoạt động mạnh phá được nhiều vụ án và truy bắt tội phạm này, nhưng số tội phạm ngày càng nhiều hơn

Mặc dù những cố gắng từ nhiều phía, tệ buôn bán phụ nữ và trẻ em vẫn đang phát triển tại Việt Nam và các nước khác trong khu vực Riêng vùng Đông N am Á mỗi năm có khoảng 200.000 phụ nữ và trẻ em rơi vào tay bọn buòn người Đây là vấn đề quan tâm lởii củá chính phủ các nước ASEAN và dư luận thế giới nhằm khắc phục và chấm dứt tệ nạn này

4 Giáo dục, lao động và việc làm

Hội nhập kinh tế toàn cầu là xu thế tất yếu đang diễn ra Để tiến tới cộng đồng ASEAN các nước ASEAN đặt mục tiêu hội nhập và liên kết sâu rộng nội khối ASEAN Vì thế, để kiểm soát những tác động xã hội do hội nhập kinh tế cho khu vực và thế giới, nhiệm vụ nòng cốt song song với xóa

việc làm luôn gắn kết với nhau

Trình độ giáo dục đào tạo của các quốc gia ASEAN có khác nhau, theo những mô hình khác nhau Singapore và Malaysia có nhiều quan hệ hợp tác quốc tế, đã đẩy nhanh giáo dục Đại học lên những nấc thang mới

Trang 39

tiến gần với trình độ quốc tế Có thể dẫn ra tình hình giáo dục và mục _tiêu/

-||| , * U-ổt

Việt Nam có hệ thống giáo dục thống nhất, tương đối hoàn chinh từ giáo dục mầm non đến đại học, sau đại học, từ chính quy đến tại chức chuyên tu và từ xa Mạng lưới trường lớp đã phủ khắp các địa bàn dân cư, ngay cả những nơi xa xôi hẻo lánh Qui mô giáo dục đào tạo đã tăng nhanh

Đến năm 2000 Việt Nam có 20 triệu người đi học, chiếm ‘/4 dân số Đến năm 2000 cả nước đạt chuẩn quốc gia xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiếu học Trẻ em nhập học đúng độ tuổi đạt 90%, người lớn biết đọc biết viết đạt tới 94% Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở Các trường tư nhân chiếm tỉ lệ nhỏ trong cơ cấu ngành giáo dục Năm 2005 hệ thống trường tư nhân ở tiểu học chiếm 0,4%, trung học 10%

Việt Nam đã nhiều lần thực hiện cải cách giáo dục, đưa ra nhiều biện pháp cải tiến hệ thống giáo dục Nghị quyết 41/2000/QH 10 của Quốc hội khóa X, chi thị 61/CT- TƯ ngày 28/12/2000 của Bộ chính trị, Nghị định 88/2001/NĐ- CP ngày 22/11/2001 của Chính phủ về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở Một số trường THPT, các trung tâm dạy nghề đang trở thành trung tâm văn hóa cộng đồng của các quận, huyện Các lớp phổ cập và dạy nghề buổi tối được mở ra, thu hút các cư dân cần học Các lớp phổ cập trung học cũng được các quận huyện tiến hành bài bản, tích cực Đây là cố gắng lớn của các quận huyện nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho lớp trẻ, tạo điều kiện cho họ kiếm việc làm

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã luôn có giải pháp để nâng cao chất lượng dạy yà học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Nhiều cuộc hội thảo, hội nghị về khoa học giáo dục đào tạo được tổ chức Hội thảo “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (năm 2007), Hội nghị “Giáo dục quốc té và khả năng tuyển dụng” (năm 2007) đã được tổ chức Các hoạt động như

34

Trang 40

“vinh danh thủ khoa Việt Nam” , “Tự hào nòi giống tiên rồng” , các giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học”, “Sáng tạo kỹ thuật Việt Nam- Viíbtec” được tổ chức sôi nổi khằm khích lệ truyền thống hiếu học của người Việt Nam Quan trọng hơn, Việt Nam cũng đầu tư rất nhiều nguồn lực cho giáo dục, chú ý nâng cao trình độ giáo viên và đổi mới chương trình giảng dạy Bộ giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo “Thực trạng đội ngũ quản lý giáo dục và định hướng phát triển các trường sư phạm đến năm 2020” (tổ chức ngày 15/11/2006) Tháng 2/2007 gần 1000 giáo viên tiểu học các tỉnh Sơn La, Hải phòng, Ninh Bình, Quảng Bình và trường Đại học Tây Bắc được bồi dưỡng chương trình sách giáo khoa mới Bộ giáo dục và đào tạo cũng đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ trong các trường Đại học Từ năm 2001- 2005 Bộ giáo dục đã triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ cho các trường với 385 nhiệm vụ, đề tài, dự án cấp Nhà nước, 3000 nhiệm vụ, đề tài, dự án cấp Bộ Từ năm 2006 Bộ giáo dục cấp

400 suất học bổng du học nước ngoài theo ngân sách hàng năm trong đó 50% đi đào tạo tiến sĩ

Những năm qua Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong giáo dục như củng cố, duy trì, phát triển thành quả của thập kỉ phổ cập giáo dục tiểu học- chống mù chữ và triển khai thực hiện có chất lượng công tác giáo dục phổ cập trung học cơ sở Đến nay đã có 36 tỉnh, thành đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 30 tỉnh thành đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Ngoài ra, các học sinh dự kì thi quốc tế cũng giành được nhiều huy chương các loại

Tuy vậy, hạn chế trong nền giáo dục Việt Nam còn nhiều điểm đáng bàn Bậc học phổ thông có thay đổi chương trình, thay sách giáo khoa nhưng vẫn chưa thấy hợp lý v ấn đề gắn nhà trường với đời sống vẫn chưa

có nhiều hiệu quả Trong các trường, sức ỳ tâm lý trong sáng tạo còn nặng bởi cách giảng dạy một chiều, cách học thụ động, vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng giữa người nghèo và người giàu, về quyền lợi học tập, chưa đồng

Ngày đăng: 14/02/2021, 20:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w