Tình hình nghiên cứu đề tài Qua tìm hiểu về đề tài của luận văn có thể thấy việc tuyên bố một người là đã chết và hệ quả pháp lý khi người đó trở về thì tình hình nghiên cứu được thể hi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Lan
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Đỗ Kim Oanh
Trang 4BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ KHI MỘT BÊN VỢ HOẶC CHỒNG BỊ TÒA ÁN TUYÊN BỐ LÀ ĐÃ CHẾT TRỞ VỀ 1.1 Khái niệm chung về hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Toà án tuyên bố là đã chết trở về 7
1.1.1 Khái niệm thời kỳ hôn nhân 7
1.1.2 Khái niệm hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về 9
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về 11
1.2 Pháp luật điều chỉnh hệ quả pháp lý khi một người bị tuyên bố là đã chết 12
1.2.1 Điều kiện tuyên bố cá nhân chết 12
1.2.2 Hệ quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân là đã chết 21
1.3 Pháp luật điều chỉnh hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết lại trở về 25
1.3.1 Điều kiện hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết 25
1.3.2 Hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết lại trở về 28
1.3.2.1 Về quan hệ hôn nhân 28
1.3.2.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con 30
1.3.2.3 Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng 34
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
VỢ HOẶC CHỒNG BỊ TÒA ÁN TÒA ÁN TUYÊN BỐ LÀ ĐÃ CHẾT TRỞ VỀ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
2.1 Thực tiễn giải quyết hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa
án tuyên bố chết trở về 39
2.1.1 Những khó khăn vướng mắc trong việc giải quyết hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết trở về 39 2.1.2 Một số vụ việc thực tế 47
2.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hệ quả pháp lý khi một bên
vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết trở về 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
KẾT LUẬN 60
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi một cá nhân bị tuyên bố chết, sẽ dẫn đến rất nhiều hậu quả pháp lý khác nhau, liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhiều chủ thể khác trong các mối quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hôn nhân gia đình nói riêng Chính vì vậy, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một cá nhân chết, thì phải xem xét trên nhiều khía cạnh, nhiều điều kiện khác nhau Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể loại trừ trường hợp vì nhầm lẫn sai sót hay vì một nguyên nhân khách quan nào đó mà sau khi quyết định của Tòa án có hiệu lực, thì người bị tuyên bố chết quay trở về Thực tế nhiều vụ việc đã xảy ra như vậy và trong trường hợp này, mọi việc sẽ trở nên vô cùng phức tạp Dự đoán trước được điều đó, các nhà làm luật đã quy định trong BLDS cũng như Luật HN&GĐ về cách thức giải quyết vấn đề trên
Sự tồn tại của mỗi cá nhân bao giờ cũng nằm trong mối liên quan với nhiều cá nhân trong cộng đồng xã hội Vì thế, khi thiếu vắng sự hiện diện của họ
sẽ làm thay đổi quá trình tồn tại và phát triển của các quan hệ mà họ đang tham gia Khi cá nhân chết thì tư cách chủ thể của họ hoàn toàn chấm dứt trong thực
tế Vì vậy, các quan hệ pháp luật mà họ tham gia đương nhiên chấm dứt (hoặc có
sự xáo trộn về chủ thể)
Trong thực tế, có nhiều trường hợp cá nhân vắng mặt quá lâu ngày mà không thể xác định là họ còn sống hay đã chết Tình trạng này làm gián đoạn các quan hệ mà họ đang tham gia và ảnh hưởng tới quyền lợi của chính họ cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan Cụ thể trong mối quan hệ
vợ chồng, khi một bên vợ hoặc chồng “vắng mặt” lâu ngày trong cuộc hôn nhân của mình thì sẽ dẫn đến một hậu quả tất yếu là không thể duy trì đời sống hạnh phúc, ảnh hưởng đến người chồng, vợ còn lại và con cái cũng như những người
Trang 8liên quan Nhằm duy trì trật tự của các quan hệ pháp luật hoặc chấm dứt một số quan hệ pháp luật mà người tham gia đã vắng mặt quá lâu ngày, góp phần bảo vệ
quyền và lợi ích của các chủ thể, việc nghiên cứu đề tài “Hệ quả pháp lý khi một
bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết lại trở về theo pháp luật hôn nhân và gia đình – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu về đề tài của luận văn có thể thấy việc tuyên bố một người là
đã chết và hệ quả pháp lý khi người đó trở về thì tình hình nghiên cứu được thể hiện như sau: Trước khi có BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, Nhà nước ta
đã ban hành một số văn bản quy định về việc quân nhân bị mất tích trong chiến tranh; trường hợp này được coi như quân nhân đã chết: Quyết định số 193/CP ngày 02/8/1978 của Hội đồng Chính phủ quy định về chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ở miền Nam đã tham gia kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ đến nay chưa rõ tin tức; Quyết định số 301/CP ngày 20/9/1980 của Hội đồng Chính phủ bổ sung tiêu chuẩn liệt sỹ và thương binh, bổ sung chính sách đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ Đây là hai quyết định được ban hành phù hợp với tình hình chính trị xã hội thời điểm đó để kịp thời giải quyết những trường hợp đặc biệt trong chiến tranh Sau này khi BLDS 2005 và hiện tại là BLDS 2015 ra đời thì vấn đề hệ quả pháp lý khi một người bị tuyên bố là đã chết lại trở về đã được quy định rõ ràng và cụ thể hơn Tuy nhiên xét về góc độ Luật HN&GĐ thì tình hình nghiên cứu đề tài hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về thì các công trình nghiên cứu chuyên sâu
còn khá ít, có thể đưa ra một số công trình như Luận văn Thạc sĩ Luật học “Các
trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014”, Chu
Minh Khôi, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015, bài đăng trên Tạp chí như
Trang 9“Tuyên bố chết đối với cá nhân và giải quyết hậu quả khi họ còn sống trở về”,
ThS Phạm Minh Tuyết, Tạp chí Luật học số 02/2000
Ngoài ra còn có các giáo trình chuyên khảo như “Giáo trình Luật Hôn
nhân và gia đình” của Trường Đại học Luật Hà Nội, “Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự” của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, “Giáo trình Luật Dân sự tập 1” do PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện chủ biên, “Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1” do PGS.TS Vũ Thị Hồng Vân chủ biên
Một số công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề thủ tục tuyên bố một
người đã chết theo quy định của pháp luật như Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thủ
tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết trong Tố tụng dân sự Việt Nam” của Nguyễn Văn Tiến, Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với một cá nhân theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh” của Hoàng Xuân Hiếu bài viết “Xác định thời điểm trong trường hợp tuyên bố một người đã chết theo quy định của pháp luật dân sự” của
Lê Hồng Hải đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp số 09/2004
Đi sâu hơn vào việc giải quyết hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng
bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về, cụ thể là về các vấn đề liên quan đến quan
hệ tài sản, quan hệ cha mẹ con, quan hệ vợ chồng,…được đề cập đến trong các
công trình sau: Nguyễn Thị Hồng Vân (2016), Chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội; Đèo Thị Thiết (2016), Áp dụng
pháp luật trong giải quyết các vụ án xác định cha, mẹ, con trên địa bàn tỉnh Sơn
La, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Trang 10Nxb Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học Bộ luật
dân sự của nước CHXHCN Việt Nam năm 2015, Nxb Tư pháp
Những tài liệu nêu trên đây chủ yếu đi vào nghiên cứu và phân tích hệ quả pháp lý khi một người bị Tòa án tuyên bố chết lại trở về dưới góc độ Luật Dân
sự và Tố tụng dân sự, bàn về trình tự thủ tục xét đơn yêu cầu tuyên bố chết, yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố chết, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế của pháp luật trong lĩnh vực này Tuy nhiên về các công trình khoa học chuyên sâu tìm hiểu dưới góc độ Luật HN&GĐ 2014 thì còn khá ít bởi Luật HN&GĐ mới ra đời được hơn 2 năm, nếu có thì cũng chỉ được nhắc đến trong phạm vi hẹp Chính vì vậy, thông qua luận văn nghiên cứu về đề tài này sẽ góp một phần hữu ích cho ngành Luật học có thêm một tài liệu chính thống để tham khảo, tranh luận và đánh giá
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu, phân tích các nhóm đối tượng của việc giải quyết hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về, cụ thể là
về quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ tài sản giữa người bị tuyên bố chết trở về với những người có liên quan,….theo pháp luật hôn nhân và gia đình 2014 Đồng thời, nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong hoạt động xét xử, thực tiễn thi hành án
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết trở về theo pháp luật dân sự nói chung và theo pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng Cũng trong khuôn khổ luận văn chỉ tập trung đi vào tìm hiểu pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều chỉnh về vấn
đề này mà không bao gồm các quan hệ có yếu tố nước ngoài
Trang 114 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Với đề tài hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về, luận văn cần làm rõ được những vấn đề lý luận có liên quan trong BLDS là luật gốc và đặc biệt là Luật HN&GĐ với tư cách là Luật chuyên ngành như: Điều kiện và hệ quả pháp lý của việc tuyên bố chết; hệ quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố chết khi người bị Tòa án tuyên bố chết trở về; chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đưa ra những kiến nghị giải pháp về việc xây dựng hoàn thiện pháp luật về hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết trở về
5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề tài, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về xây dựng luật pháp
Bên cạnh đó, luận văn còn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, quy nạp, đối chiếu, so sánh, khảo sát, sử dụng kết quả xét xử thực tiễn,…nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học có hệ thống về vấn đề hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Thông qua những nghiên cứu và phân tích đánh giá của luận văn có thể thấy ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn do luận văn mang lại như sau:
Trang 12Thứ nhất, luận văn đã nghiên cứu một cách tổng thể về lý luận và thực tiễn
về hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về, làm rõ được quy định của pháp luật dân sự nói chung cũng như pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng quy định về vấn đề này
Thứ hai, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã rút ra được một số những khó khăn vướng mắc đang gặp phải trong thực tiễn áp dụng pháp luật do những quy định của luật chưa thật sự rõ ràng và đầy đủ dẫn đến tình trạng có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau Chính vì vậy trong khuôn khổ luận văn cũng đã đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, tạo ra một khung pháp lý chuẩn để việc giải quyết vấn đề này được thuận tiện dễ dàng hơn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn gồm có 02 chương:
Chương 1: Khái quát chung về hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng
bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về
Chương 2: Thực tiễn giải quyết hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng
bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ KHI MỘT BÊN VỢ HOẶC
CHỒNG BỊ TÒA ÁN TUYÊN BỐ LÀ ĐÃ CHẾT TRỞ VỀ
1.1 Khái niệm chung về hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Toà
án tuyên bố là đã chết trở về
1.1.1 Khái niệm thời kỳ hôn nhân
Theo khoản 13 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 thì thời kỳ hôn nhân là
“khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn
đến ngày chấm dứt hôn nhân”
Thời kỳ hôn nhân được hiểu là khoảng thời gian mà quan hệ vợ chồng còn tồn tại, tức là hôn nhân được pháp luật thừa nhận Thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân được tính như sau:
Theo thủ tục đăng ký kết hôn, ngày đăng ký kết hôn sẽ được tính từ ngày hai bên nam nữ ký vào giấy chứng nhận kết hôn, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào
sổ đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận kết hôn Ngày này cũng là ngày tổ chức đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam nữ để họ trở thành vợ chồng Đó chính là thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân
Luật HN&GĐ 2014 còn quy định những trường hợp “đặc biệt” và cách xác định thời kỳ hôn nhân của từng trường hợp được bắt đầu và kết thúc vào thời điểm nào Cụ thể:
Trong trường hợp kết hôn trái pháp luật thì khoản 2 Điều 11 Luật
HN&GĐ 2014 có quy định: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết
yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân đó Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ
Trang 14thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này” Như vậy,
nếu tại thời điểm có yêu cầu hủy mà các bên kết hôn trái pháp luật đã đáp ứng đủ điều kiện kết hôn mà Luật quy định, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, có con và tài sản chung thì không nhất thiết phải áp dụng pháp luật một cách máy móc là tuyên hủy quan hệ hôn nhân đó, mà Tòa án có thể công nhận quan hệ hôn nhân của họ nếu có yêu cầu Như vậy, thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân trong trường hợp này được tính từ ngày đăng ký kết hôn, hay chính là từ thời điểm các bên không còn vi phạm điều kiện kết hôn nữa
Trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, theo quy định tại Điều 13 Luật HN&GĐ 2014 thì trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền khi có yêu cầu, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy
bỏ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp này, thời kỳ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước, vì kể từ thời điểm đó đã tồn tại quan hệ hôn nhân
Trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng theo quy định tại Điều 14 Luật HN&GĐ 2014 và hướng dẫn xử lý tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ thì nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng Vì vậy, quan hệ hôn nhân trong trường hợp này được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn, tức là thời kỳ hôn nhân của vợ chồng trong trường hợp này được xác định từ thời điểm đăng ký kết hôn
Thời kỳ hôn nhân trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà sau đó người bị Tòa án tuyên bố chết trở về và
Trang 15theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan thì Tòa án
ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục
kể từ thời điểm kết hôn, thời kỳ hôn nhân được tính từ thời điểm kết hôn Trường hợp người vợ hoặc người chồng còn sống đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân sau của họ vẫn được pháp luật thừa nhận
Thời điểm chấm dứt hôn nhân được xác định khi có các sự kiện sau:
Chấm dứt hôn nhân do vợ, chồng chết Như vậy, ngày một trong hai bên
vợ, chồng chết được xác định là ngày chấm dứt hôn nhân, xác định theo ngày thực tế vợ hoặc chồng chết được ghi trong giấy chứng tử
Chấm dứt hôn nhân khi có quyết định của Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng
là đã chết Việc xác định ngày nào là ngày chấm dứt hôn nhân được xác định theo quy định tại Điều 71 BLDS 2015
Chấm dứt hôn nhân do ly hôn Ngày chấm dứt hôn nhân sẽ là ngày bản án
xử cho ly hôn hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật Do vậy, đối với bản án sơ thẩm có thể chưa có hiệu lực pháp luật ngay và đương sự có quyền kháng cáo Trường hợp này, thời kỳ hôn nhân còn tiếp tục kéo dài cho đến khi hết thời hạn kháng cáo, mà đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị hoặc cho đến khi có bản án ly hôn tại cấp phúc thẩm
1.1.2 Khái niệm hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên
Trang 16chết) Việc chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng trong trường hợp này là một hậu quả tất yếu Hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng, bản chất của hôn nhân được thể hiện ở sự chia sẻ các giá trị vật chất và tinh thần giữa vợ chồng với nhau Khi sự chia sẻ không thể thực hiện được do một trong hai bên
vợ chồng chết, thì không có lý do gì để hôn nhân giữa họ tiếp tục tồn tại Chính
vì vậy, đối với pháp luật, khi một trong hai bên vợ chồng chết, thì quan hệ hôn nhân giữa họ đương nhiên chấm dứt Sự đương nhiên chấm dứt hôn nhân trong trường hợp này được hiểu là không đòi hỏi phải tiến hành những thủ tục đặc biệt nào làm chấm dứt hôn nhân Nói cách khác là bên chồng (vợ) còn sống không phải tiến hành thủ tục đăng ký việc chấm dứt hôn nhân này tại cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, mà chỉ cần thực hiện hành vi khai tử cho bên vợ (chồng) đã chết theo quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch mà thôi
Sau khi một bên vợ (chồng) chết, người chồng (vợ) còn sống được giữ lại những quyền và lợi ích nhân thân của họ vốn được hình thành từ sự kiện kết hôn như: quốc tịch, nơi cư trú,… Vấn đề tài sản thì giải quyết theo quy định của pháp luật: một bên vợ (chồng) chết, nếu có yêu cầu thì tài sản chung của vợ chồng được đem chia, phần tài sản của người đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau
Trường hợp hôn nhân chấm dứt do một bên vợ (chồng) bị Tòa án tuyên bố
là đã chết cũng phát sinh hệ quả pháp lý giống như trong trường hợp vợ (chồng) chết tự nhiên
Thủ tục và các quy định về việc tuyên bố một người là đã chết tuân theo quy định của BLDS và BLTTDS
Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân của họ đương nhiên chấm dứt, người vợ (chồng) còn lại có quyền kết hôn với người khác Tuy nhiên, người bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì
Trang 17không có quyền kết hôn với người khác, dù người đó biết hoặc không biết về quyết định của tòa án tuyên bố họ là người đã chết
Vậy khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về thì pháp luật phải quy định quyền và nghĩa vụ của họ trong các mối quan hệ gia đình và xã hội mà họ phải thực hiện để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ và những người có liên quan Từ đó có thể rút ra khái niệm hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc
chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về như sau: “Hệ quả pháp lý khi một bên vợ
hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết lại trở về là những vấn đề pháp lý điều chỉnh
về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản liên quan đến bản thân người bị tuyên
bố là đã chết trở về và giữa người đó với những chủ thể khác có liên quan nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và các chủ thể đó”
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị
Tòa án tuyên bố là đã chết trở về
Luật HN&GĐ 2014 đã có những thay đổi tiến bộ so với Luật HN&GĐ
2000 khi quy định rõ hơn về hệ quả pháp lý trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về Nếu như trước đây, Luật HN&GĐ
2000 chỉ có một điều luật điều chỉnh về vấn đề này thì Luật HN&GĐ 2014 đã bổ sung thêm các điều luật giải quyết từng vấn đề cụ thể phát sinh khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố chết trở về, mà chủ yếu là tập trung vào quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản
Hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết lại trở về được quy định trong pháp luật có ý nghĩa nhằm xác định quan hệ hôn nhân giữa người bị Tòa án tuyên bố chết trở về với người còn lại, xác định quan
hệ giữa cha mẹ và con, và quan hệ tài sản của người đó với những người có liên quan
Trang 18Việc quy định hệ quả này còn nhằm xác định các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của người bị tuyên bố chết trở về với người chồng hoặc vợ của
họ, với con đẻ (con nuôi) và với những người có liên quan trong một số quan hệ pháp luật khác ở những lĩnh vực khác nhau
Ngoài ra, đây còn là cơ sở để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân cũng như tài sản trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân
1.2 Pháp luật điều chỉnh hệ quả pháp lý khi một người bị tuyên bố là đã
chết
1.2.1 Điều kiện tuyên bố cá nhân chết
Chế định tuyên bố cá nhân mất tích, tuyên bố cá nhân chết là một chế định đặc biệt của BLDS Việt Nam Tuyên bố cá nhân chết sẽ đồng thời kéo theo một loạt các hậu quả pháp lý khác Chính vì vậy, nhằm duy trì trật tự các quan hệ pháp luật hoặc chấm dứt một số quan hệ pháp luật mà người tham gia đã vắng mặt lâu ngày, góp phần đảm bảo quyền lợi của các chủ thể khác, các nhà làm luật đã quy định việc tuyên bố một người là đã chết tại Chương III, Mục 5 BLDS
2015 Cụ thể là trong các điều luật sau:
Về điều kiện tuyên bố cá nhân là đã chết được quy định tại Điều 71 BLDS
2015 Theo đó, Điều 71 quy định điều kiện để tuyên bố một cá nhân đã chết như
sau: 1 Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định
tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc
mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
Trang 19c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này
2 Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết
3 Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch
Có thể nói, việc tuyên bố cá nhân chết là một chế định đặc biệt nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và các chủ thể liên quan Việc tuyên bố một cá nhân đã chết sẽ làm phát sinh nhiều hậu quả pháp lý quan trọng, nên để giảm bớt những hạn chế và sai sót trong một số trường hợp mà cá nhân mất tích vẫn còn sống nhưng lại bị Tòa án tuyên bố là đã chết, trước khi ra quyết định tuyên bố một người đã chết, Tòa án phải xem xét đầy đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, điều kiện về thời gian: đã qua thời hạn nhất định mà cá nhân đó không có tin tức còn sống hay đã chết
Theo điều kiện trên, ta có thể thấy được, Tòa án chỉ tuyên bố cá nhân chết nếu qua thời hạn luật định mà vẫn không có tin tức xác thực là họ còn sống Đối với mỗi trường hợp cụ thể thì sẽ có thời hạn khác nhau Khoản 1, Điều 71 BLDS quy định rõ về điều này:
Trong trường hợp tuyên bố chết với cá nhân mất tích: nếu đã qua thủ tục tuyên bố mất tích, thì qua thời hạn là ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích của Tòa án đối với cá nhân đó có hiệu lực pháp luật
Trang 20Trong trường hợp tuyên bố đã chết đối với người mất tích nhưng chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích: nếu cá nhân bị mất tích trong chiến tranh thì phải qua năm năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà không có bất cứ tin tức nào về việc người đó còn sống hay không thì mới được yêu cầu Tòa án tuyên bố chết Trong trường hợp mất tích sau tai nạn, thảm họa hoặc thiên tai thì thời hạn đó là một năm sau khi thảm họa, thiên tai đó chấm dứt và không có bất kì tin tức gì về việc người đó còn sống hay đã chết
Đối với trường hợp tuyên bố đã chết đối với người biệt tích lâu ngày mà chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích thì phải đáp ứng điều kiện về thời hạn là qua năm năm kể từ ngày, tháng, năm biết được tin tức cuối cùng của người đó về sự sống còn của họ Theo từ điển Hán-Việt, “biệt tích” là “hoàn toàn mất tăm hơi, tung tích” Thời điểm biệt tích là ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó, nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời điểm biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của tháng có tin tức cuối cùng, nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời điểm biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo có tin tức cuối cùng Như vậy, tính từ thời điểm biệt tích, phải sau năm năm thì các cá nhân liên quan mới có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố chết với một người và thỏa mãn thời hạn đó thì Tòa án mới có thể
ra quyết định tuyên bố cá nhân chết
Về mặt không gian: BLDS Việt Nam không quy định về phạm vi nơi có tin tức cuối cùng Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Tòa án nhân dân tối cao xác định không gian của nơi có tin tức cuối cùng là nơi cư trú cuối cùng của người đó
“Nơi cư trú cuối cùng” của người biệt tích là nơi cuối cùng mà nguyên đơn, người yêu cầu biết được người đã biệt tích thường xuyên sinh sống tại đó trước khi họ biệt tích
Trang 21Xác định nơi cư trú cuối cùng của cá nhân biệt tích bị tuyên bố chết là cơ
sở để tính thời hạn năm năm cho việc Tòa án ra quyết định tuyên bố chết Trong trường hợp người không có tin tức sống tại nơi cư trú cuối cùng của họ đã quá năm năm, nhưng nếu có căn cứ chính xác về việc người đó đã xuất hiện ở địa phương khác thì ngày mà họ xuất hiện ở địa phương đó được coi là thời điểm để bắt đầu tính thời hạn
Ví dụ trong trường hợp: Ông Nguyễn Văn A là người có hộ khẩu thường trú ở Nghệ An Từ ngày 26/4/2000 ông bỏ nhà ra đi và người nhà ông không nhận được bất cứ tin tức nào liên quan đến sự sống còn của ông A Chính vì vậy, đến ngày 26/4/2005 những người có liên quan yêu cầu Tòa án tuyên bố ông A là người chết Tuy nhiên, trong quá trình thụ lí vụ án trên, do có nguồn tin xác thực chứng minh được việc ông A có mặt tại thành phố Đà Nẵng vào ngày 06/11/2004 nên Tòa án không thể ra quyết định tuyên bố chết đối với ông A Trong trường hợp này, thời hạn năm năm không phải được xác định từ ngày ông
A bỏ nhà ra đi là ngày 26/4/2000 đến ngày 26/4/2005 mà thời hạn đó được xác định từ ngày 06/11/2004 đến ngày 06/11/2009 Nếu trong thời hạn từ ngày 06/11/2004 đến ngày 06/11/2009 không có bất cứ tin tức nào nữa xác thực việc ông A còn sống và xuất hiện ở một địa điểm nào đó thì sau ngày 06/11/2009 nếu các cá nhân liên quan yêu cầu Tòa án mới có thể ra quyết định tuyên bố chết đối với ông A
Thứ hai, phải thông qua thủ tục thông báo tìm kiếm
Trước khi các cá nhân liên quan yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố đã chết đối với một người nào đó thì họ có thể yêu cầu Tòa án ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú (nếu cá nhân biệt tích sáu tháng liền) theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Xuất phát từ ý nghĩa của việc thông báo tìm kiếm là tìm kiếm nhằm xác định lại lần cuối về tin tức người biệt tích trước
Trang 22khi Tòa án ra quyết định về số phận pháp lý của họ đồng thời nâng cao tính xác thực, khách quan, chính xác trong quyết định của Tòa án nên đó là thủ tục bắt buộc khi Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích Vì vậy, khi giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết mà chưa thông qua thủ tục tuyên bố mất tích (đối với các trường hợp quy định tại điểm b, điểm c và điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS năm 2015) thì thông báo tìm kiếm cũng là thủ tục bắt buộc Đối với trường hợp người đã bị tuyên bố mất tích nhưng sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức
gì để xác định người đó còn sống và có yêu cầu tuyên bố người đó đã chết thì vẫn phải tiến hành thông báo thủ tục tìm kiếm Vì có thể có trường hợp, trong khoảng thời gian ba năm đó rất có thể người bị Tòa án tuyên bố mất tích xuất hiện nhưng vì lý do nào đó mà họ và những người liên quan không yêu cầu Tòa
án hủy tuyên bố mất tích (Ví dụ như trường hợp cá nhân liên quan biết người bị tuyên bố mất tích xuất hiện nhưng giấu giếm, để khi tuyên bố chết không phải tính lại thời hạn khi người đó xuất hiện nhằm mục đích hưởng thừa kế) Việc thông báo phải diễn ra công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài…
Như vậy, có thể thấy được việc thông báo tìm kiếm là thủ tục bắt buộc nếu muốn tuyên bố một cá nhân chết khi chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích là bắt buộc Đối với người đã tuyên bố mất tích, sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức còn sống thì BLDS không quy định có bắt buộc phải thông qua thủ tục thông báo tìm kiếm hay không Tuy nhiên để đảm bảo cho sự khách quan, chính xác xét thấy việc thông báo tìm kiếm rất cần thiết và nên tiến hành để tránh một số trường hợp đã nêu ở trên
Thứ ba, phải có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Trang 23Tại khoản 1, Điều 71 BLDS 2015 đã quy định về việc tuyên bố một người
đã chết, trong đó có điều kiện về việc phải có người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu và phải thỏa mãn các điều kiện nhất định thì Tòa án mới có thể ra quyết
định tuyên bố mất tích: “Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án
tuyên bố một người đã chết trong các trường hợp sau đây:…”
Tính tới thời điểm hiện tại, BLDS chưa có giải thích cụ thể thế nào là người có quyền, lợi ích liên quan Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu: Người có quyền, lợi ích liên quan là người có mối quan hệ nào đó với người bị yêu cầu tuyên bố đã chết hoặc mất tích (quan hệ dân sự, quan hệ lao động, quan hệ hôn nhân gia đình), và lợi ích của họ trực tiếp bị ảnh hưởng trong trường hợp cá nhân vắng mặt Như chúng ta đã biết, khi một cá nhân bị tuyên bố chết thì đồng nghĩa với việc tư cách chủ thể của họ bị chấm dứt hoàn toàn Việc đó sẽ tác động trực tiếp đến những người có liên quan với họ về quyền lợi, về nhân thân Việc một người vắng mặt quá lâu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến những người đó
Mục đích của việc tuyên bố chết với cá nhân là gì? Đó là tạo ra cơ sở pháp
lý cho việc những người có quyền, lợi ích liên quan bảo vệ quyền lợi của mình
Ví dụ như: Chủ nợ yêu cầu Tòa án tuyên bố một người đã chết khi họ biệt tích lâu ngày nhằm thu hồi khoản nợ từ tài sản của người đó để lại theo quy định của pháp luật; Vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng hoặc vợ mình đã chết nếu người đó mất tích, biệt tích quá lâu nhằm giải quyết các thủ tục
ly hôn theo các điều khoản được quy định trong Bộ luật Dân sự hay luật hôn nhân gia đình nhằm tìm hạnh phúc mới Những người được thừa kế có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người để lại thừa kế đã chết nếu người đó biệt tích quá lâu để được hưởng thừa kế…
Mặt khác, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì Tòa án chỉ thụ lý
vụ việc khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Chính vì vây, chỉ khi có yêu cầu của
Trang 24người có quyền và lợi ích liên quan thì Tòa án mới có thể căn cứ vào những cơ
sở của pháp luật và thực tiễn của vụ việc để ra quyết định tuyên bố một người đã chết
Thứ tư, chỉ tuyên bố cá nhân đã chết đối với người không nằm trong tình trạng bị truy nã theo lệnh của cơ quan điều tra
Có thể nói đây là một trường hợp đặc biệt khi tuyên bố một người là đã chết Trong trường hợp này, mặc dù có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan, đáp ứng được các yêu cầu về điều kiện và thời hạn được quy định tại khoản 1, Điều 71 BLDS 2015 thì Tòa án cũng có thể không ra quyết định tuyên
bố chết Điều này xuất phát từ thực tiễn trong đời sống xã hội, đó là: cá nhân phạm tội, gây nguy hại nghiêm trọng cho xã hội nhưng đã bỏ trốn sau khi thực hiện hành vi phạm tội của mình để trốn tránh sự trừng trị của pháp luật Như chúng ta đã biết, trong Bộ luật Hình sự quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Bộ luật Hình sự thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau: Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng; Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng; Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng; Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Trong thực tế, nhiều người phạm tội, nhất là sau khi phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng sau khi thực hiện hành vi của mình liền bỏ trốn Việc bỏ trốn này đa phần là tạo nên tình trạng biệt tích, hoàn toàn không có tin tức gì về sự sống còn của họ Trong tình huống này, quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 25của những người liên quan sẽ bị ảnh hưởng Để bảo vệ quyền lợi của mình, những người đó thường yêu cầu Tòa án tuyên bố cá nhân đã bỏ trốn kia đã chết Tuy nhiên, hiện nay Tòa án thường không dám tuyên bố một người đã chết trong trường hợp người đó bị truy nã, bởi vì việc tuyên bố cá nhân chết sẽ trở thành căn cứ đình nã Bời vì quyết định truy nã chỉ hết hiệu lực khi người bị truy nã đã chết, bị bắt hoặc có quyết định đình nã của cơ quan điều tra Một khi tuyên bố chết thì quyết định truy nã đó ngay lập tức hết hiệu lực, khi đó,cơ quan điều tra
sẽ gặp rất nhiều trở ngại trong việc điều tra phá án hay khởi tố vụ án hình sự
Như vậy, có thể thấy, trong trường hợp cá nhân đang bị truy nã thì việc tuyên bố chết không nên tiến hành Bởi vì việc đó sẽ dẫn đến nhiều hậu quả cũng như tạo ra nhiều ảnh hưởng không tốt đến quá trình điều tra phá án và khởi tố vụ
án hình sự
Ngoài ra, so với BLDS 2005 thì Điều 71 BLDS 2015 còn bổ sung thêm
một quy định “3 Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải
được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch” Ngoài những điều kiện
đủ nêu trên đây thì việc tuyên bố một người là đã chết còn phải đáp ứng được điều kiện cần đó là phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định
Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết được quy định tại các điều từ Điều 391 đến Điều 393 BLTTDS 2015 Theo đó, để Tòa án tuyên
bố một người là đã chết, cần có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và tài liệu chứng cứ kèm theo để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là
đã chết thuộc trường hợp theo quy định của BLDS gửi đến Tòa án có thẩm quyền
Việc chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết được thực hiện trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu Trong thời
Trang 26hạn này, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết Việc thông báo được thực hiện tương tự như đối với trường hợp tuyên bố một người mất tích Cụ thể như sau: Căn cứ Điều 381 BLTTDS
2015, để yêu cầu Tòa án thông báo việc tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú cũng như yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt
đó, cần có những điều kiện sau:
- Có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan;
- Gửi đơn yêu cầu, chứng cứ kèm theo (chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú biệt tích trong sáu tháng liền trở lên; tài liệu về tình hình tài sản của người đó, việc quản lý tài sản hiện có và danh sách những người thân thích của người đó) đến Tòa án có thẩm quyền
Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu trong trường hợp này được thực hiện theo quy định chung Trong thời hạn này, Tòa án ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu nếu người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú Trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó tại nơi cư trú và được chấp nhận thì trong quyết định, Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của BLDS Thông báo tìm kiếm người vắng mặt phải được công bố trong thời hạn một tháng kể từ ngày Tòa án
ra quyết định trên một trong các báo hằng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp, cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên đài phát thanh hoặc đài truyền hình của Trung ương ba lần trong
ba ngày liên tiếp Chi phí liên quan đến việc thực hiện thông báo tìm kiếm người
Trang 27vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về
Trong thời hạn thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người
bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về và thông báo cho Tòa án biết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu Hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu cũng như không có các trường hợp đình chỉ việc xét đơn thì Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu trong thời hạn mười ngày kể từ ngày hết thời hạn thông báo Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết Trong quyết định đó, Tòa án phải xác định ngày chết của người bị Tòa án tuyên bố chết cũng như hệ quả pháp lý của việc tuyên
bố một người là đã chết theo quy định
1.2.2 Hệ quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân là đã chết
Khi quyết định tuyên bố chết đối với cá nhân của Tòa án có hiệu lực thì cá nhân đó xem như đã chết Lúc này, kéo theo việc “chết về mặt pháp lý” của cá nhân là hàng loạt các vấn đề khác, liên quan đến tư cách chủ thể của người bị tuyên bố chết, liên quan đến các vấn đề xung quanh quan hệ nhân thân và quan
hệ tài sản của người đó… Cụ thể là:
1.2.2.1 Về tư cách chủ thể
Trong trường hợp quyết định tuyên bố chết của Tòa án đối với một cá nhân có hiệu lực thì thì tư cách chủ thể của cá nhân đó chấm dứt hoàn toàn Vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người bị Tòa án tuyên
bố chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử trong thời hạn 15 ngày (khoản 1 Điều
33 Luật Hộ tịch 2014) Ngay sau khi nhận được giấy tờ đăng ký khai tử và thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch (khoản 2 Điều 34 Luật Hộ tịch 2014) Việc này sẽ dẫn đến một hệ quả đó là
Trang 28người bị Tòa án tuyên bố chết sẽ hoàn toàn bị chấm dứt tư cách chủ thể Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A tham gia chiến tranh và biệt tích đã mười năm Sau khi tiến hành mọi thủ tục tìm kiếm gia đình vẫn không có tin tức gì, đã yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn A đã chết Trong quá trình thụ lý, Tòa án hoàn toàn không nhận được bất cứ thông tin chính xác nào về việc ông A còn sống Xét thấy phù hợp với điều kiện của việc tuyên bố chết, để đảm bảo lợi ích cho những người liên quan, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố ông A đã chết Tính từ khi quyết định của Tòa án có hiệu lực, ông A không thể là chủ thể trực tiếp tham gia vào bất kì giao dịch dân sự nào như cho vay mượn tài sản, mua bán tài sản,…
1.2.2.2 Về quan hệ nhân thân
Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ khác về nhân thân của người
đó được giải quyết như đối với người đã chết Trong trường hợp này, thời điểm chấm dứt hôn nhân được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án
Người vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố chết sẽ trở thành người độc thân và họ có quyền tự do kết hôn với một người khác
Đối với con cái, Luật HN&GĐ 2014 quy định “Con sinh ra trong thời kỳ
hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” (Điều 88)
Theo quy định này thì trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày chết được Tòa
án xác định trong quyết định tuyên bố chết, vợ của người bị Tòa án tuyên bố chết
mà sinh con ra thì đứa con này vẫn được xác định là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân và được coi là con chung của vợ chồng
Pháp luật cũng quy định cho người khác nhận người bị Tòa án tuyên bố chết là cha, mẹ, con (Điều 90, 91 Luật HN&GĐ 2014)
Trang 291.2.2.3 Về quan hệ tài sản
Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết tương ứng với các quy định của pháp luật trong trường hợp họ đã chết
Khoản 2 Điều 66 Luật HN&GĐ 2014 quy định cách giải quyết tài sản của
vợ chồng trong trường hợp một bên bị Tòa án tuyên bố là đã chết Theo đó, khi
có yêu cầu chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác về chế độ tài sản Tài sản của người bị Tòa án tuyên bố chết sẽ được chia thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế Phần tài sản chia thừa kế của người này được xác định gồm có tài sản riêng và một nửa tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 612 BLDS 2015 Theo quy định này thì di sản gồm các loại tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết mà trước khi chết họ chưa định đoạt hết, sau khi chết sẽ được chuyển cho những người thuộc hàng thừa kế (được quy định tại Điều 651 BLDS 2015)
Khi quyết định tuyên bố chết đối với một cá nhân của Tòa án có hiệu lực, thì thời điểm đó cũng là thời điểm mở thừa kế Khoản 1, Điều 611 BLDS năm
2015 quy định: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết
Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này” Đồng thời với việc
này, cũng là thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Như vậy, nếu như người bị tuyên bố chết có di chúc hợp pháp, thì tài sản họ để lại được chia theo di chúc Trường hợp không có di chúc hoặc rơi vào một số trường hợp đặc biệt của Điều 644 của BLDS về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
di chúc thì di sản người chết để lại được chia theo pháp luật Đồng thời, đây cũng là thời điểm mà những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ của mình nếu người chết yêu cầu Trong trường hợp người bị tuyên bố chết chưa giải quyết
Trang 30xong nghĩa vụ tài sản với chủ thể nào đó, thì những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ đó trong phạm vi tài sản của người bị tuyên bố chết để lại
Ta có thể xét tiếp ví dụ đã nêu ở trên: Ông A tham gia chiến tranh và biệt tích mười năm, sau đó gia đình ông yêu cầu Tòa án tuyên bố ông A đã chết Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực thì ngoài việc tư cách chủ thể của ông A bị chấm dứt hoàn toàn, còn có nhiều hậu quả pháp lý khác Đó là: về quan hệ tài sản, trong trường hợp này khả năng lớn là ông A không để lại di chúc, do đó tài sản của ông sẽ được chia theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, chúng ta cũng không loại bỏ trường hợp ông A có di chúc Nếu có thì cần xem xét di chúc của ông có hợp pháp hay không, có phần tài sản nào trong di chúc bị mất hiệu lực do nguyên nhân khác tác động không (Ví dụ như người thừa kế chết trước thời điểm ông A bị tuyên bố chết, hay tài sản của ông A do chiến tranh mà tẩu tán, thất thoát….) Về quan hệ nhân thân: Tính từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực, mọi quan hệ nhân thân của ông A sẽ chấm dứt, tên tuổi, danh dự, uy tín… Về hôn nhân: Nếu vợ ông A còn sống và kết hôn với người khác, thì Tòa
án công nhận tính hợp pháp của cuộc hôn nhân đó Sau này nếu xảy ra trường hợp ông A trở về, thì cuộc hôn nhân mới của vợ ông vẫn không bị hủy bỏ
Như vậy, ta có thể thấy được, khi một cá nhân bị tuyên bố chết, sẽ dẫn đến rất nhiều hậu quả pháp lý khác nhau, liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhiều chủ thể khác Chính vì vậy, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một cá nhân chết, thì phải xem xét trên nhiều khía cạnh, các điều kiện khác nhau Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể loại trừ trường hợp vì nhầm lẫn sai sót hay vì một nguyên nhân khách quan nào đó mà sau khi quyết định của Tòa án có hiệu lực, thì người bị tuyên bố chết quay trở về Thực tế nhiều vụ việc đã xảy ra như vậy và trong trường hợp này, mọi việc sẽ trở nên vô cùng phức tạp Dự đoán trước được điều
Trang 31đó, các nhà làm luật đã quy định trong Bộ luật Dân sự về cách thức giải quyết vấn đề trên
1.3 Pháp luật điều chỉnh hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị
Tòa án tuyên bố là đã chết lại trở về
1.3.1 Điều kiện hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết
Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết, cái chết trong trường hợp này không phải là cái chết “tự nhiên” mà là cái chết “suy đoán”, cái chết “pháp lý” Chính vì vậy, Tòa án phải căn cứ vào các điều kiện mà pháp luật quy định thì mới có thể ra quyết định để tuyên bố một người là đã chết Cũng tương tự như vậy, khi người bị tuyên bố là đã chết quay trở về, Tòa án cũng không thể chỉ dựa vào sự xuất hiện trở lại của người đó mà ra quyết định hủy bỏ tuyên bố chết, mà phải xem xét trường hợp đó có đáp ứng đầy đủ các điều kiện
mà pháp luật đề ra hay không
Cụ thể Điều 73 BLDS và Điều 394 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa
án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết
Như vậy có thể rút ra điều kiện để Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết như sau:
Thứ nhất, người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó đang còn sống
Sự xuất hiện trở lại của người bị tuyên bố là đã chết là một minh chứng rõ ràng nhất cho việc họ đang còn sống Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người đó và của những người liên quan, Tòa án phải ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố chết đối với họ khi có yêu cầu là lẽ đương nhiên Tuy nhiên, trong thực tế, không ít các trường hợp cá nhân bị Tòa án tuyên bố chết là do chiến
Trang 32tranh, do thiên tai, thảm họa mà khi họ quay trở về, bản thân họ cũng không biết hay không nhớ được mình là ai Chính vì vậy, pháp luật đã dự liệu được trường hợp này nên đã mở rộng quyền yêu cầu cho các chủ thể khác có liên quan nếu họ đưa ra được các chứng cứ xác thực chứng minh được nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết
Trong trường hợp người bị tuyên bố là đã chết không quay trở về nơi cư trú của mình trước đó, nhưng có thông tin xác thực là người đó đang còn sống thì cũng được Tòa án chấp nhận là căn cứ để xem xét việc hủy bỏ quyết định tuyên
bố chết Tin tức xác thực ở đây được hiểu là những thông tin về sự có mặt của người bị tuyên bố là đã chết ở một địa phương khác, đó có thể là các tài liệu, chứng cứ về việc người bị Tòa án tuyên bố chết đang sinh sống tại một địa phương như giấy đăng ký tạm trú có dấu xác thực của địa phương, hoặc là các giấy tờ liên quan khi họ tham gia vào các quan hệ xã hội,…
Thứ hai, phải có đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố chết
Nếu như người bị Tòa án tuyên bố chết trở về thì họ cũng không đương nhiên được phục hồi tư cách chủ thể cũng như thực hiện các quyền và nghĩa vụ của một cá nhân, mà phải làm đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố chết đối với mình Bởi việc họ “đã chết” về mặt pháp lý là do Tòa án suy đoán dựa trên những điều kiện mà pháp luật quy định, cho nên khi họ trở về thì quyết định tuyên bố chết của Tòa không đương nhiên hết hiệu lực Mà quyết định tuyên bố chết này chỉ hết hiệu lực khi Tòa án ra một quyết định khác hủy bỏ việc tuyên bố chết đối với cá nhân
Việc gửi đơn yêu cầu có thể do chính người bị tuyên bố là đã chết thực hiện, hoặc cũng có thể do những người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu Đây
là một quy định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người bị Tòa án tuyên bố chết và của những người liên quan
Trang 33Thứ ba, Tòa án xem xét đơn yêu cầu và ra quyết định hủy bỏ tuyên bố chết
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc chứng minh xác thực là người đó còn sống Trình tự, thủ tục như sau:
Bước 1: Gửi đơn yêu cầu lên Tòa án Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm viết đơn;
b) Tên Toà án có thẩm quyền giải quyết đơn;
c) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;
d) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự đó;
đ) Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có;
e) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu;
g) Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn”
Bước 2: Gửi kèm theo đơn yêu cầu tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết, Toà án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu Toà án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết; trong quyết định này, Toà án phải quyết định về hậu quả
Trang 34pháp lý của việc huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự
1.3.2 Hệ quả pháp lý khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết
lại trở về
1.3.2.1 Về quan hệ hôn nhân
Luật HN&GĐ 2014 quy định về quan hệ hôn nhân của vợ chồng khi một
bên bị tuyên bố là đã chết trở về tại Điều 67 như sau: “Khi Tòa án ra quyết định
hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật”
Như vậy, khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết trở về thì quan
hệ hôn nhân của họ với người kia có được khôi phục hay không còn tùy thuộc vào “tình trạng hôn nhân thực tế” của người còn lại tại thời điểm Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố chết
Có thể thấy việc Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố chết là tiền đề để xác định xem quan hệ hôn nhân trong trường hợp này được giải quyết như thế nào Vậy trong trường hợp chính người bị tuyên bố là đã chết lại trở về và những người có quyền, lợi ích liên quan không yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố chết thì quan hệ hôn nhân sẽ được giải quyết ra sao? Việc này pháp luật vẫn chưa có quy định rõ ràng và cụ thể
Theo đó, tại thời điểm Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố chết mà người
vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân của họ đương nhiên được khôi phục tại thời điểm đăng ký kết hôn Trong trường
Trang 35hợp không ai yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố chết mà người bị Tòa án tuyên
bố chết trở về vẫn tiếp tục sống chung với vợ, chồng của mình thì những tài sản
mà hai người tạo ra trong thời gian này có được coi là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hay không?
Quan hệ hôn nhân không được khôi phục trong hai trường hợp sau:
Một là, trước khi bị tuyên bố là đã chết, người này đã bị tuyên bố mất tích
Trong thời gian tuyên bố mất tích, vợ hoặc chồng của họ đã yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn và Tòa án đã ra quyết định cho ly hôn có hiệu lực pháp luật Sau đó người này vẫn biệt tích và không có tin tức gì sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực Do đó, họ đã bị tuyên bố là đã chết
Người chồng hoặc vợ của người bị tuyên bố là đã chết yêu cầu Tòa án xử
ly hôn theo khoản 2 Điều 56 Luật HN&GĐ 2014 thì khi người đó trở về, quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật
Khoản 2 Điều 56 Luật HN&GĐ 2014 quy định “Trong trường hợp vợ
hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”
Nếu như trong trường hợp người vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là
đã chết chưa kết hôn với người khác thì khi họ trở về, quan hệ hôn nhân của họ đương nhiên được khôi phục, thì trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân của họ lại “vướng” phải một quyết định cho ly hôn của Tòa án, pháp luật vẫn công nhận rằng hai người đã ly hôn, cho dù người bị Tòa án tuyên bố chết trở về có biết về việc ly hôn này hay không Quy định này của pháp luật là hoàn toàn hợp lý, dự liệu được thực tế có nhiều trường hợp người chồng hoặc người vợ vì những lý do nhất định mà không muốn kết hôn với người khác Có như vậy thì khi người bị Tòa án tuyên bố chết trở về, mối quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật
Trang 36thừa nhận và bảo hộ mà họ không cần phải làm thủ tục đăng ký kết hôn lại, thể hiện sự tôn trọng của pháp luật dành cho các cá nhân trong xã hội
Ngược lại, quyết định cho ly hôn của Tòa án dựa trên cơ sở người vợ hoặc người chồng của người bị Tòa án tuyên bố chết thể hiện ý chí của mình thông qua đơn yêu cầu ly hôn Tức là khi họ gửi đơn yêu cầu ly hôn cũng đồng nghĩa với việc họ đã không còn tình cảm gì với người bị tuyên bố là đã chết Như vậy thì ngay cả khi người bị Tòa án tuyên bố chết trở về, họ cũng chẳng có lý do gì
để quay lại chung sống với người đó Vì lẽ đó nên BLDS nói chung và Luật HN&GĐ nói riêng đều quy định việc Tòa án quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật
Hai là, người chồng hoặc vợ của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì pháp luật sẽ công nhận mối quan hệ hôn nhân sau là quan hệ hôn nhân hợp pháp
Trong trường hợp người vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố chết kết hôn với người khác thì pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân sau của họ là quan hệ hôn nhân hợp pháp Bởi khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là
đã chết thì hệ quả pháp lý về quan hệ hôn nhân đối với người bị Tòa án tuyên bố chết được xử lý giống như đối với người chết tự nhiên Nghĩa là quan hệ hôn nhân của họ đương nhiên chấm dứt mà không cần phải thông qua thủ tục ly hôn tại Tòa án Khi quyết định tuyên bố chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó trở thành người độc thân và được quyền tự do kết hôn với một người khác
1.3.2.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con
Thứ nhất, về vấn đề xác định cha, mẹ, con
Xác định cha, mẹ, con là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan
hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ, dựa trên
Trang 37quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ, dựa
trên mối quan hệ huyết thống hoặc dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
Việc xác định cha, mẹ, con có ý nghĩa thiêng liêng trong việc xác định, hình thành mối quan hệ gia đình Quyết định Tòa án về xác định cha, mẹ, con là
cơ sở pháp lý để bổ sung, thay đổi, cải chính hộ tịch của những người được xác định là cha, mẹ hoặc không phải cha, mẹ, con và người thân của họ, qua đó xác định quan hệ nhân thân giữa cha, mẹ, con, xác lập quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình như cấp dưỡng, chăm sóc, nuôi dưỡng… và là một trong những cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp khác (tranh chấp về thừa kế,
bị tuyên bố chết trở về vẫn có quyền yêu cầu xác định người con được sinh ra
quan hệ cha, mẹ, con
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, tại khoản 10 Điều 29 Bộ
luật này có quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết các “yêu cầu xác định cha,
mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình” Theo đó thì trường hợp người được yêu cầu xác định cha, mẹ, con chết
mà người thân thích của người đó có yêu cầu thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền
giải quyết vụ việc này
Nguyên tắc xác định cha mẹ được quy định tại Điều 88 Luật HN&GĐ
2014 như sau:
Trang 38- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng
- Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng
Như vậy có thể thấy thời kỳ hôn nhân được coi là một căn cứ quan trọng
để xác định tính đương nhiên hoặc không đương nhiên trong việc xác định con chung của vợ chồng Trường hợp một người bị tuyên bố là đã chết trở về thì pháp luật quy định hôn nhân của họ với người chồng hoặc người vợ của mình vẫn được khôi phục nếu như người chồng hoặc người vợ đó chưa kết hôn với người khác Thời kỳ hôn nhân của họ được tính từ thời điểm đăng ký kết hôn ngay cả khi trong thời gian một người đã bị tuyên bố chết mà người kia có thai
và sinh con, hoặc bản thân người bị tuyên bố chết ở một nơi nào đó sinh con (nếu người bị tuyên bố chết là vợ) thì khi họ trở về và hôn nhân của họ được khôi phục, về nguyên tắc đứa con này vẫn được xác định là con chung của vợ chồng
Thứ hai, về vấn đề nuôi con nuôi
Nếu trong thời gian người vợ hoặc người chồng bị tuyên bố là đã chết, mà người chồng hoặc người vợ của họ nhận nuôi con nuôi thì đứa con này được xác định là con riêng của họ Điều này là phù hợp với quy định của Luật nuôi con nuôi 2010 Cụ thể khoản 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định như sau:
“Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai
người là vợ chồng” Khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết thì quan
hệ hôn nhân của họ đương nhiên chấm dứt và người kia trở thành người độc thân Chính vì thế họ hoàn toàn có quyền nhận một người khác làm con nuôi nếu
Trang 39đáp ứng được đầy đủ các điều kiện mà Luật nuôi con nuôi quy định Do đó, khi người bị tuyên bố chết trở về và khôi phục quan hệ hôn nhân thì họ trở thành bố dượng hoặc mẹ kế của đứa con nuôi đó, và họ có thể nhận con riêng của một bên
vợ hoặc chồng làm con nuôi
Trong trường hợp người nhận nuôi con nuôi đang có vợ hoặc có chồng, pháp luật quy định điều kiện để nhận nuôi là cả hai vợ chồng cùng đồng ý nhận nuôi con nuôi chung, mà không cho phép người đang có vợ, có chồng nhận nuôi con nuôi riêng Điều này tạo điều kiện hình thành một gia đình trọn vẹn, tự nhiên giống như gia đình huyết thống của trẻ, để trẻ có môi trường thuận lợi trong quá trình hình thành tình cảm với cha mẹ nuôi, phát triển thể chất và nhân cách Khi
cả hai vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì cả hai người đều phải đáp ứng các điều kiện của việc nuôi con nuôi mà pháp luật quy định
Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ đối với con
Khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết trở về thì họ phải tiếp tục thực hiện toàn bộ quyền và nghĩa vụ đối với con và ngược lại như nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, làm đại diện, giám hộ, quản lý tài sản và bồi thường thiệt hại do một bên gây ra Tuy nhiên, trong thực tế có một số vướng mắc về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con trong trường hợp này
Trên thực tế khi giải quyết vụ án ly hôn mà vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên
bố mất tích, sau một thời gian những người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó chết thì khi người đó trở về họ có phải thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng cho con không? Ngoài ra, pháp luật cũng chưa quy định việc người vợ hoặc người chồng của người bị tuyên bố là đã chết có quyền yêu cầu người này cấp dưỡng cho con hay không? Và thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là khi nào?
Trang 40Còn trong trường không qua thủ tục tuyên bố mất tích mà tuyên bố chết luôn thì khi họ trở về có đặt ra vấn đề họ phải bồi hoàn lại tài sản mà đã không nuôi con trong suốt thời gian vắng mặt không? vì hôn nhân không bị gián đoạn nhưng về quan hệ tài sản trong khoảng thời gian kể từ khi bị tuyên bố chết đến khi huỷ bỏ quyết định tuyên bố chết không tồn tại sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Trong các trường hợp này, người đang nuôi dưỡng con thường yêu cầu người đã chết trở về phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hoặc khấu trừ
“di sản” của người đã bị tuyên bố chết để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tính từ thời điểm bản án ly hôn có hiệu lực Nhưng hiện nay, BLDS và Luật HN&GĐ chưa có một Điều luật cụ thể nào quy định về việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đối với người đã bị tuyên bố chết mà trở về
1.3.2.3 Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng
Chia tài sản chung của vợ chồng khi Tòa án tuyên một bên là đã chết, thì hôn nhân được coi là chấm dứt kể từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc vào ngày ghi trong giấy báo tử Trong thực tế cuộc sống, chế định tuyên bố một người là đã chết do pháp luật dân sự quy định nhằm ổn định các quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân gia đình Hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản sau khi vợ (chồng) bị tuyên bố là đã chết được giải quyết như trường hợp người
vợ (chồng) đã bị chết Tuy nhiên, trường hợp sau một thời gian vì những lý do nào đó mà người vợ (chồng) bị tuyên bố đã chết mà trở về thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên người đó là đã chết hoặc giấy báo tử và phục hồi quan hệ hôn nhân bao gồm quan hệ về tài sản, nếu người vợ hoặc chồng còn
sống chưa kết hôn với người khác