1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình luật thi hành án dân sự việt nam chủ biên nguyễn công bình,

400 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 400
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, việc tổ chức thi hành án dân sự của văn phòng thừa phát lại trong một số trường hợp vẫn chịu sự kiểm soát của cơ quan thi hành án dân sự như trường hợp cưỡng chế thi hành án dân

Trang 2

394-2018/CXBIPH/53-188/CAND

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Giáo trình

(Tái bản lần thứ 3 có sửa đổi, bổ sung)

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

HÀ NỘI - 2018

Trang 4

1 TS NGUYỄN CÔNG BÌNH Chương I & III

2 TS NGUYỄN TRIỀU DƯƠNG Chương IV

3 TS NGUYỄN THỊ THU HÀ Chương VII

5 TS TRẦN PHƯƠNG THẢO Chương VI

6 PGS.TS TRẦN ANH TUẤN Chương V

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Thi hành án dân sự là một trong những nội dung cơ bản của tư pháp dân sự, có tác động trực tiếp tới hiệu quả của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể thông qua hoạt động tư pháp Vì vậy, thi hành án dân sự luôn được Nhà nước và xã hội quan tâm

Thời gian qua, cùng với những thành tựu của công cuộc cải cách tư pháp, tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở nước ta cũng đã có nhiều tiến bộ và ngày càng có hiệu quả Tuy vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động thi hành

án dân sự, ngày 14 tháng 11 năm 2008 tại kì họp thứ 4 Quốc hội Khoá XII đã thông qua Luật thi hành án dân sự và ngày 25 tháng 11 năm 2014 tại kì họp thứ 8 Quốc hội Khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành

án dân sự Việc Nhà nước ban hành Luật thi hành án dân sự Việt Nam và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam và kịp thời đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ phát sinh trong thi hành án dân sự

Trong chương trình đào tạo cử nhân luật, Luật thi hành án dân sự Việt Nam là môn học giáo dục chuyên nghiệp Để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật thi

Trang 6

hành án dân sự của các sinh viên, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn pháp luật, tập thể giảng viên Bộ môn luật tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội đã biên soạn cuốn Giáo trình luật thi hành án dân sự Việt Nam Nội dung cuốn Giáo trình này bao gồm bảy chương trình bày những vấn đề lí luận cơ bản về luật thi hành án dân sự như khái niệm luật thi hành án dân sự, nguồn của luật thi hành án dân sự, quan hệ pháp luật thi hành án dân sự, xã hội hoá thi hành án dân sự v.v Ngoài ra, còn phân tích làm rõ các quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành về thời hiệu, thẩm quyền và nguyên tắc thi hành án dân sự; nhiệm

vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong thi hành án dân sự; đối tượng, thẩm quyền và thủ tục thi hành án dân sự v.v Hi vọng cuốn Giáo trình này sẽ đáp ứng được yêu cầu của các độc giả quan tâm đến luật thi hành án dân sự Mặc dù tập thể tác giả đã cố gắng trình bày các vấn đề về luật thi hành án dân sự trong cuốn Giáo trình một cách rõ ràng và có hệ thống nhưng vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến góp ý của bạn đọc

Xin trân trọng cảm ơn!

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 7

LTHADS Luật thi hành án dân sự

LSĐBSLTHADS Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành

án dân sự LTCTAND Luật tổ chức toà án nhân dân

LTCVKSND Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân LTTTM Luật trọng tài thương mại

PLTHADS Pháp lệnh thi hành án dân sự

TANDTC Toà án nhân dân tối cao

VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 9

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN

VỀ LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

I KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH, PHƯƠNG

PHÁP ĐIỀU CHỈNH VÀ NGUỒN CỦA LUẬT THI HÀNH

ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

1 Khái niệm luật thi hành án dân sự Việt Nam

Quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương

sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau Việc giải quyết vụ

việc dân sự tại toà án tuy rất quan trọng nhưng thực ra mới

chỉ là giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của đương sự Trong giai đoạn này, toà án mới chỉ làm

rõ các tình tiết của vụ việc dân sự và áp dụng các quy phạm

pháp luật quyết định quyền và nghĩa vụ của các đương sự

Quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đã

được toà án, trọng tài, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh quyết

định muốn trở thành hiện thực thì phải thông qua việc thi

hành án Trong đó, người có quyền thi hành án yêu cầu người

có nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án

của họ đối với mình và người có nghĩa vụ thi hành án phải

thực hiện nghĩa vụ của mình vì lợi ích của người có quyền thi

hành án Do vậy, theo nghĩa chung thì thi hành án dân sự là

Trang 10

thực hiện bản án, quyết định dân sự của toà án, trọng tài, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh

Thi hành án dân sự xuất phát và gắn liền với hoạt động xét

xử của toà án, trọng tài, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh Tuy vậy, theo nghĩa một thuật ngữ pháp lí thì còn có các ý kiến khác nhau về thi hành án dân sự.(1) Ý kiến thứ nhất cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động hành chính, bởi thi hành án dân sự là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành

mà điều hành và chấp hành là đặc trưng của hoạt động hành chính Mặt khác, thi hành án dân sự ở nước ta lại không do toà

án - cơ quan tư pháp tổ chức Ý kiến thứ hai cho rằng thi hành

án dân sự là một dạng của hoạt động hành chính-tư pháp vì thi hành án dân sự là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành quyết định của toà án - cơ quan tư pháp, trọng tài, hội đồng xử

lí vụ việc cạnh tranh Hơn nữa, trong quá trình thi hành án dân

sự còn phải tiến hành các hoạt động mang tính hành chính như chứng thực bản sao giấy tờ, việc uỷ quyền thi hành án dân sự, trước bạ chuyển quyền sở hữu nhà cho người được thi hành án v.v Ý kiến thứ ba lại cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động tư pháp vì thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, mang tính tài sản, độc lập và do cơ quan tư pháp

có thẩm quyền tổ chức thực hiện Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy ý kiến này là có cơ sở khoa học hơn cả

(1).Xem: Công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Luận cứ khoa học và

thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do Viện nghiên cứu khoa học pháp lí thuộc Bộ tư pháp chủ trì

thực hiện năm 2003, tr 13; Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ “Những

quan điểm cơ bản về BLTTDS Việt Nam” do Viện nhà nước và pháp luật thuộc

Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia chủ trì thực hiện năm 2001,

tr 63 và Tạp chí luật học, số 2/2001, tr 22

Trang 11

Thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp vì xét xử, giải quyết tranh chấp và thi hành án dân sự là hai mặt của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Xét xử, giải quyết tranh chấp là tiền đề của thi hành án dân sự, không có xét xử thì không có thi hành án dân sự Ngược lại, thi hành án dân sự tiếp nối với xét xử làm cho bản án, quyết định có hiệu lực trên thực tế nên có tác dụng củng cố kết quả xét xử

Thi hành án dân sự mang tính tài sản - đặc trưng của quan

hệ dân sự Trên thực tế, phần lớn các bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành đều quyết định các vấn đề về tài sản như chia thừa kế, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng v.v Thông qua thi hành án dân sự, người phải thi hành án phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản của họ và người được thi hành án dân sự sẽ nhận được các quyền, lợi ích về tài sản Thi hành án dân sự mang tính độc lập - đặc trưng của hoạt động tư pháp Thi hành án là quá trình diễn ra phức tạp, trong đó

cơ quan thi hành án dân sự thường phải chịu áp lực, tác động từ nhiều phía Để bảo đảm hiệu quả của thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên phải được độc lập và không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân sự Vì vậy, khác với các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thi hành án dân sự được ban hành trước, Pháp lệnh thi hành án dân sự (PLTHADS) năm

2004 và Luật thi hành án dân sự (LTHADS) đã quy định cơ quan thi hành án dân sự tách khỏi các cơ quan tư pháp địa phương, không phụ thuộc về tổ chức và quản lí của các cơ quan này Thi hành án dân sự do cơ quan thi hành án dân sự - cơ quan

Trang 12

tư pháp tổ chức thực hiện Việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước do nhiều cơ quan tư pháp thực hiện và toà án chỉ là một trong các cơ quan đó Cơ quan thi hành án dân sự có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước cho nên cơ quan thi hành án dân sự là một trong các cơ quan tư pháp Để xã hội hoá thi hành án, các văn phòng thừa phát lại cũng được tổ chức thi hành án đối với một số bản án, quyết định có hiệu lực thi hành Tuy vậy, việc tổ chức thi hành

án dân sự của văn phòng thừa phát lại trong một số trường hợp vẫn chịu sự kiểm soát của cơ quan thi hành án dân sự như trường hợp cưỡng chế thi hành án dân sự.(1)

Ngoài ra, để thực hiện các bản án, quyết định được đưa ra thi hành thì trong quá trình thi hành án dân sự đôi khi các chủ thể tham gia thi hành án còn phải tiến hành các hoạt động như yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chứng thực bản sao giấy tờ, việc uỷ quyền thi hành án, trước bạ chuyển quyền sở hữu nhà cho người được thi hành án v.v Tuy vậy, những hoạt động này không phải là hoạt động cơ bản, chỉ mang tính bổ trợ cho việc thi hành bản án, quyết định dân sự

Thi hành án dân sự là nhằm mục đích đưa bản án, quyết định dân sự ra thực hiện trên thực tế Do vậy, đối tượng thi hành án dân sự trước hết phải là các bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự, sau đó là các quyết định về tài sản trong các bản án hình sự, hành chính của toà án Hiện nay,

(1).Xem: Nghị định của Chính phủ số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức

và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm ở Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị định của Chính phủ số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 s ửa đổi, bổ sung tên gọi

và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

nhìn chung pháp luật về thi hành án dân sự của các nước trên thế giới đều quy định đối tượng thi hành án dân sự theo hướng này Tuy vậy, pháp luật về thi hành án dân sự của một số nước lại quy định đối tượng thi hành án dân sự bao gồm cả các quyết định giải quyết tranh chấp về tài sản của cơ quan, tổ chức khác như quyết định của cơ quan thuế (Thuỵ Điển), quyết định của trọng tài (Pháp, Đức và Thuỵ Điển) hoặc các thoả thuận về quyền, nghĩa vụ dân sự của các đương sự (Pháp, Nhật Bản) Sở

dĩ ở nhiều nước pháp luật về thi hành án dân sự quy định đối tượng thi hành án dân sự bao gồm cả các quyết định của các cơ quan, tổ chức khác và các thoả thuận về quyền, nghĩa vụ dân

sự của các đương sự vì theo pháp luật về thi hành án dân sự của các nước này toà án là cơ quan có quyền hạn, nhiệm vụ quản lí thi hành án và ra quyết định thi hành án Mặt khác, đây đều là các quyết định giải quyết tranh chấp về tài sản hay thoả thuận về quyền, nghĩa vụ đối với tài sản và trước khi ra quyết định thi hành án toà án đã xem xét tính hợp pháp và tính có căn

cứ của chúng Do vậy, về hình thức tuy là thi hành quyết định của các cơ quan, tổ chức khác hoặc sự thoả thuận của các đương sự nhưng về nội dung thực chất vẫn là thi hành quyết định dân sự của toà án

Ở Việt Nam, trước ngày 01/7/2003, đối tượng thi hành án dân sự bao gồm bản án, quyết định dân sự của toà án Tuy vậy, từ ngày 01/7/2003, đối tượng thi hành án dân sự bao gồm

cả quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại Việt Nam (Điều 57 Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003) Sau đó, Điều 67 Luật trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM), Điều 2 PLTHADS năm 2004 và Điều 121 Luật cạnh tranh năm 2004 quy định quyết định của trọng tài thương

Trang 14

mại, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh cũng được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự Kế thừa các quy định này, Điều 1 LTHADS năm 2008 tiếp tục quy định đối tượng thi hành án dân sự bao gồm bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lí vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của toà án, bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài được toà án công nhận và cho thi hành ở Việt Nam, quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh

có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của hội đồng

xử lí vụ việc cạnh tranh và quyết định của trọng tài thương mại Việt Nam Vì vậy, theo nghĩa pháp lí thì thi hành án dân sự là một dạng hoạt động tư pháp trong việc thực hiện bản án, quyết định dân sự của toà án và các quyết định của các cơ quan, tổ chức khác được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật Quá trình thi hành án dân sự có sự tham gia của nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức nên đã phát sinh nhiều mối quan hệ khác nhau giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác liên quan đến việc thi hành án Trong đó, mỗi chủ thể tham gia vào quá trình này với những động cơ, mục đích riêng Mặt khác, thực tế thi hành án dân sự cũng cho thấy nhiều người phải thi hành án đã chây ỳ, không chịu thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ làm cho cơ quan thi hành án dân sự buộc phải tổ chức cưỡng chế thi hành án nên dễ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của những người liên quan đến thi hành án Để bảo đảm việc thi hành án dân sự có hiệu quả, bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến việc thi hành

Trang 15

án dân sự Nhà nước phải đặt ra các quy phạm pháp luật quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến thi hành án dân sự như thời hiệu yêu cầu thi hành án, thẩm quyền thi hành án, quyền

và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia thi hành án, trình tự, thủ tục yêu cầu thi hành án, thụ lí đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, khiếu nại, tố cáo và kháng nghị về thi hành án v.v Trước đây, hoạt động thi hành án dân sự được xem là một dạng của hoạt động tố tụng dân sự cho nên tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự được coi là chế định cơ bản của luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, theo xu thế phát triển của khoa học pháp lí ở Việt Nam các ngành luật ngày càng được chia nhỏ hơn, theo đó tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong một lĩnh vực nhất định cũng có thể trở thành ngành luật độc lập Thi hành án dân sự có sự độc lập tương đối và có nhiệm

vụ khác với việc giải quyết vụ việc dân sự Trong thi hành án dân sự, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không xem xét lại vụ việc dân sự, không ra quyết định giải quyết lại nội dung

vụ việc dân sự mà chỉ áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm tổ chức thực hiện các quyết định trong bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành Các hành vi của các cơ quan, tổ chức và

cá nhân tham gia thi hành án dân sự cũng chỉ nhằm thực hiện các quyết định trong bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành và không có mục đích làm sáng tỏ vụ việc như trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Do đó, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân

Trang 16

sự, văn phòng thừa phát lại với đương sự, cá nhân, cơ quan và

tổ chức phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự có thể thành một ngành luật - Luật thi hành án dân sự

Luật thi hành án dân sự Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa cơ quan thi hành

án dân sự, văn phòng thừa phát lại với đương sự, cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến việc thi hành án dân sự, phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự nhằm bảo đảm việc thi hành án dân sự có hiệu quả, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức

2 Đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự Việt Nam

Tham gia vào quá trình thi hành án dân sự ngoài cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại, các đương sự còn

có các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác Vì vậy, các quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự khá đa dạng, bao gồm: Các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại với đương sự; các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân

sự, văn phòng thừa phát lại với cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thi hành án dân sự; các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại với toà án, viện kiểm sát, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh và trọng tài; các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại với nhau và các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại với cơ quan quản lí công tác thi hành án Ngoài ra,

để thực hiện bản án, quyết định của toà án trong một số trường hợp còn phát sinh các quan hệ khác như quan hệ giữa các đương sự với cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan

Trang 17

Tuy vậy, để bảo đảm hiệu quả của việc thi hành án dân sự, luật thi hành án dân sự Việt Nam chỉ quy định quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ mà việc thực hiện

có ý nghĩa trực tiếp đối với việc thi hành bản án, quyết định được đưa ra thi hành Đối với quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ mà việc thực hiện tuy có ý nghĩa đối với việc thi hành án nhưng không mang tính trực tiếp như quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với cơ quan quản lí công tác thi hành án dân sự, quan hệ giữa đương sự với các cơ quan nhà nước khác trong việc thực hiện một số công việc như công chứng, chứng thực việc uỷ quyền, bản sao giấy tờ liên quan đến thi hành án, việc đăng kí trước bạ, sang tên, công nhận quyền sở hữu nhà ở của nguyên đơn tại cơ quan quản lí nhà đất sau khi toà án xử chấp nhận yêu cầu được sở hữu nhà ở của nguyên đơn v.v thì không do luật thi hành án quy định

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự Việt Nam là các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại với đương sự, cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến việc thi hành án dân sự phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự

Đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự Việt Nam

là tiêu chí cơ bản để phân biệt luật thi hành án dân sự với các ngành luật khác Tuy cũng là các quan hệ phát sinh giữa cơ quan nhà nước với các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác như quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ pháp luật tố tụng hình

sự, quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nhưng các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh luật thi hành án dân sự Việt Nam có một

số đặc trưng cơ bản sau đây:

- Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật thi hành

Trang 18

án dân sự phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự, từ khi đương sự thực hiện quyền yêu cầu thi hành án đến khi kết thúc thi hành án Đối với trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chủ động thi hành án, quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự phát sinh từ khi toà án chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự

- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự có tác dụng trực tiếp đối với việc thi hành bản án, quyết định được đưa ra thi hành

- Một bên chủ thể của quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thừa phát lại còn bên kia là đương sự hoặc cá nhân,

cơ quan, tổ chức khác

Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật thi hành

án dân sự rất đa dạng Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các mối quan hệ này có thể chia đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự thành ba nhóm:

- Nhóm thứ nhất bao gồm các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại với các đương sự

- Nhóm thứ hai bao gồm các quan hệ giữa cơ quan thi hành

án dân sự, văn phòng thừa phát lại với các cá nhân, cơ quan và

tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự

- Nhóm thứ ba bao gồm các quan hệ giữa cơ quan thi hành

án dân sự, văn phòng thừa phát lại với toà án, trọng tài, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh và viện kiểm sát

Trong các nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự thì nhóm quan hệ giữa cơ quan thi hành

Trang 19

án dân sự, văn phòng thừa phát lại với các đương sự mang tính phổ biến, bởi đương sự là người có quyền hoặc nghĩa vụ thi hành án dân sự còn cơ quan thi hành án dân sự có nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức thi hành án dân sự Để bảo đảm việc thi hành án nhanh chóng, đúng đắn, bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước hết pháp luật phải điều chỉnh quan hệ này Đối với các quan hệ khác, cũng có thể phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự nhưng không phải trường hợp nào cũng có Tuy vậy, để nâng cao được hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự, pháp luật thi hành án dân sự phải điều chỉnh cả các quan hệ này

3 Phương pháp điều chỉnh của luật thi hành án dân sự Việt Nam

Phương pháp điều chỉnh của luật thi hành án dân sự là tổng hợp những cách thức mà luật thi hành án dân sự tác động lên các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của nó Do đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự khá đa dạng và trong thi hành án dân sự các đương sự vẫn có quyền quyết định quyền lợi của họ nên luật thi hành án dân sự Việt Nam điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự bằng hai phương pháp là mệnh lệnh và định đoạt

Luật thi hành án dân sự điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự bằng phương pháp mệnh lệnh thể hiện ở chỗ quy định địa vị pháp lí của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại hoàn toàn khác với địa

vị pháp lí của các chủ thể khác Trong quá trình thi hành án dân sự, các chủ thể khác đều phải phục tùng cơ quan thi hành

án dân sự, văn phòng thừa phát lại Quyết định của cơ quan thi

Trang 20

hành án dân sự được đưa ra trong quá trình thi hành án dân sự các chủ thể khác đều phải thực hiện, nếu không sẽ bị cưỡng chế thực hiện Sở dĩ pháp luật thi hành án dân sự quy định các chủ thể khác phải nghiêm chỉnh thực hiện quyết định của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại là xuất phát

từ yêu cầu của công tác thi hành án dân sự Trong thi hành án dân sự, việc can thiệp của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại là rất cần thiết, là yếu tố bảo đảm cho việc thi hành án dân sự được thực hiện Thực tế đã chứng minh, trong nhiều trường hợp, nếu không có sự can thiệp của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại thì việc thi hành án dân sự sẽ không thể thực hiện được Ngoài ra, cơ quan thi hành

án dân sự là cơ quan nhà nước, văn phòng thừa phát lại là tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án dân sự và được thực hiện quyền lực của Nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự Để các cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại thực hiện được chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao thì các cơ quan này phải có những quyền lực pháp lí nhất định đối với các chủ thể khác Do đó, ở các quan hệ do luật thi hành án dân sự điều chỉnh không có sự bình đẳng giữa cơ quan thi hành

án dân sự, văn phòng thừa phát lại với các chủ thể khác

Ngoài phương pháp mệnh lệnh, luật thi hành án dân sự Việt Nam cũng điều chỉnh các quan hệ phát sinh quá trình thi hành án dân sự bằng phương pháp định đoạt Theo đó, trong quá trình thi hành án dân sự, các đương sự vẫn được tự quyết định quyền, lợi ích hợp pháp của họ và việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Khi bản án, quyết định được thi hành, các đương sự có quyền tự quyết định việc thi hành án dân sự như yêu cầu đương sự bên kia hoặc cơ quan thi hành án dân sự

Trang 21

có quyền tự quyết định quyền, lợi ích hợp pháp của họ

Như vậy, luật thi hành án dân sự điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án bằng cả phương pháp mệnh lệnh và phương pháp định đoạt Tuy nhiên, do yêu cầu của thi hành án dân sự nên phương pháp mệnh lệnh là phương pháp được sử dụng chủ yếu nhất

4 Nguồn của luật thi hành án dân sự Việt Nam

Các văn bản quy phạm pháp luật là một trong những hình thức thể hiện ý chí của Nhà nước trong quản lí xã hội nên được coi là nguồn cơ bản của luật Nguồn của luật thi hành án dân

sự Việt Nam bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa cơ quan thi hành

án dân sự, toà án, viện kiểm sát, các đương sự và những người khác tham gia vào quá trình thi hành án dân sự Các văn bản quy phạm pháp luật là nguồn của luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều loại như Hiến pháp, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân (LTCVKSND), LTHADS, các nghị quyết của Quốc hội, các nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các

Trang 22

thông tư và thông tư liên bộ quy định về thi hành án dân sự

- Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, quy định về chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và Nhà nước quản lí Các văn bản quy phạm pháp luật khác được Nhà nước ban hành nhằm cụ thể hoá các quy định của hiến pháp Hiện nay, Hiến pháp năm 1992 là nguồn quan trọng của luật thi hành án dân sự Việt Nam Trong Hiến pháp năm 1992 có các quy định về nguyên tắc thi hành án dân sự như quy định về hiệu lực của bản án, quyết định (Điều 136), quy định về kiểm sát các hoạt động thi hành án dân sự (Điều 137) v.v Trên cơ

sở quy định này của Hiến pháp năm 1992, các văn bản quy phạm pháp luật thi hành án dân sự quy định cụ thể về thời hiệu, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong thi hành án dân sự và trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

- BLTTDS quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự là cơ bản Tuy vậy, trong BLTTDS năm 2015 có Phần thứ chín có 9 điều luật, từ Điều

482 đến Điều 488 quy định các vấn đề về thi hành án dân sự như các bản án, quyết định được thi hành; ghi nhận và giải thích về quyền yêu cầu thi hành án dân sự; thời hạn chuyển giao bản án, quyết định; giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của toà án; giải quyết yêu cầu, kiến nghị đối với bản án, quyết định của toà án; thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của toà

án v.v Đây là các quy định mang tính chất chung, tính nguyên tắc về thi hành án dân sự và vì vậy BLTTDS là một trong các

Trang 23

nguồn cơ bản của luật thi hành án dân sự Việt Nam

- LTCVKSND chủ yếu quy định về tổ chức của viện kiểm sát Tuy vậy, trong LTCVKSND cũng có những quy định về thi hành án dân sự như quy định về kiểm sát các hoạt động thi hành án dân sự (Điều 6, Điều 28 LTCVKSND năm 2014), do

đó các văn bản quy phạm pháp luật này cũng là một trong các nguồn của luật thi hành án dân sự Việt Nam

- LTHADS là văn bản quy phạm pháp luật quy định trực tiếp và hệ thống tất cả các vấn đề liên quan đến thi hành án dân

sự như đối tượng thi hành án dân sự, nguyên tắc thi hành án dân sự, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự, thẩm quyền thi hành án dân sự, thủ tục thi hành án dân

sự, biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân

sự, khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự, việc xử lí các hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự v.v Vì vậy, hiện nay LTHADS là nguồn cơ bản và quan trọng nhất của luật thi hành án dân sự Việt Nam Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự (LSĐBSLTHADS) năm 2014 cũng là một nguồn cơ bản quan trọng của luật thi hành án dân sự Việt Nam

- Nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của các bộ và thông

tư liên bộ cũng là những nguồn của luật thi hành án dân sự Việt Nam Đây là các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành LTHADS Nội dung của các văn bản này bao gồm các quy định chi tiết hoá, cụ thể hoá các quy định của LTHADS nhằm bảo đảm việc thực hiện đúng và có hiệu quả các quy định của LTHADS

Trang 24

II VAI TRÒ, NHIỆM VỤ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

1 Vai trò của luật thi hành án dân sự Việt Nam

Là ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luật thi hành án dân sự Việt Nam

có vai trò bảo đảm việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế, xã hội đồng thời bảo đảm việc thi hành án dân sự có hiệu quả và nâng cao được ý thức pháp luật của các chủ thể trong xã hội

Sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quyết định sự phát triển của xã hội Ở nước ta, đường lối, chính sách của Đảng là kim chỉ nam cho các hoạt động xã hội Pháp luật có vai trò thể chế hoá các đường lối, chính sách của Đảng để mọi người thực hiện Khi Đảng chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa làm cho dân giàu, nước mạnh thì pháp luật nói chung và luật thi hành án dân sự nói riêng càng có vai trò quan trọng Các quan điểm, tư tưởng của Đảng về phát triển kinh tế-xã hội, cải cách tư pháp ngày nay được quán triệt trong các quy định của luật thi hành

án dân sự buộc các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện là yếu tố rất quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế-xã hội và đặc biệt là đối

với việc thực hiện mục tiêu cải cách tư pháp ở nước ta:“Xây

dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lí, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.(1)

(1) Xem: Mục I Nghị quyết của Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá IX số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Trang 25

Quá trình thi hành án dân sự bao gồm nhiều công việc khác nhau, nảy sinh các quan hệ khác nhau giữa các chủ thể tham gia vào quá trình này Trong đó, mỗi chủ thể tham gia vào các quan hệ này với những động cơ, mục đích và nhiệm vụ khác nhau nên rất phức tạp Vì vậy, các quy định của luật thi hành

án dân sự Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, thời hiệu thi hành án, thẩm quyền thi hành án, thủ tục thi hành án, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế thi hành án v.v có tác dụng điều chỉnh các quan hệ quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự bảo đảm được hiệu quả của việc thi hành án dân sự

Ngoài ra, luật thi hành án dân sự Việt Nam còn quy định cả

cơ chế giám sát, kiểm sát các hoạt động thi hành án dân sự, trách nhiệm pháp lí của các chủ thể trong việc tổ chức hoặc tham gia thi hành án dân sự v.v Các quy định này vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự vừa có tác dụng nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tổ chức hoặc tham gia thi hành án dân sự, mặt khác còn góp phần nâng cao được ý thức pháp luật của các chủ thể trong xã hội

2 Nhiệm vụ của luật thi hành án dân sự Việt Nam

Nhận thức được vai trò to lớn của luật thi hành án dân sự Việt Nam, trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước

ta đã ban hành như BLTTDS, PLTHADS, LTHADS v.v đều

có quy định về các nhiệm vụ của luật thi hành án dân sự Theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật này thì luật thi hành án dân sự Việt Nam có các nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, luật thi hành án dân sự Việt Nam có nhiệm vụ

thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong

Trang 26

thi hành án dân sự Trong giai đoạn hiện nay, để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước yêu cầu các quy định của luật thi hành án dân sự Việt Nam phải thể chế hoá tốt nhất các đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế-xã hội, cải cách hành chính và cải cách tư pháp Trước hết, phải thể chế hoá được đường lối, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết của

Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá IX số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 34/NQ-TW ngày 03/02/2004 Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá IX số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020 Theo đó, các mục tiêu, định hướng và giải pháp được nêu trong các nghị quyết này phải được thể hiện thành các quy phạm pháp luật thi hành án dân sự để bảo đảm

được việc thi hành án dân sự hiệu quả “góp phần quản lí xã

hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân”.(1)

Thứ hai, luật thi hành án dân sự Việt Nam có nhiệm vụ tạo

ra cơ sở pháp lí cho các hoạt động thi hành án dân sự Để thực

(1) Xem: Mục I Nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá IX số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

Trang 27

hiện được các mục tiêu của công cuộc cải cách tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự, luật thi hành án dân sự Việt Nam phải quy định các vấn đề về nguyên tắc thi hành án, thời hiệu thi hành án, thẩm quyền thi hành án, thủ tục thi hành án, việc

áp dụng các biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế thi hành án thật sự khoa học, cụ thể và phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam Các quy định của luật thi hành án dân sự Việt Nam phải là cơ sở cho các hoạt động tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự và hoạt động tham gia thi hành

án dân sự của các chủ thể khác, từ đó bảo đảm cho hoạt động

tổ chức và tham gia thi hành án dân sự của các chủ thể được thuận lợi góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự

Thứ ba, luật thi hành án dân sự Việt Nam có nhiệm vụ tạo ra

cơ chế kiểm tra, kiểm sát và giám sát việc tuân theo pháp luật của các hoạt động thi hành án dân sự, bảo đảm các hoạt động thi hành án dân sự được tiến hành đúng pháp luật Hoạt động thi hành án dân sự là một trong số ít các hoạt động pháp lí phức tạp Thực tế thi hành án dân sự cho thấy không phải trong tất cả các trường hợp các chủ thể tổ chức hoặc tham gia thi hành án dân sự đều thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của họ Mặt khác, có trường hợp họ còn phải chịu sự tác động từ nhiều phía làm cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong thi hành án dân sự của họ có thể không đúng đắn Để bảo đảm cho các hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện đúng đắn và có hiệu quả, ngoài việc quy định khoa học và cụ thể về thời hiệu, thẩm quyền, trình

tự, thủ tục thi hành án, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tổ chức hoặc tham gia thi hành án v.v thì luật thi hành án dân sự Việt Nam phải quy định cả cơ chế kiểm tra, kiểm sát và giám sát

Trang 28

việc tuân theo pháp luật của các hoạt động thi hành án dân sự

Thứ tư, luật thi hành án dân sự Việt Nam có nhiệm vụ bảo

đảm quyền khiếu nại, tố cáo và việc xử lí các hành vi trái pháp luật trong thi hành dân sự Thi hành án dân sự tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của đương sự và những người liên quan nên các vi phạm pháp luật xảy ra trên thực tế thi hành án dân

sự không ít Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, nhiều khi cơ quan thi hành án dân sự vừa gặp phải sự chống đối quyết liệt của người phải thi hành án vừa gặp cả sự cản trở của những người khác Vì vậy, để có cơ sở xử lí, ngăn chặn và khắc phục kịp thời hậu quả của các hành vi trái pháp luật trong thi hành án dân sự thì luật thi hành án dân sự Việt Nam phải quy định cả các vấn đề liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo và

xử lí các hành vi trái pháp luật trong thi hành dân sự như quy định về người có quyền khiếu nại, tố cáo, các hành vi trái pháp luật cần xử lí, hình thức xử lí, thẩm quyền và thủ tục xử lí v.v

Thứ năm, luật thi hành án dân sự Việt Nam có nhiệm vụ

bảo đảm sự phối hợp giữa các cá nhân, cơ quan và tổ chức trong thi hành án dân sự, phát huy dân chủ và tạo điều kiện cho mọi người có thể đóng góp được công sức và trí tuệ vào việc thi hành án dân sự Để thực hiện nhiệm vụ này, luật thi hành án dân sự Việt Nam phải quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa các cá nhân, cơ quan và tổ chức chức trong việc thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân,

cơ quan và tổ chức trong việc tham gia thi hành án dân sự và vấn đề xã hội hoá thi hành án dân sự

3 Sự hình thành và phát triển của luật thi hành án dân

sự Việt Nam

Trang 29

a Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đã mở ra trang sử mới về sự phát triển của dân tộc Từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong

đó chứa đựng các quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự như Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán; Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 về thể thức thi hành án dân sự; Thông tư của Bộ tư pháp số 24/BK ngày 26/4/1949 về việc thi hành án hình và hộ; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng v.v Theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật này, ban tư pháp xã có nhiệm vụ, quyền hạn thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các toà án; ở những nơi nào đã có thừa phát lại thì đương sự có quyền nhờ thừa phát lại thi hành; thẩm phán toà án cấp huyện dưới sự kiểm soát của biện lí có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn, các án hộ mà chính toà án cấp huyện hay toà án cấp trên đã tuyên Đây là các quy định mang tính nguyên tắc, đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật

về thi hành án dân sự Việt Nam sau này Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử lúc đó phải tập trung sức người sức của vào công cuộc kháng chiến cứu quốc nên các quy định về thi hành án dân sự được Nhà nước ban hành còn sơ sài và tản mạn

b Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1989

Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn dưới ách thống trị của ngụy quyền Sài Gòn Ở miền Nam, thời

kì đầu ngụy quyền Sài Gòn vẫn cho áp dụng các quy định về

Trang 30

thi hành án dân sự của các văn pháp luật cũ như quy định của

Bộ luật dân sự, thương sự và tố tụng ban hành kèm theo Nghị định 16/3/1910, Nghị định số 111/BTP-ND ngày 4/2/1950 quy định chi tiết về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của thừa phát lại Năm 1972, ngụy quyền Sài Gòn ban hành Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng, trong đó có một số quy định

về thi hành án (từ Điều 368 đến Điều 452) và từ đó việc thi hành án dân sự được thực hiện theo các quy định của Bộ luật này

Ở miền Bắc, từ ngày hoà bình lập lại, bên cạnh việc phát triển kinh tế, chuẩn bị sức người, sức của chi viện cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nhà nước ta cũng rất quan tâm tới việc xây dựng pháp luật Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc, trình tự và thủ tục thi hành án dân sự như Thông tư của Bộ tư pháp số 4176/HCTP ngày 28/11/1957 quy định về cưỡng chế thi hành

án, Thông tư của Bộ tư pháp số 4296/DS ngày 09/12/1957 quy định về thứ tự ưu tiên trong chia tiền thi hành án v.v Tiếp đó, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1959, LTCTAND năm 1960 và LTCVKSND năm 1960 Theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật này thì các bản án, quyết định sơ thẩm của các toà án địa phương sẽ có hiệu lực pháp luật nếu không bị đương sự kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định Bản án, quyết định phúc thẩm của các toà án nhân dân và bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) đều là chung thẩm và

có hiệu lực thi hành Tại các toà án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành làm nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định về dân sự, những khoản xử bồi thường và tài sản

Trang 31

trong các bản án, quyết định về hình sự TANDTC ngoài chức năng xét xử còn có nhiệm vụ và quyền hạn quản lí công tác thi hành án dân sự Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC)

và các viện kiểm sát nhân dân địa phương có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc chấp hành các bản án và các quyết định của toà án nhân dân Trên cơ sở quy định Hiến pháp năm 1959, LTCTAND năm 1960 và LTCVKSND năm 1960 các cơ quan

có thẩm quyền tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục thi hành án dân sự như Thông tư của Thủ tướng Chính phủ số 01/TTg ngày 01/01/1966 về việc các cơ quan, xí nghiệp nhà nước, đơn vị quân đội giúp đỡ thi hành những bản

án về hôn nhân và gia đình xử người công nhân, viên chức, quân nhân phải cấp tiền nuôi dưỡng vợ con, Thông tư của TANDTC số 01/NCPL ngày 11/02/1966 về việc chấp hành án bắt chịu phí tổn nuôi con, Thông tư của TANDTC số 04/NCPL ngày 14/4/1966 về việc chấp hành án về khoản bồi thường, Thông tư của TANDTC số 442/TC ngày 04/7/1968 về đẩy mạnh công tác thi hành án, Quyết định của Chánh án TANDTC số 186/TC ngày 13/10/1972 về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của chấp hành viên v.v

Đến năm 1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành

án dân sự nói trên được áp dụng trong cả nước Tuy nhiên, sau khi Nhà nước ban hành Hiến pháp năm 1980, LTCTAND năm

1981 thì công tác quản lí thi hành án dân sự được chuyển giao

từ TANDTC sang cho Bộ tư pháp Thực hiện các quy định này, ngày 18/7/1982 Bộ tư pháp và TANDTC đã ban hành Thông tư liên ngành số 472/TTLN về quản lí công tác thi hành

án dân sự trong phạm vi cả nước; ngày 28/5/1985 Bộ tư pháp

Trang 32

đã ban hành Thông tư số 637/TTTHA ngày 28/5/1985 về trình

tự, thủ tục thi hành án dân sự, trong đó quy định tương đối cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

Như vậy, trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1989 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về các vấn đề về thi hành án dân sự Các quy định này bước đầu đã tạo ra cơ sở pháp lí cho việc thi hành án dân sự được thuận lợi Tuy nhiên, pháp luật về thi hành án dân sự thời kì này vẫn còn tản mạn, hiệu lực chưa cao Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật này vẫn quy định các toà án địa phương là

cơ quan tổ chức thi hành án dân sự và việc thi hành án dân sự

do toà án chủ động ra quyết định thi hành nên chưa đề cao quyền tự định đoạt của đương sự trong thi hành án dân sự

c Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2009

Để nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, ngày 28/8/1989 Nhà nước ta đã ban hành PLTHADS PLTHADS năm 1989 có hiệu lực từ ngày 01/01/1990 bao gồm bảy chương với 43 điều luật quy định về đối tượng, thẩm quyền, thủ tục thi hành án dân sự, quyền hạn của chấp hành viên và việc xử lí vi phạm trong thi hành án dân sự Đây là văn bản quy phạm pháp luật

có hiệu lực cao nhất về thi hành án dân sự lần đầu tiên được ban hành ở nước ta Việc ban hành PLTHADS năm 1989 đã tạo ra bước ngoặt về thi hành án dân sự Bởi văn bản quy phạm pháp luật này đã đề cao quyền tự định đoạt của đương sự trong thi hành án dân sự và xác định rõ chức danh, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ làm công tác thi hành án dân sự Tiếp

đó, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này như Thông tư liên ngành của TANDTC, Bộ tài

Trang 33

chính và Uỷ ban vật giá nhà nước số 05-89/TTLN ngày 06/12/1989 hướng dẫn thực hiện quy định của PLTHADS về hội đồng định giá; Thông tư liên ngành của TANDTC, VKSNDTC và Bộ tư pháp số 06-89/TTLN ngày 07/12/1989 hướng dẫn thực hiện quy định của PLTHADS; Thông tư liên ngành của TANDTC và Bộ nội vụ số 07-89/TTLN ngày 10/12/1989 hướng dẫn việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án; Thông

tư liên ngành của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tài chính và Bộ tư pháp số 09-89/TTLN ngày 10/12/1989 hướng dẫn việc xét xử

và thi hành án đối với các khoản tiền bồi thường, bồi hoàn, thanh toán tài sản, cấp dưỡng trong các bản án hình sự và dân

sự trong tình hình hiện nay Theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật này thì việc tổ chức thi hành án chỉ được thực hiện theo yêu cầu của đương sự và trong thời hiệu yêu cầu thi hành án do pháp luật quy định; chấp hành viên là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tổ chức thi hành án dân sự và lực lượng cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ cưỡng chế thi hành án Thực hiện các quy định của PLTHADS năm 1989 và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh này công tác thi hành án dân sự đã có những thay đổi về chất, quyền tự định đoạt của đương sự trong thi hành án dân sự đã được tôn trọng và bảo đảm thực hiện

Năm 1993, trước đòi hỏi của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, để nâng cao hiệu quả của các hoạt động tư pháp ngày 21/4/1993 Nhà nước ban hành PLTHADS mới thay thế PLTHADS năm 1989 PLTHADS năm 1993 có hiệu lực từ ngày 01/06/1993 bao gồm bảy chương với 50 điều luật So với PLTHADS năm 1989 thì PLTHADS năm 1993 quy định về thẩm quyền, thủ tục thi hành

Trang 34

án dân sự, quyền hạn của chấp hành viên và việc xử lí vi phạm trong thi hành án dân sự tương đối cụ thể hơn Hơn nữa, theo PLTHADS năm 1993 thì toà án không chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án dân sự, việc tổ chức thi hành án dân sự do cơ quan thi hành án dân sự thuộc các cơ quan tư pháp địa phương đảm nhiệm Tuy thuộc các cơ quan tư pháp địa phương nhưng

cơ quan thi hành án dân sự có con dấu riêng, tài khoản riêng và trong tổ chức thi hành án dân sự cơ quan thi hành án được độc lập Sau PLTHADS năm 1993, nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này cũng được ban hành như Nghị định của Chính phủ số 69/CP ngày 18/10/1993 quy định về thủ tục thi hành án, Nghị định số 30/CP ngày 02/6/1993 quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các

cơ quan quản lí công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi hành

án dân sự và chấp hành viên, Thông tư liên ngành của Bộ tư pháp, TANDTC và VKSNDTC số 981/TTLN ngày 21/9/1993 hướng dẫn thực hiện một số quy định của PLTHADS, Thông

tư của Bộ tư pháp số 555/TT-THA ngày 24/7/1993 hướng dẫn một số vấn đề về công tác thi hành án dân sự, Thông tư của Bộ

tư pháp số 67/TT-THA ngày 05/7/1996 hướng dẫn một số vấn

đề về tổ chức hoạt động thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp và Bộ tài chính số 01/TTLT ngày 19/6/1997 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án

về tài sản v.v Thực hiện PLTHADS năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này, việc tổ chức thi hành án dân sự của các cơ quan thi hành án dân sự có những thuận lợi mới để nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự

Năm 2004, thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp, để nâng cao hơn nữa hiệu quả của

Trang 35

công tác thi hành án ngày 14/01/2004 Nhà nước ta đã ban hành PLTHADS mới PLTHADS năm 2004 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 bao gồm tám chương với 70 điều luật So với PLTHADS năm 1993 thì Pháp lệnh này quy định đầy đủ, rõ ràng và hợp lí hơn các vấn đề về thi hành án dân sự Trong đó,

có nhiều vấn đề về thi hành án dân sự mới được quy định trong Pháp lệnh này như quyền yêu cầu thi hành án của người phải thi hành án, phí thi hành án, miễn giảm thi hành án, kết thúc thi hành án v.v Tiếp đó, Nhà nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này như Nghị định của Chính phủ số 173/2004/NQ-CP ngày 30/9/2004 quy định về thủ tục cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự; Nghị định của Chính phủ số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 quy định về kê biên, bán đấu giá quyền sử dụng đất

để thi hành án; Thông tư của Bộ quốc phòng số BQP ngày 12/8/2005 hướng dẫn việc xử lí tài sản tịch thu theo bản án, quyết định của toà án quân sự và trách nhiệm của đơn

117/2005/TT-vị quân đội được thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp, Bộ công an và Bộ tài chính số 02/2005/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC ngày 17/6/2005 hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt và án phí; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 136/2005/QĐ-TTg ngày 09/6/2005 về việc hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án dân sự; Thông tư của Bộ tài chính số 86/2005/TT-BTC ngày 3/10/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 136/2005/QĐ-TTg ngày 09/6/2005 về việc hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của Bộ tài chính và Bộ tư pháp số 68/2008/TTLT-

Trang 36

BTC-BTP ngày 21/7/2008 về hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản

lí và sử dụng phí thi hành án v.v Mặt khác, trong khoa học pháp lí từ trước vẫn coi thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động tư pháp mà cụ thể là hoạt động tố tụng dân sự Vì vậy, trong BLTTDS được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 15/6/2004 cũng có quy định một số vấn đề chung về thi hành

án dân sự như căn cứ thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong thi hành án dân sự v.v

Như vậy, cho đến giai đoạn này những vấn đề về thi hành

án dân sự đã được quy định khá đầy đủ, cụ thể và hợp lí hơn trong các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao nên đã tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự Tuy thế, bên cạnh đó một số vấn đề về thi hành án dân sự vẫn chưa được pháp luật quy định hoặc đã quy định nhưng chưa hợp lí như cơ chế phối hợp giữa thi hành án hình sự với thi hành án dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân

sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự, việc định giá tài sản, nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong thi hành án dân sự v.v Vì thế việc tổ chức thi hành dân sự không tránh khỏi những hạn chế nhất định

d Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014

Năm 2008, trước yêu cầu của việc đẩy mạnh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công cuộc cải cách hành chính và cải cách tư pháp ở nước ta, ngày 14/11/2008 Quốc hội khoá XII đã thông qua LTHADS gồm 09 chương với 183 điều và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 Việc Nhà nước ban hành LTHADS đáp ứng kịp thời được yêu cầu

Trang 37

của công tác thi hành án dân sự và đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam Tiếp đó, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật này như Nghị quyết của Quốc hội khoá XII

số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về việc thi hành LTHADS; Nghị định của Chính phủ số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LTHADS về thủ tục thi hành án dân sự; Nghị định của Chính phủ số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 quy định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố

Hồ Chí Minh; Nghị định của Chính phủ số 74/2009/NĐ-CP ngày 9/9/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LTHADS về cơ quan quản lí thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự; Nghị định của Chính phủ số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; Thông tư của Bộ tài chính số 166/2009/TT-BTC ngày 18/8/2009 hướng dẫn xử lí một số tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp

và Bộ tài chính số 04/2009/TTLT-BTP-BTC ngày 15/10/2009 hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, TANDTC và VKSNDTC số 07/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/03/2010 hướng dẫn thủ tục miễn thi hành án đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng; Thông tư liên tịch của Bộ tài chính và Bộ tư pháp số 184/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 19/12/2011 hướng

Trang 38

dẫn cơ chế quản lí tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Bộ tài chính, Bộ lao động-thương binh và xã hội và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để thi hành án dân sự v.v

So với các văn bản quy phạm pháp luật trước đây, các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thi hành án dân sự trong giai đoạn này đã quy định các vấn đề về thi hành án dân sự đầy

đủ, hợp lí và có hệ thống hơn Ngoài việc kế thừa được những quy định của các văn bản quy phạm pháp luật trước đây, LTHADS đã quy định nhiều vấn đề mới về thi hành án dân sự như trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự, nghĩa vụ chứng minh điều kiện thi hành án dân sự của đương

sự, thủ tục thi hành án dân sự trong một số trường hợp cụ thể, các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự v.v Tuy vậy, đến giai đoạn này, các vấn đề về xã hội hoá thi hành án dân sự vẫn chưa được pháp luật quy định đầy đủ và cụ thể Việc xã hội hoá thi hành án dân sự mới chỉ được quy định ở mức độ nhất định và trong phạm vi hẹp dưới hình thức thực hiện thí điểm

đ Giai đoạn từ năm 2015 đến nay

Sau một thời gian thi hành LTHADS, ngày 25/11/2014 tại kì họp thứ 8 Quốc hội khoá XIII đã thông qua LSĐBSLTHADS

Để hướng dẫn LTHADS năm 2008 và LSĐBSLTHADS năm

2014, Chính phủ đã ban hành Nghi định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LTHADS; Nghị định của Chính phủ số 67/2015/NĐ-

Trang 39

CP ngày 14/08/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị

định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Bộ tài chính, TANDTC và VKSNDTC số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKNDTC ngày 15/9/2015 hướng dẫn việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp và Bộ quốc phòng số 17/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 07/12/2015 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt

động thi hành án dân sự; Thông tư của Bộ tư pháp số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 quy định quy trình giải

quyết đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, TANDTC và VKSNDTC số 06/2016/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/5/2016 hướng dẫn phối hợp trong thống kê thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp và Bộ tài chính số 07/2016/TTLT-BTP-BTC ngày 10/6/2016 hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, TANDTC và VKSNDTC số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự v.v Ngoài ra, Quốc hội khoá XIII cũng ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 về thực hiện chế định thừa phát lại

LSĐBSLTHADS và các văn bản hướng dẫn thi hành nêu trên đã quy định nhiều vấn đề mới về thi hành án dân sự như quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, quyền và nghĩa

Trang 40

vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án; quy định về thủ tục tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án; quy định về cơ quan thi hành án dân sự có nghĩa vụ xác minh điều kiện thi hành án, xác định việc chưa có điều kiện thi hành án; quy định rút ngắn thời hạn tự nguyện thi hành án; quy định

về chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định thừa phát

lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016 v.v Việc Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật này làm cho Luật thi

hành án dân sự Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn

III QUAN HỆ PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

VÀ XÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1 Quan hệ pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

a Khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật thi hành

án dân sự

- Khái niệm quan hệ pháp luật thi hành án dân sự

Quá trình thi hành án dân sự từ khi đương sự nộp đơn yêu cầu thi hành án hoặc từ khi toà án chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự đến khi kết thúc thi hành án nảy sinh nhiều quan hệ khác nhau giữa cơ quan thi hành án, toà

án, trọng tài, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh, viện kiểm sát, các đương sự, người đại diện của đương sự và những cá nhân,

cơ quan, tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự Các chủ thể tham gia vào các quan hệ này với những động cơ, mục đích và nhận thức về quyền và nghĩa vụ của họ trong thi hành

án khác nhau nên cách xử sự của họ cũng rất khác nhau Thông thường, những người phải thi hành án đều không muốn thực hiện các nghĩa vụ thi hành án của mình Ngoài ra, những người khác tham gia vào quá trình thi hành án dân sự, trong đó có cả

Ngày đăng: 14/02/2021, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w