1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nguyễn thị vân anh

220 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định đối tượng được bảo vệ theo luật bảo vệ người tiêu dùng không chỉ là vấn đề lí luận mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật bởi người tiêu dùng được hưởng

Trang 1

LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG

Trang 2

14-2014/CXB/76-443/CAND

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG

(Tái bản lần thứ 2 có sửa đổi)

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

HÀ NỘI - 2014

Trang 4

Chủ biên

TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH

Tập thể tác giả

1 TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH Chương 3 (mục 1)

2 TS NGUYỄN VĂN CƯƠNG Chương 2

3 ThS NGÔ VĨNH BẠCH DƯƠNG Chương 1 (mục 1,2)

4 TS BÙI NGUYÊN KHÁNH Chương 5

5 TS LÊ ĐÌNH NGHỊ Chương 4 (mục 2)

6 TS NGUYỄN NHƯ PHÁT Chương 1 (mục 3)

7 TS NGUYỄN NGỌC SƠN Chương 4 (mục 1)

8 ThS NGUYỄN VĂN THÀNH Chương 3 (mục 2)

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, từng bước trưởng thành và khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế Không thể phủ định được trong suốt hơn 20 năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến to lớn về kinh tế và xã hội Để tiếp tục duy trì và phát huy những thành tích

ấy, Nhà nước phải đưa ra được những chính sách phát triển mang tính bền vững, trong đó có chính sách bảo vệ người tiêu dùng Chính sách bảo vệ người tiêu dùng mà bộ phận quan trọng nhất là pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng đang là chính sách được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm xây dựng và thực thi

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2010, có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 Đây là cơ sở pháp lí quan trọng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam Ngoài ra, việc xây dựng và hoàn thiện những văn bản hướng dẫn cũng như các quy định pháp luật có liên quan đang dần tạo thành

hệ thống cơ sở pháp lí bảo vệ người tiêu dùng mang tính xuyên suốt và thống nhất Tuy nhiên, hiện nay nhiều quy định pháp luật

về bảo vệ người tiêu dùng vẫn còn khá mới mẻ với các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và cả với người tiêu dùng Do

đó cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu, phổ biến pháp

Trang 6

luật nhằm nâng cao khả năng thực thi của các quy định pháp luật liên quan tới bảo vệ người tiêu dùng

Trong bối cảnh như vậy, việc biên soạn Giáo trình luật bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng để phục vụ cho công tác nghiên cứu

và giảng dạy về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là rất cần thiết Có thể nói, Giáo trình luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Trường Đại học Luật Hà Nội là một trong những giáo trình đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực pháp luật mới mẻ này Việc biên soạn Giáo trình được dựa trên

cơ sở hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cũng như cơ sở lí luận và thực tế liên quan tới vấn đề bảo vệ người tiêu dùng không chỉ của Việt Nam mà cả các nước trên thế giới Đây

là tài liệu hết sức cơ bản, hữu ích phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu, học tập, tham khảo của các sinh viên, học viên và giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giảng dạy theo học chế tín chỉ

Quá trình biên soạn khó tránh khỏi thiếu sót, tập thể tác giả mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để Giáo trình luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày càng hoàn thiện trong những lần tái bản tiếp theo

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 7

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ

QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

1 TỔNG QUAN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1 Khái niệm người tiêu dùng

Người tiêu dùng (consumer) là khái niệm rộng được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau

nghiệp Người tiêu dùng, như Mahatma Gandhi đã viết: "họ không phụ thuộc vào chúng ta mà chúng ta phụ thuộc vào họ Họ

Trang 8

không làm gián đoạn quy trình sản xuất mà là mục đích của nó".(1)

Kinh tế học cũng lấy việc tiêu thụ sản phẩm cuối cùng hay hàng tiêu dùng để xác định tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (Gross Domestic Product) Đó là giá trị thị trường của tất cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất

ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong thời kì nhất định.(2) Một cách sơ lược như vậy cũng đã cho phép khẳng định người tiêu dùng là bộ phận cực kì quan trọng của bất kì nền kinh tế nào

Dưới giác độ pháp lí:

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, khái niệm người tiêu dùng chỉ xuất hiện với tư cách là chủ thể pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng được ra đời Trước đó, người tiêu dùng chỉ là khái niệm của kinh tế học Họ cũng vẫn tham gia các quan hệ dân sự nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng nhưng chỉ được coi là một bên trong các hợp đồng dân sự Vì vậy, dưới góc

độ pháp lí, người tiêu dùng là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

Hàng hoá, dịch vụ đến được tay người tiêu dùng luôn được thực hiện thông qua các hợp đồng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp: Chúng có thể được tổ chức cấp phát sau khi tổ chức đó đã kí

hợp đồng với nhà cung cấp (ví dụ: doanh nghiệp mua nước uống

để phục vụ cho công nhân của họ); Chúng có thể được tặng cho

Trang 9

bởi người khác hoặc bởi chính nhà cung cấp; Chúng cũng có thể được mua trực tiếp từ nhà cung cấp Trong tất cả những trường hợp này, người tiêu dùng đã được bảo vệ với tư cách là một bên trong quan hệ hợp đồng dân sự hoặc lao động Tuy nhiên, nếu dựa vào luật dân sự truyền thống, khái niệm "người tiêu dùng" sẽ mãi mãi chỉ là khái niệm kinh tế, chứ không phải khái niệm pháp lí

Xác định đối tượng được bảo vệ theo luật bảo vệ người tiêu dùng không chỉ là vấn đề lí luận mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật bởi người tiêu dùng được hưởng

sự ưu tiên hơn so với những chủ thể luật dân sự khác trong các giao dịch cũng như trong giải quyết tranh chấp Chính bởi sự ưu tiên này, nhằm bảo đảm hiệu quả điều chỉnh và tính công bằng trong

áp dụng các ưu đãi, pháp luật không thể sử dụng nguyên vẹn khái niệm người tiêu dùng trong kinh tế học hoặc với tính cách là người mua hàng hoá, dịch vụ trong luật dân sự mà cần được phân biệt Người tiêu dùng không thể là đối tượng chung chung mà luôn là các chủ thể cụ thể Thông thường, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng các nước giới hạn người tiêu dùng là các cá nhân mua hàng hoá, dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp

Nhìn chung, để xác định chủ thể là người tiêu dùng, pháp luật các nước thường dựa vào các điều kiện sau:

Thứ nhất, đối tượng của giao dịch là những hàng hoá, dịch

vụ được phép lưu thông và đáp ứng được các nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của cá nhân con người

Đây là điều kiện, rất khó xác định bởi nhu cầu sinh hoạt của con người trong điều kiện hiện nay là rất đa dạng Những hàng

Trang 10

hoá, dịch vụ thiết yếu hàng ngày của con người như đồ ăn, thức uống, thuốc chữa bệnh, đồ chơi, đồ dùng học tập được coi là đối tượng đương nhiên của giao dịch với người tiêu dùng Khi đó, các quy định của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng liên quan đến vệ sinh, an toàn đối với sức khoẻ con người được áp dụng, kể cả đối với trường hợp hàng hoá chưa được bán cho người tiêu dùng Trong những trường hợp khác, cần phải kết hợp với mục đích của việc mua hàng hoá, dịch vụ đó dùng vào việc gì

Thứ hai, người tiêu dùng là cá nhân

Xác định người tiêu dùng là các cá nhân xuất phát từ chính mục đích cho sự ra đời của lĩnh vực pháp luật này là hỗ trợ những người tiêu dùng yếu thế trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ Nhìn chung, nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ có hiểu biết tốt hơn về hàng hoá, dịch vụ của mình so với người tiêu dùng Khi tìm hiểu về sản phẩm, khả năng tiếp cận và tiếp nhận thông tin, tham vấn của cá nhân đơn lẻ là hạn chế hơn nhiều so với tổ chức Nói cách khác, trong việc tự bảo vệ quyền của mình, năng lực của

tổ chức thường tốt hơn cá nhân Điều 2 Chỉ thị 93/13/EEC năm

1993 về các điều khoản giao dịch không công bằng của Hội đồng

châu Âu quy định: “Người tiêu dùng được xác định là con người

tự nhiên, xác lập các hợp đồng theo chỉ thị này, cho các mục đích không phải thương mại, nghề nghiệp” Quy định này được tiếp tục

khẳng định lại trong luật bảo vệ người tiêu dùng của các thành viên

EU và cũng được nhiều quốc gia ngoài EU sử dụng

Ngoài ra, việc "tiêu dùng" hay "sinh hoạt" của tổ chức cũng

là điều khó xác định; đồng thời sẽ khó có thể coi việc "tiêu dùng" hay "sinh hoạt" của tổ chức là không vì hoạt động chức năng hoặc

Trang 11

nghề nghiệp của tổ chức đó Ví dụ: cơ quan mua nước uống

không phải để “cơ quan uống” mà là để những con người cụ thể làm việc hoặc giao dịch tại đó uống Thông qua việc phục vụ nước uống cho người lao động và khách giao dịch, chất lượng hoạt động của cơ quan đó được cải thiện

Chính vì vậy, nhìn chung, đa số pháp luật bảo vệ người tiêu dùng các nước không coi tổ chức là người tiêu dùng.(1)

Các giao dịch mà họ tham gia sẽ được bảo vệ theo pháp luật hợp đồng, mặc dù đối tượng của giao dịch là hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng Trong ví dụ nêu trên, người uống nước, nếu bị thiệt hại có thể kiện nhà cung cấp với tư cách người tiêu dùng nhưng cơ quan, tổ chức đã mua nước chỉ có thể kiện nhà cung cấp với tư cách người

(1) Một số bản dịch không chính thức ở Việt Nam cho rằng luật của Hàn quốc, Đài

Loan, Thái Lan quy định người tiêu dùng bao gồm cả tổ chức là suy diễn không

chính xác Điều 2 Luật bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan năm 1994 quy định: “The

term "consumers" means those who enter into transactions, use goods or accept services for the purpose of consumption”, Điều 3 Luật Bảo vệ người tiêu dùng Thái

Lan năm 1979 quy định: “Consumer” mean a person who buy or obtains services

from a business man or a person who has been offered or invited by a businessman to purchase goods or obtain services and includes a person who duly uses good or a person who duly obtains services from a businessman even he/she is not a person who pays the remuneration” Những quy định này chỉ nêu cách xác định khái niệm người

tiêu dùng theo mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ hoặc hình thức tiếp nhận (mua, được cho, mời) hàng hoá dịch vụ chứ không ngụ ý hoặc phản ảnh rõ ràng người tiêu dùng có thể là tổ chức Điều 2 Luật khung về bảo vệ người tiêu dùng Hàn Quốc năm

2006 quy định: “Consumer” means those who use (including utilization; hereinafter

the same shall apply) goods and services provided by enterprisers for the purpose of daily use or production, prescribed by the Presidential Decree” Quy định này của

Hàn Quốc tuy rất độc đáo ở chỗ nó cho xác định người tiêu dùng có mục đích sản

xuất (production) ngoài mục đích sử dụng hàng ngày (daily use) nhưng phải được nêu

rõ trong các nghị định của tổng thống Hàn Quốc (Presidential Decree) Tham chiếu các văn bản của tổng thống Hàn Quốc về thực thi Luật khung về bảo vệ người tiêu dùng tại website chính thức của Cơ quan bảo vệ người tiêu dùng Hàn Quốc (KCA)

http://www.kca.go.kr/jsp/ eng/info_02.jsp, chúng tôi không thấy bằng chứng xác

thực liên quan đến quy định về người tiêu dùng Hàn Quốc có thể là tổ chức

Trang 12

mua trong quan hệ hợp đồng thông thường hoặc có thể trở thành đại diện của người tiêu dùng mà thôi

Một số trường hợp cá biệt coi các doanh nghiệp rất nhỏ cũng

là người tiêu dùng Chẳng hạn, theo Luật thực hành thương mại

Úc 1974 (Trade Practices Act 1974), các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ có giá trị nhỏ hơn 40.000 đô la Úc thì người mua cũng được đối xử như là người tiêu dùng trong chế độ bảo hành, kể cả khi người mua là tổ chức Trong trường hợp giá trị giao dịch lớn hơn 40.000 đô la Úc, để được coi là “người tiêu dùng”, người mua phải chứng minh mục đích sử dụng là tiêu dùng của mình.(1)

Tuy vậy, chúng ta nên nhìn nhận đây là sự đối xử tương đương

“như là người tiêu dùng” của pháp luật đối với trường hợp cá biệt này Bởi lẽ, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng được đặt ra để hỗ trợ luật dân sự và thương mại để khắc phục những hạn chế của quyền tự do khế ước khi có sự không cân xứng về điều kiện kinh

tế, trình độ hiểu biết giữa các bên trong giao dịch chứ pháp luật bảo vệ người tiêu dùng không thay thế luật dân sự và thương mại

Thứ ba, việc mua hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cho cá nhân, hộ gia đình

Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt ở đây có nghĩa là người tiêu dùng mua hàng hoá, dịch vụ để sử dụng cho các nhu cầu của cá nhân mình, gia đình mình Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt không phải là phục vụ cho việc bán lại, hoạt động sản xuất kinh doanh khác hoặc các hoạt động nghề nghiệp

Việc mua các sản phẩm phục vụ tiêu dùng nhằm bán lại, (ví dụ: mua bánh mỳ từ nhà sản xuất về để bán lẻ) hoặc chế biến

(1) Popat: International Product Law Manual, Kluwer Law International, 01-11-2010, tr 166

Trang 13

thành sản phẩm khác để bán (ví dụ: mua bánh mì từ nhà sản xuất,

thêm các gia vị, thức ăn khác tạo thành các món ăn mới rồi đem bán) không được coi là hành vi tiêu dùng và chủ thể thực hiện chúng không phải là người tiêu dùng

Cũng cần lưu ý là người tiêu dùng có thể không có quan hệ trực tiếp với nhà cung cấp Họ có thể được người mua tặng, cho, cấp phát Chẳng hạn, người cha mua sữa cho con uống, đứa con không tham gia giao dịch mua bán nhưng nó vẫn là người tiêu dùng

Ở Việt Nam, khái niệm người tiêu dùng đã được thừa nhận trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Hai văn bản

quy phạm pháp luật này đều quy định: "Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.(1)

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam không quy định về hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng Tuy vậy, có thể hiểu được rằng, đó là những gì được phép lưu thông và được người ta mua

về để sử dụng cho các mục đích sinh hoạt, tiêu dùng cá nhân, cho gia đình Cũng tương tự như các nước, điều kiện về mục đích cũng được sử dụng để xác định người tiêu dùng theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Người tiêu dùng mua, sử dụng hàng hoá cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng

Tuy vậy, định nghĩa về người tiêu dùng nêu tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 lại đưa thêm

"mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của tổ chức" là chưa được rõ

ràng Bởi lẽ, hoạt động tiêu dùng, sinh hoạt của tổ chức không thể

(1) Xem: Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

Trang 14

xác định được Chúng ta chỉ có thể nói tổ chức mua 10 bình nước chứ không thể nói tổ chức đó "uống hết" 10 bình nước được Trường hợp nhà làm luật ngụ ý rằng việc mua hàng hoá, dịch

vụ về để phục vụ nhân viên của mình thì việc mua nước của tổ chức nhằm phục vụ hoạt động chức năng của mình Khi đó, tổ chức không phải là người tiêu dùng mà nhân viên của họ - những người được cấp phát nước uống mới là người tiêu dùng

Trường hợp nhà làm luật ngụ ý rằng tổ chức cũng là người tiêu dùng thì một mặt nó không phù hợp thông lệ chung, pháp luật bảo

vệ người tiêu dùng được đặt thêm bên cạnh luật dân sự, thương mại chỉ để hỗ trợ các cá nhân yếu thế trong các giao dịch Điều này làm giảm bớt ý nghĩa cũng như lãng phí nguồn lực cho chính sách bảo vệ người tiêu dùng của Nhà nước ta Đồng thời, nó cũng có thể

bị lạm dụng bởi chính các doanh nghiệp cũng là những tổ chức đặc thù Thay vì họ thực hiện các quyền của mình theo luật dân

sự, thương mại, họ giành lợi thế bất chính với phía bên kia bằng cách khởi kiện thông qua các quyền của người tiêu dùng

1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng

Trước hết, người tiêu dùng là những con người, là tất cả

chúng ta.(1) Là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển toàn diện và lâu dài, con người có quyền được hưởng một cuộc sống hạnh phúc và lành mạnh, có quyền được hưởng các sản phẩm an toàn, phù hợp với khả năng và nhu cầu của mình Thiết

(1) Câu nói của tổng thống Hoa Kỳ Kenedy ngày 15/3/1962: "Consumers, by definition,

include us all" Xem thêm: John F Kenedy: "Special message to the Congress on

Protection Consumer Interest", in trong tuyển tập "Public Papers of the Presidents

of the United States" Office of the Federal Register, National Archives and Records

Administration, USA 2005, tr 235

Trang 15

lập cơ chế bảo đảm sự an toàn đối với người tiêu dùng trong việc thực tế sử dụng hàng hoá, dịch vụ cũng như trong tâm lí của họ là nhiệm vụ quan trọng của các quốc gia hiện đại trong việc bảo vệ

và phát triển các giá trị quyền con người

Thứ hai, bảo vệ người tiêu dùng còn xuất phát từ chính vai

trò của họ trong nền kinh tế Trên thị trường, các chủ thể tác động qua lại lẫn nhau để xác định ba vấn đề trọng tâm: Đó là sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Theo đó, người tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế thị trường giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế và là đối tượng hướng tới của mọi doanh nghiệp Nhu cầu, sở thích của họ chính là những động cơ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào việc người tiêu dùng có bỏ phiếu cho họ bằng những đồng tiền thông qua việc mua sản phẩm của doanh nghiệp

đó hay không Trong trường hợp sản phẩm không được người tiêu dùng lựa chọn sử dụng, doanh nghiệp sẽ không bán được hàng hoá, dịch vụ và sẽ dẫn đến phá sản

Để phát triển kinh tế bền vững, bất kì nhà nước nào cũng đều phải quan tâm bảo vệ các thành tố thị trường mà người tiêu dùng là nhân vật trung tâm Bên cạnh những hỗ trợ mang tính kĩ thuật như hướng dẫn, đào tạo, tuyên truyền, cần thiết có một công cụ mạnh hơn đó là chính sách bảo vệ người tiêu dùng để bảo đảm cho người tiêu dùng có thể dựa vào đó để tự mình bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ trước những vi phạm, lạm dụng của các doanh nghiệp

1.3 Chính sách của nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng

1.3.1 Khái niệm

Theo cách hiểu phổ biến nhất, chính sách công là một quá

Trang 16

trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để giải quyết một vấn đề công cộng.(1)

Nói cách khác, đó là các chủ trương cùng các hoạt động can thiệp đến đối tượng nhằm làm nó phát triển theo hướng đúng với mong muốn của người làm chính sách và phù hợp với quy luật khách quan Sự can thiệp đến đối tượng có thể thực hiện theo các hình thức điều chỉnh trực tiếp như ban hành luật và tổ chức thi hành luật, đây là hình thức phổ biến nhất Đối tượng của chính sách trong trường hợp này sẽ bị áp dụng chế tài nếu không thực hiện đúng quy định Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người lập chính sách lại lựa chọn cách thức can thiệp một cách gián tiếp thông qua các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích đối tượng tự phát triển Khi đó, các đối tượng của chính sách sẽ được hưởng những ưu đãi, lợi thế nhất định nếu thực hiện theo những gợi ý, định hướng của nhà làm chính sách

và ngay cả khi họ thực hiện theo hướng ngược lại thì cũng không

có biện pháp chế tài nào được áp dụng cho họ

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là bảo vệ cấu thành thị trường, là bảo vệ các giá trị quyền con người Trong xã hội dân chủ, hiện đại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của nhà nước và toàn xã hội Những nỗ lực chung nhằm hướng tới bảo đảm các quyền của người tiêu dùng thường được

diễn đạt bằng khái niệm “chính sách bảo vệ người tiêu dùng”

Đây được xem là một chính sách công được lựa chọn và thực hiện bởi nhà nước

Phù hợp với những mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của

(1) Michael E Kraft and Scott R Furlong: Public Policy: Politics, Analysis and Alternatives,

CQ Press, 2004, tr 5

Trang 17

mình, nhà nước có những định hướng và các biện pháp can thiệp vào thị trường, xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người

tiêu dùng Như vậy, có thể hiểu chính sách của nhà nước về bảo

vệ người tiêu dùng là những chủ trương, định hướng và những biện pháp tác động nhằm hiện thực hoá các quyền và lợi ích của người tiêu dùng

1.3.2 Các bộ phận cấu thành của chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trên cơ sở các phương án khác nhau của hoạt động phân tích chính sách, nhà nước sẽ lựa chọn các biện pháp, công cụ phù hợp nhất với điều kiện thực tế xã hội cũng như khả năng nhân lực, tài chính của mình Hoạt động này, theo khoa học chính trị gọi là quyết định chính sách Quyết định chính sách có thể là việc ban hành các đạo luật về vấn đề liên quan hoặc triển khai những biện pháp tổ chức khác hoặc thực hiện chúng một cách đồng thời Trong chính sách bảo vệ người tiêu dùng, tất cả các quốc gia đều lựa chọn việc ban hành các đạo luật và kết hợp đồng thời với các biện pháp tổ chức như tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng cũng như nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Có thể phân loại các bộ phận của chính sách bảo vệ người tiêu dùng như sau:

a Các biện pháp pháp lí: bao gồm các văn bản quy phạm

pháp luật ghi nhận các quyền của người tiêu dùng, nghĩa vụ của các nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ, quy định các cơ chế bảo đảm thực thi như quyền và thủ tục khởi kiện, khiếu nại, thanh tra, giám sát cũng như việc thi hành quyết định giải quyết đơn kiện, khiếu nại của người tiêu dùng

Trang 18

Các biện pháp pháp lí bảo vệ người tiêu dùng hợp thành lĩnh vực pháp luật đặc biệt trong hệ thống pháp luật – pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Nói một cách khác, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là bộ phận của chính sách bảo vệ người tiêu dùng của các quốc gia Tuy là bộ phận nhưng cũng như trong mọi chính sách công, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng luôn đóng vai trò chủ đạo trong chính sách bảo vệ người tiêu dùng bởi chỉ có pháp luật mới

là chỗ dựa vững chắc và ổn định cho đối tượng được bảo vệ Các biện pháp không mang tính pháp lí như giáo dục, tư vấn hay khuyến khích thường sẽ bị chi phối bởi địa vị xã hội và điều kiện kinh tế của các nhóm lợi ích khác nhau mà trong trường hợp này

là người tiêu dùng và các doanh nghiệp, sự hợp tác và cạnh tranh giữa họ sẽ thường xuyên bất bình đẳng Khi đó, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là rào chắn an toàn cho những thoả thuận không công bằng hoặc sự áp đảo của một bên Vai trò trung tâm, chủ đạo của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng sẽ được làm rõ hơn trong các phần tiếp theo

b Các biện pháp tổ chức: bao gồm các biện pháp nâng cao

năng lực của người tiêu dùng; nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; nâng cao năng lực của các cơ quan nhà nước Việc nâng cao năng lực của người tiêu dùng chính là làm cho

họ tự bảo vệ mình một cách tốt hơn như: hướng dẫn, tư vấn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về người tiêu dùng; tạo điều kiện cho người tiêu dùng và các thực thể xã hội khác có thể liên kết thành lập các nhóm, hội bảo vệ người tiêu dùng để chia sẻ kinh nghiệm tham gia các giao dịch, kinh nghiệm sử dụng hàng hoá dịch vụ an toàn, tiết kiệm cũng như chia sẻ kinh nghiệm xử lí hoặc hợp tác với nhau trong việc đối phó với những bất đồng,

Trang 19

tranh chấp với các nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ như khởi kiện tập thể, tẩy chay sản phẩm hoặc nhà cung cấp nhất định

Việc nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chính là làm cho doanh nghiệp có ý thức tôn trọng người tiêu dùng và cộng đồng Ngoài các quy định của pháp luật, những biện pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục hoặc khuyến khích bằng các lợi ích vật chất, tuyên dương về tinh thần được áp dụng nhằm hướng các doanh nghiệp tới việc cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, an toàn, thuận lợi đối với người sử dụng, thân thiện với môi trường hoặc xây dựng phong cách phục vụ người tiêu dùng tốt hơn

Việc nâng cao trình độ của các cơ quan nhà nước ở đây là việc làm cho họ bảo vệ người tiêu dùng được tốt hơn trong phạm

vi chức năng và thẩm quyền của mình Khi xây dựng chính sách bảo vệ người tiêu dùng, nhà nước luôn tính đến khâu đào tạo cán

bộ về kiến thức, kĩ năng công vụ cũng như kiến thức về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Hoạt động đào tạo có thể được thực hiện theo nhiều hình thức như tập huấn tại chỗ, đào tạo tập trung, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với các cơ quan, tổ chức nước ngoài và quốc tế thông qua các chương trình hội thảo, tham quan khảo sát hoặc phối hợp trong nghiệp vụ đối với những trường hợp mà việc bảo vệ người tiêu dùng có liên quan đến nhiều nước Nâng cao năng lực còn được xuất hiện và thực hiện bởi những hoạt động thanh tra, giám sát việc thực hiện công tác bảo vệ người tiêu dùng

Ở Việt Nam, ngoài việc ban hành đạo luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các đạo luật khác có liên quan, Nhà nước cũng lựa chọn và cam kết thực hiện những biện pháp không mang

Trang 20

tính pháp lí nhằm thực hiện chính sách bảo vệ người tiêu dùng Theo Điều 5, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, các biện pháp thực thi chính sách bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các định hướng hành động cơ bản sau:

- Tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân chủ động tham gia vào việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

- Khuyến khích tổ chức, cá nhân ứng dụng, phát triển công nghệ tiên tiến để sản xuất hàng hoá, cung ứng dịch vụ an toàn, bảo đảm chất lượng;

- Triển khai thường xuyên, đồng bộ các biện pháp quản lí, giám sát việc tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;

- Huy động mọi nguồn lực nhằm tăng đầu tư cơ sở vật chất, phát triển nhân lực cho cơ quan, tổ chức thực hiện công tác bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng;

- Thường xuyên tăng cường tư vấn, hỗ trợ, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn kiến thức cho người tiêu dùng;

- Đẩy mạnh hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm quản lí trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”

Cần lưu ý, tên gọi của Điều 5 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010: “Chính sách của Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” không có nghĩa là toàn bộ chính sách bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam chỉ gồm các biện pháp mang tính tổ chức nói trên mà còn bao gồm cả việc ban hành các quy định về bảo vệ người tiêu dùng cũng như bảo đảm cho chúng được thực thi

Trang 21

2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

2.1.1 Khái niệm

Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa người tiêu dùng và các thương nhân khi người tiêu dùng mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ của thương nhân

đó Lĩnh vực pháp luật này quy định những quyền của người tiêu

dùng, quy định trách nhiệm sản phẩm của thương nhân, ngăn chặn các giao dịch không công bằng, bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng

- Về đối tượng điều chỉnh, có thể thấy những quan hệ mua

bán giữa thương nhân và người tiêu dùng chỉ thuần túy là đối tượng điều chỉnh truyền thống của luật dân sự Cần lưu ý, quan hệ này không phải là quan hệ thương mại vì không có mục đích bán lại nên không thể được điều chỉnh bởi luật thương mại

- Về phương pháp điều chỉnh, pháp luật bảo vệ người tiêu

dùng sử dụng phương pháp của luật hành chính để tác động bằng cách trao thêm quyền cho bên yếu thế là người tiêu dùng trong những quan hệ hợp đồng với thương nhân

Một hợp đồng dân sự có tính chất truyền thống giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp là kết quả của những thoả thuận tự nguyện, không ép buộc về số lượng, chất lượng, giá cả Những điều khoản hợp đồng này sẽ có hiệu lực, bất luận những thiệt hại hay những bất tiện có thể xảy ra, người mua bị ràng buộc bởi những gì mình đã thoả thuận nên tự mình phải hài lòng với những

Trang 22

gì mà mình đã quyết định trước khi mua mà cũng không thể xin

xỏ người bán Sự tự do hợp đồng như vậy có thể được diễn tả bằng câu châm ngôn "hãy để người mua tự nhận thức" (caveat emptor), người mua phải tự mình nghiên cứu, xét đoán và quyết định cho mình Khi đã kí kết, người mua phải tuân thủ thực hiện đúng các cam kết theo nguyên tắc khế ước không thể chối bỏ (pacta sunt servanda) vốn tồn tại từ thời La Mã cổ đại

Việc mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường tuy phụ thuộc vào nhu cầu của người tiêu dùng như các nhà kinh tế đã làm rõ Nhưng rõ ràng nó được kiểm soát và cung cấp bởi các các thương nhân và bao giờ cũng vậy, họ hiểu biết về hàng hoá, dịch vụ của mình hơn là những người tiêu dùng Vì vậy, trong việc mua bán ấy, nhà cung cấp luôn chiếm ưu thế trong việc thuyết phục người tiêu dùng mua hàng hoá, dịch vụ theo những điều khoản mà mình đặt ra.(1)

Ở thời La Mã cổ đại - thời của những nguyên tắc luật dân sự được ra đời và phát triển huy hoàng, những nhu cầu của con người chủ yếu chỉ dừng lại ở những đồ ăn, thức uống đơn giản, ít

có sự chế biến qua nhiều công đoạn Việc nhận dạng những khiếm khuyết của hàng hoá, vì vậy cũng rất đơn giản Trong xã hội công nghiệp, người tiêu dùng được sử dụng những hàng hoá, dịch vụ tinh vi, hiện đại nhưng cũng phức tạp hơn Nếu chỉ với kinh nghiệm và sự cảm nhận không thông qua sự trợ giúp của các phương tiện kĩ thuật, người tiêu dùng tự mình khó có thể đánh giá đúng được giá trị, chất lượng, xuất xứ của hàng hoá, dịch vụ, khó

(1) Trong kinh tế học, đây được gọi tình trạng bất đối xứng thông tin (information asymmetry) là trạng thái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin - giữa các chủ thể giao dịch có mức độ nắm giữ thông tin không ngang nhau

Trang 23

nhận biết, phát hiện được những khuyết tật của chúng

Khối lượng lớn cộng với sự lưu thông tự do, thuận lợi kéo theo người tiêu dùng nhận được những hàng hoá, dịch vụ từ những vùng xa xôi thông qua các đại lí, người bán lẻ và thường thì họ không biết được nhà sản xuất ở đâu Khoa học công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ mang đến cho người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ tinh vi, hiện đại nhưng cũng phức tạp hơn Tính năng sử dụng của các hàng hoá, dịch vụ này tiện lợi nhưng người tiêu dùng thường không được giải thích nhiều về các hàng hoá, dịch vụ đó và họ sử dụng không theo những yêu cầu an toàn, do đó có thể làm hỏng hóc hoặc gây tai nạn Cũng có nhiều trường hợp nhà cung cấp lợi dụng sự không hiểu biết của người tiêu dùng, đưa cho họ những hàng hoá không đủ chất lượng nhưng người tiêu dùng khi phát hiện ra thì không thể khiếu nại hay kiện tụng vì lí do bên bán không vi phạm hợp đồng đã kí kết Nhiều khi, người tiêu dùng bị buộc phải sử dụng hàng hoá, dịch

vụ mà không có khả năng lựa chọn nào khác bởi lí do loại hàng hoá, dịch vụ đó chỉ do một thương nhân độc quyền cung cấp Trong những trường hợp như vậy, quyền tự do khế ước đã không còn mang giá trị nhân văn của một quyền tự do cá nhân.(1)

Nguyên tắc caveat emptor hay pacta sunt servanda không còn thích hợp với tính cách là phương tiện bảo vệ bên tham gia hợp đồng khi anh ta là người tiêu dùng nữa Người tiêu dùng cần được bảo vệ thiết thực hơn bằng các quy định của pháp luật công bên ngoài các quy định của luật dân sự truyền thống Đây là lí do dẫn

(1) Xem: Ngô Vĩnh Bạch Dương, “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong pháp luật

cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2000, tr 37

Trang 24

đến việc các nhà làm luật lựa chọn cách thức điều chỉnh mới cho nhóm quan hệ truyền thống và hình thành nên lĩnh vực pháp luật mới - pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

2.1.2 Đặc điểm của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

Thứ nhất, áp đặt những điều kiện bắt buộc thương nhân phải tuân thủ để khắc phục những bất lợi của người tiêu dùng trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hoá dịch vụ

Cụ thể, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tập trung quy định các vấn đề kiểm soát điều kiện giao dịch chung; cấm các điều khoản không công bằng; trình tự thực hiện giao dịch từ xa, giao dịch điện tử Việc can thiệp này làm cho nguyên tắc tự do khế ước chỉ còn có ý nghĩa tương đối trong các giao dịch giữa người tiêu dùng và thương nhân

Thứ hai, xác định trách nhiệm sản phẩm một cách nghiêm khắc và mở rộng về chủ thể chịu trách nhiệm

Theo đó những người chịu trách nhiệm đối với khuyết tật của sản phẩm tiêu dùng có thể không phải là người gây ra khuyết tật

đó nhưng có tham gia vào chuỗi hoạt động đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng Hầu hết các nước trên thế giới đều có luật trách nhiệm sản phẩm nằm trong hoặc độc lập với luật bảo vệ người tiêu dùng Chẳng hạn ở Thái Lan, Luật trách nhiệm sản phẩm được ban hành năm 2008 trong khi Luật bảo vệ người tiêu dùng của họ có từ năm 1979 Ở Anh, trách nhiệm sản phẩm được biết đến sớm hơn luật bảo vệ người tiêu dùng Án lệ Donoghue kiện

Stevenson năm 1932 được coi là mốc quan trọng của quy định

về trách nhiệm sản phẩm thì tới tận những năm 1970, họ mới có các quy định riêng về bảo vệ người tiêu dùng như Sale of Goods

Trang 25

Act 1979 (luật bán hàng), Unfair Contract Terms Act 1977 (luật

về các điều khoản không công bằng) và đến Consumer Protection Act 1987 (luật bảo vệ người tiêu dùng) thì trách nhiệm sản phẩm được quy định chung với luật bảo vệ người tiêu dùng theo hướng dẫn của Chỉ thị 85/374/EEC năm 1985 của Hội đồng châu Âu về trách nhiệm sản phẩm Ở Việt Nam, quy định về trách nhiệm sản phẩm được quy định trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

Thứ ba, thiết lập những ngoại lệ so với những nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng tham gia giải quyết tranh chấp liên quan đến việc quyền lợi của mình bị vi phạm

Đây là những ngoại lệ về điều kiện hình thức khi khởi kiện hoặc giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh Chẳng hạn như khởi kiện tập thể (class action ở Hoa Kỳ, Sammelklage ở Đức) hoặc đảo nghĩa

vụ chứng minh (Beweislastumkehr - Đức) Theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam, người tiêu dùng cũng được giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh, họ chỉ phải chứng minh sự thiệt hại còn nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ sẽ phải chứng minh

về việc không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ với những thiệt hại của người tiêu dùng hay chứng minh mình không có lỗi (Điều 42)

2.2 Sự ra đời và phát triển của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới

Hiện thân đầu tiên của các quy định về chống độc quyền và thương mại không công bằng, bảo vệ người tiêu dùng trong lịch

sử nhà nước và pháp luật là đạo luật "lex Julia de Annona" về

Trang 26

nâng giá lương thực được nhà nước La Mã ban hành vào khoảng năm 50 trước công nguyên Luật này trừng phạt nặng các thương nhân nâng giá ngũ cốc bằng cách liên kết với nhau để ép giá.(1)

Bằng việc trừng phạt sự làm giàu bất chính của các nhà buôn và đầu cơ mặt hàng tiêu dùng thiết yếu là lương thực, lex Julia de Annona được coi là đạo luật đầu tiên trên thế giới liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng cũng như chống độc quyền Do trình độ phát triển kinh tế còn hạn chế, hơn nữa sau đó là thời kì phát triển huy hoàng của luật dân sự La mã, đó có thể là lí do mà những ý tưởng của lex Julia de Annona không được tiếp tục phát triển lên Đến cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, tập trung tư bản đã lên đến mức độ rất cao và đe dọa đến quyền tự do cạnh tranh, cơ hội gia nhập thị trường của những doanh nhân nhỏ Những đạo luật chống độc quyền của Hoa Kỳ là Sherman Act 1890 và Clayton Act 1914 được ra đời nhằm lập lại trật tự cạnh tranh trong nền kinh tế Những đạo luật này đã gây những ảnh hưởng lớn đến cả bên ngoài biên giới Hoa Kỳ Trào lưu luật chống độc quyền với mục đích chính là bảo đảm cạnh tranh lành mạnh một cách gián tiếp đã bảo vệ người tiêu dùng khỏi những hậu quả xấu như bị phân biệt đối xử hoặc phải mua với giá cả không hợp lí

(1) William Alexander Hunter, Gaius: "A systematic and historical exposition of Roman law in the order of a code", Sweet & Maxwell, 1803, tr 1063 và 1067; William Livesey Burdick: "The principles of Roman law and their relation to modern law", The Lawbook Exchange, Ltd., 2004, tr 685 Đa số các tài liệu chúng tôi thu thập được đều trích dẫn là khoảng năm 50, tức là thời Cộng hoà La Mã của Caesar Tuy vậy, có một số tài liệu chú thích là Lex Julia de Annona ban hành vào khoảng khoảng năm 18 trước Công nguyên tức là thời Đế quốc La Mã của Augustus Xem thêm: Adolf Berger: Encyclopedic dictionary of Roman law, Volume 43, American Philosophical Society, 1953, tr 553

Trang 27

Những án lệ ở châu Âu đầu thế kỉ XX cũng đã gợi mở những

ý tưởng đầu tiên về trách nhiệm sản phẩm khi mà người tiêu dùng gặp quá nhiều khó khăn, thậm chí là không tưởng trong việc truy tìm ai là người đã có lỗi gây ra thiệt hại cho mình Điển hình nhất

là phán quyết về vụ Donoghue kiện Stevenson ở Anh năm 1932

Trong vụ kiện này, nguyên đơn kiện và đòi bồi thường vì bị đau bụng và bị ảnh hưởng nặng về tâm lí sau khi phát hiện một phần con ốc sên đang phân huỷ trong chai đồ uống Nguyên đơn không phải là người mua và trả tiền, chị ta chỉ là người được mời, bị đơn

là nhà sản xuất cũng không bán hàng cho bên nguyên Sau khi các toà cấp dưới đều khẳng định hai bên không tồn tại quan hệ hợp đồng và việc kiện của bên nguyên là không có cơ sở Đến năm 1932, vụ kiện được kháng cáo lên Thượng viện Anh,(1)

Nam tước Atkin đã nhận định rằng nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm của mình nếu ông ta bán chúng theo mẫu mã

mà ông ta muốn nó hiện diện như vậy trước người tiêu dùng cuối cùng; và mẫu mã đó làm cho người tiêu dùng không thể kiểm tra trước khi tiêu dùng một cách hợp lí; và với nhận thức rằng nếu thiếu sự thận trọng thích hợp trong khâu bao gói sản phẩm thì sẽ

có thể gây ra những tổn thất về sức khoẻ hoặc tài sản cho người tiêu dùng Phán quyết này đã có ảnh hưởng lớn đến luật bồi thường ngoài hợp đồng của Anh và lí thuyết về trách nhiệm sản phẩm của nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ cũng như pháp luật bảo

(1) Cho đến tận trước ngày 1/10/2009, Thượng viện Anh (House of Lords) vẫn là cơ quan có quyền xét lại các phán quyết của các toà án cấp dưới Sau hơn 7 thế kỉ tồn tại, thẩm quyền xét xử của thượng viện với tư cách là cấp xét xử cao nhất và cuối cùng đã được chuyển sang cho Toà án tối cao vương quốc Anh – được thành lập từ 1/10/2009 theo Luật cải cách hiến pháp 2005 (Constitutional Reform Act 2005) của Vương quốc Anh

Trang 28

vệ người tiêu dùng.(1)

Tuy vậy, mãi đến thập kỉ 60 thế kỉ XX, do tình trạng người tiêu dùng bị xâm phạm các lợi ích kinh tế trở nên nhức nhối hơn bao giờ hết mà nguyên nhân của nó không chỉ nằm ở việc độc quyền hoặc sự liên kết giữa các thương nhân Luật cạnh tranh, kiểm soát độc quyền đã trở nên không đủ để duy trì trật tự cạnh tranh và phát triển kinh tế bền vững Các nhà lập pháp mới thấy được sự cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu hơn để bảo

vệ người tiêu dùng trước những hành vi "xấu chơi" của các nhà kinh doanh

Giải pháp của các quốc gia đều hội tụ ở một điểm là phải công bố trong pháp luật những quyền cơ bản của người tiêu dùng đồng thời quy định những biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền đó mà mọi thương gia phải tôn trọng Ngày 15/3/1962, Tổng thống Mỹ John F Kenedy tuyên bố trước Thượng viện Hoa

Kỳ về các quyền của người tiêu dùng: Quyền được an toàn; Quyền được thông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe ý kiến.(2) Về sau, Tổ chức quốc tế người tiêu dùng IOCU (sau này là CI) chấp nhận các quyền trên và bổ sung thêm 4 quyền nữa là: Quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được đền bù; Quyền được giáo dục và Quyền được sống trong môi trường trong lành.(3)

Tiếp sau nước Mỹ, hàng loạt các quốc gia đã ban hành cho

Trang 29

mình những đạo luật về các khía cạnh khác nhau của việc bảo vệ người tiêu dùng trong thực hành thương mại Đi tiên phong là các nước tư bản phát triển, có thể chỉ ra những đạo luật tiêu biểu là Luật cơ bản về bảo vệ người tiêu dùng 1968 của Nhật Bản , Luật tín dụng tiêu dùng 1974, Luật về những điều khoản hợp đồng không công bằng 1977 (Unfair Contract Terms Act) ở Anh, Luật

về thực hành thương mại 1974 (Trade Practices Act) ở Úc, Luật

về kiểm soát đối với những điều kiện giao dịch chung 1977 (AGB Gesetz) của Đức, Tiếp theo là các nước đang phát triển (tại thời điểm đó) cũng đã xây dựng đạo luật theo kinh nghiệm của các nước phát triển, có thể chỉ ra ở đây là Luật khung về bảo vệ người tiêu dùng năm 1986 của Hàn Quốc, Luật bảo vệ người tiêu dùng

1986 của Ấn Độ Cho tới nay, hầu như tất cả cả nước đều đã có những quy định về bảo vệ người tiêu dùng

Như vậy, do thấy được vai trò của người tiêu dùng trong kết cấu thị trường, các nhà làm luật ở nước có nền kinh tế thị trường phát triển đã từng bước thay đổi các phương pháp điều chỉnh pháp luật truyền thống để bảo vệ người tiêu dùng trong các quan

hệ với các thương nhân Bên ngoài việc bảo vệ các giá trị nhân văn, nhân quyền, mục đích, lợi ích và hiệu quả tác động pháp luật

là những lí do cơ bản cho phép nhà làm luật can thiệp trực tiếp bằng những mệnh lệnh hành chính Từ đây, người ta đã thừa nhận

một cách phổ biến, kể cả trong học thuật cũng như thực tiễn, về

sự cần thiết và cơ sở kinh tế, xã hội của một nhánh pháp luật – luật bảo vệ người tiêu dùng.(1)

(1) Gerald Thain & others: The Oxford Handbook of Legal Studies, Oxford University

Press 7/2003, tr 536

Trang 30

2.3 Nội dung của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

Tùy thuộc quan niệm của từng nước, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng có những nội dung và cách quy định khác nhau Tuy nhiên về cơ bản, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng gồm những nội dung chính sau:

Một là quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng

Đây là phần quan trọng nhất của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Tuy về hình thức, chúng mang tính tuyên ngôn hơn là các quy định điều chỉnh trực tiếp nhưng đây là cơ sở pháp lí quan trọng để chi tiết hoá trong các đạo luật chuyên ngành có liên quan đến người tiêu dùng Theo “Bản hướng dẫn về bảo vệ người tiêu dùng” kèm theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số A/RES/39/248 ngày 16/4/1985, người tiêu dùng có các quyền: Quyền được an toàn; quyền được thông tin; quyền được lựa chọn; quyền được lắng nghe ý kiến; quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản; quyền được đền bù; quyền được giáo dục và quyền được sống trong môi trường trong lành Đây cũng chính là “tám quyền của người tiêu dùng” được Quốc tế người tiêu dùng (CI) đưa vào trong các hoạt động tuyên truyền vận động chính sách của mình từ khi thành lập năm 1960

Hai là nghĩa vụ, trách nhiệm của người cung cấp hàng hoá,

dịch vụ cho người tiêu dùng

Đây là nội dung đặc thù của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Ngoài những nghĩa vụ theo thoả thuận và được điều chỉnh bởi các ngành luật tư, người cung cấp, hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng phải gánh chịu thêm nhiều nghĩa vụ mang tính hành chính và đặc biệt là gánh chịu trách nhiệm sản phẩm -

Trang 31

loại trách nhiệm pháp lí đặc biệt khi hàng hoá, dịch vụ của nhà cung cấp có những khuyết tật, kể cả trong trường hợp người này không có lỗi đối với những khuyết tật đó

Đáng lưu ý là việc chứng minh của thương nhân với tư cách

là bị đơn nhưng nghĩa vụ chứng minh của họ như nguyên đơn Ở đây, nhà làm luật đã áp đặt lên bị đơn một tư cách giả tưởng, họ không hề đi kiện nhưng họ được coi là đã kiện về việc mình phải được miễn trách nhiệm sản phẩm Trường hợp không thể chứng minh được mình được miễn, họ phải chịu trách nhiệm đối với những cáo buộc của nguyên đơn về khuyết tật của hàng hoá, dịch

vụ mà mình đã sản xuất, thiết kế hoặc cung cấp Nhà làm luật các nước đều có quy định thương nhân phải chịu nghĩa vụ chứng minh mình không thuộc các trường hợp phải chịu trách nhiệm bồi thường: Sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình đã cung cấp là không có khuyết tật (free from defect), an toàn (safety), phù hợp với mục đích sử dụng (fit for purpose), hàng hoá, dịch vụ đạt tới trình độ công nghệ hoặc nghề nghiệp tương đương với những hàng hoá, dịch vụ được cung cấp trên thị trường tại thời điểm giao dịch với người tiêu dùng.(1)

Ba là kiểm soát các điều khoản giao dịch không công bằng

Về hình thức, giao dịch của người cung cấp hàng hoá dịch vụ với người tiêu dùng được thực hiện theo các quy định của luật dân sự Tuy vậy, do tình trạng bất đối xứng thông tin giữa hai bên tham gia giao dịch có thể dẫn đến những lạm dụng, nhà làm luật các nước đều thiết lập các cơ chế kiểm soát để ngăn ngừa những

(1) Điều 6 Quy đinh thi hành Luật bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan năm 1994; Điều

831 Bộ luật dân sự Đức năm 1886 sửa đổi lần cuối tháng 01/2011

Trang 32

hậu quả xấu đối với bên yếu thế Đây là thành tựu lớn trong lịch

sử lập pháp thế giới Từ cuối những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà làm luật Đức và Anh đã ban hành những quy định quan trọng nhằm kiểm soát những điều kiện giao dịch chung và những điều khoản không công bằng đối với người tiêu dùng.(1)

Hiện nay, văn bản pháp luật được quan tâm nhất trên thế giới về kiểm soát các điều kiện giao dịch chung là Chỉ thị của Ủy ban châu Âu số 93/13/EEC ngày 05/04/1993 về những điều khoản không công bằng trong hợp đồng với người tiêu dùng Những đạo luật này có ảnh hưởng lớn đến trào lưu bảo vệ người tiêu dùng tại các nước phát triển và chỉ ra những bài học quan trọng cho các nước khác trong nỗ lực tìm kiếm cơ chế bảo vệ người tiêu dùng hữu hiệu hơn

Bốn là giải quyết tranh chấp với người tiêu dùng

Đối tượng của tranh chấp là những quan hệ tư Vì vậy, về nguyên tắc, các tranh chấp với người tiêu dùng sẽ được giải quyết theo trình tự của luật tư Thường thì các tranh chấp với người tiêu dùng có thể được giải quyết theo các hình thức: Thương lượng, hoà giải, trọng tài và toà án

Người tiêu dùng là những cá nhân riêng lẻ nhưng số lượng rất lớn Trong những vụ kiện mà người tiêu dùng là nguyên đơn thường phát sinh tình huống có nhiều người tiêu dùng cùng kiện một nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ về những nội dung tương tự nhau Để giảm bớt chi phí tố tụng cho cả hai bên và cho toà án,

(1) Luật về kiểm soát đối với những điều kiện giao dịch chung năm 1977 (AGB Gesetz) của Đức, Luật về những điều khoản hợp đồng không công bằng năm 1977 (Unfair Contract Terms Act) của Anh

Trang 33

pháp luật các nước đã đặt ra hình thức khởi kiện tập thể và đặt cho nó quy trình nộp đơn riêng

Tính chất của các tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân khác với các vụ việc dân sự thông thường ở chỗ có sự mất cân bằng quá lớn về khả năng tiếp cận và sử dụng chứng cứ Người tiêu dùng không hề được đào tạo những kiến thức về hàng hoá, dịch vụ mà họ sử dụng, trong khi phía bên kia lại rất thành thạo bởi họ đã làm ra một phần hoặc toàn bộ những sản phẩm ấy Người tiêu dùng là các cá nhân đơn lẻ còn thương nhân lại là những đối tượng có tổ chức, kinh nghiệm trong kinh doanh, bản thân họ lại nắm phần lớn những chứng cứ, thông tin về chất lượng sản phẩm Chính vì vậy, giải pháp của hầu hết các quốc gia đối với việc giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân đều có khuynh hướng giảm bớt các nghĩa vụ cho người tiêu dùng Khi tranh chấp được đưa ra toà án, pháp luật các nước đều

có xu hướng giảm bớt nghĩa vụ chứng minh cho người tiêu dùng trong tố tụng khi anh ta là người đi kiện, trong một số trường hợp, đảo hoàn toàn nghĩa vụ chứng minh cho phía thương nhân

Năm là các hành vi bị cấm và chế tài xử lí vi phạm

Luật bảo vệ người tiêu dùng các nước đều hướng tới loại bỏ những hành vi thương mại không lành mạnh ngay cả khi chúng không hướng đến người tiêu dùng cụ thể nào Theo thông lệ, luật bảo vệ người tiêu dùng công bố những hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại Những hành vi này thường là: quảng cáo gian dối, nêu thông tin sai lệch về uy tín của doanh nghiệp hoặc sản phẩm, che giấu khuyết tật sản phẩm, cung cấp hàng hoá có khả năng gây nguy hại đến sức khoẻ cộng đồng, quấy rối, ép buộc người tiêu dùng

Trang 34

Khi xảy ra vi phạm hoặc có tranh chấp, những quan hệ hợp đồng giữa người tiêu dùng và thương nhân sẽ được áp dụng chế tài có tính truyền thống được áp dụng là chế tài dân sự mà bồi thường thiệt hại là hình thức chủ yếu Đồng thời hình thức xử lí vi phạm bằng chế tài hành chính cũng thường xuyên được áp dụng nếu xuất hiện những vi phạm thuộc những trường hợp bị cấm Những việc phạt vi phạm ở đây có thể là phạt tiền, buộc thu hồi, sửa chữa hoặc tiêu huỷ sản phẩm khuyết tật, tước quyền kinh doanh Trong những trường hợp vi phạm nghiêm trọng, thương nhân có thể bị xử lí về hình sự

Ngoài các nội dung trên, việc thành lập các hội đoàn, quỹ hỗ

trợ và bảo vệ người tiêu dùng (ví dụ: thành lập hội bảo vệ người

tiêu dùng; thành lập các tổ chức truyền thông về người tiêu dùng như báo, tạp chí hướng dẫn tiêu dùng, tạp chí đánh giá, so sánh sản phẩm tiêu dùng); thành lập cơ quan quản lí nhà nước hoặc

giải quyết các vấn đề liên quan đến người tiêu dùng (ví dụ: cơ

quan quản lí việc bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan thanh tra, giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng(1)) cũng là những nội dung thuộc nội hàm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, đây không phải là những nội dung đặc thù của lĩnh vực luật này bởi việc lập hội là quyền con người cơ bản được quy định trong hiến

(1) Biện pháp thành lập thanh tra bảo vệ người tiêu dùng Comsumer Ombudsman được rất nhiều nước áp dụng Khởi đầu từ các nước vùng Scandinavia từ năm 1809 với mục đích giám sát hành pháp, Thanh tra Ombudsman được mở rộng trên khắp thế giới giữa những năm 1970 để thực hiện việc bảo vệ người tiêu dùng Các cơ quan Ombudsman này có nhiệm vụ tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của người tiêu dùng và có thể trực tiếp phạt hoặc đưa sự việc ra toà án đối với những vi phạm của

thương nhân đối với người tiêu dùng Xem thêm: Christian Kleinschmidt: “Consumer

protection in international perspective - Jahrbuch für Wirtschaftsgeschichte”, Akademie

Verlag, Germany 2006 tr 39, 40

Trang 35

pháp còn việc thành lập cơ quan phụ trách vấn đề cụ thể trong điều hành thường được các nước giao cho chính phủ cầm quyền

tự quyết định tùy theo nhu cầu, điều kiện xã hội nước đó

Cũng cần lưu ý là mỗi lĩnh vực pháp luật không nhất thiết phải có duy nhất một đạo luật đề cập tất cả mọi vấn đề liên quan Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng cũng như vậy Chưa một nước nào có tham vọng quy tụ tất cả các nội dung của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong một đạo luật duy nhất Đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng luôn được thực thi thông qua sự hỗ trợ của các đạo luật khác, những văn bản hướng dẫn và những cập nhật của các án lệ của toà án

3 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM

3.1 Sự hình thành và phát triển

Việt Nam mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường trong thời gian chưa dài Vì vậy, việc bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam còn là lĩnh vực tương đối mới Xét một cách tổng quát, có thể phân chia sự hình thành và phát triển của lĩnh vực pháp luật này theo những mốc thời gian sau đây:

* Giai đoạn trước năm 1986

Đây là thời kì mà ở Việt Nam hầu như không có văn bản pháp lí nào liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng Hành vi đầu cơ lương thực cũng bị trừng trị theo các quy định của luật hình sự, luật hành chính chỉ nhằm bảo đảm an ninh lương thực sau chiến tranh và bảo đảm độc quyền cho kinh tế tập thể và nhà nước Những hoạt động đầu cơ giai đoạn này là rất nhỏ và không ảnh hưởng đến đời sống người tiêu dùng

Trang 36

Ngoài ra, việc sản xuất hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung không phải do lựa chọn hay sức ép của người tiêu dùng, cho nên, ngay cả trong kinh tế học thời đó, người tiêu dùng rất ít được đề cập Khái niệm người tiêu dùng đôi khi cũng được truyền thông nhắc tới nhưng chỉ với tư cách là nguồn đánh giá tham khảo cho việc xét duyệt các danh hiệu thi đua sản xuất giữa các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể

* Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1999

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986 đã đánh dấu bước chuyển của nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Với việc hình thành nền kinh tế thị trường, khái niệm người tiêu dùng xuất hiện với đúng nghĩa là thành tố của thị trường Cũng

từ đây, ý kiến, nguyện vọng của người tiêu dùng không còn là nguồn tham khảo trong đánh giá thi đua giữa các doanh nghiệp Chúng đã từng bước được nhận biết bởi các doanh nghiệp Kết quả là sau thời gian đổi mới, hàng hoá, dịch vụ được sản xuất ở Việt Nam đã trở nên phong phú hơn thời kì bao cấp Người tiêu dùng đã bước đầu có quyền lựa chọn những sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu và túi tiền của mình thay vì buộc phải mua theo tem phiếu như trước kia

Những quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giai đoạn này nằm tản mạn, rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (Điều 28); Bộ luật hình sự năm 1985 với các tội: Tội làm hàng giả, tội

Trang 37

buôn bán hàng giả (Điều 167); Tội lừa dối khách hàng (Điều 170; Tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất lượng (Điều 177) Ngoài

ra, một số pháp lệnh và nghị định có liên quan cũng đề cập vấn đề bảo vệ người tiêu dùng như Pháp lệnh đo lường ngày 6/7/1990, Pháp lệnh chất lượng hàng hoá ngày 27/12/1990, Pháp lệnh xử lí

vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 140-HĐBT ngày 25/4/1991 quy định về kiểm tra, xử lí việc sản xuất, buôn bán hàng giả, Bộ luật dân sự năm 1995, Luật thương mại ngày 10/5/1997, Nghị định của Chính phủ số 57/CP ngày 31/5/1997 quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hoá v.v Tuy nhiên, trước đòi hỏi của

sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng đã bộc lộ những nhược điểm như các quy định pháp luật còn mang tính chung chung, đặc biệt là thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện, do vậy, hiện tượng kinh doanh thiếu trung thực, lừa dối người tiêu dùng thường xuyên xảy ra và chưa có cơ chế giải quyết thống nhất Thêm vào đó, việc giáo dục cho người tiêu dùng nhận thức đúng và đủ về hàng hoá chưa được quan tâm đúng mức…

* Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2010

Sau nhiều lần biên soạn, lấy ý kiến, đến ngày 27/04/1999, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/10/1999 Với 6 chương, 30 điều, Pháp lệnh này đã phần nào thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992

về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Sự ra đời của Pháp

Trang 38

lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có ý nghĩa rất quan trọng

vì đây là văn bản quy phạm pháp luật mang tính tổng hợp đầu tiên quy định đầy đủ những quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền, trách nhiệm của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đối với quyền lợi người tiêu dùng

Trên thực tế, trong hai năm kể từ ngày Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng có hiệu lực, văn bản này không được thực thi, bởi tới ngày 02/10/2001, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng Nghị định gồm 6 chương, 24 Điều quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng theo những nguyên tắc được nêu trong Pháp lệnh Nghị định không nhắc lại quyền của người tiêu dùng nhưng có thêm chương quy định về

tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nội dung các chương khác tương tự như nội dung trong Pháp lệnh nhưng được quy định chi tiết hơn Tuy còn ở mức độ khác nhau, các quyền của người tiêu dùng nêu trong Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng

1999 của Việt Nam, về cơ bản, đã cụ thể hoá được 8 quyền của người tiêu dùng được Quốc tế người tiêu dùng (CI) và Liên hợp quốc công bố

Bên cạnh đó, còn một loạt pháp lệnh, nghị định và thông tư liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng như: Luật cạnh tranh năm 2004, Luật tiêu chuẩn kĩ thuật năm 2006, Bộ luật hình sự năm 1999, Pháp lệnh chất lượng hàng hoá năm 1999 (sau đó được thay thế bằng Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007), Pháp lệnh đo lường năm 1999, Pháp lệnh quảng cáo năm

Trang 39

2001, Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003, Pháp lệnh giá năm 2002, Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả v.v Đây là những quy định quan trọng của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giai đoạn này

* Từ năm 2010 đến nay

Trước sự phát triển ngày càng nhanh chóng và đa dạng của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhiều thách thức mới lại được đặt ra với công tác bảo vệ người tiêu dùng Ngày 17/11/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12 Đạo luật này quy định đầy đủ hơn Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng 1999, với sự bổ sung của nhiều quy định quan trọng như: Bảo vệ thông tin của người tiêu dùng; trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá có khuyết tật gây ra, hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, điều kiện giao dịch chung Với 6 chương, 51 điều, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định các quyền, nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức xã hội tham gia bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; trách nhiệm quản lí nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

3.2 Hiệu lực của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

Về đối tượng và thời gian áp dụng, Luật bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng năm 2010 áp dụng đối với người tiêu dùng; tổ

Trang 40

chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011

Về phạm vi điều chỉnh, Luật hướng tới các nội dung: quyền

và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; trách nhiệm quản lí nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 1) Ngoài ra, Luật cũng quy định những nội dung quan trọng khác, thiết thực

và phù hợp với thông lệ các nước như vấn đề kiểm soát các điều kiện giao dịch chung, các hành vi bị cấm và xử lí vi phạm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Cụ thể là:

Thứ nhất, quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam đã nêu đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người tiêu dùng mà Quốc tế người tiêu dùng (CI) đã tuyên bố và Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số A/RES/39/248 đã hướng dẫn Theo Điều 8 và điều 9 Luật này, người tiêu dùng có các quyền và nghĩa vụ sau:

- Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hoá, dịch

vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ cung cấp

- Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hoá, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá; được cung cấp hoá đơn,

Ngày đăng: 14/02/2021, 19:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w