LỜI GIỚI THIỆU Xã hội học pháp luật là ngành xã hội học chuyên biệt nghiên cứu các quy luật xã hội, các quá trình xã hội của sự phát sinh, tồn tại, hoạt động của pháp luật trong xã hội,
Trang 1GIÁO TRÌNH
XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT
Trang 2
Giáo trình này đã được Hội đồng nghiệm thu giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội (thành lập theo Quyết định số 1200/QĐ-ĐHLHN ngày 11 tháng 4 năm 2017 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội) đồng ý thông qua ngày 26 tháng 5 năm 2017 và được Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội cho phép xuất bản theo Quyết định số 1191/QĐ-ĐHLHN ngày 30 tháng 3 năm 2018
MÃ SỐ: TPG/K - 18 - 03
1064-2018/CXBIPH/01-71/TP
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH
XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT
NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP
HÀ NỘI - 2018
Trang 4Chủ biên
TS NGỌ VĂN NHÂN
Tập thể tác giả
1 TS NGỌ VĂN NHÂN Chương 2, 4, 5 và 7
2 TS PHAN THỊ LUYỆN Chương 1, 3 và 6
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Xã hội học pháp luật là ngành xã hội học chuyên biệt nghiên cứu các quy luật xã hội, các quá trình xã hội của sự phát sinh, tồn tại, hoạt động của pháp luật trong xã hội, trong mối liên hệ với cơ cấu xã hội, với các loại chuẩn mực xã hội khác; nguồn gốc, bản chất
xã hội, các chức năng xã hội của pháp luật; các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật; các sự kiện, hiện tượng pháp lí thể hiện trong hoạt động của các chủ thể pháp luật
Xã hội học pháp luật là một lĩnh vực khoa học lí thú, bổ ích, nhưng còn khá mới ở nước ta; được chú trọng tìm hiểu, nghiên cứu trong khoảng vài chục năm trở lại đây với những công trình, bài viết phản ánh những mặt, khía cạnh khác nhau của khoa học này, đăng rải rác trên các sách, báo, tạp chí khoa học Ngoài số lượng ít các sách, tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài, hiện có rất ít cuốn sách chuyên về xã hội học pháp luật được biên soạn một cách công phu, nghiêm túc và có hệ thống bởi các tác giả trong nước
Ở nước ta hiện nay, công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu học tập, nghiên cứu xã hội học pháp luật cũng như ứng dụng của nó vào việc giải quyết những vấn đề lí luận và thực tiễn mà đời sống pháp luật đang đặt ra
Xã hội học pháp luật đã trở thành môn học quan trọng trong chương trình đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ tại
Trang 6các cơ sở đào tạo chuyên ngành về xã hội học và luật học ở nước ngoài cũng như ở trong nước
Đối với Trường Đại học Luật Hà Nội, Xã hội học pháp luật là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo cử nhân chuyên ngành Luật học; bởi vậy, nhu cầu
về tài liệu học tập, nghiên cứu xã hội học pháp luật trở nên cấp thiết Với mục đích cung cấp tài liệu học tập cho sinh viên cũng như bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu môn khoa học này, Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức biên soạn, nghiệm thu, phối hợp xuất bản cuốn Giáo trình Xã hội học pháp luật nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu nói trên Bên cạnh việc kế thừa, tiếp thu các thành tựu, kết quả nghiên cứu xã hội học pháp luật trên thế giới, các tác giả cố gắng đặt các vấn đề nghiên cứu của khoa học này trong sự liên hệ với thực tiễn đời sống pháp luật của Việt Nam Các tác giả hi vọng rằng, cuốn giáo trình sẽ là tài liệu hữu ích, cần thiết cho việc học tập, nghiên cứu xã hội học pháp luật của sinh viên và bạn đọc dành sự quan tâm, tìm hiểu môn khoa học này
Vì được biên soạn lần đầu nên cuốn giáo trình khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định Các tác giả mong được bạn đọc góp ý, phê bình để có thể sửa chữa, bổ sung, hoàn chỉnh hơn cho lần xuất bản sau Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 7 năm 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 7Chương 1
NHẬP MÔN XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT
I KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT
1 Điều kiện xuất hiện xã hội học pháp luật
Vào cuối thế kỉ XVIII, ở Tây Âu biến đổi xã hội diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực khoa học, kinh tế, chính trị, xã hội Khoa học tự nhiên đạt được những thành tựu lớn trong việc khám phá ra cấu trúc, thành phần của thế giới vật chất và phát triển các phương pháp nghiên cứu thế giới vật chất một cách hệ thống Điều đó đã tác động đến các ngành khoa học xã hội Phát minh của nhà vật lí học Newton khiến các nhà khoa học xã hội hi vọng sẽ tìm ra được một nguyên lí về một trật tự cân bằng, những cơ chế về lực hấp dẫn tương tự trong xã hội
Nhà khai sáng Montesquieu trong cuốn “Tinh thần pháp luật”
đưa ra các thuật ngữ có tính cơ học để lí giải về các hình thức nhà nước phụ thuộc vào các cơ chế vận hành và xem các hình thức đó có hoạt động theo đúng bản chất của nó không Tinh thần pháp luật của một quốc gia có thể tạo ra một sự phục hưng và làm cho bộ máy nhà nước hoạt động trở lại để có thể tiếp tục sự vận động đều đặn Như vậy, tính chất khách quan của các quy luật nảy sinh từ bản chất của sự vật
Trang 8Đồng thời với sự phát triển mạnh của khoa học, những biến đổi về chính trị ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội Cuộc cách mạng tư sản đã làm thay đổi trật tự xã hội phong kiến đã tồn tại hàng trăm năm trước đó, thay thế vào đó là một trật tự xã hội mới Dưới tác động của tự do hóa thương mại, thị trường mở rộng, hàng loạt các tập đoàn kinh tế, nhà máy, xí nghiệp ra đời thu hút lao động từ nông thôn ra các đô thị Nền sản xuất công nghiệp với quy mô lớn đòi hỏi mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và hàng hóa công nghiệp Quá trình đô thị hóa đẩy mạnh cùng với sự tích tụ dân cư Những biến đổi về kinh tế kéo theo những thay đổi sâu sắc trong đời sống xã hội Gia đình bị chia
rẽ do các cá nhân rời bỏ cộng đồng ra khu vực đô thị làm việc
và sinh sống Các giá trị văn hóa truyền thống thay đổi các cá nhân bị cuốn hút vào các hoạt động kinh tế với lối sống mang tính cạnh tranh, tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội và tội phạm gia tăng Sự chuyển hóa cơ cấu kinh tế dựa trên cạnh tranh tự do thành độc quyền diễn ra nhanh, các quan hệ xã hội mới hình thành Trong khi đó, pháp luật lại thay đổi một cách chậm chạp và vẫn còn phản ánh các quan hệ xã hội cũ không còn thích hợp để giải quyết các vấn đề xã hội mới nảy sinh
Sự khủng hoảng bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội: kinh tế, chính trị, hệ tư tưởng, văn hóa Nảy sinh nhu cầu làm cho cơ chế pháp luật thích nghi với những điều kiện xã hội mới Điều này đã tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống pháp luật cũng như tư duy pháp lí truyền thống Trường phái pháp luật thực chứng (legal positivism) hiện thời không thể lí giải được hết nội dung cũng như chức năng của pháp luật Bởi pháp luật không chỉ là hệ thống quy tắc xử sự do nhà nước ban
Trang 9hành hoặc thừa nhận đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước Điều
đó không có nghĩa là phủ nhận tính quy phạm hình thức của pháp luật, tuy nhiên, nếu chỉ hiểu pháp luật như vậy sẽ không phù hợp và khó có câu trả lời chính xác cho nhiều vấn đề hóc búa đang hình thành trong xã hội như: những mâu thuẫn và xung đột xuất hiện ngày càng nhiều trong xã hội, về mối quan
hệ giữa nhà nước và xã hội, làm thế nào để bảo đảm pháp chế, trật tự pháp luật, bằng phương pháp luận hình thức của pháp luật thực chứng thì khó có thể đưa ra những luận cứ cho sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của nhà nước pháp quyền Pháp luật theo quan điểm thực chứng là pháp luật “chết”, “pháp luật trên giấy tờ”, tách rời khỏi xã hội, trừu tượng khó hiểu, không phản ánh được nhu cầu, ý nguyện và lợi ích của xã hội và như vậy pháp luật không thể hiện đúng chức năng vốn có của nó Pháp luật phải được xem xét là một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan
mà con người có thể quan sát, nhận thức và mô tả được
Như vậy, sự xuất hiện và phát triển hệ thống kinh tế tư bản
đã làm xáo trộn đời sống kinh tế - xã hội của các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội Từ đó nảy sinh nhu cầu thực tiễn phải thiết lập lại trật tự xã hội và nhu cầu nhận thức để giải quyết những vấn đề pháp lí nảy sinh Xã hội học pháp luật ra đời vào cuối thế kỉ XIX đã góp phần giải quyết những vấn đề của thực tiễn pháp lí và phát triển mạnh vào đầu thế kỉ XX
Xã hội học pháp luật là lĩnh vực nghiên cứu giáp ranh liên ngành giữa xã hội học và luật học Ngay từ khi ra đời, đã có những tranh luận về nguồn gốc của xã hội học pháp luật, đó là môn khoa học pháp lí hay khoa học xã hội học? Có sự tranh
Trang 10luận vì các nghiên cứu về xã hội học pháp luật đầu tiên gắn với tên tuổi của các nhà luật học như Eugen Ehrlich, Leon Petrazycki, Roscoe Pound Tuy nhiên, không thể nghiên cứu xã hội học pháp luật mà chỉ dựa trên nền tảng tri thức của một lĩnh vực xã hội học hay luật học vì xã hội học pháp luật nghiên cứu các khía cạnh xã hội của pháp luật Pháp luật ở đây được xem xét
là một hiện tượng xã hội, có quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội, chịu sự tác động của xã hội Xã hội học pháp luật tiếp cận nghiên cứu pháp luật trên nền tảng tri thức và phương pháp xã hội học, trên cơ sở đó phát triển các lí thuyết tổng quát giải thích quá trình xã hội liên quan đến pháp luật và tiến hành nghiên cứu thực nghiệm, phân tích mối tương quan giữa các sự kiện, hiện tượng pháp lí và xã hội Từ đó tìm ra những nguyên nhân và tác động của các hiện tượng xã hội khác đến pháp luật Mặt khác, pháp luật ra đời là để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
do đó pháp luật tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Với cách tiếp cận trên, theo quan điểm của chúng tôi, xã hội học pháp luật được định nghĩa như sau:
Xã hội học pháp luật là ngành xã hội học chuyên biệt nghiên cứu các quy luật xã hội, các quá trình xã hội của quá trình phát sinh, tồn tại, hoạt động của pháp luật trong xã hội, trong mối liên hệ với các loại chuẩn mực xã hội khác, nguồn gốc, bản chất, các chức năng xã hội của pháp luật; các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và các sự kiện, hiện tượng pháp lí thể hiện trong hoạt động của các chủ thể pháp luật
Trang 112 Quan điểm của một số trường phái xã hội học pháp luật tiêu biểu
2.1 Trường phái Xã hội học pháp luật châu Âu
Mặc dù các nhà nghiên cứu đều khẳng định rằng xã hội học pháp luật ra đời ở châu Âu vào cuối thế kỉ XIX, nhưng những tiền đề về tư tưởng cho sự hình thành xã hội học pháp luật được bắt đầu từ thế kỉ trước
De La Brède - Montesquieu (1689 - 1755) là nhà tư tưởng
người Pháp Tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu xuất bản năm 1748 là cơ sở cho các nghiên cứu xã hội học pháp luật Theo ông, các luật lệ phải được xem xét như là các
sự kiện Từ việc nghiên cứu các sự kiện giúp chúng ta khám phá ra nguyên nhân của các sự kiện đó Ông muốn nghiên cứu
hệ thống pháp luật một cách khách quan như sự tồn tại của các
sự kiện xã hội khác Ông cho rằng “trước khi luật pháp được cấu thành, đã có những mối tương quan có thể được về công lí”.1 “Luật, theo nghĩa rộng nhất, là những quan hệ tất yếu từ trong bản chất của sự vật Với nghĩa này thì mọi vật đều có quy luật của nó”.2 Như vậy, trong phạm vi luật pháp cũng có một định luật giống như định luật chi phối “bản chất của các sự vật” Phương pháp thực nghiệm là phương pháp duy nhất đem lại kết quả chính xác
Ông nghiên cứu pháp luật trong mối liên hệ với các hiện
1
Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn - Khoa Luật, Hà Nội, 1996, tr 2
2
Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn - Khoa Luật, Hà Nội, 1996, tr 39
Trang 12tượng xã hội khác như: chính trị, đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc, dân số, tiền tệ và ngay cả các yếu tố vật chất như khí hậu, đất đai… cũng tham gia vào sự hình thành pháp luật, trong đó chính trị là yếu tố quyết định đến pháp luật Ông phân chia xã hội Pháp thành ba tầng lớp: vua chúa, quý tộc và dân thường, quyền lực nhà nước chia thành hai loại
là chuyên chế và hành chính Quyền lực hành chính được chia thành lập pháp, hành pháp và tư pháp Các quyền này được phân lập, phụ thuộc vào nhau để ảnh hưởng sao cho không một quyền nào có thể vượt quá hai quyền còn lại và ba quyền này được giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ Đây là quan điểm cấp tiến vì đã hoàn toàn loại bỏ ba đẳng cấp thời bấy giờ
là tăng lữ, quý tộc và những người dân còn lại được gọi là đẳng cấp thứ ba, tức là đã loại bỏ tàn tích của chế độ phong kiến Ông chỉ ra có ba dạng nhà nước tồn tại dựa trên ba
“nguyên tắc” xã hội là quân chủ (chính quyền được tự do do một người đứng đầu được thừa kế tức là vua hay nữ hoàng) dựa trên nguyên tắc danh dự; cộng hòa (chính quyền được tự
do do người đứng đầu được bầu ra lãnh đạo) dựa trên nguyên tắc đức hạnh; và độc tài (chính quyền bị kiểm soát bởi các nhà độc tài) dựa trên nỗi sợ hãi Ông cũng phân tích những luật lệ nào là cần thiết trong ba loại chính thể để khiến cho quốc gia bảo tồn được sức mạnh trước các quốc gia khác Theo ông, pháp luật là phương tiện hữu hiệu duy trì trật tự xã hội và chế ước quyền lực nhà nước Tuy nhiên, nền dân chủ pháp trị ấy chỉ mang ý nghĩa tích cực và phát huy tác dụng của nó phải dựa trên nguyên tắc đạo đức và lòng khoan dung, của tinh thần trách nhiệm và sự hi sinh quyền lợi riêng tư cho mục đích
Trang 13chung
Đánh giá về giá trị của tác phẩm Tinh thần pháp luật:
“Aron cho rằng chủ đề của Tinh thần pháp luật là mục đích chính của xã hội học nó làm cho lịch sử có thể hiểu được Aron coi Montesquieu là một nhà xã hội học còn hơn cả Comte
và là một trong những nhà lí luận lớn nhất của bộ môn Durkheim nhận xét: trong khi xây dựng xã hội học, những thế
hệ tiếp sau đã không làm gì nhiều hơn ngoài việc đặt tên cho lĩnh vực nghiên cứu mà Montesquieu đã mở đầu”.1
Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778) sinh tại Geneva, là
nhà nghiên cứu thuộc trào lưu Khai sáng Tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” ra đời năm 1762 lí giải về quá trình hình thành
xã hội và nhà nước trên quan điểm của thuyết quyền tự nhiên
và thỏa thuận xã hội
Theo ông, trật tự xã hội là một thứ quyền thiêng liêng làm nền tảng cho mọi thứ quyền khác Trật tự xã hội không phải tự nhiên mà có, nó được xác lập trên cơ sở các công ước Công ước hình thành dựa trên nhu cầu tồn tại của con người Để bảo
vệ mình trước nguy cơ tha hóa của trạng thái tự nhiên thành trạng thái không còn luật pháp hay đạo đức, các cá nhân không còn cách nào khác là kết hợp lại với nhau tạo thành một lực chung, điều khiển bằng một động cơ chung, khiến cho mọi
người đều hành động một cách hài hòa “Mỗi người chúng ta đặt mình và quyền lực của mình dưới sự điều khiển tối cao của
1
Bùi Quang Dũng, Lê Ngọc Hùng, Lịch sử xã hội học, Nxb Lí luận chính trị,
Hà Nội, 2005, tr 18
Trang 14ý chí chung, và chúng ta tiếp nhận mọi thành viên như một bộ phận không thể tách rời của toàn thể”.1 Trật tự xã hội do các quyết định của cá nhân tạo ra, cá nhân lại tự đặt mình dưới quyền của ý chí chung thể hiện trong khế ước
Trật tự xã hội không thể phục tùng cái gì khác ngoài sự tự
do của con người Trên cơ sở đó hình thành nên con người công cộng và đó chính là “Nhà nước” Các cá nhân riêng lẻ được gọi là “công dân” khi phục tùng luật pháp Nhà nước được tạo ra do sự đoàn kết của các thành viên trong xã hội Nhà nước tồn tại thì phải có một lực lượng chung mang tính cưỡng chế để động viên, xếp đặt cho mỗi bộ phận đều được thỏa đáng với toàn bộ Thiên nhiên đã ban cho con người cái quyền tuyệt đối sử dụng tứ chi, thì công ước xã hội cũng phải trao cho cơ thể chính trị cái quyền tuyệt đối với các thành viên của nó Chính cái quyền tuyệt đối ấy được điều hành bằng ý chí chung, mang tên quyền lực tối cao Các cá nhân trao quyền lực cho chính quyền - những người đại diện cho nguyện vọng
và ý chí chung của quảng đại quần chúng Tuy chính quyền chỉ
là một phần nhỏ trong dân chúng nhưng là người nắm pháp luật, họ chính là các quan tòa - những người áp đặt việc thực hiện ý chí, nguyện vọng chung của nhân dân
Trong xã hội, pháp luật không những có vai trò quan trọng đối với việc xác lập quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi người, mà còn là cơ sở để đo lường sự phải trái trong quan hệ giữa các thành viên xã hội và giữ cho xã hội trong vòng trật tự Theo
1
J.J Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Nxb Lí luận chính trị, Hà Nội, 2006,
tr 68
Trang 15ông, luật bao giờ cũng là tổng quát chung cho mọi người và tất
cả thần dân là một cơ thể, mà trừu tượng hóa các hành động Ý chí chung phản ánh lợi ích chung của cộng đồng và chính lợi ích chung của cộng đồng phải trở thành nền tảng của luật pháp Thế nhưng muốn thật sự là ý chí chung thì phải là ý chí chung từ trong đối tượng và trong bản chất của nó, phải từ tất
cả và ứng dụng cho tất cả Ý chí chung sẽ mất đi sự đúng đắn
tự nhiên khi nó thiên về một đối tượng riêng lẻ nhất định Dân chúng là những người phải tuân theo luật và là những người làm ra luật Luật bao gồm ba loại: Luật cơ bản (luật chính trị), luật dân sự và luật hình sự, ngoài ba loại đó còn một thứ quan trọng hơn cả là phong tục, tập quán và dư luận xã hội, thứ luật này không khắc vào bảng đồng, bia đá mà khắc vào lòng dân tạo nên hiến pháp chân chính của quốc gia
Rousseau muốn xây dựng một thiết chế chính trị dựa trên quyết định tự do của các cá nhân đó chính là khế ước xã hội Theo ông, cơ thể chính trị có quyền lực tối cao phải là một
“con người tập thể” và “con người tập thể” này có quyền tuyệt đối đối với các thành viên của nó Tuy nhiên, quyền lực tối cao không thể vượt qua giới hạn của công ước tổng quát, tức là không thể vi phạm những thoả thuận mà con người đã xác lập Quyền lực tối cao là thống nhất không thể phân chia Thống nhất vì nó là ý chí chung của nhân dân, đại diện và bảo vệ lợi ích chung của nhân dân Mặc dù ông phủ nhận quan điểm của Montesquieu về việc phân chia quyền lực thành các nhánh độc lập, nhưng Rousseau vẫn chủ trương phân chia chức năng của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
Trang 16pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó quyền lập pháp luôn được thực hiện một cách trực tiếp bởi toàn thể nhân dân và không tách rời khỏi nhân dân
Karl Marx (1818 - 1883) Khác với các nhà tư tưởng của
trường phái pháp quyền tự nhiên, Marx cho rằng pháp luật ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước Pháp luật không tồn tại vào thời kì nguyên thủy, vì trong thời kì này trình độ phát triển kinh tế còn thấp kém, chỉ có các tập quán, tôn giáo và quy phạm đạo đức là phương tiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội Nhưng khi chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội phân chia thành giai cấp, giữa các giai cấp có sự mâu thuẫn gay gắt không điều hòa được, các chuẩn mực xã hội cũ không còn khả năng duy trì được trật tự xã hội, cần có một loại chuẩn mực xã hội mới có tính cưỡng chế mạnh mẽ hơn, thể hiện ý chí giai cấp đó là pháp luật Theo Marx, pháp luật là một thành phần của kiến trúc thượng tầng của xã hội cùng với văn hóa, hệ tư tưởng và
được quyết định bởi điều kiện vật chất của xã hội Pháp luật là
những quy tắc phản ánh phương thức sản xuất của xã hội Trong các xã hội có giai cấp, pháp luật luôn là công cụ thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền, thể hiện trực tiếp ý chí của giai cấp thống trị Luật pháp trong xã hội tư bản
là không công bằng, do bản chất của xã hội là xung đột, vì xã hội được cấu thành bởi các giai cấp mâu thuẫn, đối lập với nhau về lợi ích Xung đột sẽ dẫn đến các cuộc cách mạng, giai cấp vô sản sẽ đứng lên đấu tranh chiếm giữ tư liệu sản xuất và thiết lập nền chuyên chính của giai cấp mình và cuối cùng được thay thế bằng xã hội cộng sản - xã hội không có giai cấp, pháp luật cũng không còn cần thiết bởi nó là phương tiện của
Trang 17sự áp bức giai cấp và được sinh ra trong một xã hội có giai cấp
Kế tiếp những nghiên cứu nhằm tìm ra bản chất của pháp luật bằng cách quy chiếu tới những điều kiện xã hội mà trong
đó nó vận hành, phải kể đến hai nhà xã hội học nổi tiếng đó là
Emile Durkheim và Max Weber
Emile Durkheim (1858 - 1917) là người khởi xướng xây
dựng lí thuyết chức năng luận trong xã hội học, các công trình nghiên cứu của ông có ý nghĩa rất lớn về lí thuyết và phương pháp đối với sự phát triển của xã hội học nói chung và xã hội học pháp luật nói riêng Durkheim sống trong thời kì nước Pháp bị thất bại trong cuộc chiến năm 1870, tiếp đó là cuộc nổi dậy và bị đàn áp đẫm máu công xã Paris năm 1871 Do đó, các tác phẩm của ông tập trung vào việc tìm ra quy luật để thiết lập một trật tự xã hội Mối quan tâm lớn nhất của Durkheim là cái gì đã gắn kết các xã hội lại với nhau? Tại sao chúng lại không tan rã? Theo ông, chính luật pháp có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và duy trì sự đoàn kết xã hội (social solidarity) Ông chỉ ra rằng, khi xã hội tiến hóa từ thần quyền đến chủ nghĩa thế quyền, từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân, luật pháp đã hướng tới sự bồi thường hơn là chỉ trừng phạt Tuy nhiên, sự trừng phạt đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện thái độ chung về đạo đức nhờ đó sự đoàn kết xã hội được bảo toàn
Ông dùng khái niệm đoàn kết xã hội để chỉ các mối quan
hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa các cá nhân với nhau Nếu như không có sự đoàn kết xã hội thì các cá nhân riêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành xã hội với tư cách là một chỉnh thể Có hai
Trang 18kiểu đoàn kết xã hội là “đoàn kết cơ học” (mechanical solidarity)
và “đoàn kết hữu cơ” (organic solidarity) Những hình thức
của sự đoàn kết xã hội này được phản ánh trong luật pháp: phân loại những luật pháp khác nhau, ta sẽ thấy những kiểu đoàn kết xã hội tương ứng
Trong các xã hội cổ xưa, con người gắn bó với nhau bằng
sự đoàn kết cơ học là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự thuần nhất, đơn điệu của các giá trị và niềm tin Các cá nhân gắn bó với nhau vì sự kiềm chế mạnh mẽ từ phía xã hội và vì lòng trung thành của cá nhân đối với truyền thống, tập tục và quan
hệ gia đình Sức mạnh của ý thức tập thể có khả năng chi phối
và điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm và hành động của các cá nhân Trong xã hội kiểu cơ học, quyền tự do, tinh thần tự chủ và tính độc lập của các cá nhân rất thấp Sự khác biệt và tính độc đáo của cá nhân là không quan trọng Xã hội gắn kết kiểu cơ học thường có quy mô nhỏ, nhưng ý thức cộng đồng cao, các chuẩn mực, luật pháp mang tính chất trừng phạt Ở xã hội hiện đại, con người gắn bó với nhau bằng kiểu đoàn kết hữu cơ dựa trên cơ sở phân công lao động, tính đa dạng và sự khác biệt trong xã hội Xã hội đoàn kết hữu cơ thường có quy mô lớn, ý thức cộng đồng yếu, nhưng tính độc lập, tự chủ cá nhân được
đề cao; quan hệ xã hội chủ yếu mang tính chất trao đổi được luật pháp, khế ước kiểm soát và bảo vệ Pháp luật chủ yếu mang tính chất tạo dựng và phục hồi công lí nhằm điều chỉnh những hành vi sai trái trong xã hội
Lí giải về hiện tượng tội phạm, Durkheim cho rằng một sự kiện được coi là bình thường đối với một kiểu xã hội nhất định,
Trang 19trong một giai đoạn nhất định Hiện tượng tội phạm cũng là một hiện tượng bình thường của đời sống xã hội bởi nó có ở tất
cả các kiểu xã hội và là bộ phận không thể thiếu trong cơ thể
xã hội lành mạnh Qua các thời kì khác nhau tội phạm cũng thay đổi hình thức Hành vi được coi là tội phạm không giống nhau ở các quốc gia Tội phạm là hành vi xâm phạm tới lương tâm tập thể, nó có tội vì nó gây căm phẫn cho lương tâm tập thể Để cho trong xã hội một hành vi được coi là tội phạm điển hình mất đi, thì tình cảm tập thể đã bị tổn thương phải được thấy trở lại trong tất cả ý thức của các cá nhân Trong thực tế, nếu điều này xảy ra thì tội phạm không vì thế mà biến mất, nó chỉ thay đổi hình thức vì nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tạo
ra tội phạm sẽ lập tức mở ra một nguồn gây ra tội phạm mới Ông lập luận thêm, một số tội phạm đôi khi là cần thiết đối với
sự tiến hoá của xã hội “theo luật pháp Aten, Socrat là kẻ phạm tội và sự kết tội ông chỉ có chính đáng thôi Song tội của ông,
đó là sự độc lập tư duy của ông, lại là có ích, chẳng những cho nhân loại, mà còn cho cả tổ quốc của ông Vì ông phục vụ chuẩn bị cho một nền đạo đức và một lòng tin mới mà những người dân Aten khi đó cần đến vì các truyền thống mà họ đã sống cho đến lúc đó không còn phù hợp với các điều kiện tồn tại của họ nữa Song trường hợp của Socrat không phải là trường hợp đơn độc, trường hợp đó vẫn được tái sinh một cách định kì trong lịch sử”.1
Ông khẳng định, nếu coi hiện tượng tội phạm là một căn
1 E Durkheim, Các quy tắc của phương pháp xã hội học, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1993, tr 90 - 95
Trang 20bệnh của xã hội thì hình phạt chính là phương thuốc để chữa căn bệnh ấy, không thể khác được Nhưng hình phạt phải được
áp dụng như thế nào để hoàn thành vai trò phương thuốc chữa căn bệnh đó của xã hội Nếu tội phạm là hiện tượng bình thường của xã hội, thì hình phạt không phải đối tượng để chữa
nó và chức năng thực sự của nó phải tìm kiếm ở nơi khác Luật pháp hà khắc ở các xã hội kém phát triển, còn trong xã hội hiện đại thì hình phạt trở nên bớt tính tàn bạo Biện pháp trừng phạt chỉ là cách mà chính quyền củng cố lương tâm tập thể bằng trừng phạt những ai xúc phạm đến chính quyền
Max Weber (1864 - 1920) là nhà xã hội học người Đức
Sinh ra trong một gia đình trí thức, ông đã theo đuổi sự nghiệp qua rất nhiều lĩnh vực sử học, luật học, kinh tế học và xã hội học Cùng với A Comte, E Durkheim, M Weber được coi là một trong những thành viên sáng lập ra ngành xã hội học Trong khi E Durkheim chịu sự ảnh hưởng lớn bởi quan điểm thực chứng luận thì Max Weber lại nhấn mạnh đến việc lí giải động cơ và ý nghĩa của hành động xã hội Ông cho rằng:
“nhiệm vụ của xã hội học là nghiên cứu các thiết chế xã hội như nhà nước, pháp luật, tổ chức, cộng đồng với tư cách là hành động của cá nhân đang tương tác với nhau”.1
Theo Weber, nhà nước là một tổ chức độc quyền, hợp pháp sử dụng sức mạnh bạo lực Có ba loại hình thống trị: Loại hình mang tính hợp lí là loại hình thống trị được quy định bởi luật pháp; loại hình mang tính truyền thống; loại
1
Bùi Quang Dũng, Lê Ngọc Hùng, Lịch sử xã hội học, Nxb Lí luận chính trị,
Hà Nội, 2005, tr 113
Trang 21hình thống trị bằng uy tín Thống trị bằng uy tín hay sự sùng bái cá nhân không ổn định nên thường phải hành chính hóa để trở thành một hình thức quyền lực có cấu trúc vững chắc hơn Hình thức thống trị hợp lí dựa trên cơ sở pháp luật, trong đó quyền lực được thể hiện thông qua bộ máy hành chính Trong
số ba loại hình lí tưởng về quyền lực nhà nước, Weber coi nhà nước có bộ máy hành chính là loại nhà nước phát triển nhất vì nó có một “trật tự pháp lí” bao gồm các quy phạm mang tính chất duy lí
Ông cho rằng, sự phát triển của luật pháp là một quá trình tiến hóa từ tính phi duy lí sang tính duy lí (tức là quá trình duy lí
hóa) Ở đây, tính duy lí pháp lí (legal rationality) có nghĩa là một
hệ thống các quy phạm mang tính chất nhất quán, logic cả quy tắc và quá trình ra phán quyết đều hợp lí Sự tuân thủ trình tự
đó có được là nhờ trật tự pháp lí và hình thức chính quyền quan liêu, chuyên nghiệp Dấu hiệu của quyền lực hợp pháp - duy lí
là tính không thiên vị của nó và phi nhân cách hình thức: Như các nhà chức trách thi hành pháp luật không để sự căm ghét hoặc niềm say mê, sự yêu thích hay sự nhiệt tình… không để những gì thuộc về cá nhân tác động đến công việc mà chỉ đơn
thuần đó là bổn phận Còn tính phi duy lí pháp lí (legal irrationality) có nghĩa là sử dụng những phương tiện khác
ngoài lôgic hay lí trí để đưa ra phán quyết trong các vụ án Trong các xã hội thống trị bởi một nhà lãnh đạo có uy tín lôi cuốn, tư duy pháp lí bất hợp lí về cả hình thức lẫn nội dung Công lí có nghĩa là sự lôi cuốn do uy tín, sự tuân thủ nhằm đáp lại nhà lãnh đạo, trong xã hội như vậy thì hoàn toàn không có
Trang 22chính quyền Theo Weber, loại hình hệ thống pháp luật luôn phù hợp và tương thích với loại hình tổ chức chính trị tổng quát của một xã hội
Ông khẳng định, pháp luật chịu ảnh hưởng gián tiếp bởi hoàn cảnh kinh tế, sự chuyển đổi cơ cấu xã hội tư bản có ảnh hưởng đến sự phát triển của pháp luật Khi phân tích về tinh thần của chủ nghĩa tư bản, ngoài những yếu tố như thị trường,
kĩ thuật thì vai trò của luật pháp và bộ máy hành chính có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển xã hội Ông viết: “Chủ nghĩa tư bản hiện đại đòi hỏi phải có sự tiên liệu, có tính toán, không chỉ về mặt kĩ thuật sản xuất, mà cả về mặt luật pháp cũng như một bộ máy hành chính với những quy tắc, hình thức
rõ ràng Không có những yếu tố này, thì chắc chắn sẽ chỉ có thể nảy sinh thứ chủ nghĩa tư bản phiêu lưu và thương mại đầu
cơ, cũng như đủ mọi loại chủ nghĩa tư bản chịu sự chi phối của chính trị, chứ không thể nảy sinh loại hình doanh nghiệp thuần lí Chỉ có phương Tây mới tạo ra cho mình một nền luật pháp và hành chính đạt được trình độ hoàn hảo như vậy
về mặt kĩ thuật và hình thức để điều hành kinh tế”.1
Đối với Weber, pháp luật cơ bản gắn liền với nhân tố kinh
tế, nhưng không được quyết định bởi nhân tố kinh tế Chính sách kinh tế hợp lí là trọng tâm của chế độ tư bản, nhưng chủ nghĩa duy lí này có được là nhờ sự phù hợp và khả năng dự báo của luật pháp Một hệ thống các quy phạm mang tính chất nhất quán và logic là điều kiện tiên quyết của chủ nghĩa tư bản
1
Max Weber, Nền đạo đức tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản, Nxb Tri
thức, Hà Nội, 2010, tr 60
Trang 23giúp các nhà buôn theo đuổi công việc kinh doanh và tạo ra lợi nhuận Việc đạt được tính duy lí nào đó đòi hỏi hệ thống hóa một trật tự pháp luật mà ông thấy thiếu vắng một cách bất thường trong pháp luật Anh quốc Vậy làm sao giải thích được
sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản ở Anh Câu trả lời của ông là: thứ nhất, mặc dù luật nước Anh thiếu trật tự có tính hệ thống của luật La Mã, nhưng nó lại là một hệ thống pháp lí có tính hình thức cao (như trong tố tụng dân sự phải tuân theo những thủ tục đặc biệt và chính xác của những án lệ cụ thể dành cho những vụ kiện dân sự cụ thể) Điều này đã tạo sự ổn định cho
hệ thống pháp lí, tạo ra một mức độ an toàn và khả năng dự đoán cao hơn trong môi trường kinh doanh; thứ hai, việc hành nghề luật sư ở Anh, trong thời kì phát triển của chủ nghĩa tư
bản tập trung chủ yếu ở khu vực thương mại (The City) Các
luật sư thường tư vấn cho các chuyên gia và tập đoàn lớn Điều
đó giúp họ đưa ra những yêu cầu sửa đổi pháp luật cho phù hợp với quan hệ kinh doanh; thứ ba, những luật sư ở Anh có tính chuyên nghiệp cao và hoạt động giống như những hội viên của phường hội thủ công, văn bản pháp luật ban hành nhằm ngăn ngừa việc kiện cáo sau này M Weber nhấn mạnh tầm quan trọng của pháp luật như là một yếu tố của quá trình duy lí góp phần hình thành, phát triển xã hội hiện đại và chủ nghĩa tư bản ở phương Tây
Trên đây là những quan điểm làm nền tảng cho sự ra đời của xã hội học pháp luật Các công trình nghiên cứu về xã hội học pháp luật hoàn chỉnh gắn liền với đóng góp của các học giả tên tuổi như Eugen Ehrlich, Leon Petrazycki, Georges Gurvitch… Nghiên cứu xã hội học pháp luật mở rộng khái
Trang 24niệm pháp luật ra ngoài phạm vi cách tiếp cận nghiên cứu pháp luật thường thấy trong giới luật sư về lĩnh vực tố tụng được đưa ra từ phòng xử án Các nhà nghiên cứu tiếp cận pháp luật theo hướng đa nguyên, phát triển phạm vi của xã hội học pháp
luật theo nhiều hướng khác nhau
Eugen Ehrlich (1862 - 1922) là nhà xã hội học pháp luật
người Áo Ông đưa ra lập luận rằng, khái niệm pháp luật mà người ta dùng lâu nay là rất bó hẹp và có tính kĩ thuật, đó đơn thuần chỉ là khái niệm pháp luật trong thực tiễn xét xử Cái này chưa đủ bởi vì trong thực tiễn lại có một thứ pháp luật khác được thực hiện, đó là cái chi phối hành động con người còn rộng hơn chuẩn mực pháp luật mà thẩm phán dựa vào đó để ra phán quyết Thực tế, hành vi của các cá nhân trong xã hội phần lớn là do tập quán và các chuẩn mực xã hội khác điều chỉnh chứ không phải do quan tòa, vì vậy còn có một loại pháp luật rộng hơn nhiều đang tồn tại trong mỗi cộng đồng xã hội Chỉ pháp luật ấy mới sinh động và giúp con người giải quyết tất cả các mâu thuẫn phát sinh trong đời sống xã hội Ehrlich gọi thứ pháp luật được ban hành bởi nhà nước trên cơ sở của hoạt động xét xử và hoạt động của các cơ quan thi hành, xét cho đến cùng chỉ là pháp luật của một thiểu số dân chúng Từ đó
ông đưa ra kết luận: “Trọng tâm phát triển pháp luật nằm ở ngay trong xã hội chứ không phải ở pháp chế, luật học hay các quyết định của tòa án Các chuẩn mực pháp luật do các cơ quan thi hành pháp luật dùng chỉ là các chuẩn mực dùng để ra các quyết định vì thế thực tiễn pháp lí không thể hiện cuộc
Trang 25sống”.1 “Đối với xã hội học pháp luật, bản thân chuẩn mực pháp luật chẳng nói lên cái gì cả Nếu xã hội học muốn phát hiện ra tính quy luật của đời sống pháp luật thì nó cần nghiên cứu cả các hiện tượng xã hội và kinh tế, bởi vì chỉ có thể hiểu đúng sự phát triển của pháp luật nếu gắn liền nó với sự phát triển xã hội và kinh tế”.2 Nhà làm luật không làm ra luật mà chỉ phát hiện ra luật mà thôi Do đó nhiệm vụ của xã hội học pháp luật là đi tìm nguồn gốc và sự ảnh hưởng của pháp luật chứ không chỉ nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật và lí giải
Trang 26liệu pháp luật quan trọng nhất mang tính điển hình là các quyết định của tòa án, còn một yếu tố quan trọng khác đó chính là các văn bản trong đời sống kinh doanh, hợp đồng mua bán, tín dụng, điều lệ công ti, di chúc, giấy đăng kí kết hôn Những văn bản này mang tính cá nhân, cá biệt trong đời sống kinh doanh, hàm chứa những nội dung điển hình, lặp đi lặp lại nhiều lần và
có những lĩnh vực mà chuẩn mực pháp luật chưa điều chỉnh hoặc điều chỉnh một phần Như vậy, Ehrlich đã đưa ra những luận cứ khoa học nhằm xác lập lĩnh vực đối tượng nghiên cứu
và phương pháp nghiên cứu của xã hội học pháp luật
Leon Petrazycki (1867 - 1931) nhà xã hội học pháp luật
người Ba Lan lại đưa ra hướng tiếp cận tâm lí về pháp luật Ông phân biệt giữa hình thức “pháp luật thực định” được ban hành và đảm bảo bởi nhà nước và “pháp luật trực quan”
(intuitive legal rules) Pháp luật trực quan bao gồm những kinh
nghiệm pháp lí hình thành qua một quá trình phức tạp từ xúc cảm trong tâm trí của các cá nhân (xúc cảm là một hình thức trải nghiệm cơ bản của con người về thái độ của chính mình đối với sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, người khác và với bản thân) thúc đẩy cá nhân hành động Pháp luật trực quan cùng với đạo đức giúp cho cá nhân thực hiện hoặc kiềm chế thực hiện hành động Theo ông, phương pháp thích hợp nhất cho việc nghiên cứu thu thập những thông tin, kiến thức về kinh nghiệm pháp lí là quan sát nội tâm bên trong và thế giới bên ngoài Quan sát bên ngoài liên quan đến những thông tin về ý nghĩa của một hành động hoặc biểu tượng từ quan sát ngay lập tức mà không cần tham chiếu đến bất kì bối cảnh rộng lớn hơn Còn quan sát nội tâm là đặt các hành động cụ thể
Trang 27trong một bối cảnh rộng hơn về ý nghĩa sự kiện liên quan mà
không xuất phát từ một hành động hoặc biểu hiện cụ thể
Petrazycki cho rằng, pháp luật tồn tại dưới nhiều hình thức trong đó bao gồm cả các quy chế hoạt động của các nhóm, tiền
lệ pháp, tập tục, Luật pháp nằm trong kinh nghiệm thuộc về
ý thức như một sự cưỡng chế hay sự thôi thúc cá nhân phải thực hiện nhiệm vụ nào đó tương ứng với một quyền hạn nhất định Mỗi người tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật
đã có những kì vọng trước về những gì pháp luật yêu cầu trong từng tình huống nhất định Nguồn gốc của mệnh lệnh và
kì vọng như vậy không nằm ngoài các nguồn của pháp luật như quy chế, tiền lệ pháp, tập tục… thống trị trong một xã hội
cụ thể Điều đó là cần thiết để có thể tiếp cận nghiên cứu hiện tượng pháp luật trong lương tâm và trực giác Muốn khám phá quá trình của pháp luật như cách thức nó tồn tại phải dựa vào sự phân tích các yếu tố mang tính mệnh lệnh và kì vọng bên trong ý thức cá nhân đó là phẩm chất tâm lí đặc biệt, có
trong quy tắc đạo đức
Georges Gurvitch (1894 - 1965) là nhà xã hội học pháp
luật người Pháp, người đặt nền móng cho sự hình thành lí thuyết xã hội học pháp luật một cách hệ thống Ông cho rằng, pháp luật mang tính thống nhất thông qua những biểu hiện đồng thời trong các hình thức và các cấp độ khác nhau của sự tương tác xã hội Mục tiêu của ông là nhằm xây dựng khái
niệm “pháp luật xã hội” (social law) như một định luật của sự
tương tác và hợp nhất Giống như các nhà nghiên cứu khác, ông nhấn mạnh pháp luật không chỉ là các quy tắc được ban
Trang 28hành và thực thi bởi các cơ quan của nhà nước, chẳng hạn như
cơ quan lập pháp, tòa án và cảnh sát Các nhóm xã hội, các cộng đồng xã hội khác nhau, cho dù được thành lập và tổ chức chính thức hay không luôn tạo ra các quy tắc riêng để kiểm soát và điều chỉnh quan hệ với các nhóm xã hội, cộng đồng xã hội khác Theo quan điểm xã hội học pháp luật cách thức đó cũng được coi là pháp luật Tư tưởng đa nguyên pháp lí1 thể
hiện trong tác phẩm Sociology of Law, trong đó Gurvitch đã
xác lập một cách chính xác, căn bản nhất lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học pháp luật và mở rộng các nghiên cứu của mình
ở hầu hết các lĩnh vực trong thực tiễn đời sống pháp lí
Theo ông, xã hội học pháp luật là một lĩnh vực xã hội học
nghiên cứu về tinh thần con người (human spirit), xuất phát từ
việc nghiên cứu tâm lí tập thể hay lí trí tập thể Tinh thần tập thể thể hiện thông qua hành động tập thể ở cách thức tổ chức thực hiện pháp luật, cách thức xử sự đến các biểu hiện ở cơ cấu không gian, cơ sở vật chất hình thành nên các chế định pháp luật Xã hội học pháp luật là cầu nối trung gian giữa những biểu hiện về mặt vật chất của pháp luật phù hợp với ý nghĩa bên trong để thúc đẩy và đưa pháp luật vào thực tiễn, đồng thời
là cơ sở sửa đổi pháp luật cho phù hợp Xã hội học pháp luật đi
từ những biểu hiện thành văn như các quy phạm mang tính chuẩn mực, thủ tục, sắc lệnh cho đến những biểu hiện đặc biệt của pháp luật như các quy định tùy nghi và pháp luật tiềm ẩn;
từ pháp luật tiềm ẩn chuyển sang giá trị pháp luật và các lí
1
Đa nguyên pháp lí là khái niệm dùng để mô tả tình huống mà trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tồn tại điều chỉnh cùng một lĩnh vực xã hội
Trang 29tưởng pháp luật và cuối cùng là khảo sát ý kiến của tập thể về
các chế định pháp luật
Gurvitch chỉ ra đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật bao gồm ba lĩnh vực: Thứ nhất, nghiên cứu các lĩnh vực vi
mô, bao gồm tiếp cận theo chiều ngang, đó là các quy tắc pháp
lí có tính tổ chức được đảm bảo bằng sự trừng phạt và cưỡng chế bên ngoài, ngoài ra nó còn nghiên cứu cả những quy tắc pháp lí hình thành một cách tự phát và lan truyền trong các cộng đồng xã hội; tiếp cận theo chiều dọc, đó là các hình thức pháp luật hoạt động trên cơ sở một hệ thống phân cấp phụ thuộc lẫn nhau với từng quan hệ xã hội cụ thể Thứ hai, nghiên cứu lĩnh vực vĩ mô là nghiên cứu mối liên hệ giữa thực tại xã hội với các lĩnh vực của pháp luật Lĩnh vực cuối cùng là nghiên cứu
về nguồn gốc của pháp luật bao gồm những quy tắc mang tính định hướng của bất kì hệ thống pháp luật nào và các yếu tố tác
động đến hệ thống pháp luật như kinh tế, chính trị, văn hóa
Gurvitch là người đã mở rộng lĩnh vực đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành theo hướng đa nguyên pháp lí Theo ông, pháp luật là một phần không thể tách rời và cấu thành của các tổ chức xã hội, các nhóm và cộng đồng xã hội Xã hội học pháp luật có nhiệm vụ phân tích các quy tắc của hệ thống pháp luật trong sự tương tác với các nhóm xã hội, tầng lớp xã hội với các đặc trưng giới tính, chủng tộc, tôn giáo và các đặc điểm xã hội khác Ngoài ra, nó còn nghiên cứu các quy tắc trong nội bộ của các nhóm xã hội và cộng đồng xã hội như luật sư, doanh
nhân, các nhà khoa học, các thành viên của các đảng chính trị
2.2 Trường phái Xã hội học pháp luật Hoa Kỳ
Trang 30Tại Hoa Kỳ, các nghiên cứu xã hội học pháp luật phát triển vào đầu thế kỉ XX, các trung tâm nghiên cứu được tài trợ thành lập tại một số trường đại học đã thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm Ban đầu xã hội học pháp luật chưa phải đã là một lĩnh vực nghiên cứu độc lập mà là một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành Nhưng nhu cầu nghiên cứu xã hội học pháp luật là kết quả của một quá trình tự nhiên khi thực tế đòi hỏi các nghiên cứu phải mở rộng mối quan tâm đối với hiện thực pháp luật
Tư tưởng của chủ nghĩa hiện thực pháp lí trong nghiên cứu pháp luật bắt đầu trở nên phổ biến tại Hoa Kỳ, nhiều học giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu hành vi pháp luật của các chủ thể, đặc biệt là nghiên cứu về hành vi ra quyết định của thẩm phán
Roscoe Pound (1870 - 1964) là một nhà cải cách hàng đầu
về tư tưởng pháp lí của thế kỉ XX Năm 1901, ông được bổ nhiệm làm ủy viên hội đồng phúc thẩm Tòa án Tối cao Nebraska Được tiếp xúc với môi trường thực tế kiểm nghiệm được tính hiệu quả của pháp luật, ông đã giúp tòa án giảm số lượng lớn các án tồn đọng Từ năm 1916 đến năm 1936, R Pound giữ chức hiệu trưởng Trường Luật thuộc Đại học Harvard, đây là giai đoạn mà quan điểm của Pound có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tư duy luật học Mỹ Ông góp phần phổ biến cái gọi
là “pháp luật trong hành động” và cố gắng liên kết pháp luật và
xã hội thông qua xã hội học (sociological jurisprudence) để
nâng cao hiệu quả quản lí của hệ thống tư pháp
Cũng giống như E Ehrlich, R Pound cho rằng muốn nghiên cứu sự phát sinh, tồn tại, phát triển hay hiệu quả của
Trang 31pháp luật cần phải đặt trong mối liên hệ với các hiện tượng xã hội khác R Pound chỉ ra sự mâu thuẫn giữa tính ổn định của trật tự pháp luật với việc cần thiết thay đổi trong pháp luật, mà chính lí thuyết pháp luật phải giải quyết vấn đề này Tuy nhiên,
ở mức độ nhất định điều này lại mâu thuẫn với các nhu cầu chung nhất của thời đại và của xã hội, đặc biệt là nhu cầu xây dựng pháp luật một cách có chủ định Để giải quyết vấn đề này, R Pound đưa ra ý tưởng “luật tự nhiên tương đối” Quan điểm của ông là kết hợp cách tiếp cận thực dụng với cách tiếp
cận chức năng “Xu hướng là đem phân tích xem các chuẩn mực pháp luật vận hành ra sao và làm thế nào để xây dựng các chuẩn mực ấy để đạt được kết quả còn hơn là ngồi để phân tích nội dung trừu tượng của nó Vì lẽ đó cần thiết phải nghiên cứu mục tiêu của pháp luật Chức năng là nhằm đạt mục tiêu”.1 “Chúng tôi kêu gọi sự hỗ trợ của triết học, đạo đức học, chính trị học, xã hội học giúp chúng tôi giải quyết các vấn đề mà chúng tôi xem là các vấn đề của luật học Cần phải nghiên cứu pháp luật trong tất cả các quan hệ của nó như một giai đoạn chuyên biệt của cái theo chủ nghĩa rộng là khoa học về xã hội”.2
Theo quan niệm của R Pound, pháp luật không phải chỉ là những gì nằm trên giấy tờ Từ ý tưởng “luật tự nhiên tương đối” với hàm ý luật có tính chất tự nhiên tương đối bởi nó là các định đề xuất phát từ nhu cầu, lợi ích cụ thể của xã hội trong
Trang 32từng thời kì nhất định Thực chất, nền móng của các định đề cần xây dựng cho pháp luật nằm ở các nhu cầu, lợi ích thực sự của con người trong xã hội Theo ông, các nhà luật học cần phải xuất phát từ các ham muốn, lợi ích, nhu cầu thực tế của con người và pháp luật luôn có một mục đích làm sao để thỏa mãn một cách tối đa các nhu cầu ấy Ông nói: Nhà tư tưởng pháp luật cần phải rời bỏ chiếc ghế tháp ngà để “đo đạc” các nhu cầu thực tế và lợi ích thực tế, cần phải suy nghĩ về pháp luật như một thiết chế xã hội để phục vụ nhu cầu xã hội Tuy nhiên, vấn đề trọng tâm trong các nghiên cứu của R Pound là cách hiểu của ông về tính chất công cụ của pháp luật Chủ nghĩa thực dụng coi mọi tri thức là khoa học và xuất phát từ thực tiễn sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu tri thức không gắn liền với thực tiễn Xuất phát từ quan điểm đó, R Pound nghiên cứu hệ thống pháp luật trong hành động và gắn với những mục đích xã hội Pháp luật là “công cụ kiểm soát xã hội”, là công cụ làm hài hòa và thỏa hiệp các lợi ích Trong giai đoạn đầu của sự phát triển xã hội, các chuẩn mực đạo đức, tôn giáo, pháp luật đan xen vào nhau Nhưng trong xã hội hiện đại, pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhất của sự kiểm soát xã hội và được đảm bảo bởi sức mạnh của tổ chức chính trị, trong đó quy định hành vi con người và đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế Vì vậy, ông cũng dành phần nhiều thời gian để nghiên cứu cái gọi là các “vấn đề về lợi ích trong pháp luật” bởi ông cho rằng vấn đề này là sự đảm bảo hữu hiệu và an toàn nhất cho tất
cả các nhu cầu của cá nhân cũng như xã hội
Trong các công trình của mình, R Pound cũng chỉ ra rằng vấn đề kiểm soát xã hội dù thế này hay thế khác có liên quan
Trang 33mật thiết đến sự điều tiết, phối hợp hành vi ứng xử hay mối tương tác xã hội của công dân, vì vậy trong luật học ông đưa ra thuật ngữ mà ông cho rằng hoàn toàn phù hợp mà ông gọi là
“Kĩ sư xã hội” (social engineering) Ông gọi những người
thực hiện pháp luật chính là các “kĩ sư xã hội” bởi họ là những người đảm bảo sự thỏa hiệp và hài hòa các lợi ích xã hội Ngoài ra, “kĩ sư xã hội” là một phạm trù mà theo ông có thể loại trừ được sự can thiệp của nhà nước vào lĩnh vực tư nhân cũng như lợi ích tư Vì trong xã hội văn minh, con người phải tin rằng
họ không bị tấn công và có thể tự điều khiển và đạt được mục tiêu của mình bằng các giá trị do lao động bản thân mà có, phù hợp với chế độ xã hội và điều kiện kinh tế hiện hành Khi tham gia vào các quan hệ xã hội, họ sẽ xử sự một cách trung thực và phù hợp với sự mong đợi của xã hội, với các chuẩn mực xã hội Và chúng ta phải tin tưởng rằng, mỗi người biểu thị trong hành động của mình tính trung thực cần thiết và phải bồi thường thiệt hại cho hành động của mình gây ra
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nhà xã hội học pháp luật Hoa Kỳ tập trung vào việc nghiên cứu về vai trò của pháp
luật trong xã hội, tiêu biểu nhất là Talcott Parsons (1902 - 1979),
nhà nghiên cứu thuộc trường phái chức năng luận Quan điểm của ông cho rằng, bất cứ một hệ thống xã hội nào cũng được cấu thành bởi các hệ thống nhỏ hơn, tương ứng với các nhu cầu Các nhu cầu của hệ thống đòi hỏi các bộ phận cấu thành
nó phải đáp ứng các chức năng của hệ thống nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển hệ thống Nếu một bộ phận nào hoạt động không đúng chức năng sẽ phải thay đổi thậm chí bị
Trang 34mất đi và hình thành bộ phận khác thay thế, bộ phận nào hoạt động hiệu quả sẽ càng lớn mạnh
Hệ thống xã hội bao gồm bốn chức năng cơ bản (được khái quát thành sơ đồ lí thuyết hệ thống AGIL của Talcott Parsons):
A - thích ứng với môi trường tự nhiên; G - đạt mục đích (huy động các nguồn lực nhằm vào các mục đích đã xác định);
I - liên kết (phối hợp các hoạt động, điều chỉnh và giải quyết các xung đột, mâu thuẫn); L - duy trì khuôn mẫu (tạo ra sự ổn định, trật tự).1 Trong bốn chức năng kể trên thì pháp luật được hình thành như là một thiết chế quan trọng trong việc gắn kết các cá nhân, các nhóm xã hội, các tổ chức xã hội đồng thời kiểm soát, điều chỉnh các quan hệ xã hội để giải quyết các mâu thuẫn nhằm duy trì trật tự xã hội Trong xã hội, pháp luật kiểm soát hầu hết các lĩnh vực xã hội từ yếu tố đầu vào của hệ thống như các nguồn lực (kinh tế) đến việc tạo ra những khuôn mẫu hành vi buộc mọi người tuân thủ bằng các biện pháp cưỡng chế và khả năng dự báo Pháp luật còn có chức năng liên kết với các hệ thống xã hội khác Bản thân pháp luật cũng là một hệ thống hoàn chỉnh và nó đáp ứng đầy đủ bốn chức năng của hệ thống
Lí thuyết hành động của Talcott Parsons cũng là một nội dung quan trọng để lí giải về hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể Theo Parsons, mỗi hành động của con người đều định hướng ba giá trị cơ bản: thực tế của tình huống; nhu cầu của chủ thể hành động; đánh giá tình huống dựa trên nhu cầu
1
Bùi Quang Dũng, Lê Ngọc Hùng, Lịch sử xã hội học, Nxb Lí luận chính trị,
Hà Nội, 2005, tr 180
Trang 35của cá nhân với yêu cầu xã hội Trên thực tế, luôn có sự xung đột giữa nhu cầu của chủ thể và những khuôn mẫu cần thiết nhằm duy trì hệ thống Tuy nhiên, về mặt bản chất tự nhiên, các chủ thể luôn tìm cách dung hòa để giữ hệ thống xã hội ở thế cân bằng Sở dĩ con người sẵn lòng đáp ứng yêu cầu của hệ thống trước nhu cầu của cá nhân là do bản năng họ muốn tránh những đau đớn về thể xác cũng như các chế tài của xã hội
Ở Hoa Kỳ tồn tại nhiều quan điểm lí thuyết khác nhau, có quan điểm đưa ra những lập luận chống lại thuyết chức năng
và cho rằng pháp luật là một công cụ của quyền lực Còn nhà lí thuyết xã hội học pháp luật Philip Selznick cho rằng luật pháp hiện đại ngày càng đáp ứng nhu cầu của xã hội và cần phải được tiếp cận về mặt đạo đức Rolanld Dworkin lại khẳng định pháp luật không chỉ bao gồm những quy tắc pháp lí mà còn cả những tiêu chuẩn không quy tắc Như khi tòa án giải quyết một
vụ án khó, họ sẽ dựa vào những tiêu chuẩn như đạo đức, chính trị để đi tới một phán quyết Kết luận này của ông được rút ra
từ kết quả phân tích một vụ án khó Đó là phán quyết của tòa
án New York về vụ Rigg đối đầu với Palmer vào năm 1889 (Elmer Palmer đã giết ông nội bằng hình thức đầu độc) Di chúc để lại có lợi cho việc thừa kế tài sản của Elmer Palmer Vấn đề đặt ra là một tên sát nhân liệu có được thừa kế hay không thì pháp luật về thừa kế theo di chúc hiện thời không quy định Vì vậy tên sát nhân có thể được quyền thừa kế theo
di chúc Tuy nhiên, thẩm phán tòa án New York cho rằng việc
áp dụng pháp luật phải dựa trên nguyên tắc “Không người nào được hưởng lợi từ hành vi sai trái của mình” Một tên sát nhân
Trang 36không thể được thừa kế từ nạn nhân của chính mình và tòa án
đã ra phán quyết tước quyền thừa kế của Elmer Palmer
Dworkin lập luận rằng đối với những vụ án khó, gây tranh cãi, thẩm phán cần cân nhắc xem có nên vượt ra ngoài quy tắc của luật pháp Trong trường hợp này thẩm phán tham gia vào quá trình diễn giải mà trong đó những luận cứ là những đòi hỏi
về đạo đức Thẩm phán luôn phải đặt ra những vấn đề như
“Phán quyết của tôi liệu có thể là một bộ phận của lí thuyết tốt nhất về đạo đức để biện minh cho toàn bộ hệ thống pháp lí và chính trị”.1 Chỉ có một đáp án đúng cho mỗi vấn đề pháp lí, nhiệm vụ của thẩm phán là phải tìm ra nó Đúng ở đây có nghĩa là phù hợp với lịch sử thể chế lập hiến của xã hội và dựa trên nền tảng đạo đức Theo ông, đạo lí chính trị có ba thành phần: “công lí” bao gồm quyền tự do cá nhân và mục tiêu chung mà chúng sẽ được thừa nhận bởi nhà lập pháp lí tưởng, quyết tâm đối xử với công dân bằng sự quan tâm và tôn trọng;
“công bằng” đề cập những thủ tục mà chúng trao cho mọi công dân cái ảnh hưởng gần ngang bằng trong những quyết định có tác động đến họ; “thủ tục pháp lí” liên quan đến những nguyên tắc nhằm xác định xem một công dân có vi phạm pháp luật không Mục tiêu của Dworkin là nhằm xác định và bảo vệ một
lí thuyết tự do về luật pháp
Các trường phái xã hội học pháp luật được hình thành ở Hoa Kỳ sau này phát triển quan điểm giống như Lawrence Friedman khẳng định: Xã hội học pháp luật nghiên cứu về
1
Raymond Wacks (Phạm Kiều Tùng dịch), Triết học luật pháp, Nxb Tri thức,
Hà Nội, 2011, tr 87
Trang 37pháp luật và thiết chế pháp luật như một lĩnh vực học thuật liên ngành và với phương pháp nghiên cứu đa ngành Các nghiên cứu không tự giới hạn về mặt lí thuyết hoặc phương pháp luận
mà cố gắng chứa đựng những hiểu biết từ tất cả các ngành khoa học xã hội, nhưng nền tảng vẫn là các phương pháp, lí thuyết truyền thống của xã hội học và luật học
2.3 Tình hình nghiên cứu xã hội học pháp luật ở Việt Nam
Ở Việt Nam, xã hội học pháp luật là một lĩnh vực nghiên cứu mới, đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu này là các nhà luật học Trước những đòi hỏi của thực tiễn đời sống pháp lí đặt ra: vị trí và vai trò của pháp luật trong xã hội hiện đại như thế nào? Làm thế nào để xây dựng được những văn bản pháp luật phù hợp để điều chỉnh quan hệ xã hội? Làm thế nào để hoạt động áp dụng pháp luật có hiệu quả? Làm thế nào để những quy định của pháp luật được nhân dân đồng tình và biến thành hành vi hiện thực, thành thói quen và lối sống tuân theo pháp luật? Vào đầu những năm 90 của thế kỉ trước, Phòng Nghiên cứu Lí luận và Xã hội học pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn được thành lập để ứng dụng xã hội học trong quá trình giải quyết những vấn đề pháp lí đặt ra Các lí luận về xã hội học pháp luật đầu tiên được tiếp cận nghiên cứu bởi nhà luật học Đào Trí Úc, là Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật cùng các cộng sự đã đưa Xã hội học pháp luật vào chương trình đào tạo sau đại học của chuyên ngành Luật học Các công trình đầu tiên được nghiên cứu bởi nhà luật học Đào Trí
Trang 38Úc có thể kể đến: Vai trò của xã hội học lập pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay; Xã hội học thực hiện pháp luật - những khía cạnh nhận thức cơ bản
Một trong những nhà luật học có nhiều đóng góp cho xã hội học pháp luật là giáo sư Võ Khánh Vinh Các công trình nghiên cứu của ông về lĩnh vực này đã được công bố: Giáo trình xã hội học pháp luật, xuất bản năm 2011; Xã hội học pháp luật - Những vấn đề cơ bản, xuất bản năm 2015 Những vấn đề xã hội học pháp luật cũng được đề cập trong các công trình nghiên cứu của các nhà luật học khác, như Lê Vương Long với “Xây dựng lối sống theo pháp luật - Những vấn đề cần quan tâm” đăng trên Tạp chí Luật học số 4/1997; Nguyễn Minh Đoan với “Cần đẩy mạnh nghiên cứu dư luận phục vụ các hoạt động pháp luật” đăng trên Tạp chí Luật học số 6/2004; Nguyễn Văn Động với “Về sự cần thiết phải nghiên cứu giá trị xã hội của pháp luật trong điều kiện đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập ở nước ta hiện nay” đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2009; Ngoài ra, trong các nghiên cứu thực nghiệm các đề tài khoa học ở các cấp, các nhà luật học đã ứng dụng xã hội học để nghiên cứu các yếu tố xã hội, sự kiện xã hội tác động đến pháp luật, các khía cạnh xã hội của pháp luật, hiệu quả của pháp luật
Xã hội học pháp luật cũng được các nhà xã hội học ở Việt Nam nghiên cứu và đưa vào chương trình giảng dạy từ những năm 90 của thế kỉ trước Ban đầu các nhà nghiên cứu chú trọng hơn đến việc nghiên cứu các hành vi sai lệch như tội phạm và các tệ nạn xã hội Trong chương trình giảng dạy đối với hệ cử
Trang 39nhân và sau đại học chuyên ngành xã hội học với tên môn học
Xã hội học tội phạm và pháp luật, Xã hội học pháp quyền và
Xã hội học pháp luật Từ sau năm 2000, nhiều công trình nghiên cứu về xã hội học pháp luật đã được công bố Trước tiên phải kể đến các tác giả Thanh Lê với cuốn “Xã hội học chuyên biệt”, xuất bản năm 2000, trong đó có đề cập một số nội dung cơ bản của xã hội học pháp luật và cuốn “Xã hội học tội phạm”, xuất bản năm 2002; Tác giả Lê Tiêu La với bài viết “Bước đầu tìm hiểu về xã hội học pháp luật” đăng trên Tạp chí Xã hội học số 1/2005; Tác giả Mai Quỳnh Nam với
“Nghiên cứu dư luận xã hội về hoạt động của Quốc hội” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1/2006 và “Xã hội học với hoạt động lập pháp” đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/2009 đã phân tích vai trò quan trọng của việc nghiên cứu dư luận xã hội nói riêng và xã hội học nói chung đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta Lĩnh vực xã hội học pháp luật hiện nay cũng được các học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành xã hội học lựa chọn để nghiên cứu
Từ năm 2010, nhiều cuốn sách về xã hội học pháp luật được xuất bản là nguồn tài liệu đa dạng, phục vụ việc học tập
và nghiên cứu xã hội học pháp luật như: Xã hội học pháp luật của TS Ngọ Văn Nhân, xuất bản năm 2010; Xã hội học pháp luật của tác giả Trần Đức Châm, xuất bản năm 2013 Các công
trình nghiên cứu xã hội học pháp luật của các nhà luật học và xã hội học thời gian qua đã góp phần mở ra khả năng nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc hơn về bản chất của pháp luật, về sự
Trang 40tác động qua lại của pháp luật đối với thực tiễn xã hội Nghiên cứu vai trò và ý nghĩa của các nhân tố xã hội tác động tới quá trình hình thành và hoạt động của pháp luật
II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT
1 Nội dung nghiên cứu của xã hội học pháp luật
Xã hội học pháp luật là lĩnh vực liên ngành giữa xã hội học
và luật học, do đó việc xác định một cách rõ ràng đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật là vấn đề không hề đơn giản Bởi vì, mỗi trường phái xã hội học pháp luật, đều có quan điểm và cách tiếp cận riêng của mình Trong xã hội học pháp luật phương Tây truyền thống, một trong những vấn đề quan trọng đối với xã hội học pháp luật là vấn đề tính quy định xã hội của pháp luật Đồng thời cách quan niệm về tính quy định
xã hội của pháp luật cũng đối lập với cách tiếp cận chủ quan, coi pháp luật là công cụ giải quyết bất cứ vấn đề xã hội nào Bên cạnh đó, xã hội học pháp luật còn đề cập các giới hạn của
sự điều tiết pháp luật, về tác động ngược lại của pháp luật đối với các quan hệ xã hội Xã hội học pháp luật nghiên cứu khía cạnh xã hội của pháp luật, điều đó có nghĩa là nghiên cứu tính
xã hội của pháp luật, trong những điều kiện xã hội, ở hoàn cảnh nhất định vai trò của pháp luật như thế nào Từ việc xem xét bản chất của pháp luật, xã hội học pháp luật đi sâu vào việc khảo sát mục tiêu, thực tiễn vận hành của pháp luật Các chuẩn mực pháp luật và các nguyên tắc, định chế pháp luật phải được đánh giá trên cơ sở chúng tham gia vào việc đạt mục tiêu của