1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với thông tin bí mật trong pháp luật thương mại quốc tế

228 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 19,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong các đối tượng của quyền SHTT có liên quan trực tiếp tới lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong hoạt động thương mại quốc tế đó là thông tin bí mật TTBM.. Cụ thể, theo quy định

Trang 2

NGUYỄN THÁI MAI

BẢO HỘ QUYỂN Sỏ HỮU TRÍ TUỆ

ĐỐI VỚI THÔNG TIN BÍ MẬT TRONG PHÁP

Chuyên ngành: L uật quốc tê

M ã số: 62.38.60.01

LUẬN ÁN TIẾN Sĩ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS ĐOÀN NĂNG

2 TS VŨ ĐỨC LONG

[ t r u n g tằ m th ô n g t ỉn th ư v ọ ị TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUAT rIANỌ1

ỊpHỘNỊSaỌC

HÀ NỘI - 2010

Trang 3

cứu của riêng tôi Các so liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết ỉuận khoa học của luận án chưa từng được ai công bổ trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Nguyễn T hái Mai

Trang 4

TT T ừ viết tắ t Nghĩa đầy đủ

7 Hiệp định Hiệp định Tự do thương mại Bắc Mỹ (North

NAFTA American Free Trade Agreement on December)

8 Hiệp định Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương

TRIPs mại của quyền sở hữu trí tuệ (Trade Related

Aspects o f Intellectual Property Rights)

i

Trang 5

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của thông tin bí mật trong thương mại quốc tế 231.1.3 So sánh thông tin bí mật với các loại thông tin “mật” khác được 25

1.3.1 Điều ước quốc tế - nguồn luật quan trọng tạo ra sự thống nhất 65

giữa các quốc gia để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với thông

tin bí mật

1.3.1 Pháp luật quốc gia - nguồn luật phổ biến để bảo hộ quyền sở hữu 67

trí tuệ đối với thông tin bí mật

Trang 6

BÍ M Ậ T T H E O QUY Đ ỊN H CỦA Đ IÊU Ư Ớ C Q U Ố C TÉ

VÀ PH Á P LU Ậ T CÁC N Ư Ớ C2.1 Phạm vi và điều kiện bảo hộ thông tin bí m ật 73

2.2 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu thông tin bí m ật 972.2.1 Phương thức xác lập quyền của chủ sở hữu thông tin bí mật 97

2.3 Thời han bảo hô đối với thông tin bí m ât • • o • 1042.3.1 Thời hạn bảo hộ thông tin bí mật theo quan hệ lao động 1042.3.2 Thời hạn bảo hộ thông tin bí mật theo hợp đồng Lixăng (hợp 105

đồng chuyển giao quyền sử dụng)

2.4 Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối vói thông tín bí m ật 106

2.4.2 Hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong quan hệ lao động 1112.4.3 Hành vi xâm phạm thông tin bí mật của bên thứ ba 1162.5 Ngăn chặn và xử lý h ành vi xâm phạm quyền sỏ’ h ữ u trí tuệ 119

đối với thông tin bí m ật

Trang 7

NHẰM NÂNG CAO H IỆU QUẢ BẢO HỘ QƯYÈN SỞ 137 HỮU T R Í T U Ệ ĐÓI V Ớ I TH Ô N G T IN BÍ M Ậ T T Ạ I • • •

V IỆ T NAM3.1 Thực trạn g bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với thông tin bí• • o • 1 • / 13*7

m ât tai V iêt N am• • •

3.1.1 Khái lược sự phát triến của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền

' sở hữu trí tuệ đối với thông tin bí mật

3.1.2 Thực trạng pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

đôi với thông tin bí mật tại Việt Nam

3.1.3 Thực tiễn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với thông tin bí mật tại

157Việt Nam

3.1.4 Nguyên nhân dẫn đến các hạn chế của pháp luật và thực tiễn bảo 1 6 4

hộ thông tin bí mật tại Việt Nam

3.2 Phưong hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiêu quả bảo hô

quyền sở hữu trí tuệ đôi vói thông tin bí m ậ t tại V iệt Nam

CÁC CÔ N G TR ÌN H KH OA H Ọ C CỦA TÁC GIẢ 196

PHỤ LỤC A

PHỤ LỤC B

Trang 8

1 TÍNH CẤP THIÉT CỦA VIỆC NGHIÊN c ứ u ĐÈ TÀI

Bước sang thế kỷ XXI, thương mại quốc tế đã có những bước phát triển vượt bậc Trong quá trình phát triển đó, việc tạo lập và duy trì các quan hệ thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng một cách lành mạnh và công bằng đã trở thành một nhu cầu tất yếu khách quan Bảo hộ hiệu quả mọi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) cho các chủ thể tham gia các hoạt động thương mại quốc tế có một vai trò quan trọng để thực hiện nhu cầu đó

Trong thương mại quốc tế, SHTT đã trở thành một loại tài sản quý giá của cá nhân, pháp nhân và của quốc gia Trên thực tế, không m ột công ty, một tập đoàn kinh tế nào (thậm chí ngay cả chính quốc gia) có thể phát triển bền vững mà không giữ gìn và bảo vệ quyền SHTT của mình thông qua các quy định của pháp luật

Một trong các đối tượng của quyền SHTT có liên quan trực tiếp tới lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong hoạt động thương mại quốc tế đó là thông

tin bí mật (TTBM) Cụ thể, theo quy định của Hiệp định TRIPs - “Hiệp định

về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền S H T V (Trade Reỉated Aspects o f Intellectual Property Rights) được ký kết năm 1994 giữa các quốc

gia thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), TTBM là một trong các đối tượng của quyền SHTT mà các nước thành viên có nghĩa vụ phải bảo

hộ (khoản 2 Điều 1 của Hiệp định TRIPs quy định các đối tượng của quyền SHTT mà các nước thành viên bắt buộc phải bảo hộ bao gồm: (i) Bản quyền

và các quyền kề cận, (ii) Nhãn hiệu hàng hóa, (iii) Chỉ dẫn địa lí, (iv) Kiểu dáng công nghiệp, (v) Sáng chế (trong đó quy định giống thực vật có thể được bảo hộ theo hệ thống bảo hộ sáng chế hoặc bằng hệ thống riêng hữu hiệu hoặc bằng cách kết hợp giữa hai hệ thống đó), (vi) Thiết kế bố trí mạch tích hợp và

Trang 9

SHTT bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hoá, thiết kế

bố trí (topography) mạch tích hợp, tín hiệu vệ tỉnh mang chương trình đã được mã hoá, thông tin bí mật ( bí mật thương mại), kiểu dáng công nghiệp

và quyền đối với giống thực vật” [11].

Trên thực tế, TTBM khi được bảo hộ một cách có hiệu quả luôn tạo ra cho các chủ sở hữu của chúng những lợi thế riêng so vói các đối thủ cạnh tranh khác Việc xác lập một cơ chế điều chỉnh không thích hợp, bất hợp lí, không hiệu quả

sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự ổn định và phát triển lành mạnh của các quan hệ kinh tế, thương mại, cũng như tới sự phát triển chung của nền kinh tế ở mỗi quốc gia và trên thế giới Việc phát triển nhanh, mạnh, vững chắc của một số nền kinh tế trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản đã khẳng định rõ ràng chân lý đó.Xuất phát từ các lợi ích thiết thực mà TTBM mang lại, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nỗi lo lắng bị đối thủ cạnh tranh nắm bắt các TTBM của mình luôn là nỗi ám ảnh đối với các công ty hàng đầu trên thế giới Cuộc chiến công nghệ đang trở nên rất nóng bỏng và điều được quan tâm trước tiên trong cuộc chiến đó là bảo mật “thông tin” Tuy nhiên, bất chấp lo lắng đó, các hành vi vi phạm TTBM xuất hiện ngày càng phổ biến, tinh vi hơn Bởi lẽ, tiến trình tự do hoá thương mại đã xuất hiện nhiều yếu tố làm cho sự xâm phạm TTBM trở nên dễ dàng hơn Có thể kể ra một số yếu tố sau:

- Kinh doanh ngày càng hiện đại và quy mô, việc sử dụng nhà thầu, công nhân thời vụ, các đại lý, ký kết họp đồng nhượng quyền thương m ại làm cho khả năng bảo mật thông tin của các chủ sở hữu ngày càng trở nên vô cùng khó khăn

- Do ảnh hưởng bởi các yếu tố thị trường, người lao động luôn có nhu cầu tìm kiếm công việc mới có thu nhập cao hơn Từ đó, nguy cơ người lao

Trang 10

động tiết lộ TTBM trong kinh doanh của người quản lý lao động cũ cho người quản lý lao động mới rất dễ xảy ra.

- Công nghệ thông tin ngày càng phát triển, tạo thuận lợi cho việc sao chép, ăn cắp TTBM ngày càng dễ dàng

Các hành vi xâm phạm đối với TTBM không chỉ xảy ra trong phạm vi một quốc gia mà còn ở nhiều quốc gia khác nhau Từ thực tế đó, đòi hỏi các quốc gia phải có sự hợp tác với nhau để ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm TTBM Nhiều điều ước quốc tế đa phương đã được các quốc gia ký kết

để thực hiện yêu cầu này, như: Hiệp định Tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA); Hiệp định TRIPs (Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT - 1994 được ký kết trong khuôn khổ của tổ chức thương mại thế giới W TO ) B ên cạnh đó còn có rất nhiều điều ước quốc tế song phương được ký kết giữa các quốc gia trong đó có quy định nghĩa vụ bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM, như: Hiệp định Thương mại giữa Hoa Kỳ với Cộng Hoà Séc năm 1990; Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000

Tại Việt Nam, việc bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM (cụ thể là bí mật kinh doanh - BMKD) lần đầu tiên được quy định trong Nghị định 54/2000/NĐ-CP

ngày 03/10/2000 “về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đổi với BMKD, chỉ dẫn địa lí, tên thương mại, và bảo hộ quyền chổng cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp ” và sau đó chính thức được quy định

tại Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật SHTT năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật SHTT Như vậy so với các đối tượng khác của quyền SHTT, TTBM là đối tượng còn “rất trẻ” ở Việt Nam, là lĩnh vực còn tương đối mới,

lạ đòi hỏi sự tập trung nghiên cứu, sự khám phá không ngừng của các nhà khoa học đặc biệt là trong lĩnh vực luật học Mặt khác, để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế thị trường, khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật V iệt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã được chỉ ra từ

Trang 11

Nghị quyết 07-NQ/TV/ của Bộ chính trị: “hệ thống luật pháp còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa đủ rõ ràng và nhất quán” [27], các quy định của pháp luật Việt

Nam nói chung và trong lĩnh vực bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM nói riêng cần phải tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo tinh thần mà Nghị quyết

48-NQ/TW của Bộ chính trị đã đề ra “Hoàn thiện pháp luật bảo hộ quyền SHTT, hình thành và phát triển thị trường khoa học - công nghệ theo hướng

mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ quyền SHTT phù hợp với yêu cầu của WTO và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” [28].

Từ tính chất “thời sự” của việc bảo hộ TTBM trên thế giới, từ sự mới

mẻ trong pháp luật V iệt Nam, hấp dẫn bởi tính phức tạp của đối tượng nghiên cứu và mong muốn có những đóng góp nhất định để hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM tại Việt Nam, trong khuôn khổ luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật quốc tế, tôi đã chọn đề tài

nghiên cứu: “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với thông tin b í mật trong

pháp luật thương m ại quốc t ế ”.

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u ĐÊ TÀI

Bảo hộ TTBM là một vấn đề phức tạp bởi lẽ đối tượng này không chỉ liên quan tới các quy định của pháp luật SHTT mà còn liên quan tới các quy định của nhiều lĩnh vực pháp luật khác, như pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh; pháp luật lao động; pháp luật hành chính; pháp luật hình sự Mặt khác, việc bảo hộ hiệu quả đối tượng này có tác động rất lớn đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế: Trước tiên là lợi ích trực tiếp của các bên chủ thể (đặc biệt là các doanh nghiệp) trong kinh doanh, sau đó là liên quan đến

sự phát triển của các ngành công nghiệp mới, các ngành công nghệ cao Ngoài ra, bảo hộ TTBM còn liên quan đến việc duy trì đạo đức trong kinh doanh, khuyến khích nghiên cứu sáng tạ o .Từ đặc điểm trên, tại các quốc gia trên thế giới vấn đề bảo hộ đối với TTBM là một trong những lĩnh vực cuốn

Trang 12

hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Trong lĩnh vực luật học, đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới dày công nghiên cứu về vấn đề này, ví dụ các công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Ingo Meitingger phó trưởng ban pháp chế, phòng quan hệ thương mại quốc tế, Viện SHTT Liên bang Thụy Sỹ [79]; Giáo sư, tiến sĩ R.M ark Halligan, hiện là chủ tịch ủ y ban Luật BMTM, Hiệp hội luật SHTT của Hoa Kỳ, ông được xem là một trong các nhà chiến lược hàng đầu về SHTT trên thế giới Một số công trình nghiên cứu của ông về BMTM rất có giá trị, như: “BM TM và học thuyết tiết lộ tất yếu” (Trade Secrets and the innevitable Disclosure Doctrine);

“Làm thế nào để xác định và bảo vệ BM TM ” (how to identiíy and protect trade secret); “Hệ thống các vụ việc về BM TM ” (Trade secret case digets) [84] Bên cạnh đó, sau khi Hiệp định TRIPs ra đời, khi TTBM chính thức được xem là một đối tượng của quyền SHTT, nhiều bài viết của các nhà luật học đã bàn về vấn đề này, ví dụ bài viết của giáo sư Franẹois Dessemeontet

“Bảo hộ BMTM và TTBM ” (Protection o f trade secret and Coníidential Iníòrmation) [56] Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung phân tích các quan điểm, các quy định của pháp luật và thực tiễn bảo hộ BMTM tại Thụy sỹ và Hoa Kỳ; bình luận các quy định trong Hiệp định TRlPs về bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM

Tại Việt Nam, Luật SHTT năm 2005 ra đời, các quy định về bảo hộ đổi với TTBM (BMKD) lần đầu tiên được quy định thành m ột chế định pháp luật độc lập Điều đó đã khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc bảo hộ TTBM trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập với quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình khoa học nghiên cứu vấn đề này chưa nhiều Hiện tại có một số bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật có đề cập đến đối tượng này, như: Bài viết của tiến sĩ Quế

Trang 13

Anh với nhan đề: “Một số vấn đề về bảo hộ BMKD và hoàn thiện pháp luật

về báo hộ bí mật kinh doanh của Việt Nam” [1]; bài viết “Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh” của thạc sĩ Kiều Thị Thanh và Bùi Thị Thanh Hằng [37] Các bài viết của các tác giả trên được viết khi Luật SHTT năm 2005 của Việt Nam chưa ban hành, vì vậy, chưa tiếp cận được với các quy định của pháp luật hiện hành Bên cạnh đó, tại một số trường đại học của Việt Nam, bảo hộ quyền SHTT đối với BMKD cũng đã được một số sinh viên lựa chọn làm đề tài nghiên cứu cho các khoá luận, luận văn tốt nghiệp Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu nghiên cứu quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam mà chưa nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề lí luận cũng như chưa đặt các quy định đó trong một tổng thể thống nhất, trong mối tương quan giữa các quy định đó với các quy định của điều ước quốc tế và các hệ thống pháp luật trên thế giới Ngoài ra, vấn đề bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM còn được đề cập tới trong các bài viết tại các hội thảo về thưong mại quốc tế được tổ chức tại Việt Nam với sự tài trợ của các Dự án như JICA, START Nhìn chung các bài viết đó mới chỉ mang tính chất giới thiệu khái quát về bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM mà chưa đi vào những nội dung pháp lý cụ thể

Như vậy, có thể nói hiện tại luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuvên sâu các vấn đề về lí luận, quy định của pháp luật (quy định của điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia ), thực tiễn về bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM trên thế giới cũng như tại Việt Nam Từ việc tiếp thu rứiững tinh hoa pháp luật tiên tiến trên thế giới, luận án đã đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm bảo hộ hiệu quả đối tượng này tại Việt Nam phù hợp với yêu cầu phái triển nền kinh tế Việt Nam cũng như yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 14

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ NGHIÊN c ứ u ĐÈ TÀI

Mục đích của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn về bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM trong pháp luật thương mại quốc tế (điều ước quốc tế và pháp luật các nước) Trên cơ sở đó tìm hiểu sự tương thích của pháp luật Việt Nam, đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ TTBM tại Việt Nam

Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Thứ nhất, làm rõ các đặc điểm của TTBM (với tư cách là đối tượng khá

đặc biệt của quyền SHTT); cơ sở lí luận và phương thức bảo hộ đặc thù quyền SHTT đối với TTBM so với một số các đối tượng khác của quyền SHTT

Thứ hai, nghiên cứu các quy định, cũng như thực tiễn bảo hộ TTBM theo

quy định của các điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước trên thế giới

Thứ ba, nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo hộ TTBM tại

Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị, các giải pháp khắc phục những hạn chế còn tồn tại, nâng cao hiệu quả bảo hộ TTBM nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể, đặc biệt là lợi ích của các doanh nghiệp trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển và tăng cường vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u ĐÈ TÀI

Bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM là một lĩnh vực mà phạm vi nghiên cứu có thể thuộc về nhiều ngành khoa học khác nhau.vấn đề này cũng có thể bàn dưới góc độ chính sách - chế độ của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của Luận án, luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề

ở góc độ pháp lý với đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật và thực tiễn bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM trong phạm vi pháp luật thương mại quốc tế.Trong lĩnh vực luật học, pháp luật thương mại quốc tế được hiếu một cách khái quát là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật (thành văn

Trang 15

và bất thành văn) để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể khi tham gia các hoạt động thương mại quốc tế (gọi chung là các quan hệ thương mại quốc tế) [43] Trong đó, các quan hệ về SHTT nói chung và các quan hệ về bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM nói riêng là một nội dung quan trọng của thương mại quốc tế Các quy định của pháp luật thương mại quốc tế tồn tại ở nhiều loại nguồn khác nhau Thứ nhất, dưới góc độ là pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế mang tính chất “công” (tức là các quan hệ thương mại quốc tế phát sinh giữa các quốc gia với nhau, giữa quốc gia với các tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của luật quốc tế), nguồn luật của pháp luật thương mại quốc tế bao gồm điều ước quốc tế, tập quán quốc

tế và một số loại nguồn bổ trợ khác nhưng chủ yếu là điều ước quốc tế [34] Thứ hai, dưới góc độ là pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế mang tính chất “tư” (các quan hệ thương mại quốc tế phát sinh chủ yếu giữa thể nhân và pháp nhân với nhau), nguồn luật của pháp luật thương mại quốc tế bao gồm điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia (bao gồm cả luật thực định và

án lệ) và tập quán quốc tế [43] Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, nguồn của pháp luật thương mại quốc tế được hiểu theo góc độ thứ hai Tuy nhiên,

do tính chất của quan hệ SHTT chủ yếu được điều chỉnh bởi hai nguồn luật chính là điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, do vậy, luận án không đề cập tới các quy định của tập quán quốc tế Hơn nữa, để đảm bảo cho việc nghiên cứu được chuyên sâu và có ý nghĩa thiết thực đối với quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam, luận án chủ yếu tập chung phân tích các quy định về bảo

hộ TTBM tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên Đối với pháp luật các nước, luận án tập trung nghiên cứu các quy định của luật thực định, các án lệ tại các hệ thống pháp luật đã có bề dày cả về luật thực định lẫn kinh nghiệm thực tiễn trong việc bảo hộ TTBM, như pháp luật Mỹ, pháp luật của Liên minh Châu Âu, pháp luật của Liên bang Nga, pháp luật Nhật

B ản M ặt khác, trong tiến trình tự do hoá thương mại quốc tế hiện nay, đặc

Trang 16

biệt khi Việt Nam đã trở thành viên chính thức của Tố chức thương mại thế giới, một trong các yêu cầu quan trọng được đặt ra là các quy định của pháp luật thương mại Việt Nam phải đảm bảo sự tương thích với các quy định của

Tổ chức thương mại thế giới, các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và thông lệ quốc tế Vì lẽ đó, nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn bảo hộ TTBM tại Việt Nam cũng nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án Thêm vào đó, ý nghĩa của luận án sẽ giảm sút rất nhiều khi việc nghiên cứu lại không đưa ra các phương hướng, giải pháp thiết thực để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như để bảo hộ hiệu quả quyền SHTT đổi với TTBM trên thực tế

Bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM là vấn đề có nội dung rộng và phức tạp Do vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cửu những nội dung cơ bản, đặc biệt

là những nội dung thể hiện rõ các đặc trưng pháp lý của việc bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM, bao gồm:

(i) Phạm vi và điều kiện bảo hộ TTBM;

(ii) Bảo hộ các kết quả thử nghiệm và các dữ liệu khoa học;

(iii) Thời hạn bảo hộ, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu TTBM;

(iv) Các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với TTBM;

(v) Ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với TTBM

5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

Trong quá trình nghiên cứu, luận án dựa trên phương pháp biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin; các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của Đảng và Nhà nước

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, bao gồm: phương pháp phân tích, chứng minh, điều tra xã hội học, thống kê, tổng hợp, so sánh Thông qua các phương pháp đó làm nổi bật những vấn đề

cơ bản và then chốt của luận án

Trang 17

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

6.1 N hững đóng góp về m ặt lí luận

- Luận án đã làm nổi bật và phân tích các quan điếm khoa học là cơ sở vững chắc để khẳng định TTBM là đối tượng của quyền SHTT Tuy nhiên, luận án cũng chỉ rõ đây được xem là đối tượng đặc biệt so với các đối tượng khác của quyền SHTT Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng được khái niệm khoa học về TTBM và bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM

- Luận án đã đi sâu phân tích các nội dung pháp lý cơ bản về bảo hộ quyền SHTT đối vối TTBM thông qua quy định của điều ước quốc tế, các hệ thống pháp luật trên thế giới Đánh giá một cách có hệ thống những thành tựu, cũng như những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam trong việc bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM mà cụ thể là BMKD trong mối tương quan so sánh với pháp luật các nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

- Luận án đã bước đầu xây dựng hệ thống quan điểm khoa học cũng như đưa ra những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM tại V iệt Nam phù hợp với các quy định của điều ước quốc tế

và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận án không chỉ là tài liệu có giá trị cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học mà còn là tài liệu cho các cơ quan chức năng tham khảo để hoàn thiện pháp luật về SHTT nói chung và pháp luật về bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM nói riêng tại Việt Nam trong hiện tại cũng như trong tương lai.6.2 N hững đóng góp về m ặt thực tiễn

- Bằng sự tiếp cận có chọn lọc các quy định về bảo hộ TTBM theo quy định của điều ước quốc tế, các hệ thống pháp luật trên thế giới, luận án đã trang bị hệ thống các kiến thức cơ bản về bảo hộ quốc tế quyền SHTT đối với TTBM cho những chủ thể trực tiếp tham gia các hoạt động thương mại quốc

tế Hệ thống kiến thức này giúp cho các chủ thể khai thác, sử dụng hiệu quả

Trang 18

TTBM mà các chủ thể đó nắm giữ, khai thác triệt để các lợi thế cạnh tranh để chiến thắng các đối thủ khi tham gia các hoạt động thương mại quốc tế Mặt khác, việc nắm vững các quy định của pháp luật thương mại quốc tế về lĩnh vực này còn giúp cho các thương nhân của Việt Nam khi hoạt động tại nước ngoài có cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ các quyền và lợi ích họp pháp của mình khi có tranh chấp, khiếu kiện liên quan tới việc khai thác và sử dụng TTBM trong kinh doanh.

- Luận án đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc đối với việc bảo mật thông tin của các doanh nghiệp trong hoàn cảnh điều kiện cụ thế của Việt Nam Đe xuất các giải pháp để giúp các doanh nghiệp tự bảo vệ quyền SHTT đối với TTBM mà doanh nghiệp nắm giữ một cách hiệu quả trên thực tế

7 KẾT CẤU LUẬN ÁN

Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần phụ lục Nội dung được bố cục thành ba chương, có kết luận của từng chương

Phần nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Các vấn đề lí luận cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối

vối thông tin bí mật

Chương 2: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với thông tin bí mật theo quy

định của điều ước quốc tế và pháp luật các nước

Chương 3: Thực trạng, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu

quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với thông tin bí mật tại Việt Nam

Trang 19

C hương 1

C Á C V Ấ N Đ È L Ý L U Ậ N c ơ BẢN V Ê B Ả O H ộ Q U Y È N S Ở H Ữ U

T R Í T U Ệ Đ Ố I V Ớ I T H Ô N G T IN B Í M Ặ T

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ THÔNG TIN BÍ MẬT

1.1.1 K hái niệm thông tin bí m ật

1.1.1.1 Thuật ngữ thông tin b í mật

“Thông tin” theo tiếng Việt, là những “tin tức về những sự kiện diên ra trong thế giới xung quanh ” [52] Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày “thông

tin” thường được hiểu là các tin tức, các tài liệu, các dữ liệu về các sự việc, hiện tượng của thế giới xung quanh chúng ta Thực tế cho thấy, để tồn tại, hàng ngày hàng giờ con người phải tiếp cận và xử lý với vô vàn các loại thông tin khác nhau Trong đó, các thông tin liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh (như thông tin về công thức chế biến sản phẩm, phương pháp sản xuất, tài chính, danh sách khách hàng ) chiếm giữ một khối lượng lớn và

có vai trò quan trọng đối với đời sống của con người Cụ thể, khi tham gia các hoạt động thương mại, khả năng cạnh tranh của các bên sẽ kém hiệu quả hoặc mất đi, lợi ích hợp pháp của các bên sẽ bị xâm phạm nếu các thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể bị đối thủ cạnh tranh nắm bắt hoặc khống chế Do sự khác biệt về điều kiện kinh tế chính trị xã hội, phong tục tập quán, truyền thống dân tộ c tại các hệ thống pháp luật trên thế giới loại thông tin này được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: Bí mật thương mại (trade secret)1, bí mật kinh doanh (business secret)2, thông tin mật (coníidential iníòrmation)3

1 Thuật ngữ “bí mật thương m ại” được sử dụng rất phổ biến trong hệ thống pháp luật trên thế giới (đặc biệt là pháp luật M ỹ), trong các hiệp định thương mại như H iệp định N A F T A , H iệp định

T hương m ại V iệ t N am - H oa K ỳ.

2 Thuật n gữ này được sử dụng tại m ột số hệ thống pháp luật như Thụy Sỹ, V iệt N am

3 Thuật n gữ này được sử dụng trong H iệp định Thương mại giữa V iệt N am - H oa K ỳ.

Trang 20

Tại “Hiệp định vê các khía cạnh liên quan đên thương mại của quyển

S H T T ” (Trade Related Aspects o f Intelleetual Property Right - Gọi tắt là Hiệp

định TRIPs) được ký kết vào năm 1994 trong khuôn khổ của WTO, để bảo hộ quyền SHTT đối với các TTBM có giá trị thương mại, thuật ngữ “TTBM” hay “thông tin không được tiết lộ” (Undisclose Iníòrmation) lần đầu tiên được nhà soạn thảo Hiệp định TRIPs sử dụng Theo quy định của Hiệp định TRIPs, TTBM là một trong các đối tượng của quyền SHTT mà các nước thành viên của WTO phải có nghĩa vụ bảo hộ Cụ thể khoản 2 Điều 1 của Hiệp định TRIPs quy định các nước thành viên của WTO phải có nghĩa vụ bảo hộ các đối tượng sau của quyền SHTT:

+ Bản quyền tác giả và các quyền liên quan;

+ Nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lí;

+ Kiểu dáng công nghiệp;

TTBM trở thành một đối tượng của quyền SHTT theo quy định của Hiệp định TRIPs là kết quả của sự tác động từ nhiều yếu tố, như nhu cầu bảo hộ quyền SHTT một cách đầy đủ và toàn diện hơn nữa trong thương mại quốc tế; nhu cầu tạo ra các điều kiện thuận lợi hơn cho việc chuyển giao công nghệ; sự phát triển nhanh chóng của các ngành sản xuất liên quan đến các sản phẩm hoá nông và dược phẩm tại một số nước trên thế giới (như Mỹ, các nước thuộc liên minh Châu  u) Trên thực tế, sáng kiến đưa TTBM vào Hiệp định TRIPs được bắt đầu từ văn bản đề nghị của Mỹ ngày 28 tháng 10 năm

Trang 21

1987 và sau đó là của Châu Âu và Thụy Sỹ Trong số các nước thành viên của WTO cũng có nước đã phản đối việc đưa TTBM trở thành đối tượng của quyền SHTT như Brazil, Ắn Đ ộ Các nước phản đối đã lập luận rằng: TTBM không phải là đối tượng của quyền SHTT; TTBM được bảo hộ theo Điều 10bls của Công ước Paris là đầy đủ; hoặc việc bảo hộ TTBM nên được bảo hộ theo các quy định của Luật dân sự, hoặc Luật hợp đồng là thích hợp hơn cả [56] Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, kết thúc vòng đàm phán Uruguay, TTBM đã chính thức trở thành đối tượng của quyền SHTT được bảo hộ tại tất cả các nước thành viên thuộc WTO Điều này thể hiện chính sách chung của các nước thuộc WTO là quyền SHTT sẽ được bảo hộ kể cả khi nó không được công bố (khác với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp chỉ được bảo hộ khi được đăng ký).

N ghiên cứu các quy định của Hiệp định TRIPs chúng ta không tìm thấy một sự giải thích cụ thể về TTBM, thay vào đó Hiệp định chỉ đưa ra các điều kiện (tiêu chí) để TTBM được bảo hộ Theo hướng dẫn của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) về thực hiện Hiệp định TRIPs, khi giải thích về Điều 39 (Điều luật quy định về bảo hộ TTBM của Hiệp định TRIPs), TTBM có thể được gọi là “BM TM ” [62, tr 55] Tương tự như vậy, trong văn kiện gia nhập

tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam về phần “Những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ” TTBM được giải thích bao gồm

“BMTM và dữ liệu” [49, tr 169] Như vậy, về cơ bản TTBM theo quy định của Hiệp định TRIPs là đề cập đến việc bảo hộ quyền SHTT đối với

“BMTM” (Trade secret) Vậy tại sao Hiệp định TRIPs lại không dùng thuật ngữ “BM TM ”? Lý giải cho vấn đề này có rất nhiều cách giải thích khác nhau:

Có quan điểm cho rằng việc dùng khái niệm “TTBM ” là “nhằm mục đích nhẩn mạnh rằng việc bảo hộ cần phải đi xa hom so với những quan niệm hẹp

đã tồn tại trong thế kỷ trước về loại đổi tượng này, ví dụ như: Bỉ mật sản

Trang 22

xuât, danh sách bạn hàng vv ” [1] Tương tự như vậy, một quan điểm khác lí giải: “Nhiều nước đã xếp BM TM (trade secrets) vào lãnh địa bảo hộ khá rộng lớn của TTBM (conýidentỉal ỉnformation) [37] Như vậy, với các giải thích

trên thì việc dùng khái niệm “TTBM” trong Hiệp định TRIPs là nhằm mở rộng hơn khái niệm “BMTM” theo nghĩa truyền thống của nó đã tồn tại từ rất lâu trong pháp luật các nước Tuy nhiên, lập luận của các tác giả trên chưa thật sự thuyết phục, bởi lẽ, khi tìm hiểu khái niệm “BMTM” theo luật của một

số nước, đặc biệt là Luật Mỹ (Luật BMTM thống nhất được ban hành năm

1979 sau đó được sửa đổi, bổ sung vào năm 1985) chúng ta thấy phạm vi thông tin được bảo hộ là “BMTM” theo luật Mỹ là rất rộng và đáp ứng đầy đủ các tiêu chí bảo hộ theo quy định tại Điều 39 của Hiệp định TRIPs [60]

Khác với quan điểm trên, một tác giả nước ngoài, trong bài viết có nhan

đề “Bảo hộ BMTM và TTBM” đã lập luận rằng: “Thuật ngữ TTBM (undỉsclose ỉnformatỉon) được sử dụng do các thuật ngữ khác không có ý nghĩa tương tự trong các hệ thống pháp luật khác nhau ” hay “Điều 39 TRỈPs hợp nhất tất cả các định nghĩa B M TM của M ỹ và các khái niệm của Châu Ấu về cạnh tranh không lành mạnh và các hoạt động thương mại trung th ự c”\ Như vậy, theo

cách giải thích của tác giả này thì việc dùng thuật ngữ “TTBM ” trong Hiệp định TRIPs được xem là một sự “dung hoà” của các khái niệm (thuật ngữ) khác nhau, hoặc giống nhau trên thế giới nhưng đều hướng tới việc bảo hộ các TTBM trong lĩnh vực kinh doanh - thương mại Chúng ta có thể chứng minh tính hợp lí của cách giải thích trên thông qua việc tìm hiểu luật của một số nước trên thế giới Ví dụ, pháp luật Mỹ quy định BMTM bao gồm cả bí quyết

kỹ thuật (BQKT - know-how) Nói cách khác, theo luật Mỹ thì BQKT nằm

1 N g u y ên bản tiến g Anh là: “The w ording o f the agreem ent is “undisclosed inform ation” This term

w as retained b ecau se other term s did not have the same m eaning in the different legal system s”

“A rticle 3 9 T R IPS reunites Am erican deíín ition s o f trade secrets and the European concepts o f unfair c o p e titio n and honest com m ecial practices” [56, tr 2 3 7 , 259].

Trang 23

trong phạm vi của BMTM Trong khi đó theo luật của các nước Châu Âu thì

“BM TM ” và “BQKT” là hai đối tượng khác nhau Luật của một số nước Châu Á, như Hàn Quốc, Singapore, Indonexia cũng có sự phân biệt tương

tự như vậy giữa BMTM và BQKT [55, tr 305, 313] Hiệp định Thương mại

Việt Nam và Hoa Kỳ có một cách giải thích riêng về TTBM: “TTBM ” bao gồm BMTM, thông tin đặc quyền và thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng được tiết lộ công khai không hạn chế theo pháp luật quốc gia của Bên liên quan ” (khoản 1 Điều 2 Chương II)1.

Từ sự phân tích trên, cho thấy: “TTBM” là thuật ngữ để chỉ các thông tin trong lĩnh vực thương mại được các chủ sở hữu bảo mật và là đối tượng của quyền SHTT Tùy vào từng hệ thống pháp luật trên thế giới loại TTBM này được gọi bằng nhiều tên khác nhau.

1.1.1.2 Định nghĩa về thông tin b í mật

Đưa ra định nghĩa chung về TTBM - đối tượng của quyền SHTT là một vấn đề tương đối khó khăn Bởi lẽ đây là một loại thông tin có phạm vi rộng, nội dung đa dạng và phức tạp, đặc biệt trong sự phát triển không ngừng của khoa học - kỹ thuật và các quan hệ thương mại quốc tế hiện nay Tuy nhiên,

để xác định cụ thể, chính xác loại thông tin này và tạo nền tảng cho việc nghiên cứu các nội dung pháp lý về bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM thì việc đưa ra định nghĩa chung về TTBM là rất cần thiết

Với mục đích đó, để có một định nghĩa chung về TTBM, trước hết chúng ta sẽ nghiên cứu một số các loại thông tin được xem là “hạt nhân” chủ yếu của TTBM theo quy định của các điều ước quốc tế và các hệ thống pháp luật trên thế giới

1 N g u y ên bản tiếng Anh là: “coníĩdential iníòrm ation includes trade secrets, privileged information, and other u n d isclosed iníòrm ation that has not becom e subject to an unrestricted public disclosure under the Party's dom estic law ”

Trang 24

* Bí mật thương mại (trade secret)

Trên thực tế, không có định nghĩa thống nhất về “BMTM” trên toàn thế giới Chúng ta có thể tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau về đối tượng này trong các tài liệu liên quan

Theo từ điển bách khoa toàn thư (The Encyclopedia), BMTM được giải

thích là “phương thức, quy trình, thiết kế, công cụ, mẫu hình hoặc sự tập hợp các thông tin được sử dụng bởi một doanh nghiệp để cổ được một lợi thể hơn các đổi thủ cạnh tranh trong cùng một ngành công nghiệp hoặc trong cùng một lĩnh vực chuyên m ô n ” [78] Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) đưa ra định nghĩa khái quát hơn về “BMTM” , theo đó “BMTM” là “bất kỳ thông tin bí mật nào cung cấp cho doanh nghiệp —một ưu thế cạnh tranh đều được coi là BMTM, bao gồm bí mật về sản xuất, về công nghiệp và những bí mật về kinh doanh” [85] Theo từ điển Luật học Việt Nam, “BMTM” là “những điều mà thương nhân giữ kín khi thực hiện hành vi thương mại Ví dụ như bí quyết công nghệ, bí mật về tài khoản ở ngân hàng, bí mật về hồ sơ đấu thầu, bí mật

về những thông tin trong những quan hệ về môi giới, đại diện thương mại, ủy thác mua bản hàng hoá” [46].

M ột trong các quốc gia, nơi mà thuật ngữ “BMTM” được dùng rất phổ biến đó là Mỹ Đạo luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ban hành vào năm 1939 (sau đây gọi là Luật 1939) là văn bản luật đầu tiên của Mỹ đưa ra định nghĩa về “BMTM” Theo quy định tại Điều 757 của Luật này thì “BMTM”

được định nghĩa là “bất kỳ công thức cách thức, phương pháp hay sự kết hợp các thông tin nào được sử dụng trong hoạt động kinh doanh của một người và đem lại cho người đó cơ hội có được lợi thế nhiều hơn đối với đổi thủ cạnh tranh không biết hoặc không sử dụng bí mật đó” [55] Quy định này được

xem như là một định nghĩa mang tính khái quát về BMTM Tuy nhiên, do là một định nghĩa mang tính khái quát nên thực tiễn áp dụng quy định này tại

Trang 25

các bang của Mỹ là rất khác nhau, từ đó đã xuất hiện nhu cầu phải có một quy

định cụ thể hơn về BMTM cũng như sự thống nhất chung để bảo hộ đối tượng

này tại các bang của Mỹ Xuất phát từ nhu cầu đó “Luật BMTM thống nhất

(The Uniform Trade Secrets Act - UTSA) đã được ban hành vào năm 1979,

khoản 4 Điều 1 của Luật này quy định: “BM TM là các thông tin bao gồm

công thức, mâu hình, sưu tập các thông tin, chương trình, phương sách, biện

pháp, công nghệ hoặc quy trình, những thông tin mà:

(i) Đem lại giá trị kinh tế độc lập cho dù là hiện hữu hay tiềm năng khi

các thông tin đỏ không trở thành hiểu biết chung hoặc không d ễ dàng tiếp cận

bằng các biện pháp trung thực bởi những người cổ thể thu được giá trị kinh

tế từ việc tiết lộ hoặc sử dụng thông tin đó.

(ỉi) Là đổi tượng được chủ sở hữu sự cổ gắng để bảo mật bằng các cách

phù hợp với hoàn cảnh [60].

Quy định trên được xem như là một định nghĩa khá đầy đủ và chi tiết về

BMTM, bởi lẽ, ngoài việc quy định các điều kiện của BMTM, định nghĩa trên

còn liệt kê một số loại thông tin cụ thể được gọi là BMTM (tất nhiên chỉ

mang tính minh họa) Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định loại

thông tin nào là BMTM trong thực tiễn

Không chỉ có trong hệ thống pháp luật Mỹ, các hệ thống pháp luật khác

trên thế giới đều có định nghĩa về BMTM Theo pháp luật Nhật Bản, BMTM

được định nghĩa là “bất kỳ thông tin nào liên quan đến một phương pháp sản

xuất, phương pháp bán hàng hoặc bất kỳ thông tin nào khác về công nghệ

hoặc kinh doanh không được tiết lộ cho công chúng” [81] Theo pháp luật

Liên bang Nga (khoản 2 Điều 3 Luật Bí mật thương mại), BMTM được giải

thích là “thông tin khoa học kỹ thuật, công nghệ, sản xuất, tài chính kỉnh tế

hoặc những thông tin khác (trong sổ đổ có bỉ quyết sản x u ấ t) [64] Pháp luật

Cộng hoà Pháp quy định BMTM bao gồm “tổng thể những thông tin mang

1

Trang 26

tính k ỹ thuật, công nghiệp hoặc thương mại có tính chãt bỉ mật, hữii ích và được người nắm giữ thông tin đỏ bảo mật bằng những biện pháp cần thiết, phù h ợ p ” [50].

Qua các định nghĩa trên về BMTM, cho thấy tuy có sự khác nhau nhất định

về câu chữ, về các trình bày, nhưng điểm chung của các định nghĩa trên là:

- Khẳng định BMTM tồn tại dưới dạng các “thông tin” liên quan đến lĩnh vực khoa học kỹ thuật, các hoạt động sản xuất kinh doanh được các chủ

* B ỉ quyết kỹ thuật (know-how)

Bên cạnh thuật ngữ “bí mật thương mại” (BMTM), thuật ngữ “bí quyết

kỹ thuật” (BQKT) hay còn gọi là “know-how” cũng được xem là một dạng của TTBM và là đối tượng được bảo hộ quyền SHTT (bình luận Điều 1 Luật

BM TM thống nhất của Mỹ, thuật ngữ “phương pháp” (method) “công nghệ” (technique) được giải thích là bao gồm cả BQKT) Luật BMTM của Liên Bang N ga năm 2005 quy định rõ BMTM bao gồm cả BQKT Tuy nhiên, có nước lại tách biệt giữa BQKT và BMTM như quy định trong Luật SHTT của Cộng hoà Pháp [21] hoặc BQKT với bí mật kinh doanh (BMKD) như quy định của pháp luật Việt Nam [18] Vậy “BQKT” là gì? Trên thực tế tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau về đối tượng này

Theo định nghĩa của WIPO, BQKT được giải thích là “dữ liệu thông tin

kỹ thuật hoặc các kiến thức thu được từ kỉnh nghiệm hoặc kỹ năng có thể áp dụng trong thực tiễn, đặc biệt trong công nghiệp” [85] Theo Từ điên bách

Trang 27

khoa toàn thư, BQKT được giải thích là “các thông tin về dữ liệu kỹ thuật, công thức, bản ghi chi tiết kỹ thuật, quy trình, phương pháp, số các kí hiệu điện tín, các nguyên liệu thô, cũng như là các thông tin kiến thức, sự trợ giúp,

Với các quy định trên, chúng ta thấy: “BQKT” cũng là một dạng của thông tin và các thông tin này là tương đối rộng, thuộc nhiều lĩnh vực và phạm vi khác nhau nhưng chủ yếu nhất là trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật Hay nói một cách khác khi đề cập đến thuật ngữ “BQKT” người ta muốn nói tới các thông tin, dữ liệu thuộc về lĩnh vực kỹ thuật để phân biệt với các thông tin thương mại thuần túy như thông tin tài chính, thông tin khách hàng Tuy nhiên, vấn đề vẫn thường gây nên sự tranh cãi lớn nhất giữa các nhà nghiên cứu là các thông tin được gọi là “BQKT” có phải là các thông tin được giữ bí mật hay không? (tức là những thông tin về BQKT đó chưa được công bố tới công chúng) Nói một cách khác, các thông tin đã được công chúng tiếp cận

và đã được cấp văn bằng bảo hộ thì có được xem là “BQKT” không? Có ý kiến cho rằng, trong trường hợp BQKT đã bộc lộ công khai, không còn giá trị thương mại đối với bên chuyển giao nhưng vẫn còn giá trị với bên nhận thì

vẫn được xem là “BQKT” Cũng theo quan điểm này, thì “việc đăng ký để xỉn cấp văn bằng bảo hộ và việc cấp văn bằng bảo hộ, bản thân nó không hề ảnh hưởng đến các kiến thức có sẵn, mà chỉ góp phần vào việc truyền bá rộng rãi kiến thức đã cỏ tới công chúng'1'1 [48, tr 6].

Quan điếm trên chúng ta có thể thấy có một số điểm chưa thuyết phục như sau:

Trang 28

Thứ nhất, đối với những giải pháp kỹ thuật đã được cấp văn bằng bảo hộ

thì tên của giải pháp kỹ thuật đó sẽ gọi theo văn bằng bảo hộ, như là sáng chế, kiếu dáng công nghiệp, giải pháp hữu ích Thuật ngữ “BQKT” không sử dụng trong các trường hợp như vậy

Thứ hai, khi các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được cấp văn bằng

bảo hộ, thì không phải mọi thông tin liên quan đến giải pháp kỹ thuật được cấp văn bằng bảo hộ đều được chủ sở hữu của thông tin đó tiết lộ đầy đủ Điều này xuất phát từ chỗ, khi người nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ đối với một giải pháp kỹ thuật (ví dụ là sáng chế), để có lợi thế trong cạnh tranh, hoặc

để nâng cao “giá” chuyển nhượng, bao giờ người nộp đơn cũng giữ lại các bí mật về các thông tin liên quan đến việc khai thác thương mại đối với đối tượng đó Các thông tin đó chính là một dạng của BQKT Do vậy, đổi với một giải pháp kỹ thuật đã được cấp văn bằng bảo hộ, thì một bộ phận thông tin chưa đươc công bổ liên quan đến việc khai thác giải pháp kỹ thuật đó mới là BQKT, chứ không phải toàn bộ thông tin về giải pháp kỹ thuật đó

Thứ ba, “BQKT” là đối tượng rất phổ biến của các hợp đồng chuyển giao

công nghệ Theo họp đồng này, để nhận được quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu đối với “BQKT” , bên nhận sự chuyển giao luôn phải trả một khoản tiền nhất định tương ứng với giá trị của công nghệ được chuyển giao (trừ các trường họp ngoại lệ) Do vậy, nếu “BQKT” đó đã được tiết lộ công khai thì không những ảnh hưởng đến giá trị của thông tin mà còn làm mất đi tính cạnh tranh của người được chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu đối với thông tin đó

Các quy định của Liên minh Châu Âu được xem như là một minh họa cụ

thê cho lập luận trên, theo đó BQKT được giải thích là “một bộ thông tin công nghệ cỏ tỉnh bí mật, tính giá trị và được xác định dưới bất kỳ hình thức phủ hợp nào ” (Nguyên bản tiếng Anh là “Know-how means a body o f technical iníòrmation

that is secret, substantial and identiíĩed in any appropriate form”) [57, tr 509]

Trang 29

Như vậy, theo Luật của Liên minh Châu Âu thì một trong những tiêu chuẩn quan trọng của “BQKT” đó là tính bí mật (mặc dù tính bí mật chỉ mang tính tương đối) Tương tự như vậy, trong Từ điển bách khoa toàn thư khi giải thích

về “BQKT” cũng đã nói rõ: các thông tin về dữ liệu kỹ thuật, quy trình, phương

p háp sẽ không đủ tiêu chuẩn là “know-how” khi “các thông tin như vậy vào thời điểm tiết lộ, hoặc sau đỏ trở thành một bộ phận của kiến thức chung, hoặc

là các tác phẩm có sẵn với công chúng từ các nguồn hợp pháp ” [78].

Qua sự phân tích trên cho thấy, BQKT là một dạng của TTBM và loại thông tin này chủ yếu thuộc về lĩnh vực khoa học - kỹ thuật

* B í quyết về phương pháp thực hiện (Show-how)

Một thuật ngữ khác được sử dụng thường đi liền “BQKT” trong luật pháp của các nước là bí quyết về phương pháp thực hiện (PPTH) hay còn gọi

là “show-how” Theo Từ điển bách khoa toàn thư, khái niệm bí quyết về

“PPTH” được giải thích là “một dạng của BQKT, cung cấp về sự hiểu biết sâu sắc, có giả trị về các sản phẩm được tạo ra, lắp ráp hoặc quá trình tiến hành nó như thế nào B ỉ quyết về PPTH cũng được áp dụng để giải thích cho các công n g h ệ ” [78] Theo một định nghĩa khác, bí quyết về “PPTH” được giải thích là sự “miêu tả cách thức để phát triển BQ K T hoặc để xây dựng một

B Q K T m ớ i” [48, tr.6] Như vậy, theo các định nghĩa trên, bí quyết về “PPTH”

được hiểu là các cách thức để hiểu, để phát triển và để tạo ra các thông tin về

dữ liệu kỹ thuật, công thức, bản ghi chi tiết kỹ thuật, quy trình, phương pháp,

kí hiệu điện tín (gọi chung là thông tin kỹ thuật) liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể Tương tự như “BQKT”, điều kiện

để bí quyết về “PPTH” được pháp luật bảo hộ là phải có giá trị thương mại và được chủ sở hữu áp dụng các biện pháp bảo mật phù họp

Qua sự phân tích và lập luận về BMTM, BQKT và bí quyết về PPTH,

chúng ta rút ra định nghĩa chung về TTBM như sau: TTBM (đổi tượng của

Trang 30

quyền SHT) là thông tin về các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, về hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể, cỏ giá trị thương mại, đem lại các lợi thế cạnh tranh và được các chủ thê bảo mật phù hợp với pháp luật.

1.1.2 Đ ặc điểm cơ bản của thông tin bí m ật trong thương mại quốc tế

So với các loại thông tin “mật” khác được pháp luật bảo vệ, TTBM trong thương mại quốc tế có đặc điểm chung sau:

1.1.2.1 Thông tin b ỉ mật là sản phẩm của trí tuệ

Trong đời sống hàng ngày chúng ta được tiếp xúc với vô vàn các thông tin khác nhau và đặc điểm chung của chúng là mang đến cho người tiếp cận những nhận thức những hiểu biết nhất định về sự vật, hiện tượng nào đó trong thế giới khách quan tồn tại xung quanh chúng ta Tuy nhiên TTBM mà chúng

ta đang nghiên cứu ở đây phải là sản phẩm của trí tuệ Cụ thể, chủ sở hữu thông tin đã đầu tư trí tuệ, tiền bạc, công sức, thời gian để tạo ra các thông tin

đó Các thông tin này là “vô hình” con người không thể nhìn thấy và việc tiếp cận với thông tin đó chỉ được thực hiện thông qua các dạng thể hiện cụ thể của nó Nghĩa là khi các thông tin đó đã được “vật chất” hoá thành các dạng vật chất nhất định, ví dụ như tài liệu, sách vở, mô hình, vật m ẫu Là sản phẩm của trí tuệ, TTBM mang tính tổng hợp cao Hay nói cách khác TTBM là loại thông tin đa dạng (là một tập hợp các kiến thức) liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau: khoa học kỹ thuật và các hoạt động sản xuất kinh doanh Những thông tin này, con người muốn tiếp thu phải thông qua một quá trình

tư duy khoa học của trí tuệ

Ngược lại, những thông tin khác có thể cũng có giá trị thương mại và mang lại lợi ích nhất định cho đối thủ cạnh tranh khi biết hoặc nắm giữ nó, nhưng không phải do chủ sở hữu đầu tư công sức, tiền bạc, trí tuệ (bằng sự đầu tư chính đáng của chủ sở hữu) tạo ra và việc tiếp thu nó là hết sức đơn giản (không cần

Trang 31

tới sự tư duy của trí tuệ) thì thông tin đó không phải là TTBM thuộc lĩnh vực này Ví dụ, thông tin về bệnh tật, về nguồn gốc xuất thân của đối thủ cạnh tranh không nằm trong phạm vi các TTBM mà luận án đang nghiên cứu.

1.1.2.2 Phạm vi, tỉnh chất của thông tin b í m ật thuộc về lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và thương mại

Phạm vi các thông tin mật được bảo hộ rất rộng, tuy nhiên, các thông tin

đó phải thuộc về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật hoặc là các thông tin liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể Thực tiễn cho thấy, các lĩnh vực liên quan đến TTBM đặt ra yêu cầu bảo hộ nhiều nhất là các thông tin trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo máy, công nghiệp ô tô, các ngành sản xuất sản phẩm hoá - nông, hoá - dược, các lĩnh vực về quản trị kinh doanh như: cơ sở dữ liệu khách hàng, danh mục giá cả, kế hoạch phát triển chiến lược của doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải mọi thông tin trong lĩnh vực này đều là TTBM Bất cứ một nhà nước nào với chức năng quản lý

và điều hành nền kinh tế cũng có quyền thực hiện việc giám sát đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động kinh doanh của các chủ thể cũng như giám sát sự ảnh hưởng của hoạt động đó đối với xã hội, đối với môi trường

v v Do đó, một số dạng thông tin doanh nghiệp nắm giữ nhưng không thể coi là TTBM như: giấy tờ thành lập doanh nghiệp, giấy phép đăng ký kinh doanh, tài liệu liên quan tới hoạt động tài chính kế toán theo luật định, thông tin về số lượng, thành phần của các sản phẩm (đặc biệt là các sản phẩm trong lĩnh vực nông - hoá - dược phẩm), tiền lương cố định và điều kiện làm việc của người lao độn g

1.1.2.3 Chủ sở hữu của các thông tin b í m ật chủ yếu là các chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh

So với các loại thông tin khác thì chủ sở hữu của TTBM chủ yếu là các chủ thể trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh, như: các doanh

Trang 32

nghiệp, các công ty, các tập đoàn kinh tế lớn và các cá nhân tham gia vào các hơạt động thương mại Việc nắm giữ các TTBM này luôn luôn tạo ra các lợi thế cạnh tranh trong thương mại cho các chủ thể Thực tế đã chứng minh, khi chủ sở hữu càng nắm giữ nhiều các TTBM thì càng có nhiều cơ hội để vượt qua đối thủ cạnh tranh của mình Do vậy, những thông tin không liên quan đến các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và các hoạt động sản xuất kinh doanh và không tạo ra lợi thế cạnh tranh trong thương mại thì không phải là TTBM được đề cập tới trong phạm vi này.

Ngoài các đặc điểm trên, TTBM là đối tượng của quyền SHTT còn có một số các đặc điểm quan trọng như: thông tin đó là thông tin bí mật, có giá trị thương mại và được chủ sở hữu bảo mật Các đặc điểm này sẽ được luận

án phân tích ở phần: “Điều kiện bảo hộ đối với TTBM”

1.1.3 So sánh thông tin bí mật với các loại thông tin “mật” khác được pháp luật bảo vệ

Mặc dù có những đặc điểm đặc trưng như trên, nhưng xuất phát từ

“tính bí m ật” của thông tin nên việc phân biệt TTBM với các loại thông tin

“m ật” khác như “bí mật nhà nước”, “bí mật đời tư ” là hoàn toàn không đơn giản, vì vậy phần tiếp theo luận án sẽ đi sâu làm rõ sự khác biệt của ba loại thông tin này

1.1.3.1 B í m ật nhà nước (bí mật quốc gia)

Bí mật nhà nước (hay còn gọi là bí mật quốc gia) là loại TTBM có sự bảo vệ rất cao trong pháp luật của các nước cũng như trong pháp luật Việt Nam Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 12 năm 2000 (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm

2001) bí mật nhà nước được định nghĩa là “những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điềm, thời gian lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị quốc phòng, an ninh, đổi ngoại, kỉnh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực

Trang 33

khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bổ và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Với quy định này, bí mật nhà nước là những thông tin liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội: quốc phòng an ninh, đôi ngoại, khoa học, công nghệ Việc bảo vệ các thông tin này có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ chủ quyền, an ninh, quốc phòng đất nước Danh mục các thông tin thuộc “bí mật nhà nước”

sẽ do các cơ quan có thẩm quyền ban hành “Danh mục bí mật nhà nước thuộc độ M ật do người đứng đầu hoặc người được ủy quyền của cơ quan, tổ chức đề nghị Bộ trưởng Bộ công an quyết định ” (Điều 7 Pháp lệnh Bảo vệ bí

mật nhà nước) Như vậy, các bộ, ngành phải có nghĩa vụ ban hành danh mục các thông tin thuộc bí mật nhà nước của ngành mình Đây chính là cơ sở rất quan trọng để xác định rõ giới hạn giữa bí mật nhà nước và các thông tin khác Điều này giúp cho việc xác định và bảo vệ các thông tin thuộc bí mật nhà nước được khách quan và chính xác, tránh những suy luận chủ quan hoặc gây ra tình trạng bưng bít thông tin, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể liên quan

Nhìn chung, những thông tin thuộc bí mật nhà nước luôn phải càn có hai điều kiện cần và đủ đó là:

Thứ nhất, những thông tin mà nhà nước (các cơ quan có thẩm quyền) không công bố hoặc chưa công bố

Thứ hai, những thông tin này khi tiết lộ thì gây nguy hại cho nhà nước

Đe bảo vệ, quản lý các TTBM của nhà nước, các thông tin này được chia thành nhiều cấp độ khác nhau: Tuyệt mật, tối mật, mật và được các cơ quan

có thẩm quyền đóng dấu “độ mật”

Trang 34

Trong sô các tài liệu được xếp vào “tối mật” thì có cả các đối tượng của quyền

SHTT, đó là các “công ưình khoa học, phát minh, sáng chê, giải pháp hữu ích, BQKT đặc biệt quan trọng đổi với quốc phòng, an ninh, kỉnh tế, khoa học, công nghệ mà nhà nước chưa công bổ ” (Điều 6 Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà

nước) Điểm khác biệt giữa các đối tượng này với các đối tượng khác của

quyền SHTT là các đối tượng này “đặc biệt quan trọng đổi với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học, công nghệ ” hay còn được gọi chung là các “sáng chế

mật” của đất nước Từ sự khác biệt về tính chất đó, mà quy trình đăng ký bảo hộ đối với các đối tượng này cũng được thực hiện theo một trình tự đặc biệt [23]

1.1.3.2 B ỉ m ật đời tư (bí mật cá nhân)

Khác với bí mật nhà nước, bí mật đời tư là những thông tin về bản thân một con người cụ thể Theo lẽ tự nhiên, mỗi người từ khi sinh ra và chết đi đều có những bí mật riêng của mình và người đó không muốn công bố, bộc

lộ, như là: thông tin về cuộc sống gia đình, bệnh tật, bạn bè và các mối quan

hệ xã hội khác Như vậy bí mật đởi tư có thể được hiểu "là những thông tin,

tư liệu ('gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cả nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đổ được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận ” [30, tr 53].

v ề nguyên tắc, những thông tin thuộc bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, những người có mối quan hệ với người đó biết và họ chưa từng công khai công bố ra bên ngoài

Quyền được bảo vệ bí mật đời tư là một quyền cơ bản của con người luôn được pháp luật bảo vệ Mục đích của pháp luật khi bảo vệ bí mật đời tư cho cá nhân không chỉ là để bảo vệ danh dự, uy tín cho người đó mà còn là để bảo đảm cho các quyền cơ bản con người được thực hiện trên thực tế Đe thực

Trang 35

hiện mục đích này, pháp luật các nước đều đưa ra các biện pháp, các cách thức khác nhau Ví dụ: Điều 38 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định:

- Việc công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người

đó đồng ý

- Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật

- Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện

tử khác của cá nhân được thể hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Là quyền cơ bản của con người, bí mật đời tư của cá nhân sẽ được pháp luật bảo vệ mãi mãi (kể cả khi người đó chết) cho tới khi các thông tin đó không phải là “bí mật” nữa, tức là khi nó đã được công khai công bố tại nơi công cộng Điều này có nghĩa là bất cứ thông tin nào của cá nhân đã được công khai một cách hợp pháp tại các nơi công cộng thì mọi người đều có quyền khai thác, sử dụng thông tin đó

Các hành vi công bố, khai thác trái phép các TTBM về đời tư của cá nhân vì bất cứ mục đích gì đều bị pháp luật ngăn cấm và hành vi vi phạm sẽ

bị áp dụng các chế tài tương ứng với tính chất, mức độ của sự vi phạm đó.Qua sự phân tích trên, cho thấy điểm giống nhau giữa bí mật nhà nước,

bí mật đời tư với TTBM trong thương mại được thể hiện ở một số điểm sau:

- Cả ba đều là những thông tin không được tiết lộ công khai phổ biến và được chủ sở hữu áp dụng các biện pháp bảo mật

- Các thông tin này được pháp luật bảo vệ và người vi phạm sẽ bị áp dụng các biện pháp chế tài tương ứng với hành vi vi phạm

Mặc dù có những điểm giống nhau như vậy nhưng đây là ba nhóm thông tin “bí mật” có sự khác nhau cơ bản về bản chất Có thể thấy rõ sự khác nhau của ba loại thông tin này qua bảng so sánh dưới đây:

Trang 36

Các thông tin này được bảo hộ khi đáp ứng các quy định của pháp luật.

Các thông tin thuộc nhiều lĩnh vực: kinh

tế, chính trị xã hội, văn hoá, khoa học

có ảnh hưởng tới sự

an nguy của đất nước

Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đánh dấu mật

Chỉ liên quan đến đời tư của

cá nhân, như: chuyện riêng tư, tình trạng bệnh tật, hoàn cảnh xuất thân

Hậu quả của

việc bị tiết lộ

Làm mất lợi thế cạnh tranh của chủ sở hữu, gây ra các thiệt hại cho các hoạt động sản xuất kinh doanh

Gây nguy hại cho nhà nước

Gây ảnh hưởng xấu đến danh

dự, uy tín và các quyền cơ bản của con người.Mục đích của

việc bảo vệ của

pháp luật

Tạo ra sự cạnh tranh trung thực, công bằng, bền vững trong các hoạt động thương mại

Bảo đảm chủ quyền

an ninh, chính trị và những lợi ích kinh

tế - chính trị khác của nhà nước

Bảo đảm dạnh

dự, uy tín và thực hiện các quyền cơ bản của con người.Việc phân biệt ba loại thông tin trên (TTBM trong thương mại, bí mật quốc gia, bí mật đời tư) có ý nghĩa quan trọng đối với cả phía người sử dụng thông tin và phía các cơ quan thực thi pháp luật Một người khi thu thập, sử dụng thông tin phải biết rõ về nguồn thông tin đó Từ đó, các chủ thể sẽ biết quyền hạn, trách nhiệm của mình khi tiếp cận hoặc sử dụng chúng Đổi vối

Trang 37

cac cơ quan thực thi pháp luật, việc nhầm lẫn giữa ba loại thông tin trên sẽ dẫn đến quyền lợi của các chủ sở hữu không những không được bảo vệ đầy

đủ, chính xác mà còn dẫn tới các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, như “bưng bít thông tin”, che giấu các hành vi phạm pháp

1.1.4 V ai trò của việc bảo mật thông tin trong các hoạt động thương mại quốc tế

Từ xa xưa, vấn đề bảo mật đối với các thông tin quan trọng luôn là nhu cầu 'i t yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của loài người Trong các hoạt động thương mại, ý thức về giữ bí mật đối với các thông tin liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ sở hữu xuất hiện ngay cả khi khái niệm “quyền SHTT” chưa tồn tại Ý thức này giúp các thương nhân, các cơ sở sản (Uất kinh doanh duy trì được vị trí “độc tôn” cho sản phẩm của họ từ thế

hệ này qua thế hệ khác

Ngày nay, khi cạnh tranh trong thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng càng trở nên khốc liệt thì việc bảo mật đối với thông tin có một vai trò vô cùng quan trọng đối với các chủ thể khi họ tham gia vào các hoại động thương mại Vai trò đó được thể hiện ở các nội dung chính sau:

Thứ nhất, việc nắm giữ và bảo mật các TTBM trong các hoạt động sản

xuấl kinh doanh giúp cho các thương nhân tạo ra được các sản phẩm riêng, độc đáo trên thị trường trong nước và quốc tế Có thể nêu ra một số ví dụ tiêu biểu như Công thức pha chế nước giải khát Coca-cola nổi tiếng trên toàn cầu, được tạo a bởi dược sỹ John Pemberton từ trên 100 năm trước đây, nhưng đến nay côn' thức đó vẫn thuộc độc quyền của công ty Coca-cola Công thức này chính

là b quyết để tạo ra hương vị độc đáo của đồ uống Coca-cola mà ngày nay chúig ta đang thưởng thức Đây chính là chìa khoá tạo ra sự thành công lâu dài,bền vững của công ty trong suốt thời gian dài vừa qua Chính vì giữ bí mật đưọ: công thức này, mà cho đến nay Coca-cola vẫn là công ty duy nhất có thể

Trang 38

sản xuất ra loại nước uống đặc biệt được toàn cầu ưa chuộng Ví dụ khác, hãng sản xuất đồ da nổi tiếng trên thế giới “Crocodile” để có các sản phẩm đồ da độc đáo trên thị trường, hãng này luôn giữ kín bí mật về cách thức tạo ra các sản phẩm da có độ bền lâu và sang trọng Tương tự như vậy, hãng bia Heneiken luôn giữ bí mật về công thức để sản xuất ra sản phẩm bia Heneiken uy tín và chất lượng; Hãng Toyota luôn giữ bí quyết đối với công nghệ sản xuất sản phẩm xe hơi bền, đẹp và quý phái Tại Việt Nam, một số công ty cũng đã được biết tới trong lĩnh vực bảo mật thông tin để tạo ra các sản phẩm độc đáo trên thị trường như: công ty gốm sứ M inh Long, cà phê Trung Nguyên

Thứ hai, việc nắm giữ và bảo mật tốt các thông tin có thể quyết định sự

thành bại của các chủ thể khi tham gia các hoạt động thương mại quốc tế Như chúng ta đã biết, trong kinh doanh, các ý đồ sản xuất, mẫu mã, kiểu dáng, các chiến lược kinh doanh không được phép để tiết lộ vì đó là sự sống còn của các chủ thể khi tham gia các hoạt thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng Từ sự nắm giữ các thông tin quan trọng trong sản xuất- kinh doanh đã tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, và sự chủ động của các thương nhân trên thương trường so với các đối thủ khác Thực tế cho thấy, các TTBM trong các hoạt động sản xuất kinh doanh mà thương nhân nắm giữ

có thể “tạo ra sức mạnh” giúp cho các thương nhân vượt qua các khủng hoảng của nền kinh tế trong phạm vi quốc gia hoặc trên phạm vi toàn cầu Hệ thống siêu thị Auchan - “người khổng lồ” trong ngành kinh doanh bán lẻ trên thế giới là một ví dụ điển hình cho trường hợp này Đây là một trong các công ty bán lẻ ít bị ảnh hưởng nhất bởi sự khủng hoảng của nền kinh tế Pháp cũng như nền kinh tế toàn cầu trong những năm vừa qua Tạo nên sự vững mạnh trên là do công ty mang quốc tịch Pháp này nắm giữ rất nhiều TTBM trong kinh doanh Cụ thể, tính bảo mật thông tin là một trong những nguyên tắc bất

di bất dịch của gia đình nhà Mulliez (ông Gerald Mulliez là nhà sáng lập hệ

Trang 39

thông bán lẻ của Pháp mang tên Auchan) nhất là các thông tin liên quan tới các con số như doanh thu, vốn đầu tư và lãi [66].

Thứ ba, việc để lộ, bị mất các TTBM trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh

gây ra những thiệt hại không thể lường hết được cho các thương nhân nắm giữ chúng Bởi lẽ, để có được các công thức sản xuất, các bí quyết kinh doanh các chủ sở hữu của các TTBM đã phải đầu tư rất nhiều công sức, tiền bạc, thời gian Khi các thông tin này bị tiết lộ, bị chiếm đoạt, điều này đồng nghĩa là sự đầu tư của họ đã bị mất, bị thất bại Mặt khác, các thông tin về các hoạt động kinh doanh, như thông tin về “chiến dịch quảng cáo”, “chiến dịch giảm giá” hoặc các chiến dịch khác liên quan đến việc đưa các sản phẩm ra thị trường mà đối thủ cạnh tranh biết được sẽ làm cho thương nhân đó mất đi

sự chủ động, hoặc bị m ất đi thị trường từ đó gây ra những tổn thất về tài sản cho các thương nhân trên thương trường

Xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng của TTBM trong các hoạt động thương mại quốc tế, các thương nhân luôn luôn cố gắng áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để bảo mật các nguồn thông tin trong các hoạt động kinh doanh mà mình nắm giữ Tuy nhiên, bất chấp sự cố gắng hết sức của các công

ty, các hành vi xâm phạm TTBM để đánh bại đối thủ cạnh tranh, để giành giật thị trường, phá rối thị trường, ngày càng xuất hiện phổ biến, tinh vi hơn trên phạm vi toàn thế giới Thông thường để đánh bại đối thủ cạnh tranh, thì các thông tin như “chiến lược phát triển của họ là gì?”; “trong phòng thí nghiệm của họ đang nghiên cứu các sản phẩm gì ?” hoặc “nguồn vốn của họ từ đâu và

có mạnh không ?” hay “khách hàng chính của họ là ai ?” là các thông tin “hấp dẫn” mà đối thủ cạnh tranh luôn tìm mọi cách để chiếm đoạt để đánh bại đối thủ, chiếm lĩnh thị trường Ví dụ điển hình như Công ty Coca - Cola một trong các Công ty được coi là có rất nhiều kinh nghiệm trong việc bảo mật thông tin nhưng cách đây không lâu cũng đã từng đúng trên bờ vực thẳm của

Trang 40

sự “phá sản” nếu công thức tạo ra loại đồ uống mới của công ty bị lọt vào tay của đối thủ cạnh tranh là Công ty Pepsi [76].

Tóm lại, trong môi trường cạnh tranh gay gắt, thương trường được coi như là “chiến trường” hiện nay thì nhu cầu bảo mật các thông tin khi tham gia các hoạt động thương mại quốc tế để phát triển bền vững là nhu cầu chính đáng

và vô cùng cấp thiếp của các chủ thể Tuy nhiên để thực hiện được nhu cầu đó, việc áp dụng các biện pháp bảo mật “đơn phương” từ phía các chủ thể nắm giữ thông tin là hoàn toàn chưa đủ mà còn cần phải có một khung pháp lý thật

sự ổn định, hiệu quả để bảo hộ các TTBM ở phạm vi quốc gia và quốc tế

1.2 BẢO H ộ QUYÈN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỞI THÔNG TIN BÍ MẬT 1.2.1 K hái niệm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối vói thông tin bí mật

Là một đối tượng của quyền SHTT, bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM

là một nội dung cụ thể của bảo hộ quyền SHTT nói chung

Thuật ngữ “bảo hộ quyền SHTT” được sử dụng khá phổ biến trong khoa học pháp lý và trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, xung quanh khái niệm này có nhiều cách hiểu khác nhau Để hiểu rõ khái niệm này chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm là “bảo hộ quyền SHTT” và “bảo

vệ quyền SHTT”

Trong các tài liệu bằng tiếng Anh, không có sự phân biệt giữa hai khái niệm “bảo hộ quyền SHTT” và “bảo vệ quyền SHTT” (bởi lẽ trong tiếng Anh chỉ có một thuật chung là “Protection of Interlectual property rights”) Khác với tiếng Anh, trong ngôn ngữ tiếng Việt hai khái niệm “bảo hộ” và “bảo vệ” được giải thích khác nhau Cụ thể như sau:

về mặt ngôn ngữ, theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “bảo hộ” được giải

thích là: “1 Che chở, không để bị hư hỏng, tổn thất Bảo hộ tính mạng, tài sản của ngoại kiều.

2 Cai trị bằng cách dùng bộ máy chính quyền thực dân đặt lên trên

Ngày đăng: 14/02/2021, 19:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w