1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù từ thực tiễn các trại giam khu vực miền bắc

91 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 6,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc nghiên cứu điển hình các trại giam ở khu vực miền Bắc có thể cho chúng ta một cái nhìn tương đối rõ nét về tình hình bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án hình

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG TUẤN LONG

ĐỀ TÀI

Bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù

từ thực tiễn các trại giam khu vực miền Bắc

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính

Mã số: 60380102

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Hồ Hải

Hà Nội – 2018

Trang 2

Phần nội dung 10

Chương 1 Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 10

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 10

1.1.1 Khái niệm bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 10

1.1.2 Đặc điểm bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 13

1.1.3 Vai trò của việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 19

1.2 Nội dung và điều kiện bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 20

1.2.1 Nội dung bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 20

1.2.2 Điều kiện bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 22

1.3 Yêu cầu bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù với một số quyền cụ thể 26

1.3.1 Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trứng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục 26

1.3.2 Quyền được đảm bảo mức sống tiêu chuẩn đầy đủ 28

1.3.3 Quyền tiếp cận thông tin, liên lạc với bên ngoài 31

1.3.4 Quyền khiếu nại, tố cáo 33

Trang 3

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành

án phạt tù ở các trại giam 38

2.1.1 Tình hình phạm nhân trong trại giam 38

2.1.2 Tổ chức và hướng dẫn các trại giam bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 41

2.2 Ưu điểm của bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam và nguyên nhân 43

2.3 Hạn chế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam và nguyên nhân 45

Chương 3: Giải pháp bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù trong các trại giam miền Bắc 49

3.1 Giải pháp chung bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam miền Bắc 49

3.1.1 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự 49

3.1.2 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án phạt tù 53

3.2 Giải pháp bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam 56

3.2.1 Về cơ chế kiểm tra, kiểm soát hoạt động thi hành án phạt tù nhằm đảm bảo quyền con người 56

3.2.2 Về xây dựng cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, đa dạng hóa hình thức quản lý, giáo dục trong trại giam 62

3.2.3 Xã hội hóa công tác giáo dục nhằm bảo đảm các quyền con người 65

Phần kết luận 69

Danh mục tài liệu tham khảo 71

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả Luận văn

Hoàng Tuấn Long

Trang 5

ICCPR International Covenant on Civil

and Political Rights

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị

UNCAT United Nations Convention

against Torture and Other Cruel,

Inhuman or Degrading

Treatment or Punishment

Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo,

vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người

UDHR The Universal Declaration of

Human Rights

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là một vấn đề ngày càng dành được sự quan tâm ở Việt Nam, đặc biệt là sau khi Hiến pháp 2013 được thông qua với những điểm mới đáng ghi nhận về quyền con người Nội dung và tinh thần của Hiến pháp 2013 không chỉ là một bước tiến trong việc ghi nhận và bảo đảm các quyền con người mà còn sự thể hiện sự cập nhật hóa các nguyên tắc của pháp luật quốc tế về quyền con người vào

hệ thống pháp luật Việt Nam1 Kể từ đó, rất nhiều nội dung quan trọng của Hiến pháp 2013 về quyền con người được cụ thể hóa dần trong từng lĩnh vực, trong đó

có lĩnh vực tố tụng hình sự nói chung và hoạt động thi hành án phạt tù nói riêng Đặc biệt, liên quan đến vấn đề này, Việt Nam đã là thành viên và phê chuẩn nhiều điều ước quốc tế liên quan, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (UNCAT) Điều này đặt ra nghĩa vụ của nhà nước Việt Nam ở mức độ chủ động cao hơn nhằm tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực của luật nhân đạo quốc tế đối với lĩnh vực thi hành án hình

sự Nghĩa vụ này càng được nhấn mạnh hơn nữa khi phương pháp tiếp cận dựa trên quyền (right-based approach) đang được áp dụng một cách rộng rãi, trong đó nhìn nhận nhà nước như một chủ thể có trách nhiệm chủ động trong việc bảo đảm sự thụ hưởng quyền của mỗi cá nhân trên mọi lĩnh vực2

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, những vấn đề đặt ra

từ văn bản có ý nghĩa quan trọng này vẫn còn rất đáng quan tâm Đầu tiên là việc

1 Bùi Thị Đào, Điểm mới của Hiến pháp năm 2013 trong sự tương đồng với pháp luật quốc tế về quyền con người,

Tạp chí Luật học, số Đặc san Hiến pháp 2013, 2014

2 Xem thêm: Vũ Công Giao, Ngô Minh Hương, Tiếp cận dựa trên quyền con người – Lý luận và thực tiễn, Nxb Đại

học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2017

Trang 7

hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng tôn trọng và bảo vệ quyền con người mà trong đó thi hành án là một khâu quan trọng Thứ hai là việc chuần bị điều kiện và thống nhất quản lý công tác thi hành án được giao cho Bộ Tư pháp vẫn chưa thực sự được khởi động Bối cảnh đó càng đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm trong cải cách tư pháp nói chung và hoàn thiện cơ chế pháp lý về thi hành án hình

sự nói riêng nhằm đáp ứng những yêu cầu mà Nghị quyết 49 đưa ra

Bên cạnh đó, chúng ta cần phải thấy rằng, tố tụng hình sự nói chung và thi hành

án hình sự nói riêng là một lĩnh vực tương đối phức tạp vì nó liên quan đến một nhóm đối tượng đặc biệt_ tội phạm Hình phạt tù vừa là một biện pháp nhằm cách

ly tội phạm với xã hội lại vừa là một hình thức hạn chế một số quyền con người, quyền công dân nhất định Vì vậy, việc bảo đảm quyền con người của đối tượng thi hành án phạt tù có những đặc thù riêng nếu so với những cá nhân thông thường Điều này đặt ra những vấn đề cần giải quyết về cả lý luận lẫn thực tiễn cho nhà nước nói chung và các cơ quan trực tiếp thực hiện hoạt động thi hành án phạt tù nói riêng Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu về vấn đề bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù là hết sức cần thiết

Hiện nay, số lượng trại giam ở khu vực miền Bắc chiếm một tỷ lệ khá lớn trên

cả nước (21/45)3 Đây là những cơ sở trực tiếp thi hành án phạt tù với một số lượng phạm nhân tương đối đông Vì vậy, việc nghiên cứu điển hình các trại giam ở khu vực miền Bắc có thể cho chúng ta một cái nhìn tương đối rõ nét về tình hình bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án hình sự nói chung đồng thời cũng giúp đưa ra được những khuyến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi đối với vấn đề này Do đó, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học,

tác giả lựa chọn đề tài: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù từ thực tiễn các trại giam khu vực miền Bắc

3 Không tính các trại tạm giam là nơi thi hành án tử hình

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Ở nước ngoài

Phạm nhân hay những người chấp hành án phạt tù là một đối tượng xuất hiện phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới Do đó việc nghiên cứu về quyền của đối tượng này đã dành được sự quan tâm tương đối rộng rãi và có thể nói là đã đạt được mức độ sâu sắc rất đáng ghi nhận Trong đó có thể kể tới như:

- Cuốn sách Constitutional rights of prisoners (tạm dịch: các quyền hiến định

của phạm nhân) của tác giả John W Palmer, Routledge xuất bản, 2014, là một công trình nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh về quyền của phám nhân Trong đó đặc biệt

là về quyền được tiếp cận thông tin về bản án, quyền được hỗ trợ về y tế, quyền được đảm bảo điều kiện giam giữ.v.v Bằng những đối chiếu với pháp luật Hoa Kỳ, công trình được cho là một nghiên cứu toàn diện về vấn đề này

- Cuốn sách Prisoners as citizens, Human rights in Australian prisons (tạm

dịch: Phạm nhân với tư cách công dân, quyền con người ở các trại giam Úc) của David Brown và Meredith Wilkie cung cấp một góc nhìn về quyền của người thi hành án phạt tù ở Úc trong đó nhấn mạnh vấn đề bảo đảm quyền cho họ là một việc không thể thờ ơ bởi đây vẫn là những công dân và vẫn còn những quyền cơ bản mà

xã hội và nhà nước phải tôn trọng

- Cuốn cẩm nang Human rights and prisons là một tài liệu nghiên cứu do Liên

hợp quốc ấn hành được chuyên biệt hóa để cung cấp cho các cơ quan, cá nhân trực tiếp hoạt động tại các trại giam để nhận thức và vận dụng một cách đúng đắn những tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế đối với phạm nhân Cuốn sách không chỉ đề cập những quyền hiến định mà còn triển khai dưới nhiều góc độ như quyền của phạm nhân là nữ, phạm nhân dưới 18 tuổi, phạm nhân tù chung thân.v.v

Trang 9

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên thế giới về vấn đề rất đa dạng Đây

có thể là một nguồn tham khảo hữu ích cho cả lý luận lẫn thực tiễn

2.2 Ở Việt Nam

Là một vấn đề được quan tâm, quyền con người xuất hiện trong nhiều công trình nghiên cứu, với nhiều góc độ khác nhau Các công trình có phạm vi nghiên cứu tổng quát về quyền con người có thể kể tới như:

- Hoàng Văn Hảo, Phạm Khiêm Ích, Quyền con người trong thế giới hiện đại,

Viện thông tin khoa học xã hội, 1995

- Chu Hồng Thanh, Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997

- Trịnh Quốc Toản, Vũ Công Giao, Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp 2013, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2017

Riêng về lĩnh vực tư pháp, hình sự có thể kể tới như:

- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong

tố tụng hình sự, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011

- Nguyễn Đức Phúc, Thực hiện pháp luật về quyền con người của phạm nhân trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, 2016

- Trần Quang Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình

sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

Các cuốn sách trên đều là những công trình nghiên cứu dày dặn, với hàm lượng khoa học lớn có thể giúp bổ sung những tri thức nền tảng về quyền con người, đồng thời cung cấp cả phương pháp luận lẫn thông tin liên quan trực tiếp và cần thiết cho tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn

Trang 10

Ngoài ra, các công trình nghiên cứu ở khuôn khổ nhỏ hơn có thể kể tới như:

- Nguyễn Đức Phúc, Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền con người của phạm nhân trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam, Tạp chí Nghề luật, số 2/2016

- Vũ Huy Thuận, Bùi Thị Tú Oanh, Tăng cường các biện pháp kiểm sát bảo đảm việc bắt, tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tuân thủ đúng pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, Tạp chí Kiểm sát, số 09/2017

- Trần Quang Tiệp, Bảo vệ các quyền cơ bản của con người bằng pháp luật thi hành án hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Tạp chí Kiểm sát,

- Nguyễn Hữu Giang, Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản

lý phạm nhân ở trại giam theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, Tạp chí Tòa

án nhân dân, số 23/2017

- Nguyễn Xuân, Vấn đề công chứng cho người đang chấp hành án tại trại giam,

Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 09/2012

Trang 11

- Đặng Thế Hùng, Quan hệ phối hợp giữa trại tạm giam với Viện kiểm sát nhân dân trong quản lý người bị tạm giữ, tạm giam, Tạp chí Kiểm sát, số 22/2017

Nhìn chung các công trình có liên quan đến các chủ đề lớn như quyền con người trong tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và trại giam ở Việt Nam với mức độ bài viết tạp chí là khá nhiều Đây là những công trình có ý nghĩa tham khảo rất lớn cho luận văn bởi chúng đi vào giải quyết những khía cạnh chi tiết liên quan đến vấn đề tổng thể mà luận văn đề cập

3 Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở phân tích thực tiễn điển hình từ các trại giam khu vực miền Bắc trong việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù tại đây, đồng thời liên hệ với thực tiễn và tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế cũng như soi chiếu bằng lý luận; Luận văn cố gắng làm sáng tỏ những điểm đặc thù cần lưu ý của việc bảo đảm quyền con người của phạm nhân để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và các biện pháp thực thi pháp luật Đồng thời, Luận văn nhấn mạnh vào vai trò và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này để đảm bảo việc thực hiện các nguyên tắc hiến định về quyền con người đối chiếu với thực tiễn lĩnh vực thi hành án phạt

Trang 12

- Phân tích các quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam liên quan đến quyền con người trong thi hành án phạt tù

- Nghiên cứu thực tiễn bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở các trại giam khu vực miền Bắc

- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án phạt tù hướng tới bảo đảm quyền con người

4 Cơ sở phương pháp luật và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền con người

Mác Các phương pháp cụ thể được sử dụng là: phương pháp phân tích Mác tổng hợp (trong nghiên cứu lý thuyết về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù), phương pháp so sánh (trong đối chiếu các quy định, quy tắc, tiêu chuẩn của pháp luật Việt Nam và quốc tế), phương pháp thống kê (trong tập hợp và xử lý các thông tin, số liệu thực tiễn về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở các trại giam khu vực miền Bắc)

5 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Với chủ đề bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù từ thực tiễn các trại giam khu vực miền Bắc, đối tượng nghiên cứu của Luận văn có thể kể tới như: các quy định, quy chế, tiêu chuẩn pháp lý về bảo đảm quyền con người của các trại giam khu vực miền Bắc; thực tế về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, các hình thức hoạt động của các trại giam này liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền con người Trong đó, bên cạnh tổ chức, hoạt động nội tại của các trại giam, Luận văn cũng

Trang 13

đồng thời nghiên cứu công tác kết hợp, phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong việc bảo đảm quyền con người

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn về mặt không gian là khu vực miền Bắc, với các tỉnh từ Ninh Bình trở về phía Bắc (điều này sẽ được làm rõ trong phần nội dung) Trong đó, Luận văn lựa chọn nghiên cứu một số trại giam mang tính điển hình, bên cạnh việc xem xét tổng thế các trại giam ở khu vực này Về mặt thời gian, Luận văn chủ yếu nghiên cứu thực tiễn những năm gần đây, đặc biệt là sau khi có Hiến pháp 2013, Bộ Luật Tố tụng hình sự và phê chuẩn công ước UNCAT Đây là quãng thời gian phù hợp với mục tiêu và giới hạn khuôn khổ của Luận văn

6 Những điểm mới của Luận văn

- Nêu và phân tích một cách cụ thể ý nghĩa và đặc thù của việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù, đặc biệt là gắn với nhóm đối tượng đặc biệt là tội phạm

- Phân tích và chỉ ra ý nghĩa và yêu cầu của việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù với các quyền cụ thể, trong đó gắn với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế

- Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam khu vực miền Bắc với những lý giải

về điều kiện lịch sử, cụ thể của chúng

- Đưa ra những giải pháp, kiến nghị để các trại giam có thể thực hiện tốt việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù

7 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

Trang 14

Việc nghiên cứu Luận văn sẽ đóng góp một phần trong việc giải quyết về mặt khoa học một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến bảo vệ quyền con người

ở nước ta

Luận văn có thể là tài liệu quan trong trong hoạt động lập pháp, thực tiễn tổ chức và hoạt động của các trại giam và đồng thời trong nghiên cứu, giảng dạy

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam

- Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam khu vực miền Bắc

- Chương 3: Giải pháp bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù trong các trại giam miền Bắc

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ Ở CÁC TRẠI GIAM

Hoạt động tố tụng hình sự nói chung và thi hành án phạt tù nói riêng chứa đựng rất nhiều nguy cơ xâm phạm tới quyền con người Điều đó thể hiện ở chỗ đây

là hoạt động nhạy cảm, với đối tượng là tội phạm và cơ quan thực hiện thuộc lực lượng vũ trang4 Vì vậy, cả trên khía cạnh pháp lý lẫn lý luận, vấn đề bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù đều rất được quan tâm và đang ngày càng được hoàn thiện với những tiêu chuẩn mang tầm quốc tế Trong phần này, chúng tôi trình bày một số khía cạnh cơ bản về mặt lý luận như sau:

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam

1.1.1 Khái niệm bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt

tù ở các trại giam

Để hiểu được khái niệm bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành

án phạt tù ở các trải giam, chúng ta cần xem xét tới một số khái niệm có liên quan Đầu tiên, cần phải thấy rằng, quyền con người (hay nhân quyền) là một khái niệm

đã được thừa nhận rộng rãi với một định nghĩa thường xuyên được trích dẫn của

Liên hợp quốc, đó là: “quyền con người được hiểu là những đảm bảo pháp lí toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc

sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và sự tự do cơ bản

4 Đào Thị Hoài Thu, Mô hình tổ chức quản lý thi hành án ở một số nước – Kinh nghiệm và sự cần thiết đổi mới mô

hình tổ chức thi hành án của Việt Nam trong giai đoạn tới,

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=275

Trang 16

của con người.”5 Vì vậy, trên nền tảng những lý luận sẵn có về khái niệm quyền

con người, theo chúng tôi là đã hoàn toàn đầy đủ đề tiến tới xây dựng khái niệm về bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam mà không cần phải xây dựng nên một định nghĩa mới về quyền con người Vấn đề ở đây là chúng ta phải thấy được, quyền con người là một khái niệm rất rộng và bao hàm nhiều góc độ khác nhau cả về lĩnh vực, chủ thể lẫn tính chất của các quyền Mặc dù các cách phân loại truyền thống của quyền con người không chỉ rõ tới từng quyền cụ thể mà chỉ cố gắng phân nhóm chúng6 nhưng có thể thấy, quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam là một tập hợp các quyền

có liên quan trong lĩnh vực tư pháp Trong đó có thể kể tới nhiều quyền hiến định như quyền không bị tra tấn, quyền khiếu nại, tố cáo.v.v Có thể thấy, tố tụng hình

sự nói chung và thi hành án nói riêng là một lĩnh vực đặc biệt trong đời sống pháp

lý và ở đó có những mối liên hệ mật thiết với một số quyền con người cơ bản Vậy nên nhìn từ góc độ này, có thể thấy rằng quyền con người trong thi hành án phạt tù

ở trại giam cũng là một sự cụ thể hóa một số quyền nhất định vào trong lĩnh vực riêng biệt này mà thôi7

Bên cạnh đó còn một khía cạnh nữa cần làm rõ đó là “bảo đảm quyền con người” Cách hiểu ở Việt Nam về việc thế nào là “bảo đảm” quyền con người chịu ảnh hưởng từ một nguyên tắc hiến định về quyền con người Cụ thể, Khoản 1, Điều

14, Hiến pháp 2013 quy định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Như

5 Xem: United Nations, UNHCHR, Freequently asked questions on a human rights-based approach to development

cooperation, New York and Geneva, 2006, p 8 Định nghĩa này cũng được nhắc tới nhiều trong các giáo trình Luật

Hiến pháp, Luật nhân quyền ở Việt Nam

6 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, 2012, trang 61-69

7 Tham khảo thêm: Đoàn Thị Ngọc Hải, Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự - một số vấn đề cần trao đổi,

http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1828

Trang 17

vậy, “bảo đảm” ở đây được hiểu như một trong các nghĩa vụ của nhà nước mà song hành với nó là việc “công nhận”, “tôn trọng”, “bảo vệ” quyền con người Vì vậy các công trình nghiên cứu thường có xu hướng phân định rạch ròi các khía cạnh này ra Chẳng hạn như “bảo đảm” có nghĩa là nhà nước phải tạo ra cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ cá nhân trong việc thực hiện quyền8 Hay một số quan niệm tương tự

cho rằng: “bảo đảm quyền con người là việc tạo ra các điều kiện thuận lợi về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật văn hóa giáo dục để quyền con người được thực hiện”9 và “Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra các tiền

đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của

họ đã được pháp luật ghi nhận”10 Các khái niệm này hầu hết chỉ tiếp cận về việc bảo đảm quyền con người dưới góc độ phân biệt “bảo đảm” với những nghĩa vụ khác Bên cạnh đó, quan niệm quốc tế lại nhìn nhận rộng hơn cho rằng “bảo đảm” hàm chứa cả “tôn trọng” (respect), “bảo vệ” (protect) và “thực hiện” (fulfil)11 Ở đây, chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh pháp luật Việt Nam đã có phân biệt giữa nghĩa vụ bảo đảm quyền con người của nhà nước với những nghĩa vụ khác, cần nhìn nhận khái niệm “bảo đảm” ở nghĩa hẹp để tương thích hơn với quy định của hiến pháp và không bị sa đà quá nhiều vào những vấn đề quá rộng Từ đó có thể định nghĩa bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam như sau:

10 Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Thu Hương, Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật

hành chính Việt Nam (Một số vấn đề có tính phương pháp luận, định hướng nghiên cứu), Tạp chí Khoa học Đại học

Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 28, 2012

11 ESCR Committee, General recommendation No 14 (2000)

Trang 18

Bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam là việc các cơ quan nhà nước tạo ra các điều kiện về pháp lý, kinh tế, xã hội cho việc người chấp hành án phạt tù có thể thực hiện các quyền của họ

Định nghĩa trên cho chúng ta hình dung về một số đặc điểm của bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam như sau:

- Đầu tiên, việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt

tù ở trại giam là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước Điều này phản ánh việc nhà nước phải có “nghĩa vụ chủ động”12 đối với quyền con người Bảo đảm do đó thể hiện việc nhà nước phải thi hành nghĩa vụ của mình một cách tích cực hơn so với

“công nhận”, “tôn trọng”, “bảo vệ”

- Thứ hai, của bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù

ở trại giam gắn với một đối tượng và hoàn cảnh đặc thù, đó là người chấp hành án (tội phạm) và trong môi trường trại giam Do đó việc bảo đảm quyền con người trong trường hợp này sẽ gắn với một số quyền nhất định chứ không bao hàm tất cả các quyền con người nói chung

- Cuối cùng, việc của bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam sẽ gắn với những công việc cụ thể liên quan tới mặt pháp lý, chính trị, kinh tế có tác động tới sự hưởng thụ quyền của những người chấp hành

Trang 19

Nhìn chung, quyền con người trong thi hành án phạt tù là một lĩnh vực tương đối hẹp và do đó việc bảo đảm chúng sẽ có những điểm đặc thù nhất đinh, trong đó

phạt, được hiểu chung là: sự lên án, sự phạt của nhà nước, của xã hội đối với người phạm tội Nhưng đó không phải là sự lên án, sự phạt đơn thuần mà là biện pháp đặc biệt để răn đe (răn đe bằng tác động cưỡng chế nhà nước) để giáo dục , cải tạo người bị kết án, ngăn ngừa họ phạm tội lại14 Một cách cụ thể hơn, Điều 3, Luật thi

hành án hình sự quy định rằng việc phạt tù là “buộc phạm nhân phải chịu sự quản lí giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội.” Do đó việc thi hành hình phạt nói chung hay thi hành án phạt tù nói riêng đều hướng tới những mục đích hết sức cơ bản và cần thiết, đó là vừa răn đe nhưng lại vừa giáo dục

Ở đây, một vấn đề cần làm rõ trong mối quan hệ giữa bảo đảm quyền con người

và mục đích của việc thi hành án phạt tù, đó là tính tương xứng giữa chúng Rõ ràng hình phạt là sự hạn chế quyền rõ rệt nhất nhưng căn cứ, nội dung, mục đích nào là cơ sở cho sự hạn chế quyền đó mới là vấn đề quan trọng Tại Điều 14, Hiến pháp 2013 đã quy định rõ: quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế

Trang 20

theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng Đối chiếu với trường hợp đang được xem xét thì rõ ràng việc hạn chế quyền trong hoạt động thi hành án là thuộc trường hợp vì lý do trật tự, an toàn xã hội Điều này phản ánh ngay ở trong mục đích của hình phạt đã được trình bày ở trên Tuy nhiên, cần thấy rằng nguyên tắc tại điều 14 dường như vẫn chưa phản ánh đầy đủ thực tế của việc giới hạn quyền15 Vì vậy, thông thường người ta hay nói tới nguyên tắc tương xứng với ý nghĩa như một phương pháp xác định tính đúng đắn của việc giới hạn quyền16 Cụ thể, để phân tích và đánh giá tính tương xứng có bốn công đoạn17, bao hàm những yếu tố sau18: (1) Chính đáng, (2) Phù hợp, (3) Cần thiết, (4) Cân bằng Nói chung, trong tất cả các phương diện của hoạt động thi hành án phạt tù như giam giữ, lao động, kỷ luật, cùm chân.v.v đều phải có sự cân nhắc đến tính tương xứng giữa mục đích của hoạt động đó với sự tổn hại về quyền của phạm nhân

Đặc thù về các tác nhân có thể gây ảnh hưởng tới quyền con người trong điều kiện thi hành án phạt tù

Rõ ràng rằng, việc thi hành án phạt tù chứa đựng rất nhiều những tác nhân có thể ảnh hưởng tới quyền con người Khi xem xét tới việc bảo vệ các quyền cụ thể thì chúng ta phải cân nhắc tới các tác nhân này để hoàn thiện chúng Cụ thể, trong bối cảnh thi hành án phạt tù, phạm nhân bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố bên ngoài, trong đó có thể kể tới như:

Trang 21

- Chế độ ăn, mặc, ở của phạm nhân

- Việc tổ chức lao động sản xuất, dạy nghề cho phạm nhân

- Chế độ học tập của phạm nhân

- Chế độ chăm sóc y tế của phạm nhân

- Chế độ sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao của phạm nhân

- Chế độ gặp thân nhân, gửi, nhận thư, quà, tiền, trao đổi thông tin bằng điện thoại và mua hàng tại căng tin

- Chế độ khiếu nại, tố cáo

- Chế độ đối với phạm nhân thuộc những trường hợp đặc biệt (phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi; chưa thành niên, nghiện ma túy.v.v.)

Tất cả các yếu tố trên đều được quy định trong Luật thi hành án hình sự với một số nguyên tắc, định mức cụ thể Nói chung, các yếu tố đó tác động tới nhiều mặt của đời sống vật chất cũng như tinh thần của phạm nhân và từ đó gây ảnh hưởng tới quyền con người của họ Đặc thù của các yếu tố đó là tuy đã phần nào được xây dựng theo hướng bảo đảm quyền con người nhưng chung quy lại, bối cảnh thi hành án phạt tù vẫn khiến phạm nhân khó có thể thích nghi với điều kiện sống của trại giam19 Điều này là dễ hiểu nếu xét tới tính cưỡng chế của hình phạt

tù Tất nhiên là đời sống và điều kiện trại giam không thể giống với cuộc sống tự

do bên ngoài Tuy nhiên, việc xem xét các tác nhân có thể gây ảnh hưởng tới quyền con người, mà cụ thể là thông qua các chế độ của phạm nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhận thức từng khía cạnh cụ thể mà ở đó quyền của phạm nhân có thể bị xâm phạm quá mức

19 Chu Văn Đức, Thích ứng của phạm nhân với chế độ sinh hoạt và lao động tại trại giam, Tạp chí tâm lý học, số

10/2008

Trang 22

Đặc thù về đối tượng hưởng quyền

Trong hoạt động thi hành án phạt tù, đối tượng hưởng quyền, tức là phạm nhân là một chủ thể đặc biệt Điều đó không chỉ phản ánh trong những yếu tố nội tại (nhân thân, tâm lý) của phạm nhân mà còn thể hiện trong mối tương quan giữa phạm nhân với những người chấp hành án khác

Đầu tiên, cần phải thấy rằng, số lượng phạm nhân là rất cao Theo Báo cáo tổng kết công tác thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp năm 2017 thì số lượng phạm nhân (tính đến ngày 15/11/2017) là 139.445 người Với số lượng lớn như vậy, rõ ràng việc bảo đảm quyền cho nhóm đối tượng này là rất đáng quan tâm

Thứ hai, xét trên góc độ chủ quan, có thể thấy phạm nhân là một đối tượng

có đặc điểm tâm lý rất phức tạp Điều đó không chỉ xuất phát từ môi trường nơi họ phải chấp hành án mà còn là ở quá khứ, hành vi, tội lỗi của họ nữa Một nghiên cứu20 đã chỉ ra những đặc điểm chung về mặt tâm lý của phạm nhân trên các khía cạnh sau:

- Trạng thái tâm lý pha trộn với nhiều cảm xúc tiêu cực: bi quan, tuyệt vọng, buồn, ức chế.v.v

- Tư duy bị hạn chế, đơn giản hóa, thiếu độc lập, thiếu định hướng, dễ kích động, dễ bộc lộ sự tàn bạo, độc ác, ích kỷ.v.v

- Quá trình chuyển biến tâm lý diễn ra chậm

Nói chung, xét trên khía cạnh tâm lý, đặc điểm của phạm nhân phản ánh phần nào sự cần thiết của việc bảo đảm hơn nữa quyền của họ, để đưa họ tới những trạng thái tích cực hơn, góp phần tái hòa nhập sau này

20 Chu Văn Đức, Một số đặc điểm tâm lý của phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, Tạp chí Tâm lý

học, số 4/2007

Trang 23

Thứ ba, trên góc độ nhân thân, khoa học về tội phạm thường nghiên cứu trên các góc độ khác nhau như: giới tính, độ tuổi, trình độ văn hóa, địa vị xã hội21 Riêng đối với phạm nhân, có thể tham khảo thêm một số yếu tố khác như: mức án, tiền án tiền sự Một kết quả nghiên cứu điển hình22 nhưng đã cho thấy đặc điểm chung của phạm nhân dựa trên các yếu tố nhân thân như sau:

- Về độ tuổi, nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 18-29, thấp nhất là từ 60 trở lên

- Về mức án, phạm nhân có mức từ 5 đến 19 năm là cao nhất, thấp nhất là chung thân

- Về trình độ, đa số phạm nhân chưa đạt tới trình độ trung học phổ thông Những đặc điểm trên phần nào phản ánh nhân thân của phạm nhân, trong đó

đa phần đang ở độ tuổi lao động nhưng trình độ học vấn khá thấp và có thời gian chịu án tương đối dài Điều đó cho thấy đây là nhóm đối tượng có thể ít hiểu biết về các quyền chính đáng của bản thân

Tóm lại, thông qua việc nghiên cứu cả ba mặt nói trên, có thể rút ra một số điểm về đặc thù của việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù như sau:

- Sự hạn chế quyền con người trong thi hành án phạt tù phải tương xứng với mục đích và nhu cầu của hình phạt tù

- Chế độ giam giữ và các hoạt động khác trong trại giam là những tác nhân

cơ bản ảnh hưởng tới quyền con người của phạm nhân

- Phạm nhân là đối tượng hưởng quyền có tính chất đặc biệt và phức tạp

21 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tội phạm học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, trang 159

22 Dương Văn Đại, Vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam thuộc Bộ

Công an (Nghiên cứu trường hợp trại giam Nam Hà), Luận án tiến sĩ xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội

và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014

Trang 24

Qua đó cần thấy rằng, việc bảo đảm quyền của phạm nhân là điều hết sức cần thiết và phải được thực hiện một cách phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhân thân của họ Việc bảo đảm quyền của phạm nhân được thực hiện thông qua các chế độ sống, làm việc, sinh hoạt nhưng phải đảm bảo sự tương xứng cần thiết với mục đích răn đe và giáo dục của hình phạt tù

1.1.3 Vai trò của việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành

án phạt tù ở các trại giam

Nói chung, của bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù

ở trại giam có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng Đầu tiên, phải thấy rằng, xuất phát

từ quan điểm quyền con người là những “nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người”23, rõ ràng rằng những người chấp hành án dù bị hạn chế bớt một số quyền nhưng vẫn có một số quyền khác không thể tước bỏ được Việc bảo đảm những quyền này là không thể dù án phạt tù có mục đích trừng phạt họ Bên cạnh đó, việc bảo đảm quyền của người chấp hành án có vai trò rất quan trọng trong việc giúp họ tái hòa nhập cộng đồng Đây là một mục tiêu quan trọng đã được khẳng định trong Chỉ thị 48/CT-TƯ ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị24 Ngoài ra, việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện trách nhiệm của nhà nước Việt Nam thực thi các điều ước quốc tế có liên quan Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam trình bày tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ở Geneva,

Thụy Sỹ ngày 08/5/2009 cũng khẳng định: “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế, xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người” Và Việt Nam hiện nay

23 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Sđd, trang 38

24 Chỉ thị 48/CT-TƯ ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị đã tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong việc phòng

ngừa tội phạm, “lấy phòng ngừa là chính” và “Quan tâm hỗ trợ những người lầm lỗi đã cải tạo tốt để sớm ổn định

cuộc sống, tái hòa nhập với cộng đồng”

Trang 25

là thành viên của rất nhiều điều ước quốc tế có liên quan mà trọng tâm là Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự

và chính trị (ICCPR)

Tóm lại, bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam là một vấn đề lý luận quan trọng Một mặt nó là sự bổ sung cho những lý thuyết sâu hơn về bảo đảm quyền con người nói chung Mặt khác nó là định hướng cho việc triển khai việc bảo đảm quyền của người chấp hành án trong thực tế, nhằm giúp họ thụ hưởng được những quyền của mình, góp phần cải tạo và tái hòa nhập cho họ, đồng thời cũng là một động thái thể hiện nghĩa vụ tận tâm, thiện chí thực hiện các điều ước quốc tế của Việt Nam

1.2 Nội dung và điều kiện bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam

1.2.1 Nội dung bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt

tù ở các trại giam

Như đã trình bày, việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án

tù ở các trại giam là một vấn đề liên quan tới nhiều khía cạnh mà nhà nước phải thực hiện để người thi hành án được thụ hưởng quyền của mình Cụ thể, ở đó nhà nước phải chuẩn bị những điều kiện cần thiết trên nhiều mặt như:

- Về pháp lý: Nhà nước phải hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù Một mặt, những điều khoản trong các văn bản pháp luật từ Hiến pháp trở xuống cần được cụ thể và chi tiết hóa Mặt khác, các điều ước quốc tế có liên quan cũng cần phải được nội luật hóa hay cập nhật dần trong các văn bản cụ thể25 Một trong những bước đáng chú ý đó là

25 Lê Văn Sua, Pháp luật hình sự Việt Nam với yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Công ước

chống tra tấn, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1936

Trang 26

việc Việt Nam tham gia Công ước của Liên Hợp quốc về chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo loặc làm mất phẩm giá Việc này vừa thể hiện một cam kết chính trị của Việt Nam đối với thế giới lại vừa đặt ra nhu cầu chuẩn bị những yếu tố về mặt pháp lý để nội dung Công ước được cụ thể hóa trong thực tiễn Việc đó đặt ra nhiều vấn đề cho pháp luật tố tụng hình sự cũng như các ngành luật khác có liên quan Khi có được những cơ sở pháp lý đầy đủ và rõ ràng, việc thực hiện các quy định của pháp luật nhằm thúc đẩy hơn nữa quyền của người chấp hành án sẽ được thực hiện một cách nhất quán và rõ ràng

- Về điều kiện kinh tế, xã hội, vai trò của nhà nước cũng rất quan trọng, đặc biệt là trong việc thiết lập những yếu tố thuộc cơ sở vật chất, hạ tầng nhằm đảm bảo quyền con người cho phạm nhân đang chịu hình phạt tù Các yếu tố đó gắn liền với hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam, tức là bao gồm một số mặt như: cơ sở vật chất trại giam, phòng thi hành án, phương tiện thông tin, liên lạc.v.v Một mặt khác, vai trò của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm việc ở trại giam cũng là một vấn đề quan trọng và nhà nước cũng cần phải xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ này một cách bài bản, hiệu quả để có thể đảm bảo quyền của người chấp hành án26 Ngoài

ra, điều kiện kinh tế, xã hội thường xuyên thay đổi cùng với sự phát triển của đời sống xã hội Do đó việc bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù trên góc độ kinh tế, xã hội phải là công việc được thực hiện thường xuyên, liên tục

Tóm lại, nội dung của hoạt động bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù tập trung trên hai phương diện cơ bản: pháp luật và kinh tế, xã hội Giữa hai mặt này cũng có những sự tác động qua lại Sự bảo đảm về mặt pháp lý là cơ sở cho việc cụ thể hóa những bảo đảm về mặt kinh tế, xã hội; trong khi đó những nhu cầu đặt ra từ thực tiễn bảo đảm về kinh tế, xã hội cũng đòi hỏi pháp luật phải có

26 Nguyễn Thị Mai Anh, Nguyễn Văn Đại, Bảo đảm quyền của người đang chấp hành bản án tại các trại giam - Từ

thực tiễn kiểm sát án của Viện Kiểm Sát nhân dân, Hội thảo “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng”,

Đại học Vinh, 12/2017

Trang 27

những sự phát triển phù hợp Do đó, bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở các trại giam là một hoạt động có nội dung xuyên suốt và nhất quán giữa cả hai mặt nói trền Để quyền của người chấp hành án được bảo đảm thì

cả hai mặt đều phải được thực hiện một cách đồng bộ và nghiêm túc

1.2.2 Điều kiện bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt

tù ở các trại giam

1.2.2.1 Điều kiện về chính trị

Cần phải thấy rằng, thi hành án phạt tù và bảo đảm quyền con người trong hoạt động này là một vấn đề chính trị được quan tâm và nằm trong một tổng thể của công tác tư pháp nói chung Ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát là xây dựng nền tư pháp “trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa” Thi hành án phạt tù là một vấn đề quan trọng thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước ta đối với công tác cải tạo, giáo dục những người lầm lỗi Hoạt động thi hành án phạt tù của chúng ta một mặt nhằm đề cao tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao pháp chế Xã hội chủ nghĩa, mặt khác, đó là quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân để giúp họ nhận thức một cách sâu sắc sai lầm của mình và từ đó, họ tự giác cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của đời sống xã hội, ngăn ngừa hành

vi tái phạm tội và hơn nữa là giúp họ sớm hoàn lương để trở về với cộng đồng xã hội Việc áp dụng thi hành án phạt tù ở nước ta phải luôn quán triệt phương châm

“kết hợp giữa trừng phạt và cải tạo”, trong đó đặt công tác giáo dục, cải tạo con người lên hàng đầu nhằm giúp người thi hành án phạt tù chuyển hóa về mặt tư

Trang 28

tưởng, tích cực sửa chữa thói xấu trong ứng xử trái với chuẩn mực của xã hội để tìm lại chân giá trị của mình trong đời sống xã hội27

Về khía cạnh quyền con người, Đảng cũng đã có những quan điểm tương đối

rõ ràng và nhất quán Trước hết, Đảng và Nhà nước ta khẳng định quyền con người

là thành quả và khát vọng chung của nhân loại Đảng chỉ rõ: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”28

Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ những giá trị cao quý

về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi Từ đó Đảng chỉ đạo “ Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính về phẩm giá con người”29

Nói chung, xét trên phương diện chính trị, quan điểm của Đảng về cả vấn đề thi hành án lẫn vấn đề quyền con người đều đã khá đầy đủ và rõ ràng Đặc biệt, một

số định hướng lớn và quan trọng đã được Nghị quyết 49 nêu ra như:

- Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án

- Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục

để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án

27 Nguyễn Đình Đặng Lục, Cải cách tư pháp và một số kinh nghiệm của nước ngoài về thi hành án phạt tù, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, tháng 4/2006

28 Chỉ thị 12/TW của Ban Bí thư, ngày 12-7-1992

29 Cương lĩnh Cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị Quốc gia 1998, trang 120

Trang 29

Đây là hai định hướng có ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới công tác thi hành án nói chung và thi hành án phạt tù ở trại giam nói riêng hướng tới bảo đảm tốt hơn nữa quyền của người chấp hành án

1.2.2.2 Điều kiện về pháp luật

Hiện nay, trọng tâm của vấn đề bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù đang nằm ở pháp luật thi hành án hình sự Tuy vậy, những điều kiện về mặt pháp luật vẫn chưa thực sự đạt được kỳ vọng Cụ thể, Luật Thi hành án hình sự

2010 sau hơn 7 năm thi hành đã bộc lộ những hạn chết nhất định Theo Bộ Công

an, tổng kết thực tiễn hơn 07 năm thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2010 cho thấy do được ban hành từ lâu nên Luật chưa cụ thể hóa được các quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người trong thi hành án hình sự, nhiều quy định của Luật không còn phù hợp với các đạo luật về tư pháp mới được ban hành

và tình hình thực tiễn cần phải sửa đổi, bổ sung30 Nhận thức được điều trên, Luật Thi hành án hình sự đang trong quá trình sửa đổi Tuy nhiên, sự thiếu vắng những quy định cần thiết, đặc biệt là sau khi nước ta đã có bản Hiến pháp 2013 và phê chuẩn Công ước chống tra tấn Đã có những quan điểm31 chỉ ra một số bất cập trong Luật Thi hành án hình sự hiện hành, đặc biệt là nhìn từ góc độ đối sánh với các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế có liên quan như:

- Nguyên tắc thi hành án hình sự chưa nhắc tới vấn đề “sức khỏe” của người

chấp hành án trong khi Bộ Các quy tác tiêu chuẩn về đối xử với tù nhân năm 1955

của Liên hợp quốc đã lưu ý rõ về điều này

30 nguoi-huong-an-treo-397623.html

http://baophapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/sua-doi-luat-thi-hanh-an-hinh-su-se-rut-ngan-thoi-gian-thu-thach-doi-voi-31 Nguyễn Thị Lan, Một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam nhằm bảo vệ quyền con

ngườicuủa người chấp hành án phạt tù, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 3/2015

Trang 30

- Luật thi hành án hình sự thiêu vắng những quy định về dụng cụ giam giữ như cũi, xiềng xích, cùm chân, cùm tay Hệ quả của điều này có thể sẽ là sự lạm dụng pháp luật dẫn tới xâm phạm quyền của người chấp hành án

- Vấn đề giới tính, tình dục, sinh sản vẫn chưa được quan tâm rõ ràng trong pháp luật Đặc biệt cả Luật thi hành án hình sự lẫn Nghị định 117/2011 và Thông tư liên tịch 04/2010 vẫn chưa đề cập tới các vấn đề nhạy cảm này

Nói chung, những điều kiện về pháp luật là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay Tuy còn những bất cập nhất định nhưng những bước đi tới của pháp luật thi hành án hình sự đã hướng theo mục tiêu bảo đảm hơn nữa quyền con người32 Đây là định hướng đúng đắn và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam

1.2.2.3 Điều kiện về kinh tế

Có thể thấy, những điều kiện về kinh tế có tác động rất lớn tới thực tiễn bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam Hiện nay nguồn kinh phí cho hoạt động thi hành án do ngân sách nhà nước chi trả33 Ngoài

ra, Luật thi hành án cũng quy định một phần kết quả lao động của phạm nhân cũng

sẽ được chi hỗ trợ đầu tư trở lại cho trại giam sau khi trừ đi các chi phí cơ bản Cần phải thấy rằng, khi các yếu tố kinh tế được đảm bảo thì hoạt động thi hành án hình

sự nói chung mới có khả năng được cải thiện Về vấn đề kinh phí cho hoạt động thi hành án hình sự nói chung, bài học từ việc chuyển đổi hình thức tử hình sang tiêm thuốc độc gây quá nhiều tốn kém khiến công tác này bị trì hoãn34 đã cho thấy tầm

Trang 31

http://vkshanoi.gov.vn/chi-tiet-tin/mot-so-bat-cap-trong-cong-tac-thi-hanh-an-tu-hinh-bang-hinh-thuc-tiem-thuoc-quan trọng của yếu tố kinh tế với việc thi hành án Đối với hoạt động thi hành án phạt tù cũng vậy, sự thiếu thốn về tài chính cũng dẫn đến nhiều hệ quả không tốt như35:

- Cơ sở trại giam chưa đáp ứng được yêu cầu giam giữ phạm nhân

- Thiếu biên chế cho cán bộ y tế, sư phạm

- Công tác quản lý phạm nhân còn nhiều bất cập, vẫn còn tình trạng vượt ngục

Nói chung, nếu phải so sánh với các cơ sở giam giữ ở nhiều nước tiên tiến thì Việt Nam vẫn còn rất thô sơ, lạc hậu Điều này tác động rất lớn tới việc bảo đảm quyền cho người chấp hành án phạt tù Rõ ràng rằng, trong bối cảnh các tiêu chuẩn quốc tế cũng như khu vực về điều kiện giam giữ đang ngày ngày thay đổi theo hướng hiện đại hơn, thuận tiện hơn cho người chấp hành án thì việc chậm cải cách chế độ tài chính cho hoạt động giam giữ sẽ khiến chúng ta trở nên tụt hậu Để làm tốt hơn nữa, việc nhà nước quan tâm dành một nguồn kinh phí lớn hơn là điều cần thiết nhưng song song với nó là việc phải dần dần xã hội hóa thi hành án hình sự nhằm tận dụng những nguồn lực khác từ khối tư nhân36

1.3 Yêu cầu bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt

tù với một số quyền cụ thể

1.3.1 Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trứng phạt tàn bạo,

vô nhân đạo hoặc hạ nhục

UDHR và ICCPR lần lượt ghi nhận quyền này tại Điều 5 (UDHR) và Điều 7 (ICCPR) vào năm 1948 và 1966 nhưng lại không đưa ra một định nghĩa rõ ràng về

35 Theo: Trần Thị Thu Hằng, Hình phạt tù và thi hành hình phạt tù – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn

thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011

36 Đào Thị Hoài Thu, Bàn về vấn đề xã hội hóa trong thi hành án,

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=280

Trang 32

13 “tra tấn” Phải đến năm 1984 thì Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối

xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT) mới đưa ra khái niệm về tra tấn như sau:

“Thuật ngữ “tra tấn” có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức Khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với, hoặc có liên quan đến, các biện pháp trừng phạt hợp pháp”

Tuy nhiên, CAT cũng nêu rõ nội hàm của khái niệm trên được căn cứ vào mục đích của Công ước là để cuộc đấu tranh chống tra tấn và đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm được hiệu quả hơn37 Điều 5 UDHR ghi nhận: “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm”; Điều 7 ICCPR nói rằng: “Không ai có thể bị tra tấn, đối

xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm Đặc biệt, không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó”

Ở phiên họp lần thứ 16, 1982, HRC/UNHRC đã giải thích về Điều 7 ICCPR tại Bình luận chung số 7 Trong phiên họp thứ 39, 1990, Ủy ban đã phản ánh, phát triển và thay thế Bình luận chung số 7 bằng Bình luận chung số 20 với các nội dung

37 Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, NXB Lao động – Xã

hội, Hà Nội, 2011, trang 148

Trang 33

cơ bản như sau: - Mục đích của Điều 7 ICCPR: bảo vệ phẩm giá và sự toàn vẹn về thể chất và tinh thần của cá nhân - Không có giới hạn quyền đối với các quy định trong Điều 7 ICCPR, kể cả trong tình trạng khẩn cấp quốc gia

- Nội hàm của các khái niệm nêu trong Điều 7 ICCPR (tra tấn, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục) căn cứ vào bản chất, mục đích và tính chất nghiêm trọng của hành động đã thực hiện - Phạm vi ngăn cấm: các hành động gây ra đau đớn về thể chất lẫn tinh thần; các hành động nhục hình, đánh đập tàn nhẫn để trừng phạt tội phạm hay để giáo dục, rèn luyện đối với học sinh, bệnh nhân - Việc kéo dài thời gian biệt giam hoặc tù giam một người, kể cả người đã bị kết án tử hình mà không có lý do chính đáng cũng bị coi là hành động tra tấn Việc thi hành án tử hình phải thực hiện theo cách thức làm giảm đến mức tối thiểu sự đau đớn về thể xác và tinh thần cho tử tù38

Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988 cũng quy định tại nguyên tắc 6 là: “Không người nào bị giam hoặc cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào bị tra tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm Không được viện dẫn bất kỳ hoàn cảnh nào để biện minh cho việc tra tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” Pháp luật Việt Nam quy định quyền này tại các Điều

71, 72 Hiến pháp; Điều 6, 7, 9 Bộ luật tố tụng hình sự và các chương XII, XXII Bộ luật hình sự cũng chính là sự khẳng định về mặt pháp lý về bảo vệ quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục

1.3.2 Quyền được đảm bảo mức sống tiêu chuẩn đầy đủ

Tuyên ngôn nhân quyền, tại Điều 25, tuyên bố quyền của mọi người được có một mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình mình, bao gồm các khía cạnh về

38 Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của các Ủy ban Công ước

Liên Hợp Quốc, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2010, trang 287

Trang 34

ăn, mặc, nhà ở ICESCR, tại khoản 1, Điều 11 tái khẳng định quyền này, và đòi hỏi mọi người phải được hưởng sự không ngừng cải thiện điều kiện sống Khoản 2 Điều 11 này còn khẳng định quyền của mọi người không bị đói Thông thường, quyền được đảm bảo mức sống tiêu chuẩn đầy đủ được xem xét dưới ba khía cạnh bao gồm: 1) Nơi ở; 2) Lương thực, thực phẩm và nước sạch; 3) Quần áo và nơi ngủ

Trên khía cạnh thi hành án phạt tù, cả ba khía cạnh trên đều được phản ánh một cách rõ rệt trong pháp luật quốc tế, đặc biệt là trong Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân năm 1955 Cụ thể là các tiêu chuẩn như sau:

- Đầu tiên là về nơi ở: Bộ tiêu chuẩn trên quy dịnh rõ rằng: Ở nơi nào mà chỗ ngủ là buồng hoặc phòng cá nhân thì vào buổi tối, mỗi tù nhân phải được ở trong một buồng hay phòng của chính người đó Nếu vì những lý do đặc biệt, chẳng hạn như tạm thời có quá đông tù nhân, thì việc ban quản lý trung ương của nhà tù thực hiện một ngoại lệ đối với quy tắc này là cần thiết Không nên có hai tù nhân trong một phòng hay một buồng Ở nơi nào sử dụng phòng tập thể thì tù nhân phải được lựa chọn cẩn thận để phù hợp cho việc kết giao giữa họ với nhau trong những điều kiện đó Phải có sự giám sát thường xuyên vào buổi tối theo đúng bản chất của loại nhà tù này Mọi nơi ăn chốn ở cho tù nhân và đặc biệt là nơi ngủ phải đáp ứng được các yêu cầu về y tế, có chú ý đúng mức đến các điều kiện khí hậu và đặc biệt là các điều kiện về dung tích không khí, diện tích sàn tối thiểu, ánh sáng, sưởi ấm và thông hơi Ở tất cả những nơi có tù nhân ở hay lao động thì cửa sổ phải đủ lớn để tù nhân có thể đọc hoặc lao động được dưới ánh sáng tự nhiên, phải được xây sao cho không khí trong lành có thể vào được, dù có đường thông hơi nhân tạo hay không Đồng thời phải cung cấp đủ ánh sáng nhân tạo để tù nhân có thể đọc và làm việc

mà không hại đến thị lực Khu vệ sinh phải thỏa đáng để mọi tù nhân có thể đáp ứng được nhu cầu tự nhiên khi cần thiết và phải sạch, tươm tất Phải có chỗ tắm

Trang 35

thỏa đáng sao cho mỗi tù nhân có thể và buộc phải tắm ở nhiệt độ phù hợp với khí hậu, ở mức thường xuyên cần thiết cho việc giữ vệ sinh chung tùy theo mùa và vùng địa lý, nhưng phải tắm ít nhất một tuần một lần trong điều kiện khí hậu ôn hòa Tất cả những bộ phận của nhà tù thường xuyên có tù nhân phải được bảo quản thích hợp và phải luôn thật sạch sẽ

- Tiếp theo là về lương thực, thực phẩm và nước sạch Bộ tiêu chuẩn quy định, vào những giờ thường lệ, mỗi tù nhân phải được ban quản lý nhà tù cung cấp những thức ăn đủ dinh dưỡng để đảm bảo sức khỏe và thể lực, đủ chất và được chuẩn bị và phục vụ chu đáo Nước uống phải luôn có sẵn cho mọi tù nhân bất cứ khi nào họ cần Có thể nói các quyền về thực phẩm và nước sạch của phạm nhân được xây dựng trên nền tảng căn bản là Công ước quốc tế về các quyền dân sự,

chính trị Quyền này được giải thích với tính chất phổ quát của nó như sau: “quyền này được bảo đảm khi mỗi người, bất kể nam hay nữ, người lớn hay trẻ em, ở một mình hay cùng với cộng đồng, trong bất kỳ lúc nào cũng được tiếp cận với lương thực, thực phẩm hoặc với các nguồn lực để mua được lương thực, thực phẩm một cách thỏa đáng Như vậy, quyền này không chỉ được diễn giải theo một cách hiểu hạn hẹp là quyền có một lượng tối thiểu về năng lượng, chất đạm và các chất dinh dưỡng đặc thù khác Việc bảo đảm quyền này cần có tiến trình, tuy nhiên, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện những hành động cần thiết để giảm bớt và hạn chế nạn đói kể cả khi xảy ra thảm hoạ tự nhiên hoặc do những nguyên nhân khác”39

- Về quần áo và nơi ngủ, Các tiêu chuẩn 1955 nêu rõ: Mỗi tù nhân không được phép mặc quần áo của mình thì phải được cung cấp quần áo vừa với người, phù hợp với khí hậu và đủ để giữ sức khỏe Những quần áo này không được thể

39 Bình luận chung của Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được trích dẫn trong chương này trong: http://www2.ohchr.org/english/bodies/IIICESCR/comments.htm

Trang 36

hiện sự hạ nhục hay lăng mạ Tất cả quần áo phải được giặt sạch và cất giữ trong điều kiện phù hợp Quần áo lót phải được thay và giặt càng thường xuyên càng tốt

để giữ vệ sinh Trong những trường hợp ngoại lệ, bất cứ khi nào một tù nhân được chuyển đi khỏi nhà tù vì lý do được phép nào đó, người đó phải được phép mặc quần áo riêng của mình hay quần áo khác để không ai biết mình là tù nhân Nếu tù nhân được phép mặc quần áo của mình thì phải có sự sắp xếp khi nhận họ vào tù để đảm bảo rằng quần áo sạch và vừa với họ Tùy theo tiêu chuẩn quốc gia hay địa phương mà mọi tù nhân phải được cung cấp một giường riêng, có chăn đệm riêng

và đủ dùng, đã được giặt sạch khi phát, được cất giữ tốt và thay đổi thường xuyên nhằm bảo đảm sạch sẽ

Nói chung, pháp luật quốc tế đã có những quy định tương đối cơ bản và đầy

đủ trên khía cạnh quyền được đảm bảo mức đống tiêu chuẩn của phạm nhân Các quy định này còn được làm rõ thông qua nhiều văn bản khác như Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với người vị thành viên

1985, Điều 13 Công ước về quyền của người khuyết tật 2007.v.v Ở Việt Nam, Nghị định 117/2011/NĐ-CP và Nghị định 90/2015/NĐ-CP cũng đã có những quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để xem xét, đối chiếu

và nghiên cứu nhằm đảm bảo tốt hơn nữa quyền của phạm nhân

1.3.3 Quyền tiếp cận thông tin, liên lạc với bên ngoài

Tiếp cận thông tin, liên lạc với bên ngoài là một nhu cầu cơ bản của phạm nhân Điều này là dễ hiểu bởi hình phạt tù có tính chất cơ bản là cách ly phạm nhân

ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định Chính sự cách ly đó đã hạn chế các quyền này, khiến nhu cầu của phạm nhân lại càng gia tăng hơn Việc tước đoạt quyền giao tiếp với những người xung quanh của một cá nhân làm tổn hại tới tinh

Trang 37

thần, sức khỏe cũng như phẩm giá của người đó Hơn thế, việc gặp gỡ hay liên lạc với những người khác có ý nghĩa tạo ra sự minh bạch, hạn chế sự vi phạm các quyền khác của cá nhân Vì vậy, việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin, liên lạc với bên ngoài là rất quan trọng Pháp luật quốc tế và Việt Nam đều nhận thức rõ được việc phải giúp cho phạm nhân phần nào được thỏa mãn quyền đó để tránh những tác động xấu tới cho họ Cụ thể, Các tiêu chuẩn 1955 quy định:

Mọi tù nhân khi vào nhà tù phải được cung cấp thông tin dưới dạng văn bản

về quy định về đối xử với loại tù nhân như người đó, yêu cầu về kỷ luật của nhà tù, các biện pháp được phép để có thông tin, để khiếu nại và mọi vấn đề khác cần thiết

để người tù có thể hiểu quyền hạn và nghĩa vụ của mình và nhằm điều chỉnh bản thân cho phù hợp với đời sống trong tù Nếu một tù nhân không biết chữ, những thông tin nói trên phải được truyền đạt bằng miệng tới người đó

Dưới sự giám sát cần thiết, tù nhân phải được phép tiếp xúc với gia đình và bạn bè tốt của họ vào những thời gian thường lệ, cả bằng thư từ lẫn thăm viếng Tù nhân là người nước ngoài phải được tạo điều kiện thuận lợi một cách thỏa đáng để tiếp xúc với các đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của quốc gia của tù nhân đó Tù nhân là công dân của một quốc gia không có đại diện ngoại giao hay lãnh sự ở quốc gia giam giữ và là người tỵ nạn hay người không có quốc tịch phải được phép tiếp xúc với đại diện ngoại giao của quốc gia chịu trách nhiệm về quyền lợi của họ hay với bất kỳ cơ quan quốc gia hay quốc tế nào có nhiệm vụ bảo vệ những người như vậy Tù nhân phải thường xuyên được biết những tin tức quan trọng thông qua việc đọc báo, tạp chí định kỳ hay những ấn phẩm đặc biệt của nhà tù, thông qua nghe đài, diễn thuyết hay bất kỳ biện pháp tương tự nào do ban quản lý nhà tù cho phép

và kiểm soát

Trang 38

Ở Việt Nam, văn bản mới nhất quy định về vấn đề này phải kể tới đó là Thông tư 07/2018 quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân Quy định tại đây được coi là sự mở rộng và bảo đảm tốt hơn nữa quyền của phạm nhân40 trong lĩnh vực này với một số nội dung như: phạm nhân được phép ăn cơm cùng người nhà tại trại giam, phạm nhân được gửi tiền về nhà.v.v

Nói chung, việc mở rộng hơn nữa quyền tiếp cận thông tin và liên lạc với bên ngoài có nhiều ý nghĩa quan trọng:

- Đầu tiên, đó là những bảo đảm để phạm nhân có thể chấp hành tốt hình phạt tù, tránh cho họ bị rơi vào tình trạng bị đối xử quá khắc nghiệt

- Tiếp theo, tiếp cận thông tin và liên lạc với bên ngoài là phương tiện giúp phạm nhân cải tạo tốt và tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành án41

- Cuối cùng, việc tiếp cận thông tin và liên lạc với bên ngoài giúp tăng tính minh bạch của hoạt động giam giữ và qua đó góp phần bảo vệ tốt hơn cho các quyền khác của phạm nhân

1.3.4 Quyền khiếu nại, tố cáo

Người chấp hành án hình sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan

có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền thi hành án hình sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Người chấp hành án và mọi công dân

có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền nào trong thi hành án hình sự gây thiệt hại hoặc đe

40 trai-giam-a223514.html

http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/nhung-dieu-kien-de-pham-nhan-duoc-phep-an-com-cung-nguoi-nha-tai-41 Nguyễn Văn Nam, Vấn đề tái hòa nhập cộng đồng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tái hòa nhập cộng

đồng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10/2014

Trang 39

doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Các quyền này được tạo ra trước hết là để phạm nhân tự bảo vệ quyền và lợi chính đáng của mình trong quá trình chấp hành hình phạt tù Vấn đề khiếu nại, tố cáo của phạm nhân liên quan đến hoạt động của trại 20 giam, giải quyết tốt nó sẽ có tác dụng hết sức thiết thực trong công tác quản lý, giam giữ và giáo dục cải tạo phạm nhân

Có thể nói, quyền khiếu nại, tố cáo là một phương tiện để phạm nhân tự bảo

vệ bản thân trước sự xâm phạm quyền có thể bị thực hiện bởi người khác Các tiêu chuẩn tối thiếu 1955 quy định khá rõ về vấn đề này:

Vào ngày làm việc trong tuần, mọi tù nhân phải có cơ hội đề nghị hay khiếu nại với giám đốc nhà tù hoặc người được ủy quyền đại diện cho giám đốc nhà tù

Tù nhân có thể đề nghị hay khiếu nại tới thanh tra viên nhà tù trong thời gian thanh tra Tù nhân phải có cơ hội nói chuyện với thanh tra viên hay bất kỳ viên chức thanh tra nào khác mà không có mặt giám đốc hay những cán bộ, nhân viên khác của nhà tù Mọi tù nhân phải được phép đề nghị hay khiếu nại với ban quản lý trung ương của nhà tù, cơ quan xét xử hay các nhà chức trách thích hợp khác mà không bị kiểm duyệt nội dung, nhưng phải theo mẫu phù hợp qua những kênh đã được chấp thuận Mọi đề nghị hoặc khiếu nại trừ khi rõ ràng là không có cơ sở hay quá vụn vặt, phải được giải quyết kịp thời và được phản hồi không chậm trễ

Ở Việt Nam, quyền khiếu nại, tố cáo của phạm nhân được quy định khá rõ Trước hết, trong tố tụng hình sự nói chung, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng

và những người tiến hành tố tụng Thứ ba, cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc

Trang 40

phục Trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết việc khiếu nại, tố cáo tại chương XXXV của Bộ luật tố tụng hình sự Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân chủ của hoạt động Tố tụng hình sự, là phương tiện bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và công dân, là một trong các hình thức để phát hiện và khắc phục các vi phạm trong tiến trình giải quyết vụ án

Về cơ bản, thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của phạm nhân thuộc về Viện kiểm sát nhân dân42 Đây là một cơ chế có phần đặc thù bởi Viện kiểm sát là cơ quan có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Với một cơ chế mang tính khách quan như vậy, rõ ràng việc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thi hành án phạt tù ở Việt Nam có những điểm đặc biệt Ở nước ngoài, vấn đề thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại tố cáo (đặc biệt liên quan đến vấn

đề quyền con người) nói chung và của phạm nhân nói riêng có các cơ chế khác nhau Đầu tiên có thể kể tới mô hình Thanh tra Quốc hội (Ombudsman) là một thiết chế độc lập, có quyền điều tra, giải quyết khiếu nại tố cáo, giám sát định kỳ cũng như chuyên đề đối với các cơ quan có nguy cơ xâm phạm tới quyền con người ở quy mô rộng như trường học, bệnh viện, nhà tù43 Bên cạnh đó, xét trên góc độ nhân quyền, còn có một số mô hình khác như Ủy ban quyền con người hay mô hình hỗn hợp44 Nhìn chung, dù theo mô hình nào thì cách thức thiết lập nên cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về nhân quyền trong những lĩnh vực đặc biệt như thi hành án phạt tù đều hướng tới đảm bảo tính độc lập của các cơ

Ngày đăng: 14/02/2021, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w