1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh

112 102 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––

PHẠM THỊ VÂN ANH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––

PHẠM THỊ VÂN ANH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Lệ Hoa

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng cá

nhân tôi Với các số liệu và kết quả nghiên cứu trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2020

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Quá trình học tập, nghiên cứu luận văn là quá trình bản thân tôi nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của tập thể các thầy cô giáo, các phòng ban, các cấp quản lý giáo dục và đồng nghiệp Với tình cảm chân thành của mình, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo khoa sau Đại học, khoa Quản lý giáo dục Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy, tư vấn, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Vũ Lệ Hoa, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong việc viết đề cương cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục - Đào tạo, Ban giám hiệu các trường mầm non, các đồng chí giáo viên các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ, giúp

đỡ tôi có các thông tin, tài liệu cần thiết để viết đề tài nghiên cứu của mình

Trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài, mặc dù bản thân tôi đã cố gắng rất nhiều nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp giúp đỡ, góp ý và đưa ra những chỉ dẫn quý báu cho tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2020

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt viii

Danh mục các bảng ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.1 Quản lý 9

1.2.2 Hoạt động giáo dục 10

1.2.3 Hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi theo hướng lấy trẻ làm trung tâm 11

1.2.4 Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non 12

1.2.5 Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 13

1.3 Hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non 13

1.3.1 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 13

Trang 6

1.3.2 Ý nghĩa của hoạt động phát triển ngôn ngữ theo hướng giáo dục lấy trẻ làm

trung tâm 14

1.3.3 Mục tiêu hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 16

1.3.4 Nội dung hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 17

1.3.5 Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 18

1.4 Quản lí hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non 22

1.4.1 Vai trò của Hiệu trưởng trường mầm non 22

1.4.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non 24

1.4.3 Tổ chức hoạt động hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non 26

1.4.4 Chỉ đạo hoạt động hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non 27

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non 30

1.5.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên 30

1.5.2 Chương trình, nội dung giáo dục mầm non 31

1.5.3 Quy chế, văn bản quy định liên quan giáo dục mầm non 32

1.5.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non 32

1.5.5 Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện giáo dục nhà trường 33

1.5.6 Công tác phối hợp của nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội địa phương trong tổ chức phát triển ngôn ngữ cho trẻ 33

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 35

Trang 7

2.1 Khái quát về kinh tế - xã hội và giáo dục của thành phố Cẩm Phả, tỉnh

Quảng Ninh 35

2.1.1 Khái quát về kinh tế - xã hội của thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 35

2.1.2 Khái quát về giáo dục của thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 35

2.1.3 Khái quát về giáo dục mầm non của thành phố Cẩm Phả 37

2.2 Khái quát khảo sát thực trạng 40

2.2.1 Mục đích khảo sát 40

2.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 40

2.2.3 Nội dung khảo sát 40

2.2.4 Phương pháp khảo sát 41

2.3 Thực trạng hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 41

2.3.1 Thực trạng nhận thức của CBGV về ý nghĩa, mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 41

2.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung chương trình hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 43

2.3.3 Thực trạng thực hiện các phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 45

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 49

2.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 49

2.4.2 Thực trạng tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 51

Trang 8

2.4.3 Thực trạng chỉ đạo hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo

hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 53

2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 55

2.4.5 Thực trạng quản lý điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường giáo dục phục vụ cho thực hiện tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 57

2.4.6 Thực trạng phối hợp với cha mẹ trẻ và cộng đồng trong việc tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 59

2.5 Đánh giá chung và nguyên nhân thực trạng 60

2.5.1 Những mặt mạnh 60

2.5.2 Những hạn chế 61

2.5.3 Nguyên nhân 61

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THEO HƯỚNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 63

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 63

3.1.1 Đảm bảo mục tiêu của giáo dục mầm non 63

3.1.2 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 63

3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ 63

3.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 64

3.1.5 Đảm bảo tính hiệu quả 64

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 64

Trang 9

3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên và cha mẹ của trẻ về tầm quan trọng của hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo

hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 64

3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng kiến thức và năng lực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho CBQL, GV trường mầm non tiếp cận chuẩn và trên chuẩn 67

3.2.3 Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ của trẻ trong hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 71

3.2.4 Đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý sử dụng trang thiết bị giáo dục có hiệu quả trong hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 73

3.2.5 Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, phát huy các tiềm năng từ xã hội hoá giáo dục cho hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi ở các trường mầm non 76

3.2.6 Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên và xây dựng các tiêu chí đánh giá giáo viên về hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non 78

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 81

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 81

3.4.1 Mục đích yêu cầu của khảo nghiệm 81

3.4.2 Thang đánh giá khảo nghiệm 82

3.4.3 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô mạng lưới trường, lớp, học sinh bậc học mầm non thành phố

Cẩm Phả từ năm học 2016 - 2017 đến 2018- 2019 37

Bảng 2.2 Số lượng CBQL và GVMN thành phố Cẩm Phả 38

Bảng 2.3 Cơ cấu giáo viên MN thành phố Cẩm Phả theo nhóm lớp 38

Bảng 2.4 Trình độ chính trị đội ngũ CBGVMN thành phố Cẩm Phả 38

Bảng 2.5 Trình độ đào tạo của đội ngũ CBGVMN thành phố Cẩm Phả 38

Bảng 2.6 Giáo viên dạy giỏi GVMN thành phố Cẩm Phả 39

Bảng 2.7 Thực trạng nhận thức của CBGV về ý nghĩa, mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 42

Bảng 2.8 Thực trạng về việc lựa chọn, xây dựng nội dung chương trình hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 44

Bảng 2.9 Thực trạng thực hiện các phương pháp tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 45

Bảng 2.10 Thực trạng thực hiện các hình thức tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 47

Bảng 2.11 Thực trạng kết quả hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cảm Phả 49

Bảng 2.12 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 50

Bảng 2.13 Thực trạng tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 52

Bảng 2.14 Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 54

Trang 12

Bảng 2.15 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ

mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các

trường mầm non thành phố Cẩm Phả 56

Bảng 2.16 Thực trạng quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường giáo dục phục vụ cho thực hiện tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 58

Bảng 2.17 Thực trạng công tác phối hợp với cha mẹ trẻ và cộng đồng trong việc tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 59

Bảng 3.1 Kết quả thăm dò tính cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 82

Bảng 3.2 Kết quả thăm dò tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất 84

Biểu đồ 3.1 Sự tương quan của các biện pháp đề xuất 86

Trang 13

và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dạy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời" [3, Tr.1] Những kỹ năng mà trẻ

được tiếp thu qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ Phát triển giáo dục mầm non là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

Trong cuốn Ngôn ngữ và con người, NXB Giáo dục Hà Nội, nhà giáo dục học

E.I.TIKHÊ ÊVA người Liên Xô đã khẳng định: "Ngôn ngữ là công cụ để tư duy,

là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức dân tộc của nhân loại Do vậy ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với con người, đặc biệt là giai đoạn đầu của mỗi con người nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ bắt đầu từ rất sớm" [8, Tr.15]

Giai đoạn từ 0-6 tuổi là giai đoạn vàng để phát triển ngôn ngữ cho trẻ và có tính quyết định tới sự phát triển giao tiếp sau này của trẻ Như vậy một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mầm non là phát triển ngôn ngữ cho trẻ Hoạt động phát triển ngôn ngữ giúp trẻ nghe hiểu lời nói, biết sử dụng lời nói trong giao tiếp hàng ngày và làm quen với việc đọc - viết Hoạt động này phải được tiến hành trong suốt quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non

Ngày nay, quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là một tư tưởng tiến bộ trong giáo dục và đào tạo nói chung, trong các trường mầm non nói riêng, nó trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong nhiệm vụ chăm sóc - giáo dục trẻ Bởi mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt, chúng khác nhau về thể chất, tình cảm, xã hội, trí tuệ, hoàn cảnh gia đình, văn hóa và tâm lý; mỗi đứa trẻ có hứng thú, cách học và tốc độ

Trang 14

học tập khác nhau và chúng đều có thể thành công Các nhà giáo dục đều phải thừa nhận một điều rằng: “Cách tiếp cận tốt nhất để giáo dục trẻ đó là lấy trẻ làm trung tâm và ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm thúc đẩy sự phát triển, tính chủ động, khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề của trẻ”

Nhưng trên thực tế, việc thực hiện các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm vẫn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập Mỗi đơn vị, mỗi giáo viên thực hiện theo cách thức và quan điểm riêng của mình cho nên việc thực hiện chưa thực sự đi vào chiều sâu và đúng hướng Mặt khác vẫn còn một

số giáo viên mầm non chưa đầu tư suy nghĩ, tìm tòi, còn ngại đổi mới, ngại sáng tạo nên việc tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Điều này cho thấy việc quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm còn là một thách thức khá lớn, cần được triển khai và thực hiện phù hợp với giáo dục của Việt Nam, bắt kịp với xu thế đổi mới của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới

Xuất phát từ thực tiễn, với nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, đặc biệt trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chuẩn bị bước vào lớp 1,

tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình với tiêu đề: “Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”

nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trên địa bàn nghiên cứu hiện nay

Trang 15

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động phát triển ngôn ngữ và quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

4 Giả thuyết khoa học

Việc quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh hiện nay đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên so với quan điểm đổi mới giáo dục "lấy trẻ làm trung tâm" thì công tác quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho mẫu giáo 5-6 tuổi còn nhiều hạn chế, thiếu linh hoạt và sáng tạo Nếu xây dựng được hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm phù hợp, hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu Chương trình GDMN hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh gồm các nội dung sau:

Trang 16

Quản lý hoạt động cho trẻ làm quen với văn học

Quản lý hoạt động cho trẻ làm quen với chữ cái

6.2 Giới hạn về chủ thể nghiên cứu

Hiệu trưởng các trường mầm non phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

6.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu ở 4 trường mầm non công lập ở vùng thuận lợi của thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh:

Trường mầm non Cẩm Thịnh

Trường mầm non Cẩm Phú

Trường mầm non Cẩm Thạch

Trường mầm non Cửa Ông

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hoá

để nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý các hoạt động giáo dục theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát cách quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục

phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi của nhà quản lý và giáo viên ở nhà trường và sự tham gia hoạt động của trẻ nhằm làm rõ thực trạng quản lý phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng các phiếu trưng cầu ý kiến

nhằm tìm hiểu thực trạng; Thăm dò mức độ cấp thiết và tính khả thi của mỗi biện pháp đề xuất và các điều kiện để thực hiện các biện pháp đề xuất

- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp CBQL, GV và phụ

huynh, trẻ để tìm hiểu thực trạng và làm sáng tỏ hơn các số liệu đã được nghiên cứu bằng phương pháp điều tra

Trang 17

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn

về quản lý tại một số trường mầm non trường mầm non trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Phương pháp lấy ý kiến của chuyên gia: để thấy được tính cấp thiết và tính

khả thi của một số biện pháp đề xuất

7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ

Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Nhằm xử lý, phân tích các số liệu thu thập

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu

giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ

mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ

mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

Trang 18

Với mỗi cá nhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra cực kỳ nhanh ở giai đoạn từ 0

- 6 tuổi (lứa tuổi mầm non) Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ, đến cuối 6 tuổi - chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời người, trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày Đây chính là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ Ở giai đoạn này nếu không có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau này khó có thể phát triển tốt được Chính vì vậy ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập đến ngay từ thời cổ đại Nhưng thời cổ đại người ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và lôgíc học Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bề ngoài của cái bên trong

là "logos", tinh thần, trí tuệ của con người Trong cuốn "Triết học DESCARTES”, Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người, khác với động vật Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng

"Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con vật” [7] Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học Người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823 - 1899) Ông đã đưa ra học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc

Trang 19

Sau cách mạng tháng Mười Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô Viết đã vận dụng quan điểm của Mác - Lênin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ đó là: xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng xã hội Ngôn ngữ thể hiện các mối quan hệ giữa con người với con người được quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kỳ lịch sử nhất định Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người [23] Với quan điểm này có thể kể đến: L.X.Vygotxki; R.O.Shor; E.D.Polivanov; K.N.Derzhavin; B.A.Larin; M.V.Sergievskij; M.N.Peterson; LJJaKubinskij; A.M.Selishchev Họ đã đi vào nghiên cứu tính chất

xã hội của ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ L.X.Vygotxki trong cuốn "Tư duy và ngôn ngữ” đã lập luận rằng hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là một học tập chỉ là của cá thể Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của người lớn và bạn bè

có năng lực cao hơn, những người này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tư duy trong một xã hội nhất định được chuyển giao sang trẻ Do ngôn ngữ là phương thức đầu tiên mà qua đó, con người trao đổi các giá trị xã hội, L.X.Vygotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của

X L Rubinxtêin cho rằng: Điều cơ bản trong phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ là chỉnh sửa và hoàn thiện kỹ năng sử dụng lời nói như một phương tiện giao tiếp Phát triển vốn từ cũng như việc nắm vững các hình thức ngữ pháp đã ảnh hưởng đến lời nói mạch lạc ở từng thời điểm nhất định [28]

1.1.2 Ở Việt Nam

Ngành học Mầm non đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng và vị trí trong hệ thống giáo dục quốc dân và thu hút được sự quan tâm của Đảng nhà nước trong việc đầu tư chăm lo cho giáo dục mầm non (GDMN)

Trang 20

Để giáo dục mầm non phát triển một cách vững bền, người hiệu trưởng ở các

cơ sở cần có tinh thần trách nhiệm cao, năng lực quản lý và tổ chức các mặt hoạt động phù hợp với điều kiện có được của cơ sở giáo dục do mình phụ trách

Nội dung chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non đã được quán triệt trong chương trình Giáo dục mầm non được ban hành theo Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT ra ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Bộ GD&ĐT ban hành Chương trình giáo dục mầm non gồm 4 yêu cầu: Giáo dục cho trẻ phát triển thể chất, giáo dục cho trẻ phát triển về nhận thức, giáo dục cho trẻ phát triển về ngôn ngữ và giáo dục cho trẻ phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội và phát triển thẩm mỹ

Việc giáo dục phát triển cho trẻ về ngôn ngữ là một trong bốn yêu cầu của bậc học để trẻ có thể phát triển hài hòa, do vậy việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0 - 6 tuổi) cũng được rất nhiều tác giả trong nước quan tâm và tiếp cận sâu ở từng góc độ khác nhau trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Có thể kể đến các

xu hướng nghiên cứu sau:

Vốn từ, khả năng hiểu từ, ngữ pháp của trẻ em ở các độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứu của Dương Diệu Hoa (1985), Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989), Chẳng hạn Lưu Thị Lan (1996) trong công trình nghiên cứu

"Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 - 6 tuổi” đã chỉ rõ các bước phát triển

về ngữ âm của trẻ em Việt nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 - 1 tuổi), giai đoạn ngôn ngữ (1 - 6 tuổi), về mặt ngữ âm có những bước tiến dài đặc biệt là giai đoạn 4 - 6 tuổi Các bước phát triển về từ vực được tác giả thống kê từng lứa tuổi với

số lượng từ tối thiểu và số lượng từ tối đa Từ 18 tháng tuổi trở đi trẻ có sự nhảy vọt

về số lượng từ và yếu tố văn hoá, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển vốn từ của trẻ Các bước phát triển về ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam được tác giả nghiên cứu rất cụ thể từng lứa tuổi Nhìn chung vấn đề ngôn ngữ trẻ em được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, nhiều lứa tuổi khác nhau Có nghiên cứu về cấu trúc đặc biệt của ngôn ngữ, có nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tác động đến quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ, một số nghiên cứu khác lại nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu đi sâu vào việc nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ nhất là cấp

Trang 21

học mầm non không nhiều mới tập trung nhiều vào lứa tuổi nhà trẻ, ít đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ của lứa tuổi 5 - 6 tuổi, ngoài ra vấn đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục của các trường mầm non, nhất là quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cần được quan tâm

Trong luận văn này, với phạm vi đề tài nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm với hy vọng góp một phần nhỏ vào việc chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở lớp 1

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động

Theo Từ điển Giáo dục học: ‘‘Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động

theo những yêu cầu nhất định’’ [32]

Sự cần thiết của quản lý được C Mac viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao

động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân… Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.” [dẫn theo 23]

Như vậy, C Mac đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người

Tác giả Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối

hợp những nỗ lực cá nhân” Do vậy quản lý với tư cách thực hành thì nó là nghệ thuật, còn

kiến thức có tổ chức làm cơ sở cho nó có thể coi như là một khoa học [13, Tr.26]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, “Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai

quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau; trong đó, “quản” có nghĩa là duy trì và

ổn định hệ, “lý” có nghĩa là đổi mới hệ” [1, Tr.25]

Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý là một quá

trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra

Trang 22

1.2.2 Hoạt động giáo dục

Hoạt động là hình thức biểu hiện quan trọng nhất các mối quan hệ tích cực, chủ động của con người với thực tiễn xung quanh Hoạt động là phương thức tồn tại của con người đồng thời hoạt động là điều kiện, là phương tiện, là con đường hình thành và phát triển nhân cách, trong đó hoạt động giáo dục giữ vai trò chủ đạo

Hoạt động giáo dục có thể hiểu theo hai cấp độ:

- Theo nghĩa rộng: Hoạt động giáo dục là loại hình hoạt động đặc thù của xã hội loài người nhằm tái sản xuất những nhu cầu của và năng lực của con người để duy trì phát triển xã hội, để hoàn thiện các mối quan hệ xã hội thông qua các hình thức, nội dung, biện pháp tác động có hệ thống, có phương pháp, có chủ định đến đối tượng nhằm hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách trên tất cả các mặt đức, trí, thể, mĩ

- Theo nghĩa hẹp: Hoạt động giáo dục là hoạt động sư phạm được tổ chức trong nhà trường một cách có kế hoạch, có mục đích Trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, người được giáo dục tích cực, chủ động tự giáo dục, tự rèn luyện nhằm hình thành cơ sở của thế giới quan nhân sinh quan khoa học, những phẩm chất, nét tính cách của người công dân người lao động

Hoạt động giáo dục được thực hiện chủ yếu theo phương thức nhà trường, diễn ra trong quan hệ giữa chủ thể giáo dục là nhà sư phạm và đối tượng giáo dục là người học

Hoạt động giáo dục trong nhà trường có mối quan hệ thống nhất với quá trình

tự giáo dục, tự trải nghiệm của đối tượng giáo dục tại gia đình và xã hội

Trong nhà trường phổ thông hoạt động giáo dục được phân ra làm hai bộ phận chủ yếu:

- Các hoạt động giáo dục trong hệ thống các môn học và các lĩnh vực học tập khác

- Các hoạt động giáo dục ngoài các môn học và các lĩnh vực học tập, có thể kể đến các hoạt động giáo dục thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, dân số, môi trường và hoạt động giáo dục tư tưởng - chính trị, pháp luật…

Việc tổ chức hoạt động giáo dục trong nhà trường phải chú ý tới vấn đề cơ bản sau:

- Cơ cấu các hoạt động giáo dục trong nhà trường cần được xác định theo mục tiêu giáo dục, mà trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và nhu cầu phát triển con người nhưng không thể đi quá xa so với hoạt động cơ bản của học sinh

Trang 23

- Các hoạt động tạo môi trường cho hoạt động của học sinh và chính những hoạt động của học sinh quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Vì thế, hoạt động phải dựa vào hoạt động của học sinh, mặt khác hoạt động của học sinh không phải định hướng bởi các hoạt động giáo dục và hoạt động của học sinh không thể thay thế cho nhau được Do vậy, tất cả các hoạt động giáo dục khác nhau trong nhà trường cần phải hoạch định sao cho phát huy tốt nhất vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra

Trong phạm trù lý luận giáo dục mầm non và quản lý giáo dục mầm non, khái niệm hoạt động giáo dục trẻ mẫu 5 - 6 tuổi được hiểu như sau:

- Thứ nhất: là một bộ phận của quá trình giáo dục trẻ mẫu 5 - 6 tuổi nói chung Quá trình này theo nghĩa rộng bao gồm quá trình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và quá trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi Hoạt động giáo dục trẻ là những hoạt động được giáo viên tổ chức cho trẻ thực hiện, qua đó giúp trẻ từ 5 - 6 tuổi phát triển về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mỹ theo mục tiêu yêu cầu của độ tuổi

- Thứ hai: Có mối quan hệ cơ bản với các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc vệ sinh trẻ tạo thành cấu trúc tổng thể, thống nhất của quá trình chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ mẫu giáo nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ 5 - 6 tuổi tuổi theo mục tiêu bậc học

1.2.3 Hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi theo hướng lấy trẻ làm trung tâm

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người Ngôn ngữ đồng thời là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thông văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy Trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh Trong quá trình nhận thức hiện tượng sự vật, trẻ phải dùng lời nói để nói lên những suy nghĩ, cũng như cảm tưởng của mình về những vấn đề đó

Như vậy có thể hiểu: Hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi theo hướng

lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non là hoạt động sư phạm của giáo viên tác

động đến trẻ, kích thích sự tập trung chú ý và cảm xúc tích cực của trẻ, thúc đẩy trẻ

tham gia hiệu quả vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ, giúp cho tư duy của trẻ

Trang 24

phát triển và đây còn là một phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện về nhân cách, đạo đức

1.2.4 Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non là quá trình tác động của người hiệu trưởng đến toàn bộ quá trình tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ như: Tác động đến mục tiêu, nội dung chương trình, quá trình nâng cao năng lực cho giáo viên và điều kiện phát triển ngôn ngữ nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc, kỹ năng tiền học đọc, tiền học viết, giúp trẻ phát triển toàn diện và chuẩn bị tốt để trẻ bước vào lớp 1

Để hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non có hiệu quả, Hiệu trưởng các nhà trường cần: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, giúp cho giáo viên nắm rõ được mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong độ tuổi, nâng cao khả năng thực hiện chương trình, đảm bảo thực hiện đúng, thực hiện đủ và thực hiện có sáng tạo Xây dựng các lớp điểm, xây dựng những tiêu chuẩn đánh giá phù hợp với từng hoạt động giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Tạo điều kiện đầy đủ cơ sở vật chất, đồ chơi, đồ dùng dạy học, tài liệu chuyên môn nhằm giúp giáo viên nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình cũng như hiệu quả giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Có kế hoạch chỉ đạo chuyên sâu từng vấn đề và nên tập trung vào những vấn

đề khó, vấn đề còn hạn chế của nhiều giáo viên, hoặc vấn đề mới nhằm tạo ra sự chuyển biến chất lượng về nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Tổ chức kiến tập, dự giờ, trao đổi kinh nghiệm trong sinh hoạt chuyên môn một cách thường xuyên là rất cần thiết, để giáo viên có cơ hội học tập lẫn nhau và giúp đỡ lẫn nhau

Xây dựng đội ngũ giáo viên làm lòng cốt cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo mói chung và hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói riêng

Tổ chức tốt các chuyên đề, hội thi trong nhà trường, có động viên khen thưởng kịp thời, tạo động lực để giáo viên học hỏi nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực sư phạm và phẩm chất nghề trong quá trình công tác

Trang 25

Khuyến khích giáo viên tham gia nghiên cứu tài liệu và viết sáng kiến kinh nghiệm trong giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Có kế hoạch kiểm tra thường xuyên, kiểm tra đột xuất, thăm lớp dự giờ và nắm chắc tình hình thực hiện chế độ sinh hoạt, thực hiện chương trình của giáo viên để kịp thời uốn nắn những lệch lạc, thiếu sót và có biện pháp chỉ đạo sát thực có hiệu quả

1.2.5 Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Lấy trẻ làm trung tâm trong trường MN là quan điểm giáo dục tiến bộ về vị trí của trẻ và vai trò của giáo viên Bởi mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt, chúng khác nhau về thể chất, tình cảm, xã hội, trí tuệ, hoàn cảnh gia đình, văn hóa và tâm lý; mỗi đứa trẻ có hứng thú, cách học và tốc độ học tập khác nhau và chúng đều có thể thành công Các nhà giáo dục đều phải thừa nhận một điều rằng: Cách tiếp cận tốt nhất để giáo dục trẻ đó là lấy trẻ làm trung tâm và ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm thúc đẩy sự phát triển, tính chủ động, khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề của trẻ Tức là giáo viên dựa trên nhu cầu, hứng thú, khả năng và thế mạnh của từng trẻ; tạo

cơ hội cho trẻ học bằng nhiều cách khác nhau; phản ánh được mức độ phát triển của từng cá nhân trẻ và xây dựng dựa trên những gì trẻ đã biết, có thể làm

1.3 Hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non

1.3.1 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Ở thời kì này trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm Các phụ âm đầu, âm cuối, thanh điệu dần dần được định vị Trẻ phát âm đúng hầu hết các âm vị của tiếng mẹ

đẻ, biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp Tuy vậy, trẻ vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm, còn nhầm lẫn khi phát âm một vài phụ âm và nguyên

âm, thanh điệu Trẻ đã sử dụng được những câu từ phức tạp hơn: các loại câu tường thuật để miêu tả sự vật, hiện tượng, con người, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu hô ứng Để cố gắng hiểu được thế giới xung quanh, trẻ không ngừng đặt câu hỏi Có thể nói câu gồm 4-5 chữ; biết dùng chữ “đã” hay “rồi” để diễn tả quá khứ; vốn từ khoảng

1500 chữ, biết phân biệt nhiều mầu sắc, hình thể; hay hỏi “tại sao,” “ai”… Trẻ cũng

đã có thể có những lời nói bày tỏ được cảm xúc hoặc nhu cầu, ý nghĩ và kinh nghiệm của bản thân như là “Con nhớ ông nhiều lắm, mẹ con cũng nhớ ông” Trẻ cũng biết

Trang 26

sử dụng lời nói để thoả thuận, trao đổi, hợp tác, chỉ dẫn bạn bè trong hoạt động vui chơi hay kể về một sự việc, hiện tượng nào đó để người nghe hiểu được, kể lại được nội dung chuyện đã nghe theo đúng trình tự

Trẻ 5 tuổi thích dùng và diễn giải các ký hiệu, biểu tượng: Hầu hết trẻ ở độ tuổi này rất nghiêm túc muốn học hỏi, và một số có thể học các cơ chế đọc viết nhanh hơn những đứa khác Chúng thích tự mình đọc menu và gọi món, diễn giải các biển báo giao thông, tự viết danh sách các món đồ cần mua, và tự viết tên lên nhãn tập hoặc các bức tranh do chúng vẽ Chúng có thể hình dung ra trong đầu những vấn đề đơn giản và có thể nắm bắt khái niệm cộng trừ, dù có thể chúng phải xòe tay ra đếm trước khi trả lời

Khi sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, trẻ đã biết kiên nhẫn chờ đến lượt trong giao tiếp, trò chuyện, thảo luận (không nói leo, không ngắt lời người khác) Trẻ biết hỏi lại hoặc có những biểu hiện qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt khi không hiểu người khác nói;

đã biết cảm ơn, xin lỗi, xin phép, thưa, vâng ạ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp

1.3.2 Ý nghĩa của hoạt động phát triển ngôn ngữ theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người, nhờ có ngôn ngữ

mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những điều thầm kín

Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ Chương trình giáo dục mầm non với các lĩnh vực phát triển như: Phát triển thể chất, phát triển thẩm mỹ, phát triển nhận thức, phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội, phát triển ngôn ngữ, trong đó lĩnh vực phát triển ngôn ngữ là lĩnh vực vô cùng quan trọng

Nếu ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần to lớn vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ Do vậy việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các hoạt động giáo dục khác như: hoạt động khám phá khoa học, hoạt động khám phá xã hội, hoạt động làm quen với toán, hoạt động âm nhạc, tạo hình đặc biệt là thông qua hoạt động làm quen với văn học trẻ được đọc thơ, kể chuyên, đóng kịch giúp trẻ phát

Trang 27

triển trí nhớ, tư duy và ngôn ngữ, phát triển khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp, cái tốt cái xấu của mọi vật xung quanh Song song với hoạt động cho trẻ làm quen với văn học để phát triển ngôn ngữ cho trẻ chúng ta cần thực hiện có hiệu quả hoạt động cho trẻ làm quen với chữ cái Cho trẻ làm quen với chữ cái là một quá trình sư phạm được

tổ chức đặc biệt theo cách tiếp cận ngôn ngữ trọn vẹn nghĩa là tất cả các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đều được phát triển và có mối quan hệ qua lại với nhau Trẻ làm quen với chữ cái khi được hoạt động và bị thu hút vào các hoạt động đa giác quan Cách tiếp cận này sẽ thúc đẩy các nhu cầu của trẻ, giúp trẻ phát triển trí óc, sự hiểu biết về xã hội, tình cảm và thể chất, làm quen với chữ cái là hoạt động giúp trẻ hình thành, phát triển năng lực và thái độ cần thiết chuẩn bị cho trẻ học Tiếng việt ở lớp 1

Do vậy, ngôn ngữ góp phần đào tạo các em trở thành con người hoàn thiện

- Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ:

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ, cụ thể:

Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy

Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh Thông qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng của chúng và trẻ học được từ tương ứng (từ và hình ảnh trực quan

đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc) Ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành

Sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích cực, sáng tạo hoạt động trí tuệ

Có nhiều phương tiện để nhận thức thế giới xung quanh nhưng ngôn ngữ là phương tiện nhận thức hữu hiệu Thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức thế giới xung quanh chính xác, rõ ràng, sâu và rộng Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo trong hoạt động trí tuệ do vậy việc phát triển trí tuệ không thể tách rời với việc phát triển ngôn ngữ

- Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức:

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc hình thành và điều chỉnh những hành vi của trẻ Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên làm, không nên làm , qua đó rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức (ngoan - hư, tốt - xấu )

Trang 28

Ngôn ngữ có tác dụng to lớn trong việc hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp ở trẻ Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ những hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống

- Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mĩ:

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong

tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp

Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận thức được cái đẹp ở thế giới xung quanh, qua

đó làm cho tâm hồn trẻ càng thêm bay bổng, trí tưởng tượng càng phong phú; đồng thời trẻ càng yêu quý cái đẹp, trân trọng cái đẹp và có ý thức sáng tạo ra cái đẹp

Thông qua ngôn ngữ văn học, trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, cái đẹp trong cuộc sống Có thể khẳng định rằng ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào quá trình giáo dục cho trẻ những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp

- Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thể lực:

Để phát triển thể lực cho trẻ cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong

đó, ngôn ngữ đóng góp một vai trò quan trọng đáng kể Trong các hoạt động góp phần phát triển thể lực như các trò chơi vận động, các giờ thể dục, trong chế độ ăn giáo viên đều cần dùng đến ngôn ngữ để hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu cần đạt Hoạt động nói năng liên quan đến các cơ quan hô hấp, thính giác, bộ máy phát âm Quá trình phát âm là quá trình rèn luyện bộ máy cấu âm, rèn luyện phổi, khí quản và các

bộ phận khác của cơ thể Để có thể lực tốt cần có một chế độ vệ sinh hợp lí Ngôn ngữ cũng tham gia vào quá trình chăm sóc vệ sinh để trẻ phát triển thể lực

1.3.3 Mục tiêu hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

Nhằm giúp trẻ phát âm đúng, phát triển vốn từ, nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, giáo dục văn hóa giao tiếp, chuẩn bị kỹ năng để trẻ có thể học đọc, viết ở lớp 1

Trang 29

Trẻ có khả năng diễn đạt được mong muốn, nhu cầu và suy nghĩ bằng nhiều loại câu

Trẻ có thể hiểu được nhiều từ trái nghĩa, tham gia sáng tao trong các hoạt động ngôn ngữ như: Kể chuyện, đọc thơ, đóng kịch

Nhận dạng được tất cả các chữ cái và phát âm được chữ cái đó

Trẻ có thể đọc và sao chép được một số ký hiệu

Mạnh dạn, tự tin, chủ động trong giao tiếp

1.3.4 Nội dung hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Theo Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT ra ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Bộ GD&ĐT ban hành Chương trình giáo dục mầm non, Phần ba Chương trình giáo dục mẫu giáo với yêu cầu phát triển ngôn ngữ, trẻ cần phát triển các kỹ năng:

- Nghe:

Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hàng ngày của trẻ, nghe các từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt động và các từ biểu cảm,các từ khái quát, Có khả năng nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao

- Viết:

Làm quen với việc đọc viết

Làm quen với cách sử dụng sách bút, làm quen với một số kí hiệu thông thường trong cuộc sống,

Làm quen với chữ viết, với việc đọc sách

Trang 30

1.3.5 Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 trong trường mầm non có hiệu quả, chúng ta thường sử dụng các nhóm phương pháp sau:

- Nhóm phương pháp trực quan:

Phương pháp trực quan là phương pháp chủ đạo trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ Phương pháp trực quan được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực dạy nói cho trẻ (luyện phát âm, phát triển vốn từ, nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc )

và được tiến hành trên giờ học, mọi lúc, mọi nơi Theo nghĩa rộng, trực quan có thể được hiểu là trực tiếp sử dụng các giác quan (để tiếp xúc với đối tượng); các đối tượng để tiếp xúc (đồ dùng trực quan)

Các dạng trực quan:

Cho trẻ tiếp xúc với vật thật: Là hình thức cô cho trẻ được tiếp xúc với từng vật cụ thể qua đó giúp trẻ nhận biết, tri giác vật một cách khái quát và cụ thể từng chi tiết, từ được gọi chính xác với vật và đặc điểm của vật Trong khi xem xét, cô giáo kết hợp chỉ vào vật hoặc từng chi tiết, đặc điểm của vật với từ được gọi (trong trường hợp không có vật thật, cô giáo cho trẻ tiếp xúc với đồ chơi, tranh ảnh.)

Quan sát: Là dạy trẻ sử dụng những giác quan, bộ máy vận động của mình để tích lũy dần dần những kinh nghiệm, những hình ảnh, những biểu tượng và kỹ xảo ngôn ngữ Khi tổ chức quan sát, không nên chỉ hướng sự chú ý của trẻ vào các sự vật

và hiện tượng riêng lẻ, mà cần phải làm cho trẻ thấy được mối quan hệ giữa chúng Điều đó giúp trẻ suy nghĩ mạch lạc và biểu hiện những ấn tượng của mình bằng lời nói trôi chảy Ví dụ: Quan sát lá cây để nhận biết được gió mạnh hay gió nhẹ

Hình thức trực quan:

Tham quan: Là con đường đưa trẻ đến gần sự vật, hiện tượng Trẻ có thể quan sát các sự vật, hiện tượng, và mở rộng nhận thức của mình Nội dung tham quan phải đáp ứng được sở thích của trẻ Buổi tham quan không mang tính chất của một bài học Sau buổi tham quan cần tổ chức ngay các biện pháp củng cố các nhận thức

và ấn tượng thu lượm được thông qua việc trao đổi, trò chuyện

Xem phim: Là hình thức sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại vào quá trình dạy trẻ, tạo điều kiện cho trẻ có thể quan sát, tham quan cảnh vật mà trẻ không thể đi đến

Trang 31

nơi xem được hoặc xem lại cảnh quay trong quá khứ Xem phim cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ nếu cô giáo lựa chọn phim phù hợp với nhận thức, sở thích của trẻ kết hợp với tổ chức trò chuyện, đàm thoại sau đó Nhóm phương pháp trực quan được sử dụng nhằm vào các mục đích phát triển ngôn ngữ sau:

Rèn luyện phát âm cho trẻ Dạy cho trẻ cách thức phát âm Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát các loại hoa, cây cối…, cô giáo yêu cầu trẻ gọi tên các bộ phận của cây Nếu trẻ chỉ vào cành cây mà nói là “cằn cây” hoặc chỉ vào lá mà nói thành “ná” thì cô giáo phải sửa ngay lỗi phát âm sai này của trẻ

Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ Ví dụ: Sau khi cho trẻ xem phim về thế giới động vật, cô giáo trò chuyện với trẻ, yêu cầu trẻ kể lại những gì đã xem được Muốn kể lại, trẻ phải huy động từ ngữ và sử dụng từ chính xác

Củng cố kiến thức, củng cố vốn từ Ví dụ: Trong hoạt động ngoài trời, cô giáo

có thể chỉ vào bồn hoa hình vuông và hỏi trẻ “Bồn hoa có hình gì?” Nếu trẻ không nhớ, cô giáo có thể nói với trẻ “Bồn hoa hình vuông Nó có 4 cạnh bằng nhau”

Phát triển ngôn ngữ mạch lạc Tập cho trẻ diễn đạt Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát hiện tượng gió, trẻ nhìn lên vòm cây và nói: “Cành cây lắc lư ghê lắm

Gió thổi rất mạnh”

- Nhóm phương pháp dùng lời nói:

Đọc thơ (ca dao, tục ngữ, đồng dao): Lời thơ, ca dao mang tính nhịp điệu cao, có vần điệu, vì vậy, khi đọc cần đọc chậm rãi, vừa phải, chú ý ngắt giọng sau mỗi câu và nhấn vào các từ mang vần Cần truyền đạt được âm điệu vui tươi, sảng khoái đến với trẻ Đọc thơ, ca dao, đồng dao giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp điệu của tiếng Việt Khi đọc thơ cho trẻ nghe, cô giáo kết hợp giải thích các từ khó, từ

xa lạ đối với trẻ Đây là việc làm góp phần phát triển vốn từ nói riêng, phát triển ngôn ngữ nói chung cho trẻ

Kể và đọc chuyện: Là phương pháp chủ yếu giúp trẻ làm quen với văn học Khi đọc, kể chuyện cô giáo sử dụng ngữ điệu giọng nói để bộc lộ được đặc điểm, tính cách nhân vật Đọc kể phải chậm rãi, vừa phải để trẻ còn lắng nghe và ghi nhớ được các từ ngữ, câu văn trong truyện điều đó giúp trẻ tích luỹ vốn từ và học được cách thể hiện qua giọng đọc, giọng kể của cô

Trang 32

Kể lại chuyện: Là hình thức kể lại một cách sáng tạo câu chuyện theo mẫu trẻ

đã được nghe, nhận biết được sự tác động lên cảm xúc, giúp trẻ ghi nhớ và kể lại những điều đã được nghe Trẻ sẽ biết vận dụng ngôn ngữ của mình để kể lại chuyện một cách sáng tạo, phù hợp

Đàm thoại: Đàm thoại là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa người với người Đàm thoại không phải chỉ là hỏi và đáp Đàm thoại được sắp xếp có tổ chức, có kế hoạch nhằm mục đích đi sâu, làm cho chính xác và hệ thống tất cả những biểu tượng

và kiến thức mà trẻ thu lượm được Mục đích của đàm thoại là củng cố và hệ thống hóa bằng công cụ ngôn ngữ tất cả những kiến thức mà trẻ thu nhận được Trong khi đàm thoại, yêu cầu trẻ phải suy nghĩ, lựa chọn từ ngữ, cách diễn đạt để thực hiện cuộc giao tiếp Qua quá trình đàm thoại, trẻ được nói về những suy nghĩ, hiểu biết của mình, điều đó đã góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Nói mẫu: Được sử dụng khi chỉ cho đứa trẻ cách thức tốt nhất để diễn đạt ý nghĩ của mình (có nghĩa là sử dụng câu đúng để diễn đạt) Nói mẫu còn sử dụng để củng cố, nhắc lại chính xác hóa từ, câu hay một đoạn văn Tuy nhiên, số lượng câu trong mẫu phải phù hợp với khả năng chú ý và trí nhớ của trẻ Ví dụ: Mẫu câu: Chủ ngữ - Vị ngữ - Bổ ngữ Con ăn cơm (C - V - B) Khi nói mẫu, giáo viên phải chú ý không nhắc lại cái sai của trẻ

Giảng giải: Cô dùng lời lẽ của mình để nói cho trẻ hiểu về bản chất, đặc điểm của một vật hoặc một hành động nào đó Khi cô sử dụng những từ trẻ đã biết

để giải nghĩa cho những từ trẻ chưa biết sẽ góp phần rất lớn trong việc phát triển vốn

từ cho trẻ

Câu hỏi: Hệ thống câu hỏi được xây dựng theo mục đích phát triển ngôn ngữ của giáo viên Ví dụ nếu muốn dạy trẻ nói những câu ghép, giáo viên sẽ sử dụng các dạng câu hỏi mà khi trả lời, trẻ phải trả lời bằng câu ghép Câu hỏi đưa ra có mục đích phát triển ngôn ngữ yêu cầu trẻ biết lựa chọn từ ngữ, sử dụng các kiểu câu và diễn đạt khi trả lời Câu hỏi góp phần quan trọng trong việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp Câu hỏi thường hướng sự chú ý của trẻ tới việc nhận thức đối tượng Câu hỏi ở lứa tuổi mầm non thường được kết hợp với trực quan

Vai trò của nhóm phương pháp dùng lời: Giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp điệu của tiếng Việt thông qua việc kể chuyện, đọc thơ

Trang 33

Phát triển ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ, giúp trẻ làm quen với cách diễn đạt của ngôn ngữ văn học

Việc giải thích các từ khó, từ xa lạ đối với trẻ trong các tác phẩm văn học cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ Việc cô sử dụng những từ trẻ đã biết để giải nghĩa cho những từ trẻ chưa biết góp phần quan trọng vào quá trình phát triển vốn từ,

mở rộng vốn sống, vốn hiểu biết của trẻ

Sử dụng câu hỏi, đàm thoại được sắp xếp có tổ chức, có kế hoạch nhằm mục đích đi sâu, làm cho chính xác và hệ thống tất cả những biểu tượng và kiến thức mà trẻ thu lượm được; yêu cầu trẻ phải suy nghĩ, lựa chọn từ ngữ để trả lời câu hỏi được đặt ra

Phương pháp dùng lời chỉ cho đứa trẻ cách thức tốt nhất để diễn đạt ý nghĩ của mình, nói rõ hơn có nghĩa là sử dụng câu đúng để diễn đạt, đồng thời để củng cố, nhắc lại chính xác hóa từ, câu hay một đoạn văn

- Nhóm phương pháp thực hành:

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua trò chơi: Ngôn ngữ và tư duy liên hệ chặt chẽ với hoạt động, lao động của con người Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em Vui chơi được thể hiện qua các trò chơi Trò chơi góp phần phát triển toàn diện cho trẻ trong đó có ngôn ngữ Từ những kinh nghiệm trong trò chơi trẻ khám phá ra những biểu tượng rồi liên hệ chúng với từ Mỗi vật có tên riêng, mỗi hành động có một động từ riêng để chỉ nó cho nên nếu cô giáo tổ chức tốt hoạt động chơi, cung cấp đủ đồ dùng, đồ chơi thì trẻ có điều kiện tăng cường hoạt động ngôn ngữ Trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển ngôn ngữ và nhiều mặt cho trẻ, đặc biệt

là khẩu ngữ Trong quá trình chơi trẻ không hề im lặng mà còn chia sẻ với nhau những kinh nghiệm của mình, điều này cần đến ngôn ngữ Có thể nói hoạt động vui chơi là hoạt động góp phần phát triển toàn diện cho trẻ, trong đó có ngôn ngữ

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua giao tiếp, các hoạt động, lao động: Trong trường mầm non, trẻ được tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động chơi, học tập, giao tiếp, kể chuyện, lao động Tất cả các hoạt động đó đều tạo ra những khả năng to lớn để làm phong phú ngôn ngữ cho trẻ Ngôn ngữ xuất hiện nhằm thoả mãn nhu cầu giao tiếp và nhận thức thông qua lao động, hoạt động, giao tiếp

Trang 34

Các hoạt động, lao động của trẻ trong trường mầm non đều cần đến ngôn ngữ để trao đổi, để hướng dẫn, để chia sẻ và các hoạt động này góp phần giúp trẻ thực hành ngôn ngữ, trẻ trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp, nhờ vậy vốn từ của trẻ tăng lên, trẻ sẽ nói đúng ngữ pháp, rèn luyện cách diễn đạt sao cho mạch lạc

Phương pháp sử dụng trò chơi: Đây là phương pháp mà giáo viên sẽ sử dụng các loại trò chơi khác nhau để phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trẻ “chơi mà học-học bằng chơi” Vì thế trò chơi chiếm giữ một vị trí quan trọng trong các hoạt động giáo dục ở trường mầm non Đối với việc dạy nói cho trẻ thì điều này càng rõ Có nhiều trò chơi có thể sử dụng được vào mục đích dạy nói cho trẻ Đó là các trò chơi luyện phát âm, luyện thở ngôn ngữ, phát triển vốn từ, nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc

Ví dụ: Trò chơi luyện phát âm như ngửi hoa, thổi bóng…

Các trò chơi để phát triển vốn từ: Chiếc túi kỳ diệu

Các trò chơi để phát triển kỹ năng nói mạch lạc, giao tiếp ngôn ngữ có văn hoá như các trò chơi đóng vai theo chủ đề: mẹ và con, bán hàng, cô giáo, bác sĩ

Thông qua trò chơi trẻ sẽ được thực hành ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để nói ra những ý nghĩ của mình và học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với bạn Sử dụng trò chơi để phát triển ngôn ngữ tạo cho trẻ một trạng thái học nói tự nhiên, là con đường nhanh nhất để trẻ bắt chước, tập nói và ghi nhớ lâu những từ ngữ mới học được

1.4 Quản lí hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non

1.4.1 Vai trò của Hiệu trưởng trường mầm non

* Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của trường mầm non

Theo Điều lệ trường mầm non đã quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non như sau [4]:

- Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến

6 tuổi theo chương trình GDMN do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành

- Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường: tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật

- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo qui định của pháp luật

Trang 35

- Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn

- Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em

- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng

- Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo qui định

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo qui định của pháp luật

* Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng trường mầm non

Theo Điều lệ trường mầm non [4], Hiệu trưởng trường mầm non có vị trí, vai trò như sau:

- Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ

- Hiệu trưởng do Trưởng phòng GD&ĐT bổ nhiệm đối với nhà trường, nhà trẻ công lập, công nhận đối với nhà trường, nhà trẻ dân lập, tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền

- Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là 5 năm Sau 5 năm, Hiệu trưởng được đánh giá và có thể bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại Đối với nhà trường, nhà trẻ công lập, mỗi Hiệu trưởng chỉ được giao quản lí một nhà trường hoặc một nhà trẻ không quá hai nhiệm kì

- Sau mỗi năm học, mỗi nhiệm kì công tác, HT nhà trường, nhà trẻ được cán

bộ, giáo viên trong trường và cấp có thẩm quyền đánh giá về công tác quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường theo quy định

* Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

- Có trình độ chuẩn được đào tạo là có bằng trung cấp sư phạm mầm non, có ít nhất 5 năm công tác liên tục trong GDMN Trường hợp do yêu cầu đặc biệt của công

Trang 36

việc, người được bổ nhiệm hoặc công nhận là Hiệu trưởng có thể có thời gian công tác trong giáo dục mầm non ít hơn theo quy định;

- Đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý; có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực tổ chức, quản lý nhà trường, nhà trẻ và có sức khoẻ

Nói tóm lại Hiệu trưởng trường mầm non là người đứng đầu đơn vị cơ sở của ngành GDMN, là người chịu trách nhiệm trước đảng bộ chính quyền địa phương và cấp trên về quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường theo đường lối của Đảng, phương hướng nhiệm vụ của ngành

Hiệu trưởng phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyên bổ nhiệm hoặc công nhận, phải đảm bảo trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thời gian công tác theo quy định, được tín nhiệm về chính trị, đạo đức năng lực tổ chức và quản lý nhà trường…

Hiệu trưởng trường MN có vị trí quyết định trong việc đưa nhà trường tiến tới các mục tiêu về chăm sóc giáo dục trẻ em trong độ tuổi mầm non Chịu trách nhiệm cao nhất về hành chính cũng như về chuyên môn trong nhà trường

1.4.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non

Kế hoạch là một chức năng quan trọng của công tác quản lý trường mầm non Chất lượng của kế hoạch và hiệu quả thực hiện kế hoạch quyết định chất lượng hiệu quả của quá trình chăm sóc giáo dục trẻ Trên cơ sở phương hướng nhiệm vụ năm học của ngành, tình hình cụ thể của trường để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-

6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non có hiệu quả, Hiệu trưởng cần:

- Hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn và kế hoạch của nhóm lớp, giúp họ biết xác định mục tiêu, nhiệm vụ đúng đắn, đề ra các biện pháp rõ ràng, hợp lý và các điều kiện để đạt được mục tiêu đề ra

- Đối với kế hoạch của tổ chuyên môn và kế hoạch của nhóm lớp: Bao gồm kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, hiệu trưởng cần có sự chỉ đạo cụ thể về nội dung, quy trình xây dựng kế hoạch cho giáo viên, cụ thể: Khi xây dựng kế hoạch phải cụ thể hóa trên cơ sở mục tiêu đã đặt ra để có kế hoạch cụ thể phù hợp với từng loại họat động như: hoạt động

Trang 37

phát triển khả năng nghe và nói; hoạt động kể chuyện, đọc thơ, đồng dao, ca dao, tục ngữ; trò chơi đóng kịch; kể chuyện sáng tạo; chuẩn bị cho việc học đọc, học viết Các nội dung phát triển ngôn ngữ được xây dựng dựa trên đặc điểm, khả năng nhận thức của trẻ, theo chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo, theo Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, theo đặc điểm tình hình địa phương

- Việc chỉ đạo việc thực hiện xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn và kế hoạch nhóm, lớp đòi hỏi người hiệu trưởng cần phải thực hiện các biện pháp sau:

+ Triển khai các văn bản, chỉ thị, yêu cầu của ngành đến giáo viên, và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, từng cá nhân phấn đấu

+ Hướng dẫn giáo viên, các bộ phận trong trường làm kế hoạch và duyệt kế hoạch với họ, giúp giáo viên nắm chắc kế hoạch phân phối nội dung chương trình

+ Hướng dẫn xây dựng kế hoạch mẫu

+ Xác định cách thức thực hiện như; kiểm tra ngày giờ công, kỷ cương nề nếp dạy học, kiểm tra việc thực hiện chương trình thông qua thời gian biểu, thăm lớp dự giờ

+ Kết hợp với các đoàn thể trong nhà trường để phát động các phong trào thi đua khuyến khích chủ động tích cực sáng tạo của mỗi thành viên nhằm đạt được kế hoạch đề ra

+ Xây dựng chuẩn phương pháp đánh giá việc thực hiện kế hoạch

+ Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận, tổ, cá nhân và các đoàn thể bên ngoài nhà trường, nhằm huy động các nguồn lực để hoàn thành các nhiệm vụ trong năm học

+ Cần tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong năm học

Chính vì thế việc chỉ đạo xây dựng kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm phải đảm bảo chất lượng và

có khả năng thực thi là một yêu cầu bắt buộc đối với người hiệu trưởng Tất cả các kế hoạch đó đều được thống nhất với nội dung kế hoạch giáo dục chung của nhà trường, đảm bảo khả năng phối hợp cao giữa các bộ phận, để cùng thực hiện mục tiêu, nhiệm

vụ của nhà trường Kế hoạch xây dựng đều phải được hiệu trưởng phê duyệt trước khi thực hiện

Trang 38

1.4.3 Tổ chức hoạt động hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non

Tổ chức thực hiện kế hoạch, nội dung chương trình hoạt động phát triển ngôn ngữ là chức năng được tiến hành sau khi lập xong kế hoạch nhằm chuyển hoá những mục đích, mục tiêu phát triển ngôn ngữ được đưa ra trong kế hoạch thành hiện thực Nhờ đó mà tạo mối quan hệ giữa các đơn vị trường học, mối quan hệ giữa giáo viên

và cha mẹ học sinh được liên kết thống nhất, chặt chẽ và nhà quản lý có thể điều phối các nguồn lực thực hiện hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ ngày một tốt hơn Phương pháp làm việc của CBQL có ý nghĩa quyết định cho việc chuyển hoá kế hoạch quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ thành hiện thực Nội dung tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp các hoạt động theo những cách thức nhất định

để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đề ra, Hiệu trưởng hướng dẫn tổ trưởng chuyên môn, hướng dẫn cá nhân từng giáo viên xây dựng kế hoạch, giúp họ xác định mục tiêu đúng, sát với nhiệm vụ trọng tâm và biết tìm ra biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó

Nội dung yêu cầu kế hoạch với tổ chuyên môn:

Cơ sở để thực hiện kế hoạch: Căn cứ vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của nhà trường, căn cứ vào tình hình thực tế của tổ, nhóm chuyên môn và kết quả đạt được của năm học trước để xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu về các mặt hoạt động

Điều kiện để đảm bảo kế hoạch: Nhân sự, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giáo dục; nguồn lực tài chính trong và ngoài ngân sách

Đưa ra các biện pháp: Thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục nói chung và kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi nói riêng, xây dựng đội ngũ giáo viên và cơ

sở vật chất, nâng cao chất lượng toàn diện, thanh tra, kiểm tra, phối hợp các lực lượng giáo dục trên địa bàn, cải tiến công tác quản lý

Thường xuyên kiểm tra thực hiện chương trình giảng dạy của giáo viên dạy đúng

và đủ theo quy định của bộ giáo dục thông qua ké hoạch dạy học, thời khoá biểu

Kiểm tra việc thực hiện chương trình qua các biên bản tổ, nhóm, chuyên môn, qua phản ảnh của tổ trưởng, thành viên nhà trường

Trang 39

- Nội dung yêu cầu kế hoạch với cá nhân:

Cơ sở để thực hiện kế hoạch: Căn cứ vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của tổ chuyên môn; hướng dẫn giảng dạy bộ môn; chỉ tiêu phấn đấu của tổ; căn

cứ vào tình hình thực tế của học sinh và kết quả đạt được của năm học trước để xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu về các mặt hoạt động

Điều kiện để đảm bảo kế hoạch: Phải có đầy đủ các thiết bị, đồ dùng dạy học, sách giáo khoa, sách giáo viên phục vụ cho các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi

Đưa ra các biện pháp: Nâng cao chất lượng giáo dục, liên hệ thực tế cuộc sống, kiểm tra đánh giá kết quả của hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi, phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường

Quán triệt giáo viên thực hiện đúng kế hoạch dạy học, tránh bỏ tiết, đảo tiết, tách tiết, gộp tiết, hoặc làm sai lệch chương trình

Yêu cầu giáo viên làm kế hoạch môn học và duyệt kế hoạch của GV một trước tuần

Thường xuyên kiểm tra thực hiện chương trình giảng dạy của giáo viên qua lịch dự giờ

1.4.4 Chỉ đạo hoạt động hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non

Chỉ đạo là chức năng thứ ba trong quá trình quản lí giáo dục, nó có vai trò cùng với chức năng tổ chức để thực hiện hóa các mục tiêu Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động trong tổ chức thực hiện kế hoạch, nội dung chương trình hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng và hiệu quả

Thực chất của việc chỉ đạo việc triển khai nội dung chương trình hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là quá trình tác động của người hiệu trưởng trường mầm non tới các quá trình tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ và hoạt động của nhà trường và tổ trưởng chuyên môn mẫu giáo, giáo viên dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức, hệ thống giáo dục và nhà trường thành nhu cầu của mọi cán bộ công chức, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác và mang hết khả năng để làm việc Do vậy việc chỉ đạo việc triển khai nội dung

Trang 40

chương trình hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý họat động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung

Trong quá trình chỉ đạo việc triển khai nội dung chương trình hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, Hiệu trưởng trường mầm non cần thực hiện tốt các nội dung sau:

Chỉ đạo đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi:

Để nâng cao chất lượng giờ lên lớp cần phải tổ chức các chuyên đề về đổi mới phương pháp hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi

Thông qua giờ dạy mẫu, đánh giá tiết dạy

Thông qua tọa đàm về đổi mới phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi trong đó có ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Phổ biến kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên dạy giỏi

Phổ biến kinh nghiệm soạn giáo án và sử dụng đồ dùng dạy học hiện đại

Tổ chức hội giảng

Đổi mới phương pháp hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi là yêu cầu cấp thiết, để nâng cao chất lượng ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi, vì thế bằng nhiều biện pháp khác nhau bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau, hiệu trưởng phải chỉ đạo làm thật tốt đổi mới phương pháp hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi

Khi tổ chức các chuyên đề phải chọn các chủ đề thiết thực đối với tình hình

cụ thể của nhà trường và phải đầu tư và chuẩn bị thật chu đáo khi thực hiện chuyên đề đó

Quản lý công tác đổi mới phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi của giáo viên là nội dung trọng tâm trong quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non Để làm tốt công tác này, hiệu trưởng cần quán triệt vấn đề đổi mới sau:

Đổi mới cách dạy của giáo viên là cho trẻ được khám phá, tìm tòi, trải nghiệm tạo sự chuyển biến thụ động sang chủ động

Ngày đăng: 14/02/2021, 18:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w